Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 5 - Kinh Thủ Lăng Nghiêm Giảng Giải
CHƯƠNG V: NGHIỆP QUẢ - CÁC CẢNH GIỚI - CHƯỚNG NẠN (tt5)

5. Thức ấm

Thức ấm là cái cuối cùng của năm ấm. Qua được thức ấm là xong phần ngũ ấm ma, là qua khỏi Thập địa Bồ-tát. Trong phần thức ấm này, không còn bị ma quỷ phá nữa, chỉ có những nhận định sai lầm thành kiến chấp. Đến đây, chúng ta sẽ thấy trình độ của chúng ngoại đạo cũng thật là cao chứ không phải tầm thường.

Này A-nan, người thiện nam kia khi tu chánh định, hành ấm đã hết, ở chỗ trong sạch thầm kín mà nhiễu động, sự sanh chung của các chúng sanh trong thế gian bỗng nhiên bị tiêu diệt. Giềng mối sâu kín của mầm sanh, mạch ngầm cảm ứng của sự đền trả các nghiệp đã dứt mất.

Đồng phần là chung của tất cả chúng sanh. Bồ-đặc-già-la chỉ cho mầm sanh của chúng sanh trong các cõi, gốc của bào thai.

Khi qua khỏi hành ấm thì mầm sanh ở trong tam giới bị huỷ diệt, những manh mối vi tế không còn thấy nữa, cho nên sự cảm ứng nghiệp báo tới đây đã dứt. Nói một cách gọn hơn, đến thức ấm này thì mầm móng sanh của tất cả chúng sanh đã dứt, không còn cảm ứng nữa.

Nơi trời Niết-bàn sắp đại minh ngộ, giống như khi gà gáy sáng, nhìn về phương đông đã thấy có ánh sáng.

Đại minh ngộ là được sáng suốt hoàn toàn, tức ngộ đạo. Tinh sắc là ánh sáng. Đây nói người dứt hết hành ấm qua thức ấm thì mọi mầm sanh tử tiếp nối ngang đây đều dứt, Niết-bàn chân thật sắp hiện. Giống như khi gà gáy sáng, nhìn về phương đông thấy mặt trời sắp lên.

Sáu căn rỗng lặng không còn giong ruổi, trong ngoài lặng lẽ sáng suốt, vào không chỗ vào, thấu suốt được nguyên do thọ mạng của mười hai loài chúng sanh ở khắp mười phương. Xem thấy nguyên nhân đều từ chấp trước, nên các loài không còn chiêu dẫn được nữa. Trong mười phương thế giới đã được tánh đồng, sắc sáng không còn bị chìm mất, phát hiện những chỗ sâu kín. Đây gọi là phạm vi của thức ấm.

Như trên là còn trong phạm vi của thức ấm. Tuy thấu được chỗ thâm sâu đó, cũng chưa thoát ra khỏi thức ấm. Vì tới thức ấm tức gần Niết-bàn nhưng vẫn chưa đạt được Niết-bàn, cũng như gần sáng chưa phải là sáng.

Theo các chỗ giảng, khi qua được hành ấm rồi mà chưa phá thức thứ bảy vẫn còn chấp một phần của thức thứ tám là ngã. Nó chấp ngã như vậy vì chưa thật rõ thức thứ tám, chưa thấu suốt được Như Lai tàng ma chỉ thấy cái bóng của Như Lai tàng rồi chấp làm ngã, tức chưa thật đến nơi đến chốn. Bởi vậy, còn ở trong phạm vi thức ấm là chưa hoàn toàn tỉnh ngộ sáng suốt.

Nếu đối với các sự chiêu cảm đã tới chỗ chung rồi thì tiêu dung sáu căn, khi đóng hay mở đều được thành tựu, thấy nghe thông nhau, dùng lẫn nhau thanh tịnh.

Nếu dứt hết được các mầm lôi cuốn để sanh ở nơi này nơi kia, thì trong tánh đồng đó sáu căn không còn riêng rẽ, đóng hay mở đều được thành tựu. Như vậy, tới đây con mắt có thể nghe, lỗ tai có thể thấy, nghĩa là sáu căn hỗ dụng, không còn cách biệt. Sáu căn chúng ta hiện nay đang bị dính khắn, nên không thể dùng cái này thay cái kia được. Còn khi tu tới đây thì được tánh đồng, nên sáu cái riêng mất đi, trở thành một cái chung, bởi chung nên hỗ dụng thanh tịnh.

Thế giới mười phương cùng với thân tâm như ngọc lưu ly, trong ngoài đều sáng suốt, gọi đó là thức ấm hết. Người ấy có thể vượt khỏi mạng trược.

Phải tới chặng này mới hết mạng trược. Đến đây thế giới, thân và tâm, cả ba đều rỗng suốt như lưu ly, không còn mờ tối. Ở những giai đoạn trước, có khi thấy cảnh ở trước sáng mà trong tâm tối, có khi thấy trong tâm sáng mà cảnh tối, hoặc thấy mờ mờ không rõ. Tới đây tất cả rõ ràng, cảnh hoàn toàn sáng, thân và tâm hoàn toàn sáng. Cả ba đều trong sáng như lưu ly mới qua được thức ấm.

Như vậy, chặng đường nào rõ ràng chặng đó. Nếu chúng ta tu mà không hiểu, không nắm vững điều này thì dễ lầm lẫn, mới đi một đoạn đường mà tưởng đâu đã đến nơi, đưa tới những sai lầm.

Xem xét nguyên do của nó, gốc là vọng tưởng điên đảo, hình ảnh giả dối rỗng không.

Như vậy cả cảnh, thân và tâm đều là những hình ảnh hư dối rỗng không, từ vọng tưởng mà sanh chứ không có gì thật. Đó là nói tổng quát phạm vi của thức ấm và ra khỏi thức ấm. Người tu nếu không mắc kẹt nơi thức ấm, tất nhiên sẽ bước qua các quả vị Bồ-tát, lên tới Đẳng giác Diệu giác.

Đến đây đi vào chi tiết mỗi cái chấp của thức ấm.

A-nan nên biết, người thiện nam ấy đã tột các hành ấm là không, trở về cội nguồn của thức ấm, đã diệt được danh diệt, nhưng chỗ tinh diệu tịch diệt chưa được tròn đủ. Người ấy có thể khiến nơi thân mình, các căn khi hợp khai, khi chia cách, cũng cùng các loài trong mười phương thông hiểu nhau; tánh hiểu biết đó thông suốt nhau, có thể vào tánh ban đầu tròn đủ.

Nếu nơi chỗ trở về đó, lập ra nhân chân thường, sanh khởi thắng giải, người ấy rơi vào chấp "nhân, sở nhân", thành bè bạn của ngoại đạo Ta-tỳ-ca-la, chấp trở về với minh đế, lầm Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến. Đây gọi là hạng thứ nhất, lập tâm có sở đắc thành quả có chỗ trở về, trái xa tánh viên thông, đi ngược với thành Niết-bàn, sanh vào giống ngoại đạo.

Người này lấy chỗ trở về cho là nhân chân thường, tự xem đó là hiểu biết thù thắng. Đây là cái chấp thứ nhất, chấp có chỗ trở về tức sở nhân, và mình là người trở về tức năng nhân. Do thấy có tâm sở đắc nên thành quả có chỗ trở về.  

A-nan, người thiện nam ấy, đã tột hành ấm là không, đã diệt được sanh diệt, nhưng chỗ tinh diệu của tịch diệt chưa được tròn đủ. Nếu nơi chỗ trở về xem là tự thể, tất cả chúng sanh trong mười hai loài ở khắp cả cõi hư không đều từ trong một thân ta lưu xuất, rồi sanh khởi thắng giải. Người ấy rơi vào chấp "năng, phi năng", thành bè bạn với Ma-hê-thủ-la hiện vô biên thân, lầm Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến.

Năng, phi năng là hay tạo tác và cũng không tạo tác, tức chấp cái ta trùm khắp, tất cả chúng sanh nơi thế giới mười phương đều ở trong thân ta, như vậy ta là năng, còn các chúng sanh đó là phi năng.

Đây gọi là hạng thứ hai, lập tâm năng vi thành quả năng sự, trái xa tánh viên thông, đi ngược với thành Niết-bàn, sanh vào giống ngoại đạo Đại mạn thiên, thấy cái ngã trùm khắp viên mãn.

Tám năng vi thành quả năng sự, là tâm hay làm thành quả hay nên việc.

Đại mạn thiên thấy ngã trùm khắp, cho chúng sanh đều sanh từ trong thân ta. Hễ chấp giống như vậy thì thành bè bạn của đám này.

Lại, người thiện nam ấy đã tột hành ấm là không, đã diệt được sanh diệt, nhưng chỗ tinh diệu tịch diệt chưa được tròn đủ. Nếu đối với chỗ trở về thấy có chỗ quay về nương tựa, liền tự nghi thân tâm từ đó lưu xuất, hư không mười phương đều từ đó sanh khởi. Ngay chỗ tất cả đều từ đó lưu xuất, khởi hiểu là thân chân thường không còn sanh diệt. Ở trong sanh diệt sớm chấp cho là thường trụ. Đã lầm cái chẳng sanh cũng mê luôn cái sanh diệt, an trụ trong mê lầm sâu nặng mà sanh khởi thắng giải.

Người này thấy thật sự có chỗ cho mình trở về nương tựa, cho rằng thân tâm mình và mười phương hư không đều từ chỗ nương tựa đó lưu xuất; khởi hiểu đó là thân chân thường, bị chìm sâu vào mê lầm; ngay ở trong sanh diệt chấp lầm là thường trụ. Như thân này là thứ bại hoại, là sanh diệt mà nói là thường trụ, vậy nên đã chẳng rõ cái chẳng sanh mà cũng không biết cái sanh diệt luôn.

Người ấy rơi vào chấp "thường, phi thường", thành bạn bè những kẻ chấp Tự tại thiên, lầm Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến. Đây gọi là hạng thứ ba, lập tâm nhân y thành quả vọng kế, trái xa tánh viên thông đi ngược với thành Niết-bàn, sanh ra hạt giống "đảo viên".

Nhân y là có nhân để nương tựa. Vọng kế là suy tính chấp lầm hư dối.

Người này chấp chỗ trở về nương tựa là thường, còn tất cả chúng sanh nương tựa nơi đó là chẳng thường. Người ấy thành bè bạn của Tự tại thiên, vì Tự tại thiên cho rằng mình hay sanh ra tất cả chúng sanh là chẳng thường, không biết cõi trời Tự Tại thiên chẳng phải thường trụ. Đó là chấp điên đảo.

Lại, người thiện nam ấy, đã tột hành ấm là không, đã diệt được sanh diệt, nhưng chỗ tinh diệu tịch diệt chưa được tròn đủ. Nếu ở chỗ biết, do biết cùng khắp, nhân biết đó lập thành sự nhận hiểu rằng "cỏ cây mười phương đều gọi là hữu tình, cùng với người không khác; cỏ cây làm người, người chết trở lại thành cây cỏ mười phương, đều cùng biết khắp, không có chọn lựa", rồi sanh khởi thắng giải.

Người ấy rơi vào chấp "tri vô tri", thành bạn bè của Bà-tra-tản-ni, chấp tất cả đều biết, lầm mê Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến. Đây gọi là hạng thứ tư, chấp tâm khắp biết, thành quả sai lầm hư dối, trái xa tánh viên thông, đi ngược với thành Niết-bàn, sanh ra hạt giống "đảo tri".

Những người này không có chọn lựa cái nào là hữu tình, cái nào là vô tình, mà cho rằng tất cả đều là biết khắp, sanh khởi thắng giải như vậy nên chấp tri vô tri. Tri là biết, cái biết trùm khắp mười phương, đó là cái biết của người, là chủ. Cỏ cây là vô tri, do tri trùm khắp nên nó cũng thành tri. Ngoại đạo lập tri vô tri là cái biết ban đầu trùm khắp tất cả cái vô tri, nên gọi tri vô tri. Chấp như vậy nên sanh ra đảo tri, nghĩa là biết điên đảo.

Lại, người thiện nam ấy đã tột hành ấm là không, đã diệt được sanh diệt, nhưng chỗ tinh diệu tịch diệt chưa được tròn đủ. Nếu trong chỗ viên tịch diệt chưa được tròn đủ. Nếu trong chỗ viên dung các căn hỗ dụng đã được tùy thuận, liền nơi sự biến hóa tròn đầy mà tất cả phát sanh, mong được ánh sáng của lửa, ưa sự trong sạch của nước, thích sự chuyển khắp của gió, xem sự thành tựu của trần, mỗi mỗi đều tôn sùng thờ phụng, lấy các trần này làm nhân ban đầu, lập ra sự nhận hiểu thường trụ.

Người ấy rơi vào chấp "sanh vô sanh", thành bạn bè của Ca-diếp-ba cùng những Bà-la-môn, đem hết thân tâm siêng năng thờ phụng lửa, nước để cầu ra khỏi sanh tử, mê lầm Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến. Đây gọi là hạng thứ năm, chấp trước thờ phụng, tâm mê theo vật, lập nhân vọng cầu mong được quả hư dối, trái xa tánh viên thông, đi ngược với thành Bồ-đề, sanh ra hạt giống "điên hóa" (biến hóa điên đảo).

Do chấp trước, tâm mê chạy theo vật, cái nhân mong cầu hư dối thì quả đạt được cũng là hư dối. Học đến đây mới biết vì lý do gì người ta dạy thờ lửa, thờ nước. Do những người tu đến chỗ phá thức ấm, nhìn thấy lửa sáng rỡ đẹp, thấy nước trong sạch đẹp... cho tứ đại là gốc của muôn vật, sanh ra muôn vật, nên đem thân tâm thờ phụng như chúng ta kính thờ tổ tiên.

Lại, người thiện nam ấy đã tột hành ấm là không, đã diệt được sanh diệt, nhưng chỗ tinh diệu tịch diệt chưa được tròn đủ. Nếu nơi chỗ tròn sáng chấp cái rỗng trong tánh sáng, bác bỏ và diệt trừ các sự biến hóa, nương tựa nơi hằng diệt mất làm chỗ trở về, rồi sanh khởi thắng giải.

Người ấy rơi vào chấp "quy vô quy", thành bạn bè với các thần Hư không trong Vô tưởng thiên, lầm mê Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến. Đây gọi là hạng thứ sáu, do tròn đủ tâm hư vô mà thành quả "không vong", trái xa tánh viên thông, đi ngược thành Niết-bàn, sanh ra hạt giống đoạn diệt.

Quy vô quy là trở về mà không có chỗ trở về. Tâm hư vô là tâm trống không. Không vong là quên mất hết.

Những người này chấp nơi chỗ rỗng không, nên tất cả sự biến hóa họ đều cho tiêu diệt hết. Họ trở về chỗ vĩnh diệt nên đồng với thần Hư không trong Vô tưởng thiên, không có tướng mạo.

Lại, người thiện nam ấy đã tột hành ấm là không, đã diệt được sanh diệt nhưng chỗ tinh diệu tịch diệt chưa được tròn đủ. Nếu nơi chỗ viên thường chấp giữ thân được thường trụ, đồng với tánh tinh viên (tinh ba tròn đầy) còn mãi không bị chết mất, rồi sanh khởi thắng giải.

Người này chấp giữ thân cho còn mãi không chết, không muốn nó hoại.

Người ấy rơi vào chấp "tham phi tham", thành bạn bè của các vị A-tư-đà cầu được tuổi thọ lâu dài, lầm mê Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến. Đây gọi là hạng thứ bảy, chấp trước cội nguồn của mạng sống, lập nhân cố giữ cái hư dối, tiến đến quả kéo dài sự khổ nhọc, trái xa tánh viên thông, đi ngược thành Niết-bàn, sanh ra hạt giống "vọng diên" (sự kéo dài hư dối).

A-tư-đà là vị tiên A-tư-đà. Những người này thích sống lâu nên gọi là tham, nhưng họ đã qua được mấy phần chấp ở trước, không còn kẹt trong sắc thọ tưởng hành, khi những thứ ấy đã diệt thì tham không thành, nên gọi là phi tham.

Hạng này lập nhân cố giữ cái hư dối, hướng đến quả kéo dài sự lao khổ. Con người vì nuôi thân này sống, nên phải cực vì sự sống. Bởi ăn nên phải làm, làm nên chịu cực khổ, vì mình mà cực. Còn có thân là còn khổ, mỗi ngày sống là thêm cực, vậy mà họ lại muốn giữ thân còn hoài thì khổ nhọc càng kéo dài, nên gọi là trường lao.

Nhiều người cho sống già là nhọc, nhưng nếu chết sớm mà không biết tu hành thì còn khổ hơn, khổ vì bị rơi vào địa ngục ngạ quỷ súc sanh, còn cực hơn làm người. Bởi vậy, tuy thân này sống lâu mệt nhọc, nhưng biết tu thì những năm tháng đó cũng quý.

Lại, người thiện nam ấy đã tột hành ấm là không, đã diệt được sanh diệt nhưng chỗ tinh diệu tịch diệt chưa được tròn đủ. Quán xét mạng sống thông lẫn nhau, muốn giữ lại trần lao, e sợ nó tiêu mất. Khi ấy liền ở nơi mé này ngồi cung hoa sen, hóa ra rất nhiều bảy báu và nhiều mỹ nữ, buông lung tâm mình, rồi sanh ra thắng giải.

Người ấy rơi vào chấp "chân vô chân", thành bạn bè của Tra-chỉ-ca-la, lầm mê Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến. Đây gọi là hạng thứ tám, phát ra nhân suy nghĩ sai lầm, lập thành quả các trần hưng thịnh, trái xa tánh viên thông, đi ngược thành Niết-bàn, sanh ra hạt giống thiên ma.

Gọi là chấp chân vô chân vì họ hóa ra được nhiều thứ báu, ngồi trên đài sen v.v... thấy như chân nhưng lại không phải chân. Người này rơi vào thiên ma, vì ưa hưởng các dục lạc.

Lại, người thiện nam ấy đã tột hành ấm là không, đã diệt được sanh diệt nhưng chỗ tinh diệu tịch diệt chưa được tròn đủ. Trong chỗ sáng suốt của mạng căn phân biệt sự tinh và thô, quyết định cho rõ ràng thật và giả, nhân quả đền đáp nhau, chỉ cầu cảm ứng, trái với đạo thanh tịnh. Nghĩa là thấy Khổ đoạn Tập chứng Diệt tu Đạo, ở nơi Diệt đế đã dừng lại không chịu tiến lên, rồi sanh ra thắng giải.

Người ấy hẳn rơi vào định tánh Thanh văn, thành bè bạn với những vị Tăng vô văn, những người tăng thượng mạn, lầm mê Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến. Đây gọi là hạng thứ chín, viên mãn tâm tinh ứng, thành tựu quả tiến đến chỗ tịch diệt, trái xa tánh viên thông, đi ngược thành Niết-bàn, sanh ra hạt giống trói buộc nơi không.

Sơ quyết chân ngụy là đối với chỗ thật và giả, sự quyết đoán chưa chín chắn. Người này đã thấy được Tứ đế, nhưng chứng được Diệt đế rồi thôi, không tiến lên nữa. Như vậy vị này chứng quả A-la-hán chưa? Chứng rồi. Nhưng chưa thật rõ được cái nào chân cái nào giả, chỗ nhận định chưa thấu đáo rành rẽ, nên hài lòng tự mãn ở nơi đó. Do vậy vị này sau khi diệt hết mọi phiền não rồi dừng ngang đó, sống với Diệt đế chứ không tiến lên nữa, tức là lấy sự tịch diệt đó làm chỗ cứu cánh. Vì vậy mà bị chê là trầm không trệ tịch.

Đây gọi là vị tăng ít học, cũng là những vị tăng thượng mạn. Trong kinh Pháp Hoa, khi Phật sắp nói về nhân duyên lớn chư Phật xuất hiện nơi đời thì năm nghìn người đứng dậy lui về. Đó gọi là những người tăng thượng mạn, chưa chứng mà tự cho là đã chứng, nên không ở lại  nghe pháp.

Lại, người thiện nam ấy đã tột hành ấm là không, đã diệt được sanh diệt nhưng chỗ tinh diệu tịch diệt chưa được tròn đủ. Nếu nơi tánh giác sáng suốt thanh tịnh viên dung, nghiên cứu chỗ thâm diệu liền lập làm Niết-bàn mà không tiến tới nữa, rồi sanh thắng giải.

Người ấy hẳn rơi vào định tánh Bích-chi, thành bè bạn của những vị Duyên giác, Độc giác không hồi tâm về Đại thừa, lầm mê Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến. Đây gọi là hạng thứ mười, do viên mãn tâm giác thông suốt, thành tựu được quả lặng lẽ sáng suốt, trái xa tánh viên thông, đi ngược thành Niết-bàn, sanh ra hạt giống giác viên minh nhưng không chuyển hóa để tròn đủ.

Hàng Độc giác là Bích-chi Phật, đã thấy được chỗ viên minh, nghiên cứu thâm diệu, nhưng hài lòng ở chỗ yên vắng riêng, không muốn làm gì, không muốn gần ai.

Như vậy, hai hạng sau là định tánh Thanh văn tức A-la-hán và định tánh Bích-chi là Bích-chi Phật. Tuy hai bậc này không tiến lên nữa, nhưng các ngài đã tới chỗ viên minh sáng suốt rồi, không còn bị trầm luân.

Như vậy trong mười cái lầm của thức ấm, bảy trường hợp trước lạc vào ngoại đạo, điều kế là thành thiên ma, còn hai cái lầm sau là vào hàng A-la-hán (Thanh văn) và Bích-chi Phật (Duyên giác).

Đến hết thức ấm này có chỗ gọi là Đệ bát địa, hay Niết-bàn A-la-hán. Người tu đến đây có thể bị mắc kẹt ở quả vị A-la-hán hoặc ở quả vị Bích-chi Phật không vượt lên được. Các vị Bồ-tát thì phải được nhờ Phật khuyến phát để tăng tiến lên.

Này A-nan, mười thứ thiền-na như thế, ở giữa đường thành ra cuồng mê. Nhân y nơi mê hoặc trong chỗ chưa đủ tưởng là chứng đầy đủ, đều do thức ấm dụng tâm xen lẫn, nên sanh ra những địa vị này. Chúng sanh mê muội không tự xét lường, gặp những cảnh này hiện tiền, mỗi người do tâm mê lầm, yêu thích những tập cũ mà tự dừng nghỉ, cho là chỗ trở về an ổn rốt ráo. Họ tự nói đã đầy đủ đạo Vô thượng Bồ-đề, trở thành đại vọng ngữ. Ngoại đạo tà ma, khi nghiệp cảm đã hết thì rơi vào địa ngục Vô gián. Thanh văn Duyên giác thì không tiến lên được.

Các ông để tâm gìn giữ đạo của Như Lai, sau khi ta diệt độ đem pháp môn này truyền dạy cho chúng sanh đời mạt pháp, khiến cho khắp chúng sanh hiểu rõ nghĩa này, không để cho ma tà kiến tự làm cho chìm đắm trong tội lỗi. Bảo vệ thương xót cứu giúp người tu hành tiêu dứt các tà duyên, khiến cho thân tâm họ vào tri kiến Phật, từ lúc bắt đầu đến khi thành tựu không gặp các đường tẽ.

Đến đây kết thúc năm ấm ma. Nói là Ngũ ấm ma nhưng thật ra là vượt qua năm ấm, trên con đường tiến tu không còn bị các ấm che mờ nữa, cuối cùng là tâm, thân và cảnh đều sáng rỡ như lưu ly. Đến đó là đã vượt khỏi thức ấm, đối với hàng Thập địa Bồ-tát là đã đến địa thứ chín và thứ mười. Phần này rất hệ trọng. Nếu chúng ta phá được mười thứ ma trong mỗi ấm thì sẽ tiến đến chỗ cứu cánh thành Phật.

Lời căn dặn chí yếu của đức Phật là phải làm sao đem những lời Phật dạy, đem pháp môn Phật chỉ ở đây, nhắc nhở cho người sau, để họ đừng bị rơi vào đường tà, có thể vào được tri kiến Phật, không đi các lối tẽ.

Kế đây, Phật nói những công dụng của người tu, khi qua được ngũ ấm ma.

Pháp môn như thế, chư Như Lai nhiều như số bụi trong hằng sa kiếp quá khứ đã nương nơi pháp môn này mà tâm được khai ngộ và chứng Vô thượng đạo. Thức ấm nếu hết thì hiện tiền các căn của ông được dùng thay lẫn nhau đó, có thể vào địa vị Kim cang Càn huệ của Bồ-tát; trong tâm tinh thuần tròn sáng đó phát ra sự biến hóa, như mặt trăng báu hiện trong món đồ lưu ly trong trẻo.

Chúng ta có thể nói cách khác, như trong cái bình thủy tinh để một bóng đèn, khi bóng đèn cháy sáng, chúng ta thấy nó sáng rỡ không bị ngăn ngại. Ở đây cũng vậy, khi tâm tịnh thuần tròn sáng rồi, nó phát hiện ra không bị trở ngại.

Như thế mà vượt khỏi Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Tứ gia hạnh tâm, Kim cang thập địa của Bồ-tát tu hành, Đẳng giác tròn sáng, vào được biển Diệu trang nghiêm của Như Lai, viên mãn Bồ-đề, trở về Vô sở đắc.

Rốt cuộc trở về Vô sở đắc, tức không chỗ được. Vô sở đắc là có đắc hay không? Tại sao nói đủ Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác, Diệu giác, rồi lại Vô sở đắc? Do vì đã thấy tâm thể của tất cả chúng sanh là sẵn có. Tâm thể sẵn có đó, gọi là Phật pháp thân. Tuy nhiên trên con đường tu, tạm đặt ra nhiều chặng. Dù có đặt ra nhiều chặng đường, nhưng sự thật thì không thêm bớt gì cả. Vậy có được cái gì không? Sống trở về với cái mình sẵn có thì có gì là được?

Cũng như mình sẵn có một gia tài lớn, nhưng vì quên mất lại đi lang thang chỗ này chỗ kia, làm ăn thất bại, thiếu thốn nghèo đói. Nay mình nhớ lại gia sản lớn của cha mẹ, liền trở về và được cha mẹ trao lại sự nghiệp. Đó là được hay là không được? Gia sản đó cha mẹ để dành sẵn cho mình thì mình có quyền hưởng, chỉ vì mình bỏ đi nên nghèo khổ, nay trở về nhận lại của sẵn có thì có gì gọi là được! Cái gì mình không có, ai cho mới gọi là được; còn của mình, bây giờ trở về nhận lại thì không có gì gọi là được, cho nên nói Vô sở đắc.

Đó là nói tổng quát, đến đây mới giải thích thêm rành rẽ.

Đây là chư Phật Thế Tôn trước, thuở quá khứ ở trong Chỉ và Quán đã giác ngộ sáng suốt, phân tích được những việc ma vi tế.

Đây tức chỉ cho kinh này, pháp môn này. Những đức Phật trước ở đời quá khứ, chính ở trong chánh định, trong thiền quán, các ngài dùng tánh giác sáng suốt, phân tích những việc ma vi tế cho chúng ta biết như vậy.

Ma cảnh hiện tiền, ông hay biết rõ thì tâm nhơ được rửa sạch, không rơi vào tà kiến, ấm ma tiêu diệt, thiên ma bị tan nát, đại lực quỷ thần khiếp đảm chạy trốn, các loài ly mỵ võng lượng không còn dám xuất hiện, thẳng đến Bồ-đề không có thiếu sót. Dù cho những người hạ liệt cũng được tăng tiến, đối với đại Niết-bàn tâm không mê muội.

Điều trọng yếu trong việc diệt ma là tâm nhơ phải tẩy trừ. Tâm nhơ tẩy trừ rồi thì bao nhiêu thứ ma đều chạy hết. Tâm nhơ không trừ thì các ma hưng thịnh. Phá được hết các ấm ma thì mọi thứ khác không có gì làm hại mình được, đi tới Bồ-đề viên mãn.

Nếu những chúng sanh ngu độn ở đời mạt kiếp chưa biết thiền-na, không biết Phật pháp, ưa tu chánh định, ông sợ họ rơi vào đường tà, nên một lòng khuyên bảo họ trì thần chú Phật đảnh đà-la-ni của ta. Nếu chưa thể trì tụng được thì viết để trong thiền đường hoặc đeo trên thân, thì tất cả các ấm ma không thể lay động được. Ông nên kính vâng theo khuôn phép rốt sau, chỗ tu tiến cứu cánh của Như Lai mười phương.

Đó là lời đức Phật khuyên bảo ngài A-nan và hội chúng, phải y theo lời Phật dạy mà tu hành để khỏi rơi đường tà, không lạc vào ngoại đạo.

Qua đoạn này, chúng ta thấy kết quả của người tu sau khi phá được năm ấm thì sẽ tiến lên quả vị Bồ-tát, rồi thẳng tới Đẳng giác Diệu giác, không còn bị ma chướng làm trở ngại nữa; trái lại, ma kinh hoàng sợ sệt không dám quấy nhiễu. Người nào đi được tới đây cũng phải trải qua nhiều gian nan cay đắng. Muốn được kết quả an ạc đầy đủ, cái giá phải trả là vượt qua đám ma quấy phá dọc đường; có những khi điêu đứng với nó, có những khi muốn làm thân thuộc với nó.

Nếu chúng ta vượt qua được hết những rào cản đó, tới đây tự tại, thì lúc này chúng ma hoảng hồn khiếp vía, không còn dám khinh khi như trước nữa. Ngược lại, nếu không chịu khổ nhọc để vượt qua thì sẽ làm bè bạn hoặc tôi tớ của ma. Như vậy trong sự tu, chúng ta muốn tiến lên thì phải chấp nhận những khó khăn, nhất là phải trì chí hướng về mình, chứ đừng lệ thuộc bên ngoài, cũng đừng dính với những ảo ảnh do tâm biến hiện.

Sau đây là điều nghi cuối cùng của ngài A-nan. Chúng ta nắm vững chỗ nghi này, mới thấy đoạn này là thiết yếu.

Mục Lục
Thanh Từ Toàn Tập 5 - Kinh Thủ Lăng Nghiêm Giảng Giải