|
Khánh Thọ Bách Tuế Hòa Thượng Tôn Sư
Sư Ông - Thiền Sư Việt Nam Cuối Thế Kỷ XX - Chánh Huệ
Thấm thoát Sư ông vừa được một trăm tuổi. Đối với một vị thiền sư thì một trăm năm chỉ là một chớp mắt trong hành trình hóa độ chúng sanh. Thế mà Sư ông đã làm rất nhiều việc chúng con không thể nghĩ hết được. Không có Sư ông, cá nhân con không có ngày hôm nay và cũng không biết rõ đường về nhà như bao nhiêu người khác trên thế giới. Không có Sư ông, Thiền tông đã bị chôn vùi và có thể mãi mãi sẽ bị chìm sâu trong lòng đất Việt. Không có Sư ông, người Việt chúng ta đã, đang và sẽ quên mất, thế giới cũng chẳng biết Việt Nam đã có một Thiền phái riêng biệt, đặc thù Việt Nam ngang tầm với Thiền tông Ấn Độ, Trung Hoa và Nhật Bản. Không có Sư ông, Phật tử chúng con chẳng biết rõ con đường trở về chính mình một cách đơn giản, thẳng và nhanh nhất. 1. BIẾT ƠN VÀ ĐỀN ƠN SƯ ÔNG Nhắc đến Sư ông, cá nhân con chân thành tri ân Sư ông vô cùng mà ngôn từ không thể diễn tả hết sự chân thành tri ân của con. Trước khi gặp Sư ông, cá nhân con là một chúng sanh mang đầy đủ tất cả những tập khí phàm phu: nóng giận, ngã mạn, tham danh lợi, ích kỷ, sống nương vào vật chất để hưởng thụ, ăn thịt chúng sanh mà vui thích không một chút thương xót. Lần đầu tiên con gặp Sư ông là hôm Sư ông giảng pháp tại chùa Xá Lợi. Khi đó con đang ngồi bên ngoài chánh điện Mai Thọ Truyền của chùa. Nhìn Sư ông bước ra khỏi xe hơi và đi từ bãi đậu xe vào chánh điện, qua bước đi của Sư ông con cảm nhận được sự khoan thai, nhẹ nhàng, thong dong và siêu thoát từ trong tâm của Sư ông. Lúc đó con tự quay lại chính con người của con, trong tâm của con sao mà rối ren, sầu não, nặng trịch như khối đá lớn bị buộc chặt vào những thứ ngoài đời. Con tự hỏi: Tại sao Ông Sư này là con người và con cũng là một con người mà lại có sự khác biệt lớn lao như vậy? Lúc đó con nhất quyết nghe xem Ông Sư này giảng cái gì để con có thể học và thực hành được nhằm giúp cho tâm mình được nhẹ nhàng phần nào chăng! Sau bài giảng pháp của Sư ông hôm đó, con chỉ hiểu được 30% nhưng con vẫn nhất quyết phải gặp được Sư ông để Sư ông giúp cho con vơi bớt phần nào sự nặng trĩu trong tâm. Nhờ một gia đình Phật tử thuần thành biết rõ Sư ông, con đã được thân cận với Sư ông tại Thiền viện Thường Chiếu mỗi tháng một lần. Trong vài tháng gần gũi, con cảm nhận Sư ông là vị Thầy con cần nương tựa để chuyển đổi tâm con. Con đã quyết định quy y với Sư ông ngày mùng 8 tháng Hai năm Canh Thân 1980. Sau khi quy y xong, con và một vài bạn đạo vào thất của Sư ông để cảm tạ và nghe Sư ông chỉ dạy thêm. Sư ông ngồi ở bàn, còn Phật tử ngồi trên sàn chung quanh Sư ông. Một người bạn thưa lên Sư ông: “Dạ thưa Thầy, Dương không chịu ăn chay!” Người bạn vừa dứt lời, Sư ông quay lại và nhìn xuống con với một nét từ bi vô cùng trên gương mặt và trong đôi mắt của Sư ông, cho đến bây giờ con chưa bao giờ quên được ánh mắt đó. Sư ông chỉ dạy: “Ở đời không có cái gì mà không làm được, ăn chay cũng vậy. Con không ăn chay được bởi vì cha mẹ con cho ăn thịt từ nhỏ, lưỡi của con đã quen mùi thịt. Hôm nay con đã bắt đầu là người con Phật, nên tập ăn chay để phát lòng từ với chúng sanh. Ăn chay rồi từ từ sẽ quen!” Sư ông dạy con với giọng nói rất từ bi. Chính tâm từ bi của Sư ông đã chuyển được tâm thức của con và con đã quyết định bắt đầu ăn chay sau ngày hôm đó. Với sự sách tấn của Sư ông, con từng bước bắt đầu ăn chay từ 2 ngày mỗi tháng đến ăn trường chay trong vòng 3 năm. Thưa Sư ông, sau này con mới hiểu lúc đó Sư ông đã biết con đang tự mãn với kiến thức khoa học và y học hạn hẹp của mình cho nên Sư ông phải sử dụng diệu thuật và lòng từ bi để hóa độ tâm tự mãn của con. Chính trí huệ và tâm từ bi của Sư ông đã chuyển hóa tâm con, độ cho con đến gần Sư ông. Con cảm thấy con được phước lớn vì con đã được nương vào phước trí của Sư ông để tu học; con đã học và thực tập thiền theo pháp môn của Sư ông. Con thật sự đã thay đổi rất nhiều từ khi theo Sư ông tu tập. Người trong gia đình con cũng cảm nhận được sự thay đổi này. Tuy vậy con vẫn còn nhiều tập khí phàm phu, cần thời gian để tiêu dung những tập khí này. Sau đó con phải rời Việt Nam đi đoàn tụ với gia đình ở nước ngoài. Hai ngày trước khi đi nước ngoài, con ra Thiền viện Thường Chiếu để đảnh lễ Sư ông. Con đã được Sư ông chỉ dạy riêng cho con để con có thêm tư lương khi sống ở nước ngoài, ít bị nhiễm trần cảnh và vẫn tiếp tục tu thiền. Sư ông đã chỉ dạy: - Con luôn luôn nhớ, con là con của trưởng giả chứ không phải là kẻ cùng tử. - Thầy trao hạt minh châu cho người tỉnh chứ không phải trao cho người mê. Con đã nương vào lời dạy quý giá này để sống ở nước ngoài hơn ba thập niên mà ít bị danh lợi cột chặt, ít bị đắm chìm trong si mê vật chất và đang nhận lại gốc trưởng giả của chính mình. Con tự nhắc nhở “tỉnh tỉnh” như Sư ông đã chỉ dạy để biết rằng con đang có hạt minh châu và cố gắng nhận lại hạt châu này. Chỉ có tu hành tinh tấn và miên mật, con mới có thể đền ơn của Sư ông. Nếu không có Sư ông, con chỉ là một kẻ cùng tử được khoác lên người chiếc áo mà xã hội ưu đãi và ca tụng như bao nhiêu người khác, nhưng đâu ai biết rằng: kẻ Cùng Tử vẫn là kẻ Cùng Tử. 2. THIỀN TÔNG VIỆT NAM (THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ) Vua Trần Nhân Tông ở Việt Nam là một vị vua anh minh xuất sắc trong việc cai trị và bảo vệ quốc gia. Trong sáu năm ở cương vị Thái thượng hoàng, ngài đã rèn luyện cho con trai là Trần Anh Tông trở thành một vị vua anh minh. Vua Trần Nhân Tông ngộ đạo khi ngài còn là một cư sĩ, đã xuất gia để dựng lập tông phái thiền đặc thù Việt Nam và đã nhập thế để hóa độ chúng sanh. Anh minh, cao cả và thoát tục thay cho vị vua Việt Nam thế kỷ XIII. Chỉ có nước Ấn Độ và Việt Nam mới có một vị thái tử và một ông vua rời bỏ ngai vàng vì tâm giải thoát, thoát tục và hóa độ chúng sanh. Chính Sư ông là người đã chỉ rõ cho chúng ta biết sự siêu xuất và thoát tục của vua Trần Nhân Tông. Nếu không có Sư ông, con chỉ biết vua Trần Nhân Tông là vị vua giỏi, bảo vệ được non sông trước sự xâm lăng của quân Nguyên khi con học sử Việt Nam. Nhờ có Sư ông, con biết thêm về vua Trần Nhân Tông, một tấm gương sáng cho người Việt nói chung và Phật tử Việt Nam nói riêng. Con hãnh diện về nước Việt Nam, hãnh diện về đạo Phật và Thiền tông Việt Nam và nhất là con rất tự tin rằng: Nếu quyết chí tu thì con sẽ giác ngộ bởi vì không ai bận rộn hơn một ông vua nhưng ngài đã có quyết tâm tu và đã giác ngộ. Ngoài ra Sư ông có công rất lớn trong việc phục hưng Thiền phái Trúc Lâm trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Thiền phái Trúc lâm rất thích hợp cho thế hệ hiện nay (khoa học và công nghệ phát triển) và cuộc sống ở hải ngoại: Cư sĩ tại gia vẫn tu thiền được và có thể giác ngộ ngay đời này, vừa sống vừa tu và vừa giúp đời. Khi chưa giác ngộ vẫn có vốn liếng kinh điển để tu hành và hướng dẫn cho người khác trong khả năng của mình. Nếu không có Sư ông, Thiền tông nói chung và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói riêng có thể bị lãng quên hay bị vắng bóng trên đất nước Việt Nam. 3. CON ĐƯỜNG TRỞ VỀ CHÍNH MÌNH Chúng sanh bị sanh tử luân hồi trong ba cõi sáu đường chỉ vì tạo nghiệp. Chúng sanh tạo nghiệp do quên mất hay bỏ sót Tự tánh sáng suốt mà khởi vọng niệm hoặc phan duyên theo các pháp bên ngoài, để rồi thấy biết và suy nghĩ cho các pháp đó là thật và tiếp tục tạo nghiệp. Sư ông chỉ rõ vọng niệm và các pháp đều không thật có. Pháp tu của Sư ông chỉ thẳng vào cội gốc sanh tử. Nếu thấy đúng như Sư ông chỉ dạy thì trong tâm hoặc không có vọng niệm hoặc có vọng niệm nhưng nó tự lặng, chúng ta cũng không còn phan duyên theo các pháp bên ngoài. Ngay đây là con đường trở về chính mình: thật đơn giản (không thứ lớp), thẳng (trực chỉ) và nhanh nhất (không phương tiện). Còn nếu khéo nhận, thì rõ rõ như vậy và như vậy. Biết được vọng thật sự mới biết tu. Tất cả chúng sanh đều có Tánh giác. Tánh giác luôn luôn hiện hữu qua sáu căn. Trở về thẳng Tánh giác là pháp tu đơn giản và ngắn nhất. Sư ông chỉ dạy “Biết” là Chân tâm. Nếu người có căn cơ thấp hay chưa thuần thục khi thấy, nghe, v.v… tự biết mình đang có chân tâm - bên trong vọng niệm tự lặng, bên ngoài không còn phan duyên theo trần cảnh. Ngay đây là con đường trở về chính mình nơi sáu căn. Người tu thuần thục thì ngay nơi thấy, nghe, v.v... biết là chân tâm, thì cứ sống an nhiên sáng suốt như thế và như thế. “Tri vọng” và “ Biết là Chân tâm” không phải là hai pháp môn, cũng không phải là hai giai đoạn của một pháp môn. Không hai cũng không một mà là như vậy và như vậy. Người tu thuần thục và tỉnh giác không thấy “đồng và khác” giữa “tri vọng và biết là chân tâm”. Con thành tâm tri ân sư ông đã truyền dạy cho đời sau như chúng con pháp môn thượng thừa này để nhận lại chính mình. Theo cá nhân con, có ba phước lớn trong đời này: - Được làm người là phước lớn thứ nhất. - Được biết và tu theo đạo Phật là phước lớn thứ hai. - Được theo Hòa thượng Sư ông tu thiền là phước lớn thứ ba. Cá nhân con chỉ muốn nói về hàng cư sĩ tại gia như chúng con, những người còn bị nhiều gia duyên ràng buộc nhưng lại được phước theo Sư ông tu tập, cần phải luôn tỉnh giác mà tinh tấn tu học không ngừng. Nếu không, thì uổng phí làm người trong kiếp hiện tại. Con kính phát nguyện tinh tấn tu theo pháp môn Sư ông cho đến ngày thành Phật để không phụ ơn chỉ dạy của Sư ông. Con kính hướng về tổ đình Thường Chiếu thành tâm đảnh lễ Sư ông. Ngưỡng nguyện mười phương chư Phật, chư Bồ-tát gia bị cho Sư ông tứ đại điều hòa, trụ thế lâu dài, là đại thụ che mát cho chúng con. Mục Lục
|
Khánh Thọ Bách Tuế Hòa Thượng Tôn Sư
|