|
Tông Môn Cảnh Huấn 1
2. Khởi đầu
Năm 1966 tôi ra Vũng Tàu cất Pháp Lạc Thất. Năm đầu vì phải dọn rừng, ban ngày làm còn ban đêm tu, nên chưa thể ngồi yên chuyên tu được. Lúc tôi lên núi chỉ có một mình, tự nấu nướng lấy. Có mấy Phật tử quen ở dưới chợ, họ mua thức ăn đem lên một tuần hai lần. Buổi sáng tôi cũng ăn bánh mì khô với một ly sữa rồi đi phát quang cây cỏ, bụi rậm. Tới 10 giờ vô tắm rửa, nấu cơm. Có hai cái bếp dầu, một cái nấu cơm và một cái nấu canh. Bởi ở một mình lại không có thời gian, nên mỗi bữa tôi chỉ làm một món ăn duy nhất. Hai ba thứ rau hoặc cà rốt khoai tây gì đó, tôi cứ xắt gọt bỏ vô nồi, đổ nước vào rồi nêm chút muối hơi mặn mặn, vừa làm món canh vừa làm món kho luôn. Chiều tôi xem Đại tạng kinh, tìm hiểu những lời Phật dạy để phăng mò cho biết đường tu, vì thế lúc đó tôi đâu dám gọi là Thiền Thất, mà chỉ đặt là Pháp Lạc Thất, tức là vui với chánh pháp. Tu một năm như vậy, đến năm thứ hai mới có một ít người lui tới. Bà Bảy với các cô ra ở dưới am Dương Chi, họ nấu cơm giùm đem lên mỗi bữa trưa. Từ đây tôi mới bắt đầu nhập thất. Tháng tư nhập thất tới tháng bảy ra, chỉ có ba tháng. Khi còn làm Tri tạng ở Ấn Quang, tôi thường xem tạng kinh, nhất là những bộ nói về thiền. Nhưng càng đọc tôi càng bí, không hiểu các ngài dạy gì. Chỉ hiểu các cuốn Lục Diệu Pháp Môn, Tọa Thiền Chỉ Quán, còn qua tới thiền ngữ thì chẳng thể hiểu nổi, thấy các ngài nói cái gì đâu đâu, không chỉ thật cho mình. Bởi vậy khi nhập thất, tôi không có đường lối tu cụ thể, chỉ lấy Lục Diệu Pháp Môn làm chuẩn để tu. Ban đầu tôi tu theo Sổ tức, đếm hơi thở ra vô. Khi thấy không còn lẫn lộn hay quên đếm nữa, tôi chuyển qua Tùy tức, là theo hơi thở vô ra, thấy rất có kết quả. Sau đó, tôi chuyển sang Chỉ. Trong sách dạy dừng tâm ở đầu mũi, hoặc trán hay ngực. Tôi dừng ở đầu mũi để thấy hơi thở vô ra. Giai đoạn này bị ngủ gục không thể nào kềm nổi. Tôi chỉ còn niệm Phật, sám hối chứ không biết làm gì. Tu Chỉ không được làm sao tu Quán, cho nên trong Lục Diệu Pháp Môn tôi chỉ tu tới chừng đó mà thôi. Tôi lại chuyển sang tu Tứ niệm xứ. Trước hết là quán thân bất tịnh. Quán 36 vật trong thân, quán tới quán lui cho đến một hôm tôi gớm muốn ói, nhớ tới thân là rùng mình. Trong sách có dặn kỹ, khi có triệu chứng đó thì dừng, không quán bất tịnh nữa, nếu quán tiếp tục có thể tự tử. Vì vậy tôi dừng quán bất tịnh, chuyển sang quán tịnh. Quán tịnh tức là khởi tưởng xẻ trước trán ra, bày một chút xương. Quán xương ban đầu đục, lần lần thành trong, rồi đến phát hào quang sáng. Đó là thành công quán tịnh. Tôi cũng làm theo y vậy nhưng quán ít bữa thì đau nhức chịu không nổi. Tội lại tưởng xẻ ở sống mũi, quán một thời gian nhức lỗ mũi chịu không nổi. Tôi bèn tưởng xẻ xương ngực quán, nghe tức ngực không thể tiếp tục. Như vậy Lục Diệu Pháp Môn bị dừng, qua quán bất tịnh cũng kẹt. Quán thân bất tịnh không được thì làm sao quán thọ, tâm, pháp? Giai đoạn này tôi tu thật là khổ sở. Tôi thấy đường lối tu của mình có lẽ bế tắc, Thầy không có, bạn cũng không, đành chịu! Lúc ấy tôi không biết làm gì hơn, mỗi sáng mỗi tối chỉ lạy Phật sám hối. Quỳ trước bàn thờ Phật, tôi khóc: “Con nghiệp chướng sâu dày, nay xin thành tâm sám hối, xin Phật cho con nghiệp chướng tiêu trừ”. Kinh sách mình nắm vững mà tu không được, tu tới đâu kẹt tới đó. Do đó tôi ráng lễ Phật sám hối. Cứ thế, trong vòng ba tháng thì một chuyện xảy ra, hư thực không thể lường. Một đêm nọ, tôi ngủ mộng thấy đi vào một ngôi chùa rất cổ, có thể giống như chùa Trung Hoa hay chùa Phước Hậu hồi chưa sửa vậy. Tôi bước vô Nhà tổ, thấy có hai vị. Vừa thấy, tôi liền biết đây là tổ Huệ Khả, đây là tổ Tăng Xán. Tổ Huệ Khả mặt hơi vuông, đầu tóc ngắn, còn tổ Tăng Xán mặt tròn tóc dài như một tháng chưa cạo. Tôi thấy rõ, nhớ hình dáng tới bây giờ vẫn không quên. Tôi liền chạy kêu thầy Trụ trì: “Hai Tổ ngồi trên này, Trụ trì đâu mà không trà nước gì hết?”. Tôi vừa kêu thì hai vị đứng dậy bước ra rồi đi thẳng. Giật mình thức dậy, tôi chắc mình cũng có duyên với chư Tổ, nhất là tổ Huệ Khả, vậy nên thấy Tổ tôi nhớ rất rõ. Chùa Vĩnh Tràng ở Mỹ Tho có một tượng đội mũ ở ngoài, dáng đội mũ thì không giống Tổ, nhưng gương mặt vuông vuông rất giống. Sau đó, tôi tiếp tục cố gắng sám hối và ngồi thiền, hết cái này đổi cái kia. Có hôm tôi đổi qua tu thoại đầu, cũng đắc lực lắm. Lúc đầu đặt câu hỏi “trước khi cha mẹ chưa sanh mình là cái gì”, rồi ngồi tu. Trước đây tôi có dịch cuốn Tham Thiền Yếu Chỉ của ngài Hư Vân nên nắm vững lắm. Tu như vậy đến một hôm đề không được nữa. Nó cứng như đá, như cây, kỳ cục lạ lùng! Rồi tôi cứ ngồi trơ trơ, đề thoại đầu mãi không lên. Thật là cay đắng! Cuối cùng tôi xả ra khóc rồi lạy Phật chứ không biết làm sao! Một đêm thứ hai tôi nằm mộng, thấy tổ Huệ Khả rõ ràng. Ngài nói một bài thơ, nghe không biết là bài thơ gì, chỉ biết câu chót là: “Không bình không trắc”. Tôi chợt giật mình thức dậy. Khuya đó, ngồi thiền ngẫm nghĩ, tại sao không bình không trắc? Vừa đặt câu hỏi như vậy, tự nhiên sáng được lẽ ấy. Tôi cười hoài ba ngày, không biết nói gì. Sau đó tôi đem các kinh sách trong tạng ra đọc, nhất là cuốn Thiên Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự. Ngang đây tôi mới hiểu rõ những gì chư Tổ nói, thấy được lý Thiền tông. Từ kinh nghiệm này tôi thấy rõ, khi mình quyết chí tu, dù hiện tại không gặp pháp tu thích hợp thì long thần hộ pháp cũng gia hộ trợ giúp. Với quyết tâm của mình, mọi việc làm đều có kết quả. Vậy nên tôi nói đừng than mình sống thời mạt pháp, dù chúng ta ra đời gặp Phật mà tu lôi thôi, thì tuy là thời chánh pháp cũng giống như thời mạt pháp; còn ở thời mạt pháp mà quyết tử để tu, thì cũng có thể chuyển như thời chánh pháp không khác. Khi đọc cuốn Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự, tôi mới thấy rõ những gì Tổ chỉ và nắm vững được đường lối tu thiền. Chư Tổ chỉ dạy hết sức đầy đủ tại sao mình không biết tu! Giờ biết rồi không thể làm thinh tu một mình, nên tôi xả thất ra lập thiền viện. Lúc mới nhập thất, tôi có nói: Tôi nhập thất kỳ này không có hạn kỳ, không có thời gian, không biết chừng nào ra. Bởi vì tôi nghĩ mình tu thời mạt pháp, nghiệp chướng sâu dày, dù mình liều chết tu chắc cũng không tới đâu. Vậy mà mới hơn ba tháng tôi ra, có người cười nói, mới ba tháng đã chịu không nổi, thế mà tuyên bố nhập thất không hạn kỳ! Tôi luôn luôn chủ trương rằng, làm cái gì mà thấy lợi ích cho mình, hữu ích cho người thì phải làm. Nhất là khi tôi biết được điều gì hay cũng muốn đem dạy người, chứ không thể giấu giếm được. Bây giờ tôi đã thấy rõ thiền rất thiết yếu cho đời tu, nếu tu Phật mà không tu thiền thì khó mở sáng con mắt trí tuệ. Bởi vậy, sự nhiệt tình đó thúc đẩy tôi mở cửa sớm, với tâm niệm mình có được lợi ích gì thì cũng muốn làm cho người khác được như vậy, chứ không phải cho riêng cá nhân mình thôi. Năm 1970, tôi tuyên bố cất thiền viện Chơn Không. Hoàn cảnh khi đó thật khó khăn, không có tiền bạc gì nhiều, chỉ có một ít Phật tử thân tín ủng hộ cất được một thiền đường. Thiền đường chiều ngang hẹp, chiều dài dài, để vừa lạy Phật, tụng kinh, vừa tọa thiền được, chứ nếu cất chiều ngang rộng quá thì không có bề sâu. Chánh điện cất sơ sài trước, rồi nhà Tăng từ từ cất sau. Tôi rất dè dặt, vì nghĩ rằng bản thân mình tu thiền được sự tiến bộ như vậy cũng nhờ túc duyên. Nhưng nghe quý thầy lớn hay nói tu thiền điên tôi rất ngại. Vì vậy mở thiền viện mà không dám thâu nhiều, chỉ nhận có 10 người đáng tin cậy thôi. Vì sợ người ta điên, hoặc họ tu không nổi. Đợt đầu ba năm, không thấy ai điên mà kinh tế cũng không đến nỗi nào, tôi yên lòng. Đợt thứ hai tôi chuẩn bị thâu nhiều hơn, luôn cả bên Ni, cho tới chùa Linh Quang ở Cát Lở, tổng số gần 70 người. Tôi tính ba năm nữa, khi lớp cũ tu kha khá thì cho nhập thất, còn lớp sau tu xong rồi tôi sẽ nhập thất lại. Nhưng không ngờ lớp sau mới tu nửa chừng thì dở dang. Năm 1974 mới bắt đầu khóa hai thì tới năm 1975 xã hội thay đổi, sự tu hành của mình cũng bị chuyển theo. Bản thân tôi bị bệnh phổi, nhờ tu lần lần khỏe lại. Rồi còn các bệnh khác nữa, nhờ tôi quyết chí tu và áp dụng ngồi thiền đúng phương pháp mà bệnh dần lui không còn nữa. Nếu khéo tu có thể chữa hết bệnh, đó là kinh nghiệm bản thân tôi. Nhờ tu thiền: tâm không chao đảo loạn động, nên được khỏe về tâm. Khi tâm khỏe thì thân cũng ảnh hưởng một hai phần. Hơn nữa, khi ngồi thiền, tôi ngồi đúng pháp và khi xả thiền cũng xả đúng pháp nên thân được khỏe. Đó là điều tôi muốn nhắc nhở toàn chúng, hiện giờ khi ngồi thiền ứng dụng như thế nào để tâm được yên, xả thiền như thế nào để thân được khỏe. Phần này trong quyển Phương Pháp Tọa Thiền tôi có hướng dẫn rất cặn kẽ, các vị hãy đọc lại cho kỹ mà áp dụng cho đúng. Tôi đã kinh nghiệm qua, thấy có lợi ích và không bị bệnh hoạn nên chỉ bảo Tăng Ni làm. Ráng làm đúng như vậy thì trong thời gian tu, thân thể không bị tổn hại, sự tu hành được tinh tấn, đồng thời mai kia lớn lên làm thầy chỉ dạy cho người được kết quả tốt đẹp. Mục Lục
|
Tông Môn Cảnh Huấn 1
|