Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 1
9. Đêm trừ tịch

Năm Giáp Dần - 1974

Tổng kết lại, chúng ta sống ở thời chiến tranh, mà hôm nay đến ngày Tất niên lại được sum họp ngồi tại Thiền đường ấm cúng này, nói chuyện đạo. Thật là hy hữu.

Có lẽ đây cũng là một sự gia hộ của Tam bảo, khiến chúng ta được sống trong cảnh an lành không lo sợ. Hoàn cảnh xã hội không làm chúng ta phải buồn rầu đau khổ. Nhất là Tăng Ni đã có thiện duyên chung ở tại thiền viện để tu học thì thật là quý báu. Còn quý Phật tử nam nữ cũng vậy, tôi thấy rằng lý đáng ngày 30 quý vị phải ở tại nhà để rước ông bà, đoàn tụ với gia đình. Quý vị mến đạo cho đến nỗi phải hy sinh cái vui riêng của gia đình, mà đến đoàn tụ ở trong đại gia đình Phật pháp như thế này, thật là hy hữu. Tinh thần đó càng đáng được khích lệ. Cho nên chúng tôi thấy rằng con đường hướng dẫn chỉ dạy đó là do Tam bảo gia hộ, khiến cho Phật pháp được miên viễn. Nếu chúng tôi làm được việc gì gọi là hợp thời và giúp cho quý vị đường lối tu hành, thì những điều đó là sự gia hộ của Tam bảo.

Tôi thường nói với Tăng Ni câu này: Chỉ lo chúng ta không cố gắng, chứ thật tình cố gắng tu hành, nhất là đem hết tâm tư phục vụ Phật pháp thì Tam bảo không bao giờ bỏ quên chúng ta. Điều đó tôi tin tưởng và quả quyết như vậy. Hiện giờ chúng ta đang ngồi nói chuyện đây, Tam bảo cũng gia hộ, long thiên hộ pháp không bao giờ bỏ chúng ta.

Trong Thanh quy, chúng tôi có để câu: Tăng Ni trong thiền viện nếu hết gạo thì phải thay phiên nhau xuống núi để xin về, đi trong vòng ba ngày, nếu hết nữa thì đến người khác. Vì sao tôi để câu đó? Vì tôi chủ trương rằng từ ngày tôi lập thiền viện là dứt khoát không cho Tăng Ni đi đưa đám ma và không đi dự những buổi cúng kính của Phật tử tổ chức ở nhà. Có một số Tăng Ni nói với chúng tôi rằng: “Trong thời này mà không đi cúng thì Tăng Ni sẽ nhịn đói”, nhưng tôi thì quả quyết cách mạng điều đó.

Không cho đi đám lẽ dĩ nhiên người ta không cúng, người ta không cúng thì nhịn đói chứ gì? Nên tôi nói, nếu đến giờ phút chót mà hết gạo thì phải thay phiên nhau đi xin. Nhưng suốt thời gian qua, tôi chưa thấy lúc nào ở trong kho hết gạo. Nếu không phải Tam bảo gia hộ thì làm sao được như vậy. Vì lẽ đó, tôi tin sức gia hộ của Tam bảo rất mạnh, lòng thành tín của Phật tử rất tốt. Cho nên chỉ lo Tăng Ni chúng ta thiếu đức, thiếu hạnh không cố gắng tu hành, chứ đừng lo Phật tử bỏ chúng ta. Đó là điều tôi thường nói, thường nhắc trong giới Tăng Ni.

Hôm nay là ngày cuối năm, chúng ta ai nấy nên trình bày những điều thấy được, những biến động tâm tư của chính mình. Những biến động có thể tiến triển hơn trước, nhưng đem so với các bậc thiện trí thức của quá khứ, như sư tổ hay các vị thiền sư, thì vẫn phải hổ thẹn vì mình chưa được bao nhiêu. Căn cứ trên thời gian chúng ta phân biệt mùa đông, mùa xuân... nên bây giờ mới có lễ Tất niên, uống trà Trừ tịch. Theo thời gian phân định là tục đế chứ không phải là chân đế, nhưng tôi mượn việc thế tục để nói đạo lý, cùng khuyên nhắc cho tất cả quý vị thấy được ý nghĩa ngày cuối năm trong đạo quan trọng như thế nào.

Tôi nhắc lại câu chuyện hôm rồi tôi có kể ở Linh Quang cho quý vị nghe. Một buổi sáng sau giờ ngồi thiền, tôi xả thiền xoa bóp xong, ngồi lại một tí cho thật hết hơi nóng. Khi ấy chú thị giả lên dọn đẹp, tôi vén mùng ra hỏi chú:

- Ngày hôm qua đâu rồi?

Chú nhìn tôi không trả lời. Tôi nói tiếp: 

- Tôi không muốn sống ngày nay, tôi muốn sống trở lại ngày hôm qua. Chú đem ngày hôm qua cho tôi. 

Chú thị giả cũng làm thinh không trả lời được câu hỏi đó. Một lát sau, tôi muốn dễ dàng cho chú một chút, tôi nói rằng:

- Hôm nay chú dọn chén này đũa này, coi như chú dọn chén mới đũa mới. Nếu bây giờ tôi đòi chú đưa chén đũa cũ ngày hôm qua, thì chú phải làm sao?

Chú nói:

- Thì con sẽ đi đổi lại cái ngày hôm qua cho Thầy.

Tôi nói tiếp:

- Như vậy tại sao tôi không muốn sống ngày nay, tôi đòi ngày hôm qua mà chú không đổi lại cho tôi?

Chú thị giả nói: 

- Ngày hôm qua là giả là mộng, không thật. 

Tôi tiếp:

- Nếu ngày hôm qua là mộng, thì ngày nay cũng là mộng, phải không? Ngày hôm qua là mộng, ngày nay là mộng, ngày mai cũng là mộng. Như Vậy suốt đời chỉ là mộng, phải vậy không?

Chúng ta cứ lần bằng xâu chuỗi mộng. Một ngày qua kẽ tay rồi mất, ngày khác qua rồi mất, mất, mất... cho tới cùng, hết một xâu chuỗi. Như vậy cả cuộc đời của con người toàn là xâu chuỗi mộng, không có gì khác hơn.

Hôm nay là ngày cuối năm, ngày mai là ngày đầu năm mới. Nếu chúng ta nghĩ ngày đầu năm sẽ hiển thị cho một năm, mà mình không bằng lòng không vui, không ưng sống với năm đó, muốn sống trở lùi với năm cũ thì có được không? Chắc rằng không ai trở lùi lại được. Quá khứ đã qua, hiện tại cũng qua, thời sắp tới đến rồi cũng mất. Như vậy ba thời đều mất. Đã mất thì nó không thật. Nếu ta kiểm điểm lại kỹ từ thủy chí chung, đó là một dòng thời gian hư ảo không thật. Bởi không thật nên nói là mộng huyễn, qua rồi không tìm lại được.

Thế mà con người cứ lăn xả vào cái hư giả đó tưởng nó là thật. Cả một cuộc đời tạo cái này cái kia không dừng. Tới phút chót, ngày mà hơi thở dứt đi, sẽ ra sao? Kiểm điểm lại mình, nhớ cuộc đời 50 tuổi 60 tuổi, 70 tuổi đã qua. Đó là gì? Thật là một chuỗi mộng. Rõ ràng dòng thời gian là một xâu chuỗi mộng, không có gì thật hết. Kiếp sống con người lại là kiếp sống quy định bởi thời gian, theo số năm sáu mươi, bảy mươi v.v... Thời gian không thật thì chúng ta có thật không? Cũng không thật luôn.

Nhớ năm ngoái tóc tôi bạc ít, năm nay tóc tôi đã bạc nhiều, răng tôi năm ngoái lung lay ít, năm nay lung lay thêm. Cứ như vậy, khi thời gian trôi thì bản thân chúng ta cũng bị tiêu mòn theo đó. Nếu căn cứ vào hiện tại, từ con người cho đến sự vật đều theo dòng thời gian mà biến đổi, sanh diệt từ phút, từ giây, từ sát-na, không dừng lại ở đâu hết. Dòng thời gian hư ảo, nhưng nó lại chi phối hết cả cuộc sống của chúng ta, từ thân tâm cho đến ngoại cảnh, Không có gì không bị chi phối. Dòng thời gian đã hư ảo thì kiếp sống của con người cũng hư ảo, sự vật chung quanh cũng hư ảo.

Như vậy có thể kết luận: Chúng ta sống là lần những xâu chuỗi mộng, những hạt chuỗi mộng. Từng tháng từng năm, con người mặc chiếc áo mộng, đan dệt bằng những sợi tơ mộng. Chung quanh chúng ta toàn là mộng mà không hay. Mình lỡ sống như vậy rồi mà lại đua nhau giành giật danh lợi tài sắc trong cái mộng đó, tạo không biết bao nhiêu đau khổ cho nhau. Đó là vì chúng ta không biết cuộc đời là ảo mộng. Nếu hôm nay thấy được mình sống trong chuỗi mộng, mặc những chiếc áo mộng thì còn gì đắm mê tham luyến cảnh mộng ấy nữa.

Thân mình và ngoại cảnh là không gian, ba thời quá khứ hiện tại vị lai là thời gian. Tất cả là một dòng mộng có gì thật là mình. Lâu rồi chúng ta cứ mê lầm tưởng là thật, rồi tính thời gian để định sở hội hãnh diện sống dài ngắn v.v... Lượm lặt những sự vật vô thường ở chung quanh, cho đó là sự nghiệp của mình. Kiểm điểm lại chỉ là lần chuỗi mộng, mặc áo mộng mà thôi. Đó là chỗ thấy của chúng tôi.

Nếu tất cả thời gian là mộng, không gian là mộng, thì chúng ta chìm luôn trong mộng đó hay sao? Hay còn một cái gì nữa? Nếu chúng ta cứ thấy thời gian trôi qua là mộng, cuộc sống và sự vật chung quanh mình cũng là mộng, đi trong cái sanh diệt hư ảo mộng huyễn như thế rồi tuyệt vọng sao! Không phải. Nhờ phúc duyên lành, chúng ta được đức Phật chỉ cho trong cái mộng ấy có cái không phải mộng. Đó là cái hiện giờ chúng ta đang trở về, đang theo đổi và tìm thấy nó, sống với nó.

Như vậy trong cái mộng chúng ta còn thấy cái không phải mộng. Cái không phải là mộng đó, đối với tất cả cái mộng có giá trị biết là bao! Vì vậy khi chúng ta thấy đang bị cái hư ảo huyễn mộng chi phối thì đồng thời cũng nhận ra còn có cái không phải hư ảo, không phải huyễn mộng luôn có mãi nơi mình. Điều đó rất đáng mừng! Mừng cho mình chừng nào, lại thương cho những người đang lao vào mộng chừng ấy. Họ đang tạo nghiệp ác, gây khổ đau, thật đáng thương xót!

Khi chúng ta biết kiếp người là ảo mộng, tìm thấy cái thoát ra ngoài vòng ảo mộng đó, thì nương tựa nó để được an lành. Chúng ta càng thương xót, thấm thía đối với những người đang lao mình trong mộng mà tự họ không thức tỉnh. Chính cái nhìn đó, mà một thiền sư Việt Nam đã diễn đạt tâm tư bằng những câu thơ mà chúng ta nhớ mãi không quên.

Thiền sư Mãn Giác nói: 

Xuân khứ bách hoa lạc, 

Xuân đáo bách hoa khai. 

Sự trục nhãn tiền quá,

Lão tùng đầu thượng lai. 

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Dịch:

Xuân đi trăm hoa rụng,

Xuân đến trăm hoa cười.

Trước mắt việc đi mãi,

Trên đầu già đến rồi.

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,

Đêm qua sân trước một cành mai.

Hai câu đầu diễn tả xuân đến xuân đi, là dòng thời gian. Trăm hoa rụng, trăm hoa cười là những sự vật hiện có trong không gian. Như vậy thời gian và không gian là một dòng sanh diệt ảo mộng, trôi theo dòng ảo mộng đó thì con người như thế nào? Nhìn thời gian trôi, tưởng như mình không mắc kẹt trong ấy, đâu ngờ ngó lên mái tóc đã bạc phơ. Như vậy thời gian trôi đi, không gian biến đổi thì chính mình cũng đổi. Thật là bi đát nếu cuộc đời chỉ có ngang chừng ấy thôi.

Nhưng với đôi mắt của thiền sư thì Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, đình tiền tạc dạ nhất chi mai. Đừng bảo mùa xuân tàn thì hoa rụng hết, đêm qua vẫn còn có một cành mai nở trắng ở trước sân. Rõ ràng trong cái tàn hoại ảo mộng, còn có một cái gì thầm kín đẹp đẽ trường tồn mãi. Đó là một cành mai. Một cành mai của thiền sư Mãn Giác tức là chân tâm Phật đã nói trong kinh Lăng Nghiêm, đó là Như Lai tạng tánh của chúng ta. Hoặc trong kinh Pháp Hoa, đức Phật dụ là hòn ngọc quý đang buộc trong chéo áo.

Như vậy đối với người tu, nếu sống với tâm niệm thiền thì thấy trong cái sanh diệt ảo mộng còn có cái không sanh diệt lẫn trong ấy. Thế nên lòng mình được an ổn, tự tại và vui vẻ. Chỉ thấy được một tí, một khía cạnh nhỏ xíu nào của cái đó, ta cũng cảm thấy có hứng khởi, vui vẻ để xóa được nỗi đau buồn, những tối tăm thời quá khứ. Thấy được một tí thôi mà đã có niềm an lạc rồi, huống nữa là thấy toàn thể bản tâm ấy. Nếu mình thực hiện toàn vẹn thì đẹp biết chừng nào. Vì vậy chúng tôi tin rằng với sự cố gắng mãnh liệt của tất cả Tăng Ni, ai nấy rồi đều sẽ có một ngày vỗ tay cười, cười quên thôi như hòa thượng Thủy Lạo, sau khi bị một đạp của Mã Tổ vào hông, ngài cười cho đến mãn đời không thôi.

Trong cuộc đời đen tối ảo mộng đó mà mình tìm được cái gì nó thoát ra ngoài, chẳng khác nào ở trong đêm tối mà cầm một ngọn đèn sáng, thật còn gì vui sướng cho bằng. Cho nên đó là nguồn vui vô tận đối với người hiểu đạo, học đạo. Cái vui đó không phải để hưởng riêng mà phải ban rải cho mọi người cùng vui với chúng ta. Đó là tâm niệm của người tu hành. Tuy nhiên, muốn hưởng được cành mai của ngài Mãn Giác có dễ dàng không, hay phải chịu cay đắng nhọc nhằn?

Tôi xin nhắc lại bài kệ của tổ Hoàng Bá:

Trần lao quýnh thoát sự phi thường,

Hệ bả thằng đầu tố nhất trường.

Nhược bất nhất phiên hàn triệt cốt,

Tranh đắc mai hoa phốc tỹ hương.

Dịch: 

Vượt khỏi trần lao việc chẳng thường,

Nắm chặt đầu dây giữ lập trường.

Nếu chẳng một phen xương buốt lạnh,

Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương.

Muốn ra khỏi vòng ảo mộng ấy, bắt buộc chúng ta phải là kẻ phi thường. Tại sao? Vì mọi người đang lao mình trong mộng, chìm đắm say sưa rồi tạo nghiệp khổ cho nhau mà không biết là mộng, là sống trong vô minh mờ tối. Bây giờ thấy được đó là vô minh đen tối, muốn thoát ra khỏi nó, thì đối với người kia mình chẳng phi thường là gì?

Muốn làm kẻ phi thường, chúng ta phải làm sao? Phải nắm vững đầu mối dây, đừng bao giờ lay chuyển lập trường của mình từ thủy chí chung. Nói từ thủy chí chung thì xa quá, tôi muốn nói kể từ khi Tăng Ni Phật tử biết đạo Phật, phát tâm tu hành, từ đó cho đến đạt đạo mới thôi. Lập trường ấy không bao giờ lay chuyển, đó là nắm vững. Tôi tin rằng với lập trường như thế, ai nấy cũng đều ngửi được mùi thơm của hoa mai. Nắm vững lập trường nghĩa là dù gặp khó khăn, khổ não, nhọc nhằn, chướng ngại gì chúng ta cũng đều qua hết. Có qua như vậy ta mới đi đến chỗ đẹp đẽ an lành đúng theo sở nguyện. Tức là ngửi được mùi thơm của hoa mai.

Diễn tả cái đen tối khổ đau, chịu đựng cay đắng, ngài nói rằng: Nếu không phải bị sương tuyết lạnh thấu xương thì làm sao có ngày ngửi được mùi thơm của hoa mai. Hình ảnh hoa mai và tuyết sương mượn ở bên ngoài, nói lên sự cay đắng khó khăn của người tu. Từ đó mà chúng ta đi đến chỗ tột cùng, giữ lập trường không lay chuyển. Sau khi qua cái cay đắng tột cùng rồi, sẽ được an lành vô thượng, đó là ngửi mùi thơm của hoa mai. Thành ra hoa mai của tổ Hoàng Bá nói cũng là hoa mai của thiền sư Mãn Giác. Hai ngài đều mượn hình ảnh hoa mai để chỉ cho cái chân thật nằm sẵn nơi mỗi người.

Vì vậy tôi có thể kết luận rằng, nếu tất cả chúng ta ai nấy đều có thiện chí quyết tiến lên, không mắc kẹt trong cuộc đời ảo mộng thì phải gan dạ chịu đựng, bởi vì mình đi ngược dòng sanh tử. Dòng sanh tử giống như một dòng nước lũ mạnh. Người nào không gan dạ không vững bền thì sẽ bị nó cuốn phăng đi. Vì vậy chúng ta phải gan dạ, vững vàng vượt lên, đừng để nó cuốn đi. Như thế mới có thể thoát khỏi dòng nước lũ.

Đó là chỗ thiết yếu mà tất cả chúng ta, hàng xuất gia cũng như tại gia muốn đi ngược dòng ảo mộng đều phải cố gắng. Cuộc đời tu hành là phải như vậy.

Mục Lục
Tông Môn Cảnh Huấn 1