Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 1
25. Trích Thiền sử

1. Trâu đã thuần chưa

Một hôm Tề An Công đến hỏi đạo ngài Bạch Vân Nghĩa Đoan. Bạch Vân hỏi:

- Trâu đã thuần chưa?

Công thưa:

- Đã thuần, đã thuần.

Bạch Vân bèn mắng cho một trận. Công đổi sắc mặt, đang ngồi bèn đứng dậy khoanh tay. Bạch Vân hỏi:

- Thuần chưa?

Công im lặng.

Bạch Vân liền nói:

- Trâu ở trong núi đủ nước đủ cỏ, trâu ra khỏi núi chạm đông chạm tây.

Bình:

Người tu ví như kẻ chăn trâu giữ gìn chớ cho ăn lúa mạ người. Lúc đầu nó còn hung hăng, sau lần lần thuần thục. Khi thuần buông roi buông dây không phải chăn giữ mà nó vẫn không phạm lúa người. Người giữ tâm mình đúng mức thì không bị thanh, sắc, cảnh làm lay chuyển.

Để trắc nghiệm trình độ, thiền sư đã hỏi người: Trâu đã thuần chưa? Tức tâm ông đã yên chưa? Ở đây Tề An Công thưa: Đã thuần, đã thuần. Tức tâm tôi đã yên rồi. Ngay đó thiền sư bèn mắng cho một trận. Đây là để nghiệm xem Công đã thật chưa, tâm đã thật yên chưa? Tiếc thay Công chưa được yên thật sự, nên mặt mày biến sắc, trong lòng không vui.

Bạch Vân gạn lại: Thuần chưa? Hỏi như vậy để đánh thức thực trạng trong tâm người. Nhưng Công lại cố chấp, khoanh tay im lặng. Ngài tiếp: Trâu ở núi đủ nước đủ cỏ, trâu ra khỏi núi chạm đông chạm tây.

Khi tâm không duyên thì yên. Có duyên đến thì bị động, mất đi cái an ổn, mà sân hận nổi dậy. Khác nào trâu ra khỏi chuồng thì báng bổ quật đông quật tây. Việc huân tu như vậy là chưa được thuần. Khi không duyên thì ngỡ mình đã thuần. Khi duyên đến, chạm duyên mới hay mình chưa thuần. Người tu, không chỉ tu ở cảnh yên, mà phải tu ngay trong cảnh động. Cảnh động mà vẫn yên, thế mới là thực yên.

Công khi không bị mắng thì ngỡ là yên. Khi bị mắng lại nổi sân, đây là chưa thật yên. Phải khi không có mắng, hay khi có mắng mà vẫn yên thì cái yên đó mới thực.

2. Hái dưa cho người không vào vườn ăn

Thiền sư Thanh Phẩu ở nơi hội ngài Đại Dương. Một hôm Sư đang trồng dưa, Đại Dương vào vườn hỏi: 

- Dưa đã chín chưa?

Sư thưa:

- Dưa đã chín.

Đại Dương bảo:

- Lựa một trái, hái ăn chơi.

Sư thưa:

- Hái cho người nào ăn?

Đại Dương bảo:

- Hái cho người không vào vườn ăn.

Sư thưa:

- Chưa biết người không vào vườn có ăn được không?

Đại Dương hỏi:

- Ông có biết y chưa?

Sư thưa:

- Tuy nhiên không biết mà đâu được chẳng cho.

Bình:

Đã có người hỏi xin mà chủ vườn lại hỏi: Hái cho người nào ăn? Chủ vườn muốn gì? Ông trả treo khó dễ, muốn xác định kẻ “biết ăn”, kẻ ấy là ai? Tại sao đương sự sờ sờ ra đấy mà hỏi quái như vậy? Tuy nhiên, không thể trả lời rằng: Hái cho tôi ăn. Người xin xác nhận như vậy là đã lầm, mắc bẫy kẻ trồng dưa rồi!

Đại Dương không thế. Ngài là người “lái buôn” sành sỏi, chỉ có lừa người, nào ai lừa được ngài. Đâu dễ nửa câu lại bị mắc hợm! Đã là kẻ “lái” chuyên nghiệp nên trả giá đúng mức để thủ lợi, phải nắm chắc việc ấy trong tay. Ngài quật ngược lại, đoạt cơ chủ rẫy: Hái cho người không vào vườn ăn.

Một câu trả lời ma quái, hư ảo! Người vào vườn xin dưa cho kẻ “không vào” ăn. Một chuyện lật lọng ngược lại chủ vườn. Đã vào, mở miệng xin, sao lại để cho kẻ khác? Ngài mắc cỡ chăng? Không dám nhận kẻ ấy là mình? Không tự cho mình là kẻ ăn, lại đổ thừa kẻ khác!

Kẻ không vào vườn ấy là ai? Kẻ nào? Có ai thấy hắn đâu! Có chăng cũng chỉ là bóng ma. Nhưng đã là một bậc đại nhân, ngài Đại Dương đâu thể chối quanh, nói vô nghĩa như thế. Ngài nói một cách xác thật. Đó là đã giới thiệu một khách quý với chủ vườn. Người đó là kẻ sành sỏi biết thưởng thức hương vị dưa ngon, đáng được cho ăn. Người đó là “người không vào vườn”.

Nếu là kẻ khác không phải Thanh Phẩu, người chủ vườn sẽ nhìn quanh quất kiếm người không vào vườn ấy là ai? Nhưng chủ vườn này không làm cái việc phí công vô ích ấy. Không bị lời lẽ ma mị của “ông già” lừa. Trái lại, còn làm khó dễ hỏi đon ren, không muốn hái dưa cho nữa là khác.

- Chưa biết người không vào vườn có ăn không?

Một lối hỏi để giữ dưa, không muốn mất một quả. Chủ vườn thật lợi hại. Dù là tay đại bịp cũng khó vượt qua. Lời nói ấy chứng tỏ chủ dưa đã biết rõ người “không vào vườn” kia. Lời nói ấy đã chặn trái dưa trước mắt Đại Dương. Chủ vườn quả thật là tay đáo để.

Nhưng Đại Dương là một ông lái tài giỏi, đâu để mất món hàng xét ra lợi nhuận rất cao. Ngài lật ngang lời người, hất chân kẻ chặn: “Ông có biết y chưa?”. Đây là lời quyết liệt, lời đoạt dưa. Lời này thật lợi hại, nếu không phải là Đại Dương, kẻ lái buôn chuyên nghiệp thì khó lòng, chỉ ngó dưa mà hối tiếc. 

Đại Dương, một lời đã buộc người dâng hoa quả. Một xảo thuật “kiếm ăn” thật tài tình. Lời ấy đã đưa chủ vườn vào thế phải chấp nhận. Và chủ dưa đã hoan hý không còn trả treo nữa, mà nhất tâm tùy hỷ cúng dường lên con người “không vào vườn” ấy. Chủ dưa đã kính cẩn:

- Tuy nhiên không biết, mà đâu được chẳng cho.

Chủ vườn thật là hiếu khách, một kẻ thạo việc trồng trọt, lại thạo của thạo người. Một chủ vườn giữ dưa trọn vẹn, dâng dưa mà không mất một trái.

Người không vào vườn ấy là ai?

3. Cái đánh không can dự gì đến việc kia

Ngài Minh đạo giả ở chùa Khai Phước đến tham vấn với Ngũ Tổ Pháp Diễn. Ngũ Tổ thấy Sư tính tình điềm đạm, thông minh, phong cách đặc biệt, thường khen ngợi hạnh Sư trước chúng. Vì thế, trong chúng có một số người đố kỵ, muốn làm nhục Sư cho bõ ghét. Một hôm họ rủ Sư đi dạo núi, rồi hè nhau đánh Sư một trận thương tích đầy mình. Về chùa, Sư nằm liệt luôn mấy hôm không đi thọ trai được. Sau Ngũ Tổ hỏi ra mới hay cớ sự, bèn đến thăm Sư. Ngũ Tổ bảo:

- Ông bị bọn vô lễ làm hại như thế sao không mách với Lão tăng, để Lão tăng đuổi họ đi.

Sư thưa:

- Con bị đánh thương tích thì con chịu, không Can dự gì đến việc kia.

Tổ bảo:

- Sức nhẫn nhục của ông còn hơn Lão tăng, về sau không ai làm gì ông nổi.

Bình:

Tuy là chốn đạo tràng, nhưng người tiểu tâm đâu phải không có. Ở đạo tràng Hoàng Mai, Ngũ tổ Hoằng Nhẫn khi trao y bát cho Lục Tổ, khiến ngài Huệ Năng thiếu điều mất mạng. Nay đến đạo tràng Ngũ Tổ Pháp Diễn, chỉ vì ngài Pháp Diễn đặc biệt chú ý đến vị Tăng này, khiến thầy bị kẻ xấu ác đánh đập tàn nhẫn. Việc đời là vậy. Trong tập thể thì có kẻ xấu người tốt là lẽ đương nhiên, như bàn tay có năm ngón, ngón dài, ngón ngắn không đều; việc ấy không phải nói. Chỉ nói đến công phu của người thọ nạn.

Ngài Minh đạo giả đã bị kẻ xấu hành hung. Ngài có thân thế lớn là hòa thượng Pháp Diễn, nhưng đã không dựa vào để trả hận, ngược lại ngài còn lặng lẽ không rỉ hơi. Bị đánh đau, liệt bại thì chịu, không kêu than, không thống trách tính toán trả hận. Một việc làm như vậy, có phải vì ngài sợ bọn kia hăm dọa sẽ hạ sát khi ngài thưa ra không? Không! Chắc chắn là không. Ngài một bề im lặng chịu đựng chỉ vì một dạ sống với Phật pháp.

Ngài có nghĩ lấy ân báo oán, hay dùng tình thương xóa bỏ hận thù? Tứ đại giả hợp hay ngũ uẩn giai không v.v... Không. Ngài không vì những thứ ấy mà nhẫn chịu để được tiếng là con người cao thượng, có lòng từ bi, mà ngài đã thể nhận sâu sắc lẽ nhiệm mầu: Không can dự đến việc kia!

“Việc kia” chính là pháp mầu rứt ngài ra khỏi vòng ân oán, có được sự nhẫn chịu phi thường, trở thành người có tâm hồn cao thượng, đem tình thương xóa bỏ hận thù, lòng từ bi độ lượng, mà không hề có niệm mưu cầu. Việc kia là việc gì? Việc không là ngũ uẩn, không ngoài ngũ uẩn. Là việc mà ở đó, không một quả đấm nào có thể đấm được.

Có thế Ngũ Tổ Pháp Diễn mới tán thán:

- Sức nhẫn nhục của ông còn hơn Lão tăng, về sau không ai làm gì ông nổi!

4. Một chiếc áo rách nát

Ngài Tuyết Đường lúc ở trong chúng ngộ đạo, Sư chỉ mặc duy nhất một chiếc áo từ đông sang hạ. Trải qua nhiều năm nên rận đầy cả áo mà Sư không nỡ bắt. Trong chúng có người chán ghét cái hạnh nuôi rận của Sư. 

Sư có ông thân làm quan, khi ấy đổi đến gần chỗ Sư đang ở. Một hôm, Sư đến thăm cha mẹ, nhưng lính gác thấy Sư ăn mặc dơ rách quá nên không cho vào cổng. Sư bèn cởi chiếc áo đưa cho lính nhờ đem vào trình quan. Bà mẹ nhìn biết áo của con bèn cho gọi vào. Thấy áo rách quá và đầy rận, bà mẹ đem dẹp và đổi áo khác cho Sư. Sư khóc nói: Là quyến thuộc ở cùng con đã lâu, nay chia tay lẽ đâu lại chẳng buồn.

Khi ấy bà con quyến thuộc hay tin Sư về, mới hẹn hôm sau cùng đến thăm Sư. Đêm ấy, Sư lén trốn đi và để lại một bài kệ:

Mạc hiềm tâm tợ thiết,

Tự kỷ thượng vi oan.

Tảo tận môn tiền tuyết,

Phương khai hóa lý liên.

Vạn ban hưu cách vấn,

Nhất đẳng thị vong duyên.

Cá sự tương ưng xứ,

Kim cang chủng hiện tiền.

Dịch: 

Chớ trách tâm như sắt,

Chính mình còn chẳng ưa.

Quét sạch tuyết trước cửa,

Mới nở lò sen hồng. 

Muôn việc thôi chớ hỏi,

Bậc nhất là quên duyên.

Việc này chỗ thích hợp,

Giống Kim Cang hiện tiền.

Bình:

Khi người ngộ đạo thấu lẽ chân không, mọi việc quanh thân đều được xem nhẹ. Ăn mặc cơm áo đã trở thành phụ thuộc, có gì phải nghĩ tới. Một cái áo chân thật mặc hoài không cũ, trùm hoài không rách, mang hoài không hư hoại nhàu nát. Tung ra thì khắp sum la vạn tượng, thâu lại chừng mảy lông đầu sợi tóc. Có gì làm nhơ nó? Bất cấu bất tịnh. Có gì làm thay đổi? Bất tăng bất giảm. Có gì làm suy suyển? Bất sanh bất diệt.

Chiếc áo như vậy đã khoác lên mình sơn tăng, thì còn chiếc áo nào đáng giá hơn nữa. Vì vậy việc áo xống chỉ là sở thuộc của sơn tăng. Sơn tăng đã dùng nó, làm chủ nó; chứ nó không còn làm chủ, sai khiến sơn tăng nữa. Mặc và mặc mãi, mặc đến khi nào không mặc được nữa thì quăng, khỏi chăm sóc, không luyến tiếc. 

Ngài Tuyết Đường đã làm chủ sự ăn mặc, thấy mình có chiếc áo bằng trân bảo lộng lẫy, mặc hoài suốt bao năm. Việc ấy đã làm ngứa mắt những kẻ chỉ biết trên cái ăn cái mặc. Đáng tiếc thay! Người trong tùng lâm còn như vậy, huống là kẻ thế tục không hiểu đạo lý!

Từ một chiếc áo như vậy, đã hóa hiện biết bao chúng sanh, loài rận mặc tình nảy nở. Dù bị chúng cắn rứt ngài vẫn xem như bạn. Nỗi cắn rứt ngoài da thịt có là bao, ngại nỗi cắn rứt trong tim trong não kia. Ngài không có nỗi cắn rứt trong tim não, thì coi việc cắn rứt trên da thịt có nghĩa gì. Nó hút máu ngài là hút dòng máu cam lồ. Với dòng máu ấy chúng sẽ “tu” theo ngài, sẽ là đệ tử ngài, cũng như con cái nút sữa mẹ vậy. Vì vậy, khi “lũ con” bắt buộc phải xa lìa ngài thì ngài làm sao mà không xót xa cho được.

Sự thể hiện đời sống đạo của ngài tuy cục bộ, nhưng rất gần gũi và xác thực với sinh hoạt thường nhật của cuộc sống. Con người mãi bận rộn, cũng chỉ vì duyên. Duyên mà không dứt chỉ phí công tu. Người muốn rảnh rang trong sạch phải lo quét dọn trước ngõ nhà mình. Duyên duyên phải cắt đứt. Ấy là yếu chỉ vạn duyên buông hết. 

Duyên trong duyên ngoài đều bặt dứt, đây là chỗ giống Kim Cang nảy nở.

5. Thành cái gì

Vua Hiến Tông nhà Tống hỏi thiền sư Phật Chiếu:

- Đức Thế Tôn vào núi tuyết, sau thành đạo, hỏi thành cái gì?

Phật Chiếu đáp:

- Dám hỏi bệ hạ đã quên.

Vua rất hài lòng.

Vua Hiến Tông đã từng hỏi câu này với nhiều vị thiền sư khác, nhưng câu đáp không được vua hài lòng lắm.

Bình:

Đức Thế Tôn thành đạo là thành cái gì? Đây là một vấn đề trọng đại. Vua Hiến Tông đã từng hỏi câu này với nhiều thiền sư. Thành cái gì? Đã bao người học đạo thắc mắc điều này. Người ta nói “thành” tức chứng Bồ-đề, đạt cõi Niết-bàn. Nhưng ở đây ngài Phật Chiếu trả lời đơn giản: 

- Dám hỏi bệ hạ đã quên.

“Có” mà không nhớ ra, tức đã “quên”. Ngài Phật Chiếu rất khéo, vua hỏi việc Phật mà ngài từ Phật xoay lại vua, vì vua mà chỉ thẳng. Khác nào Đạt-ma Tổ sư vì vua Lương mà chỉ cho. Ngài đã mạnh dạn nói bệ hạ đã quên. Quên cái gì? Quên cái đã có. Ở địa vị bệ hạ có cái gì? Có cái mà nhà vua đã quên.

Cái “có” là cái quý giá tột bậc ở một ông vua, ở một người. Nhưng rất tiếc nhà vua và con người đều quên.

Đức Phật đã thành đạo, nay ngài từ bi chỉ thẳng chỗ “thành” ấy. Đó là chỗ mà bệ hạ đã quên, bao người đã quên. Thành cái “có” mà đã “quên”. Thật đơn giản biết bao?

Nhà vua nghe qua bừng tỉnh. Tỉnh cái mình đã “có”. Vua có, mọi người có chăng? Có.

6. Một tiếng nạt đáng giá ngàn vàng

Thiền sư Phần ở Kiếm Môn. Thuở nhỏ, một hôm Sư bất thần hiểu đạo rồi tự cạo tóc, nhưng vẫn thường chạy rong chơi trong xóm làng, nên thiên hạ gọi Sư là Tăng điên.

Sau, Sư xuất gia tham thiền và đến nương ngài Đại Huệ. Đại Huệ nghe nói “gã phong điên” nên không cho Sư nhập chúng. Sư đành phải ra đi, đến sông Chiết Giang, đứng bên bờ Sư tủi thân khóc than: Ta đã lang thang bao năm trời nay, định nương ngài Đại Huệ mà cũng không được chấp nhận, chắc tại kiếp trước ta không có gieo hạt giống Bát-nhã.

Trong khi đang khóc sướt mướt thì nghe lính nạt: Tránh ra, quan Thị Lang đến!

Sư bỗng nhiên đại ngộ liền làm bài kệ:

Kỷ niên cá sự quải hung hoài,

Vấn tận chư phương nhẫn bất khai.

Kim nhật can trường hốt nhiên phá,

Nhất thanh giang thượng Thị lang lai.

Dịch:

Bao năm việc ấy chứa trong lòng,

Hỏi hết các nơi mắt chẳng khai.

Nay bỗng ruột gan tan vỡ hết,

Trên sông một tiếng Thị lang lai.

Bình:

Một con người đã thao thức trên lối về đại đạo. Nhưng hình tung kỳ quái, khiến người ruồng rẫy không chấp nhận. Ngài hận mình vô duyên, kém mầm Bát-nhã. Thề một quyết hy sinh thân mạng, dứt đi nghiệp chướng oan khiên. Mong sao đời khác tiếp nối trọn lành, không oan oan, ương ương như thuở này nữa.

Thời cơ đã đến. Lính mở đường quát nạt mở lối cho quan Thị lang tiến bước. Đang khi đau khổ bời bời, ruột gan rối loạn, nỗi lòng rã tan. Giữa cái lúc băng giá phủ lấp cõi lòng thì tiếng quân thét. Ngay đó băng tan giá rã, nỗi khổ cuốn trôi. Tâm hồn rỗng rang nhẹ hửng. Ngài đã sống lại từ bên kia cõi chết.

7. Buông xuống đi

Nghiêm Vương tôn giả hiệu Thiện Tín là đệ tử của Triệu Châu. Một hôm Sư hỏi Triệu Châu:

- Một vật chẳng đem đến thì thế nào?

Triệu Châu bảo:

- Buông xuống đi!

Sư thưa:

- Đã là một vật chẳng đem đến, buông cái gì?

Triệu Châu bảo:

- Buông chẳng được thì nên gánh đi.

Qua chuyện này, ngài Huệ Nam có làm bài tụng:

Nhất vật bất tương lai,

Kiên đầu đảm bất khởi.

Ngôn hạ hốt tri phi,

Tâm trung vô hạn hỷ.

Độc ác ký vong hoài,

Xà hổ vi tri kỷ.

Quang âm cư bách niên,

Thanh phong du vị dĩ.

Dịch:

Một vật chẳng đem đến,

Trên vai gánh chẳng kham.

Qua lời chợt biết lối,

Trong tâm vui vô vàn.

Lòng quên các độc ác,

Cọp rắn làm bạn mình.

Thời gian trăm năm lẻ,

Gió mát vẫn còn nguyên.

Bình:

Ngài Huệ Nam tuy là người sau, cách nhiều đời mà vẫn tương thông người trước. Ngài đã biết rõ chỗ vì người của ngài Triệu Châu. Kẻ đến hỏi đã mang gông mà còn quảy môi lưỡi. Tiếc thay đương sự chẳng nhận ra. Ngài Huệ Nam qua lời chợt biết lỗi. Lỗi tại chỗ nào?

Buông!

Lòng ngài Huệ Nam thư thái nhẹ nhàng. Ngài đã quên các loài độc ác, cùng cọp rắn làm bạn mình. Sao kỳ vậy? Người đã thôi rồi đa mang nghiệp chướng, ẩn chốn cùng cốc sơn lâm mà làm bạn với thú rừng. Ngày qua tháng lại thong thả huân tu.

Dù thời gian trên thế kỷ, giữa mình và người xưa, ngài vẫn thấy lời kia là làn gió mát. Lời ấy vẫn còn nguyên. Lời gì? Buông!

8. Đạo tại hành động

Cư sĩ Quách đạo nhân chuyên làm nghề thợ rèn. Một hôm ông đến chùa Cảnh Đức tham cứu với thiền sư Trung. Trung bảo:

- Ông bỏ hết những cái nặng đi, rồi xoay lại ông mà tham cứu thì việc gì cũng xong.

Sau đó một thời gian, ông trở lại gặp thiền sư Trung. Trung bảo:

- Thiện ác như mây nổi, sanh diệt không chỗ nơi.

Ông nghe xong liền đại ngộ. Sau đó ông hay nói những lời lạ. Trước khi chết, ông giã từ bà con bè bạn xong, về nhà làm một bài kệ để lại rồi ngồi kiết già mà tịch.

Lục thập tam niên đả thiết,

Nhật dạ phiến bành bất kiệt.

Kim triêu phóng hạ thiết chùy,

Hồng lô biến thành bạch tuyết.

Dịch:

Sáu mươi ba năm đập sắt,

Ngày đêm quạt lửa chẳng thôi.

Hôm nay chùy sắt buông rồi,

Lò hồng biến thành tuyết trắng.

Bình:

Người cư sĩ hành nghề thợ rèn, vậy mà nghiệp chướng nhẹ. Một phen hỏi đạo liền chợt tỉnh, quẳng hết sắt chùy ống bễ. Một phen tắt ngúm lò hồng, ngay đó trở thành tuyết trắng.

Thật là một kẻ phi thường. Việc kiến đạo giải thoát đâu phải chỉ dành cho người trí thức đạo gia. Một tay thợ rèn khi quăng búa tắt lò thì liền đó bể lửa hóa thanh lương, rảnh tay dạo khúc vô sanh.

9. Nghịch hạnh

Thượng tọa Pháp Minh là cháu trong tông Vân Môn. Sau khi ngộ đạo, ngài về quê và chuyên đi tụng đám, gặp ai mời uống rượu ăn thịt thì xáp vô nhậu đến say mèm, còn ai mời ăn chay thì nhất định từ chối.

Như thế trải qua mười mấy năm. Một hôm ngài bảo trong chúng:

- Mai ta tịch đây!

Chúng không ai tin cả. Sáng hôm sau ngài la to:

- Ta đi đây, hãy đến nghe ta nói kệ:

Bình sanh túy lúy điên quyết,

Túy lúy khước hữu phân biệt.

Kim triêu tửu tỉnh hà xứ,

Dương liễu ngạn, hiểu phong tàn nguyệt.

Dịch:

Bình sanh trong say té ngẫ,

Trong say lại có phân biệt.

Sáng nay tỉnh rượu đi đâu,

Bờ dương liễu, trăng tàn gió sớm.

Ngài nói kệ xong liền tịch:

Bình:

Kẻ say khướt đã bao nhiêu năm, công hạnh theo thông thường không có. Một người tu như vậy thật lạ. Vậy mà trước phút ra đi vĩnh viễn khỏi cuộc đời lại hẹn được ngày giờ, nói lên điều uẩn áo. Tâm hạnh thiền sư thật khó lường. Phải nói sao cho phải? Rằng say phải hay tỉnh phải? Thế nào là phải?

Nhìn trên hiện tượng quyết đoán bản chất, đâu là chân lý? Người như vậy còn say còn tỉnh nữa sao? Phải nói với ngài thế nào cho phải? Chỗ về của ngài là đâu?

Bờ dương liễu, trăng tàn gió sớm.

10. Hạnh kỳ đặc

Thiền sư Tu Diễn ở đời Minh, sau khi ngộ đạo ở Thạch Môn, ngài về trụ tại chùa Đông Sơn, chuyên tu hạnh đầu-đà. Đêm nào Sư cũng cởi trần để bố thí cho muỗi, có người thấy thế đem quần áo cúng cho Sư, Sư lại đem cho người khác. Như thế trải qua hơn 40 năm, Sư không hề tắm rửa.

Khi tịch Sư ngồi kiết già, làm kệ xong rồi an nhiên thị tịch, đệ tử đem nhập tháp. Một thời gian sau mở cửa tháp ra thấy Sư vẫn ngồi yên như trước.

Tứ thập niên lai thường tiển túc,

Bất thể đầu hề bất tháo dục.

Quận quan vị ngã hoán y sam,

Chỉ khủng bình sanh nguyện bất túc.

Dịch:

Bốn chục năm liền thường cởi trống,

Đầu chẳng gội chừ thân chẳng tắm.

Quận quan vì ngã đổi chiếc y,

Chỉ ngại bình sanh nguyện chẳng đủ.

Bình:

Hạnh đầu đà cần khổ nhọc xác thân. Người tu cởi áo phơi mình hiến muỗi xơi. Suốt mấy mươi năm liền như vậy, quả là một con người phi thường. Một việc làm không mấy ai làm được.

Do định lực, do trí lực, do nguyện lực, do gì mà ngài được như vậy? Việc làm của ngài thật khó nói. Ngài đâu không thông lý sự. Ngài đã ngộ đạo rồi, việc làm đâu phải mù quáng. Ngài làm như vậy có mục đích gì, đã được lợi ích như thế nào? Việc này thật là bí mật. Không thể nói làm như vậy mới gọi là tu (mục đích), làm như vậy mới được an nhiên thị tịch (lợi ích), không thể y cứ như vậy. Vì với các vị khác thì sao?

Dù sao đi nữa, sự thật vẫn hiển nhiên, sờ sờ ra đó. Cho đến sau khi tịch một thời gian, Sư vẫn ngồi đó. Trí thì không khác, hạnh thật khó lường. Trí hạnh không hai, diệu dụng bất tư nghì.

11. Quý ở chỗ thực hành

Thi hào Bạch Cư Dị đến hỏi đạo thiền sư Ô Sào:

- Thế nào là căn bản Phật pháp?

Ô Sào đáp:

- Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành.

Bạch Cư Dị thưa:

- Câu này con nít 3 tuổi cũng thuộc.

Ô Sào bảo:

- Con nít 3 tuổi cũng thuộc, nhưng ông già 80 tuổi làm cũng không xong.

Bình:

Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành. Các ác chớ làm, điều lành vâng làm. Làm lành lánh dữ. Lời này quả là trẻ con 3 tuổi cũng thuộc, nhưng ông già 80 làm không nổi. Bảy mươi chín năm tạo ác, đến năm 80 mới làm thiện, liệu có trừ 79 năm tạo ác kia được không?

Việc tu quý ở chỗ thực hành, hành được ít cũng hơn nói nhiều mà không làm, nên cổ đức bảo: “Nói một trượng không bằng làm một thước, nói một thước không bằng làm một tấc”.

12. Nêu gương bất khuất

Quốc sư Phật Quang Viên Mãn Thường Chiếu năm Ất Hợi rũ áo về chùa Năng Nhân núi Nhạn Đảng, Ô Châu. Năm sau, quân Nguyên kéo đến, chúng đều chạy hết. Sư không đi, một mình ngồi trong chùa. Quân Nguyên lấy dao kề cổ, Sư ngửa cổ ra và nói kệ:

Càn khôn vô địa trác hồ cung,

Hỷ đắc nhân không, pháp diệc không,

Trân trọng Đại Nguyên tam xích kiếm,

Điện quang ảnh lý trảm xuân phong. 

Dịch:

Không đất cắm dùi khắp càn khôn,

Mừng được người không, pháp cũng không,

Xin thỉnh Đại Nguyên ba thước kiếm,

Trong ánh chớp lòe chém xuân phong.

Sư đọc kệ xong, thần sắc vẫn không thay đổi, khiến giặc hoảng hốt lạy tạ rồi rút lui. Sau, Nhật Bản nghe danh thỉnh Sư sang giáo hóa và phong làm Quốc sư.

Bình:

Ví gặp gươm đao thường thản thản,

Phỏng nhằm thuốc độc vẫn nhàn nhàn.

Con người bình an đến thế là cùng. Gươm đưa vào cổ vẫn còn ngâm nga kệ xướng. Trước môn quan vẫn điềm nhiên xem như không có gì. Việc sanh tử thật chẳng bận lòng. Ngài thật xứng với tôn vị quốc sư.

Kẻ đã không màng sống chết, thì việc danh lợi có sá gì. Quốc sư hay kẻ bần tăng cũng vậy thôi. Lá cờ rũ hay lá cờ phất cũng chỉ là lá cờ. Việc khác nhau đều do duyên. Phải duyên ngẩng đầu cứa cổ thì ngẩng đầu, phải duyên ngất ngưởng tòa cao thì ngất ngưởng tòa cao. Thế nào cũng chỉ là dung nghi một vị chân tăng thôi.

Với cái kẻ “càn khôn vô địa”, “nhân không pháp diệc không” thì còn gì để nói. Có kiếm cũng nên quăng, có lời cũng nên ném, dập đầu mà đảnh lễ tôn vinh cúng dường.

13. Các khổ không thể đến

Một thiền khách đến hỏi vị cổ đức:

- Khi lạnh nóng đến làm sao tránh né?

- Trong chảo đầu lò lửa mà tránh né.

- Trong chảo dầu lò lửa làm sao tránh né?

- Các khổ không thể đến.

Sau, ngài Phật Quang Viên Mãn quốc sư có làm bài bình:

Lão khứ tha hương ngộ cố tri,

Điều điều huề thủ khước đồng quy.

Dạ thâm khả tận tôn tiền tửu,

Mạc thuyết thiên nhai cước thống thì.

Dịch: 

Lão đến tha hương gặp cố tri,

Xa xôi tay nắm dắt nhau về

Đêm khuya đã cạn chén rượu trước,

Chớ nói trên đường gót chân đau.

Bình:

Một việc tránh né nóng lạnh thật tuyệt diệu. Hãy ngay trong chảo dầu, lò lửa mà tránh né. Hay biết mấy! Vì nơi ấy các khổ không thể đến. Thật lý thú biết bao! Việc sanh tử hãy như vậy mà tránh né.

Quốc sư Phật Quang Viên Mãn có lời bình thật hay. Ngài đã chỉ rõ chỗ tránh né.

Người khách qua lại trên nẻo đường sanh tử gặp bạn cố tri. Gặp lại người bạn cố tri ngay trên đường sanh tử rồi, thì hãy đề huề lưng túi gió trăng nhâm nhi mỹ tửu, thưởng thức hương nồng, bàn chi hành trình nhọc mỏi. Chuyện nhọc nhằn chỉ là chuyện trên đường. Nơi thảo lư chỉ có ta và ta, ly rượu vơi đầy, nốc cạn quần say mặc tình đất trời nghiêng đổ, chuyện nhọc nhằn có không?

14. Ai thân ai sơ

Hiệp Sơn cùng Định Sơn đồng đi đường cùng nói chuyện với nhau. Định Sơn nói:

- Trong sanh tử, không Phật tức phi sanh tử. 

Hiệp Sơn nói:

- Trong sanh tử, có Phật tức chẳng mê sanh tử.

Cả hai cùng lên núi lễ vấn thiền sư Đại Mai Pháp Thường. Hiệp Sơn đem câu nói của hai người thuật lại Sư nghe. Và hỏi: 

- Chưa biết chỗ thấy của hai người ai được thân.

Sư bảo:

- Một thân một sơ.

- Ai được thân?

- Hãy đi sáng mai lại!

Sáng hôm sau Hiệp Sơn lại đến hỏi Sư, Sư bảo: 

- Người thân thì chẳng hỏi, người hỏi thì chẳng thân. 

Bình:

Chúng ta vẫn thường nghe nói: “Chỗ lý cùng tột vốn không thân sơ, thân sơ là tại nơi người”. Bởi có tâm kia đây mới thấy có gần với đạo hay cách xa đạo. Nếu tâm “không hai” thì còn chỗ nào là thân là sơ? Thế nên, người hỏi thân sơ là còn kẹt trong niệm phân biệt, ắt rơi vào thức tình, không hợp với đạo. Nếu chúng ta lại theo đó mà đáp hoặc thân hoặc sơ, tức cũng đồng bị kiểm điểm như họ... 

Đại Mai thì chẳng như thế, Sư khôn khéo gạt đi một câu: “Hãy đi sáng mai lại”. Sau một đêm trằn trọc nôn nóng muốn biết ai thân ai sơ, nên sáng hôm sau Hiệp Sơn đến trước hỏi: “Ai được thân?”. Rõ ràng bày quả tang không còn nghi ngờ! Do đó Đại Mai liền bảo: “Người thân thì chẳng hỏi, người hỏi thì chẳng thân”. Hiệp Sơn đành hổ thẹn trở lui.

Thật đau biết mấy!

Đây là một bài học đích đáng cho những ai còn có niệm tranh chấp thân sơ, đúng sai. Người thật thân tức một câu nói ra đã đầy đủ tự tin, dù cho ai có phê phán thế nào cũng không nghĩ. Trái lại, nói ra mà còn hồi hộp chờ đợi phê phán đúng sai tức còn mơ màng chưa phải thân rồi!

Từ đó suy ra những cuộc tranh chấp thông thường cũng vậy. Giả sử hai người cãi nhau, đem đến chúng ta đòi xử ai đúng ai sai, chúng ta chỉ cần lấy đây xét đoán khỏi phải tranh chấp nhiều lời. Vì nếu xử người này đúng, người kia sai, tức kẻ sai liền cho chúng ta bênh vực người này mà ghét bỏ họ, ắt sanh tỵ hiềm với nhau khó mà dung hòa. Cho nên chỉ cần bảo: “Người đúng thì chẳng hỏi, người hỏi thì chẳng đúng”; để mọi người tự xét lấy.

Nên nhớ rằng kẻ trông mong cho mình đúng là có tâm muốn hơn người, nếu bị cho sai tức sanh phiền hận, đó là bệnh. Thế nên biết, vừa khởi tâm đúng sai, thân sơ là đã trật rồi! Huống là chỗ chí đạo vốn bặt kia đây, dứt tâm chọn lựa, lấy đâu mà nói thân nói sơ, nói đúng nói sai? Vậy ai là người trí hãy khéo xét kỹ, chớ để một chút sai lầm càng xa lý thật!

15. Dứt bặt có không

Hỏi: Trong nhà thiền thường nói: Chỗ có Phật hãy đi nhanh qua, chỗ không Phật chớ dừng trụ, lý này thế nào?

Đáp: Chỉ là vượt qua có và không, tức không kẹt hai bên vậy.

Bình:

Thường thường, chúng ta nếu không kẹt bên này thì rơi bên kia, do vậy khi nghe nói chỗ có Phật phải đi nhanh qua, chỗ không Phật chớ dừng trụ liền thắc mắc không sao hiểu nổi. Nhưng ta quên rằng nếu còn thấy có Phật, không Phật tức còn cái thấy hai bên, chưa phải cái thấy của người đạt đạo.

Người đạt đạo có đủ mắt sáng thì riêng tự có lối đi không một điểm nhỏ nào có thể dối gạt được. Dụ mây bay giữa trời thênh thang, đi khắp không vướng mắc chỗ nơi, vừa có chỗ dính cứng tức chẳng còn là mây nữa rồi. Cũng vậy, người còn có sở đắc thì không kẹt bên có Phật, tức rơi bên không Phật; chẳng thể nào vượt qua khỏi bẫy của thiền sư.

Trong đây ai là kẻ thuộc dòng giống sư tử thủ vươn vai, rống lên một tiếng cho bầy chồn cáo vỡ tan, chánh pháp Như Lai sáng ngời muôn thuở!

16. Nói cái gì

Người xưa nói:

Mạc hành tâm xứ lộ,

Bất quải bổn lai y.

Hà tu thậm ma đạo,

Thiết kỵ vị sanh thì.

Dịch:

Chớ đi nơi đường tâm,

Chẳng mặc áo xưa nay.

Đâu cần nói cái gì?

Rất kỵ lúc chưa sanh.

Bình: 

Chúng ta thấy bài kệ trên có gì đặc biệt?

Mạc hành tâm xứ lộ, chớ đi đường tâm là dứt bặt vọng tình. Bất quải bổn lai y, chẳng mặc áo xưa nay là chẳng trụ chân thật; nghĩa là chẳng đi theo vọng tình cũng chẳng trụ nơi chân thật, tức chẳng kẹt nơi vọng chẳng trụ bên chân, hai đầu cắt đứt, Chính ngay khi ấy lại bảo nói cái gì? Ai có thể nói được? Chỉ cần nhằm y nói Rất ky lúc chưa sanh. Vừa mở miệng là trời đất cách xa, nhích một chút là ngàn sai muôn sai, cho nên nói chỗ này rất kỵ động đến!

Sở dĩ ba đời chư Phật thường hộ niệm, lịch đại Tổ sư thầm giữ gìn, dứt bặt lối đi, đầu tro mặt đất khó lường tung tích, những kẻ tà tâm đều không thể nhìn trộm. Nếu chẳng phải kẻ tri âm làm sao có thể nói? Trong đây phải thật nhanh mắt, chớp nhoáng như điện xẹt, trong khoảng nháy mắt là đã qua rồi vậy. Ví như trái banh thả trên dòng nước, động đến liền xoay, chạm đến liền chuyển, lăn tròn tự tại không chút đình trệ.

Như có vị trời đến hỏi Phật:

- Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?

Phạt đáp:

- Này hiền giả, không đứng lại, không bước tới, ta vượt khỏi bộc lưu.

Vị trời hỏi tiếp:

- Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại, không bực tức tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu? 

Phật đáp:

- Này hiền giả, khi ta đứng lại thì ta bị chìm xuống, khi ta bước tới thì ta trôi dạt. Do vậy, này hiền giả, không đứng lại, không bước tới ta vượt khỏi bộc lưu (Tương Ưng Bộ Kinh).

Bộc lưu là dòng nước chảy nhanh, trên dòng nước chảy nhanh nếu ta đứng lại là bị nhận chìm ngay, vừa bước tới liền bị cuốn trôi theo. Ngay đó không đứng lại, không bước tới, tự làm chủ chính mình, tức vượt khỏi hai đầu. Cũng vậy, chớ đi đường tâm là không bước tới; chẳng mặc áo xưa nay là không đứng lại; rất kỵ lúc chưa sanh ngay đó liền tự tại vượt khỏi vòng sanh tử lưu chuyển.

Vì vậy, người tu thiền phải nhận cho thật kỹ chỗ này, không khéo thì dễ bị ngăn trệ đường tu. Chủ yếu là dứt bặt hai bên, vốn không chỗ trụ. Không trụ nơi thường tình, không dừng nơi chân thật. Thiền sư phải là những người đi qua không để lại dấu vết. Nếu còn có chỗ rơi thì đâu khỏi bị người kiểm điểm! 

Thế nên câu rất kỵ lúc chưa sanh quả thật là một nhát búa đập thẳng vào đầu chúng ta, không còn có chỗ suy tư. Là những người tu thiền, bước đi trên đường giải thoát, chúng ta không thể xem thường chỗ này! Đây là chỗ tối kỵ trong nhà thiền. Các Tổ đâu chẳng thường bảo: 

- Chớ động đến!

Nếu động đến thì sao?

- Tức tan nhà nát cửa, không còn có chỗ để nương tựa.

Thử hỏi ai đã từng động đến? 

- Tha cho ba gậy!

17. Tỉnh giác là đạo

Thiền sư Tư Nghiệp trước khi xuất gia làm nghề đồ tể. Một hôm đang thọc huyết heo bỗng chợt tỉnh liền đi xuất gia.

Ngài có làm bài kệ:

Tạc nhật dạ-xoa tâm,

Kim triêu Bồ-tát diện.

Bồ-tát dữ dạ-xoa,

Bất cách nhất điều tuyến.

Dịch:

Hôm qua tâm dạ-xoa,

Sáng nay mặt Bồ-tát.

Bồ-tát cùng dạ-xoa,

Chẳng cách một đường tơ.

Bình:

Một con người bị miệt thị là kẻ đồ tể. Thế mà ngay khi xuống tay thọc huyết heo thì liền chợt tỉnh. Người đồ tể hôm nay khác nào người đồ tể thuở trước, đô tể Quảng Ngạch. Phóng hạ đồ đao lập địa thành Phật, quăng dao mổ heo, ngay đó thành Phật.

Xưa nay chỉ một tâm. Xưa nay chỉ một hành động. Kẻ xưa và người nay không khác. Người bên cạnh Phật một thuở, người cách Phật nghìn năm vẫn không khác. Tâm và hạnh giống nhau, người nay vẫn đồng xưa. Chánh pháp, mạt pháp nào có quan hệ. Chánh mạt chỉ ở tâm này.

Làm sao dựng lập thời gian trên một tâm mê hay tâm giác? Giác mê, mê giác bao nhiêu mặt, cách một thời gian nào? Mặt mũi dạ-xoa và Bồ-tát, chỗ khác nhau được xác định bởi ranh vức nào?

Ai biết? Chính đây, ngay đây.

18. Đạo tại trước mắt

Có vị Tăng đến hỏi thiền sư Duy Khoan:

- Đạo tại chỗ nào?

Sư đáp:

- Chỉ tại trước mắt.

- Sao tôi chẳng thấy?

- Do ông có ngã nên không thấy.

 - Tôi có ngã nên chẳng thấy, Hòa thượng có thấy chăng?

- Có ông, có ta lăng xăng cũng chẳng thấy.

- Không tôi, không Hòa thượng lại có thấy chăng?

- Không ông không ta, ai lại cầu thấy!

Bình:

Đạo là cái gì mà lại cầu thấy. Vừa nghĩ thấy đạo, đạo đã thành cái bị thấy. Vừa thấy kia đây càng xa tít. Thế nên nói: Chỉ buông xả cái thấy hai tức là đạo rồi, nói gì thấy chẳng thấy.

Chẳng rời hiện tại thường lặng lẽ,

Còn tìm tức biết anh chưa thấy.

19. Chẳng làm việc gì

Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm, một hôm đứng hầu hòa thượng Thạch Đầu. Hòa thượng hỏi: 

- Trong ấy ông làm việc gì?

Sư thưa: 

- Một việc cũng chẳng làm.

- Thế ấy thì ngồi không chăng?

- Nếu ngồi không tức là làm.

- Ông nói chẳng làm, là chẳng làm việc gì?

- Ngàn thánh cũng chẳng biết. 

Bình:

Vậy ai biết cái chỗ chẳng làm? Nếu có chỗ tức thành cái bị biết rồi!

Ngồi không mà tỉnh sáng tức thiền. Ngồi mà kềm tâm là chưa thoát khỏi Nhị thừa, ngồi mà tâm chạy đầu này đầu kia là thuộc phàm phu. Nếu còn thấy có chỗ làm tức còn bị trói. Tuy nhiên chớ hiểu không làm là ngồi không, mặc tình tâm ý chạy đông chạy tây là lầm! Do đó nói chỗ này ngàn thánh cũng chẳng biết. Đó là cái chỗ chẳng làm.

20. Trồng hoa trên đá

Hòa thượng Thạch Đầu bảo:

- Nói năng động dụng chớ dính mắc.

Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm thưa:

- Không nói năng động dụng cũng chớ dính mắc.

- Ta trong ấy một mũi kim cũng chẳng lọt.

- Con trong ấy như hoa trồng trên đá. 

Thạch Đầu chấp nhận và nói kệ khen: 

Tùng lai cộng trụ bất tri danh,

Nhậm vận tương tưởng chỉ ma hành.

Tự cổ thượng hiền giai bất thức,

Tạo thứ phàm lưu khởi khả minh.

Dịch:

Từ xưa chung ở chẳng rõ danh,

Ngồi đứng theo nhau trong các hành.

Chư thánh từ xưa còn chẳng biết,

Hà huống phàm phu có thể rành.

Bình: 

Nói năng động dụng chớ dính mắc, là chẳng chấp có. Không nói năng động dụng cũng chớ dính mắc, là chẳng chấp không. Ta trong ấy một mũi kim cũng chẳng lọt, con trong ấy như hoa trồng trên đá; là bặt cả có không, tâm hằng miên mật không một điểm dính mắc, không một kẽ hở, tức là hằng sống trong ấy. Rõ được chỗ này liền rõ cái kẻ từ lâu chung ở chẳng biết tên. Vì y không tên tuổi vậy.

Mục Lục
Tông Môn Cảnh Huấn 1