Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 1
27. Thiền viện Chơn Không

Hành giả nhập thất cần biết ba cửa này:

1. Cửa miệng: Giữ cửa miệng như cây quạt mùa đông ở cao nguyên. Hãy để mép miệng lên meo lên mốc. Cũng không được tịnh khẩu mà viết giấy nhờ người mua cái này cái nọ, dặn dò việc này việc kia. Như vậy không được. Nên nhớ ngôn ngữ nhiều thì bụng rỗng.

2. Cửa chăn trâu: Chăn trâu phải tỉnh, không ngủ gục, trong tay luôn có dây dàm, roi, để trị con trâu chứng.

3. Cửa tử: Nếu hai cửa trước vào không được thì coi như mình chết rồi. Có người chết nào ngóc đầu dậy nói cái gì không?

***

Một pháp tọa thiền hội đủ Lục ba-la-mật, tức là đủ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ.

1. Thế nào là bố thí 

Đã lên bồ đoàn tréo chân rồi, thì ruồi muỗi có bu có chích, kiến có cắn, mình cũng vẫn để yên cho chúng hành động, đó là tu hạnh bố thí. Cho nó máu, cho một phần da thịt của mình, đó là nội thí. Không khởi ý ghét giận tiếc nuối mà tùy thuận, đó là đã được bố thí bất nghịch ý. Ở trong một tâm lặng lẽ hành thiền (cái tâm không mình, không muỗi ruồi kiến, máu thịt) tức là bố thí ba-la-mật.

2. Thế nào là trì giới 

Đã lên bồ đoàn tréo chân rồi, giữ yên vị trí, đúng giờ nghe kiểng mới xả. Nhất định không cựa quậy, không xê dịch, không xả sớm, xả trước giở kiểng đổ. Giữ đúng như vậy tức là giữ giới.

Trong khi giữ mà không khởi tâm lý luận phải giữ thế này thế nọ, giữ để tu cho được thành tựu; không phải cố gắng giữ, cắn răng giữ mà hồn nhiên không suy suyển, được vậy là trì giới ba-la-mật.

3. Thế nào là nhẫn nhục

Đã lên bồ đoàn tréo chân rồi, thì muỗi có đốt, kiến có cắn cũng phải ráng chịu. Có nóng nực, có bực bội cũng ráng chịu. Có đau nhức ê ẩm cũng ráng chịu, đó là nhẫn nhục.

Trong khi nhẫn nhục như vậy mà không khóc, không cười, không nghiến răng, không cục cựa, nghe đau buốt mà không hề hấn gì, đó là nhẫn nhục ba-la-mật.

4. Thế nào là tinh tấn

Đã lên bồ đoàn tréo chân rồi, thì giữ đúng tư thế, không để nghiêng, không để gục, không để thụn người. Từ đầu cho đến cuối vẫn thẳng đứng như vách tường. Với pháp tu không hề xao lãng, bám sát, hành trì liên tục không để thất niệm, không phân tán, đó là tinh tấn.

Trong khi tinh tấn như vậy không vì thủ thắng, không vì hơn thua, không vì gìn giữ tăng trưởng, mà vẫn một mực điềm đạm rõ biết công phu, đó là tinh tấn ba-la-mật.

5. Thế nào là thiền định

Đã lên bồ đoàn tréo chân rồi, thì an trụ trong pháp tu, dù duyên trong duyên ngoài đến cũng chẳng màng. Như gió có thổi cũng chẳng nhúc nhích. Lắng sâu vào trong pháp, để chỉ còn có pháp, ngoài ra không còn gì nữa. Đó là thiền định.

Trong khi thiền định như vậy, mà không có tâm quên dứt, không có tâm an định, không có pháp an định, tức là thiền định ba-la-mật.

6. Thế nào là trí tuệ

Đã lên bồ đoàn tréo chân rồi, thì phát khởi cái thấy biết rõ ràng, không để lầm lẫn ngoài cái thấy biết pháp. Pháp pháp rõ mồn một. Không còn cái thấy biết nào khác, chỉ một cái thấy biết thuần pháp, đó là trí tuệ.

Trong khi trí tuệ sáng soi thuần pháp như vậy, mà không thấy có cái thấy biết, không thấy có pháp, rỗng rang không vật. Không cái thấy rỗng rang mà hay rõ biết khắp, đây là trí tuệ ba-la-mật.

Tu hành như vậy, tức là thường xuyên nhìn vào đất tâm của mình. Luôn luôn có sự tỉnh giác, không lầm vọng tưởng. Vọng có dấy lên, sanh ra trên đất tâm liền biết. Nhìn ngó tâm vọng, tức là nhìn ngó con trâu, là chăn trâu.

Trong nhà thiền có vẽ mười bức tranh chăn trâu (Thập mục ngưu đồ). Lối tu này được coi như là công phu chính của tu viện. Công phu này được sử dụng trong bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi kể cả thức và ngủ. Vì đây là dụng công bằng trí. Biết thuộc về trí, mà trí thì lìa thức ngủ, động tịnh.

Cái Trí biết này thật diệu, khó mà thấu suốt trọn vẹn, không phải nói lý luận mà biết được. Có hành, hành một cách chân chánh mới nhận ra. Khi ấy nhận ra trí Bát-nhã, sống bằng trí Bát-nhã, tức hành thâm Bát-nhã (vô công dụng hạnh). Từ đây có công năng chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Cái diệu pháp là ở chỗ đó. Yếu chỉ tu viện Chơn Không là ở chỗ đó.

Mục Lục
Tông Môn Cảnh Huấn 1