Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 1
30. Thiền viện Viên Chiếu

Ngày 23/3/ Đinh Sửu - 29/4/1997

Đợt nhập thất này người mới nhiều hơn người cũ. Những đứa mới nhập thất lần đầu vì thiếu kinh nghiệm nên việc tu bị trở ngại như thân bệnh, tâm vọng tưởng không biết làm sao cho hết. Điều này không có gì lạ. Hôm nay Thầy nhắc chung, từ thấp lên cao, cho tất cả cùng biết. 

Trong khi ngồi thiền, Thầy thường nhắc luôn luôn cố gắng nỗ lực, tuy nhiên đừng nghĩ là phải kềm giữ chăm chăm. Cố gắng nỗ lực có nghĩa là phải tỉnh, phải sáng. Tất cả vọng tưởng dấy lên, chỉ cần thấy rõ bản chất vọng tưởng là không thật thì nó tự tan. Đừng đè vọng tưởng. Nhiều vị sợ vọng tưởng quá rồi kềm đè. Nhất là những người có bệnh tim, kềm đè riết nghe tim đau nhói rồi tự nhiên thấy sợ, nghe tiếng động liền bị hồi hộp. 

Theo lối tu của Nguyên thủy, như trong kinh A Hàm Phật nói, tiếng động đối với người ngồi thiền là mũi nhọn, vì sức mạnh của nó làm cho khó chịu. Lúc ở trên Phương Bối Am, Thầy chuyên sâu trong A-hàm, nên thấy rõ tiếng động là mũi nhọn. Thầy ngồi thiền, buổi chiều thì nghe khỉ vượn la hú, buổi tối thì nghe mấy chiếc xe chở hàng chạy lên đèo Bảo Lộc, ồn quá chừng. Thầy nghĩ: Chà, động quá! Kiểu này làm sao tu được. Trốn lên rừng mà cũng không tránh khỏi cái động nên Thầy hơi khó xử. 

Đến khi xuống Vũng Tàu, buổi tối ngồi thiền cũng không yên, bởi tiếng loa dưới phố vọng lên nghe ồn không thể chịu nổi. Ở trên núi không yên, về thành phố cũng không yên, giờ chạy xứ nào để tu cho yên! Lúc ấy Thầy mới nghĩ, mình đừng sợ tiếng động, phải thấy rõ tiếng động mới được. Từ đó Thầy không tu theo lối Nguyên thủy nữa. 

Thầy chuyển nhìn theo tinh thần Bát-nhã, thấy tất cả âm thanh đều hư giả không thật, ca hát gì cũng mặc nên ngồi thiền yên, không bị chi phối như lúc ban đầu. Sợ động cứ muốn tránh, tránh chỗ nào cũng gặp động thì thôi nhìn thẳng. Chỉ cần biết là hư giả, không có gì quan trọng, không màng tới nữa thì âm thanh không ảnh hưởng đến mình. Đó là kinh nghiệm của Thầy trong những năm đầu mới tu thiền.

Bây giờ, những vị nhập thất tu cũng vậy. Đừng sợ tiếng động. Nếu biết tất cả tiếng động bên ngoài là hư giả, nghe qua rồi mất thì có gì đâu mà sợ. Giả sử đang ngồi thiền, có tiếng động làm tim mình đập thình thịch, liền bình tĩnh lại, nhớ tiếng là hư dối không thật thì trạng thái đó sẽ qua đi, đừng quá quan trọng nó mà kết quả không được tốt. Đó là Thầy nhắc về tiếng động. 

Kế đến là nói về vọng tưởng. Có những vị thấy vọng tưởng là trở ngại làm chướng sự tu của mình, khiến không được định. Nhưng tụi con đừng sợ, vì bản chất của vọng tưởng là không thật. Lúc vọng tưởng khởi lên chỉ cần thấy rõ, theo dõi thôi chứ đừng sợ, đừng đè, đừng chặn nó. Sợ, đè, chặn là bệnh. Thấy và theo dõi tức là thành công. Tại sao? Bởi vì thấy niệm khởi, biết nó là vọng tưởng thì nó chạy tới đâu mình biết tới đó, như vậy mình là chủ, nó là khách. Thế là chiến thắng vọng tưởng. 

Việc tu tế nhị lắm, tụi con khéo một chút là thấy. Thắng mà không phải đè, thắng mà không phải đợi nó lặng hết. Dù cho vọng tưởng có khởi lên trăm ngàn thứ, mà mình vẫn quan sát thấy được nó rõ ràng. Như đang xem trò đùa trên sân khấu, mình chỉ cười thôi chứ không sợ. 

Điều quan trọng là thấy vọng tưởng chứ đừng theo vọng tưởng. Vọng tưởng khởi lên nhiều thứ, thấy như đám trẻ con chơi đùa ngoài sân, không có gì quan trọng, vậy là vọng tưởng tự tan. Nếu vọng tưởng khởi lên mà chấp nhận theo nó, một hồi mới giật mình nhớ lại thì đã xa lắc xa lơ rồi. Đó là thua nó, tức vọng tưởng là chủ chứ không phải khách. Một bên là mình nhập cuộc với vọng tưởng, bị nó chi phối. Một bên là mình thấy rõ vọng tưởng, làm chủ được nó. Mình là chủ thì nó tới đâu mình theo dõi tới đó, thấy biết rõ ràng không cần phải la lối trừng trị gì mà vẫn chiến thắng. Đó là hai điều thiết yếu khi tu, tụi con cần phải lưu tâm.

Vọng tưởng là những thứ không thật, điều này Thầy đã nhắc tới nhắc lui nhiều lần rồi. Nhưng quan trọng là tụi con phải thấy được sinh hoạt của nó một cách rõ ràng. Nó ra sao, khởi diệt lên xuống thế nào đều biết. Thấy được tức là thắng, còn để nó dẫn đi thì thua. 

Đừng nghĩ đè vọng tưởng hay muốn phải hết vọng tưởng, mà chỉ cần làm chủ nó. Bởi vì tu là phân rành đâu là chủ đâu là khách. Mình thấy biết vọng tưởng, tức mình là chủ. Vọng tưởng là cái bị mình thấy biết, tức nó là khách. Như vậy, trong vọng tưởng mà đã thấy rõ ai là chủ ai là khách rồi. 

Nhắc lại, khi tu tụi con phải tránh hai quan niệm sai lầm: Một là cho rằng vọng tưởng nguy hiểm phải trừ diệt, phải đè chặn không cho nó cất đầu lên; hai là phải hết vọng tưởng. Đó là hai quan niệm sai lầm. Vì càng diệt càng đè thì càng khổ chứ không thành công, cũng không cần hết vọng tưởng, chỉ cần biết và theo dõi quan sát nó thì nó tự lặng. 

Thầy thường nói với tụi con, không sợ ăn trộm rình nhà, chỉ sợ mình ngủ mê. Nếu ăn trộm rình mà mình thức, theo dõi từng hành động xem nó đang đào hầm hay khoét vách, thấy rồi thì chỉ cần rọi đèn là nó chạy. Ăn trộm chưa tới cứ canh chừng, ngồi ngó lom lom, hoặc ngủ mê để ăn trộm tới rồi ngồi run, cả hai tình huống đều cực. Chỉ cần biết có ăn trộm, quan sát xem coi nó hành động ra sao. Nếu nó bắt đầu muốn đào hầm khoét vách vô nhà, lúc này chỉ cần lấy đèn rọi thì lập tức nó liền hoảng sợ bỏ chạy. Nhẹ nhàng, không nhọc nhằn cũng không sợ hãi. 

Nếu thấy vọng tưởng là quan trọng rồi sợ, cứ ráng đè nén thì nó sẽ trở thành nguy hiểm với chính mình. Tu không có kết quả, trái lại càng tu càng khổ sở. Nên nhớ, cần phải tỉnh. Theo dõi tường tận thấy rõ từng tâm tư của mình đang biến động thế nào, đó là “phản quan tự kỷ” chứ không phải kềm. Trong nhà thiền không nói kềm, mà bảo mình phải thấy, phải nhận cho rõ ràng. Như vậy thì việc tu nhẹ nhàng, sẽ tăng tiến tốt chứ không có xấu. 

Khi được nhập thất, phải biết thời giờ quý như vàng. Một giờ, một ngày trôi qua rất đáng tiếc. Làm sao trong một giờ một ngày của mình là một giờ một ngày tu hữu ích, có kết quả chứ không để trôi suông vô ích. 

Tu yên ổn rồi mới thấy có nguồn vui của mình. Trước kia Thầy cứ nghĩ, đức Phật trong 49 ngày đêm thiền định, làm sao Ngài có thể ngồi yên một chỗ suốt một mạch. Chắc Ngài phải đi đây đi kia, vì nhu cầu cần thiết của cơ thể đâu tránh được! Nhưng sau này Thầy mới biết, khi nhập định rồi tất cả những nhu cầu của cơ thể đều dừng lại hết. Điều này rất đặc biệt, người thường không thể ngờ được. Thế mới thấy, người xưa không gạt mình. Đó là lẽ thật, nếu mình không tu thì không bao giờ biết được. Vừa rồi ở Trúc Lâm có một thầy ngồi thiền, nhớ mình mới kéo chân lên mà nhìn lại đã 10 giờ rưỡi. Người nay tu còn có thể định chút chút được như vậy, huống là người xưa. Có tu rồi chúng ta mới tin chuyện kể về người xưa không sai. Như trường hợp của hòa thượng Hư Vân, ngài ngồi nhập định tới nỗi nồi cháo mốc meo mà không hay. Cho nên nhập định thì không kể thời gian, nói ba chục ngày hay bốn chục ngày gì cũng đều không nghĩa lý. 

- Bạch Thầy! Như lời Thầy dạy, theo đường lối mình đang tu là phải tỉnh sáng từng tâm niệm. Như vậy những người nhập định lâu, Thầy có chấp nhận không? 

- Khi ngồi tu, an định mà luôn luôn tỉnh sáng nên quên thời gian. Định là tỉnh mà yên lặng, không nhớ thời gian, không để ý đến các hoạt động chung quanh, chứ không phải mê, không phải ngủ. Mê, ngủ là trật.

- Dạ! Có người nói, đang tỉnh tỉnh mà một hồi giật mình. Vậy là họ xuất định hay ngủ?

- Giật mình là ngủ, còn xuất định thì khác. Nhờ tu mới thấy được những chỗ tế nhị này. Thế nên những ngày được ở trong thất là những ngày quý, tụi con phải khéo sử dụng cho đúng để có kết quả tốt. Như vậy mới khỏi phí thời giờ mà huynh đệ đã dành cho mình tu, nếu tu không ra gì thì rất uổng. Sự tu hiệu nghiệm vô cùng. Thầy bằng lòng với việc làm, với sự hướng dẫn cho Tăng Ni hiện tại. Thật ra bao nhiêu năm ở chùa nếu không có phút giây tỉnh, tối ngày chỉ lo tụng kinh cúng kính, hài lòng với sự cúng dường của các Phật tử mà không thấy được đạo lý thâm sâu thì quả là uổng phí đời tu của mình. 

***

Ngày 21/6/ Đinh Sửu - 25/7/1997 

Trước hết Thầy nói về mấy đứa nhập thất một năm. Qua thời gian tu lâu, chuyện tu hành cũng một hai phen chuyển biến, tụi con cũng có kinh nghiệm. Ở đây Thầy nói thêm.

Nếu khi tu, đang lúc tọa thiền hay trong sinh hoạt, giả như có những phát minh hoặc thấy điều gì mới lạ, phát sinh niềm vui biến chuyển cả nội tâm mình thì đó là điều tốt. Nhưng nếu thấy hay rồi suy luận thế này thế kia thì cái thấy đó chưa phải chân thật. Bởi vì thấy mà còn suy luận ra cho rõ, tức chưa phải thật thấy. Chừng nào đang tu, bất thần la lên “À!”, thì chừng đó mới là thật thấy. Như bao nhiêu năm tháng, mình muốn tìm một vật bỏ quên từ lâu không biết ở đâu. Hôm nay bất thần thấy được, à lên một tiếng rồi cười mà thôi. Bởi mình trực tiếp thấy nên không có gì để lý luận nữa, lúc ấy chỉ là vui mừng. 

Như vậy, khi ứng dụng tu có những biến chuyển lạ rồi suy ra biết thế này thế kia thì phải nhớ, biết đó là cái biết còn trong lý luận chưa phải biết bằng trực giác. Chừng nào bất thần à lên một tiếng, hoặc cười hoặc khóc... thì chừng đó mới là cái biết của người trực tiếp nhận thấy. 

Kế là Thầy nói về sự tu của những người mới tập nhập thất hoặc hơi khá khá. Nên nhớ tu không phải là dẫn ép. Dằn ép thì thấy như mình có cố gắng, nhưng cố gắng đó là sai lầm. Chúng ta tu là cố gắng trong sự tỉnh giác, không để cảnh bên ngoài chi phối, cũng không bị vọng tưởng bên trong lừa gạt lôi dẫn đi. Tỉnh không lầm là tu đúng, còn đè để cho yên là lối tu dần ép. 

Tỉnh giác, thấy rõ những việc quá khứ sống dậy lôi dẫn đi mà không theo, làm chủ được mình, đó là khéo tu. Tu như vậy, tuy thấy như nhẹ yếu nhưng lúc nào cũng làm chủ được mình. Công phu dồn dập dần ép, nhiều khi có những phản ứng bất thường, tức là tu mà không có trí tuệ. Vì vậy ở đây Thầy chủ trương, tu là phải tỉnh giác buông bỏ vọng niệm, thấy rõ tập khí quá khứ của mình. Thời gian nhập thất là thời gian rảnh rang nhất, vì gác bỏ mọi việc bên ngoài, không có trách nhiệm gì hết. Vậy mà có khi vô đây rồi cũng chưa chịu rảnh, chuyện người ta ở ngoài cũng chen vô. Thật là không khôn ngoan. Nhập thất là quyết chí tu, nên phải biết khôn ngoan, mạnh mẽ, dứt khoát. Ngày ở ngoài, lãnh công tác nào thì làm tròn công tác đó. Bây giờ vô thất thì phải gạt hết mọi việc bên ngoài, được mất, hơn thua, tốt xấu gì mặc người ngoài lo. Việc hiện tại cần lo là phải sáng suốt, làm chủ mình và làm chủ tất cả tập khí quá khứ. Người như vậy là khôn ngoan, sáng suốt, khéo tu. Còn lệ thuộc ngoại cảnh là kẻ chưa có thái độ dứt khoát. Tu mà không có thái độ dứt khoát thì rất khó tiến! 

Giả sử mai kia Trụ trì nhập thất cũng vậy. Lúc ở ngoài vì có trách nhiệm nên tất cả mọi chuyện nên hư, phải quấy trong chúng đều phải lo. Nhưng một khi vô thất rồi thì giao lại hết, chỉ còn làm một việc mà mình đang làm đây thôi. Đừng ở trong thất lại lo chuyện ngoài thất. Chuyện ở trong thất mình làm chưa tròn mà còn lo chuyện ở ngoài nữa, tức là càng rối rắm thêm, không có lợi ích. Tập dứt khoát như vậy thì tu ít mất thời giờ, mà kết quả được tốt.

Thế nên, muốn nhập thất thì phải chuẩn bị tinh thần cho mạnh mẽ, làm cái gì dứt khoát cái đó, chuyện ngoài bổn phận mình thì gác một bên, đừng bàn, đừng nghĩ cũng đừng bận bịu. Nếu ngồi trong thất mà nghe chó sủa bên ngoài liền lo không biết sủa ai hay có chuyện gì, thì không được. Mặc kệ, việc ngoài có người ngoài lo, mình ở đây lo ra có ích lợi gì. Mấy đứa nhập thất có đủ khả năng dứt khoát như vậy không? Một phen nhập thất, ngang đây coi như đã chết. Nghĩa là sống với trong thất mà chết với thế gian. Bởi vì khi nhập thất tu là chỉ chuyên tâm vào việc của chính mình, mà muốn tâm được chuyên nhất thì những cái hiện tại mình đang mang phải dứt khoát cởi bỏ nó ở ngoài, đừng đem theo vô thất nữa. 

Thêm một điều nữa Thầy nhắc luôn, tụi con phải nhớ những chuyện năm trên năm dưới không phải là chuyện của mình, chúng vừa dấy lên thì lập tức buông bỏ không cho tái diễn, như vậy mới không mất thời giờ tu. Còn vừa cố gắng nhập thất mà vừa bận tâm những việc ở ngoài thì cố gắng ấy chỉ nhọc công, không có kết quả. 

Đối với việc tu, Thầy thấy rõ lắm. Nếu được nhập thất ba tháng, sáu tháng hoặc một năm, người nào có chủng duyên lành thì đều có kết quả tốt. Cho nên phải khéo sử dụng thời gian để tu, đừng bận bịu chuyện bên ngoài. Mặc dù ở đây khí hậu không tốt, nhưng nếu tụi con biết khéo ứng dụng tu thì nhất định sẽ có kết quả tốt. Đó là điều Thầy xác quyết không nghi ngờ. Trừ đứa nào quyết tâm yếu, để tập khí quá khứ sống dậy dụ dẫn đi thì thua. 

Nếu khéo tu, không đè cũng không theo vọng tưởng, được như vậy thì đến một lúc nào đó, dù không cầu được định mà cũng được định, đối với những việc chưa hiểu bỗng dưng tự hiểu. Đó là trí vô sư đã sẵn nơi mình rồi, khi nào bóng dáng bên ngoài không còn che mờ nữa thì trí vô sư bừng sáng. Đó là những điều thiết yếu trong sự tu, Thầy nhắc cho hiểu.

*** 

Ngày 22/12/ Mậu Dần - 07/02/1999

Hôm nay Thầy đến thăm các vị nhập thất. Qua trình bày về sự tu hành, Thầy biết đại khái rồi. Bây giờ Thầy có ít lời nhắc nhở thêm, cho rõ ràng hơn. 

Như trước kia Thầy vẫn thường nói, có tu là có tiến, không nghi. Ngày nay qua sự trình bày, Thầy thấy đứa nào cũng có tiến. Sự tiến đó tùy thuộc vào trình độ, tùy theo cơ duyên của mỗi người. Có đứa tiến nhanh có đứa tiến chậm, nhưng nhìn chung tất cả đều có tiến. Mỗi khi chư Tăng, chư Ni xin nhập thất, Thầy đều chỉ dạy mấy điều căn bản để tu ở trong thất.

Điều thứ nhất là khi ngồi thiền, tất cả cảnh hiện ra, dù tốt hay xấu, đáng sợ hay đáng vui.. cũng vẫn thản nhiên bình tĩnh, đừng sợ cũng đừng mừng. Tại sao? Bởi phải biết, tất cả cảnh đó đều từ tâm biến hiện ra, do mình chú tâm kềm chế thái quá, không để cho loạn tưởng dấy khởi, nên phát sinh những cảm giác lạ. Có khi thấy thân mình nhẹ bổng muốn bay, hoặc thấy thân cao lớn kềnh càng, hoặc thấy thân như có gì nặng trĩu... Tất cả cảm giác đó đều do sự tu của mình mà phát ra, chứ không phải ở cảnh bên ngoài. 

Nói cho rõ, cảnh sanh khởi đó đều từ tâm hiện, chứ không phải cảnh thật bên ngoài. Cho nên khi tu thấy những cảnh tượng như vậy, cứ thản nhiên yên ổn tu thì mọi thứ đều qua. Nếu cảm thấy thân nhẹ quá sợ bay, hoặc thấy thân to quá, nặng quá rồi lo sợ thì cũng trật. Dù gặp bất cứ cảnh gì mặc nó, trong tâm mình cứ thản nhiên thì mọi cảnh đều tốt, còn khởi niệm sợ hay mừng thì nó sẽ trở thành xấu. Đó là hiện tượng mà nhiều người nhập thất tu thường gặp phải, chỉ nên lấy đó làm kinh nghiệm chứ đừng lo sợ. 

Điều thứ hai là khi tu, bất chợt lúc nào đó thấy tâm an ổn, rỗng rang thanh tịnh, nhưng chỉ một thời gian ngắn thì trạng thái đó lặng mất, thấy tiếc muốn tìm lại mà không được. Thầy nói rõ chỗ này, khởi ý niệm tiếc nuối muốn tìm lại là trật rồi! Không nên tìm lại cái đã mất, chỉ cần cố gắng tu, cứ tiến lên rồi dần dần sẽ tiến hơn nhiều. 

Thầy nói sơ qua về cách tu theo Tứ thiền. Đầu tiên là tu chứng Sơ thiền Ly sanh hỷ lạc, tức là do lìa được niệm dục thế gian nên cảm thấy có vui thích, nhưng cái vui thích này chỉ qua một thời gian rồi mất. Tiếp đến là Nhị thiền Định sanh hỷ lạc, tức do tâm an định mà phát sinh hỷ lạc, hỷ lạc là rất vui mừng nhưng mừng vui đó rồi cũng mất. Mất rồi mới qua cái thứ ba là Ly hỷ diệu lạc, rồi tiến đến thứ tư là Xả niệm thanh tịnh. Từ bước thứ nhất mà tiến từ từ lên, muốn tiến lên thì những cái qua rồi phải mất, đừng cố kéo lại, kéo lại tức vô tình bước lùi. Thế nên khi tu nếu thấy có niềm vui, được an lạc đó nhưng rồi qua mất thì cứ cố gắng tu, một thời gian sẽ tiến lên, chứ đừng ngang đó rồi tiếc nuối thành dừng lại. Đây là sai lầm. 

Trong sự tu hành, nếu người đủ duyên thì trong lúc tu nhất định sẽ có những bước tiến cụ thể. Đó là sự thật, không có gì nghi ngờ. Tụi con đừng nghe người này kể thấy điều này, người kia nói thấy điều nọ lạ... rồi nghĩ mình tu sao không có gì hết, cảm thấy chắc là mình thua họ. Không nên nghĩ như vậy. Mỗi người tu có chủng duyên khác nhau, người ngày xưa huân tập chuyện lạ nên bây giờ ngồi lại tu thấy những chuyện lạ, còn người trước đây không huân tập chuyện lạ thì giờ tu thấy bình thường. Bình thường mà an định tỉnh sáng, đó là chủng duyên tốt. 

Duyên tu của mỗi người đã không ai giống ai thì không bao giờ đem việc người này so sánh với người kia. Mỗi người có chủng duyên riêng, đây gọi là duyên đặc thù. Vậy thì mỗi người cứ cố gắng tu trong chủng duyên của mình. Khi tu gặp những hiện tượng gì xảy đến đừng lầm lẫn, chỉ cần bình tĩnh nhìn biết đúng như thật thôi. Lúc ấy xúc động quá có thể khóc hoặc cười, nhưng nếu sau đó lại hứng thú muốn làm thơ văn thì không nên. Điều này không phù hợp. Sống bình thường, điềm đạm, bình tĩnh. Bởi vì trên đường tu còn tiến sâu lắm, không phải tới chừng đó thôi. Thấy rồi phải vượt qua, qua rồi sẽ tới những chặng khác nữa. 

Người khéo tu thì càng tu càng tiến, tiến thì có những cái lạ mà xưa giờ chưa từng biết. Đây là chứng minh cho lẽ thật ở trong đạo. Phật tổ thường nói sự tu hành là kỳ đặc vi diệu, không phải là chuyện tầm thường. Thế tình không biết, thấy người tu ngồi yên ngó xuống, tưởng là việc làm tầm thường vô ích, chứ đâu thể hiểu có những kỳ lạ ở trong đó. Người hiểu rồi thì thấy tu là điều phi phàm, chứ không phải tầm thường như người đời nghĩ. 

Những năm gần đây, thấy sự tu tiến của tụi con Thầy cũng mừng. Thầy có thể xác định được rằng, con đường mà Thầy hướng dẫn cho Tăng Ni tu không lầm, không phí công vô ích. Thầy mong tụi con ráng nỗ lực tu, cẩn thận và bền bỉ mà tiến lên. 

***

Ngày 22/12/ Mậu Dần - 07/02/1999 

Hôm nay Thầy dạy chung cho tất cả biết rõ tinh thần tu thiền. Bởi vì khi tu là phải biết rõ đường lối tu của mình như thế nào? Thế nên, trước hết Thầy đặt câu hỏi: Tu thiền dễ hay khó?

Có thể nói khó, cũng có thể nói dễ. Tại sao khó? Thầy thường nhắc, vọng tưởng dấy lên liền buông đừng theo, hay thấy nó thì nó tự lặng tự mất, tức là phải chăn vọng tưởng. Nhưng vọng tưởng nằm ở đâu, hiện tướng chỗ nào? Có ai biết không? Nếu chăn mà không biết vọng tưởng ở đâu thì cũng như người thế gian, đi đánh giặc mà gặp giặc ở trước mặt cũng không biết. Muốn chống giặc mà không biết giặc ở đâu, quả là quá khó. Vọng tưởng cũng vậy, không có chỗ nơi, không biết trụ nơi nào chốn nào nhưng hễ gặp duyên thì liền hiện. Vì thế muốn đào xới, phá dẹp nó thì thật là khó. Đó là đứng về mặt khó. 

Đứng về mặt dễ thì sao? Vọng tưởng không có nơi chốn, nó sanh rồi diệt, không có thật. Bỏ cái không thật là chuyện dễ, vì nó thật thì đuổi xua mới khó, còn đã không thật thì chỉ cần thấy không theo, nó tự mất. Như vậy biết tu đúng như lời Phật dạy thì buông xả vọng tưởng không phải là khó. Nên tu thiền là dễ chứ không khó. Đó là nói chuyện tu. 

Kế đến là nói việc trong nội tâm. Vọng tưởng là mình hay cái biết vọng tưởng là mình? Vọng tưởng là ai? Giận có phải mình không? Buồn có phải mình không? Thương ghét có phải mình không? Nếu nó là mình thì tất nhiên mình không biết nó. Cũng như con mắt không thể thấy con mắt mà thấy cảnh bên ngoài. Thấy cảnh bên ngoài thì cảnh không phải là con mắt. 

Cũng vậy, thấy được vọng tưởng thì vọng tưởng không phải là mình. Buồn thương, giận ghét là cái bị mình biết. Khi giận biết mình giận, thấy ai liền cảm mến thì biết đang thương. Mình thấy, mình biết thì cái bị biết không phải là chủ, nó là khách. Vậy mà lâu nay chúng ta lầm nhận, cho nó là chủ. Không phải chủ mà chấp là chủ, đó là ngu si mê lầm muôn kiếp của con người. Họ chỉ biết vọng tưởng là họ, chứ không biết có cái biết được vọng tưởng. 

Bây giờ tụi con ngồi thiền, biết được niệm khởi, biết được những tâm thương ghét dấy lên. Như vậy, niệm khởi thương ghét ấy là vọng tưởng theo cảnh, không thật; còn cái biết được vọng tưởng đó mới là chân thật. Tại sao phải dẹp vọng tưởng? Bởi lâu nay người ta mê lầm cho vọng tưởng là mình, nên cứ vọng tưởng liên tục không dừng, vì vậy không thấy được cái chân thật. Chỉ có khi tu ngồi lặng lại, quán sát vọng tưởng, chừng nào vọng tưởng lặng hết thì tâm chân thật hiển lộ.

Thầy thường thí dụ, như trăng trên trời nếu có mây che thì không thấy được mặt trăng. Cũng thế, vọng tưởng là những đám mây mù liên tục kéo tới che lấp tâm chân thật. Tính chất của vọng tưởng là ảo hóa không thật, nên đâu có ai buồn giận hoài. Nếu buồn là mình thì hết buồn không phải mình, giận là mình thì hết giận không phải mình... Vậy mình là cái gì? Phải biết tất cả giận hờn, buồn phiền... là tướng trạng sanh diệt, tạm thời có nhưng qua rồi mất, không phải thật mình. Duy thức học gọi nó là tâm sở. Tâm sở thì chợt có chợt không, không phải là tâm vương.

Điều cốt yếu khi tu là đừng mê lầm cái bị biết, cho nó là mình mà quên ông chủ hiện đang hay biết. Vọng tưởng khởi hay vọng tưởng lặng, chúng ta đều biết rõ ràng, cái biết vọng tưởng khởi lặng đó không lúc nào vắng, chỉ khi mình theo vọng tưởng mới quên thôi. Cho nên Thầy thường nhắc biết vọng không theo, tức là biết vọng tưởng liền buông bỏ không theo, để hiển lộ cái chân thật nơi mình. Cái chân thật đó không bao giờ thiếu vắng, lúc nào cũng có mà lâu nay do mê lầm nên ta không rõ biết. 

Như vậy trọng tâm tu thiền là buông bỏ không theo hư ảo, để sống với tâm thật của mình. Ngay nơi mỗi người có một cái thật mà lâu nay bỏ quên, rồi cứ theo những thứ hư ảo nhận đó là mình nên tạo nghiệp sanh tử trầm luân không dừng. Nếu không theo cái hư ảo nữa tức là dừng tạo nghiệp, nghiệp không có thì cái gì dẫn mình đi trầm luân được. Ngay đó là giải thoát sanh tử. Thể tánh trong sáng, không hình không tướng, không động thì làm sao dẫn mình đi trầm luân được. Như vậy giải thoát ngay nơi mình, khéo tu thì thấy liền, không phải tìm kiếm ở đâu xa.

Hiểu rồi mới biết ý nghĩa ngồi thiền, buông xả vọng tưởng quan trọng như thế nào, không thì thấy sao trị hoài mà vọng cứ trồi lên mãi. Tại sao vọng tưởng khó trị? Tại vì muôn kiếp thấy nó thật, tới vào đạo rồi mới biết vọng không phải thật, bắt đầu biết buông bỏ. Không phải vọng khó bỏ, chỉ vì huân quá lâu nên bỏ cái này thì cái khác lại trồi lên.

Như một bài ca hay bài thơ mà từ bé đã học thuộc làu làu, bây giờ muốn bỏ thì mỗi khi nó nổi dậy liền bỏ, bỏ riết sẽ quên. Giống như khi học, phải học bao nhiêu lần mới thuộc, giờ muốn quên thì cũng bao nhiêu lần mới quên. Cũng vậy, vọng tưởng huân nhiều lần thì bỏ cũng phải nhiều lần thôi. Biết rõ rồi thì sự tu sẽ tiến, không còn nghi ngờ.

***

Tháng 4/ Kỷ Mão - 1999 

Hôm nay Thầy vô thăm thất thấy đa số tu có tiến bộ, đó là điều đáng mừng. Trong đây có người mới nhập thất chưa tiến bao nhiêu, cũng có người cũ gặp những thứ chướng. Thầy nhắc ba thứ chướng của người tu: phiền não chướng, báo chướng và nghiệp chướng. Mỗi người tự nghiệm xét kỹ, để trên đường tu nếu gặp chướng thì biết thuộc loại chướng nào. 

Trước hết nói về báo chướng. Như có người tu gặp bệnh hoạn đủ thứ thì biết thân bệnh đó là hiện tượng của quả báo, đây thuộc về Báo chướng. Từ thân sanh ra bệnh hoạn, từ bệnh hoạn làm cho sự tu khó khăn nên gọi là chướng. Nếu không thắng được báo chướng thì trên đường tu có nhiều trở ngại. Người tu gặp báo chướng thì trước phải sám hối để tiêu nghiệp cũ, kế phải khéo biết tất cả chướng đều phát nguồn từ mê lầm mà ra. Do mê lầm chấp thân là thật, nên báo chướng làm cho trở ngại. Vì vậy khi thân có bệnh hoạn thì phải dùng trí tuệ quán chiếu, thấy rõ thân này chỉ là tướng hư dối huyễn hóa do một mớ duyên hợp hư giả chung thành, không thật. Quán chiếu thâm sâu rồi thì thắng được báo chướng. 

Nghiệp chướng và phiền não chướng, tuy hai tên nhưng cũng giống nhau, bởi vì phiền não là gốc từ nghiệp mà ra. Do trước kia mình đã từng làm buồn khổ người, bây giờ tu nó trở lại làm rối sự tu hành của mình. Những hình ảnh tốt xấu, vui buồn... cứ lãng vãng trong đầu óc, làm chướng ngại nội tâm. Đây là nghiệp chướng của quá khứ, khiến mình không làm chủ được.

Khi này làm sao cho nghiệp chướng qua? Phải biết gặp chướng về nội tâm thì dùng trí tuệ quán chiếu, thấy tất cả nghiệp chướng đều không có thật. Những chuyện cũ chuyện xưa, chuyện hay chuyện dở… dấy lên từ tâm niệm của mình. Tâm niệm nhớ nghĩ ấy không thật, gốc không thật ngọn cũng không thật, tìm lại thì nó lặng mất. Quán hiểu thấy rõ tất cả nghiệp chướng bổn lai không thì chướng không còn ngăn che được nữa.

Những phiền não do xúc duyên đối cảnh thuận nghịch, ưa ghét... phát sinh quấy nhiễu sự tu hành, gọi là phiền não chướng. Thí dụ mình đang ngồi thiền mà xóm bên mở nhạc, hay huynh đệ xúm lại nói chuyện, hoặc bất chợt nhớ chuyện hôm qua hôm kia có người nói nặng mình v.v.. tất cả cảnh duyên khiến tâm sanh bực bội đều thuộc phiền não chướng. Xét kỹ xem, phiền não có cội gốc không? Chấp mình phải người quấy, chấp những sự việc xảy ra phá sự tu hành của mình... Vừa khởi niệm chấp là phiền não sanh. Như vậy, phiền não khởi là do niệm chấp, hoàn toàn không có cội gốc. Biết rõ phiền não từ vọng chấp mà thành thì tất cả chướng tự hết. Nếu sám hối mà thấy cái gì cũng thật thì phiền não còn nguyên, vừa sám hối vừa khéo quán thì phiền não rất mau hết. Đó là lối tu giúp cho qua được chướng một cách nhẹ nhàng. Đây là phần căn bản trong khi tu. 

Có người hỏi về “giác minh và minh giác”, Thầy sẽ nói qua cho hiểu. Trong kinh Lăng Nghiêm nói ai cũng có tánh giác, gọi đó là giác minh, tức thể tánh tròn sáng của mỗi người. Thể tánh này ai cũng có, nhưng dấy niệm tìm lại ánh sáng đó tức là minh tánh giác, trở thành đối đãi; có đối đãi dấy khởi thì tất cả cảnh hiện ra, muốn trở về tánh giác nên quay lại tìm cái thật. Cổ đức nói “Thú hướng chân như tổng thị tà”, nghĩa là quay về tìm chân như tức là tà, vì đó là cái sẵn có. Cho nên vừa minh lại tánh giác, tức đã sai lầm.

Chúng ta nghe nói có chân tâm, chân như hay Phật tánh rồi cứ tìm kiếm, mà càng tìm thì càng không thấy. Tại sao? Vì chân như tự lặng, tự như; tìm tức là khuấy động làm sao thấy được cái như. Chân tâm thì không dấy niệm mà dấy niệm tìm thì làm sao mà thấy. Đó là những điều lầm lẫn mà người tu thường hay mắc phải. Chỉ cần lặng vọng tưởng, tỉnh sáng là đủ. Đừng tìm kiếm cái gì hết, có tìm tức có sai lầm.

Trong lúc ngồi thiền tâm yên, nghe hơi thở lặng nhẹ dường như không có hơi thở, cũng đừng tưởng là mình hết thở. Chính khi đó thở bằng lỗ chân lông, nên mũi mình không nghe khì khịt nữa chứ không phải không có hơi thở. Do tâm yên, không còn cái động của hơi thở vô ra, không có gì lạ, đừng sợ. Tỉnh táo, sáng suốt là đúng, còn dấy niệm sợ chết thì sai lầm, là bệnh. Đúng mà không biết trở thành trật. 

Ngoài ra, Thầy nhắc thêm. Khi gặp chuyện vui buồn chung quanh, tụi con dùng phương tiện này phương tiện kia để giải tỏa, nhưng cái gốc thì quên. Biết được gốc thì việc giải tỏa dễ như trở bàn tay, cội gốc đó là ngũ uẩn giai không, tức năm uẩn không thật. Trong Trung Quán nói, tất cả pháp do duyên khởi, duyên sanh đều không có thể tánh, Nghĩa là các pháp không cố định, không có thật thể, là duyên hợp. Vì nó là dòng chuyển biến nên không cố định, duyên hợp nên không có thật thể. Thật thể thì không phải duyên hợp, mà duyên hợp tức không thật thể. Không thật thể, không cố định thì cái gì là thật.

Cuộc sống của mỗi người lăn lộn giữa cõi trần này cũng chỉ là ảo mộng như trò chơi, đâu có gì thật, có gì là quan trọng. Biết được cội gốc này rồi thì khi sống cười vui cho tới ngày bỏ thân giả tạm này thôi. Đã là giả tạm thì có gì hơn thua phải quấy đâu mà cố chấp. Cái gì tới thì tới, chúng ta đều thấy rõ ràng chỉ là giả tạm. Người khéo tu hằng nhớ như vậy là giải tỏa hết, chẳng có gì phiền não. 

Xưa khi giảng Trung Quán, Thầy có làm bài thơ Mộng. Thầy nhìn cuộc đời như giấc mộng, không thật thể, không có gì cố định, chuyển biến trong từng giây từng phút. Đã là giả dối tạm bợ thì có gì đâu bận tâm, phiền não chi cho mất thời giờ vô ích. Nhớ vậy nên cười hoài. Thầy đắc ý nhất là câu: “Biết được mộng, tỉnh cơn mộng”. Nhìn cuộc đời chỉ là ảo mộng, thấy vậy thì mình là người đang tỉnh. Nếu thấy phải quấy thật, tức là mình đang mê, các thứ phiền não từ đó theo nhau sanh khởi, không thể nào vượt qua được. Chư vị thiền sư đều thấy thân không thật nên các ngài tự tại.

Thấy thân không thật có hai lợi ích lớn: Thứ nhất khi hiện sống không mê, thứ hai lúc bỏ thân không tiếc. Thấy nó là giả dối và ảo tưởng như giấc mộng thì chuyện còn mất như trò chơi, trước khi ra đi tạm biệt mọi người. Chỉ nói tạm biệt chứ không phải vĩnh biệt, vì chưa mãn quả phúc thì phải tiếp nối để làm, chứ không phải ngang đây là chấm hết. Nhờ trí tuệ chiếu kiến ngũ uẩn giai không nên thấy không có gì quan trọng, do đó tất cả khổ ách đều qua, cuộc sống được an nhàn tự tại. Nếu quán chiếu không nổi, thấy nó thật thì than thở, khổ đau, nhiều chướng ngại. 

Yên tu trong thời gian một hai tháng, không có gì bận tâm thì tự nhiên an ổn rất dễ. Ngồi thiền hoặc đi kinh hành đều tốt. Bởi biết là mộng rồi thì mộng xấu hay mộng tốt cũng cười thôi, vì đều là mộng. Đây là chân lý mà đức Phật đã dạy: Ai biết được lý duyên khởi thì người đó thấy đạo. Thấy đạo tức là thấy chân lý, thấy chỗ cứu cánh của cuộc đời là duyên khởi, là ảo mộng không thật. Thấy rõ như vậy thì việc tu hành không khó. 

Hôm nay Thầy nhắc một vài điều thiết yếu để tụi con biết cách tu, trừ đẹp từng phần hoặc trừ tổng quát, tùy vào sức tu của mỗi vị. Tu như vậy tự nhiên an ổn, không có gì sợ sệt. Giả sử nghe ai nói có ma quỷ cũng không sao, vì đã biết thân này là huyễn thì dù ma hiện hay quỷ hiện cũng thấy là huyễn, không kinh hoàng, tức không bị trở ngại. Đó là gốc của sự tu.

Mục Lục
Tông Môn Cảnh Huấn 1