|
Tông Môn Cảnh Huấn 2
26. Chủ đích của đạo Phật
Người tu theo đạo Phật, dù xuất gia hay tại gia phải nắm rõ đường hướng mục tiêu, từ đó đi đúng pháp Phật dạy, đừng sai lệch khiến Phật pháp suy đồi, khách bàng quan chỉ trích. Cho nên chúng ta phải biết mục đích đạo Phật dạy mình điều gì, khả dĩ sự tu mới có giá trị. Nội dung chủ đích của đạo Phật khá rộng và nhiều vấn đề, ở đây tôi chỉ nêu lên những nét đại cương thiết yếu là trí tuệ và từ bi. Trí tuệ là giác ngộ, từ bi là cứu độ chúng sanh. Bậc cổ đức xưa từng dạy “phước tuệ lưỡng toàn phương tác Phật”, tròn đủ hai thứ phước tuệ mới có thể làm Phật. Phước chỉ cho lòng từ bi cứu độ chúng sanh, tuệ chỉ cho trí tuệ giác ngộ giải thoát. Trong kinh thường nói phước tuệ giống như hai cánh của con chim, thiếu một cánh chim không thể bay được. Cho nên trí tuệ và từ bi là nhân tố tối quan trọng xây dựng nền tảng đạo Phật. Sách xưa nói rất nhiều về hình ảnh ông Bụt. Cô Tấm trong chuyện Tấm Cám là người lương thiện, những lúc gặp hoạn nạn khóc sướt mướt, có Bụt hiện ra cứu giúp. Ca dao tục ngữ xưa có câu “đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” hoặc “hiền như Bụt” v.v… Bụt là danh từ chỉ cho đức Phật. Đạo Phật có mặt trên đất nước Việt Nam từ thế kỷ thứ 3, do các vị sư Ấn Độ theo thuyền buôn sang Việt Nam sinh sống và hành đạo, do đó dân ta được học Phật trực tiếp từ quý ngài. Chữ Phật nguyên tiếng Phạn là Buddha, Bud là giác, dha là người. Phật nói đủ là Phật-đà, Trung Hoa dịch là giác giả tức người giác ngộ. Vì chữ Bud phát âm gần với chữ Bụt cho nên người dân miền Bắc xưa gọi Phật là Bụt. Vào đời Lý - Trần, văn hóa Việt Nam mới bắt đầu hình thành nên kinh sách chưa phổ biến nhiều. Các sứ thần được vua cử sang Trung Hoa thỉnh kinh, thành thử tạng kinh được truyền vào Việt Nam mang hình thức chữ Hán, nên chữ Phật-đà phát xuất từ chữ Phật bên Trung Hoa. Đó là hai điểm quan trọng làm sáng tỏ ý nghĩa sự xuất hiện hai danh từ Bụt và Phật trên đất nước Việt Nam. Đạo Phật là con đường chân chánh đưa chúng sanh tới chỗ giác ngộ viên mãn, giác ngộ rồi sau mới khởi từ bi giáo hóa chúng sanh. Trong sử kể, sau khi thành đạo, đức Phật đi khắp xứ Ấn Độ giáo hóa quần sanh. Từ đó đến nay trải qua gần 26 thế kỷ, sự truyền bá của đạo Phật lan rộng khắp các quốc gia trên thế giới. Từ Ấn Độ truyền sang các nước lân cận, rồi tới Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam… Phật giáo đi tới đâu chịu ảnh hưởng phong tục tập quán của địa phương đó, nên có những đặc điểm khác nhau. Tuy nhiên Phật giáo chủ trương “Tùy duyên bất biến”, dù bị hoàn cảnh chi phối nhưng bản chất giác ngộ và từ bi không bao giờ thay đổi. Tất cả giáo lý nhà Phật đều đề cao sự giác ngộ, căn bản là Tam tuệ học: văn tuệ và tu tuệ. Muốn có trí tuệ, trước phải học hiểu gọi là văn tuệ. Học hiểu rồi phải có nhận định phán đoán, gọi là tư tuệ. Tư là tư duy, xét nét một cách kỹ càng, chín chắn. Tư rồi chưa đủ mà phải ứng dụng tu tập gọi là tu tuệ. Giáo lý căn bản thứ hai là Tam vô lậu học: giới, định, tuệ. Giới là những phương tiện kềm chế sự loạn động, đưa tới tâm an định, xây dựng nền tảng đạo đức chân chánh cho người học Phật. Tâm an định thì trí tuệ sáng suốt. Đó là lý do đạo Phật đặt trí tuệ, giác ngộ lên trên hết. Đạo Phật nói về lý vô thường, nhân duyên, nhân quả y cứ trên trí tuệ. Người học Phật nếu không khai phát trí tuệ sẽ không đủ điều kiện nối tiếp tuệ mạng Phật pháp. Nhà Phật thường nói “truyền đăng tục diệm”, đăng là đèn, diệm là đuốc. Mồi đèn nối đuốc là hình ảnh tượng trưng cho ánh sáng trí tuệ luôn tỏa sáng. Đó là ý nghĩa truyền bá Phật pháp cũng là chủ đích trong nhà Phật. Đạo Phật lấy trí tuệ làm nền tảng, nếu trí tuệ lu mờ đạo Phật sẽ bị suy giảm. Hiện nay có rất nhiều hình thức đi sai với đạo Phật. Thứ nhất, coi ngày coi giờ; thứ hai, trong chùa thờ cúng tứ tung, nào là ông Táo, Ngọc Nữ… Tất cả đều là tập tục của thế gian, không phải đạo Phật chân chánh. Xuất xứ của việc coi ngày coi giờ dựa vào lịch Tàu chứ không phải lịch Phật. Lịch Tàu do mấy ông Tàu viết bằng chữ Hán, các ông đồ Nho ngày xưa chuyên dùng nó để coi ngày giờ tuổi tác cho người dân, lâu dần thành ra thói quen. Từ thời Pháp thuộc trở về sau nhà Nho hết được trọng dụng, nên mấy cuốn lịch Tàu chỉ có thầy tu học chữ Hán mới biết đọc. Lòng tin của dân chúng từ xưa đến nay luôn đi theo truyền thống gia tộc. Trước kia ông bà cha mẹ làm gì cũng coi bói, giờ không coi trong lòng lo sợ bất an. Hiện nay không còn được mấy ông đồ biết chữ Hán, thành thử trông cậy vào lòng từ bi của quý thầy cô trong chùa. Cất nhà coi, xây mộ coi… hết chuyện này đến chuyện kia. Thầy đâu thể từ chối đành phải giở lịch coi giùm, lâu dần thành thói quen. Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương và kinh Di Giáo, Phật không chấp nhận cho Tăng Ni làm những việc đó. Chỗ này chúng ta phải phân tích cho tường tận để hiểu rành mạch và tránh đừng đi vào con đường bất chánh. Phật giáo là đạo của dân tộc, dân gian quen gọi những ngôi cổ tự nơi mình sinh sống là “chùa làng”, hoặc thi ca có câu “mái chùa che chở hồn dân tộc”... Chùa là nơi bảo vệ người dân được bình an, khỏi lo sợ kinh hãi trước các thế lực của quỷ thần hoặc tai họa bất trắc. Gặp việc gì khó khăn hay nguy hiểm, họ đều đem vô chùa nhờ cứu giúp, quý thầy cô từ bi nên không thể từ chối. Điều này đạo Phật không chủ trương, vậy mà cho rằng đạo Phật mê tín, thật quá oan uổng. Ngày nào đó dân trí văn minh tiến bộ, người dân không coi ngày giờ thì thầy cô cũng không coi giùm nữa. Do nhu cầu hiện nay của dân chúng, tới thầy này mượn không được phải kiếm thầy khác. Nhiều khi thấy người ta đi xa tội nghiệp, buộc lòng quý thầy cô ráng giúp nên bị mang tiếng bày ra mê tín dị đoan. Đây là vấn đề thứ nhất. Ngày xưa, ở những ngôi chùa quê thường có cây bồ-đề hoặc cây đa, cây sao cổ thụ. Dưới gốc cây người ta thường để ông Táo rồi thắp hương lễ lạy. Trong các ngôi chùa quê thường thờ thêm Tề Thiên Đại Thánh, Lê Sơn Thánh Mẫu… Những tập tục lạ lùng đó phát xuất từ đâu? Người nông dân nọ đi cày ruộng gặp cục đá trơn láng cho là ông Tà, thấy có duyên với mình lượm đem về nhà. Để ở nhà lâu ngày sợ phá con phá cháu, muốn bỏ mà sợ ông quở. Thôi thì gởi gốc đa trong chùa, mỗi tối nhờ thầy đốt cho cây hương. Thầy từ bi nên bảo bọc giùm, vì vậy tối nào cũng ra cắm hương ngoài gốc đa. Ngày nay Phật tử hành hương bắt chước, cắm nhang tùm lum kiểu đó. Trước có gia đình ông cha là thầy pháp, trong nhà thờ ông Tề ông Táo… Sau khi cha chết, người con không muốn tiếp tục nghề thầy pháp, muốn bỏ mà sợ mấy ông phá. Cuối cùng họ nghĩ cách gởi vô chùa, thầy thương xót nhận rồi làm cái bàn để lên, tối thắp nhang giùm. Lẽ ra thầy nhận xong đốt đi cho rồi nhưng không dám đốt, vì sợ mai mốt gia đình họ có chuyện gì chạy tới kiện, không biết nói sao. Đó là lý do tại sao chùa chứa đủ thứ, những gì người ta sợ không dám để ở nhà, đem vô chùa hết. Gần chùa Phật Quang - Bang Chang nơi tôi tu ngày xưa cũng có cây đa cổ thụ, dưới gốc cây là miếu Bà Chúa Xứ. Sau thời gian đi học ở xa về, tôi thấy trong chùa đặt bàn thờ để tên Bà Chúa Xứ. Tôi ngạc nhiên hỏi thầy Trụ trì tại sao lại như vậy, thầy kể sau một trận bão lớn cây đa bị ngã sập luôn cái miếu, nhưng dân chúng không có tiền cất lại. Bà Chúa Xứ đạp đồng lên nói với mấy người hàng xóm rằng, nếu không cất lại miếu phải năn nỉ thầy Trụ trì cho gởi bà trong chùa. Người dân sợ bị trừng phạt này kia nên kéo nhau tới xin thầy Trụ trì lập bàn thờ cho bà ở nhờ, hằng ngày thầy đốt nhang giùm. Rốt cuộc chỉ có chùa mới bao bọc được tất cả những nỗi sợ sệt, lo âu của người dân. Thành thử chùa trở thành nơi bảo vệ tinh thần cho đồng bào xóm làng. Tóm lại chuyện thờ tứ tung trong chùa nói lên tinh thần đùm bọc nhân dân địa phương chứ không phải điều xấu. Đúng theo tinh thần đạo Phật, trong chùa chỉ nên thờ Phật, Bồ-tát, A-la-hán là đủ. Chừng nào dân trí văn minh hơn, có thể đốt hết tượng ông Tề ông Táo, không khó khăn gì. Đó là vấn đề thứ hai. Vấn đề thứ ba nói về nghi lễ cúng kính trong nhà chùa. Vào những dịp lễ lớn như cúng tế cô hồn, chúng ta thấy quý thầy đội mũ mang hia lên đàn coi bộ rất oai. Nghi thức này bắt nguồn từ đâu? Ngày xưa đức Phật không hề đội mũ mang hia, tại sao bây giờ đệ tử Ngài lại như vậy? Chỗ này chúng ta phải truy nguyên về quá khứ mới thấy được sự ảnh hưởng rất lớn của văn hóa địa phương đối với đạo Phật. Các nghi lễ của người Ấn Độ rất đơn giản, nhất là cảnh đám ma trông thật tức cười. Thây người chết được người ta bó sơ sài rồi để trên một chiếc võng. Xỏ cây đòn gánh hai đầu, người trước người sau gánh đi tòn ten vậy thôi. Cực kỳ sơ sài chứ không rình rang như ở Việt Nam. Lý do nào khiến phong tục văn hóa Việt Nam trở nên cầu kỳ như hiện nay? Nền văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa. Văn hóa Trung Hoa lại chịu ảnh hưởng của Khổng giáo và Lão giáo. Tang lễ, hiếu đễ của Khổng giáo quá rườm rà kỹ lưỡng cho nên bày ra đủ thứ. Điều này ảnh hưởng đến văn hóa Phật giáo nước ta trên một vài lĩnh vực. Nhiều Phật tử thấy đám bên mình làm đơn giản không rình rang như bên kia, họ sanh tâm buồn tủi sợ bị chê bai. Từ nhu cầu đó, mấy thầy bắt đầu chế ra nghi thức hơi cầu kỳ hơn. Lý đáng trong nhà Phật chỉ cầu siêu trong vòng 49 ngày là đủ, nhưng sau này tùy thuận theo Nho giáo có thêm lễ tiểu tường, đại tường. Trong các buổi lễ lớn, mấy thầy chế ra nghi thức dâng hương dâng hoa để người dân đỡ buồn. Đó là một số đặc điểm trong nghi lễ. Thời xưa, vua chúa Trung Hoa cũng như Việt Nam kính trọng những bậc thầy đức hạnh nên phong quý ngài làm quốc sư. Trong các buổi đại triều, quý ngài phải có mặt thường xuyên. Nếu bá quan người nào cũng mũ áo chỉnh tề, còn thầy đầu trần chân đất coi bộ không được. Cho nên triều đình chế ra mũ hiệp chưởng hình búp sen cho quý ngài đội, nhà vua phong tặng thêm tử y quấn quanh mình. Mục đích mang hia, đội mũ, quấn y đỏ vừa dễ coi vừa trang trọng như mấy quan viên vậy. Những tập tục này dần dần trở thành thói quen. Về sau mỗi khi có lễ lượt lớn, quý thầy phải đội mũ mang hia lên ngồi trên đàn cao đúng với nghi lễ cổ xưa. Đó là những hình thức đi cửa sau vào đạo Phật, chứ không phải chủ trương của Phật giáo. Trước những vấn đề đó, đòi hỏi chư Tăng Ni phải có trách nhiệm giáo hóa người dân hiểu được giáo lý đạo Phật và từ bỏ hết những tập tục trái với chân lý. Thường thường mỗi lần cất chùa tôi không coi ngày giờ, miễn có điều kiện cứ làm chừng nào xong thì thôi. Đi đâu hoặc làm Phật sự gì, đúng lúc cần làm cứ làm, không coi ngày giờ gì hết. Gần đây tôi hay nói nửa đùa nửa thật, nếu cha hoặc mẹ chết nhằm ngày trùng, đó là vinh hạnh hay đau khổ cho chúng ta? Nhớ lúc cha mẹ còn sống mỗi khi đi đâu mình luôn đòi theo. Bây giờ cha mẹ chết vào đúng ngày trùng sẽ về dẫn hết cả nhà cùng đi. Đó là vinh hạnh vì mọi người được đoàn tụ nơi khác. Vậy mà nói tới ngày trùng ai cũng hoảng không dám chôn, giả sử chôn rồi phải mượn thầy ếm. Thật là mâu thuẫn! Chúng ta thương cha mẹ không hết mà lúc cha mẹ chết lại ếm không cho về. Ở lại tới bảy tám người mà đi chỉ có một, họ muốn về dẫn theo người khác cho có bạn đỡ cô đơn, sao không cho? Nếu không muốn cha mẹ về thì đừng cúng, bày ra cúng thử hỏi cúng cho ai? Thật vô lý! Ngày xưa Thầy tôi, hòa thượng thượng Thiện hạ Hoa - Viện trưởng viện Hóa đạo, mất vào ngày 20 tháng chạp, Giáo hội quy định đến ngày 25 thiêu. Bất thần không biết vị thầy nào coi ngày coi giờ chạy vô báo tin: “Không được, 25 là ngày trùng. Nếu thiêu ngày đó, hoặc là anh em trong gia đình phải chết, hoặc là đệ tử phải chết”. Giáo hội hơi lo ngại nên mở một cuộc họp với người thân trong gia đình và đệ tử của ngài. Lúc đó tôi là trưởng tử, bên gia đình có sư bà Bảo An là chị của Hòa thượng, và thầy Trụ trì chùa Phật Quang - Bang Chang là anh của Hòa thượng. Khi Giáo hội nêu ra vấn đề và hỏi ý kiến mọi người, tôi thưa sư bà Bảo An: - Thưa Sư bà, Sư bà có sợ chết không? Sư bà nói: - Không. Tôi 70 tuổi rồi, muốn chết thế cho thầy hiện Hoa mà chết không được. Có gì đâu mà sợ. Tôi gật đầu nói: - Được rồi, Sư bà không sợ chết, con rất mừng. Tôi chạy qua hỏi thầy Phật Quang: - Thưa Thầy, Thầy có sợ chết không? Thầy đáp: - Không. Tôi ốm đau hoài sống làm gì, chết sớm chừng nào tốt chừng nấy. Tôi mừng nói: - Dạ được rồi. Lúc ấy cả Sư bà, thầy Phật Quang và tôi đều không sợ chết, nên tôi mạnh dạn thưa thẳng với các vị tôn đức trong Giáo hội: - Xin Giáo hội cứ cử hành nghi thức thiêu, vì gia đình và đệ tử chúng con không ai sợ chết hết. Đến ngày 25, Hòa thượng được thiêu và không ai chết chóc gì cả. Qua đây mới thấy việc coi ngày giờ không thực tế chút nào. Mỗi lần cất nhà người ta phải đi coi ngày, nhiều lúc nhằm ngày sát chủ sợ không dám cất. Tôi dám nói rằng, nhà nào cất bằng xi-măng sắt thép và đổ bê-tông đều sát chủ hết. Bởi vì bảy tám chục năm sau nó mới hư, trong khi người cất ở chừng hai ba chục năm đã chết mất rồi. Trừ mấy cái lều lụp xụp phải chịu mưa nắng hoặc giông bão thổi mạnh liền tan hoại ngay. Cho nên ngày nào cất cũng được, đừng sợ sát chủ làm gì cho mất công. Bây giờ có tiền không chịu cất liền, đợi sang năm hết tiền muốn cất không được nữa. Lịch Tàu căn cứ theo xứ sở Trung Quốc nên không có gì bảo đảm cho chúng ta. Ngay cả việc dự báo thời tiết cũng vậy, trong khi ba miền Bắc Trung Nam nhiệt độ khác nhau mà đem so sánh với bên Tàu thì làm sao giống được. Đó là điều sai lầm thứ nhất. Điều sai lầm thứ hai, giờ Trung Quốc sớm hơn giờ Việt Nam hai tiếng, vậy lấy đâu làm chuẩn để định giờ tốt giờ xấu. Nếu y cứ vào đây cho là khuôn mẫu thành ra lạc hậu, lỗi thời. Đó là hình thức mê tín, tin những điều không đúng sự thật. Căn cứ trên thực tế khoa học, những mê tín này sai 100%. Người chưa đủ lòng tin với Phật pháp, không hiểu lý nhân duyên, nhân quả rất dễ rơi vào tình trạng mê tín này. Chúng ta học Phật phải truy nguyên tận nguồn gốc, đừng hời hợt thấy xưa bày sao nay làm y vậy. Phật dạy tu phải chánh tín tức là tin một cách chân chánh đúng lẽ thật. Trước hết, tin sâu lý nhân quả. Không bao giờ tạo nhân lành lại có kết quả xấu; không bao giờ tạo nhân ác lại có kết quả tốt. Nếu lựa ngày lành để làm những việc xấu mong không có kết quả xấu, chắc rằng mấy người ăn trộm ăn cướp sẽ lựa ngày tốt để xuất hành. Chuyện nhân quả rõ ràng không sai chạy cho nên trước sau gì họ cũng bị ở tù. Tin nhân quả là chánh tín, tin vào ngày giờ là mê tín. Tăng Ni có trách nhiệm giải thích cho Phật tử hiểu việc coi bói là hình thức sai lầm, không đúng lẽ thật, làm sao đời sống ngày càng văn minh hơn. Đây là truyền bá chánh pháp đúng như chánh pháp Đạo Phật là đạo trí tuệ và giác ngộ. Tăng Ni có bổn phận hướng dẫn người dân đến với đạo Phật bằng chánh kiến, thấy đúng như thật về các pháp. Giản trạch cho họ hiểu về lý nhân quả nghiệp báo, đừng đi sâu trong mê tín dị đoan, xóa dần những hủ tục tà kiến trong dân gian. Được vậy là góp phần làm cho ngôi nhà Phật pháp ngày càng sáng tỏ, phù hợp với tinh thần văn minh, khoa học của nhân loại ngày nay. Đây là điều hết sức thiết yếu, đòi hỏi sự nỗ lực của chư Tăng Ni và Phật tử. Giáo lý nhân duyên, vô thường, nhân quả của đạo Phật là những triết lý cao siêu chân thật, không ai chối cãi được. Hiện nay người dân trí thức luôn đặt niềm tin vào khoa học, họ cho rằng cái gì khoa học phát minh là có thật. Vậy đạo Phật có liên hệ thực tế với khoa học như thế nào? Như ngọn đèn điện phát sáng là do sự va chạm của hai lằn điện âm và dương. Từ đó người ta giải thích được nguyên nhân tại sao sấm sét phát ra ánh sáng. Ngày xưa dân gian quan niệm do thiên lôi trừng phạt những đứa con bất hiếu, trên trời xuất hiện lằn sét. Sau này khoa học chứng minh hiện tượng đó do điện âm dương trong hư không chạm nhau. Như vậy khoa học y cứ trên lý nhân quả. Người xưa thấy ai nổi cơn rét run, cho rằng người ấy bị bà thủy quở. Ngày nay y khoa truy ra nguyên nhân do vi trùng sốt rét. Lúc ấy bác sĩ chỉ cần chích thuốc hoặc cho bệnh nhân uống thuốc, vi trùng sẽ chết và bệnh rét run sẽ hết. Cho nên các ngành khoa học đều thừa nhận lý nhân quả là hợp pháp. Nói tới khoa học là nói tới phân tích, từ nhân phăng tới quả, từ quả truy tìm ngược lại nhân, từ đó mà có các phát minh sáng chế. Nhân quả là chân lý căn bản trong cuộc sống hiện tại, là một lẽ thật trên thế gian, không sự vật nào thoát ngoài sự chi phối của nó. Ai chẳng biết cái cây lớn lên từ hạt giống chứ không phải trời sanh ra. Trong cuộc sống tương quan, nếu chúng ta đối xử tốt với mọi người sẽ được mọi người mến thương lại. Nếu chúng ta xử xấu với mọi người, mọi người sẽ chê ghét lại. Đó là lẽ đương nhiên, không ai có thể chối cãi được. Vậy mà nhiều người học Phật lại tin vào ngày lành tháng tốt, chết trùng yếm đổi, thông xét theo lý nhân quả. Lẽ thật trong đạo Phật luôn rõ ràng và công bình, tạo nhân thế nào sẽ nhận lấy quả tương ứng không sai chạy. Tự bản thân mỗi người là chủ nhân tạo nghiệp và lãnh thọ quả báo nghiệp mình từng tạo. Cho nên hạnh phúc hay khổ đau không do đấng thiêng liêng nào áp đặt. Hiểu lý nhân quả rồi chúng ta sẽ có đủ lòng tin và can đảm đối diện trước mọi hoàn cảnh trong cuộc sống. Giáo lý nhà Phật do đấng giác ngộ chỉ dạy nên những gì Phật nói ra đều là chân lý. Chúng ta học Phật phải thấu triệt điều này, đừng để mê muội cố chấp, tự gây phiền não khổ đau cho mình và người, không xứng đáng là đệ tử của đức Phật. Phật nói tất cả sự vật có hình tướng trên thế gian đều vô thường. Một khi hiểu được lý vô thường và biết ứng dụng vào cuộc sống, chúng ta sẽ bớt khổ rất nhiều. Người đang tươi trẻ đầy nhiệt huyết, một thời gian sau lật bật thấy mình già, lâu lâu đau một trận, tới ngày nào đó nghe tin mình sắp chất. Lý đáng khi già bệnh chết đến mình rất sợ, nhưng nhờ hiểu lý vô thường tâm bình an không lo lắng. Ngài Tuệ Trung thượng sĩ thời Trần tuy là một cư sĩ Phật tử nhưng vẫn tu hành thâm chứng được lý đạo. Thời gian cuối đời ông nằm nghỉ tại Dưỡng Chân trang. Thấy ông nhắm mắt sửa soạn tịch, cả gia đình òa lên khóc. Ông mở mắt kêu lấy nước súc miệng rửa mặt rồi ngồi tỉnh táo nói: “Sanh tử là lý thường nhiên, tại sao các ngươi làm động chân tánh của ta?”. Quá hay! Chết sống là lẽ thường, không ai thoát được, cứ để người ra đi yên lòng, đừng rộn ràng quấy nhiễu chân tánh của họ. Người nào lúc ra đi vui vẻ chấp nhận cái chết đến, tâm bình ổn nhẹ nhàng nhất định sẽ được sanh cõi lành. Cận tử nghiệp là thời điểm vô cùng quan trọng, nếu khi đó tâm sợ sệt, sân hận hoặc đau buồn sẽ bị đọa vào các đường ác. Cho nên Phật dạy, khi cha mẹ hoặc người thân trong gia đình sắp chết, không cho con cái khóc nhiều vì sợ họ xót xa quyến luyến. Tốt nhất là tụng kinh, niệm Phật giúp cho tâm hồn người sắp mất an ổn, thảnh thơi ra đi. Điều thiết yếu này người Phật tử phải biết. Khi không có quý thầy cô ở gần, phải mời bạn đạo tới hộ niệm giúp tâm trí người lâm chung được sáng suốt. Tối kỵ nhất là lúc cha mẹ gần tắt thở, con cái xúm nhau chia của cải, gây gổ om sòm khiến cha mẹ nổi sân đọa vào trong đường ác. Đối với hai thứ thương yêu và sân hận, tuyệt đối phải dè dặt cẩn thận. Khi ấy thân người bệnh nhọc nhằn, đau đớn khổ sở nên không tự làm chủ được. Mọi người xung quanh phải nhất tâm niệm Phật, trì kinh để họ nương theo cho tỉnh táo sáng suốt ra đi được an lành. Đó là lúc quan trọng quyết định cho con đường tái sanh. Được vậy là Phật tử hiểu đạo. Trải qua thời gian lâu xa, giá trị của đạo Phật vẫn luôn sáng tỏ và giữ được vị trí tôn quý trong lòng nhân loại. Sự thâm chứng của đức Phật đã để lại kho tàng giáo lý rất thực tiễn và khoa học. Thời đức Phật cách nay gần 26 thế kỷ, lúc đó đâu ai biết ngoài thế giới chúng ta đang sống có muôn trùng thế giới khác. Sau khi giác ngộ thành Phật, Ngài thấy hằng hà sa số thế giới nhiều như số cát sông Hằng, trong một bát nước lại có vô số vi trùng. Nếu không có khoa học chứng minh điều này chắc chúng ta không thể tin nổi. Đạo Phật là đạo giác ngộ, do giác ngộ chân lý của vạn pháp nên Bồ-tát Sĩ-đạt-đa thành tựu được quả vị Phật. Lúc còn là thái tử, một hôm Ngài đi dạo bốn cửa thành, chấn động khi chứng kiến cảnh sanh già bệnh chết của con người mà quyết tâm tìm cho ra con đường giải thoát cho mình và nhân loại. Sau khi vượt thành đi xuất gia, Ngài tìm học với các vị tiên nhưng không thỏa mãn được chí nguyện. Cuối cùng Ngài đến ngồi dưới cội bồ-đề nhập định suốt 49 ngày đêm, được giác ngộ. Ngài thấy rõ manh mối tại sao chúng sanh bị luân hồi trong vòng sanh tử và phương pháp giải thoát một cách tường tận, không nghi ngờ. Đức Phật ngồi tu dưới cội bồ-đề được giác ngộ thành Phật. Do tâm định tĩnh nên Ngài sáng được trí tuệ vô sư, chứ không phải do học hiểu từ bên ngoài. Ngài thấy tường tận tột cùng chân lý, những điều thế gian chưa bao giờ biết tới. Trí tuệ đó sẵn có trong mỗi chúng sanh, bởi mê lầm che lấp nên bị bỏ quên. Đức Phật cũng là một con người như chúng ta, với tâm kiên quyết tu hành chiến thắng tất cả nội ma ngoại chướng, tâm Ngài hoàn toàn an định. Bởi tâm an định nên trí tuệ phát sanh. Tiến trình này chính là tu tập ba môn học Giới Định Tuệ. Giải thoát chỉ có được sau khi đã giác ngộ. Như người uống rượu say sưa, ụa mửa liên miên, dần dần sanh bệnh đau gan. Nghe bác sĩ giải thích bệnh do uống nhiều rượu, muốn trị lành bệnh phải bỏ rượu. Anh ta nghe lời liền bỏ rượu, dần dần thoát được cơn ghiền và cuối cùng hết bệnh. Đó là minh chứng muốn giải thoát trước phải giác ngộ. Trường hợp thứ hai, một thanh niên khỏe mạnh không lo làm ăn, tối ngày đi trộm cắp. Sau này anh bị công an bắt bỏ tù, được những người có trách nhiệm giáo hóa: “Tại sao người mạnh khỏe đầy đủ tay chân như anh không chịu đi làm kiếm tiền, lại trộm cắp phải tù tội khổ sở như vậy?”. Nghe xong anh tỉnh ngộ, hứa ngang đây không tái phạm nữa. Tóm lại muốn bỏ được tất cả nghiệp khổ, nghiệp xấu thì trước phải giác ngộ. Cũng vậy, tu mà không giác ngộ nguyên nhân đau khổ và nhân tố đưa đến giải thoát thì không thể giải thoát được. Giác ngộ rồi mới có thể gỡ hết những nhân duyên trói buộc lôi cuốn chúng ta trong trầm luân. Từ bi trong đạo Phật là cứu khổ chúng sanh, người học Phật cần yếu phải hiểu chín chắn nghĩ từ bi, khả dĩ đi đúng đường hướng Phật chỉ dạy. Ngoài thế gian, người học trò đang trong độ tuổi cấp sách tới trường phải học hết tiểu học rồi tiến lên trung học và đại học. Miệt mài cấm đầu học cho giỏi để sau này làm lợi ích gia đình và quê hương xứ sở. Thật quá tốt! Trong đạo cũng vậy, người tu sĩ Phật giáo luôn luôn phải trau dồi giới định tuệ ngõ hầu thành tựu đạo nghiệp cho mình, làm Phật sự lợi lạc quần sanh. Nhất là trong ba tháng an cư, Tăng Ni tụ hội về các tụ điểm an cư cùng sách tấn, hỗ trợ nhau tu học cho đạt kết quả tốt. Nương theo sự hướng dẫn chỉ dạy của các bậc thầy đi trước, Tăng Ni học hiểu và cố gắng ứng dụng hành trì. Thành quả có được chính là tư lương sau này trở về trú xứ của mình làm Phật sự. Bổn phận của người xuất gia rất lớn, trước phải tu học cho đàng hoàng, thâm hiểu tường tận giáo lý, thực hành lời Phật dạy đúng với con đường chân chánh. Từ đó hướng dẫn, giản trạch cho Phật tử biết đâu là thiện ác, chánh kiến tà kiến, trí tuệ si mê. Làm sao giúp họ tránh tạo những điều xấu dở, phát huy trí tuệ, xa dần hủ tục mê tín dị đoan, siêng năng tu tạo thiện nghiệp ngõ hầu hết khổ được an vui. Trong lúc Tăng Ni tập trung an cư kiết hạ một chỗ, thấy dường như không làm lợi gì cho ai nhưng không phải. Thực tế đây là thời điểm khá quan trọng để Tăng Ni vun bồi đạo hạnh và trí tuệ, làm tiền đề cho sự nghiệp hoằng pháp, trôi tròn bổn phận người xuất gia tự lợi lợi tha viên mãn. Tóm lại, người xuất gia phải làm sao phát triển trí tuệ sáng suốt, ngày càng tiến gần chỗ giác ngộ viên mãn. Thứ đến phải thực hành lợi tha, giúp đỡ mọi người xung quanh đều được an lạc, vui tươi. Thực hành tốt hai điều then chốt: giác ngộ và từ bi là hoàn thành bổn phận người xuất gia, đi đúng chủ đích của đạo Phật. Hôm nay nhân mùa An cư, tôi chia sẻ những điểm thiết yếu trong đại cương Phật pháp. Mong quý thầy cô cố gắng thực hành tốt để lợi mình lợi người. Đừng để ba tháng trôi qua nhọc nhằn mà không thu lượm được kết quả gì. Quý Phật tử luôn trông đợi thầy cô tu hành đạt thành quả tốt để sau này giáo hóa lại họ. Đó cũng là sự mong mỏi của tôi. Mục Lục
|
Tông Môn Cảnh Huấn 2
|