Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 3
30. Chăn trâu

Ngày 29/04/ Quý Mùi - 29/05/2003

Hôm nay tôi nói về đề tài Con trâu hoang.

Trong mười mục chăn trâu, đầu tiên là mục đồng đi tìm trâu. Khi tìm thấy trâu rồi, muốn bắt được nó cũng không phải dễ, nên phải dùng đủ phương tiện nào là dây dàm, roi... rồi nhử từ từ nó mới chịu tới với mình. Xỏ mũi trâu được rồi cũng phải luôn luôn dùng roi đánh, như vậy mới kềm chế nổi nó. Từ con trâu hoang dần dần trở thành thuần hòa, hiền lương... cho đến lúc mục đồng ngồi trên lưng trâu cưỡi đi hoặc thả cho nó ăn thong thả, phải trải qua rất nhiều công phu.

Trâu hoang là chỉ cái gì? Chỉ tâm lăng xăng lộn xộn của chúng ta. Quý vị kiểm tra lại tâm, thấy nó lương thiện hiền hòa hay xấu dở đủ thứ? Có kẻ mặc áo cà-sa mà cũng nghĩ bậy, đừng nói người thế gian. Tâm được minh họa như con trâu hoang là hình ảnh dễ biết nhưng chưa hết ý. Tại sao? Vì khi mục đồng nắm mũi trâu hoang rồi thì có nó, có mình giằng co. Đằng này, con trâu hoang của mình không biết trốn chỗ nào. Muốn điều phục, không biết nó ở đâu mà điều phục. 

Trong kinh Pháp Cú, đức Phật nói “tâm dẫn đầu”, tâm dẫn đầu là tâm nào? Tâm sanh diệt dẫn đầu, vì khởi niệm rồi mới nói ra lời, tạo ra hành động. Như vậy khởi niệm là đầu mối trở thành nghiệp lành hay nghiệp dữ. Nếu khởi niệm lành, sẽ nói lành làm lành, khởi niệm dữ sẽ nói dữ làm dữ. Kiểm lại, hằng ngày tâm chúng ta có khi nghĩ lành, khi nghĩ dữ, đủ hết. Chúng ta không biết nó ở đâu mà lâu lâu chợt dấy lên, mình cố tình loại bỏ cũng không biết làm sao loại cho hết. Vì vậy bước đầu vào đạo, Phật dạy mình phải giữ giới, người xuất gia tối thiểu phải giữ mười giới.

Mười giới đó là gì? Là sợi dây mũi, là dây roi để đánh con trâu hoang của mình. Người tu hạnh giải thoát, trước phải lấy giới cột các tạp niệm. Khi dấy niệm muốn phạm giới thì phải quở trách: “Phạm giới là đọa địa ngục, muốn đọa địa ngục hả?”. Nạt mắng nó, la rầy nó, đó là roi. Như vậy dần dần nó mới sợ. Nếu khởi lên mà mình theo nó thì sẽ điên loạn, thành người phạm giới. 

Tâm vọng động là manh mối dấy động đủ thứ tốt, xấu, lành, dữ. Nên khi bắt đầu tu tập, Phật dạy người cư sĩ phải lấy năm giới làm căn bản, người xuất gia ít ra cũng giữ mười giới làm căn bản. Đó là xiềng xích cột con trâu hoang. Người chăn trâu kỹ giữ tròn mười giới, có ác không? Không ác, đó là kềm cho mình đi đúng đường. Nó ngoái cổ qua lúa mạ người thì phải đánh, nạt nộ, quở trách.

Bước đầu vì trâu chưa thuần hòa, chưa xỏ mũi được thì phải dùng mọi phương tiện kềm chế nó. Khi xỏ mũi được rồi phải nắm chặt dây mũi trong tay. Chư Tăng Ni, ai giữ được mười giới là đã nắm dây mũi rồi. Có sẵn roi để chúng ta đánh nhắc cho tâm đừng dấy niệm sai, thẳng trên đường mà đi, không được vào lúa mạ nhà người.

Đó là phương pháp đầu đức Phật dạy tu điều phục tâm. Vì tâm rất quan trọng, nếu không điều phục thì nó dẫn mình đi vào đường xấu, không lường trước nổi. Nhiều khi ngay lúc này nó tốt, giờ sau nó xấu. Bởi vậy chúng ta phải điều phục cho được tâm mình. Mình khéo gìn giữ, kềm chế lâu ngày dài tháng con trâu hiền hòa rồi, sau đó sẽ thảnh thơi.

Không ai mới bước vào đạo mà tâm hoàn toàn hiền lành, phải khéo điều hòa lâu ngày mới được. Khi trâu hiền lành rồi, cứ để nó thong thả ăn cỏ, thằng chăn nằm ngủ trên tảng đá hay dưới gốc cây. Đức Phật dạy tu cốt là trị tâm ngoan cố cho được thuần, trở thành hiền lương, đức hạnh. Như vậy, tu là chuyển xấu thành tốt.

Chư Tăng trẻ, Phật cấm không có các niệm nhiễm ô đối với nữ sắc, nếu quý vị lỡ nhiễm thì sao? Phải lấy roi đánh nó thật mạnh, nạt nó, nếu chỉ nhìn thì nhẹ quá. Con trâu đang dữ mà nhìn nhẹ là không được. Khi niệm dở xấu dấy lên thì nạt: “Xuất gia mà nhiễm nữ sắc là phạm giới, đọa địa ngục”. Nạt như vậy cho nó sợ, dừng lại. Tự mình nhắc đi nhắc lại để tránh không phạm lỗi lầm. Ngoài ra còn bao nhiêu điều khác cũng vậy, luôn kiểm soát tâm mình, đừng để niệm xấu ẩn náu.

Nếu không có niệm xấu, chỉ toàn niệm lành thì đã ra khỏi sanh tử chưa? Vẫn còn đi trong sanh tử, nhưng ở cõi lành, không rơi vào cõi ác. Nếu tốt xấu lẫn lộn thì khi nhắm mắt cái nào mạnh sẽ theo cái đó. Việc tu hành không đơn giản, chúng ta phải cẩn thận dè đặt từng chút một, cố gắng siêng năng chăn con trâu tâm không ngừng, không lơ là, cho tới khi nó thuần thục. Khi nó hiền lành thì mình khỏe một chút, nhưng đến cuối cùng không còn trâu để chăn nữa mới giải thoát sanh tử.

Không còn trâu, không còn chăn là hết sanh tử. Người tu thiền, nhất là Thiền tông phải bước qua giai đoạn đó. Vượt qua chỗ này đến bức tranh thứ chín là thể nhập Pháp thân, chim bay về tổ, lá rụng về cội. Thể nhập Pháp thân là chỗ cứu cánh. Vậy Pháp thân ở đâu mà thể nhập? Trên trời, trên mây hay chỗ nào? Thật ra cũng là cái sẵn có nơi mình, mà vì những niệm xấu tốt liên tục phủ che, nên chúng ta không thấy. Bây giờ dọn dẹp niệm xấu trước, sau đó niệm thiện cũng bỏ luôn. Xấu tốt không còn tức dứt sạch hai bên, thì cái chân thật hiện tiền.

Người xưa thường nói: “Đừng nói vô tâm là đạo, vô tâm còn cách một lớp rào”, vô tâm là không còn trâu không còn chăn. Đối với người tu thiền đó là chỗ không còn đối đãi, nhưng phải thể nhập tâm chân thật hiện tiền. Nhận ra được cái đó mới là chỗ cứu cánh của người tu. Người nào nhận được cái thật đó rồi, có thể xuống địa ngục độ chúng sanh khổ đau nơi ấy. Cho nên mục thứ mười là quảy bầu rượu, xách cá chép vô xóm làng, đến những nơi ngày xưa mình sợ mình tránh, bây giờ xông vào đó độ người.

Tại sao ngày xưa mình sợ mà bây giờ xông vào? Vì ngày xưa mình còn yếu chưa đủ đạo lực nên phải tránh. Bây giờ đủ sức rồi, thể nhập Pháp thân thì đầy đủ Ứng thân, Hóa thân để độ sanh. Đó mới gọi là nguyện lực độ tận chúng sanh của bậc giác ngộ giải thoát. Chúng ta từ khi phát tâm tu, nhất định phải đạt đến giải thoát mới thôi. Không phải nói cho hay mà làm không được, hoặc không tới nơi. Phải kiểm lại, nói miệng không bằng có cái nhìn thấu. Điều quan trọng là hàng phục tâm tốt xấu, không còn sót một mảnh nhỏ mới được. Đi từng bước, từng bước tới cuối cùng vượt qua hết để thể nhập Pháp thân. Thể nhập Pháp thân, ngang đó không phải là xong, là tròn bổn phận, mà còn tùy duyên ứng hóa độ chúng sanh.

Như vậy, muốn thành Phật phải trải qua ba vô số kiếp, thời gian dài vô kể. Nghe vậy đừng ngán, bây giờ mình chỉ cần biết rõ hướng đi và cứ đi tới cùng. Bởi vì khi đã nhập Pháp thân rồi, thì sanh tử đối với mình không còn là vấn đề nữa. Lúc đó cứ tùy duyên ứng hóa độ sanh. Con đường tu từ ban sơ cho tới cuối cùng, lúc nào mình cũng phải xem chừng, biết tới đâu để cố gắng vươn lên, đừng để bị lôi vào những hướng không tốt đẹp.

Tu không phải chỉ có hình thức ở chùa ăn chay, tụng kinh, tọa thiền là đủ mà phải luôn trị tâm loạn, tâm tạo nghiệp của mình sao cho trong sạch, thanh tịnh, đó là chủ yếu. Như vậy mới không uổng phí một đời tu. Chúng ta ra đời được gặp duyên tốt, được tu hành mà không tạo duyên cho mạnh, cho đủ để đời sau tiếp tục tu nữa, thì mất thân này rồi không biết có được trở lại làm người, tiến tu hay không. Một khi tuột xuống thì sẽ tuột hoài. Như lỡ làm thân mèo đã khổ, vậy mà mỗi ngày cứ xơi một, hai con chuột. Giết hoài như vậy thì khi mất thân mèo sẽ thành con gì? Thành những con thấp hơn nữa. Cứ như vậy sát hại nhau để sống, chỉ toàn tạo nghiệp đi xuống, biết bao giờ mới được trở lên. Thật là khổ!

Chúng ta đang được làm người tỉnh giác, ở trong đạo tràng nên cố gắng tu, vận dụng hết khả năng và trí tuệ của mình để tiêu trừ vô minh, những nghiệp xấu ác còn tích lũy. Khó nhất là muốn bỏ cái xấu mà không biết nó ở đâu để bỏ. Nếu biết chỗ nơi mới đào ra được, đằng này không biết chỗ, cũng không biết có bao nhiêu thứ đang ẩn nấp, chỉ gặp duyên nó trồi lên, mình không kềm nổi. Vì vậy chúng ta phải cẩn thận dè dặt. Duyên xấu trồi lên, phải biết mình còn chủng tử xấu nên ráng tu để dẹp nó. Như vậy mới tiến.

Người tu Phật phải xét lại mình nhiều hơn, không cầu ở bên ngoài, không xin ai cho mình thứ gì. Tự nhìn lại, biết mình còn bao nhiêu thứ nghiệp xấu sẽ lôi vào con đường trầm luân, thì cố gắng dẹp bỏ. Dẹp được rồi mới hy vọng giải thoát. Cho nên chúng ta phải quý tiếc thời gian. Khi đủ duyên tu được mà không chịu tu, tới chừng hết duyên muốn tu cũng không sao tu được.

Mong tất cả trong chúng nhớ tu là tu tâm. Tâm tốt thì ngôn ngữ hành động sẽ tốt, tâm xấu thì ngôn ngữ hành động cũng xấu. Quý vị kiểm lại thấy ngôn ngữ của mình bất thường, hành động bất thường, đó là tâm không tốt. Cố gắng dẹp bỏ nó để trở thành người tu hành chân chánh, xứng đáng đứng trong hàng ngũ Tăng sĩ. Được vậy mai này có mất đi, chúng ta cũng không hổ thẹn, không uổng một đời tu. Quý vị nói tu để cứu mình, cứu gia đình độ chúng sanh... Nói nghe to quá mà tự cứu chưa được thì độ ai? Vì vậy Tăng Ni nỗ lực xoay lại, quán sát cho tường tận, cho thấu đáo, dẹp bỏ những thứ còn ẩn khuất mà chúng ta chưa thấy. Dẹp sạch rồi mới an ổn trên đường giải thoát.

Riêng phần tôi, bao nhiêu năm rồi cũng cố gắng tối đa. Vừa nghiên cứu, vừa học, vừa tu, vừa dạy nên thời gian “nhớ mình” không trọn vẹn. Bởi vì hết khách này đến khách nọ rồi còn lo coi kinh sách, đến tối ngồi thiền có hôm còn phải nhớ mai giảng gì, rốt cuộc mình nhớ cái ngoài mà quên mất mình. Thế nên, từ hôm chuẩn bị nhập thất tới nay, tôi buông mọi sách vở, khách khứa, chỉ còn mấy tin tức này kia của các thiền viện mà thôi. Như vậy, tuy là tôi chưa buông hết, nhưng thay vì một ngày sống trọn mười hai tiếng thì tôi cũng có được năm sáu tiếng nhớ lại mình. So với thời gian trước, bị mất mình quá nhiều, giờ mới trở lại được phần nào.

Làm việc cũng vậy, lúc đầu luôn gặp những chướng ngại, nhưng rồi cũng qua. Trên đường tu mặc dù mình đã quyết tâm nhưng cũng có chướng, tuy vậy đều vượt qua hết. Rõ ràng nếu đi, đứng, nằm, ngồi không có chuyện gì bận tâm thì dễ nhớ mình hơn. Ngược lại, nhiều chuyện tới thì dễ rối, dễ mất mình. Nếu trong ba năm mà tôi khỏe được như vầy thì việc tu đỡ lắm, hy vọng chỉ nhớ trên đầu một chữ “như” thôi.

Trên đường tu nếu chúng ta khéo thì có thể tạo duyên để tu tiến. Bởi muốn tiến phải đủ duyên, thiếu duyên thì khó tiến, hoặc tiến được mặt này nhưng không tiến mặt khác. Bao nhiêu năm rồi, tôi tiến về mặt nghiên cứu Phật pháp, hướng dẫn Tăng Ni tu hành, giảng dạy cho Phật tử mà chưa tiến nhiều về cái “nhớ mình”. Giờ đây được an ổn một chút, có thời gian “nhớ mình”.

Khi trong tâm không có gì lo lắng thì không chi sung sướng bằng. Tại sao? Vì không lo không nghĩ thì nội tâm khỏe, thảnh thơi. Ở bên ngoài không lo đói, không lo rách, không lo thiếu thốn bất cứ thứ gì. Ngoài không lo, trong không lo thì còn gì sung sướng hơn. Các vị quan, thủ tướng hay tổng thống có thể không lo vật chất, nhưng trong tâm phải lo việc này việc kia, việc được việc mất... nên đâu có thảnh thơi. 

Người biết tu, lại có thời gian tu nữa thì luôn được thanh nhàn. Có khi một hai tiếng đồng hồ thảnh thơi, không lo nghĩ, tự nhiên tâm an. Tâm an thì thấy vui. Niềm vui của người tâm an khác niềm vui của người thế gian. Vui thế gian là vui của sự được mất. Điều mình mong mỏi mà đạt được thì thấy vui. Người tâm lặng lẽ, gương mặt lúc nào cũng tươi vui, không lệ thuộc vào các duyên bên ngoài. Vì vậy, có tu mới thấy không lo buồn, phiền não thì khỏe khoắn an vui.

Tăng Ni thử đặt câu hỏi, mình tu rồi còn lo gì nữa? Mai mốt theo Phật, chùa không phải của mình, mọi thứ đều không phải của mình. Vậy nên không có gì phải lo, người nào còn có mặt thì giao cho họ. Bây giờ tôi chỉ có một việc là “luôn nhớ mình”. Tôi nghĩ quý vị còn trẻ vừa tu vừa học, vừa làm Phật sự, tới chừng lớn lên đủ duyên đủ phước, làm được bao nhiêu điều theo sở nguyện của mình, nhưng phải dành thời gian yên tu. Lúc đó thảnh thơi nhất, không có gì phải hổ thẹn cả.

Tôi bây giờ không hổ thẹn với ai, bổn phận đã làm tròn, chỉ còn có một việc là lo cho mình. Sống an nhàn kiểu chú mục đồng ngồi trên lưng trâu, thảnh thơi như chơi. Đi cũng chơi, ngồi cũng chơi, nằm cũng chơi, không có gì phải làm, không có niệm nào sanh, rất thanh nhàn. Không trừng phạt cũng không đánh đuổi thứ gì, tự an nhàn.

Tôi đi bộ nhiều, ngày nào dù mưa gió gì cũng đi sáng bảy vòng, chiều bảy vòng. Một ngày mười bốn vòng, tính ra là ba cây số lên xuống dốc, ngày nào cũng đi đều, nhờ vậy mà khỏe. Ăn uống điều độ, ngủ có chừng mực, không lo, không nghĩ, rất dễ ngủ. Đâu có chuyện gì gác tay lên trán mà ngủ không được, nên buông ra là ngủ. Ngoài giờ tu ra, đến giờ ngủ là ngủ, ngoài giờ ngủ ra thì chơi. Nói tu mà tu chơi, chứ có việc gì phải làm đâu.

Mong trong chúng cố gắng, còn trẻ phải làm xong bổn phận của mình. Người mới vào đạo thì ráng học, ráng tu theo thời khóa của thiền viện. Lớn hơn chút nữa thì làm điều lợi ích cho đạo. Đến già như tôi, chỉ còn một việc là nhớ mình thôi. Sống không hối hận tí nào, thảnh thơi nhẹ nhàng.

Mục Lục
Tông Môn Cảnh Huấn 3