|
Tông Môn Cảnh Huấn 3
49. Xuất gia là phi thường
Trong kinh Phật nói, được thân người là khó. Nhưng hiện nay con người có mặt trên trái đất này, có đến hàng tỷ người, vậy được sanh làm người là dễ hay khó? Đối với việc này, người tu phải có cái nhìn cho thấu suốt. Trong sáu loài chúng sanh thì ba đường trên là: trời, a-tu-la và người; ba đường dưới là: địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Địa ngục, ngạ quỷ vì mắt mình không thấy nên tưởng ít, nhưng thật không biết bao nhiêu mà kể. Chỉ riêng loài súc sanh, chúng ta thử kiểm coi có nhiều hơn loài người không? Các con vật mà mắt chúng ta có thể thấy được như: chó, mèo, heo, bò... đã là vô số rồi. Như vậy chỉ riêng ba cõi dưới thôi, số lượng là bao nhiêu? Không thể tính kể! Nên nói, trong sáu đường chúng sanh vô số như vậy, muốn lên ba đường trên là rất khó. Thế nên không thể thấy con người đông rồi cho là dễ được sanh làm người. Phật nói thân người khó được, chúng ta hiện tại được mang thân người, sáu căn đầy đủ là đại hạnh phúc. Trong chúng xét lại coi có phải mình đang hưởng hạnh phúc không? Đang hạnh phúc mà không biết mình hạnh phúc. Sáu căn đầy đủ là hạnh phúc của con người, nếu thiếu một căn là thiếu hạnh phúc. Vậy mà có người sáu căn đầy đủ vẫn không thấy hạnh phúc. Tại sao? Tại vì cái gì được rồi thì không thấy quý. Người ta cứ nghĩ rằng cái gì thiếu mà tìm được mới gọi là hạnh phúc, cho nên suốt đời chỉ tìm cái mình thiếu, còn cái đã được rồi thì lãng quên đi. Một người với sáu căn đầy đủ, lại còn biết phát tâm xuất gia tu đạo thì đã hạnh phúc lắm rồi. Thế nên phải ráng tu, đừng biếng nhác, lười trễ. Lười trễ là sao? Thí dụ, tới giờ tụng kinh, giờ ngồi thiền, giờ công tác... người ta đi trước, còn mình từ từ đi, trễ một phút đỡ một phút. Đó là hiện tượng của kẻ lười. Người cần mẫn tinh tấn thì cái gì cũng lẹ làng sốt sắng, khi tới thời khóa luôn đi trước mọi người. Hoặc giả có người nghĩ, mình làm cực khổ mà người khác không làm gì, mình làm nhiều hơn người khác là mình khờ... Nghĩ vậy là lầm lớn. Ở trong chúng, người siêng năng cần mẫn, làm được nhiều điều tốt hay, đó là phước lớn. Vì làm việc cho chúng, tức là làm cho số đông người hưởng nên phước báu cũng theo đó mà có. Phước lớn chực sẵn kề bên mà không chịu làm, cứ so bì hơn thua với nhau. Ở ngoài đời, có người còn nguyện vào chùa làm công quả để bòn phước, còn mình ở chùa rồi không chịu làm để cho phước bị mỏng từ từ. Thật là dại khờ! Khi đức Phật tu giác ngộ rồi, Ngài thấy biết rõ do nghiệp dẫn mình đi trong cõi lành hay cõi dữ, do đó phải tạo thiện nghiệp để được đến cõi lành. Bình thường chúng ta không thấy được nghiệp của mình, nhưng khi gặp việc thì nóng nảy, tham lam... liền hiện ra, tức là nghiệp luôn có mặt. Vì vậy phải luôn luôn tu tạo nghiệp lành, tăng trưởng phước báu cho chính mình. Nếu gặp công tác nặng nhọc thì tránh né để cho người khác làm, tưởng như vậy là mình khôn nhưng không ngờ đó là đại ngu. Bởi vì người ta được phước mà mình thì mất phước. Bây giờ cứ nhàn nhã như vậy thì ngày qua ngày được lợi ích gì, hay càng lúc càng u mê lú lẫn! Người lười nhác hiện tại thấy dường như khỏe, nhưng lâu dài thành thiệt thòi, đáng thương! Thấy ai đang làm công kia việc nọ nhọc nhằn mà biết hăng hái giúp đỡ, đó là gieo trồng nhân lành, được người thương quý. Đó là lối sống có đạo đức, là hạnh tu của Bồ-tát. Người hiểu đạo xả thân hy sinh làm việc cho chúng, còn người không biết tu có sẵn cơ hội mà không dám làm để bòn phước. Cho nên, Bồ-tát luôn phát nguyện làm tất cả những gì thiên hạ cần, làm không công, làm không mong cầu gì hết. Trên thế gian, có người sống chỉ vài chục năm nhưng họ dám hy sinh làm mọi việc tốt cho người, những người này có đầy đủ phước đức, sống cuộc đời có ý nghĩa. Nếu sống trăm tuổi mà cứ lo dưỡng thân hoài, thì một đời người cũng chỉ là con số không mà thôi. Chúng ta đâu phải chỉ sống có một đời này, mà liên tục nhiều đời. Nếu mình không có sự chuẩn bị, vô phước thì có khi làm trâu bò mang ách kéo cày để trả nợ cũ. Nhân quả không sai, mình tránh được mắt phàm của thế gian chứ không trốn được nghiệp, nghiệp tới thì phải chịu. Vậy nên nghiệp là cái cần phải dè dặt cẩn thận, hành động tốt có nghiệp tốt, hành động xấu có nghiệp xấu. Thầy khuyên răn trong chúng hoài là để tụi con tránh những nghiệp xấu. Chẳng lẽ đi tu rồi sau trở thành con vật, vô lý quá! Mình phải tiến lên, tu không được lên các cấp cao, ít ra đời sau cũng được làm người, tiếp tục tu nữa, chứ đừng cho tuột xuống. Đi tu mà bị tuột xuống thì hổ thẹn lắm, chừng đó hối hận không kịp! Khi ngồi lại tu mới thấy nội tâm mình đang chất chứa nghiệp của quá khứ. Do nghiệp quá khứ còn tích lũy nên sanh ra đời, tuy được làm người mà mỗi mỗi sai biệt nhau. Người thì hiền hòa dễ thương, người thì nóng nảy, đứa này hơi tham, đứa kia hay so kè, có người thông minh học ít biết nhiều, người học hoài không thuộc v.v... không ai giống ai. Điều đó chứng minh rằng, khi một người phát nguyện đi tu là đã có nghiệp nhân từ trước rồi. Cho nên khi đủ duyên thì liền muốn đi tu, cha mẹ ngăn cũng không được. Thầy cô không dạy đi tu, cha mẹ không bảo cũng không ai xúi giục đi tu, mà tại sao lại đòi đi tu? Đây không phải là sự ngẫu nhiên, mà do chủng tử lành đời trước đã có, nên tới giờ phút đó nó phát ra. Hiểu rồi thì ráng tu làm sao cho duyên lành tăng thêm, đừng để lui sụt. Đó là người khôn ngoan, biết tu. Nếu đi tu mà để cho càng ngày phước đức càng tiêu mòn, qua đời này đến đời sau tuột xuống nữa không biết chừng nào ngóc đầu lên nổi thì trong lục đạo luân hồi sẽ đi mãi không ra được, càng đi càng chịu khổ. Cố gắng làm đúng những gì Thầy dạy, sống trong đạo đức để phước đức mỗi ngày mỗi tăng. Nếu không có phước đức thì tu mấy rồi cũng bị chướng. Có người tu được khỏe mạnh nên tu tiến hoài, cũng có người tu gặp đau ốm nên trì trệ. Những điều đó đâu phải ngẫu nhiên, mà do thiếu phước đức nên dù làm việc gì cũng bị trở ngại, còn có tích phước nhiều đời thì việc gì cũng hanh thông, tốt đẹp. Thầy tự lấy mình làm kinh nghiệm. Lúc còn ở ngoài đời thì nghèo khổ, vô đạo rồi thì gặp được thầy lành bạn tốt, tu cứ đi lên hoài không bị tuột xuống, cho tới bây giờ làm ít mà được nhiều, đó đều là nhờ duyên phước. Kiểm lại, lúc mới vô tu ở chùa Phật Quang, cùng một lớp với Thầy có khoảng hơn 30 người, nhưng giờ còn ba bốn người. Sau, Thầy lên Ấn Quang học lớp trung đẳng năm thứ hai, cả thầy gần 40 người, giờ chỉ còn lại năm sáu người. Như vậy mới thấy rằng vì thiếu duyên, thiếu phước nên trên đường tu gặp chướng này, chướng nọ. Còn người đủ duyên đủ phước thì tu tới đâu tiến tới đó, làm việc gì dù không có mong cầu nhưng lại được kết quả. Chúng ta tu mà được làm việc cho chúng, đó là niềm vui. Hồi Thầy mới vô chùa, cực khổ trăm bề. Chùa Phật Quang ở quê, những gia đình có hoàn cảnh khó khăn nuôi con không nổi, nên người ta cho chúng tới chùa để có ăn có mặc. Mỗi buổi sáng, Hòa thượng Viện trưởng giao cho Thầy hai mươi mấy đứa nhỏ. Thầy có trách nhiệm dạy học, sắp đặt công tác cho chúng. Ba giờ khuya Thầy thức dậy công phu, rồi xuống làm rẫy để có rau ăn, chứ đâu có tiền mua đồ ăn. Gánh nước tưới rau xong, vô ăn vài ba hột cơm. Ngày đó có được một chén tương tàu, quý như là vàng. Thường ngày toàn ăn nước chấm, hôm nào có ai ở trên chợ đem nước tương xuống cúng, mừng ơi là mừng! Nước chấm Quảng Bình không có đậu nành, chỉ là nước muối thêm ít nếp rang bỏ vô nấu, để y vậy chấm rau ăn. Nước chấm này có mùi hơi khó ăn, nhưng cũng phải ráng ăn. Ăn xong ra phân công tác cho mấy đứa nhỏ nhổ cỏ, tới chín giờ rưỡi thì chúng vô học. Thầy dạy học xong thì ăn cơm trưa, nghỉ một chút. Chiều 2 giờ thức dậy, Thầy với quý thầy quý cô đi học tới 4 giờ nghỉ. Vừa cởi áo tràng ra là đi tưới rẫy, vừa xong là đi sám hối hồng danh, lạy 108 lạy. Sám hối xong xuống học bài, học tới khuya mới nghỉ. Ngày nào cũng vậy. Ở Phật Quang có nhiều buổi tối còn phải đi giã gạo, Thầy trò cùng xuống bếp xay lúa, rồi chày ba chày tư giã tới khuya. Tới mùa lúa chín, huynh đệ đi ra ngoài đồng mót rơm để làm nấm rơm bán chứ đâu có sẵn tiền. Làm đủ thứ công việc, cực khổ lắm. Lúc lên Ấn Quang, sau giờ học phải làm đủ thứ công tác. Ngày xưa gọi vùng này là ngã ba Vườn Lài, chưa có nước máy. Gần chùa có cái giếng công cộng, ban ngày dân chúng lấy nước xài, chùa không lấy được. Chờ tới 9, 10 giờ tối dân chúng nghỉ rồi, mình mới ra gánh nước về xài. Ăn uống buổi sáng chỉ có một đĩa rau luộc với nước tương, nhiều khi gạo ẩm mốc cũng phải ráng nuốt. Thây lên đó học chỉ có hai năm, quý hòa thượng bắt đi giảng, mấy năm trời vừa học vừa đi giảng nên Thầy đau phổi. Ngày nay nhìn vào thấy Thầy như khỏe lắm, nhưng thật ra Thầy cũng đã trải qua một giai đoạn khó khăn cực khổ vô cùng. Nhớ lúc xưa, Sư cụ dạy học. Trước khi giảng bài, Sư cụ bắt mỗi người phải tự nghiên cứu bài học. Sư cụ kêu lên đọc chữ Hán, dịch nghĩa xem đúng sai, sau Sư cụ mới giảng lại. Vậy nên phải dò bài vở trước, nhờ thế mà Thầy siêng tra khảo, đến cuốn tự điển muốn sút gáy. Ban ngày không có thời gian học, nên tối đốt đèn học đến 11, 12 giờ đêm. Xưa đi tu cực khổ như vậy, nhưng người quyết chí tu thì không than, chết sống gì cũng phải ráng, nhờ vậy mà vượt qua tất cả trở ngại. Hiện tại đại chúng tu học, cực nhiều hay ít? Ăn uống có kham khổ không? Ở đây thật sự không có gì khổ cực, không thiếu ăn, không thiếu mặc, cái gì cũng đủ. Chỉ có làm những việc như trồng ít cây trái, rau cải, thay phiên nấu ăn, chăm sóc hoa kiểng để tạo quang cảnh chung quanh chùa... Những việc làm này cũng nhằm phục vụ cho cuộc sống của chính mình mà thôi. Bây giờ, đại chúng tu sướng hơn Thầy trăm phần. Sướng rồi có khi sanh tệ, không cảm thấy hài lòng với cuộc sống của mình. Cực chút xíu chịu đã không nổi, đó là do lập trường và ý chí tu không vững mà ra. Thầy ráng bảo bọc cho chúng có đủ điều kiện, chỉ lo tu và học không phải bận tâm việc gì. Vậy mà làm không tròn thì thật đáng trách! Có người nói, pháp môn đốn giáo là vì hàng đại căn cơ mà nói, còn hàng tiểu căn tiểu trí thì sanh lòng bất tín. Như vậy, ai là đại căn, ai là tiểu căn? Người nào đủ lòng tin là đại căn, ai thiếu lòng tin là tiểu căn. Nghe mà hoan hỷ làm theo thì đó là đại căn, còn nghe mà làm không nổi là tiểu căn. Thế nên, người đã có chủng duyên bây giờ gặp được pháp môn đốn giáo thì phải cố gắng tu, nếu biết rồi mà lỡ quên thì khi có cơ hội sẽ thức tỉnh trở lại, còn người không biết thì sẽ quên tuốt. Như người đã biết trong túi mình có viên ngọc quý mà chưa lấy ra xài, tuy vậy vẫn đỡ hơn kẻ không biết. Chừng nào lấy được viên ngọc quý ra xài thì chừng đó hết khổ đau, không còn bần cùng nữa. Nên nói tu hành là việc lớn. Tại sao nói, tu hành là việc lớn? Bởi danh vọng chỉ có một lúc nào rồi mất, giả sử được làm quan lớn thì một thời gian rồi cũng phải nghỉ, còn sự tu là việc lớn mà thế gian ít người biết đến. Đa phần thế gian chỉ nhìn người tu theo lẽ thường tình, qua hình thức ở chùa gõ mõ tụng kinh, vậy thôi. Người biết tu phải nhìn thấu triệt như thật, thân này là duyên hợp hư giả, nội tâm chỉ là dòng ý tưởng sanh diệt, là bóng dáng của tiền trần. Người biết được việc này là ít có, khó làm. Làm được thì thế gian không thể xem thường. Vì cái họ không biết mà mình biết. Người xưa nói xuất gia là việc làm phi thường. Tại sao? Bởi người thế gian cả đời không biết được ngay thân tứ đại này có cái siêu thoát, vượt ra ngoài vòng sanh tử. Biết được cái cao siêu này thì không còn bị vướng mắc vào những thứ tầm thường, nên nói phi thường. Đã làm việc phi thường mà còn sống tầm thường quá thì chưa xứng với chí hướng mình đi, với ý chí mình làm. Muốn làm việc phi thường thì bản thân phải siêu thoát, khác hẳn người đời. Người đời tóc chải đủ kiểu còn người tu thì cạo bỏ. Người đời nay áo này mai áo nọ, còn người tu chỉ mặc một kiểu áo lam, nâu... Bên ngoài đã phi thường rồi, bên trong có phi thường chưa? Mỗi người cần xét lại! Người thường thì lựa chọn đẹp xấu, còn người thật tu thì ăn mặc không quan trọng. Mặc cốt ấm thân, ăn để khỏe mạnh mà tu tập chứ không vì ngon dở. Khen chê không để dạ, không buồn cũng không vui, đó là phi thường. Người đời gặp việc trái ý liền gây gổ, tranh cãi... tức là tầm thường, Làm sao cho cái đầu, chiếc áo và nội tâm mình phải tương hợp nhau. Nếu cái đầu, chiếc áo phi thường, mà trong nội tâm lại tầm thường thì chưa được trọn vẹn. Tất cả phải nhớ, người xuất gia đã là phi thường thì tâm tư cũng phải phi thường, chứ đừng quá kém cỏi! Mục Lục
|
Tông Môn Cảnh Huấn 3
|