|
Tông Môn Cảnh Huấn 3
54. Thân - tâm quý hay tiện
Kỳ rồi Thầy ra Chơn Không, Phật tử yêu cầu Thầy nói chuyện. Thầy nói đề tài: Phật giáo nhìn lại thân con người là quý hay tiện. Trước hết Thầy nói cái tiện. Phật thấy thân này là nhơ nhớp bất tịnh, đau khổ, thấy thân này là vô thường, duyên hợp hư dối. Như vậy nó là quý hay tiện? - Dạ, tiện. Còn một mặt khác thấy thân này là quý. Như Phật nói “thân này mất rồi muốn được thân khác khó như cây sắt trổ bông”, hoặc “nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn”, được thân người là khó, gặp Phật pháp càng khó hơn. Như vậy cái khó được mà được là quý hay tiện? - Dạ, quý. Đức Phật dùng thí dụ: Như ngoài biển cả có bộng cây trôi nổi, một con rùa mù ở dưới nước trăm năm mới trồi đầu lên một lần tìm bộng cây, chừng nào gặp được? Thật là khó tưởng tượng! Phật nói mất thân này, được thân sau cũng khó như thế. Như vậy là quý hay tiện? Được nó rồi thì sao? Thực chất thì thân này không quý, nhưng có được thân người là cơ duyên tốt để chúng ta làm những điều hay. Điều hay đó là tu hành làm lợi ích chúng sanh. Nếu mình không biết sử dụng như vậy thì thân này coi như đồ bỏ, vô giá trị. Sống, ăn, mặc rồi chờ chết thành thây thúi đưa vô nghĩa địa. Thầy ví dụ như người đi biển bị chìm thuyền, bơi một hồi mệt quá, bất chợt gặp gốc cây mục. Gốc cây đã mục thì có quý không? - Dạ, không. Nhưng khi mình đang sắp chìm, gặp được nó để nương không bị chìm nữa, có quý không? - Dạ, quý. Quý là được khúc cây khỏi chết chìm. Nhưng nếu cứ ôm ghì hoài chờ đến khi nó rã ra là khôn hay dại? Vì vậy khi được gốc cây rồi phải vội vã làm gì? Bơi vào bờ. Nếu xa quá, mình trông chờ có thuyền ghe gần đó làm hiệu cầu cứu, hoặc gần thì ráng bơi vào bờ, thoát chết được tức việc ôm gốc cây là hữu ích. Còn nếu ôm gốc cây chờ nó mục quả thật là ngu si. Thân này cũng như gốc cây mục, đủ thứ nhơ xấu mà cứ gìn giữ, tô điểm, rốt cuộc rồi cũng hoại, đến lúc hoại không ai dám ngó, như vậy có phải khờ dại không? Cho nên được thân rồi phải biết tu để làm lợi ích cho chúng sanh. Nếu biết dùng, thân này là hữu ích quý giá; còn không biết thì thân này chờ tới ngày tan rã giống như ôm gốc cây mục chờ rã rồi chìm, không có nghĩa lý gì. Như vậy theo cái nhìn của người tu Phật, thân là quý hay tiện? Nếu biết dùng thì nó là quý, không biết dùng nó là đồ bỏ. Ai có thân này mà bo bo giữ, tham lam muốn thụ hưởng cho thỏa mãn mọi vật chất thế gian cho tới ngày nó hoại là khờ dại, không biết vươn lên. Được thân này là cơ hội tốt, mình phải cố làm được một cái gì. Khi chúng ta ôm gốc cây mục bơi vào bờ rồi còn cần nó nữa không? Lúc ấy bỏ nó, lên bờ thong thả. Người tu là như vậy đó. Cái nhìn của Phật giáo đầy đủ hai mặt vô ích và hữu ích. Cũng một thân này, nhưng biết dùng nó là hữu ích, còn không biết dùng là vô giá trị, chỉ sống rồi chờ chết không có nghĩa lý gì. Kế phần thân là phần tâm. Điều thứ nhất: Tâm này vô thường hư huyễn, nhưng mình đủ thẩm quyền làm chủ, hướng nó tốt hay xấu theo ý mình, vậy là dễ hay khó? Cái gì quá sức, ngoài tầm tay của mình mới khó, còn tâm mình có thể chuyển được không khó. Như vậy việc làm chủ tâm này nằm trong tầm tay mình. Điều thứ hai: Vọng tưởng và không vọng tưởng, cái nào thật? Cái không vọng tưởng là hằng hữu, bỏ không được. Còn vọng tưởng chợt có chợt không, hư dối không thật, bỏ dễ ợt đâu có gì khó! Tụi con xét thật kỹ xem, cái lặng lẽ thênh thang sáng suốt mới là cái hiện tiền không bao giờ bỏ được, không bao giờ vắng thiếu, bảo bỏ cũng không bỏ được. Còn vọng tưởng chợt có chợt không, có gì thật đâu! Cái không thật bảo bỏ, nói khó là sao? Như vậy có hai lý do tu dễ. Thứ nhất là nó trong tầm tay của mình. Ở bất cứ cảnh nào, ai làm gì thì là còn theo hay không là quyền của mình. Không có người nào dự vào quyền của mình được, dù đó là ông trời, ông Phật. Quyền của mình thì rất dễ, mình có quyền bỏ cái này nhận cái kia. Thứ hai là có cái thật và cái giả, bỏ cái giả còn cái thật, hết sức dễ. Thí như đồ giả và đồ thật ở trước mắt, tụi con chọn cái thật bỏ cái giả, dễ ợt không có gì trở ngại. Còn cái thật mà bảo bỏ mới không được. Như vậy tu dễ hay khó? Nếu lý luận như đây thì thật dễ! Vậy khó là tại cái gì? Khó là vì tập quán muôn đời. Hồi nào tới giờ chấp cái giả quên cái thật của mình, sống với cái giả đã quen nên bỏ không đành, bỏ không được. Nếu mình thức tỉnh, biết cái thật thì bỏ cái giả dễ ợt. Chỉ tại mình quen sống với cái giả, khư khư giữ nó, cũng như trẻ con chơi búp bê, nó là đồ giả mà đi đâu cũng bồng theo, bỏ thì khóc, là tại nó cố chấp, chứ thứ đó là đồ chơi đâu có giá trị gì. Hiểu như vậy mới thấy rằng bỏ cái giả cay đắng là vì còn thấy thật. Đúng ra, cái sẵn có mà bắt tụi con bỏ mới khó. Như tụi con nằm ngủ có tiếng vẫn nghe, ai làm cái “rầm” thức dậy liền, vì cái đó có sẵn ở lỗ tai. Khi có ai đi cũng biết, mở đèn thì thấy… Cái đó sẵn như vậy, kêu bỏ không bỏ được. Còn cái suy nghĩ lăng xăng, tính toán, tưởng như thật nhưng là đồ giả. Nếu nó thật thì lúc nào cũng vậy, đằng này vọng tưởng khi vầy khi khác, chợt có chợt không, rõ ràng là không thật. Cái thật lúc nào cũng có, đó là cái mình giữ, còn cái giả bỏ đi. Vọng tưởng là hư dối, tụi con can đảm bỏ không? Đừng sợ, đừng buồn, đừng tiếc vì mấy cái đó không thật có. Biết nó là đồ giả dối chỉ cười thôi. Đừng sợ nó rồi trợn mắt bậm môi cự lại. Cũng đừng tiếc, nhiều khi có mấy cái hay hôm qua nghĩ không ra, giờ mới nghĩ ra bỏ không đành. Hoặc thấy điều gì vui vui bỏ cũng uổng, như ngồi thiền ở đây nhớ bên Pháp thấy vui bỏ không đành. Nghĩ phàm buồn quá thì nghĩ thánh cho vui nên bị xáo trộn hoài. Tụi con phải nhớ: không tiếc, không sợ, không buồn. Được ba điều này tu sẽ thành công. Khi ngồi thiền vọng khởi liền buông, đừng tiếc, đừng sợ, đừng buồn, rầy nó thì trị được ngay. Hồi xưa, Thầy nghĩ nó thuộc về tâm lý nên khó, nhưng nay Thầy thấy khác. Bây giờ Thầy chỉ cho tụi con cái hằng thấy hằng nghe của mình, muốn bỏ cũng không bỏ được. Dù mình nhắm mắt mà mở đèn vẫn cảm thấy, bịt tai có tiếng động vẫn nghe. Đó là cái không bỏ được. Bỏ không được thì mang nó đi, còn cái nào bỏ được thì bỏ. Nghiêm Dương là đệ tử Triệu Châu, một hôm thưa hỏi: - Một vật chẳng đem đến thì thế nào? Triệu Châu bảo: - Buông xuống đi! Sư thưa: - Đã là một vật chẳng đem đến, buông cái gì? Triệu Châu bảo: - Buông chẳng được thì nên gánh đi. Tụi con thấy cái gì buông được thì buông, còn cái không buông được thì gánh đi. Buông bỏ cái tạp nhạp, lộn xộn, giả dối để được cái ròng rặt chân thật, hằng có hiện tiền. Vậy mà không làm là mê cỡ nào? Bởi vậy, Phật nói chúng sanh mê muội, nói hoài không chịu bỏ. Nếu bỏ được cái lăng xăng lộn xộn, cả ngày còn gì buồn không? Đi tới đi lui tỉnh táo cười hoài. Bảo cuốc cỏ thì cuốc cỏ, bảo cuốc đất thì cuốc đất, không có một niệm nào xen vào, đâu còn buồn phiền trách cứ gì ai. Chỉ vì mấy cái lăng xăng, rối loạn đó mà người này phiền giận người kia. Tụi con bỏ hết mấy thứ đó thì cảnh Niết-bàn tại đây, nếu không bỏ dù đây là cảnh tiên cũng thành phàm. Vậy phàm tục hay Niết-bàn là do chúng ta tự chọn chứ không phải Phật cho, rõ ràng như vậy. Tụi con đủ thẩm quyền, cái nào biết không thật thì bỏ. Bỏ hết các thứ lăng xăng thì cái chân thật hiện tiền, sống trọn vẹn với nó là Niết-bàn. Điều này không có gì khó khăn cũng không lạ lùng, nó rất thực tế. Ví như khi tụi con đang buồn, huynh đệ lại hỏi liền trả lời: “Tôi buồn quá!”. Khi nào tụi con thấy hứng thú, có huynh đệ hỏi, trả lời: “Tôi vui quá!”. Như vậy câu trả lời có đúng không? Ai cũng ngỡ rằng vui buồn là mình. Như vậy mình là gì? Mình là vọng tưởng, phải không? Vì buồn vui thuộc về vọng tưởng. Đang buồn có ai đem tin vui lại liền hết buồn. Đang vui có chuyện buồn đến lập tức hết vui. Như vậy vui buồn là vọng tưởng theo duyên. Nói “tôi buồn”, “tôi vui” tức tụi con nhận vọng tưởng là mình. Nếu vọng tưởng là mình thì mình là thứ hư dối lộn xộn. Vô lý quá! Buồn vui là hiện trạng không thật, đổi thay theo cảnh duyên, còn mình từ thủy đến chung nào có đổi thay. Tâm chân thật không đổi thay, đổi thay là tâm vọng tưởng. Nhận buồn vui là mình, tức nhận vọng tưởng là mình. Tu mà nhận vọng tưởng làm mình thì uổng công tu. Bởi vì nhận vọng tưởng là mình thì chạy theo nó tạo nghiệp, khi nhắm mắt nó dẫn đi trong luân hồi lục đạo. Bây giờ nếu buồn, có ai hỏi nên trả lời “tôi có những vọng tưởng buồn”. Vọng tưởng buồn chứ không phải tôi buồn. Nếu vui, có ai hỏi nên nói “tôi có vọng tưởng vui”. Như vậy đuổi vọng tưởng mới được. Cứ nhận vọng tưởng là mình làm sao đuổi được! Sự tu rất tế nhị, khi nào biết được cái thật thì không bị nghiệp lôi. Vọng tưởng là cái tạo nghiệp, hễ theo nó liền bị nghiệp dẫn. Phải biết rõ nó là vọng tưởng, đừng theo. Bây giờ giả sử ai nói mình “chị ngu như bò”, giận không? Họ nói mình ngu như bò mà mình có thành bò đâu. Mình vẫn tỉnh sáng bình thường. Nói “như bò” là tiếng nói bên ngoài, nó giả không thật, mình vẫn là mình. Khi người ta nói mình ngu như bò thì cười chơi: “Tôi có thành bò bao giờ!”, rồi thôi. Còn nghe “ngu như bò” liền nổi sân muốn đấm đá người ta, vậy là thành bò chưa? Người ta nói bò thì mình thành bò, người ta nói chó mình thành chó cắn người ta. Người tỉnh sáng, nghe nói ngu như bò chỉ cười là xong. Không giận hờn gì hết thì có chuyện gì xảy ra không? Người tu là như vậy, không cố chấp. Giả sử có người nói: “Tôi cho chị ăn bánh xèo, ăn bánh ít... đủ thứ bánh”. Nghe vậy mình cười, vì biết họ nói dóc, đâu có đưa bánh cho ăn. Tại sao họ nói cho ăn, mình biết giả cười, còn nói con chó lại giận? Nói con chó hay nói cho bánh, cả hai đều là lời rỗng. Tại sao cái kia mình cười không chấp, còn bảo con chó lại cho là thật? Cứ vậy mà thiên hạ giận nhau đùng đùng, gây sự đủ thứ. Khổ đau tại cái gì? Tại si mê. Cho nên ráng đừng si mê nữa, đừng chấp vọng tưởng là mình, đừng chấp những lời nói giả dối là thật thì hết khổ. Chúng ta biết vọng tưởng thì vọng tưởng không phải là chúng ta. Tại sao cứ nhận vọng tưởng là mình rồi khổ. Chỉ có bao nhiêu đó dạy hoài mà không tỉnh. Nếu tụi con tỉnh sẽ có hai điều hay: Thứ nhất, không bị đồng hóa với vọng tưởng, với thân hư giả này; thứ hai, không bị đồng hóa với thân này thì khi nhắm mắt mình không bị đau đớn khổ sở, chỉ cười: “Mày muốn làm gì thì làm, cuối cùng mày hoại chứ ta có hoại đâu mà sợ”. Cho nên biết thân này là hiện tượng duyên hợp hư giả, nó hợp rồi tan, còn cái thật của mình không mất. Chết rồi thân này rã chứ tinh thần không rã. Nếu theo nghiệp tức đi trong luân hồi lục đạo, không theo nghiệp là chấm dứt luân hồi. Theo nghiệp gốc từ chấp vọng tưởng, nên nỗ lực tu là để dẹp vọng tưởng. Vọng tưởng hết tức không còn trầm luân sanh tử, gọi là giải thoát. Mục Lục
|
Tông Môn Cảnh Huấn 3
|