|
Kinh Pháp Hoa Giảng Lục - Tập I
Phần 02 Phương Tiện (tt1)
CHÁNH VĂN: Nếu có loài chúng sanh GIẢNG: Ở đây nói về các chúng sanh gặp các Đức Phật trong quá khứ đã tu hành lục độ, tâm được lành dịu thuần thục thì cũng trở về Phật đạo hết. Nghĩa là lục độ đó cũng là phương tiện khác của Phật đạo, cũng từ nơi tánh giác đó nó thúc đẩy, đánh thức mình trở về thôi. Tu lục độ là tu bố thí, trì giới, nhẫn nhục v.v… Như bố thí là buông xả hết cái chấp, bớt hướng về cái ngã này, để sống trở về với tánh giác. Đó cũng là phương tiện để đưa mình tới Phật thừa. CHÁNH VĂN: Các Phật diệt độ rồi GIẢNG: Đây nói về cúng dường tháp miếu Xá-lợi, dựng miếu đá, v.v… cho nên những đứa bé chơi giỡn nhóm cát thành miếu, dần dần công đức đầy đủ cũng thành Phật đạo hết. Vậy có ai bị bỏ sót không? Những đứa bé giỡn chơi nhóm cát thành tháp Phật đó, tại sao nó không làm thứ khác mà làm tháp miếu? Tức mấy đứa bé đó nó cũng có chủng tử này, nó mới hiện ra hình tướng. Như vậy để thấy hạt giống Phật nó hiện ra rồi. Hoặc có những anh chàng say rượu vô chùa lại niệm Phật, tuy say rượu nhưng còn có hạt giống. Những vị như vậy dần dần chứa nhóm công đức đầy đủ cũng đều thành Phật đạo, chỉ là đủ duyên hoặc chưa đủ duyên phát hiện. CHÁNH VĂN: Nếu như người vì Phật GIẢNG: Nghĩa là dùng các hình tượng chạm trổ hoặc những chất kim khí, gỗ hoặc keo, sơn, vải v.v… để làm thinh tượng Phật đó thì cũng đều đầy đủ công đức thành Phật đạo hết. CHÁNH VĂN: Vẽ vời làm tượng Phật GIẢNG: Đây nói lên chạm trổ, vẽ tượng Phật, đó là những cái nhân lành, những hạt giống Phật nó biểu hiện ra, dần dần đầy đủ những công đức rồi cũng đều thành Phật đạo. Đây chú ý, Phật nói rõ: “lần lần chứa đầy đủ công đức mới thành Phật đạo chứ không phải liền khi đó!” Vậy để thấy rõ nhân quả phải được viên mãn mới thành Phật. Mình vẽ hay chạm trổ hình tượng Phật đó là cái nhân Phật biểu hiện ra, lần lần đầy đủ thì quả được viên mãn. Nhân và quả được viên mãn tương ứng với nhau thì thành Phật. Cho thấy, đâu đâu cũng để cho mình chứa nhóm hạt giống Phật, không có chỗ nào bỏ qua. Cho nên mình không chấp cái này bỏ cái kia, hay là mình không chấp vào chút ít công phu của mình cho là đủ. Đây Phật nói rõ phải lần lần chứa những công đức đầy đủ tâm đại bi đó, chứ không phải nghe nói dùng cây bút vẽ hình tượng Phật thôi là đủ rồi, là lầm. Đó chỉ là một cái duyên, một cái nhân chứa nhóm hạt giống Phật của mình, mà còn phải bồi dưỡng những công đức cho được đầy đủ viên mãn thì mới thành tựu quả Phật. CHÁNH VĂN: Nếu người nơi tháp miếu GIẢNG: Đây Phật nói về cúng dường hương hoa, ca nhạc, tức là dùng hoa, hương, ca nhạc để cúng dường cho Phật, cho đến một tiếng khen ngợi nhỏ thôi, cũng đều thành Phật đạo hết. Như vậy, trong mọi sinh hoạt hàng ngày, mình đang sống trong ánh sáng Phật, không rời Phật thật đó một giây phút nào hết, nhưng mình lại ít để ý, tự quên, rồi lang thang chạy theo trần cảnh trong sáu trần để chịu luân chuyển. Ở đây, từ chỗ sống hàng ngày, khéo tin nhận trở về là mình đang đi trên con đường giác ngộ. Vậy, thành Phật không phải là chuyện của ai khác, mà đây là việc bổn phận của mỗi người. Coi như không ai thiếu hết, chỉ mình khéo tin nhận thôi, khéo tin nhận nơi tâm của mình, đó chính là Phật thật. CHÁNH VĂN: Nếu người lòng tán loạn GIẢNG: Những người lòng tán loạn, chỉ dùng một bông cúng dường tượng vẽ, lần lần gặp gỡ các Đức Phật, cũng đều thành tựu được đạo Vô thượng, cho đến hơi cúi đầu, giơ tay thôi, không có chỗ nào thiếu vắng. Đây quý vị đọc thấy rõ: Lần thấy vô lượng Phật Thành đó là thành tự thân thôi chứ không có đạo gì ở bên ngoài mà thành. Đó là mình sống trở về với mình, cho nên những cái này là gợi cho mình sống trở lại thôi. Thành đạo Vô thượng rồi thì độ vô số chúng vào Vô dư Niết-bàn, như củi hết lửa tắt. Củi hết lửa tắt là nghiệp hết, không còn có tạo tác, không còn có chỗ để dẫn mình đi luân hồi, nên gọi là nhập Niết-bàn. Đây nói như củi hết lửa tắt vậy thôi chứ không nói ra sao, có người nghe nói vậy không biết nhập Niết-bàn ra sao, rồi suy nghĩ xem nhập chỗ nào, càng sai thêm. Nhập Niết-bàn là dứt nghiệp sinh tử thôi, ngay đó thì lặng lẽ, chứ không nói nhập thế nào, nhập đi đâu, còn nghĩ tới đi đâu là nghĩ tới sinh tử. CHÁNH VĂN: Nếu người lòng tán loạn GIẢNG: Vào trong tháp xưng Nam-mô Phật thôi cũng không mất nhân đó, như vậy để thấy rõ, không có chỗ nào mà nó thiếu hết. Bao nhiêu phương tiện, bao nhiêu duyên lành đều là gợi lại cái sẵn có nơi mình, mà mình không dám nhận. Do đó, cúng dường hay làm các công đức khác cũng đều để soi lại nó, đó mới là Phật chính. Tóm kết lại đoạn này, là nói tất cả các Đức Phật trong thời quá khứ đã khơi dậy cho những người nghe được pháp này, cuối cùng những người đó cũng thành Phật đạo. Quý vị nghe như vậy còn mình thì sao? Các vị đó từ khen một tiếng nhỏ, chỉ chắp tay, hơi cúi đầu thôi, rốt ráo rồi cũng thành Phật Đạo hết. Mình ở đây có ai thành chưa? Đó là khiến cho mọi người có đủ niềm tin nơi chính mình, ai ai cũng đều có hạt giống Phật đó. Tin nhận và sống trở về cái đó thì ai cũng đủ khả năng để giác ngộ. Nếu giác ngộ mà chưa đầy đủ thì mình từ phàm tiến lên bậc Hiền, rồi dần dần lên bậc Thánh, còn sống trọn vẹn thì thành một vị Phật. Vậy là ai ai cũng đều có những cơ hội để mình gặp gỡ lại ông Phật đó hết, nhưng mình đã bỏ qua rất nhiều cơ hội. Đưa ngón tay trước tượng Phật, thì cái gì thúc đẩy đưa ngón tay lên? Ngay đó, nếu mình nhớ trở lại, thì mình có cơ hội sống trở về rồi. CHÁNH VĂN: Các Thế Tôn vị lai Các Đức Phật Thế Tôn vị lại nói pháp cũng đều đưa người về trí tuệ vô lậu thôi. Nhưng quý vị biết Phật vị lai đó là ai không? - Đó là những vị Phật đang ngồi nghe pháp này. Nếu có người nghe pháp Nếu có người nghe pháp thì không ai mà không thành Phật cả. Vậy quý vị đang nghe pháp đây thì không phải là Phật vị lai sao? Các Phật vốn thệ nguyện Tức muốn cho mọi người đều thể nhập vào Tri kiến Phật thôi. Các Phật đời vị lai Ngài nhấn mạnh lại là tất cả cũng đưa về nhất thừa thôi. Các Phật Lưỡng Túc Tôn GIẢNG: Đây là điểm cần phải chú ý! Lưỡng Túc Tôn là đầy đủ cả hai: phước, trí trang nghiêm, tức hai điều phúc đức và trí tuệ. Một Đức Phật là phải đầy đủ hai cái đó, còn thiếu một là chưa viên mãn. Và các Phật đó: Biết pháp thường không tánh Đó là sao? Giống Phật theo duyên sinh là nhờ duyên mà nó sinh, như vậy thành ra duyên sinh ra giống Phật sao? Ở đây phải hiểu cho thật kỹ vì đây là lý sâu xa! “Giống Phật theo duyên sinh” cho thấy ở đây ai cũng có hạt giống Phật đó hết, nhưng mà theo duyên sinh tức là có duyên được gặp gỡ Phật, Bồ-tát, Tổ, những vị Thiện tri thức nhắc lại, gợi lại mình, mình liền nhớ ra, sực tỉnh lại thì đó gọi là theo duyên sinh, chứ không phải nói cái duyên nó sinh ra hạt giống Phật. Ngài nói các pháp không tánh, là không thật nhiễm hay là tịnh, không thật cố định là phàm hay là Thánh, là chúng sanh hay là Phật. Mê thì gọi chúng sanh, giác thì gọi là Phật, không cố định chúng sanh là chúng sanh thật, không cố định Phật là Phật thật. Nếu Phật cố định là Phật rồi thì mình không mong gì thành Phật được. Như vậy mê cũng không cố định là mê, ngộ thì hết mê. Vậy ngộ cũng không thật ngộ nữa, không thật có cái ngộ riêng. Do đó, nếu mình theo duyên nhiễm thì đi vào sinh tử, đó gọi là mê, còn theo duyên tịnh là trở về Niết-bàn. Vậy ngay nơi tâm thể chính mình, cái đó nó không có nhiễm tịnh, sinh diệt gì. Khi đầy đủ nhân duyên tương ưng thì mình liền giác ngộ hạt giống Phật nơi mình, tức là tánh giác sẵn có chứ không phải cầu bên ngoài. Nó có sẵn đó, khi gặp duyên đầy đủ gợi lại thì mình nhớ lại, nó hiện ra, còn thiếu duyên thì nó ẩn. Câu chuyện Ngài Nam Tuyền cúng trai Mã Tổ: Một hôm Ngài cúng kỵ Mã Tổ, Ngài thử trong chúng bèn hỏi: - Hôm nay cúng trai Mã Tổ, vậy Mã Tổ có đến hay không? Trong chúng không ai đáp được, vì Mã Tổ đã tịch rồi, bây giờ cúng cơm hỏi Ngài có đến không. Nói sao đây? Lúc đó Ngài Lương Giới bước ra thưa rằng: - Đợi có bạn liền đến Ngay đó Ngài Nam Tuyền liền khen: - Chú nhỏ này tuy hậu sinh cũng khéo giũa gọt. Hỏi cúng trai Mã Tổ, Mã Tổ có đến hay không, vậy đó là Mã Tổ gì? - Muốn đến pháp thân chân thật sẵn có nơi mình, nó đâu có hình tướng gì. Cũng giống như Mã Tổ tịch rồi, để chỉ ra cái không hình tướng thì đâu có đến, đâu có đi. Không đến không đi, thì cúng cho ai đây? Cho nên mọi người không ai thấy được ý đó. Ngài Lương Giới hiểu rõ được pháp thân chân thật đó nên Ngài nói “Đợi có bạn liền đến”. Có bạn là đủ duyên, đủ duyên thì liền đến. Pháp thân của mình không có hình tướng gì, nhưng đủ duyên thì nó liền hiện. Mình tu hành, khi công phu tương ứng, hay được các bậc Thiện tri thức đánh thức, gợi lại, đủ duyên mình liền cảm nhận ngay. Cảm nhận tức là đến. Giống như đây Phật nói, các hạt giống Phật theo duyên sinh là như vậy. CHÁNH VĂN: Pháp đó trụ ngôi pháp GIẢNG: Chỗ này mỗi người phải nghiệm cho kỹ, pháp đó là pháp gì mà nó trụ nơi ngôi pháp, mà tướng thế gian thường còn? Nói vậy có trái với hiện tại không? Thế gian là sinh diệt, ở đây Ngài nói “tướng thế gian thường còn!” Muốn thấy được tướng thế gian thường còn này thì phải rõ được pháp đó, mà pháp đó là pháp gì? - Đó là chỉ cho pháp thể vô tướng, hay gọi là Tri kiến Phật. Nó ở ngay ngôi pháp tức là sao? Đây muốn cho mình thấy rõ, sum la vạn tượng đầy rẫy đang sinh diệt lăng xăng chỉ là trên giả tướng thôi, còn trên pháp thể vô tướng nó vẫn hằng bất động. Nghĩa là mình thấy tất cả mà không chen cái ngã vào, thì nó là nó thôi, nên pháp đó trụ ngôi pháp. Đây là cái nào mình trả về cái đó, đừng sinh thêm tâm phân biệt vào đó, như Ngài Vân Môn nói: - Cây gậy chỉ là cây gậy. Còn mình thêm “cây gậy của tôi”, mới sinh chuyện! Cây gậy là cây gậy, có sinh diệt gì đâu. Như vậy nó trụ ngay nơi nó thôi, mình thấy cây gậy thì cái thấy nó trụ nơi cái thấy thôi, đừng có dẫm chân vào cái khác, ngay đó mình rõ được thế gian thường còn. Đây cho thấy ngay nơi tướng sinh diệt hiện tại, nó ngầm đầy đủ cái thể bất sinh bất diệt trong đó, nếu mình dừng được niệm phân biệt thì cảm nhận ngay cái chân thật hiện hữu. Kinh Hoa Nghiêm có bài kệ: Nhất thiết pháp bất sinh Dịch: Tất cả pháp chẳng sinh Nếu thấy tất cả các pháp không sinh diệt, là mình sống trở về với tâm bất sinh bất diệt, thì ngay đó Phật hiện tiền. Còn mình theo tâm sinh diệt để sống, đem tâm sinh diệt nhìn tất cả, thì tất cả đều sinh diệt. Đó là nói về các vị Phật vị lai cũng nhắm thẳng vào việc chính đó. Bây giờ tới Phật hiện tại. CHÁNH VĂN: Hiện tại mười phương Phật GIẢNG: Ở đây cần chú ý, Phật hiện ra đời cũng vì an ổn chúng sanh, nên nói pháp như thế thôi. Các Ngài biết vắng bặt thứ nhất, tức là các Ngài biết, các pháp vốn là vắng bặt, nó bặt hết các nói năng suy nghĩ, vượt ngoài ngôn ngữ phân biệt, không thể bàn luận, cũng không thể dùng cái tình thức này để hiểu được. Nhưng chính vì không thể nói được, nên các Ngài phải dùng phương tiện để diễn bày, sự thật cũng vì một Phật thừa này thôi. Tùy theo tâm hạnh chúng sanh có sai biệt, nên các Ngài dùng phương tiện nói ra những phần sai biệt, hoặc nói quả này quả kia, nhưng cốt để đưa mọi người trở về tánh giác, tức một Phật thừa đây. CHÁNH VĂN: Biết các hạnh chúng sanh GIẢNG: Phật biết chúng sanh có các nghiệp từ quá khứ, đã nghĩ nhớ cái gì, cho nên Ngài theo chỗ nghĩ nhớ đó mà dùng phương tiện để nói, để đánh thức trở lại. Bởi khi có nghĩ nhớ thì sao? Nghĩ nhớ cái này, nghĩ nhớ cái kia tức quên mất cái hiện tiền, nên các Ngài mới phương tiện đánh thức mình trở lại. CHÁNH VĂN: Ta nay cũng như vậy GIẢNG: Phật nói rõ, Ngài dùng sức trí tuệ nên biết rõ tánh dục tức là lòng ham muốn của chúng sanh, mà dùng các phương tiện nói pháp khiến cho họ được vui mừng. Thí dụ như có người chưa chịu thành Phật, chưa chịu giải thoát, chỉ muốn đời sau sinh ra được sung sướng thôi, hoặc được hưởng an vui, Phật nói thành Phật thì làm sao họ chịu, vì vậy Phật nói phải dùng phương tiện bảo họ là ráng tu tạo công đức, tu phước lành, giữ năm giới cho kỹ, thì đời sau sinh ra được tốt đẹp hoặc tu thập thiện đời sau sinh ra được lên cõi trời, khỏi rơi vào các đường dữ. Nói như vậy, đó là Phật cũng phương tiện thôi, để cho họ bắt đầu trở về dần dần, mà chưa thể nói thẳng được thành Phật. CHÁNH VĂN: Xá-lợi-phất nên biết! GIẢNG: Phật dùng mắt Phật xem Chỉ người có trí tuệ, có đạo lực mạnh làm chủ được, thì mới có thể lựa chọn. Cho nên Phật mới sinh lòng đại bi mà giáo hóa để đánh thức mình trở lại. CHÁNH VĂN: Xưa, ta ngồi đạo tràng Giảng: Đây Phật thuật lại, khi Ngài thành đạo, Ngài đi kinh hành, trong hai mươi mốt ngày đó Ngài suy nghĩ: Trí tuệ của ta đặng Ngài thấy rằng, trí tuệ mà Ngài chứng được đó, nó quá vi diệu, khó nói, khó diễn tả được, trong khi đó chúng sanh căn chậm lụt, bị tham vui si mê che lấn nên bị mù. Tham vui mà si là sao? - Tham vui theo ngũ dục, chiều theo cái ngã này, nên không thấy được lẽ thật, vọng chấp vào đó là si, hạng người như vậy, làm sao mà độ đặng đây, do đó Ngài muốn nhập Niết-bàn. CHÁNH VĂN: Bấy giờ các Phạm Vương GIẢNG: Đến đây các vị Trời Đế-thích, Phạm Vương, Tứ Thiên Vương, Trời Đại Tự Tại, cùng các quyến thuộc đó, cùng đến để thỉnh Ngài chuyển pháp luân. CHÁNH VĂN: Ta liền tự suy nghĩ GIẢNG: Ngài thương xót, cho nên phương tiện nói. Như vậy ngay buổi đầu Phật đã thổ lộ cho mình thấy rõ, chỗ chân thật đó vượt ngoài ngôn ngữ, không thể diễn tả được, không thể nói bày được. Nhưng giờ đây, từ chỗ không thể nói đó, mới phương tiện nói ra, vậy có nói ra đều là phương tiện cả, mình chớ chấp theo phương tiện đó, mà phải thấy tột ý ban đầu kìa, ý sâu xa đó! Chỗ này là chỗ Ngài ngầm đánh thức mình, phải thầm nhận ý ngoài lời. CHÁNH VĂN: Lúc ta nghĩ thế đó GIẢNG: Lúc đó thì mười phương các Đức Phật hiện ra khen ngợi Ngài: “Hay thay! Đức Thích Ca, Ngài đã đặng pháp Vô thượng, mà các Đức Phật đều chứng đặng như vậy, pháp đó là pháp tối diệu thứ nhất, nhưng vì các loại chúng sanh mới phân biệt nói ra ba thừa”. Nghĩa là, pháp chứng nghiệm của Ngài đó rất là khó nghĩ bàn được, chỉ tự thầm chứng thôi, nên mình vừa nghĩ đến nó là sai rồi. Bởi vậy trong nhà Thiền hỏi: “Thế nào là đại ý của Phật pháp?” thì bị đánh liền. Muốn hiểu nó tức là biến nó thành ra cái bị hiểu rồi, nên các Ngài chỉ đánh thôi, đánh cho mình bật suy nghĩ để tự thầm nhận, nhưng ở đây vì: CHÁNH VĂN: Trí kém ưa pháp nhỏ GIẢNG: Do mọi người trí còn kém nên ưa pháp nhỏ, ưa pháp nhỏ là sao? Cũng giống như mình nói tu giải thoát thành Phật chưa chịu, phải từ từ có được chút chút gì đó thì mình mới chịu. Ví dụ bảo: “Tu phải tu rốt ráo viên mãn trở về chính mình thôi, không được gì hết” thì thấy cũng hơi buồn. Tu năm ba năm thì chứng được cái quả gì đó, hoặc lên được bức tranh thứ ba thứ tư nào đó thì thấy an ủi, đó là ưa pháp nhỏ. Cho nên, ở đây Ngài nói rằng: Chẳng tự tin thành Phật Bởi vậy các Ngài nói các quả, có quả Thanh Văn, Duyên Giác, Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm v.v… nhưng sự thật chỉ một tâm này thôi, chớ có gì khác. Thí dụ tu chứng Tu-đà-hoàn, thì Tu-đà-hoàn là ai? Tư-đà-hàm là ai? Có phải người nào khác không? Cũng một tâm này thôi, do phiền não của tâm mình nó bớt được bao nhiêu. Nếu bớt được một phần là chứng Tu-đà-hoàn, bớt phần nữa thì chứng Tư-đà-hàm, bớt phần nữa chứng A-na-hàm, còn phiền não hết thì chứng A-la-hán, đó là phương tiện chứ không phải thật. Cho nên Ngài nói: “Dầu lại nói ba thừa Dầu Ngài nói ba thừa cũng chỉ dạy Bồ-tát thôi. CHÁNH VĂN: Xá-lợi-phất nên biết! GIẢNG: Khi Ngài nghe chư Phật nói như vậy, Ngài nghĩ lại, Ngài ra đời trong đời ác trược này, cho nên Ngài cũng phải tùy thuận theo các Đức Phật đó. CHÁNH VĂN: Suy nghĩ việc đó rồi GIẢNG: Từ chỗ không nói đó, Ngài phải dùng phương tiện nói ra, nên mới vì năm Tỳ-kheo ở vườn Lộc Dã mà nói pháp. CHÁNH VĂN: Đó gọi chuyển pháp luân GIẢNG: Từ đây mới có tên Niết-bàn, có tiếng A-la-hán, có tiếng Pháp, Tăng. Vậy Niết-bàn, A-la-hán, Phật, Pháp, Tăng, những tên này là gì? Từ chỗ không tên mà tạm bày có tên. Ban đầu không thể nói, rồi đến vườn Lộc Dã Phật nói pháp Tứ đế, mới có tên Niết-bàn. Nói Tứ đế, khi dứt sạch được phiền não chứng được Niết-bàn có tên A-la-hán, có được năm vị, tức năm vị đó là có Tăng, gồm đủ Phật-Pháp-Tăng - Tam Bảo. Đó cũng là cái tên, mình phải thấy lại các gốc, chứ đừng mắc kẹt trên tên đó. Nghĩa là Phật hay Pháp hay Tăng đó là gốc từ đâu? - Phật là tâm sáng suốt, Pháp là tâm chân chánh, Tăng là tâm thanh tịnh chới gì! Đó là cái chân thật nơi mình. Còn Phật, Pháp, Tăng, tên bên ngoài đó là những tên phương tiện. CHÁNH VĂN: Từ kiếp xa vẫn lại GIẢNG: Do đó, Ngài khen pháp Niết-bàn để giải thoát sinh tử. CHÁNH VĂN: Xá-lợi-phất phải biết! GIẢNG: Đây là Phật thuật lại, Ngài thấy bao nhiêu người chỉ quyết cầu Phật đạo đó, đều dùng lòng cung kính đi đến chỗ Phật nghe pháp phương tiện từ đó tới nay, đến đây là đúng giờ rồi, đến đây tâm tâm được tương ưng. Như vậy, khi đúng thời, đúng lúc, hai bên tương ưng nhau, nói ra gợi lại, thì mình liền cảm thông, cái này không phải do một bậc gì, hay do quyền lực tối cao đem đến cho mình mà nói sẵn nơi mình thôi, nhưng mình chưa nhận được, bởi vì chưa đúng thời, và mình chưa đủ lòng tin thuần thục, cho nên Phật phải chờ đúng giờ là như vậy. CHÁNH VĂN: Xá-lợi-phất phải biết! GIẢNG: Kẻ chấp tướng, kiêu mạn thì không thể tin nổi pháp này. Bởi vì sao? - Kiêu mạn, chấp tướng là muốn đưa nó lên thôi, thấy giả tướng này bám vào nó, đâu tin được chân thật kia, cho nên khó tin. CHÁNH VĂN: Nay ta vui vô úy GIẢNG: Đến đây là đã tự tin mình thành Phật rồi, trước là Thanh Văn nay thành Bồ-tát, vậy quý vị thấy sao? Trước là Thanh Văn tin được rồi thì đến đây là Bồ-tát, như vậy các pháp thường không tánh rõ ràng, cũng như mình ở đây, tin được cái này thì mình chuyển phàm tiến lên Thánh và: Nghìn hai trăm La-hán La-hán này cũng thành Phật hết, đâu phải A-la-hán hoài. CHÁNH VĂN: Như nghi thức nói pháp GIẢNG: Phật kết lại, Ngài cũng tuân theo nghi thức của chư Phật đó mà nói pháp, phương tiện nói thành ba thừa, nhưng rốt lại cũng đưa vào nhất thừa. CHÁNH VĂN: Các Đức Phật ra đời GIẢNG: Ở đây, khiến mình có thêm niềm tin, các Đức Phật đó ra đời khó gặp gỡ rồi, Phật ra đời nói pháp này càng khó hơn, mình nghe được pháp này càng khó hơn nữa. Nghe đây có hai phần, nghe bằng lỗ tai là một, còn nghe thấu qua lỗ tai nữa. Hay nghe được pháp này tức tin nhận sâu xa tự tâm mình đó, thì người đó thật là ít có nữa. CHÁNH VĂN: Thí như hoa linh thoại GIẢNG: Đây là Ngài nhắc nhở, mình được cái duyên lành đó không phải là dễ dàng, cho nên chớ bỏ qua cơ hội, nghe được, tin nhận được thì tin liền. Bởi vì từ vô lượng kiếp mình trầm luân trong sinh tử này, bây giờ chợt nghe được điều này, tức là hạt giống này đang sống dậy, không chịu tin nhận thì đợi gì nữa? Nếu tin nhận được cái này, còn gì vui sướng hơn! Cho nên Ngài nói ít có. CHÁNH VĂN: Người nghe pháp mừng khen GIẢNG: Nghe pháp tin nhận, mừng khen, thì Ngài nói đó là cúng dường ba đời chư Phật rồi, quý vị cúng dường như thế này thì khỏe hơn đi mua đồ cúng dường không? Ở đây Phật muốn nói rằng: Mình cúng dường Phật là tin nhận trở lại mình, nghe lời Phật ứng dụng thực hành sống trở về, đó mới là cúng dường chân thật. Còn cúng dường bằng hương hoa là để mình gieo duyên lành sống trở lại cái này. CHÁNH VĂN: Người đó rất ít có GIẢNG: Phật ân cần dặn đi dặn lại, quả là hết tình vì mình rồi đó. Ngài chỉ dùng đạo Nhất thừa để dạy thôi, chứ không Thanh Văn đệ tử. Như vậy Ngài bác bỏ hàng Thanh Văn đệ tử hay sao? Đây nói Thanh Văn đệ tử đó, cũng là dẫn dắt trở về thôi, thật sự ý Ngài không phải nằm chỗ đó. CHÁNH VĂN: Xá-lợi-phất các ông! GIẢNG: Ngài nhấn mạnh, pháp này là bí yếu của chư Phật, bí yếu chỗ nào? - Đó là chỗ sống của chư Phật, chư Phật đều gìn giữ chỗ đó, gặp người tương ứng thì mới thầm trao cho, đó là chỗ sống ngay nơi nội tâm của mọi người, mà mọi người không hay biết. Nếu sống rời cái này tức là sao? - Tức là mê. Nhưng chỗ đó không phải riêng của chư Phật, mà mọi người ai cũng đều có, mình phải dừng đi cái niệm lăng xăng, tìm cầu bên ngoài, thầm nhận trở lại thôi. Vì đó là chỗ khó diễn tả, cho nên gọi là chỗ bí yếu. Bởi đời ác năm trược Theo các dục nên không thành giác ngộ. Người ác đời sẽ tới Người có lòng tàm quý trong sạch đó, thì quyết chí cầu đến Phật đạo tức cầu đến giác ngộ. Nên vì bọn người ấy Đây phải nhớ, pháp mà các Phật tùy nghi nói ra, người không có học tập tu, thì không hiểu đặng pháp này, vì sao? - Vì pháp này không phải pháp để nói suông trên văn tự, trên ngôn ngữ, mà phải thể nghiệm nơi chính mình mới có thể hiểu được pháp này. CHÁNH VĂN: Các ông đã biết rõ GIẢNG: Rất vui mừng là sao? - Tự biết sẽ thành Phật, chớ không phải phỏng đoán lờ mờ, mà chắc chắn sẽ thành Phật, nói nhiều rồi cũng quy về chỗ tự biết thôi. Đó là điều mà mỗi người phải tự kiểm lại. Từ trước đến nay Phật nói nhiều phương tiện, rồi cũng để nhấn mạnh lại chỗ sống trở về tánh giác của mình, rốt cuộc là tự thầm nhận nơi chính mình. Mà cái thành Phật ở đây là thầm nhận lại cái sẵn có nơi mình thôi, chỗ này mình cảm nhận được rõ ràng, chớ không phải chỗ này do chư Phật, chư Tổ bên ngoài nói, không thể nghiệm được, đó cũng thiếu thực tế. Mà đây mình tự biết được rõ ràng, đó là lẽ thật trăm phần trăm. Mục Lục
|
Kinh Pháp Hoa Giảng Lục - Tập I
|