|
Kinh Pháp Hoa Giảng Lục - Tập II
Phẩm 04 Tín Giải (tt1)
CHÁNH VĂN: Vì có các sự duyên GIẢNG: Ở đây thuật lại ông Trưởng giả mà có thế lực lớn như vậy, nhưng mà tuổi già nhớ con, tìm chưa ra, giờ sắp chết thì không biết giao phó cho ai. Tức là muốn nói lên cái thân của mình đây nó vô thường nó hữu hạn, còn cái tuệ mạng đó, cái Tri kiến Như Lai đó thì vô hạn, nhưng giờ đây nếu không có người tiếp nhận, thì cái tuệ mạng đó nó sẽ ra sao? Ai tiếp nối đây? Tuy nhiên, nói đến chỗ này thì mình cũng phải thấy vượt ngoài lời nói một chút, nếu không thì thấy cái tuệ mạng của Phật thì nó có đứt đoạn hay sao? Đây muốn đánh thức mọi người nhớ lại tuệ mạng Phật nó luôn luôn có đó, mình phải ráng tiếp nối đừng để cho gián đoạn. Nếu mà tuệ mạng Phật có đoạn dứt thì nó thuộc về cái sanh diệt rồi. Cho nên xưa Thiền sư Động Sơn Lương Giới khi sắp tịch, Ngài sai vị Sa-di đến báo tin cho Vân Cư, là vị đệ tử được nối pháp của Ngài, và dặn vị Sa-di rằng: - Ông đến đó báo tin, nhưng khi Vân Cư có hỏi ông là “Hoà thượng có an vui chăng?” Thì ông nói rằng: “Con đường Vân Nham sắp dứt”. Nhưng nói xong ông phải đứng xa ra, nếu đứng gần, coi chừng ông sẽ bị đánh đó. Ông Sa-di vâng lời đi đến báo tin cho Ngài Vân Cư, thì quả nhiên nói chưa dứt lời liền bị đập một gậy. Đây muốn nói rằng Ngài Động Sơn sắp tịch nên mới nói: “Con đường Vân Nham sắp dứt”, nhưng tuệ mạng kia dứt được sao? Nên dặn ông Sa-di nói xong phải đứng xa, nhưng chưa kịp thì bị ăn gậy liền. Để thấy rằng, nói tuệ mạng mà có đứt đoạn chỉ là phương tiện nói thôi, chứ sự thật tuệ mạng Phật thì không có dứt, nhưng chỉ dứt là do mình mê, vì mê nên giống như có dứt, nếu nhớ lại thì luôn luôn nó sẵn đó chưa từng dứt bao giờ. CHÁNH VĂN: Bấy giờ gã cùng tử GIẢNG: Đây là nói lên tình trạng nghèo cùng khốn khổ của người cùng tử lang thang xin ăn xứ này xứ nọ, lúc no lúc đói. Là nói lên tình trạng của mình đó, duyên theo các trần cảnh bên ngoài, vừa thọ sanh đây lại đến kia, chỗ này chỗ nọ, lúc khổ, lúc vui, lúc được, lúc mất, lúc đói, lúc no, xin được chút ít lại thấy thiếu nữa rồi cũng đi xin. CHÁNH VĂN: Lần lựa đi trải qua GIẢNG: Nói lên gã cùng tử lần lần đến nhà cha ở, rồi đứng trước cửa nhà cha nữa. Tức là dụ cho mình tu hành dần dần nó gần với cái giác thể, nhưng mà chưa dám nhận. CHÁNH VĂN: Lúc ấy ông Trưởng giả GIẢNG: Đây là chỉ cùng tử thấy ông Trưởng giả giàu có và sang trọng quá cho nên sợ. Tức là chỉ cho giác thể là tánh giác đó với tâm phàm phu của mình, mình nghe tới đó thì mình tưởng đâu là cái đó nó cao vút, nó thật là khó hiểu khó biết, nó cao xa cho nên sợ. Do đó có nhiều người tu mà nghe nói tu đến giác ngộ, thì không dám phát nguyện tới đó, nhất là còn nghe nói thời này là thời mạt pháp thì một ngàn người tu không có một người chứng, càng thấy xa vời với mình hơn. Cho nên ở đây thấy ông cha sang giàu quá đâm ra sợ. Thì cũng như cái tâm thức của mình nó cạn hẹp, sống với tâm thức cạn hẹp này, nên nghe tới chỗ đó mình thấy nó xa xôi, bởi vì nó ngoài sức tưởng tượng của mình. Nhưng có một điều nếu nghe mà biết được điều này thì sao? Nghe biết có nó thì cũng có chủng tử trong đó rồi, tức có giống Phật trong đó. Có nhiều vị đọc kinh Pháp Hoa, rồi lấy tâm phàm của mình suy, rồi chê trách nữa tức đem tâm phàm của mình hiểu qua tâm Phật, thì tâm Phật đó cũng thành phàm luôn. Chớ sự thật nếu mình chịu quên cái tâm hạn hẹp này mà nhìn với tâm rộng lớn, thì thấy Phật ở sát bên mình. Cho nên các Tổ thường thường là phá chấp. Ví dụ như hỏi: “Phật là gì?” thì đáp: “chính ông đó”, hoặc “ba cân gai” hay “que cứt khô”. Tức là phá chấp cái hiểu theo tâm phân biệt của mình đó, dừng được tâm đó thì Phật gần gũi kế bên. Ở đây thuật lại gã cùng tử thấy cha sang như vậy sợ bỏ chạy. CHÁNH VĂN: Lại thầm tự nghĩ rằng GIẢNG: Tới nhà cha rồi mà không dám vào, chạy đi chỗ khác làm thuê, làm mướn ăn từng ngày, nhưng mà như vậy thì lại chịu. Đó là ý nói dù cho đối diện trước mắt, nhưng còn cái tâm phân biệt này, nên cũng không nhận ra được, gọi là đối diện mà lầm qua, làm thuê mướn được chút ít gì đó thì tự vui. CHÁNH VĂN: Lúc bấy giờ Trưởng giả GIẢNG: Đây thuật lại ông Trưởng giả ngồi trên toà thấy con thì biết, mới sai người sứ chạy theo bắt, nhưng mà người cùng tử lại sợ, khi người sứ đó đến bắt thì chết giấc ngã trên đất. Như vậy để cho thấy Phật biết chắc: “Tất cả mọi chúng sanh đều có tánh Phật”, xác định rõ ràng coi như một trăm phần trăm đó. Nghĩa là tánh giác đó nó luôn luôn thầm theo sát bên mình, không có một phút giây nào nó thiếu vắng, nhưng có một điều là không thể gượng bắt cho mình nhận được, mà chỉ khi nào tâm của mình gạn lọc bớt những mê lầm cho nó cạn mỏng bớt, rồi đúng thời tiết thì nó mới khế hợp. Cho nên, ở đây ông Trưởng giả kêu kẻ sứ đuổi theo bắt đem về, nhưng gã cùng tử chết giấc thôi chớ không thể nhận. Đó là muốn cho nó mau hợp nhưng cũng không hợp được, không thể nôn nóng được. Bởi vì muốn là muốn một điều, nhưng những cái lăng xăng này nó không chịu dừng thì sao? Chỉ biết một điều là khéo làm cho những lăng xăng đó dừng, lúc đó không muốn hợp nó vẫn hợp như thường, còn bây giờ muốn cách mấy nó cũng không hợp được vì còn nhiều thứ quá. CHÁNH VĂN: Trưởng giả biết con mình Tức là biết chắc là có đó rồi, nhưng phải đợi thời, chứ còn chưa chịu tin được. Ông liền dùng phương tiện GIẢNG: Đoạn này nói ông Trưởng giả dùng phương tiện sai hai người một mắt thân lùn xấu theo dụ về để mà thuê hốt phân, thì gã đó lại chịu, trong khi đó bảo đến đây giao gia tài này cho thì không chịu, thấy tâm trạng mình thiệt là đau làm sao! Đây gọi là tạm ẩn cái thể nhất như đó không thể nói thẳng được, bây giờ phải phương tiện nói từ từ, thôi bảo các ông về đây tu hành gạn lọc những tâm tham, sân, si phiền não này cho nó bớt đi, đó gọi là quét dọn phân nhơ thì chịu liền. Còn nếu mà ngay đây bảo nhận cái chân thật nhất như đó, nó sẵn đây thôi khỏi phải làm gì hết khó chịu nổi. CHÁNH VĂN: Gã cùng tử nghe rồi GIẢNG: Gã cùng tử được thuê hốt phân trả giá cao thì chịu, vui mừng theo sứ về dọn dẹp nhà cửa, đó là chỉ cho tâm trạng của mình là dọn dẹp những tâm phân biệt kia đây, lấy bỏ, hơn-thua vậy đó. Nhưng trong khi lo làm như vậy thì ông Trưởng giả thường thường đứng trong cửa sổ nhìn thấy con mình thiệt là tội, sao mà nó lại đành chịu làm như vậy, đó là đang nhắc nhở chúng ta cái gì? Ông Trưởng giả luôn luôn đứng cửa sổ nhìn mình mà mình thì không ngó ngàng tới, tức là chỉ cho Tri kiến Phật luôn luôn hiện rõ ở sáu căn này, luôn luôn đứng dòm đó thôi, mà mình không nhớ tới nó, chỉ là dọn dẹp những phân dơ thôi. Tức ngầm nói lên trong lúc mình đang còn mê là còn tâm phân biệt này, mà tánh giác vẫn ngầm có ở trong đây không mất. Do đó, trong nhà Thiền có câu nói: "Vọng tâm mà không chỗ nơi, thì tức là Bồ-đề". Bây giờ mình xét cho thấu vọng tâm mà không chỗ nơi thì ngay đó Bồ-đề. Còn mình thường thường thì thấy vọng tâm nó có chỗ nơi không? Mình nghe nói vọng thì lo cố mà dẹp vọng, nhưng sự thật nếu xét cho thật kỹ càng, thì vọng đó ở đâu? Nằm ở chỗ nào moi ra thử coi? Nếu thật sự cái vọng đó có chỗ nơi thì mình khỏi cần phải tu. Bởi vì nó có chỗ nơi thì không gọi là vọng, giống như ngủ mình chiêm bao, thì gốc gác nó từ chỗ nào? Không có gốc gác gì như vậy mới gọi là chiêm bao. Đây cũng vậy cái vọng không có chỗ nơi nhưng lâu lâu bất chợt nó tới, thì rõ ràng nó là không thật. Mà thấy được nó không thật thì ngay đó là Bồ-đề. Như vậy trong lúc mình mê, trong lúc vọng phân biệt đó, thì tánh giác vẫn có sẵn trong đó không thiếu, nhưng mà không chịu nhận. Nên ông Trưởng giả thấy vậy mới thương, rồi ông cởi hết áo tốt, trân bảo, mặc y phục cũ rách, tay cầm đồ hốt phân lần lần đến gần nó thì nó mới chịu, đó là muốn nói lên cái gì? Dụ cho thân Như Lai nó ngầm hiện trong thân nhơ nhớp của mình. Để cho thấy nó gần gũi mình, cho mình dễ nhận, dễ tu, mà sự thật nó là như vậy đó. Nghĩa là ngay trong mỗi chúng sanh đều có sẵn ông Phật, tức là có Phật tánh đó. Ông Trưởng giả phương tiện lần gần gũi, bảo rằng: “Ráng siêng làm, trả thêm giá cho ngươi” là sao? Tức là nói lên nó có sẵn nơi mình đó, nhưng mình cũng phải ráng tu chứ không phải nói sẵn như vậy rồi thôi. Rồi cho dầu xoa chân, cặn kẽ nói: “Nên siêng làm việc, ở đây làm đừng đi đâu hết”, rồi lại dịu dàng bảo: “Coi như con của ta vậy thôi”, coi như con của ta là sao? Tức là chỉ mới giống vậy thôi chứ chưa có xác nhận, và nói lên ngay chỗ bình thường hằng ngày của mình đó có đầy đủ tánh giác, tức là đầy đủ Như Lai diệu giác trong đó, nhưng mà mình còn nhiều cái gọi là rác rến ở trong này, nên phải lo dọn dẹp những rác rến này thì mới nhận được cái kia. CHÁNH VĂN: Ông Trưởng giả có trí GIẢNG: Đây là ông Trưởng giả khéo léo bây giờ cho nó lần lần ra vào coi sóc việc trong nhà, trước kia nhận là con, mà chỉ giống như là con vậy thôi chứ chưa xác nhận, bây giờ cho ra vào từ từ để cho quen việc tức là sao? Đây là phương tiện để cho mình dần dần sống trong đó, sống cho nó quen dần, quen dần lần lần mình có sức làm chủ, rồi chỉ ra một cái thì mới chịu nhận. Người con này khi được như vậy, nhưng vẫn ở ngoài cửa, vẫn nương náu am tranh, nghĩ mình phận nghèo hèn, những vật đó không phải là vật của mình, cũng chưa dám nhận.Tức là nói lên vẫn còn những tập khí cũ đó, còn những tập khí của chúng sanh đó. Nghĩa là nhận thì nhận đó, nhưng những tập khí cũ vẫn còn đó chưa thật sạch. CHÁNH VĂN: Cha biết lòng con mình GIẢNG: Giờ mới xác nhận. Đến đây là người cha biết rằng con lần lần nó đã có tâm rộng lớn bây giờ nó biết chê tâm ngày trước rồi, tức là nó đã quên những tập khí cũ đó, nó thấy rằng “Xưa sao mình ngu quá, mình lầm như vậy đó”, quên được tâm đó rồi, mở được tâm rộng lớn, thì ông cha liền nhóm họp thân quyến, Quốc vương, đại thần lại “Xác nhận chính nó là con ta”, xác nhận rõ ràng, chứng minh giữa mọi người, tức là sao? Tức là cái chân thật đó nó hiện tiền không còn nghi ngờ nữa, đến lúc này mình mới chuyển thức thành trí, sống trong trí, đến đây mình đủ cái sức đảm nhận được cái gia sản không còn sợ mất nữa. Đến đây mới gọi là trâu trắng sờ sờ đuổi không đi, bây giờ khỏi cần phải nhớ, dù muốn quên nó cũng không quên nữa. Còn mình bây giờ cố nhớ thì nó lại quên. Người con bây giờ nhớ xưa nghèo, ý chí của mình kém hèn, nay được của báu này thật là vui mừng chưa từng có. Tức là đến đây mới bặt chỗ nghĩ tưởng, lăng xăng kia đây. Tự thầm nhận thôi. CHÁNH VĂN: Đức Phật cũng như thế GIẢNG: Bây giờ Ngài mới hợp pháp lại, Đức Phật cũng như vậy đó, biết mình ưa các pháp nhỏ, tâm còn phân biệt, cho nên chưa vội nói tới thành Phật, tức biết có nhưng mà chưa vội nói. Đối với trong nhà Thiền, nếu mà tâm chưa quyết chí, chưa hết lòng thì chưa có nói hết, bởi vì nhiều khi nói hết thì nhận lầm. Có câu chuyện ông Cư sĩ Trạm Nhiên, ông này là Quân sư của nhà Nguyên, ông có tự thuật nói rằng: “Ban đầu thì ông có chỗ sở đắc đối với trong những Ngữ lục”, tức là đọc trong Ngữ lục của Tổ, ông có những cái sở đắc. Cho nên, ông mới đem trình hỏi với Thầy Thánh An, Thầy Thánh An cũng hứa khả: “Ừ!”, thì coi như cũng có chỗ được, nhưng mà qua một thời gian sau, trải qua nhiều hoạn nạn trên đường quan, ông thấy như không còn ham muốn gì nữa, nên tâm công danh gác qua một bên đi, bây giờ mới thật sự gấp cầu nơi Tổ đạo. Nghĩa là bây giờ mới thật sự hết lòng để mà tìm hiểu đạo. Bấy giờ, ông mới đem những việc trước kia hỏi lại với Ngài Thánh An. Ngài Thánh An mới kiểm xét trở lại và bảo rằng: - Chỗ thấy của ông chưa thật đúng. Thì ông mới sanh nghi ngờ “Sao trước kia thì hứa khả, còn bây giờ nói chưa thật đúng?” Khi đó, Ngài Thánh An thong thả mới bảo: - Bởi vì trước kia vị trí của ông đang ở vào trong yếu địa (yếu địa là ông đang ở chỗ quan trọng), ông quan mà lại trong nhà Nho nữa (hiểu thì hiểu vậy nhưng chưa thật sự hết lòng). Người nhà Nho phần nhiều không có tin sách Phật, chỉ tìm tòi góp nhặt những cái ngữ lục để mà giúp thêm cho sự bàn bạc thôi (tức là đọc đó để cho có vốn đi nói thôi) vì thế tôi chẳng có hết lòng nhồi đập gạn luyện để cho đến chỗ tột. Còn giờ đây xét cái tâm của ông quả là vì cái việc bổn phận mà hỏi tôi, thì tôi đâu thể mà theo cái lỗi trước, chẳng có vì đó mà nói thẳng ư? Tức lúc đầu hỏi Ngài Thánh An thì Ngài hứa khả, nhưng mà về sau khi hỏi lại, thì Ngài Thánh An nói chưa phải, nên ông nghi: “Tại sao trước thì nhận còn sau thì không nhận?” thì Ngài Thánh An mới bảo: - Bởi vì trước kia ông còn ở trong địa vị gọi là quan trọng, rồi tâm cầu học đạo cũng chưa thật sự thiết tha lắm. Giờ đây ông đã hết lòng vì đạo, cho nên bây giờ đây tôi mới nói thẳng. Cho thấy khi chưa hết lòng, chưa nhận được tới chỗ đó nên Ngài chưa nói, chứ không phải Ngài giấu, phải đợi cái tâm mình nó thuần thục đến chỗ đó rồi thì các Ngài mới nói. CHÁNH VĂN: Đức Phật bảo chúng con GIẢNG: Đoạn này là Ngài thuật lại: Đức Phật bảo các Ngài nói pháp tối thượng cho các vị khác tu tập được chứng thành Phật quả, nhưng chính các Ngài lại không có lòng mong cầu, nghĩa là dạy cho các vị Bồ-tát thôi. CHÁNH VĂN: Các hàng Phật tử thảy GIẢNG: Đây nói rõ, dù cho các Ngài nhân nơi Phật dạy, rồi nói cho các vị Bồ-tát, nhưng mà các Ngài không có mong cầu đến chỗ đó, khéo nói nhưng mà không ham chỗ này. Muốn nhắc, chỗ đó dù nói khéo cũng không nói đến chỗ này, mà chỗ này phải sống, phải thầm nhận nơi chính mình, chớ không phải là nói đến được, đó là tinh thần đặc biệt trong nhà Thiền, cũng là trong Phật pháp. Phải chứng nghiệm mới cảm nhận được, không phải là dùng ngôn ngữ lý luận mà nói đến được, nếu mà dùng ngôn ngữ lý luận được thì cần phải tu chi cho mệt. Rồi những vị học giả, họ thông minh lanh lợi hơn mình biết bao nhiêu, nếu nghiên cứu được thì họ nghiên cứu tới rồi. Nhưng sự thật đối với Phật pháp thì không thể có, dù cho họ thông minh cách mấy nữa cũng đứng ngoài cửa, nếu không có tu tập. Đây nhắc nhở là phải sống. CHÁNH VĂN: Như gã cùng tử kia GIẢNG: Thuật lại các Ngài nói cho các vị Bồ-tát, nhưng mình chưa có nhận, cũng như gã cùng tử gần bên cha, lãnh biết các vật, nhưng lòng cũng không mong cầu. Tức là những tập khí thấp hèn đó chưa sạch, tuy được gần gũi đó, thấy mình có chân thật đó, nhưng mà tập khí cũ đó còn chưa hết. CHÁNH VĂN: Chúng con diệt bề trong GIẢNG: Thuật lại tâm trạng của các Ngài lo việc bề trong, tức là sao? Tức là tự mình sạch những phiền não của mình thôi, còn chuyện giáo hóa chúng sanh tịnh cõi Phật đó không thích. Trước tiên cần tự mình giải thoát xong, nên nói các vị Thanh Văn đó thì sạch phiền não, nhưng trần sa hoặc, vô minh hoặc chưa hết, sạch phiền não gọi là sạch kiến hoặc, tư hoặc. * Kiến hoặc là những kiến chấp sai lầm. * Tư hoặc là những cái suy nghĩ, những tư duy sai lầm. Tức là sạch hết phiền não nhưng đối với trần sa hoặc là thấy chúng sanh nhiều vô lượng, là còn thấy chúng sanh thật, nên chưa có tâm dám phát nguyện đời đời kiếp kiếp giáo hóa chúng sanh. Còn các vị Bồ-tát phá trần sa hoặc thì thấy chúng sanh vốn không thật là chúng sanh, dù cho có vô lượng chúng sanh đi nữa thì những chúng sanh đó vốn tự là Niết-bàn rồi, thành ra các Ngài sẵn sàng giáo hoá hết, giáo hoá nhưng không có gì giáo hoá, chỉ nhắc họ thôi, nên không sợ giáo hoá không hết. Còn sợ giáo hoá không hết là còn thấy có chúng sanh thật trong đó, cho nên còn cái hoặc. Ở đây, sạch hết bên trong thì đạt được cái thể, còn thiếu dụng. Cho nên, tịnh cõi Phật, cùng giáo hóa chúng sanh thì chưa có ham. CHÁNH VĂN: Như thế là vì sao? GIẢNG: Đây các Ngài thấy rõ ràng tất cả các pháp đều là không, lặng, không sanh, không diệt, không lớn không nhỏ, vì vậy không còn muốn gì thêm nữa, nhưng cái đó chỉ có một bên lặng thôi, tức là chỉ có một bên thể. Còn quên là trong lặng đó đầy đủ cái diệu dụng trong đó. Trong nhà Thiền có câu: "Nước chết không chứa được rồng". Nghĩa là nước chết chỉ cho nước đứng, nó không chứa được rồng. Nếu là rồng là phải tung bay trên mây, làm mây làm mưa, cũng như vậy, nếu mình chìm trong chỗ lặng đó, thì chưa được tròn đầy, phải ở trong cái lặng đó mà sống dậy, trong cái lặng đó mà mình ứng dụng khắp trong mọi sai biệt, gọi là đi trong sanh tử, mà vắng lặng, đó mới là Phật khen ngợi. CHÁNH VĂN: Chúng con đã từ lâu GIẢNG: Đối với trí Phật không ưa thích, đối với pháp thì cho đó là rốt ráo rồi, được như vậy là đủ rồi, hết còn mong gì nữa. Nhưng mà thấy ngoài trí mình còn có trí Phật, là còn có gì khác nữa, gọi là chưa rốt ráo. CHÁNH VĂN: Chúng con từ lâu nay GIẢNG: Đây nói lên tâm trạng các Ngài, giải thoát ra ba cõi chứng được Niết-bàn đó đủ rồi, coi như vậy là báo được ân Phật rồi. Tức là ngay trong thân này, chứng được hữu dư y Niết-bàn, là Niết-bàn ngay còn đang mang thân này, nhưng thân này các Ngài gọi là thân rốt sau thôi, bỏ thân này là vào vô dư y Niết-bàn. CHÁNH VĂN: Chúng con dầu lại ví GIẢNG: Đây là nói nhưng mà nói lại thôi, theo trí Phật mà nói, chứ mình chưa tự nhận sống trong đó. CHÁNH VĂN: Đấng Đạo sư buông bỏ GIẢNG: Đây nói lên các Ngài dạy cho các vị Bồ-tát, nhưng mình không có lòng mong muốn, cho nên Đức Phật biết được tâm đó, mà chưa vội nói liền. Cũng như ông Trưởng giả biết con có trí kém hèn, cho nên phương tiện điều phục nó lần lần, chưa có giao phó của cải liền, đợi khi nó đầy đủ sức làm chủ rồi, thì mới giao phó. Tức là trước dùng phương tiện để dạy mình bỏ những tập khí, quên được tâm hẹp hòi sai biệt, rồi từ đó nhận ra cái tâm thể thênh thang rộng lớn, tâm chân thật sẵn nơi mình, sống được trong đó, từ đó mới có thể đảm nhận được gia tài này. CHÁNH VĂN: Thế Tôn! Chúng con nay GIẢNG: Tức đây muốn nói rằng, chỗ này không phải tu hành mà được, cũng không phải không tu hành mà được. Nó sẵn nên không phải do tu hành mà được, nhưng nó sẵn mà mình chưa thật sự sống được với nó, còn những tâm mê lầm nên phải tu hành. Tu hành đây là gạn lọc cái mê chấp thôi, mà nhận rõ cái sẵn có. Cho nên các Ngài nói rằng bấy lâu nay, những công phu chứng quả, tuệ nhãn, gìn giữ tịnh giới của Phật chế, hôm nay mới thật sự được hưởng cái quả đó. Trong nhà Thiền, có câu chuyện của Ngài Động Sơn ở chỗ Ngài Vân Nham, khi Ngài ngộ được câu: "Vô tình thuyết pháp" thì Ngài mới thưa với Ngài Vân Nham là: - Con còn tập khí dư thừa chưa hết. Ngài Vân Nham bảo: - Ông từng làm việc gì? Động Sơn thưa: - Thánh Đế cũng chẳng làm. Thánh Đế tức là Thánh Đế đệ nhất nghĩa, Thánh chỗ tột lý đó cũng không làm nữa. Ngài Vân Nham hỏi: - Được hoan hỷ chưa? Động Sơn thưa: - Hoan hỷ thì chẳng không, nhưng giống như trong đống rác mà lượm được hòn ngọc sáng. Tức là sao? Hoan hỷ thì chẳng phải không tức là nhận được cái đó thì rất là vui mừng rồi, nhưng mà giống như trong đống rác mà lượm được hòn ngọc sáng thì sao? Hòn ngọc mà lượm trong đống rác thì xài được chưa? Nhận được thì vui rồi đó, nhưng còn phải lau chùi mới dùng được, mà dùng được là mình có đạo lực làm chủ, khi mình dùng được thì cái sức đó nó giúp mình thắng được phiền não. CHÁNH VĂN: Trong pháp của Pháp vương GIẢNG: Tức ở trong pháp Phật tu hành phạm hạnh rồi, ngày nay mới được quả báo vô thượng này. CHÁNH VĂN: Chúng con ngày hôm nay GIẢNG: Bây giờ đây mới thật là Thanh Văn, mới thật là A-la-hán, chỗ này thì mình phải nhận cho thật kỹ. Nếu nhận là Thanh Văn mà chưa biết được việc này thì chưa phải là Thanh Văn thật, cũng như A-la-hán mà không tin việc này thì ở đây chưa phải thật. Đây là điểm nhắc nhở cho người sau, nếu ai tự xưng mình là A-la-hán thì phải coi chừng lại đừng vội mà nghe liền. CHÁNH VĂN: Ơn lớn của Thế Tôn GIẢNG: Nếu thấy được chỗ này rồi, mới thấy ân Phật to lớn vô cùng. Một cái lẽ thật mà mình từ vô lượng kiếp đến bây giờ đã mê lầm, nay được chỉ ra, nhận được hết đời lang thang trong luân hồi này, thì còn cái ân gì lớn nữa, thế gian này còn gì so sánh được? Cho nên đến đây thì thấy được ân Phật quá lớn. CHÁNH VĂN: Tay lẫn chân cung cấp GIẢNG: Đây tán thán ân Phật khó có thể nói hết, không thể dùng lời nói mà diễn tả hết, tức là muốn nói lên cái gì? Đó là điều có ý sâu trong đó. Tức phải là người sống đến chỗ này thì mới thấy ân Phật lớn đó, chớ còn không thể nói năng được, dù cho mình đem thân tâm hữu hạn này, đầu đội Phật, vai cõng vác, những vật cúng dường, cũng là vật hữu hạn, đem hữu hạn này đền đáp ân lớn đó thì không thể đền đáp được; mà muốn đền đáp được chỗ đó thì phải làm thế nào? Tức là muốn đền đáp chỗ không ngằn mé, thì phải đem tâm không ngằn mé để đền đáp. Cái tâm không ngằn mé đó thì phải sao? Thì phải tu, phải sống, phải sáng được chỗ đó, cho nên chỗ này không phải là chỗ ngôn ngữ diễn tả được. CHÁNH VĂN: Các Phật thật ít có GIẢNG: Nghĩa là các Đức Phật đó ít có, vô lượng bất khả tư nghì, tức không thể diễn tả được hết, cái sức thần thông đó cũng là lớn, mà vì kẻ hạ liệt, nên nhẫn việc cao thượng đó, hiện lấy tướng phàm phu, tức là muốn nói lên cái gì? Chỗ này là phải nhận kỹ, chớ không thì dễ lầm. Tại sao Ngài phải hiện tướng phàm phu này? Trong khi đó Ngài đủ hết những cái bất khả tư nghì kia. Đó là muốn nói lên phải thấy suốt qua sắc thân của Phật để thấu qua chỗ chân thật kia. Nghĩa là Phật thật không phải chỉ có bấy nhiêu tướng sanh diệt đó thôi, mà trong đó còn có những cái vượt ngoài suy nghĩ phân biệt của mình, cho nên gọi là bất khả tư nghì, ngay cái sanh diệt mà chẳng phải sanh diệt, thấy như vậy mới thấy Phật thật, chớ không thì thấy Phật tu khổ hạnh bao nhiêu năm thành đạo dưới cội Bồ-đề, rốt cuộc rồi cũng nhập Niết-bàn như ai. Vì vậy, có người hiểu lầm Phật, nói Phật cũng chết, rồi tu cũng chết, mà thành đạo cũng chết, mình không tu cũng chết, vậy tu làm gì? Hiểu kiểu đó rồi chê bai Phật. Đó là đem tâm phàm phu của mình so lường đến cái cảnh giới Phật. Thấy Phật qua tướng sanh diệt, chứ không thấy Phật thật kia. Thành đạo là thành cái thân này hay sao? Mà thành đạo là thành nơi tâm thể bất sanh bất diệt kia, cái đó mới là cái thành đạo của Ngài, cái đó làm sao mình thấy được. Con mắt thường của phàm phu không thể thấy được cái đó, không thấy được cho nên nói Phật cuối cùng cũng chết. Thấy Phật chết đó là thấy Phật hóa thân thôi, chưa thấy được Phật thật. CHÁNH VĂN: Các Phật ở nơi pháp GIẢNG: Đây Đức Phật đầy đủ sức tự tại đó, cho nên biết mọi căn cơ chúng sanh những cái nó ưa muốn gì, nên nói có sai biệt, đó là tuỳ theo phương tiện cơ nghi để giáo hóa. Hiểu như vậy thì đây có ý sâu ngầm nhắc cho chúng ta nhớ điều gì? Là mình bây giờ muốn hiểu được Phật là phải thấy vượt qua những phương tiện sai biệt đó, chớ không nên kẹt trên những phương tiện sai biệt. Trên cái nghi thức giáo hoá đó là phương tiện, có lập bày ra, mà có lập ra thì có phá, cái gì có lập có phá là chưa phải thật, phải nhớ điều đó! Phải thấy thấu qua chỗ lập bày đó. Thiền sư Lâm Tế có dạy: - Khổ thay, những kẻ trọc mù, không có mắt bám vào chiếc áo của ta mặc, rồi nhận lấy xanh, vàng, đỏ, trắng, ta liền cởi quách đi vào trong cảnh thanh tịnh. Người học vừa thấy liền sanh thích thú, ta lại cởi luôn, người học mới điên loạn mờ mịt phát cuồng chạy bảo là: “Ta không có áo”, ta liền nói với hắn: "Ngươi biết ta mặc áo người chăng?". Chợt xoay đầu lại liền nhận ra ta xong. Đại đức ông chớ nhận cái áo, áo chẳng biết cử động, chính người hay mặc áo, có cái áo “thanh tịnh”, cái áo “vô sanh”, áo “Bồ-đề”, áo “Niết-bàn”, áo “Tổ”, áo “Phật”. Ngài nhắc phải thấy người mặc áo, chứ đừng nhận chiếc áo. Nào là “thanh tịnh”, “Bồ-đề”, “vô sanh”, “Niết-bàn”, “Tổ”, “Phật” là những chiếc áo hết, nhưng mình thì thích cái áo thôi, cho nên Ngài nói là: “Các ông bám vào áo ta mặc, mà nhận lấy xanh, vàng, đỏ, trắng, thấy màu này, màu kia, bây giờ ta mới cởi quách”, là sao? Tức là phá hết những xanh, vàng, đỏ, trắng đó vào cảnh thanh tịnh. “Tới đó ta cũng cởi luôn nữa, thì người học điên loạn không biết chỗ nào, mới bảo là: “Ta không có áo”. Nhưng ngươi có biết ta mặc áo người chăng? Chính người đang mặc áo đây thôi”. Cũng vậy, đến cảnh thanh tịnh rồi mà còn có cảnh giới thanh tịnh là chưa phải thật, cởi quách luôn, bảo vậy có người tới đó chới với. Tu tới thanh tịnh mà bảo cởi quách nữa thì sao đây? Ở đây, Ngài nói có thấy thanh tịnh thì còn có đối đãi, tịnh là đối với bất tịnh, tịnh đối với động, thanh tịnh đối với không thanh tịnh. Cho nên, còn thấy có cảnh giới thanh tịnh là còn có đối đãi, mà cái đó là cái thuộc về cái bị thấy, phải cởi quách luôn nữa. Người học càng chới với. Chính ngay khi thấy biết chới với thì cái đó có mất đâu không? Thí dụ khi mình biết chạy, biết sợ, biết chới với, thì lúc đó còn có mặt đó chớ mất đi đâu. Ngay đó người học liền xoay lại thì nhận ra ta xong. Cho nên, Ngài nhắc phải khéo thấy người mặc áo chớ đừng nhận chiếc áo, chiếc áo không biết cử động qua lại. Tức Bồ-đề, Niết-bàn, Phật, Tổ đều là những danh từ, cái đó nó không biết cử động. Biết cử động đây là gì? Phải nhận cái đó, cái đó mới là cái Bồ-đề sống, Phật sống, Tổ sống. Như vậy Phật Tổ đã chỉ hết cho rồi. Đây kết lại để cho thấy rõ: Qua đoạn này các Ngài nói lên để trình tín giải của mình. Như vậy, từ phẩm Thí Dụ qua phẩm Tín Giải này Phật đã thọ ký cho Ngài Xá-lợi-phất thành Phật gọi là Hoa Quang Như Lai. Chính vì thọ ký cho Ngài Xá-lợi-phất thành Phật, nên các Ngài đây cũng thấy mình có phần đó. Quý vị thường thường đọc kinh Pháp Hoa thì chỉ nghĩ rằng Phật thọ ký cho Ngài Xá-lợi-phất thành Phật thôi, nhưng quên rằng, Phật thọ ký cho Ngài Xá-lợi-phất thành Phật Hoa Quang Như Lai đó là ngầm nhắc cái gì? Tức Hoa nó sẽ nở thành trái, đó là nhân đưa đến trái. Quang là ánh sáng, đó là ngầm nhắc cho tất cả những vị Phật tương lai đó đang ngồi đây để tin rằng ai cũng có phần đó. Hiểu như vậy mới thấy được ý sâu của Phật, nếu không tưởng đâu chuyện đó là chuyện của Ngài Xá-lợi-phất thôi, không dính dáng gì đến mình hết. Mục Lục
|
Kinh Pháp Hoa Giảng Lục - Tập II
|