Thiền Tông Việt Nam
Kinh Pháp Bảo Đàn - Tào Khê Nguyên Bản giảng ký - Tập II
Phẩm 06. Tham Thỉnh Cơ Duyên

CHÁNH VĂN:

Từ khi Sư nhận được pháp ở Hoàng Mai rồi quay về đến thôn Tào Hầu ở Thiều Châu, người đều không hay biết. Bấy giờ có người Nho sĩ là Lưu Chí Lược đối xử rất tốt. Chí Lược có người cô đi tu làm ni tên Vô Tận Tạng, thường tụng kinh Đại Bát Niết Bàn, Sư vừa nghe qua liền biết diệu nghĩa, bèn giải nói cho cô nghe. Cô cầm quyển kinh hỏi chữ, Sư đáp: 

- Chữ thì chẳng biết nhưng nghĩa thì cứ hỏi. 

Cô nói:

- Chữ còn chẳng biết, sao có thể hiểu nghĩa? 

Sư đáp:

- Diệu lý của chư Phật chẳng dính dáng gì đến văn tự.

Cô lấy làm lạ, đi bảo khắp cho những bậc kỳ đức trong làng:

- Người này là bậc có đạo, nên thỉnh cúng dường.

Có người cháu nhiều đời của Ngụy Võ Hầu là Tào Thúc Lương cùng dân chúng trong làng đua nhau đến chiêm lễ. Lúc đó, ngôi chùa cổ Bảo Lâm từ cuối đời Tùy đã bị chiến tranh thành bỏ hoang phế, họ bèn xây dựng lại ngôi chùa ngay trên nền cũ, rồi đón Sư về ở đây, không lâu liền thành ngôi Tam Bảo trang nghiêm.

Sư ở đây hơn chín tháng, lại bị bọn người xấu đuổi tìm tới. Sư bèn ẩn tránh vào ngọn núi phía trước, bị họ phóng lửa đốt cháy cỏ cây, Sư phải ẩn mình nép vào trong đá mới khỏi. Hòn đá đó, nay còn có dấu đầu gối Sư ngồi kiết-già và lằn vải của chiếc y, nhân đó gọi là “hòn đá lánh nạn”. Sư nhớ lại lời dặn dò của Ngũ Tổ dạy dừng ẩn nơi Hoài và Hội, bèn đi ẩn tránh ở hai ấp này.

***

Vị tăng Pháp Hải, người Khúc Giang, Thiều Châu, ban đầu đến tham học với Tổ, hỏi:

- Tức tâm tức Phật, nguyện Hòa thượng chỉ dạy cho.

Sư bảo:

- Niệm trước chẳng sanh tức tâm, niệm sau chẳng diệt tức Phật, hiện thành tất cả tướng tức tâm, lìa tất cả tướng tức Phật. Nếu tôi nói đủ thì cùng kiếp chẳng hết. Hãy nghe tôi nói kệ:

Tức tâm là tuệ,

Tức Phật là định.

Định tuệ đồng đều,

Trong ý thanh tịnh.

Ngộ pháp môn này,

Do ông tập tánh.

Dụng vốn không sanh,

Song tu là chánh.

Âm:

Tức tâm danh tuệ,

Tức Phật nãi định.

Định tuệ đẳng trì,

Ý trung thanh tịnh.

Ngộ thử pháp môn,

Do nhữ tập tánh.

Dụng bổn vô sanh,

Song tu thị chánh.

Pháp Hải ngay lời nói đại ngộ, dùng kệ tán thán:

Tức tâm nguyên là Phật,

Chẳng ngộ mà tự khuất.

Con biết nhân định tuệ,

Song tu lìa các vật.

Âm:

Tức tâm nguyên thị Phật,

Bất ngộ nhi tự khuất.

Ngã tri định tuệ nhân,

Song tu ly chư vật.

***

Vị tăng Pháp Đạt, người Hồng Châu, xuất gia từ 7 tuổi, thường tụng kinh Pháp Hoa. Ông đến lễ Tổ, đầu chẳng sát đất, Tổ quở:

- Lễ mà đầu chẳng sát đất, sao bằng chẳng lễ. Trong tâm ông hẳn là có một vật, đã chứa nhóm việc gì ư?

Pháp Đạt đáp:

- Đã niệm kinh Pháp Hoa đến ba ngàn bộ.

Tổ bảo:

- Nếu ông niệm đến muôn bộ mà nhận được ý kinh, chẳng cho là hơn thì cùng với tôi đồng đi. Nay ông mang cái sự nghiệp này đều chẳng biết lỗi. Hãy nghe tôi nói kệ:

Lễ vốn bẻ cờ mạn,

Sao đầu chẳng sát đất?

Có ta, tội liền sanh,

Quên công, phước vô kể.

Âm: 

Lễ bổn chiết mạn tràng,

Đầu hề bất chí địa?

Hữu ngã tội tức sanh,

Vong công phúc vô tỉ.

Sư hỏi tiếp:

- Ông tên gì?

Pháp Đạt đáp:

- Dạ, tên Pháp Đạt.

Sư bảo:

- Ông tên Pháp Đạt mà đâu từng đạt pháp.

Tổ lại nói kệ:

Nay ông tên Pháp Đạt,

Siêng tụng chưa thôi nghỉ.

Tụng suông chỉ theo tiếng,

Sáng tâm gọi Bồ-tát.

Nay do ông có duyên,

Tôi sẽ vì ông nói.

Chỉ tin Phật không lời,

Hoa sen từ miệng nở.

Âm: 

Nhữ kim danh Pháp Đạt,

Cần tụng vi hưu hiết.

Không tụng đản tuần thanh,

Minh tâm hiệu Bồ-tát.

Nhữ kim hữu duyên cố,

Ngô kim vị nhữ thuyết.

Đản tín Phật vô ngôn,

Liên hoa tùng khẩu phát.

Pháp Đạt nghe kệ liền ăn năn tạ lỗi thưa:

- Từ nay về sau con sẽ khiêm cung với tất cả. Đệ tử tụng kinh Pháp Hoa mà chưa hiểu nghĩa kinh, tâm thường có điều nghi. Hòa thượng trí tuệ rộng lớn, nguyện nói tóm tắt nghĩa lý trong kinh.

Sư bảo:

- Pháp Đạt, pháp rất là đạt mà tâm ông chẳng đạt. Kinh vốn không có nghi, tâm ông tự nghi, ông niệm kinh này, lấy gì làm tông?

Pháp Đạt thưa:

- Học nhân căn tánh mê mờ, từ trước đến nay chỉ nương theo văn mà tụng niệm, đâu biết tông thú.

Sư bảo:

- Tôi chẳng biết chữ, ông thử lấy kinh tụng qua một lần, tôi sẽ giải nói cho nghe.

Pháp Đạt liền to tiếng niệm kinh, đến phẩm Phương Tiện, Sư bảo:

- Hãy dừng! Kinh này vốn lấy nhân duyên ra đời làm tông, dẫu nói nhiều thứ thí dụ cũng không ra ngoài ý này. Gì là nhân duyên? Kinh nói: “Chư Phật Thế Tôn chỉ vì một đại sự nhân duyên nên hiện ra nơi đời”. Một đại sự là tri kiến Phật. Người đời, bên ngoài thì mê đắm nơi tướng, bên trong thì mê đắm nơi Không. Nếu hay nơi tướng mà lìa tướng, nơi Không mà lìa không, tức trong ngoài chẳng mê. Nếu ngộ pháp này, một niệm tâm mở sáng, đó là Khai tri kiến Phật. Phật vẫn giác, chia ra làm bốn môn. Khai tri kiến Giác, Thị tri kiến Giác, Ngộ tri kiến Giác, Nhập tri kiến Giác. Nếu nghe khai thị liền có thể ngộ nhập, tức tri kiến Giác, chân tánh xưa nay sẽ hiện ra. Ông hãy dè dặt, chớ hiểu lầm ý kinh, nghe Phật nói khai thị ngộ nhập, rồi tự cho là tri kiến của Phật, bọn ta không có phần. Nếu khởi cái hiểu này, chính là chê bai kinh, hủy báng Phật. Ngài đã là Phật thì đã đủ tri kiến, đâu cần phải khai nữa. Nay ông hãy tin tri kiến Phật chỉ là tự tâm ông trọn không có Phật khác. Bởi vì tất cả chúng sanh tự che lấp cái sáng tỏ, tham đắm nơi tiền cảnh, bên ngoài thì duyên ra, bên trong thì quấy động, đành chịu rong ruổi làm nhọc cho Đức Thế Tôn từ tam-muội dậy, nói hết lời để khuyên hãy nghỉ ngơi, chớ tìm cầu bên ngoài thì cùng Phật không hai, vì vậy nói: Khai tri kiến Phật. Tôi cũng khuyên tất cả người, ngay trong tự tâm thường Khai tri kiến Phật. Người đời tâm tà, ngu mê tạo tội, miệng nói lành mà tâm nghĩ dữ, tham sân, tật đố, siểm nịnh, ngã mạn, xâm phạm người, tổn hại vật, tự Khai tri kiến chúng sanh. Nếu hay chánh tâm trở lại, thường sanh trí tuệ quán chiếu tự tâm, dừng ác, làm thiện, đó là Khai tri kiến Phật. Ông cần niệm niệm Khai tri kiến Phật chớ Khai tri kiến chúng sanh. Khai tri kiến Phật là ra khỏi thế gian. Khai tri kiến chúng sanh là thế gian. Nếu ông chỉ cứ nhọc nhằn chấp niệm lấy làm công khóa, thì đâu khác gì con bò hoang mến đuôi!

Pháp Đạt thưa:

- Nếu vậy, chỉ hiểu được nghĩa, chẳng nhọc tụng kinh chăng?

Sư bảo:

- Kinh có lỗi gì, đâu làm ngăn ngại ông niệm. Chỉ vì mê ngộ ở người, tổn ích do mình. Miệng tụng mà tâm thực hành, tức là chuyển kinh. Còn miệng tụng mà tâm chẳng hành, tức bị kinh chuyển. Hãy nghe tôi nói kệ:

Tâm mê Pháp Hoa chuyển,

Tâm ngộ chuyển Pháp Hoa.

Tụng kinh lâu chẳng sáng,

Với nghĩa thành trái xa (giặc thù)

Không niệm, niệm tức chánh,

Có niệm, niệm thành tà.

Có không đều chẳng chấp,

Ngồi mãi trâu trắng xe.

Âm:

Tâm mê Pháp Hoa chuyển,

Tâm ngộ chuyển Pháp Hoa.

Tụng kinh cửu bất minh,

Dữ nghĩa tác cừu gia.

Vô niệm, niệm tức chánh,

Hữu niệm niệm thành tà.

Hữu vô câu bất kế,

Trường ngự bạch ngưu xa.

Pháp Đạt nghe bài kệ bất giác buồn khóc, ngay lời nói liền đại ngộ, rồi bạch với Sư:

- Pháp Đạt từ trước đến giờ thật chưa từng chuyển Pháp Hoa, chính bị Pháp Hoa chuyển.

Đạt lại bạch tiếp:

- Trong kinh nói: “Các vị Thanh Văn cho đến hàng Bồ-tát đều dùng hết sức nghĩ suy mà cùng chung suy lường, cũng chẳng thể lường biết trí Phật, trừ ngoài bậc thượng căn ắt chưa khỏi sanh nghi ngờ, chê bai. Lại, kinh nói ba xe: “Xe dê, xe nai, xe trâu trắng”, thế nào phân biệt rõ ràng? Ngưỡng mong Hòa thượng từ bi chỉ bày thêm cho.

Sư bảo:

- Ý kinh đã rõ ràng, ông tự mê trái. Những người Nhị thừa chẳng thể lường biết trí Phật, bệnh ở “suy lường” đó. Dù họ dùng hết sức nghĩ suy mà cùng chung suy xét, lại càng cách xa thêm. Phật vốn vì phàm phu mà nói, chẳng vì Phật nói. Nếu chẳng nhận lý này thì theo nhóm người kia lui về. Đâu biết rằng, mình đang ngồi trên xe trâu trắng, lại đi tìm ba xe ở ngoài cửa. Huống chi văn kinh đã nói rõ với ông: “Chỉ có một Phật thừa, không có thừa nào khác, hoặc hai hoặc ba, cho đến vô số phương tiện, nhiều thứ nhân duyên thí dụ, lời lẽ, pháp ấy đều là vì một Phật thừa”, sao ông chẳng tỉnh? Ba xe là giả, là vì trước kia; một thừa là thật, là vì hiện nay. Chỉ dạy ông bỏ giả về thật, sau khi về thật rồi, cũng không cái tên “thật”. Nên biết, bao nhiêu của báu đã có hoàn toàn thuộc về ông, do ông thọ dụng, trọn chẳng khởi tưởng cha, cũng chẳng khởi tưởng con, cũng không tưởng dùng. Đó gọi là trì kinh Pháp Hoa, từ kiếp này đến kiếp nọ, tay chẳng giở quyển kinh mà từ sáng đến chiều không lúc nào chẳng niệm tụng.

Pháp Đạt được nhờ Sư mở bày, hết sức vui mừng dùng kệ khen ngợi:

Kinh tụng ba ngàn bộ,

Tào Khê một câu quên.

Chưa rõ ý xuất thế,

Đâu dứt nhiều kiếp cuồng,

Dê, nai, trâu quyền lập,

Trước, giữa, sau khéo bày,

Ai biết trong nhà lửa,

Vốn là Vua trong pháp.

Âm:

Kinh tụng tam thiên bộ,

Tào Khê nhất cú vong.

Vị minh xuất thế chỉ,

Ninh yết lũy sanh cuồng.

Dương, lộc, ngưu quyền thiết,

Sơ chung hậu thiện dương.

Thùy tri hỏa trạch nội,

Nguyên thị Pháp trung vương.

Sư bảo:

- Từ nay về sau ông mới đáng gọi là vị tăng niệm kinh.

Pháp Đạt từ đây lĩnh nhận huyền chỉ cũng chẳng nghỉ tụng kinh.

***

Tăng Trí Thông, người An Phong, châu Thọ, ban đầu xem kinh Lăng Già khoảng hơn ngàn lần mà chẳng hiểu rõ ba thân, bốn trí, đến lễ Sư cầu giải rõ nghĩa ấy.

Sư bảo :

- Ba thân đó, Pháp thân thanh tịnh là tánh của ông, Báo thân viên mãn là trí của ông, Hóa thân ngàn trăm ức là hạnh của ông. Nếu lìa bản tánh riêng nói ba thân, tức gọi là có thân không trí. Nếu ngộ ba thân không có tự tánh, tức gọi bốn trí Bồ-đề. Hãy nghe tôi nói kệ:

Tự tánh đủ ba thân,

Phát minh thành bốn trí.

Chẳng lìa duyên thấy nghe,

Vượt thoát lên Phật địa.

Nay tôi vì ông nói,

Tin chắc mãi không mê.

Chớ học chạy tìm cầu,

Trọn ngày nói Bồ-đề.

Âm:

Tự tánh cụ tam thân,

Phát minh thành tứ trí.

Bất ly kiến văn duyên,

Siêu nhiên đăng Phật độ.

Ngộ kim vị nhữ thuyết,

Đế tín vĩnh vô mê.

Mạc học trì cầu giả,

Chung nhật thuyết Bồ-đề.

Thông bạch thêm:

- Nghĩa bốn trí có thể nghe được chăng?

Sư bảo:

- Đã hiểu rõ ba thân liền sáng tỏ bốn trí, sao còn hỏi nữa? Nếu lìa ba thân bàn riêng bốn trí, đây gọi là có trí không thân, chính đó là có trí lại thành không trí.

Sư nói thêm bài kệ:

Đại viên cảnh trí tánh thanh tịnh,

Bình đẳng tánh trí tâm không bệnh,

Diệu quan sát trí thấy không công,

Thành sở tác trí đồng viên cảnh.

Năm tám, sáu bảy quả nhân chuyển,

Chỉ dùng danh ngôn không tánh thật,

Nếu ngay chỗ chuyển chẳng lưu tình,

Ồn náo ở mãi na-già định.

Âm:

Đại viên cảnh trí tánh thanh tịnh,

Bình đẳng tánh trí tâm vô bệnh,

Diệu quan sát tri kiến phi công,

Thành sở tác trí đồng viên cảnh.

Ngũ bát, lục thất quả nhân chuyển,

Đản dụng danh ngôn vô thật tánh,

Nhược kim chuyển xứ bất lưu tình,

Phồn hưng vĩnh xử na-già định.

Trí Thông đốn ngộ tánh trí, bèn trình bài kệ:

Ba thân nguyên thể con,

Bốn trí vốn tâm sáng.

Thân trí dung không ngại,

Ứng vật mặc theo hình.

Khởi tu đều vọng động,

Giữ cứng chẳng thật ròng.

Diệu chỉ nhân thấy hiểu,

Trọn quên tên nhiễm ô.

Âm:

Tam thân nguyên ngã thể,

Tứ trí bổn tâm minh.

Thân trí dung vô ngại,

Ứng vật nhậm tùy hình.

Khởi tu giai vọng động,

Thủ trụ phỉ chân tinh.

Diệu chỉ nhân sư hiểu,

Chung vọng nhiễm ô danh.

***

Tăng Trí Thường, người Quý Khê, châu Tín, xuất gia từ bé, quyết tâm cầu thấy tánh. Một hôm Thường đến tham lễ, Sư hỏi:

- Ông từ đâu đến? Muốn cầu việc gì?

Thường đáp:

- Học nhân gần đây có qua núi Bạch Phong, châu Hồng, kính lễ Hòa thượng Đại Thông mong chỉ cho nghĩa thấy tánh thành Phật, mà chưa dứt được nghi ngờ. Từ xa đến đây kính mong Hòa thượng chỉ dạy cho.

Sư bảo:

- Vị ấy có lời lẽ gì ông thử thuật lại xem!

Thường thưa:

- Trí Thường đến đó trải qua ba tháng mà chưa được chỉ dạy, vì lòng tha thiết với pháp, một buổi chiều một mình vào trượng thất thưa hỏi: “Thế nào là bản tâm, bản tánh của con?”.

Hòa thượng Đại Thông bèn bảo:

- Ông thấy hư không chăng?

Con đáp:

- Dạ thấy.

Ngài bảo:

- Ông thấy hư không có tướng mạo gì chăng?

Con đáp:

- Hư không không hình thì có tướng mạo gì.

Ngài bảo: “Bản tánh của ông giống như hư không, trọn không một vật có thể thấy, đó gọi là chánh kiến (thấy đúng); trọn không một vật có thể biết, đó gọi là chân tri (biết thực); không có xanh vàng, dài ngắn, chỉ thấy cội nguồn thanh tịnh, giác thể tròn sáng, tức gọi thấy tánh thành Phật, cũng gọi là tri kiến Như Lai”. Học nhân tuy nghe lời này, vẫn chưa hết nghi, kính mong Hòa thượng chỉ dạy cho.

Sư bảo:

- Chỗ vị thầy kia nói vẫn còn thấy biết nên khiến ông chưa rõ. Nay tôi chỉ cho ông một bài kệ:

Chẳng thấy một pháp còn thấy không,

Giống hệt mây nổi che mặt nhật.

Chẳng biết một pháp giữ biết không,

Lại như hư không sanh điện chớp.

Cái thấy biết này chợt dấy lên,

Lầm nhận đâu từng hiểu phương tiện.

Ông phải một niệm tự biết quấy,

Linh quang chính mình thường hiển hiện.

Âm:

Bất kiến nhất pháp tồn vô kiến,

Đại tự phù vân già nhật diện.

Bất tri nhất pháp thủ không tri,

Hoàn như thái hư sanh thiểm điển.

Thử chi tri kiến miết nhiên hưng,

Thác nhận hà tằng giải phương tiện.

Nhữ đương nhất niệm tự tri phi,

Tự kỷ linh quang thường hiển hiện.

Thường nghe bài kệ xong, tâm ý mở toang, bèn thuật bài kệ:

Vô cớ dấy tri kiến,

Chấp tướng cầu Bồ-đề.

Tình còn một niệm ngộ.

Đâu khỏi mê trước kia.

Tự tánh thể nguồn giác,

Theo chiếu uổng trôi lăn.

Chẳng vào Tổ sư thất,

Mờ mịt chạy hai đầu.

Âm:

Vô đoan khởi tri kiến,

Trước tướng cầu Bồ-đề.

Tình tồn nhất niệm ngộ,

Ninh việt tích thời mê.

Tự tánh giác nguyên thể,

Tùy chiếu uổng thiên lưu.

Bất nhập Tổ sư thất,

Mang nhiên thú lưỡng đầu.

Một hôm, Trí Thường hỏi Sư:

- Phật nói pháp ba thừa, lại nói Tối thượng thừa, đê tử chưa hiểu, ngưỡng mong Hòa thượng chỉ dạy.

Sư bảo:

- Ông hãy quán bản tâm mình, chớ chấp pháp tướng bên ngoài. Pháp không có bốn thừa, tâm người tự sai khác. Thấy nghe chuyển tụng là Tiểu thừa, ngộ pháp hiểu nghĩa là Trung thừa, y pháp tu hành là Đại thừa. Muôn pháp trọn thông, muôn pháp đều đủ, tất cả chẳng nhiễm, lìa mọi pháp tướng, không một cái gì sở đắc, gọi là Tối thượng thừa. Thừa nghĩa là thực hành, chẳng ở miệng tranh cãi. Ông phải tự tu hành, chớ hỏi tôi. Trong tất cả thời tự tánh tự tu.

Thường lễ tạ, theo hầu trọn đời Sư.

***

Tăng Chí Đạo, người Nam Hải, châu Quảng, đến thưa hỏi:

- Học nhân từ khi xuất gia đã xem kinh Niết Bàn hơn mười năm mà vẫn chưa sáng tỏ đại ý, ngưỡng mong Hòa thượng từ bi chỉ dạy.

Sư bảo:

- Ông chưa sáng tỏ chỗ nào?

Đạo đáp:

- “Các hành vô thường, là pháp sanh diệt. Sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui”, con nghi ngờ điểm này.

Sư bảo:

- Ông nghi làm sao?

Đạo đáp:

- Tất cả chúng sanh chính có hai thân: Sắc thân và pháp thân. Sắc thân vô thường, có sanh có diệt. Pháp thân hữu thường, không tri không giác. Kinh nói: “Sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui”, chẳng biết thân nào tịch diệt? Thân nào thọ vui? Nếu sắc thân, thì khi sắc thân diệt, bốn đại chia rời, hoàn toàn là khổ, khổ chẳng thể nói là vui. Nếu pháp thân tịch diệt, tức đồng cây cỏ, ngói đá, cái gì sẽ thọ vui? Lại pháp tánh là thể của sanh diệt, năm uẩn là dụng của sanh diệt. Một thể năm dụng sanh diệt là thường. Sanh ắt từ thể khởi dụng, diệt ắt nhiếp dụng về thể. Nếu nhận sanh lại nữa, tức cùng loài hữu tình, chẳng đoạn chẳng diệt. Nếu chẳng nhận sanh nữa ắt mãi mãi trở về tịch diệt, đồng với vật vô tình, như thế thì tất cả các pháp bị Niết-bàn cấm ngăn, còn chẳng sanh được, có gì là vui?

Sư bảo:

- Ông là hàng Thích tử, sao lại học theo tà kiến đoạn thường của ngoại đạo mà bàn pháp Tối thượng thừa! Theo chỗ ông nói, tức ngoài sắc thân riêng có pháp thân, lìa sanh diệt mà cầu tịch diệt, lại suy về Niết-bàn thường vui mà nói có thân thọ dụng. Chính đây là chấp tiếc sanh tử, đắm mắc cái vui thế gian. Nay ông phải biết, Phật vì tất cả người mê nhận năm ấm hòa hợp làm tướng tự thể, phân biệt tất cả pháp làm tướng ngoại trần, ưa sống ghét chết, niệm niệm dời đổi, chẳng biết rõ là mộng huyễn hư dối, uổng chịu luân hồi. Đem Niết-bàn thường vui trở lại cho là tướng khổ, trọn ngày rong ruổi tìm cầu. Phật vì thương xót hạng người này bèn chỉ cho cái vui chân thật của Niết-bàn, sát-na không có tướng sanh, sát-na không có tướng diệt, lại không có cái sanh diệt có thể diệt, đó là tịch diệt hiện tiền. Chính khi hiện tiền cũng không có lượng hiện tiền mới gọi là thường vui. Cái vui này không có người thọ, cũng không người chẳng thọ thì đâu có tên một thể năm dụng; huống nữa lại nói Niết-bàn cấm ngăn khiến cho các pháp mãi chẳng sanh. Chính đây chê bai Phật, hủy báng pháp. Hãy nghe tôi nói kệ:

Vô thượng Đại Niết-bàn,

Tròn sáng thường tịch chiếu.

Phàm ngu cho là chết,

Ngoại đạo chấp là đoạn.

Những người cầu Nhị thừa,

Gọi đó là vô tác.

Trọn thuộc về tình chấp,

Gốc sáu mươi hai kiến.

Vọng lập tên hư giả,

Đâu là nghĩa chân thật?

Chỉ có người quá lượng,

Thông suốt không lấy bỏ.

Do biết pháp năm uẩn,

Và ngã trong năm uẩn.

Ngoài hiện mọi sắc tướng,

Mỗi mỗi tướng âm thanh,

Bình đẳng như mộng huyễn,

Chẳng khởi thấy phàm thánh.

Chẳng khởi hiểu Niết-bàn,

Hai bên, ba mé đoạn.

Thường ứng các căn dùng,

Mà chẳng khởi tưởng dùng.

Phân biệt tất cả pháp,

Chẳng khởi tưởng phân biệt.

Kiếp hỏa đốt biển cạn,

Gió thổi núi chọi nhau.

Chân thường tịch diệt vui,

Tướng Niết-bàn như thế.

Nay tôi gượng nói ra,

Khiến ông bỏ tà kiến.

Ông chớ theo lời hiểu,

Cho ông biết chút phần.

Âm:

Vô thượng Đại Niết-bàn,

Viên minh thường tịch chiếu.

Phàm ngu vị chi tử,

Ngoại đạo chấp vi đoạn.

Chư cầu Nhị thừa nhân,

Mục dĩ vi vô tác.

Tận thuộc tình sở kế,

Lục thập nhị kiến bổn.

Vọng lập hư giả danh,

Hà vi chân thật nghĩa?

Duy hữu quá lượng nhân,

Thông đạt vô thủ xả.

Dĩ tri ngũ uẩn pháp,

Cập dĩ uẩn trung ngã.

Ngoại hiện chúng sắc tượng,

Nhất nhất âm thanh tướng.

Bình đẳng như mộng huyễn,

Bất khởi phàm thánh kiến.

Bất tác Niết-bàn giải,

Nhị biên tam tế đoạn.

Thường ứng chư căn dụng,

Nhi bất khởi dụng tưởng.

Phân biệt nhất thiết pháp,

Bất khởi phân biệt tưởng.

Kiếp hỏa thiêu hải để,

Phong cổ sơn tuơng kích.

Chân thường tịch diệt lạc,

Niết-bàn tướng như thị.

Ngô kim cưỡng ngôn thuyết,

Linh nhữ xả tà kiến.

Nhữ vật tùy ngôn giải,

Hứa nhữ tri thiểu phần.

Chí Đạo nghe bài kệ đại ngộ, vui mừng làm lễ rồi lui.

***

Thiền sư Hành Tư, họ Lưu quê tại An Thành, châu Cát, nghe pháp hội Tào Khê giáo hóa hưng thịnh, đi thẳng đến tham lễ Sư, bèn hỏi:

- Phải làm những việc gì tức chẳng rơi vào thềm bậc?

Sư bảo:

- Ông từng làm việc gì?

Tư thưa:

- Thánh đế cũng chẳng làm.

Sư bảo:

- Rơi vào thềm bậc gì?

Tư thưa:

- Thánh đế còn chẳng làm thì có thềm bậc gì?

Sư thầm hứa nhận, sai Tư thủ chúng. Một hôm Sư bảo Tư:

- Ông phải chia ra đi giáo hóa một phương, không để cho đoạn dứt.

Hành Tư đã đắc pháp, bèn trở về núi Thanh Nguyên ở châu Cát hoằng hóa chánh pháp. Khi tịch được tên thụy là “Thiền Sư Hoằng Tế”.

***

Thiền sư Hoài Nhượng họ Đỗ, ở châu Kim, ban đầu đến gặp Quốc sư An ở Tung Sơn, An khuyên qua Tào Khê thưa hỏi. Nhượng đến lễ bái, Sư hỏi:

- Ở đâu đến?

Nhượng thưa:

- Ở Tung Sơn.

Sư bảo:

- Vật gì thế ấy đến?

Nhượng thưa:

- Nói giống một vật tức chẳng trúng.

Sư bảo:

- Lại có thể tu chứng chăng?

Nhượng thưa:

- Tu chứng tức chẳng không, nhiễm ô tức chẳng được.

Sư bảo:

- Chỉ cái “chẳng nhiễm ô” này là chỗ chư Phật hộ niệm, ông đã như thế, tôi cũng như thế. Tổ Bát-nhã-đa-la ở Tây Thiên có lời sấm rằng: “Dưới chân ông sẽ xuất hiện một con ngựa khỏe đạp chết người trong thiên hạ, ứng tại tâm ông chẳng cần nói sớm”.

Nhượng hoát nhiên khế hội, bèn theo hầu Sư mười lăm năm, mỗi ngày càng đến chỗ sâu xa. Sau Hoài Nhượng qua núi Nam Nhạc xiển dương Thiền Tông.

***

Thiền sư Huyền Giác ở Vĩnh Gia, lúc nhỏ học kinh luận, tinh thông pháp môn chỉ quán của tông Thiên Thai, nhân xem kinh Duy Ma phát minh tâm địa. Tình cờ đệ tử của Sư là Huyền Sách tới thăm hỏi, cùng nhau bàn luận hăng say, Giác nói ra đều thầm hợp chư Tổ, Sách nói:

- Ngài đắc pháp với thầy nào?

Giác đáp:

- Tôi nghe kinh luận phương đẳng đều có thầy truyền cho, sau ngộ tâm tông của Phật ở kinh Duy Ma, chưa có người chứng minh.

Sách nói:

- Từ Oai Âm Vương về trước thì được, từ Oai Âm Vương về sau, không thầy tự ngộ thảy là ngoại đạo thiên nhiên.

Giác nói:

- Mong Ngài chứng minh cho tôi.

Sách nói:

- Lời tôi nhẹ lắm. Ở Tào Khê có Đại sư Lục Tổ, bốn phương nhóm họp về, đồng thời là người đã được truyền pháp, nếu Ngài đi thì tôi sẽ cùng đi.

Giác bèn cùng Sách đến tham lễ, đi quanh Sư ba vòng rồi chống tích trượng mà đứng.

Sư bảo:

- Là hàng Sa-môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh. Đại đức từ phương nào đến mà sanh ngã mạn to vậy?

Giác thưa:

- Sanh tử là việc lớn, vô thường rất mau chóng.

Sư bảo:

- Sao chẳng thể nhận cái vô sanh, liễu không mau chóng sao?

Giác thưa:

- Thể tức vô sanh, liễu vốn không chóng.

Sư bảo:

- Đúng thế, đúng thế!

Huyền Giác mới đầy đủ oai nghi lễ bái, giây lát cáo từ, Sư bảo:

- Trở về quá nhanh vậy sao?

Giác thưa:

- Vốn tự chẳng phải động, há có nhanh sao?

Sư bảo:

- Ai biết chẳng động!

Giác thưa:

- Ngài tự sanh phân biệt.

Sư bảo:

- Ông rất được ý vô sanh.

Giác thưa:

- Vô sanh há có ý sao?

Sư bảo:

- Không ý thì ai sẽ phân biệt?

Giác thưa:

- Phân biệt cũng chẳng phải ý.

Sư bảo:

- Lành thay! Hãy tạm ở lại một đêm.

Người thời đó gọi là Nhất Túc Giác (một đêm giác ngộ). Sau Huyền Giác có trước tác bài Chứng Đạo Ca lưu truyền rộng rãi ở đời.

***

Thiền giả Trí Hoàng trước kia tham học với Ngũ Tổ, tự cho là đã được chánh thọ, về ở am thường luôn ngồi thiền trải qua hai mươi năm. Đệ tử của Sư là Huyền Sách đi du phương đến Hà Sóc, nghe tiếng tăm Hoàng tới am hỏi:

- Ngài ở đây làm gì?

Hoàng nói:

- Ở nhập định.

Sách bảo:

- Ngài nói nhập định, là có tâm nhập chăng? Không tâm nhập chăng? Nếu không tâm mà nhập thì tất cả loài vô tình như cỏ cây, ngói gạch lẽ ra nên được định. Nếu có tâm mà nhập, thì tất cả hạng hữu tình hàm thức cũng nên được định!

Hoàng nói:

- Chính khi tôi nhập định, chẳng thấy có tâm có không.

Sách bảo:

- Chẳng thấy có tâm có không tức là thường định, đâu có nhập xuất. Nếu có nhập xuất tức chẳng phải đại định.

Hoàng không đáp, giây lâu hỏi:

- Thầy kế thừa ai?

Sách đáp:

- Thầy tôi là Lục Tổ ở Tào Khê.

Hoàng hỏi:

- Lục Tổ lấy gì làm thiền định?

Sách đáp:

- Chỗ thầy tôi nói là, trong sáng nhiệm mầu, tròn lặng, thể dụng như như, năm ấm vốn không, sáu trần chẳng phải có, chẳng ra chẳng vào, chẳng định chẳng loạn, tánh thiền không trụ, lìa trụ nơi thiền tịch, tánh thiền không sanh, lìa sanh cái thiền tưởng, tâm như hư không, cũng không cái lượng hư không.

Hoàng nghe lời ấy, đi thẳng đến gặp Sư.

Sư hỏi:

- Ngài ở đâu đến?

Hoàng thuật lại đầy đủ duyên trước. Sư bảo:

- Đúng như điều đã nói. Ông chỉ tâm như hư không mà chẳng dính mắc cái thấy không, ứng dụng không ngại, động tĩnh không tâm, tình phàm Thánh đều quên, năng sở đều mất, tánh tướng như như, không lúc nào chẳng định.

Hoàng ngay đó liền đại ngộ, tâm sở đắc trong hai mươi năm đều dứt sạch. Đêm đó dân chúng ở Hà Bắc nghe trong hư không có tiếng nói: “Thiền sư Hoàng ngày nay đã được đạo”.

Sau đó, Hoàng lễ bái từ giã, trở về Hà Bắc mở mang giáo hóa cho bốn chúng.

***

Một vị tăng hỏi Sư:

- Ý chỉ Hoàng Mai người nào được?

Sư đáp:

- Người hội Phật pháp được.

Tăng thưa:

- Hòa thượng được chăng?

Sư đáp:

- Ta chẳng được.

Tăng thưa:

- Hòa thượng vì sao chẳng được?

Sư đáp:

- Tôi chẳng hội Phật pháp.

***

Một hôm, Sư muốn giặt chiếc y đã được truyền trao mà không có suối tốt. Nhân đi đến phía sau chùa khoảng năm dặm, thấy núi rừng rậm rạp, khí lành xoay quanh, Tổ liền chống tích trượng xuống đất, suối theo tay vọt ra, chứa đầy thành hồ. Tổ bèn quỳ gối giặt y trên tảng đá. Chợt có vị tăng đến lễ bái thưa:

- Phương Biện là người xứ Thục, vừa qua ở nước Nam Thiên Trúc gặp Đại sư Đạt-ma dặn dò Phương Biện: “Hãy đi nhanh qua đất nước Đường. Tôi truyền Chánh pháp nhãn tạng và Tăng-già-lê của Ngài Đại Ca-diếp thấy đến đời thứ sáu ở Tào Khê, Thiều Châu, ông hãy đến đó chiêm lễ,” Phương Biện từ xa đến, mong được thấy y bát của thầy tôi truyền lại.

Sư bèn đưa ra chỉ cho. Kế đó hỏi:

- Thượng nhân giỏi về sự nghiệp gì?

Phương Biện đáp:

- Con khéo đắp tượng.

Sư nghiêm sắc mặt bảo:

- Ông thử đắp xem!

Phương Biện mờ mịt. Qua mấy ngày sau đắp được tượng chân dung của Sư cao khoảng bảy tấc tàu, rất khéo léo, đem trình với Sư.

Sư cười bảo:

- Ông chỉ giỏi tánh đắp, chẳng giỏi tánh Phật.

Sư duỗi tay xoa đầu Phương Biện bảo:

- Mãi mãi làm phước điền cho trời người.

Rồi lấy y đền công cho ông. Phương Biện lấy y chia làm ba phần: Một tấm khoác lên tượng đắp, một tấm tự giữ lại, một tấm đem gói lại chôn xuống đất, thệ: “Về sau, ai được y này, chính là ta ra đời, trụ trì nơi đây, xây dựng lại ngôi chùa”.

Niên hiệu Gia Hựu thứ tám đời Tống (1063), có vị tăng tên Duy Tiên sửa sang lại ngôi điện, đào đất được tấm y như mới. Tượng đắp thì để ở chùa Cao Tuyền, cầu đảo liền ứng nghiệm.

***

Có vị tăng thuật lại bài kệ của Thiền sư Ngọa Luân:

Ngọa Luân có tài khéo,

Hay dứt trăm tư tưởng.

Đối cảnh tâm chẳng khởi,

Bồ-đề ngày thêm lớn.

Âm:

Ngọa Luân hữu kỹ lưỡng,

Năng đoạn bách tư tưởng.

Đối cảnh tâm bất khởi,

Bồ-đề nhật nhật trưởng.

Sư nghe nói, bảo:

- Bài kệ này chưa sáng tỏ tâm địa, nếu nương theo đó mà tu hành, càng thêm trói buộc.

Nhân đó, Sư chỉ dạy bài kệ:

Huệ Năng không tài khéo,

Chẳng dứt trăm tư tưởng.

Đối cảnh tâm thường khởi,

Bồ-đề làm sao lớn?

Âm:

Huệ Năng một kỹ lưỡng,

Bất đoạn bách tư tưởng.

Đối cảnh tâm sổ khởi,

Bồ-đề tác ma trưởng?

GIẢNG:

Từ khi Sư nhận được pháp ở Hoàng Mai rồi quay về đến thôn Tào Hầu ở Thiều Châu, người đều không hay biết. Bấy giờ có người Nho sĩ là Lưu Chí Lược đối xử rất tốt. Chí Lược có người cô đi tu làm ni tên Vô Tận Tạng, thường tụng kinh Đại Bát Niết Bàn, Sư vừa nghe qua liền biết được diệu nghĩa, bèn giải nói cho cô nghe. Cô cầm quyển kinh hỏi chữ, Sư đáp:

- Chữ thì chẳng biết, nghĩa thì cứ hỏi.

Cô nói:

- Chữ còn chẳng biết, sao có thể hiểu nghĩa?

Sư đáp:

- Diệu lý của chư Phật chẳng dính dáng gì đến văn tự.

Cô lấy làm lạ, đi bảo khắp hàng kỳ đức trong làng:

- Người này là bậc có đạo, nên thỉnh cúng dường.

Nói về Lục Tổ từ khi đắc pháp, được truyền y bát ở Hoàng Mai thuộc tỉnh Hồ Bắc, đến đây là thôn Tào Hầu ở Quảng Đông. Lúc này, chưa người nào biết Ngài là người được truyền y bát, Ngài còn đang ẩn. Ông Lưu Chí Lược là nhà Nho, tuy không biết Ngài là Tổ, nhưng ông có duyên lành nhiều đời nên cảm mến, đối xử rất tốt với Ngài. Ông Lưu Chí Lược có người cô xuất gia làm ni tên Vô Tận Tạng. Bà ni này tu hành tinh tấn, thường tụng kinh Đại Bát Niết Bàn và sau khi tịch để lại nhục thân.

Khi bà ni tụng kinh, Lục Tổ nghe qua liền biết diệu nghĩa trong kinh, Ngài giải nói cho bà nghe. Bà tưởng Ngài giỏi chữ nghĩa nên cầm quyển kinh hỏi chữ. Không ngờ Lục Tổ đáp: “Chữ thì chẳng biết, nghĩa thì cứ hỏi”. Bà nghe vậy không tin, chuyện đó trái với thường tình thế gian, chữ không biết mà lại hiểu nghĩa? Nên bà nói ngay: “Chữ còn chẳng biết, sao có thể hiểu nghĩa?”. Câu đáp của Lục Tổ làm bà kinh ngạc: “Diệu lý của chư Phật chẳng có dính dáng gì đến văn tự”. Tức nghĩa nhiệm mầu sâu xa của chư Phật không nằm trong văn tự chữ nghĩa chết. Câu đáp cho thấy chỗ thấy hiểu của Tổ vượt hẳn hơn cái thấy thường tình.

Đây cũng là đánh thức cho người học Phật, phải thấy được đến diệu lý vượt ngoài văn tự, không nên chỉ bám vào việc hiểu nơi văn tự cho là đủ. Ví như Niết-bàn vốn không nằm trên cái tên hay trên lời giải thích bằng chữ nghĩa. Dù cho giải thích chữ nghĩa cả ngày hoặc giải cả cuốn sách, xuất bản hàng triệu bản đưa cho mọi người đọc cũng không thấy Niết-bàn, Niết-bàn không có trong đó. Niết-bàn ngay trong tâm mỗi người, tâm dứt sạch phiền não tức nguội lạnh tất cả phiền não không còn mầm sanh, đó mới là Niết-bàn. Giải thích chữ nghĩa nhiều nhưng tâm phiền não vẫn còn thì đâu thấy Niết-bàn, đôi khi đọc hiểu nhiều rồi sanh ngã mạn lại càng xa Niết-bàn. Kinh nói pháp Phật như “ngón tay chỉ mặt trăng”, hoặc dụ như “chiếc bè qua sông”. Chúng ta muốn thấy lý thật phải vượt qua văn tự, giống như vượt qua ngón tay mới thấy mặt trăng.

Bà ni nghe thế, biết Tổ là người có trí tuệ không phải thường nên đi báo cho những bậc trên trước trong làng biết để cúng dường.

Có người cháu nhiều đời của Ngụy Võ Hầu là Tào Thúc Lương cùng dân chúng trong làng đua nhau đến chiêm lễ. Lúc đó, ngôi chùa cổ Bảo Lâm từ cuối đời Tùy đã bị chiến tranh thành bỏ hoang phế, họ bèn xây dựng lại ngôi chùa ngay trên nền cũ, rồi đón Sư về ở đây, không lâu liền thành ngôi Tam Bảo trang nghiêm. Sư ở đây hơn chín tháng, lại bị bọn người xấu đuổi tìm tới, Sư bèn ẩn tránh vào ngọn núi phía trước, bị họ phóng lửa đốt cháy cỏ cây, Sư phải ẩn mình nép vào trong đá mới khỏi, hòn đá đó nay còn dấu đầu gối Sư ngồi kiết-già và lằn vải của chiếc y, nhân đó gọi là “hòn đá lánh nạn”. Sư nhớ lại lời dặn dò của Ngũ Tổ dạy dừng ẩn nơi Hoài và Hội, bèn đi ẩn tránh ở hai ấp này.

Lúc này Lục Tổ được mọi người trong làng quý trọng đón về ở ngôi chùa cổ Bảo Lâm từ lâu bị bỏ hoang, nhưng mới hơn chín tháng thì có nhóm người ganh ghét tìm đến hại; nên Tổ lại phải đi tránh nạn. Ngài nhớ lại lời dạy của Ngũ Tổ trước kia, do đó đi đến hai ấp Hoài Tập và Tứ Hội ở ẩn. Đó là thời gian Ngài ẩn, tiếp theo là cơ duyên giáo hóa, Ngài gặp các vị tăng đến hỏi, gọi là Tham Thỉnh Cơ Duyên.

Có vị tăng tên là Pháp Hải, người Khúc Giang, Thiều Châu, ban đầu đến tham học với Tổ hỏi rằng:

- Tức tâm tức Phật, nguyện Hòa thượng chỉ dạy cho.

Sư bảo:

- Niệm trước chẳng sanh tức tâm, niệm sau chẳng diệt tức Phật; hiện thành tất cả tướng tức tâm, lìa tất cả tướng tức Phật, nếu tôi nói đủ thì cùng kiếp chẳng hết, hãy nghe tôi nói kệ:

Tức tâm là tuệ,

Tức Phật là định,

Định tuệ đồng đều,

Trong ý thanh tịnh.

Ngộ pháp môn này,

Do ông tập tánh,

Dụng vốn không sanh,

Song tu là chánh.

Pháp Hải ngay lời nói đại ngộ, dùng kệ tán thán:

Tức tâm nguyên là Phật,

Chẳng ngộ mà tự khuất,

Con biết nhân định tuệ,

Song tu lìa các vật.

Khi này Tổ đã ra giáo hóa, không còn ở ẩn nơi Hoài Tập, Tứ Hội.

Tăng Pháp Hải, Sư vốn họ Trương, tự là Văn Duẫn, sinh năm 650 (thế kỷ VII), xuất gia ở chùa Hạc Lâm, sau đến chùa Bảo Lâm ở Tào Khê gặp Lục Tổ, mới có cơ duyên thưa hỏi. Sư cũng là người ghi chép lại những lời thuyết pháp của Lục Tổ thành Kinh Pháp Bảo Đàn. Sau khi Lục Tổ tịch, Sư đến trụ trì ở chùa Bảo Trang Nghiêm, tịch năm 730.

Sư hỏi Tổ về tức tâm tức Phật, Tổ đáp: “Niệm trước chẳng sanh tức tâm, niệm sau chẳng diệt tức Phật”. Lời đáp đơn giản nhưng ý sâu xa, không nên mắc kẹt trên chữ nghĩa. Nếu hiểu theo chữ nghĩa “có niệm trước” tức có sanh, đâu thể nói chẳng sanh được? Nếu niệm trước đã chẳng sanh thì không có niệm sau, đây nói niệm sau chẳng diệt là sao? Có niệm trước, có niệm sau thành ra hai niệm, không gọi là tức tâm tức Phật được. Hiểu theo chữ nghĩa có trở ngại. Phải hiểu được ý Tổ muốn nói là chẳng theo niệm sanh cũng chẳng theo niệm diệt, vậy là chẳng sanh chẳng diệt, tức tâm đó là tức Phật. Tuy nói có trước sau mà vốn không có hai niệm, ngay sanh diệt tức chẳng phải sanh diệt, không lầm theo sanh diệt, chính đó là tức tâm tức Phật, sáng tỏ rõ ràng không nghi.

“Hiện thành tất cả tướng tức tâm”. Từ tâm hiện thành tất cả tướng, tất cả tướng chẳng lìa nơi tâm riêng có, vậy tâm là gốc của tất cả. “Lìa tất cả tướng tức Phật”. Từ tâm hiện thành tất cả tướng, nhưng lại lìa tất cả tướng, không thuộc một tướng nào cả, tướng chỉ là cái bóng. Như thế, tướng không làm mê, làm loạn, không che mờ, tức thường sáng tỏ rõ ràng, đó là tức Phật.

Tuy nói “tâm” nói “Phật” mà vốn không hai “thể”. Đây là phương tiện theo ngôn ngữ thế tục mà nói “tức”, người thật sự tỏ ngộ cũng quên luôn chữ “tức”. Bởi người mê thấy ngoài tâm có Phật, nên đây nói tức tâm tức Phật để người không chạy tìm cầu bên ngoài, đó là vì người mê mà nói, ngộ rồi khỏi nói “tức”. Nếu còn thấy “tức” là chưa ngộ. Bởi vì sao? Thấy “tức” là còn thấy có hai, có tâm có Phật, cái này “tức” cái kia, nếu ngộ rồi thì “tức” cái gì nữa? Nghĩa sâu của chỗ này thật không thể nghĩ bàn, nên Lục Tổ nói : “Nếu tôi nói đủ thì cùng kiếp chẳng hết”. Chúng ta bây giờ nói không đầy một phút là xong “tức tâm tức Phật”. Tổ nói nếu nói đủ thì nói cùng kiếp chẳng hết, ngầm chỉ nghĩa này không ở trên lời nói nên nói mãi không hết, bởi nói mãi cũng là trên lời nói thôi. Người nghe chớ mắc kẹt trên lời nói mà nhân đó phải đạt được ý Tổ mới là khéo.

Lục Tổ nói bài kệ:

“Tức tâm là tuệ”. Tâm là Biết, Biết rõ tất cả mà chẳng sanh theo, nên là Tuệ.

“Tức Phật là định”. Lại lìa tất cả mà chẳng chìm theo, không biết gì hết, là định mà Giác.

Vậy là ngay đó đầy đủ cả hai định và tuệ, không nghiêng lệch một bên, không chia thành hai.

“Trong ý thanh tịnh”. Bặt dấu vết phân biệt đây-kia do đó không sanh lỗi lầm.

“Ngộ pháp môn này”. Tức sáng tỏ được pháp môn Đốn giáo này.

“Do ông tập tánh”. Đây là ở nơi ông, do ông tích tập căn lành mà thành, không do ai đem lại cũng không ai làm thế cho ông, không phải do Lục Tổ đem đến.

“Dụng vốn không sanh”. Làm mà không có chỗ làm, không thuộc về tạo tác bên ngoài nên làm không có sanh, dụng không rời thể.

“Song tu là chánh”. Song tức đồng đều, đi đôi. Cả hai định tuệ cần phải đồng đều, không nghiêng lệch bên này bên kia.

Ngộ yếu chỉ tức tâm tức Phật là con đường chân chánh, nhanh chóng, không cần phải tìm kiếm bên ngoài.

Ngài Pháp Hải nghe lời Tổ chỉ dạy thẳng tắt rõ ràng liền tỏ ngộ, bèn nói kệ trình bày chỗ hiểu:

“Tức tâm nguyên là Phật”. Ngộ ra rồi thì Phật không ở đâu xa, vốn ở ngay nơi tự tâm xưa nay của chính mình, nguyên sẵn là vậy mà lâu nay không biết.

“Chẳng ngộ mà tự khuất”. Gần bên ta, do không ngộ mà tự che lấp, tự ta che lấp ta chứ không ai khác, không phải người khác che lấp. Tự ta che lấp nên cũng tự ta ngộ.

“Con biết nhân định tuệ”. Giờ con nhận biết được cái nhân định tuệ rồi, không còn lầm mê, không còn hướng ra bên ngoài tìm nữa.

“Song tu lìa các vật”. Tức tu cả hai đồng đều, không còn lầm theo các vật, không phải phân biệt đây-kia, ngay nơi tự tâm vốn đầy đủ.

Với Ngài Pháp Hải sao ngộ dễ dàng quá! Chúng ta ngày nay thì sao? Bởi Sư thiết tha, khắc khoải, ghi sâu việc này trong tâm đã lâu, sự thiết tha của Sư quá lớn, nên đến đây hỏi Lục Tổ như thời tiết đã chín muồi, Tổ chỉ cần gợi lại thì ngộ ra liền. Chúng ta tâm chưa đủ thiết tha với việc này, mà còn thiết tha với cái ngã này, với các tướng, với trần cảnh bên ngoài, làm sao ngộ! Đó là chỗ nhắc chúng ta phải biết để quay trở lại.

***

Vị tăng Pháp Đạt, người Hồng Châu, xuất gia từ 7 tuổi, thường tụng kinh Pháp Hoa. Ông đến lễ Tổ, đầu chẳng sát đất, Tổ quở:

- Lễ mà đầu chẳng sát đất, sao bằng chẳng lễ. Trong tâm của ông hẳn là có một vật, đã chứa nhóm việc gì ư?

Pháp Đạt thưa:

- Đã niệm kinh Pháp Hoa đến ba ngàn bộ.

Tổ bảo:

- Nếu ông niệm đến muôn bộ mà nhận được ý kinh, chẳng cho là hơn thì cùng với tôi đồng đi. Nay ông mang cái sự nghiệp này đều chẳng biết lỗi. Hãy nghe tôi nói kệ:

Lễ vốn bẻ cờ mạn,

Sao đầu chẳng sát đất?

Có ta, tội liền sanh,

Quên công, phước vô kể.

Ngài Pháp Đạt vốn họ Lý, bảy tuổi đã xuất gia, thường tinh tấn tụng kinh Pháp Hoa cho đến ba ngàn bộ. Nghe tiếng Lục Tổ nên đến lễ, tuy có kính nhưng chưa hết lòng, nghĩ mình đã tụng ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa là có công đức lớn, thế nên lễ mà đầu không sát đất, chưa thành tâm. Lục Tổ là người sáng đạo, tâm sáng nên thấy thế liền biết người này đã có gì trong lòng, nên hỏi ông có chứa việc gì? Ngài Pháp Đạt đáp: “Con đã niệm ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa”, ngay đó đã lộ ra có chút tự hào trong đó, chấp vào công của Ngài tụng. Lục Tổ nghe liền quở để dẹp cái ngã mạn kia!

“Lễ vốn bẻ cờ mạn,

Sao đầu chẳng sát đất?

Có ta tội liền sanh,

Quên công phước vô kể”.

Chúng ta lễ vốn để dẹp bớt ngã mạn, bởi ai cũng quý cái đầu, cúi đầu lễ xuống là thấp cái ta. Ngài Pháp Đạt lễ mà đầu không sát đất, đã lộ ra cái ta trong đó, cái ta gì? Cái ta tụng ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa. Với Lục Tổ, tuy tụng kinh có công lớn nhưng nếu còn chấp vào cái công đó, tức có ta trong đó thì tội sanh chứ chưa hay. Cần phải biết, làm mà quên công, quên cái ta thì phước mới lớn. Lục Tổ đốn ngay cái ngã.

Sư lại hỏi:

- Ông tên gì?

Pháp Đạt thưa:

- Dạ! Tên Pháp Đạt.

Sư bảo:

- Ông tên Pháp Đạt mà đâu từng đạt pháp.

Tổ lại nói bài kệ:

Nay ông tên Pháp Đạt,

Siêng tụng chưa thôi nghĩ,

Tụng suông chỉ theo tiếng,

Sáng tâm gọi Bồ-tát.

Nay do ông có duyên,

Tôi sẽ vì ông nói,

Chỉ tin Phật không lời,

Hoa sen từ miệng nở.

Lục Tổ hỏi tên, nhân tên mà cảnh tỉnh cho Sư.

“Nay ông tên Pháp Đạt, siêng tụng chưa thôi nghỉ”. Tức ông siêng năng tụng như thế mà chỉ tụng suông theo tiếng thì thật là đáng tiếc. Nếu tụng đạt được ý kinh, sáng được tâm thì mới quý, nên Tổ nói “Tụng suông chỉ theo tiếng, sáng tâm gọi Bồ-tát”. Sáng tâm, là vượt qua chữ nghĩa bên ngoài.

“Nay do ông có duyên, tôi sẽ vì ông nói, chỉ tin Phật không lời, hoa sen từ miệng nở”. Tức là ông với tôi cũng có duyên, ông đến đây gặp thì tôi sẽ chỉ rõ cho ông, chỉ tin Phật vốn không lời thì hoa sen sẽ nở ngay nơi miệng, không ở đâu xa. Tin Phật không lời là sao? Tức tin Phật không nói. Trong kinh Lăng Già nói, Phật tuy thuyết pháp trên bốn mươi năm nhưng khoảng giữa đó Ngài chưa từng nói một chữ. Phật chưa từng nói một chữ thì chúng ta nghe cái gì? Đó là muốn nhắc người học phải thấu qua chữ nghĩa. Những lời nói đó chưa phải là chỗ Phật muốn nói, bởi nói mà chưa từng nói, Phật nói rồi thu lại hết, còn lại cái gì đó, chúng ta phải tự thấy. Nên nhà Thiền nói: “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền”.

Giáo ngoại biệt truyền không phải là truyền ngoài Kinh giáo riêng có cái khác. Nếu Thiền truyền ngoài Kinh giáo có gì riêng khác thì không phải Phật giáo. Truyền ngoài Kinh giáo đây muốn nói rằng sự truyền không nằm trong những kinh giáo chữ nghĩa. Cũng như đây nói Phật không lời, không lời lấy gì truyền? Phải thấu qua chữ nghĩa, sáng tỏ được lý thật ở ngoài lời thì nhận ra Diệu Pháp ở ngay chính mình. Diệu Pháp Liên Hoa là ngay chỗ đó chứ không phải ở bộ kinh để trên bàn. Tổ nhắc phải xoay trở lại nơi chính mình, đừng chạy theo câu theo lời chết trên những trang giấy mực.

Ngài Pháp Đạt nghe kệ liền ăn năn, tạ lỗi:

 - Từ nay về sau con sẽ khiêm cung với tất cả. Đệ tử tụng kinh Pháp Hoa mà chưa hiểu nghĩa kinh, tâm thường có điều nghi, Hòa thượng trí tuệ rộng lớn, nguyện nói tóm tắt nghĩa lý trong kinh.

Ngài Pháp Đạt nghe Tổ dạy liền biết lỗi, ăn năn, tạ lỗi. Ngài xin Lục Tổ chỉ dạy thêm.

Sư bảo:

- Pháp Đạt, pháp rất là đạt mà tâm ông chẳng đạt. Kinh vốn không có nghi, tâm ông tự nghi, ông niệm kinh này, lấy gì làm tông?

Trước khi khai thị, Tổ gợi ý cho ông nắm vững yếu chỉ Xoay Về Chính Mình. Pháp rất thông đạt tức thông suốt không ngăn ngại, nhưng tâm ông không đạt, là tự ông ngăn ngại ông chớ không phải do nơi pháp. Kinh cũng không có sanh nghi, chỉ tự tâm ông nghi, rốt lại là cần xoay lại tự tâm. Tổ lại hỏi ông đã niệm kinh thời gian lâu, nhưng kinh này lấy gì làm tông, ông có hiểu rõ chưa? Tông tức tông thú, là yếu chỉ trọng yếu để quy hướng, nương về. Tụng kinh mà không hiểu được tông thú hay yếu chỉ của kinh thì chỉ tụng suông.

Pháp Đạt thưa:

- Học nhân căn tánh mê mờ, từ trước đến nay chỉ nương theo văn mà tụng niệm, đâu biết tông thú.

Ngài Pháp Đạt rất thật thà, thưa rõ lâu nay theo văn, theo chữ mà tụng chứ không hiểu được tông thú, yếu chỉ của kinh.

Sư bảo:

- Tôi chẳng biết chữ, ông thử lấy kinh tụng qua một lần, tôi sẽ giải nói cho nghe.

Đây là một lần nữa đánh thức cho người học rằng, “ý thật” không ở trên văn tự, nên chẳng biết chữ mà biết giải nghĩa.

Pháp Đạt liền to tiếng niệm kinh, đến phẩm Phương Tiện, Sư bảo:

- Hãy dừng! Kinh này vốn lấy nhân duyên ra đời làm tông, dẫu nói nhiều thứ thí dụ cũng không ra ngoài ý này. Gì là nhân duyên? Kinh nói: “Chư Phật Thế Tôn chỉ vì một đại sự nhân duyên nên hiện ra nơi đời”. Một đại sự là tri kiến Phật.

Nhiều người cũng tụng không biết bao nhiêu bộ mà chưa hiểu rõ ý kinh. Tổ mới nghe lần đầu chưa hết quyển kinh đã hiểu rõ tông chỉ của kinh nên bảo dừng. Tổ nói rõ tông chỉ của kinh: “Kinh này vốn lấy nhân duyên ra đời làm tông, dẫu nói nhiều thứ thí dụ cũng không ra ngoài ý này”. Tức lấy nhân duyên của Phật ra đời làm tông chỉ, nhân duyên đó là gì? Tổ dẫn trong kinh: “Chư Phật Thế Tôn chỉ vì một đại sự nhân duyên nên hiện ra nơi đời, một đại sự là Tri kiến Phật”. Đó là tông thú của kinh. Người học kinh Pháp Hoa cần phải nắm được ý chính này mới học xuyên suốt được.

Đại sự nhân duyên tức nhân duyên việc lớn mà Phật hiện ra đời, đó là “Tri kiến Phật”. Dù Phật nói nhiều phương tiện và dùng nhiều thí dụ để dẫn dắt cho người nhưng ý chính là chỗ này. Như vậy, học kinh Pháp Hoa tức học “Tri kiến Phật”, nếu bỏ chỗ này là bỏ mất kinh Pháp Hoa, ý chính mà bỏ qua. Tri kiến Phật là gì mà trọng yếu như thế? Tri kiến Phật làm sao học? Làm sao tụng? Làm sao niệm? Đó là chỗ cần phải nghiền ngẫm, xét cho thấu đáo để sáng tỏ, học kinh Pháp Hoa là học đến như thế.

Tổ đúng là bậc trí tuệ, Ngài nói đơn giản, ngắn gọn nhưng vẫn súc tích, không cần giảng dài dòng mênh mông.

Người đời, bên ngoài mê đắm nơi tướng, bên trong thì mê đắm nơi Không. Nếu hay nơi tướng mà lìa tướng, nơi Không mà lìa không, tức trong ngoài chẳng mê. Nếu ngộ pháp này, một niệm tâm mở sáng, đó là Khai tri kiến Phật.

Phật ra đời là khai, thị, ngộ, nhập tri kiến Phật. Người đời mê tri kiến Phật, nên nói: “Người đời bên ngoài thì mê nơi tướng, bên trong thì mê nơi không”. Tức là trong ngoài đều mê, nên tri kiến Phật bị đóng, chưa khai. Mê nơi tướng là theo tướng mà phân biệt lăng xăng nên bị dẫn đi mất, tức theo duyên bên ngoài. Bên trong mê nơi Không tức mờ mịt, không rõ biết. Giờ phải chuyển lại như thế nào? Nơi tướng mà lìa tướng, thấy tất cả tướng nhưng lìa tướng nên đâu bị tướng che mờ. Nơi Không mà lìa không là rõ ràng sáng tỏ, thường biết không mê, tức không dính ở nơi Không. Trong ngoài sáng tỏ, bên ngoài tướng không làm mờ, bên trong không chìm theo nơi Không, ngay đó là một niệm tâm mở sáng, trong ngoài đều không che. Một niệm tâm mở sáng chính là khai tri kiến Phật. Chúng ta tụng năm này qua năm kia vẫn không khai, do không hiểu được ý chính của kinh. Vậy tri kiến Phật ở ngay Một Niệm Tâm Mở Sáng đó thôi, nhân duyên Phật ra đời vì đại sự này. Tụng kinh Pháp Hoa phải tụng thấu đến chỗ này.

Phật vẫn giác, chia ra làm bốn môn. Khai tri kiến Giác, Thị tri kiến Giác, Ngộ tri kiến Giác, Nhập tri kiến Giác. Nếu nghe khai thị liền có thể ngộ nhập, tức tri kiến Giác, chân tánh xưa nay sẽ hiện ra.

Nguyên văn trong kinh Pháp Hoa là: “Khai tri kiến Phật, Thị tri kiến Phật, Ngộ tri kiến Phật, Nhập tri kiến Phật”. Nếu không được giải thích, nhiều người cũng hiểu lầm là Khai tri kiến của Phật, Thị tri kiến của Phật, Ngộ tri kiến của Phật, Nhập tri kiến của Phật tức không dính dáng tới chúng ta. Lục Tổ từng quở hiểu như thế là chê bai Phật. Phật mà còn nhờ chúng ta khai tri kiến của Ngài hay sao? Ở đây Lục Tổ nói rõ tri kiến giác, là tri kiến giác ở ngay nơi chính mình.

Được Phật khai thị, chỉ bày cho liền ngộ nhập tri kiến giác nơi chúng ta, vượt qua tình mê, đó là nhân duyên ra đời của chư Phật, gọi là bản hoài của chư Phật ra đời. Ngay đó, chân tánh xưa nay hiện ra hết bị che mờ, đó chính là Diệu Pháp Liên Hoa.

Ông hãy dè dặt, chớ hiểu lầm ý kinh, nghe Phật nói khai thị ngộ nhập, rồi tự cho là tri kiến của Phật, bọn ta không có phần. Nếu khởi cái hiểu này, chính là chê bai kinh, hủy báng Phật. Ngài đã là Phật thì đã đủ tri kiến, đâu cần phải khai nữa. Nay ông hãy tin tri kiến Phật chỉ là tự tâm ông trọn không có Phật khác.

Có người nghe nói chư Phật khai thị ngộ nhập tri kiến Phật cho chúng sanh thì cho đó là tri kiến của Phật, đó là hiểu lầm theo chữ nghĩa. Tổ chỉ rõ đây là tri kiến giác ngộ ngay nơi chính mình mà chúng ta bỏ quên, nên chư Phật thương xót ra đời khai thị để chúng ta tỏ ngộ trở lại, thể nhập sống trong đó. Đó là chuyển mê thành giác hay là chuyển cái chúng sanh thành Phật. Thế nên tri kiến Phật hay tri kiến giác ngộ là ở ngay nơi tự tâm của mỗi người chứ không phải cái gì khác bên ngoài. Đã ở nơi ta thì phải tự soi lại chính mình để nhận ra chứ không thể tìm đâu khác.

Bởi vì tất cả chúng sanh tự che lấp cái sáng tỏ, tham đắm nơi tiền cảnh, bên ngoài thì duyên ra, bên trong thì quấy động, đành chịu rong ruổi làm nhọc cho Đức Thế Tôn từ tam-muội dậy, nói hết lời để khuyên hãy nghỉ ngơi, chớ tìm cầu bên ngoài thì cùng Phật không hai, vì vậy nói: Khai tri kiến Phật. Tôi cũng khuyên tất cả người, ngay trong tự tâm thường Khai tri kiến Phật.

Tổ chỉ ra nguyên do mà chúng sanh không nhận ra tri kiến Phật: “Bởi vì tất cả chúng sanh tự che lấp cái sáng tỏ, tham đắm nơi tiền cảnh, bên ngoài thì duyên ra, bên trong thì quấy động”. Mỗi người tự có tri kiến Phật, là cái sáng tỏ nơi chính mình lại tự che lấp. Tự chúng ta che lấp chính mình, không phải người khác che lấp, vậy cầu ai gỡ cho chúng ta? Phải tự chúng ta gỡ ra. Tức không ai làm chúng ta mê, cũng không ai ngăn cản chúng ta ngộ, chỉ tự chúng ta.

Lý do là tham đắm nơi tiền cảnh, tâm hướng ra ngoài, duyên theo những cảnh trần bị cảnh cuốn đi mãi, thành ra che mờ. Chỉ nhớ những cảnh trước thì đâu còn nhớ chính mình, đâu còn nhớ tri kiến Phật. Gọi là Quên mình theo vật.

Bên trong thì tự quấy động lăng xăng không yên, thành lưu chuyển mãi không dừng. Ngồi thiền mà nhớ cảnh trần nào thấy thích thì sao? Thì theo, tâm cũng động theo. Còn nhớ cảnh người nào làm cho ta không vui thì bực, đó là quấy động thành ra bị che.

“Làm nhọc cho Đức Thế Tôn từ tam-muội dậy, nói hết lời để khuyên hãy nghỉ ngơi chớ tìm cầu bên ngoài thì cùng Phật không hai, vì vậy nói: Khai tri kiến Phật”. Đức Thế Tôn ở trong chánh định yên ổn, không lời, giờ phải khởi dậy nói thành có lời để khuyên dạy cho chúng sanh. Nhưng dù nói hết lời cũng chỉ khuyên dạy chúng sanh “hãy nghỉ ngơi đi!”. Phật nói bao nhiêu kinh điển cũng để khuyên chúng ta hãy nghỉ ngơi, nhưng không ai chịu nghỉ mà cứ chạy rong ruổi mãi nên mới nhọc Thế Tôn, nhọc chư Tổ!

Nghỉ ngơi cái gì? Buông những tâm chạy theo duyên, liền cùng chư Phật không hai không khác, không phải tìm cái gì khác nữa. Trong kinh Kim Cang, Phật nói: “Lìa tất cả tướng tức gọi là chư Phật”. Lìa tất cả tướng tức nghỉ ngơi! Trong bài kệ của Thiền sư Bá Trượng - Hoài Hải có câu: “Chỉ lìa vọng duyên, tức như như Phật”. Phật, Tổ cũng chỉ bấy nhiêu đó, nhưng người mê cứ mãi theo tình mê, vọng duyên không chịu lìa, không chịu nghỉ ngơi đi thì làm sao thấy Phật!

Ngày nay, chúng ta học cũng nên thực hành theo Phật, Tổ, tức là cũng nên nghỉ ngơi đi để tự thường khai tri kiến Phật, không nên khai tri kiến chúng sanh. Mỗi niệm mỗi niệm đều tự khai tri kiến Phật, không để bị che lấp. Đây là lẽ thật nơi chính mình, nằm trong khả năng chính mình. Nếu Phật nói pháp ngoài khả năng chúng ta thì Phật thuyết pháp không khế cơ, nói chuyện ngoài tầm tay chúng ta tức nói chuyện của Phật, không dính dáng đến chúng ta, thì nói làm gì! Nhưng Phật luôn nói khế cơ khế lý, cho nên việc này nằm trong tầm tay của chúng ta, sao lại không chịu làm? Đó là Tổ thức tỉnh cho chúng ta.

Người đời tâm tà, ngu mê tạo tội, miệng nói lành mà tâm nghĩ dữ, tham sân, tật đố, siểm nịnh, ngã mạn, xâm phạm người, tổn hại vật, tự Khai tri kiến chúng sanh. Nếu hay chánh tâm trở lại, thường sanh trí tuệ quán chiếu tự tâm, dừng ác, làm thiện, đó là Khai tri kiến Phật. Ông cần niệm niệm Khai tri kiến Phật chớ Khai tri kiến chúng sanh. Khai tri kiến Phật là ra khỏi thế gian. Khai tri kiến chúng sanh là thế gian. Nếu ông chỉ cứ nhọc nhằn chấp niệm lấy làm công khóa, thì đâu khác gì con bò hoang mến đuôi!

Lục Tổ nhắc chớ có theo người đời, miệng nói lành, tâm nghĩ dữ, tức miệng nói khác, tâm nghĩ khác là khai tri kiến chúng sanh, tự che lấp chính mình. Cần niệm niệm nơi tự tâm thường khai tri kiến Phật, niệm niệm tâm thường sáng tỏ, mở sáng cái thấy biết của chính mình không mê, công phu như thế mới thiết thực.

Tổ cảnh tỉnh: “Nếu ông chỉ nhọc nhằn chấp niệm, lấy làm công khóa thì đâu khác gì con bò hoang mến đuôi!” Đó là lầm mê đáng trách. Cốt yếu cần phải sáng lại tâm, cái thấy biết thường giác không có mê, gọi là tâm tâm niệm niệm thường chuyển vật, đừng để bị vật chuyển, đó là con đường ra khỏi thế gian. Còn tâm mà bị vật chuyển là đường vào thế gian tức vào sanh tử. Đường ra khỏi thế gian hay vào thế gian là ngay nơi chính mình chứ không đâu xa, ngay cái thấy biết này.

Mục Lục
Kinh Pháp Bảo Đàn - Tào Khê Nguyên Bản giảng ký - Tập II