Chân nguyên chư Phật chúng sanh cũng sẵn có, nhân mê nên trầm luân tam giới, nhân ngộ chóng thoát sanh tử. Do đó, có chư Phật có thể thành, chúng sanh có thể tạo.
Thế nên các bậc tiền hiền thương xót rộng nói các đường. Lý có thiên viên, giáo chia đốn tiệm. Từ thô đến tế, từ cạn đến sâu, rốt sau chỉ trong chớp mắt, ngài Ca-diếp thấy hoa sen miệng cười chúm chím. Từ đây chánh pháp nhãn tạng được lưu thông trên trời, cõi người, nơi này, chốn khác. Người đạt được lý thì siêu tông vượt cách như đường chim không để dấu vết. Người nhận nơi sự thì kẹt câu lầm lời như rùa linh lê đuôi.
Khoảng này có thiền sư Thanh Cư xem căn cơ chúng sanh hợp bệnh cho thuốc, làm bản đồ chăn trâu theo cơ nói giáo. Ban đầu dần dần trắng nói lên sức mạnh chưa đủ. Kế đến thuần chân tiêu biểu căn cơ từ từ soi sáng. Sau rốt người trâu chẳng thấy, tượng trưng tâm pháp cả hai đều hết, lý ấy đã tột cội nguồn, pháp kia vẫn còn che đậy, khiến kẻ căn cơ bậc trung hạ nghi ngờ phân vân rơi vào không ngơ hoặc kẹt vào thường kiến.
Nay thiền sư Tắc Công nghĩ đến mô phạm của bậc tiền hiền, phát xuất từ đáy lòng mình làm mười bài tụng hay, khiến ánh sáng xen nhau ban đầu từ chỗ mất trâu, rốt đến hoàn nguyên, khéo ứng hợp quần cơ như cứu người đói khát.
Rồi Từ Viễn nương đây sưu tầm diệu nghĩa, lượm lặt chỗ huyền vi, như con thủy mẫu muốn đi ăn phải nương con tôm làm mắt dẫn đường, ban đầu từ tìm trâu, đến rốt sau buông thõng tay vào chợ.
Đó là gắng làm dậy sóng ngang sanh đầu sừng, còn không tâm có thể tìm nào có trâu có thể kiếm, đến buông tay vào chợ ma muội làm sao!
Huống là ông cha chẳng rõ, họa đến cháu con, chẳng ngại hoang đường thử làm đề xướng.
Hòa thượng Quách Am nói: Nguồn chân chư Phật, chúng sanh ai cũng có sẵn; Phật có nguồn chân ấy, chúng sanh cũng có nguồn chân ấy. Vì chúng sanh quên (mê) nguồn chân nên trầm luân trong tam giới; nếu ngộ nhận được nguồn chân sẵn có nơi mình thì chóng thoát sanh tử. Do đó, mới có chư Phật nhận được nguồn chân đã thành Phật và chúng sanh còn tạo nghiệp nên trầm luân trong tam giới.
Thế nên, các bậc tiền hiền thương xót chúng sanh mới nói rộng các phương tiện. Những phương tiện đó lý thì có thiên và viên, giáo thì có đốn và tiệm, để cho chúng sanh tu từ cạn tới sâu, từ thô lần đến tế. Nhưng chủ yếu rốt sau là chỗ “đức Phật ở trong hội Linh Sơn đưa cành hoa sen lên, trong chớp mắt, ngài Ca-diếp thấy cười chúm chím”. Chính vì ngài Ca-diếp cười chúm chím nên đức Phật mới nói: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, pháp môn mầu nhiệm, chẳng lập văn tự, ngoài giáo lý truyền riêng, nay giao phó cho ngươi. Ngươi khéo gìn giữ chánh pháp này, truyền trao mãi đừng cho dứt, đến sau sẽ truyền cho A-nan." Do sự truyền trao ấy nên ngài Quách Am nói kể từ đó thiền mới được lưu thông, truyền đi từ nơi này đến nơi khác, từ cõi người đến cõi trời. Người đạt lý thiền thì siêu vượt cả hình thức tôn giáo. Vượt cả tư cách thông thường của con người, giống như chim bay trong hư không, qua rồi không để lại dấu vết. Còn người chấp sự thì kẹt câu lầm lời giống như rùa bò kéo lê cái đuôi dưới bùn. Chẳng hạn có người hỏi tổ Lâm Tế: “Thế nào là Phật?” Ngài đáp: “Cục cứt khô.” Qua lời đáp này, đối với người thông thì biết Tổ dùng ngôn ngữ để phá chấp ngôn ngữ của người mê, nên không kẹt. Nhưng đối với người không thông thì cho rằng Tổ ăn nói thô lỗ, bất kính Phật. Họ đâu có biết lý đạo mà Tổ muốn chỉ không nằm ở lời nói tầm thường đó. Vì vậy, mà họ bị kẹt câu lầm lời giống như rùa bỏ ở chỗ đất sình đuôi nó kéo bết dưới đất, đi tới đâu cũng kéo một lằn, không thoát khỏi dấu vết.
Lúc bấy giờ, thiền sư Thanh Cư xem căn cơ của chúng sanh, mới tùy theo bệnh mà cho thuốc. Ngài vẽ tranh chăn trâu ban đầu là trâu đen rồi trắng dần dần, để nói lên sức huân tu còn yếu chưa mạnh. Kế đến trâu trắng đã thuần chân là tiêu biểu cho căn cơ từ từ đã soi sáng. Và sau rốt chỉ là một vòng tròn trắng tượng trưng cho tâm và pháp cả hai đều hết. Pháp là dụ cho trâu, tâm là dụ người chăn. Trâu và người chăn không còn nữa, đó là tột chỗ cội nguồn rồi. Nhưng mà, còn cái che đậy là “thấy chỗ không còn người không còn trâu” thì người đời sẽ đặt câu hỏi: “Tu đến chỗ rốt ráo không còn gì hết, rơi vào không ngơ sao? Hoặc mãi mãi là không thì rơi vào thường kiến?” Ngài Thanh Cư chỉ vẽ tới vòng tròn trắng, không còn trâu, không còn người chăn. Các bậc hiền trí sợ hàng hạ căn trung căn sanh nghi ngờ nên thiền sư Tắc Công họa mục 9 là Phản bản hoàn nguyên, tranh vẽ lá rụng về cội, chim bay về tổ và làm tụng. Phản bản hoàn nguyên là trở về nguồn cội sẵn có của mình nói lên ý nghĩa người tu đã vào được cảnh giới của Phật, để giải nghi.
Sau ngài Từ Viễn họa thêm mục 10. Vì, nếu tu đến chỗ phản bản hoàn nguyên rồi mà im lìm trong đó thì chưa đúng tinh thần tự giác giác tha giác hạnh viên mãn. Nên ngài diễn tả suốt lý thiền: Người tu thiền là người sẵn sàng lao mình để cứu độ chúng sanh, chứ không phải vào được cảnh giới Phật là để an nghỉ. Nên họa ra mục thứ 10 Thõng tay vào chợ để tiêu biểu công hạnh giáo hóa chúng sanh của người tu thiền đến chỗ viên mãn.
Tranh chăn trâu từ mục thứ 1 Tìm trâu tới mục thứ 8 Không còn trâu không còn người chăn là do thiền sư Thanh Cư họa. Kế đó, ngài Tác Công họa thêm mục thứ 9 là Phản bản hoàn nguyên và làm tụng. Sau cùng, ngài Từ Viễn họa tiếp mục 10 là Thõng tay vào chợ.
Ngài Quách Am bình: Chỗ rốt ráo không hình tướng vốn thanh tịnh sẵn vậy, mà gắng tạo ra hình tướng, đó là làm cho dậy sóng. Tâm vốn thanh tịnh không hình tướng, bỗng dưng vẽ ra hình tướng, giống như đầu sừng mọc ra không manh mối. Tâm không hình tướng làm sao có thể tìm, huống là có trâu để tìm kiếm! Cho tới buông thõng tay vào chợ, đó là việc làm rất là ma muội, lừa gạt người.
Ngài chê họa ra con trâu, thằng chăn là việc làm ma muội lừa gạt người. Nhưng ngài lại khen: Không phải các bậc tiền bối không biết việc đó, nhưng vì quá từ bi tạo ra phương tiện để cho người sau dễ thấy mà thứ tự tu hành. Song, người sau không hiểu, nhân đó mà chấp hình tướng, nên nói “ông cha không rõ, họa đến cháu con”. Ngài nói họa ra tranh ảnh là chuyện hoang đường, nhưng ngài thì không ngại, nên làm đề xướng.
Trong nhà thiền thường dùng câu “ông cha chẳng rõ, họa đến cháu con" để khen ngợi tổ Bồ-đề-đạt-ma. Vì ngài đã đem hết tâm tư, sức lực để làm lợi ích cho chúng sanh. Ngài dám liều chết vượt biển cả, đi từ Ấn Độ sang Trung Hoa để truyền thiền cho tổ Huệ Khả lần đến Lục tổ Huệ Năng... Ngài là người từ bi đáo để, vì đạo vì chúng sanh, không ngại gian khổ hiểm nguy, đây nói là “ông cha không rõ”, khen Tổ mà nói như thế đó! Nhờ ngài truyền thiền nên bây giờ chúng ta mới biết để tu mà nói “họa đến cháu con”. Đó là ngôn ngữ đặc biệt của nhà thiền, nếu nghe mà chấp lời thì không hiểu gì cả và cũng không thông lý thiền.
