Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 11 - Kinh Hoa Nghiêm Trích Giảng (Phần 2)
Phẩm Nhập Pháp Giới (tt1)

Lại ở trong mỗi lỗ lông xuất hiện vô lượng thân chúng sanh. Như là xuất hiện thân giống như các trời Sắc Cứu Cánh, Thiện Hiện, Thiện Kiến, Vô Nhiệt, Vô Phiền. Xuất hiện thân giống như các trời Quảng Quả, Phước Ái, Phước Sanh, Vô Vân. Xuất hiện thân giống như các trời Biến Tịnh, Vô Lượng Tịnh, Thiểu Tịnh. Xuất hiện thân giống như các trời Quang Âm, Vô Lượng Quang, Thiểu Quang. Xuất hiện thân giống như các trời Đại Phạm, Phạm Chúng, Phạm Phụ. Xuất hiện thân giống như các trời Tự Tại Tha Hóa, Hóa Lạc, Đâu-suất, Dạ-ma, Đao-lợi và các thiên tử, thiên nữ. Xuất hiện thân giống như càn-thát-bà vương, càn thát-bà tử, càn-thát-bà nữ. Xuất hiện thân giống như cưu-bàn-trà vương, cưu-bàn-trà tử, cưu-bàn-trà nữ. Xuất hiện thân giống như long vương, long tử, long nữ. Xuất hiện thân giống như dạ-xoa vương, dạ-xoa tử, dạ-xoa nữ. Xuất hiện thân giống như khẩn-na-la vương, ma-hầu-la-già vương, ca-lâu-la vương, a-tu-la vương, diêm-la vương cùng chư tử, chư nữ. Xuất hiện thân giống như nhân vương cùng chư tử, chư nữ. Xuất hiện thân giống như chúng của Thanh văn, Độc giác, chư Phật. Xuất hiện thân giống như Địa thần, Thủy thần, Hỏa thần, Phong thần, Hà thần, Hải thần, Sơn thần, Thọ thần, Trú thần, Dạ thần, Chủ phương thần... Xuất hiện vô lượng thân như vậy sung mãn pháp giới.

Ở trước tất cả chúng sanh xuất hiện những âm thanh. Như là: Tiếng phong luân, tiếng thủy luân, tiếng hỏa diệm, tiếng hải triều, tiếng địa chấn, tiếng núi lớn chạm nhau, tiếng Thiên thành chấn động, tiếng ma-ni khua, tiếng thiên vương, tiếng long vương, tiếng dạ-xoa vương, tiếng càn-thát-bà vương, tiếng a-tu-la vương, tiếng ca-lâu-la vương, tiếng khẩn-na-la vương, tiếng ma-hầu-la-già vương, tiếng nhân vương, tiếng Phạm vương, tiếng ca ngâm của thiên nữ, tiếng âm nhạc của chư thiên, tiếng ma-ni bảo vương.

Dùng những âm thanh như vậy để diễn nói chỗ gieo trồng công đức của Hỷ Mục dạ thần từ lúc sơ phát tâm, như là kính thờ các bậc thiện tri thức, thân cận chư Phật, tu tập thiện pháp. Thực hành Bố thí ba-la-mật, khó xả mà xả được. Thực hành Giới ba-la-mật vất bỏ ngôi vua, cung điện, quyến thuộc để xuất gia học đạo. Thực hành Nhẫn nhục ba-la-mật có thể nhẫn chịu tất cả sự khổ thế gian, cho đến những khổ hạnh của Bồ-tát tu tập, thọ trì chánh pháp, thảy đều kiên cố lòng chẳng lay động, cũng nhẫn thọ được những ác tác ác thuyết của tất cả chúng sanh gia vào thân tâm mình, nhẫn thọ tất cả công nghiệp không để hư mất, nhẫn thọ tất cả pháp sanh trí hiểu quyết định, nhẫn thọ pháp tánh có thể suy gẫm chín chắn. Thực hành Tinh tấn ba-la-mật khởi hạnh Nhất thiết trí, thành tựu tất cả Phật pháp. Thực hành Thiền ba-la-mật, những tư cụ của Thiền ba-la-mật cho đến những sự tu tập, những sự thành tựu, những sự thanh tịnh, những tam-muội thần thông, những sự nhập tam-muội môn của Thiền ba-la-mật đều hiển thị cả. Thực hành Bát-nhã ba-la-mật. Bát nhã ba-la-mật đây có những tư cụ, những trí tuệ nhật thanh tịnh quảng đại, trí tuệ môn quảng đại, thảy đều hiển thị cả. Thực hành Phương tiện ba-la-mật, ba-la-mật này có những tư cụ, sự tu hành, thể tánh, lý thú, thanh tịnh, tương ưng, đều hiển thị cả. Thực hành Nguyện ba-la-mật, ba-la-mật này có thể tánh, thành tựu, tu tập, tương ưng, đều hiển thị cả. Thực hành Lực ba-la-mật, ba-la-mật này có những tư cụ, nhân duyên, lý thú, diễn thuyết, tương ưng, đều hiển thị cả. Thực hành Trí ba-la-mật, ba-la-mật này có những tư cụ, thể tánh, thành tựu, thanh tịnh xứ sở, tăng trưởng, thâm nhập, quang minh, hiển thị, lý thú, sự tương ưng, giản trạch, hành tướng, pháp tương ưng, pháp sở nhiếp, pháp sở tri, nghiệp sở tri, cõi sở tri, kiếp sở tri, thế sở tri, Phật xuất hiện đã biết, Phật đã biết, Bồ-tát đã biết, Bồ-tát tâm, Bồ-tát vị, Bồ-tát tư cụ, Bồ-tát phát thú, Bồ-tát hồi hướng, Bồ-tát đại nguyện, Bồ-tát pháp luân. Bồ-tát giản trạch pháp, Bồ-tát pháp hải, Bồ-tát pháp môn hải, Bồ-tát phát triển lưu, Bồ-tát pháp lý thú, tất cả cảnh giới tương ưng với Trí ba-la-mật như vậy, đều hiển thị để thành thục chúng sanh.

Đoạn này ca ngợi công đức trí tuệ của Bồ-tát thực hành đầy đủ thập ba-la-mật. Thực hành ba-la-mật có những tư cụ, nhân duyên, lý thú, diễn thuyết, tương ưng… đều hiển thị cả.

Tư cụ là gì? Tư là giúp đỡ, cụ là công cụ. Tư cụ là công cụ giúp đỡ cho việc tu tập chóng thành tựu. Sự tu hành chỉ cho những công hạnh. Thể tánh là thấy tường tận tánh của các pháp. Lý thú là pháp tu đem lại những ý nghĩa sâu xa, thâm trầm, thú vị bên trong. Thanh tịnh là tâm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Tương ưng là khế hợp. 

Nói thành tựu Nguyện ba-la-mật gồm có thể tánh, thành tựu, tu tập, tương ưng, không có tư cụ. Vì nguyện do ta tự phát, nên biết thể tánh của nguyện đó như thế nào, sự thành tựu, sự tu tập, sự tương ưng của nguyện như thế nào v.v... Ở đây diễn tả Bồ-tát tu thập ba-la-mật và những phương tiện trợ giúp thành tựu thập ba-la-mật đó. 

Lại diễn thuyết Hỷ Mục dạ thần từ lúc sơ phát tâm chứa nhóm công đức tiếp nối thứ đệ, chứa nhóm thiện căn tiếp nối thứ đệ, tu tập vô lượng môn ba-la-mật tiếp nối thứ đệ, chết đây sanh kia và danh hiệu tiếp nối thứ đệ, thân cận thiện hữu, kính thờ chư Phật, thọ trì chánh pháp, tu Bồ-tát hạnh, nhập môn tam-muội, dùng sức tam-muội thấy khắp chư Phật, thấy khắp các cõi, thấy khắp các kiếp, thâm nhập pháp giới, quán sát chúng sanh, nhập pháp giới hải biết các chúng sanh chết đây sanh kia, được tịnh Thiên nhĩ nghe tất cả tiếng, được định Thiên nhãn thấy tất cả sắc, được tha tâm trí biết tâm chúng sanh, được túc trụ trí biết sự đời trước, được thần túc trí thông, vô y vô tác du hành khắp mười phương cõi, tất cả những tiếp nối thứ đệ của tất cả công đức thần thông ấy. Được Bồ-tát giải thoát, nhập Bồ-tát giải thoát hải, được Bồ-tát tự tại, được Bồ-tát dũng mãnh, được Bồ-tát du bộ, trụ Bồ-tát tưởng, nhập Bồ-tát đạo, tất cả những công đức nối tiếp thứ đệ như vậy đều diễn nói phân biệt hiển thị để thành thục chúng sanh. 

Ở trên nói công hạnh, đoạn này nói công đức. Do công hạnh như vậy nên được công đức như vậy. Đây chỉ kể sơ lược như thâm nhập pháp giới, quán sát chúng sanh, nhập pháp giới hải v.v... được tịnh thiên nhãn, tha tâm trí, túc trụ trí, thần túc trí... tức là được lục thông. Lục thông là quả do công đức chứa nhóm tu hành từ trước. 

Lúc diễn nói như vậy, trong mỗi niệm, mỗi phương, trong mười phương đều nghiêm tịnh bất khả thuyết bất khả thuyết Phật độ, độ thoát vô lượng ác thú chúng sanh, làm cho vô lượng chúng sanh sanh trong hàng nhân thiên giàu sang tự tại. Làm cho vô lượng chúng sanh thoát biển sanh tử. Làm cho vô lượng chúng sanh an trụ bậc Thanh văn, Bích-chi Phật. Làm cho vô lượng chúng sanh an trụ Như Lai địa.

Thiện Tài đồng tử thấy nghe tất cả những sự hy hữu đã hiển hiện đó, liền quán sát tư duy hiểu rõ và thâm nhập an trụ trong đó. Nương oai lực của Phật và sức giải thoát nên được Bồ-tát bất tư nghì đại thế lực, phổ hỷ tràng tự tại lực giải thoát.

Ngài Thiện Tài tu hành đến đây là bước vào địa thứ ba trong Thập địa rồi.

Tại sao vậy? Vì Thiện Tài cùng Hỷ Mục dạ thần, từ thuở xưa đã từng cùng nhau tu hành, vì thần lực của Phật gia hộ, vì bất tư nghì thiện căn hộ trợ, vì được Bồ-tát căn, vì sanh trong dòng Như Lai, vì được sức thiện hữu nhiếp thọ, vì được chư Phật hộ niệm, vì đã từng được sự giáo hóa của đức Tỳ-lô-giá-na Như Lai, vì phần thiện căn đó đã thành thục, vì kham tu tập hạnh của Phổ Hiền Bồ-tát.

Tại sao ngài chứng nhập được? Vì ngài đã tu hành lâu xa, không phải mới tu hành đời này.

Được môn giải thoát này rồi, Thiện Tài rất hoan hỷ, chắp tay cung kính hướng về phía Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh dạ thần mà nói kệ khen ngợi rằng:

Dạ thần có dạy gì chưa? Chưa. Thiện Tài do thấy những hóa thân, nghe những âm thanh, hóa thân từ trong mỗi lỗ chân lông của Dạ thần hiện ra nói pháp v.v... chứ chưa nghe Dạ thần nói câu nào. Lối diễn tả này cho chúng ta thấy, sở dĩ Bồ-tát được đầy đủ viên mãn bao nhiêu công hạnh là do các ngài đã tu tập tích lũy từ rất lâu, không tính kể thời gian, không có niệm chán sợ. Vì dồn chứa quá nhiều nên nói trong mỗi lỗ chân lông hiện ra vô số hóa thân Bồ-tát giáo hóa chúng sanh. Điều này nghe như huyền bí, nhưng đó là diễn tả công đức của các ngài tích lũy từ vô lượng kiếp tới nay. Thiện Tài quan sát thế rồi khen ngợi.

Vô lượng vô số kiếp

Học Phật pháp thậm thâm 

Tùy chỗ nên hóa độ

Hiển hiện diệu sắc thân.

Bồ-tát đã tu vô lượng vô số kiếp, đã học Phật pháp rất lâu xa. Cho nên mới tùy chỗ hiển hiện diệu sắc thân để hóa độ chúng sanh. 

Biết rõ các chúng sanh

Trầm mê mắc vọng tưởng 

Đều hiện nhiều thân hình

Tùy nghi điều phục họ.

Ngài biết chúng sanh trầm mê, chìm đắm trong dòng sanh tử nên mới hiện thân để điều phục chúng. 

Pháp thân hằng tịch tịnh

Thanh tịnh không hai tướng

Vì giáo hóa chúng sanh

Thị hiện những thân hình.

Pháp thân thì tịch tịnh, vắng lặng. Thanh tịnh là không có tướng thứ hai, vừa có tướng thứ hai thì không phải pháp thân. Nhưng vì giáo hóa chúng sanh, từ pháp thân thanh tịnh ấy Bồ-tát thị hiện ra bao nhiêu thân hình.

Nơi các uẩn, xứ, giới

Chưa từng có chỗ chấp

Công hạnh và sắc thân

Hiện ra điều phục chúng.

Khi hiện ra sắc thân như vậy đối với uẩn xứ và giới không bao giờ chấp, bởi không chấp nên dễ dàng dùng công hạnh và sắc thân điều phục chúng sanh. 

Chẳng chấp pháp nội ngoại

Đã vượt biển sanh tử

Mà hiện những thân hình

Ở nơi cõi hữu lậu.

Bồ-tát hiện thân không chấp bên trong cũng không chấp bên ngoài, các ngài đã vượt khỏi biển sanh tử, tùy theo chúng sanh trong cõi hữu lậu mà giáo hóa. 

Lìa xa những phân biệt

Hý luận không làm động

Vì người chấp vọng tưởng

Hoằng tuyên pháp thập lực.

Các ngài lìa xa vọng tưởng, phân biệt hý luận không làm cho các ngài dao động. Vì những người kẹt chấp vọng tưởng mà các ngài tuyên pháp thập lực để độ thoát họ. 

Nhất tâm trụ tam-muội

Vô lượng kiếp chẳng động

Lỗ lông hiện biến hóa

Cúng dường thập phương Phật.

Khi an tâm ở trong chánh định thì trải qua vô lượng kiếp chẳng dao động, chỉ một bề vui trong chánh định đó. Mỗi lỗ chân lông hiện ra vô lượng thần biến, vô lượng sự giáo hóa chúng sanh và cúng dường vô lượng chư Phật.

Được Phật phương tiện lực

Niệm niệm vô biên tế

Thị hiện nhiều thân hình

Khắp nhiếp các quần sanh.

Ngài đã được phương tiện lực của Phật, nên mỗi niệm đều không ngằn mé, thị hiện nhiều thân hình khắp nhiếp các quần sanh. 

Biết rõ biển hữu lậu

Nhiều công hạnh trang nghiêm

Vì nói pháp vô ngại 

Khiến họ đều thanh tịnh. 

Ngài biết rõ nguyên nhân nào khiến chúng sanh chìm đắm sanh tử nhiều như biển. Cho nên các ngài có nhiều công hạnh để trang nghiêm, nói pháp vô ngại cho chúng sanh khiến họ đều được thanh tịnh. 

Sắc thân diệu vô tỷ 

Thanh tịnh như Phổ Hiền

Tùy tâm các chúng sanh

Thị hiện tướng thế gian.

Sắc thân của các vị thị hiện không có gì sánh nổi, cũng thanh tịnh như ngài Phổ Hiền. Bồ-tát Phổ Hiền có vô lượng công hạnh trang nghiêm đầy đủ, tùy tâm chúng sanh mà hiện ra các tướng để độ họ. Đoạn này Thiện Tài tán thán công đức của Bồ-tát hay nói rõ hơn là của Hỷ Mục dạ thần.

Thiện Tài nói kệ xong, bạch rằng:

Đức Thánh phát tâm vô thượng Bồ-đề hồi nào? Được môn giải thoát này được bao lâu?

Hỷ Mục dạ thần nói kệ đáp rằng:

Ta nhớ đời quá khứ

Qua khỏi sát trần kiếp

Cõi hiệu Ma-ni Quang

Kiếp tên Tịch Tịnh Âm.

Trăm vạn na-do-tha

Câu chi tứ thiên hạ

Nhân vương số cũng vậy

Mỗi vua trị mỗi châu. 

Sát trần kiếp là số kiếp nhiều như số bụi, không thể tính kể. Ở đây nhắc lại sự tích tiền thân của Bồ-tát phát tâm từ xa xưa, nhiều hơn cả sát trần kiếp.

Có một vương đô thành

Hiệu là Hương Tràng Bảo

Trang nghiêm rất đẹp lạ

Ai thấy cũng hoan hỷ. 

Thành có Chuyển luân vương

Thân vua rất xinh đẹp

Đủ ba hai tướng tốt

Tùy hảo trang nghiêm thân.

Từ hoa sen hóa sanh

Thân sáng chói màu vàng

Bay cao chiếu xa gần 

Khắp đến châu Diêm-phù.

Vua có ngàn vương tử

Thân đoan chánh dũng mãnh

Các quan đủ một ức

Có trí tuệ phương tiện.

Cung tần mười ức người

Dung nhan như thiên nữ 

Lòng điều nhu lợi ích 

Thương mến hầu hạ vua.

Nhà vua dùng pháp trị 

Khắp đến tứ thiên hạ 

Trong khắp cõi đại địa

Tất cả đều giàu mạnh. 

Thuở ấy, ta Bảo nữ

Có ngôn âm thanh tịnh 

Thân chiếu sáng kim sắc

Chiếu đến ngàn do-tuần. 

Một đêm nọ trời tối

Âm nhạc đã ngừng bặt 

Đại vương và quan hầu

Tất cả đều ngủ yên.

Lúc đó, Phật Đức Hải

Xuất hiện trên thế gian 

Hiển thị thần thông lực

Sung mãn mười phương cõi. 

Phật phóng đại quang minh 

Chiếu khắp tất cả cõi

Hiện những thân tự tại

Đầy khắp cả mười phương. 

Địa chấn vang tiếng diệu

Phổ cáo Phật xuất thế 

Chúng thiên, nhân, long, thần 

Tất cả đều hoan hỷ. 

Trong mỗi mỗi lỗ lông 

Hiện ra hóa thân Phật 

Mười phương đều đầy khắp

Tùy nghi nói diệu pháp. 

Lúc đó, ta chiêm bao

Thấy thần biến của Phật

Cũng nghe pháp thâm diệu

Lòng ta rất vui mừng. 

Một vạn Chủ dạ thần 

Cũng dừng tại hư không

Tán thán Phật xuất thế

Đồng thời đánh thức ta:

Bảo nữ! Nàng mau dậy 

Phật đã hiện nước người 

Nhiều kiếp khó gặp gỡ

Người thấy được thanh tịnh. 

Liền đó ta thức dậy 

Thấy quang minh thanh tịnh 

Xem coi từ đâu chiếu 

Thấy Phật ngự Bồ-đề.

Thân tướng tốt trang nghiêm

Dường như Bảo Sơn vương

Trong tất cả lỗ lông

Phóng vô lượng quang minh. 

Thấy rồi rất vui mừng

Lòng ta tự nghĩ rằng:

Nguyện ta được như Phật

Sức thần thông quảng đại. 

Lúc đó, ta đánh thức 

Đại vương và quyến thuộc 

Cho thấy Phật quang minh

Tất cả đều mừng rỡ. 

Ta cùng với Đại vương 

Người theo ngàn muôn ức 

Chúng sanh cũng vô lượng 

Đều đi đến chỗ Phật.

Trọn trong hai muôn năm

Ta cúng dường đức Phật 

Thất bảo tứ thiên hạ 

Tất cả đều dâng cúng. 

Phật Đức Hải diễn nói

Kinh Công Đức Phổ Vân

Ứng khắp tâm quần sanh 

Trang nghiêm tất cả nguyện.

Dạ thần giác ngộ ta

Cho ta được lợi ích

Ta nguyện làm Dạ thần

Giác ngộ người phóng dật.

Từ đó ta bắt đầu

Phát nguyện đại Bồ-đề

Qua lại trong các cõi

Tâm nguyện không quên mất.

Sau đó ta cúng dường

Mười ức na-do Phật

Hằng hưởng vui nhân thiên

Lợi ích các quần sanh. 

Kế Phật Công Đức Hải 

Là Phật Công Đức Đăng 

Thứ ba Diệu Bảo Tràng 

Thứ tư Hư Không Trí. 

Thứ năm Liên Hoa Tạng

Thứ sáu Vô Ngại Huệ 

Thứ bảy Pháp Nguyệt Vương 

Thứ tám Trí Đăng Luân.

Đức Phật thứ chín hiệu

Bảo Diệm Sơn Đăng Vương

Đức Phật thứ mười hiệu 

Tam Thế Hoa Quang Âm.

Tất cả Phật như vậy

Ta đều cúng dường đủ

Nhưng chưa được tuệ nhãn

Nhập nơi biển giải thoát. 

Thuở xưa, giai đoạn đầu sơ phát tâm Hỷ Mục dạ thần gặp Phật Đức Hải, phát nguyện làm dạ thần, cứ như vậy cúng dường mười ức na-do Phật, được phước cõi trời, làm lợi ích cho chúng sanh. Giai đoạn thứ hai cúng dường mười đức Phật nữa mà chưa được tuệ nhãn, chưa biết vào biển giải thoát.

Sau đó lần lượt có

Cõi Nhất thiết Bảo Quang 

Kiếp đó tên Thiên Thắng 

Năm trăm Phật ra đời:

Trước nhất Nguyệt Quang Luân

Thứ hai Phật Nhật Đăng 

Thứ ba Phật Quang Tràng 

Thứ tư Bảo Tu-di.

Thứ năm Phật Hoa Diệm 

Thứ sáu Phật Đăng Hải

Thứ bảy Phật Xí Nhiên

Thứ tám Phật Thiên Tạng. 

Chín: Quang Minh Vương Tràng 

Mười: Phổ Trí Quang Vương...

Tất cả chư Phật ấy

Ta đều cúng dường đủ.

Vẫn còn trong các pháp

Không mà cho là có

Sau đó lại có kiếp

Tên là Phạm Quang Minh.

Cõi tên Liên Hoa Đăng

Trang nghiêm rất đẹp lạ

Có vô lượng đức Phật

Mỗi Phật vô lượng chúng.

Ta đều từng cúng dường

Tôn trọng nghe thuyết pháp

Một là Bảo Tu-di

Hai, Phật Công Đức Hải. 

Ba, Phật Pháp Giới Âm 

Bốn, Phật Pháp Chấn Lôi 

Năm là Phật Pháp Tràng 

Thứ sáu Phật Địa Quang.

Bảy, Phật Pháp Lực Quang

Thứ tám Hư Không Giác 

Thứ chín Tu-di Quang

Thứ mười Công Đức Vân...

Chư Như Lai như vậy

Ta đều từng cúng dường

Còn chưa hiểu rõ pháp

Để nhập biển chư Phật.

Kế đó lại có kiếp

Tên là Công Đức Nguyệt 

Có thế giới trang nghiêm

Tên là Công Đức Tràng.

Trong đó có chư Phật

Tám mươi na-do-tha

Ta đều sắm đồ cúng

Thâm tâm dâng lên Phật.

Một, Phật Thát-bà Vương

Hai, Phật Đại Thọ Vương 

Ba, Công Đức Tu-di 

Thứ tư Phật Bảo Nhãn.

Thứ năm Lô-xá-na

Thứ sáu Quang Trang Nghiêm 

Thứ bảy Phật Pháp Hải

Thứ tám Phật Quang Thắng.

Thứ chín Phật Hiền Thắng 

Thứ mười Phật Pháp Vương

Chư Phật Như Lai đó

Ta đều từng cúng dường.

Nhưng chưa được thâm trí 

Nhập vào biển Phật pháp

Sau đó lại có kiếp

Tên là Tịch Tịnh Huệ.

Kiếp hiệu Kim Cang Bảo

Rất trang nghiêm đẹp lạ 

Trong đó có ngàn Phật 

Thứ đệ hiện thế gian. 

Chúng sanh phiền não nhẹ 

Chúng hội đều thanh tịnh

Một, Phật Kim Cang Tê

Hai, Phật Vô Ngại Lực. 

Ba, Phật Pháp Giới Ảnh

Bốn, Phật Thập Phương Đăng 

Thứ năm Phật Bi Quang 

Thứ sáu Phật Giới Hải.

Thứ bảy Nhẫn Đăng Luân

Thứ tám Pháp Luân Quang 

Thứ chín Quang Trang Nghiêm 

Mười, Phật Tịch Tịnh Quang.

Chư Phật Như Lai đó

Ta đều từng cúng dường 

Còn chưa được tham ngộ 

Pháp thanh tịnh như không. 

Du hành tất cả cõi 

Hằng tu những công hạnh 

Thứ đệ lại có kiếp

Tên là Thiện Xuất Hiện.

Cõi hiệu Hương Đăng Văn

Tịnh uế chung nhau thành 

Trong đó có ức Phật

Trang nghiêm cõi và kiếp.

Chư Phật đó thuyết pháp 

Ta đều thọ trì được 

Thứ nhất Phật Quảng Xưng

Kế đến Phật Pháp Hải

Thứ ba Tự Tại Vương

Thứ tư Công Đức Vân

Thứ năm Phật Pháp Thắng

Thứ sáu Phật Thiên Quan.

Thứ bảy Phật Trí Diệm

Thứ tám Hư Không Âm

Đức Thế Tôn thứ chín

Hiệu Phổ Sanh Thù Thắng.

Vô Thượng Sĩ thứ mười 

Mi Gian Thắng Quang Minh... 

Tất cả Phật như vậy

Ta đều từng cúng dường.

Nhưng còn chưa sạch được

Đạo rời lìa chướng ngại

Kế đó lại có kiếp 

Tên Tập Kiên Cố Vương.

Cõi hiệu Bảo Tràng Chủ

Tất cả khéo nghiêm bày

Có năm trăm đức Phật 

Xuất hiện trong cõi đó.

Ta cung kính cúng dường 

Cầu vô ngại giải thoát 

Thứ nhất Phật Công Đức 

Thứ hai Tịch Tịnh Âm.

Thứ ba Công Đức Hải

Thứ tư Nhật Quang Vương 

Thứ năm Công Đức Vương 

Thứ sáu Tu-di Tướng. 

Thứ bảy Pháp Tự Tại 

Thứ tám Công Đức Vương

Thứ chín Phước Tu-di

Mười, Phật Quang Minh Vương...

Chư Phật Như Lai đó

Ta đều từng cúng dường

Bao nhiêu đạo thanh tịnh

Ta đều nhập không sót, 

Nhưng nơi môn đã nhập

Chưa thành tựu được nhẫn.

Giai đoạn thứ ba cúng dường mười đức Phật nữa, ở trong các pháp Không mà lầm chấp cho là có. Sau đó cúng dường mười đức Phật nữa, vẫn chưa biết được đường lối nhập biển công đức của chư Phật. Kế đó cúng dường thêm mười đức Phật nữa, tức là giai đoạn thứ năm, từng được cúng dường nhưng chưa được thân trí nhập vào biển Phật pháp. Sau đó cúng dường mười đức Phật nữa, mà chưa được thâm ngộ thanh tịnh pháp thân như không, du hành tất cả cõi, hằng tu những công hạnh. Kế cúng dường mười đức Phật nữa, nhưng vẫn chưa được đạo rời lìa chướng ngại. Kế đó cúng dường mười đức Phật nữa, rồi lại mười đức Phật nữa... nhưng vẫn chưa được thanh tịnh nhẫn để vào biển Phật pháp. 

Kế đó lại có kiếp 

Tên là Diệu Thắng Chủ 

Cõi hiệu Tịch Tịnh Âm 

Chúng sanh phiền não nhẹ. 

Cõi ấy có Phật hiện

Tám mươi na-do-tha

Ta đều từng cúng dường

Ta hành đạo tối thắng 

Thứ nhất Phật Hoa Tụ 

Thứ hai Phật Hải Tạng 

Thứ ba Công Đức Sanh 

Thứ tư Thiên Vương Kế,

Thứ năm Ma-ni Tạng

Thứ sáu Chân Kim Sơn 

Thứ bảy Bảo Tụ Tôn

Thứ tám Pháp Tràng Phật.

Thứ chín Phật Thắng Tài

Thứ mười Phật Trí Huệ

Tất cả chư Phật này

Ta đều cúng dường đủ.

Kế đó lại có kiếp

Hiệu là Thiên Công Đức

Kiếp đó có thế giới

Hiệu Thiện Hóa Tràng Đăng. 

Sáu mươi ức do-tha

Như Lai hiện thế gian 

Một là Tịch Tịnh Tràng 

Hai, Phật Xa-ma-tha.

Ba, Phật Bá Đăng Vương 

Bốn, Phật Tịch Tịnh Quang 

Thứ năm Vân Mật Âm

Thứ sáu Nhật Đại Minh,

Thứ bảy Pháp Đăng Quang 

Thứ tám Thù Thắng Diệm 

Thứ chín Thiên Thắng Tạng 

Thứ mười Đại Hống Âm. 

Chư Phật Như Lai đó

Ta đều thường cúng dường 

Chưa được thanh tịnh nhẫn 

Thâm nhập biển Phật pháp. 

Kế đó lại có kiếp

Tên Vô Trước Trang Nghiêm

Lúc đó, có thế giới

Tên là Vô Biên Quang.

Trong đó có ba sáu

Na-do-tha Phật hiện:

Một, Công Đức Tu-di

Hai, Phật Hư Không Tâm. 

Thứ ba Cụ Trang Nghiêm

Thứ tư Pháp Lôi Âm 

Thứ năm Pháp Giới Thanh

Thứ sáu Diệu Âm Vân. 

Thứ bảy Chiếu Thập Phương 

Thứ tám Pháp Hải Âm 

Thứ chín Công Đức Hải

Thứ mười Công Đức Tràng.

Chư Phật Như Lai đó

Ta đều từng cúng dường.

Cúng dường đầy đủ các đức Phật như thế.

Kế có Phật xuất thế

Hiệu là Công Đức Tràng

Ta làm Nguyệt Diện Thiên

Cúng dường đức Thế Tôn.

Như Lai vì ta nói

Vô y diệu pháp môn

Ta nghe chuyên nhớ nghĩ

Phát sanh biển đại nguyện.

Ta được thanh tịnh nhãn 

Tịch diệt định tổng trì

Có thể trong mỗi niệm

Đều thấy tất cả Phật.

Đến đây công viên quả mãn, nhờ công đức cúng dường bao nhiêu các đức Phật lâu xa như vậy.

Ta được đại bi tạng

Phương tiện nhãn khắp sáng

Thêm lớn tâm Bồ-đề

Thành tựu Như Lai lực.

Thấy chúng sanh điên đảo 

Chấp thường, lạc, ngã, tịnh, 

Tối ngu si che lấp

Vọng tưởng khởi phiền não. 

Đi đứng rừng kiến chấp 

Qua lại biển tham dục 

Nhóm ở các ác đạo

Tạo vô lượng ác nghiệp. 

Trong tất cả các loài

Theo nghiệp mà thọ thân

Các họa sanh già chết

Vô lượng khổ bức bách.

Vì những chúng sanh đó

Ta phát tâm vô thượng

Nguyện được như mười phương

Tất cả đấng Thập lực.

Duyên Phật và chúng sanh

Phát khởi những đại nguyện

Từ đó tu công đức

Xu nhập phương tiện đạo. 

Đại nguyện đều che chở

Vào khắp tất cả đạo 

Đầy đủ ba-la-mật

Đầy khắp nơi pháp giới. 

Mau nhập nơi các địa 

Biển phương tiện tam thế 

Một niệm tu chư Phật 

Tất cả hạnh vô ngại.

Lúc đó, ta được nhập 

Đạo Phổ Hiền Bồ-tát

Biết rõ mười pháp giới

Tất cả môn sai biệt.

Nói kệ xong, Dạ thần bảo Thiện Tài rằng:

Này Thiện nam tử! Ý ngươi nghĩ sao? Thuở xưa, Chuyển luân thánh vương hiệu Thập Phương Chủ có thể nối thạnh dòng Phật là ai? Chính là ngài Văn-thù-sư-lợi đồng tử đây. Còn Dạ thần giác ngộ ta, chính là hóa thân của đức Phổ Hiền Bồ-tát.

Như vậy Văn-thù và Phổ Hiền là hai Bồ-tát giúp cho Dạ thần thành tựu quả vị thứ ba. Để thấy người tu Bồ-tát hạnh phải đầy đủ Căn bản trí và Sai biệt trí. Hai trí này là gốc để chư Bồ-tát thành tựu công đức và hạnh nguyện viên mãn.

Thuở ấy, ta làm Bảo Nữ, nhờ Dạ thần giác ngộ cho ta thấy Phật để phát tâm vô thượng Bồ-đề. Từ đó về sau trải qua Phật sát vi trần số kiếp chẳng đọa ác đạo, thường sanh nhân Thiên, thường thấy chư Phật. Nhẫn đến ở chỗ đức Phật Diệu Đăng Công Đức Tràng được môn Bồ-tát giải thoát “Đại thế lực phổ hỷ tràng” này. Ta dùng môn giải thoát này làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.

Này Thiện nam tử! Ta chỉ được môn giải thoát Đại thế lực phổ hỷ tràng này. Như chư Đại Bồ-tát trong mỗi niệm đến khắp trước tất cả chư Phật Như Lai, mau hướng vào được biển Nhất thiết trí, trong mỗi niệm dùng môn phát thu vào tất cả biển đại nguyện. Trong mỗi niệm dùng môn đại nguyện tận kiếp vị lai, mỗi niệm xuất sanh tất cả công hạnh. Trong mỗi hạnh xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số thân. Mỗi mỗi thân vào khắp tất cả pháp giới môn. Mỗi pháp giới môn, trong tất cả cõi tâm chúng sanh mà nói những diệu hạnh. Trong mỗi vi trần của tất cả cõi đều thấy vô biên chư Phật. Ở chỗ mỗi Như Lai đều thấy khắp pháp giới chư Phật thần thông. Ở chỗ mỗi Như Lai đều thấy đời trước tu Bồ-tát hạnh. Ở chỗ mỗi Như Lai thọ trì thủ hộ những pháp luân. Ở chỗ mỗi Như Lai đều thấy những thần biến của tam thế tất cả Như Lai... Ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh đó.

Này Thiện nam tử! Trong chúng hội đây có một dạ thần tên là Phổ Cứu Chúng Sanh Diệu Đức. Ngươi đến đó hỏi Bồ-tát thế nào nhập Bồ-tát hạnh, tịnh Bồ-tát đạo?

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh Chủ dạ thần, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi. 

Đến đây Thiện Tài đảnh lễ Hỷ Mục dạ thần rồi từ tạ lui đi. Như vậy để thấy rõ Bồ-tát từ Sơ địa tới Tam địa đều tu hạnh đại từ đại bi, công đức vô lượng vô biên, giáo hóa chúng sanh không tính kể. Thời gian phát tâm của các ngài không thể dùng trí phàm tục mà lượng xét nổi. Nghe thế chúng ta đâm ra ngán, chư Phật Bồ-tát tu hành trải kiếp lâu xa như vậy mới thành tựu đạo quả. Mình tu lưng chừng kiểu này không biết bao nhiêu kiếp thành tựu, thành ra chán rồi nghĩ “Thôi kệ, tu tới đâu hay tới đó, cứ ăn ngủ bình thường, ráng chi cho mệt cũng không thành tựu được gì”. Chỗ này phải hiểu thật rõ, 

Người tu có hai loại, kẻ yếu và người mạnh. Kẻ yếu tu khác, người mạnh tu khác. Với người yếu đức Phật nói tu hành ngay trong đời này đạt được đạo quả cho đừng ngán. Nếu nói lâu quá ngán chết, tu gì nổi. Với người mạnh thì nói tu trải qua vô lượng vô biên kiếp, không tính kể thời gian. Gặp người lười Phật nói trải qua ba vô số kiếp mới thành Phật, cứ chần chừ biết bao giờ xong. Gặp người tinh tấn Phật nói chỉ trong một đời giải quyết xong. Sở dĩ Phật nói dài ngắn, gần xa là vì bệnh của chúng sanh. 

Nếu chúng ta chịu khó nhận ra ông Phật của chính mình, bấy giờ thời gian trở thành vô nghĩa. Đã là vô nghĩa thì nói bao nhiêu cũng được, không quan trọng. Cho nên nói một niệm là vô số kiếp, vô số kiếp là một niệm, như vậy có gì dài ngắn. Ở đây nói sự tu hành trải qua vô số kiếp để chỉ cho công đức phải viên mãn. Muốn công đức viên mãn thì đâu thể ít được. Muốn đầy đủ vô lượng vô biên công đức thì phải tích lũy, chứa nhóm nhiều đời. 

Căn cứ theo tinh thần thiền tông của tổ Bồ-đề-đạt-ma, một niệm mê là chúng sanh, một niệm giác là Phật. Giác rồi thì bao nhiêu đời cũng chỉ là mộng. Như Thiện Tài bước vào lầu các Di-lặc, rồi từ lầu đó bước ra, nhìn lại quá trình tu hành vô lượng vô biên kiếp như giấc mộng, không có gì thật.

Thiện Tài được nghe Phổ hỷ tràng giải thoát môn, thì tin hiểu xu nhập biết rõ tùy thuận tư duy tu tập. Nhớ lời dạy của thiện tri thức không tạm bỏ, chẳng tán động, nhất tâm nguyện được gặp thiện tri thức, siêng tìm cầu khắp mười phương chẳng lười trễ. Nguyện thường được thân cận thiện tri thức để phát sanh những công đức. Cùng thiện tri thức đồng một thiện căn, được công hạnh thiện xảo phương tiện của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa.

Phát nguyện như vậy rồi, Thiện Tài đến chỗ dạ thần Phổ Cứu Chúng Sanh Diệu Đức.

Đến đây là địa thứ tư - Diệm tuệ địa, lấy hạnh tinh tấn làm chủ. Thiện Tài được giới thiệu tới dạ thần Phổ Cứu Chúng Sanh Diệu Đức, tức là Căn bản trí. Phổ là khắp, cứu là cứu độ chúng sanh. Nếu không tinh tấn làm sao cứu độ chúng sanh được. Cho nên ở trong Căn bản trí mà hành hạnh tinh tấn. Căn bản trí là trí trùm khắp nên hạnh tinh tấn cũng trùm khắp, hạnh này kể ra rất nhiều. Do hành tinh tấn, tu hạnh môn Phổ Hiển, vào trí vi tế như lưới trời Đế-thích. 

 

Vị thần này rất nhiều công đức, kể không thể hết. Khi Thiện Tài từ giã vị thiện tri thức trước, tư duy pháp trước rồi, mới tìm đến vị thần Phổ Cứu Chúng Sanh Diệu Đức. 

Dạ thần này vì Thiện Tài mà thị hiện Bồ-tát điều phục chúng sanh giải thoát thần lực, dùng những tướng hảo trang nghiêm thân mình. Giữa chặng mày phóng đại quang minh tên là Trí đăng phổ chiếu thanh tịnh tràng, có vô lượng quang minh làm quyến thuộc. Quang minh này chiếu khắp tất cả thế gian, rồi xoay lại chiếu vào đảnh đầu Thiện Tài sung mãn cả thân. Liền đó Thiện Tài được Cứu cánh thanh tịnh luân tam-muội.

Trí đăng là ngọn đèn trí, phổ chiếu là chiếu khắp, thanh tịnh tràng là tràng thanh tịnh. Hào quang của vị thần này nói lên trí tuệ của Bồ-tát soi chiếu khắp mười phương. Trí tuệ ấy nhập vào Thiện Tài, nên nói soi trên đầu Thiện Tài được sung mãn cả thân thể.

Được tam-muội này rồi, Thiện Tài thấy khoảng giữa chỗ hai Dạ thần có tất cả địa trần, thủy trần, hỏa trần, vi trần của những châu báu kim cang ma-ni, những vi trần của tất cả hoa hương anh lạc đồ trang sức. Trong mỗi vi trần đều thấy Phật sát vi trần số thế giới thành hoại. Và thấy những khối lớn của địa, thủy, hỏa, phong. Cũng thấy tất cả thế giới liên tiếp đều dùng địa luân nhiệm trì mà an trụ. Cũng thấy tất cả những núi, biển, sông, ao, cây, rừng, cung điện của chư thiên, long, bát bộ, nhân phi nhân, cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nhẫn đến các loài luân chuyển sanh tử qua lại theo nghiệp thọ báo, mọi thứ sai khác đều thấy cả.

Lại thấy tất cả thế giới sai biệt: Những thế giới tạp uế, những thế giới thanh tịnh, những thế giới hướng về tạp uế, những thế giới hướng về thanh tịnh, những thế giới tạp uế thanh tịnh, những thế giới thanh tịnh tạp uế, những thế giới thuần thanh tịnh, những thế giới hoặc hình trạng bằng thẳng, hoặc úp xuống, hoặc ngược lên.

Trong tất cả thế giới, tất cả xứ, tất cả loài như vậy, đều thấy dạ thần Phổ Cứu Chúng Sanh này trong tất cả thời gian khắp mọi nơi, tùy theo hình mạo ngôn từ hạnh giải sai khác của chúng sanh, mà dùng sức phương tiện hiện ở trước họ mà tùy nghi hóa độ. Làm cho chúng sanh địa ngục khỏi khổ đau. Làm cho súc sanh chẳng ăn nuốt nhau. Làm cho ngạ quỷ hết đói khát. Làm cho loài rồng rời sợ sệt. Làm cho chúng sanh cõi Dục thoát khổ Dục giới, làm cho loài người rời sự sợ đêm tối, sự sợ mắng nhiếc, sự sợ tiếng xấu, sự sợ đại chúng, sự sợ chẳng đủ sống, sự sợ chết, sự sợ đọa ác đạo, sự sợ mất thiện căn, sự sợ thối Bồ-đề tâm, sự sợ gặp ác tri thức, sự sợ lìa thiện tri thức, sự sợ sa vào Nhị thừa, sự sợ các thứ sanh tử, sự sợ cùng ở với chúng sanh dị loại, sự sợ thọ sanh thời kỳ ác, sự sợ thọ sanh trong dòng họ ác, sự sợ gây tạo nghiệp ác, sự sợ nghiệp chướng phiền não chướng, sự sợ vọng tưởng chấp trước ràng buộc. Tất cả những sự kinh sợ như vậy đều làm cho loài người đều được bỏ rời.

Lại thấy Dạ thần này hiện khắp trong tất cả chúng sanh: Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, phi hữu tưởng, phi vô tưởng, để thường siêng cứu hộ. Vì thành tựu sức đại nguyện của Bồ-tát. Vì thâm nhập sức tam-muội của Bồ-tát. Vì kiên cố sức thần thông của Bồ-tát. Vì xuất sanh sức hạnh nguyện của Phổ Hiền. Vì tăng trưởng biển đại bi của Bồ-tát. Vì thành tựu đại từ vô ngại khắp che chở chúng sanh. Vì thành tựu vô lượng hỷ lạc ban cho chúng sanh. Vì thành tựu trí tuệ phương tiện nhiếp khắp tất cả chúng sanh. Vì thành tựu thần thông tự tại giải thoát quảng đại của Bồ-tát. Vì nghiêm tịnh tất cả Phật độ. Vì giác liễu tất cả pháp. Vì cúng dường tất cả Phật. Vì thọ trì tất cả Phật giáo. Vì chứa nhóm tất cả thiện căn, tu tất cả diệu hạnh. Vì nhập vào tâm hải của tất cả chúng sanh mà không chướng ngại. Vì biết căn tánh tất cả chúng sanh để giáo hóa thành thục. Vì thanh tịnh tín giải của tất cả chúng sanh để trừ ác chướng cho họ. Vì phá màn tối vô tri của tất cả chúng sanh. Vì làm cho chúng sanh được quang minh thanh tịnh Nhất thiết trí.

Thiện Tài thấy Dạ thần này có thần lực quảng đại như vậy, hiện bày cảnh giới, thậm thâm bất tư nghì, hiển thị Bồ-tát điều phục chúng sanh giải thoát thần lực, thì hoan hỷ vô lượng, đảnh lễ nơi chân, nhất tâm chiêm ngưỡng.

Lúc đó, Dạ thần liền xả tướng Bồ-tát trang nghiêm hoàn lại thân cũ, mà chẳng bỏ thần lực tự tại.

Hào quang của Bồ-tát chiếu ra soi thấy tất cả các cảnh giới, để thấy rằng trí căn bản bao trùm tất cả cảnh giới. Người nào nhập được hào quang đó thì thấy tất cả cảnh giới. Nào là thế giới tạp uế, thế giới không tạp uế, thế giới tịnh, thế giới úp, thế giới ngửa v.v… thấy rõ ràng hết mới thấy công hạnh của Bồ-tát. Dạ thần này tuỳ theo tất cả chúng sanh đó mà giáo hoá, khiến họ thành tựu được đại nguyện. Sau khi thấy cảnh giới quảng đại của Bồ-tát rồi, Thiện Tài mới nói kệ tán thán.

Thiện Tài chắp tay cung kính nói kệ tán thán:

Tôi Thiện Tài được thấy

Đại thần lực như vậy

Lòng hoan hỷ vô lượng

Nói kệ để tán thán.

Tôi thấy thân của ngài

Tướng hảo trang nghiêm đẹp

Như sao sáng hư không

Tất cả đều nghiêm tịnh. 

Phóng quang minh thù thắng 

Vô lượng sát trần số 

Nhiều màu sắc vi diệu 

Chiếu khắp cả mười phương. 

Mỗi lỗ lông phóng ra 

Chúng sanh tâm số quang 

Mỗi mỗi đầu quang minh 

Đều hiện bảo liên hoa. 

Trong hoa hiện hóa Phật 

Diệt được khổ chúng sanh 

Quang minh phát diệu hương

Xông khắp các chúng sanh.

Lại mưa các thứ hoa

Cúng dường tất cả Phật 

Chặng mày phóng diệu quang

Lượng đồng núi Tu-di.

Chiếu khắp các hàm thức 

Khiến dứt tối ngu si

Miệng phóng thanh tịnh quang

Như vô lượng mặt nhật.

Chiếu khắp cảnh quảng đại 

Của Tỳ-lô-giá-na

Mắt phong thanh tịnh quang 

Như vô lượng mặt nguyệt. 

Chiếu khắp mười phương cõi 

Dứt si lòa thế gian

Hóa hiện nhiều loại thân 

Tướng trạng đồng chúng sanh. 

Sung mãn mười phương cõi 

Độ thoát biển tam hữu 

Diệu thân khắp mười phương 

Hiện khắp trước chúng sanh. 

Diệt trừ thủy, hỏa giặc

Nạn, vua, những lo sợ 

Tôi vâng theo Hỷ Mục 

Nay được đến chỗ ngài.

Thấy tướng chặng mày ngài

Phóng quang minh thanh tịnh 

Chiếu khắp mười phương cõi 

Diệt trừ tất cả tối. 

Hiển hiện thần thông lực 

Mà đến nhập thân tôi

Tôi gặp được quang minh

Lòng hoan hỷ vô lượng. 

Được tổng trì tam-muội 

Thấy khắp thập phương Phật

Từ chỗ tôi đi qua

Tôi đều thấy vi trần. 

Trong mỗi mỗi vi trần

Đều thấy trần số cõi 

Hoặc có vô lượng cõi

Tất cả đều trược uế.

Chúng sanh thọ các khổ

Thường buồn than kêu khóc

Hoặc có cõi nhiễm tịnh

Vui ít, nhiều đau khổ. 

Thị hiện thân Tam thừa

Qua đó mà cứu độ

Hoặc có cõi tịnh nhiễm

Chúng sanh đều thích thấy.

Bồ-tát thường sung mãn 

Trụ trì những chánh pháp 

Trong mỗi mỗi vi trần

Vô lượng cõi thanh tịnh.

Do Tỳ-lô-giá-na

Kiếp xưa đã nghiêm tịnh

Phật ở tất cả cõi

Đều ngồi cội bồ-đề.

Thành đạo chuyển pháp luân 

Độ thoát các quần sanh 

Tôi thấy Phổ Cứu Thần 

Ở chỗ tất cả Phật. 

Trong vô lượng cõi kia

Đều khắp đến cúng dường.

Bài kệ này khen ngợi Dạ thần có đầy đủ vô lượng công đức.

Thiện Tài đồng tử nói kệ xong, thưa dạ thần Phổ Cứu Chúng Sanh Diệu Đức rằng:

Bạch Đại thánh! Môn giải thoát thậm thâm hy hữu này tên là gì? Ngài được môn giải thoát này đã bao lâu? Tu hạnh gì mà được thanh tịnh?

Dạ thần nói:

Này Thiện nam tử! Sự này khó biết. Tất cả nhân thiên và Nhị thừa không lường được. 

Việc này trời, người, Nhị thừa đều không biết nổi, chỉ có Bồ-tát mới biết thôi. Tại sao? Vì những vị còn sống trong vòng tương đối, làm sao biết được cái vượt ngoài vòng tương đối.

Tại sao vậy? Vì đây là cảnh giới của bậc an trụ Phổ Hiền hạnh. Là cảnh giới của bậc an trụ đại bi tạng. Là cảnh giới của bậc cứu hộ tất cả chúng sanh. Là cảnh giới của bậc có thể tịnh tất cả tam ác bát nạn. Là cảnh giới của bậc ở trong tất cả Phật độ nối thạnh Phật chủng chẳng dứt. Là cảnh giới của bậc có thể trụ trì được tất cả Phật pháp. Là cảnh giới của bậc có thể ở tất cả kiếp tu Bồ-tát hạnh thành mãn biển đại nguyện. Là cảnh giới của bậc có thể ở tất cả pháp giới dùng trí quang thanh tịnh diệt vô minh ám chướng. Là cảnh giới của bậc có thể dùng trí quang minh trong khoảng một niệm chiếu khắp tất cả phương tiện tam thế. Nay ta thừa oai lực của Phật vì ngươi mà nói.

Này Thiện nam tử! Thuở xưa, quá Phật sát vi trần số kiếp, có một kiếp tên là Viên Mãn Thanh Tịnh. Thế giới tên là Tỳ-lô-giá-na Đại Oai Đức. Có Tu-di sơn vi trần số Như Lai xuất thế trong thế giới đó.

Thế giới đó bằng chất nhất thiết hương vương ma-ni bảo, châu báu trang nghiêm, trụ trên biển Vô Cấu Quang Minh Ma-ni vương. Thế giới này hình chánh viên, tịnh uế hiệp thành, mây bảo trướng và tất cả trang nghiêm cụ giăng phía trên. Luân sơn ma-ni trang nghiêm bao quanh ngàn vòng. Có mười ức na-do-tha tứ thiên hạ đều diệu trang nghiêm. Hoặc có tứ thiên hạ chúng sanh ác nghiệp ở trong đó. Hoặc có tứ thiên hạ chúng sanh tạp nghiệp ở trong đó. Hoặc có tứ thiên hạ chúng sanh thiện căn ở trong đó. Hoặc có tứ thiên hạ chư Bồ-tát thuần thanh tịnh ở trong đó.

Cạnh Luân Vi sơn tột phía đông của thế giới này, có tứ thiên hạ tên là Bảo Đăng Hoa Tràng, cõi nước thanh tịnh, ăn mặc sung túc. Chẳng cần canh tác mà lúa bắp tự mọc tốt. Cung điện lâu các thảy đều kỳ diệu. Những cây như ý thành hàng khắp nơi. Những hương thọ hằng thoảng hơi thơm. Những man thọ hằng xuất sanh mây tràng hoa. Những hoa thọ thường tuôn hoa đẹp. Những bảo thọ xuất sanh báu lạ. Quang minh vô lượng màu chiếu sáng bao vòng. Những âm nhạc thọ xuất sanh những âm nhạc theo gió thổi động phát âm thanh vi diệu. Ánh sáng mặt nhật, mặt nguyệt và ma-ni bảo vương chiếu khắp mọi nơi. Đêm ngày thường có toàn những cảnh vui vẻ.

Trong tứ thiên hạ này có trăm vạn ức na-do-tha vương quốc. Mỗi nước có ngàn sông lớn chảy quanh. Mặt sông đều có hoa đẹp đua nở, lay động theo dòng nước chảy phát tiếng âm nhạc cõi trời. Nhiều bảo thọ mọc lên bên bờ sông. Nhiều thứ trân kỳ dùng để nghiêm sức. Ghe thuyền qua lại vui chơi thỏa tình. Khoảng giữa mỗi sông, có trăm vạn ức thành. Mỗi thành có trăm vạn ức na-do-tha tụ lạc. Tất cả thành ấp tụ lạc đều có trăm ngàn ức na-do-tha cung điện.

Trong tứ thiên hạ này, ở Diêm-phù-đề có một nước tên là Bảo Hoa Đăng, an ổn phong phú, nhân dân đông đúc đều thực hành thập thiện. Trong nước có Chuyển luân vương xuất hiện hiệu là Tỳ-lô-giá-na Diệu Bảo Liên Hoa Kế, sanh từ trong hoa sen, đủ ba mươi hai tướng hảo, đủ thất bảo, cai trị tứ thiên hạ, hàng dùng chánh pháp giáo hóa chúng sanh. Nhà vua có ngàn vương tử đoan chánh dũng kiện hàng phục được oán địch. Trăm vạn ức na-do-tha cung nữ đều cùng nhà vua đồng gieo thiện căn, đồng tu công hạnh, đồng thời đản sanh, xinh đẹp như thiên nữ, thân màu chân kim thường phóng quang minh. Trong lỗ lông hằng phát ra hơi thơm. Quan hiền, tướng mạnh đủ mười ức.

Chánh phi của nhà vua tên là Viên Mãn Diện, là bảo nữ đoan chính đẹp lạ, da màu chân kim, mắt, tóc đều xanh biếc, tiếng nói như Phạm âm, thân có mùi thơm cõi trời, thường phóng ánh sáng chiếu ngàn do-tuần. Có một vương nữ tên là Phổ Trí Diệm Diệu Đức Nhãn. Thân hình đoan nghiêm, sắc tướng xinh đẹp, mọi người đều thích thấy không chán.

Thuở đó, loài người sống lâu vô lượng. Hoặc có kẻ bất định chết yểu giữa chừng. Nhiều hình sắc, nhiều âm thanh, nhiều danh tự, nhiều tộc tánh, ngu, trí, mạnh, yếu, nghèo, giàu, khổ, vui, vô lượng phẩm loại thảy đều chẳng đồng. Có kẻ nói thân tôi đẹp, thân người xấu. Rồi sỉ nhục, gây ác nghiệp. Do đây nên thọ mạng sắc lực tất cả phước vui đều bị tổn giảm.

Ngài thuật lại thế giới thuở xa xưa rất đẹp đẽ, rất tươi sáng, nhiều không thể kể hết. 

Thành bắc có cây Bồ-đề tên là Phổ quang pháp vân âm tràng. Gốc cây bằng ma-ni vương kiên cố niệm niệm xuất sanh tất cả Như Lai đạo tràng trang nghiêm. Tất cả châu ma-ni làm thân cây. Lá bằng tạp bảo. Nhánh lá đều có thứ tự xứng nhau, trên dưới bốn phía đều viên mãn trang nghiêm, phóng bảo quang minh, phát diệu âm thanh nói cảnh giới thậm thâm của Như Lai.

Trước cây bồ-đề có một ao nước thơm tên là Bảo hoa quang minh diễn pháp lôi âm, bờ ao bằng diệu bảo. Xung quanh ao có trăm vạn ức na-do-tha bảo thọ. Hình dáng những cây này giống như cây bồ-đề. Những chuỗi ngọc rủ thòng bốn phía. Vô lượng lâu các đều bằng chất báu nghiêm sức khắp đạo tràng. Trong ao nước thơm xuất sanh hoa sen lớn tên là Phổ hiện tam thế nhất thiết Như Lai trang nghiêm cảnh giới vân. Có Tu-di sơn vi trần số Phật xuất hiện trong đó. 

Đức Phật thứ nhất hiệu là Phổ Trí Bảo Diệm Diệu Đức Tràng, thành Vô thượng Đẳng chánh giác trước nhất nơi trên hoa sen lớn này. Đức Phật diễn thuyết chánh pháp thành thục chúng sanh vô lượng ngàn năm.

Lúc đức Như Lai Phổ Trí chưa thành Phật, trước đây mười ngàn năm, hoa sen lớn này phóng tịnh quang minh tên là Hiện chư thần thông thành thục chúng sanh. Nếu có chúng sanh nào được quang minh này chiếu đến thì tâm họ tự khai ngộ không gì chẳng biết rõ, biết mười ngàn năm sau có Phật xuất thế. 

Khi đức Phật Phổ Trí Bảo Diệm Diệu Đức Tràng sắp ra đời, trước đó mười ngàn năm đã có hoa sen lớn xuất hiện. Hoa sen lớn này phóng tịnh quang minh tên là Hiện chư thần thông thành thục chúng sanh. Chúng sanh nào được quang minh này chiếu đến thì tâm được khai ngộ rõ biết tất cả mọi việc, biết cả mười ngàn năm sau có Phật ra đời. 

Qua những sự việc này, kinh muốn diễn tả điều gì? Đức Phật Phổ Trí chỉ cho Phật pháp thân sẵn có nơi mỗi chúng ta. Vì Phật là trí giác khiến tất cả đều giác ngộ, nên gọi là Phổ Trí. Muốn cho Phật pháp thân xuất hiện thì tất nhiên phải trải qua mười địa, từ Sơ địa tới Thập địa. Một ngàn năm là một địa, mười ngàn năm chỉ cho Thập địa. Trong kinh nói “Bồ-tát từ Sơ địa sẽ thấy được một phần pháp thân, Nhị địa thấy thêm một phần nữa, cho tới Thập địa thì viên mãn”. Vì viên mãn nên gọi là Phổ Trí. 

Cứ một ngàn năm chứng một địa thì những hoa sen phóng hào quang tịnh quang minh, rồi tịnh quang minh đó theo mười ngàn năm mà đặt tên. Phóng quang là chỉ cho diệu dụng tu hành của các vị Bồ-tát. Chúng ta ai ai cũng sẵn Phật tánh gọi là Phổ Trí Như Lai, nếu tu hành tới Thập địa, dẹp sạch những vô minh vi tế thì Phật tánh hiển lộ. Cho nên ở đây dùng hình ảnh hoa sen cứ một ngàn năm phóng hào quang một phen. Như vậy trải qua mười lần phóng hào quang thì đức Phật xuất hiện. Điều này cho thấy người tu vượt qua khỏi Thập địa, lúc đó Căn bản trí hợp với Hậu đắc trí thành ra Phổ Trí, tức trí đầy khắp không còn riêng biệt nữa.

Chín ngàn năm trước, hoa sen lớn này phóng tịnh quang minh tên là Nhất thiết chúng sanh ly cấu đăng. Nếu có chúng sanh gặp quang minh này thì được thanh tịnh nhãn thấy tất cả màu sắc, biết chín ngàn năm sau, sẽ có Phật xuất thế.

Tám ngàn năm trước, hoa sen lớn này phóng tịnh quang minh tên là Nhất thiết chúng sanh nghiệp quả âm. Nếu có chúng sanh gặp quang minh này thì đều tự biết những nghiệp quả báo, biết tám ngàn năm sau sẽ có Phật xuất thế.

Bảy ngàn năm trước, hoa sen lớn này phóng tịnh quang minh tên là Sanh nhất thiết thiện căn âm. Nếu có chúng sanh nào gặp quang minh này thì tất cả các căn thảy đều viên mãn, biết bảy ngàn năm sau sẽ có Phật xuất thế.

Sáu ngàn năm trước, hoa sen lớn này phóng tịnh quang minh tên là Phật bất tư nghì cảnh giới âm. Nếu có chúng sanh gặp quang minh này thì tâm họ quảng đại được tự tại khắp cả, biết sáu ngàn năm sau sẽ có Phật xuất thế.

Năm ngàn năm trước, hoa sen lớn này phóng tịnh quang minh tên là Nghiêm tịnh nhất thiết Phật sát âm. Nếu có chúng sanh gặp quang minh này thì thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, biết năm ngàn năm sau sẽ có Phật xuất thế.

Bốn ngàn năm trước, hoa sen lớn này phóng tịnh quang minh tên là Nhất thiết Như Lai cảnh giới vô sai biệt đăng. Nếu có chúng sanh nào gặp quang minh này thì đều có thể đến ra mắt tất cả chư Phật, biết bốn ngàn năm sau sẽ có Phật xuất thế.

Ba ngàn năm trước, hoa sen lớn này phóng tịnh quang minh tên là Tam thế minh đăng. Nếu có chúng sanh gặp quang minh này thì đều có thể hiện thấy những bổn sự của tất cả Như Lai, biết ba ngàn năm sau sẽ có Phật xuất thế.

Hai ngàn năm trước, hoa sen lớn này phóng tịnh quang minh tên là Như Lai ly ế trí tuệ đăng. Nếu có chúng sanh gặp quang minh này thì được phổ nhãn thấy thần biến của tất cả Như Lai, thấy tất cả Phật độ, thấy tất cả thế giới chúng sanh, biết hai ngàn năm sau sẽ có Phật xuất thế.

Một ngàn năm trước, hoa sen lớn này phóng đại quang minh tên là Linh nhất thiết chúng sanh kiến Phật tập chư thiện căn. Nếu có chúng sanh gặp quang minh này thì được thành tựu kiến Phật tam-muội, biết một ngàn năm sau sẽ có Phật xuất thế.

Bảy ngày trước, hoa sen này phóng đại quang minh tên là Nhất thiết chúng sanh hoan hỷ âm. Nếu có chúng sanh gặp quang minh này thì được thấy khắp chư Phật sanh lòng rất hoan hỷ, biết sau bảy ngày sẽ có Phật xuất thế.

Đủ bảy ngày sau, tất cả thế giới thảy đều chấn động, thuần tịnh vô nhiễm, mỗi niệm hiện khắp mười phương tất cả cõi Phật thanh tịnh, cũng hiện những sự trang nghiêm của những cõi đó.

Khi đầy đủ nhân duyên Phật xuất thế, còn bảy ngày hoa sen phóng quang lần nữa. Bảy ngày sau tất cả thế giới đều chấn động, thuần tịnh vô nhiễm. Mỗi niệm hiện khắp mười phương tất cả cõi Phật thanh tịnh, mỗi niệm cũng hiện những sự trang nghiêm của những cõi đó. 

Nếu có chúng sanh nào căn tánh thuần thục, đáng được thấy Phật thì đều đến đạo tràng.

Nếu có chúng sanh nào tu tới căn tánh thuần thục được thấy Phật, được ngồi đạo tràng. Nghĩa là khi công hạnh viên mãn, bấy giờ Phật mới ra đời. Như vậy Phật ra đời chính là Phật tâm của mình hiển lộ. 

Đoạn kế ca ngợi các sự cúng dường hương hoa v.v... của nhà vua, của các nơi. Khi Phật đã thành Chánh giác, hiện thân trong thập phương thế giới. Nên biết thành Phật không phải chỉ ở một cõi, mà hiện thân Phật khắp cả mười phương thế giới. Sau đó cứu giúp tất cả chúng sanh trong ác đạo, cho tới Bích-chi Phật cũng đều trở về Phật chủng v.v... Đó là chỉ cho công đức vô biên của Phật.

Bấy giờ trong thế giới Tỳ-lô-giá-na Đại Oai Đức đó, tất cả Luân Vi sơn, Tu-di sơn, tất cả núi, biển, lục địa, thành quách, tường rào, cung điện, âm nhạc, ngữ ngôn đều vang ra âm thanh, khen nói cảnh giới thần lực của tất cả Như Lai. 

Lại phát ra tất cả mây thơm: Hương xông, hương bột. Phát ra tất cả mây hương hình tượng ngọc ma-ni, mây bảo diệm, mây diệm tạng, mây y phục ma-ni, mây anh lạc, mây diệu hoa, mây Như Lai quang minh, mây Như Lai viên quang, mây âm nhạc, mây Như Lai nguyện thanh, mây Như Lai ngôn âm, mây Như Lai tướng hảo, hiển thị tướng bất tư nghì của đức Như Lai xuất hiện thế gian.

Này Thiện nam tử! Đại bảo liên hoa này có mười Phật sát vi trần số liên hoa bao quanh. Trong những hoa sen này đều có tòa sư tử ma-ni bảo tạng. Trên mỗi tòa đều có Bồ-tát ngồi kiết già. 

Này Thiện nam tử! Lúc đức Phổ Trí Bảo Diệm Diệu Đức Tràng Như Lai thành Vô thượng Đẳng chánh giác tại trên đại bảo liên hoa này, đồng thời cũng hiện thành Phật trong thập phương tất cả thế giới. Tùy theo tâm của chúng sanh mà hiện ở trước họ để chuyển pháp luân. Làm cho vô lượng chúng sanh khỏi khổ ác đạo. Làm cho vô lượng chúng sanh được sanh lên trời. Làm cho vô lượng chúng sanh ở bậc Thanh văn, Bích-chi Phật. Làm cho vô lượng chúng sanh thành tựu hạnh Bồ-đề xuất ly. Làm cho vô lượng chúng sanh thành tựu hạnh Bồ-đề dũng mãnh tràng. Làm cho vô lượng chúng sanh thành tựu hạnh Bồ-đề pháp quang minh. Làm cho vô lượng chúng sanh thành tựu hạnh Bồ-đề thanh tịnh căn. Làm cho vô lượng chúng sanh thành tựu hạnh Bồ-đề bình đẳng lực. Làm cho vô lượng chúng sanh thành tựu hạnh Bồ-đề nhập pháp thành. Làm cho vô lượng chúng sanh thành tựu hạnh Bồ-đề nhập phổ môn phương tiện đạo. Làm cho vô lượng chúng sanh an trụ hạnh Bồ-đề tam-muội môn. Làm cho vô lượng chúng sanh thành tựu hạnh Bồ-đề duyên tất cả cảnh giới sanh phát tâm Bồ-đề. Làm cho vô lượng chúng sanh an trụ đạo ba-la-mật thanh tịnh. Làm cho vô lượng chúng sanh trụ Bồ-tát Sơ địa. Làm cho vô lượng chúng sanh trụ Bồ-tát Nhị địa, nhẫn đến Thập địa. Làm cho vô lượng chúng sanh nhập hạnh nguyện thù thắng của Bồ-tát. Làm cho vô lượng chúng sanh an trụ hạnh nguyện thanh tịnh của Phổ Hiền.

Này Thiện nam tử! Đức Phổ Trí Bảo Diệm Diệu Đức Tràng Như Lai hiện thần lực tự tại bất tư nghì như vậy. Lúc đức Phật chuyển pháp luân, ở trong mỗi thế giới đó, tùy theo cơ nghi, mỗi niệm điều phục vô lượng chúng sanh.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ-tát biết trong thành của Bảo Hoa Đăng Vương, chúng sanh tự ỷ thị nhan sắc nên Bồ-tát hóa hiện thân hình đoan chánh đẹp lạ và cảnh giới mà khinh mạn lăng miệt người khác, đến trong thành ấy phóng đại quang minh chiếu khắp tất cả, làm cho ánh sáng của Thánh vương, của dân chúng, của nhật nguyệt tinh tú đều lu mờ. Dường như lúc mặt nhật mọc lên cao chói sáng khắp nơi, cũng như vàng diêm-phù-đàn để cạnh đống mực đen.

Lúc đó Bồ-tát Phổ Hiền biết trong thành của Bảo Hoa Đăng Vương, chúng sanh tự ỷ vào nhan sắc v.v... mà sanh tâm kiêu mạn. Ngài đạt được Căn bản trí rồi mới dùng Sai biệt trí để giáo hóa chúng sanh. 

Đoạn kế nói ngài Phổ Hiền tùy theo căn tánh của chúng sanh trong thành đó mà thị hiện phá dẹp tất cả những mê lầm ngạo nghễ của họ, đưa về với Phật đạo. 

Chúng sanh trong thành đều bảo nhau rằng đây là ai? Là thiên thần hay Phạm vương mà phóng ánh sáng chói mờ quanh sắc của chúng ta? Phổ Hiền Bồ-tát đứng trên hư không ngay cung điện của Thánh vương mà bảo rằng:

Này Đại vương! Hiện nay trong nước của nhà vua có Phật xuất thế ngự tại cây bồ-đề Phổ Quang Minh Pháp Vân Âm Tràng. 

Khi ấy, vương nữ Phổ Trí Diệu Nhãn thấy sắc thân và quang minh tự tại của Phổ Hiền Bồ-tát và nghe những vật trang nghiêm trên thân Bồ-tát phát âm thanh vi diệu, lòng rất vui mừng, tự nghĩ rằng: Nguyện tất cả căn lành của tôi có đều hồi hướng để được thân như vậy, được tướng tốt oai nghi tự tại như vậy. Nay đức Thánh này có thể ở trong chỗ sanh tử tối tăm của chúng sanh mà phóng đại quang minh và báo tin đức Như Lai xuất thế. Nguyện tôi cũng được như vậy, vì các chúng sanh mà làm trí quang minh để phá sự vô tri đen tối của họ. Nguyện tôi thọ sanh chốn nào cũng đều chẳng xa rời vị thiện tri thức này.

Lúc đó, Thánh vương cùng bảo nữ và ngàn vương tử, quyến thuộc, các đại thần, bốn binh chủng, nhân dân trong thành, do thần lực của Thánh vương đồng bay lên hư không cao một do-tuần phóng đại quang minh chiếu tứ thiên hạ, khiến khắp mọi người đều được chiêm ngưỡng. Vì muốn chúng sanh đều đến gặp Phật nên Thánh vương nói kệ tán thán Phật.

Khi ngài Phổ Hiền dùng thần thông giáo hóa, có vương nữ là Phổ Trí Diệu Nhãn thấy sắc thân thù diệu của ngài liền phát tâm mong muốn cũng được như thế. Qua đó cho thấy Bồ-tát Phổ Hiền phát tâm tu hành từ thuở xa xưa do đức Phật Phổ Trí giáo hóa, công đức của ngài khiến cho vương nữ cũng phát tâm theo. 

Như Lai xuất thế gian 

Cứu khắp các quần sanh

Các người phải mau dậy

Đi đến chỗ Đạo sư.

Vô lượng vô số kiếp

Mới có Phật xuất thế

Diễn nói pháp thâm diệu 

Lợi ích tất cả chúng.

Phật xem các thế gian

Điên đảo thường mê lầm 

Luân hồi khổ sanh tử

Mà khởi lòng đại bi.

Vô số ức ngàn kiếp

Tu tập hạnh Bồ-đề

Vì muốn độ chúng sanh

Đây do sức đại bi.

Đầu, mắt, tay, chân thảy

Đều xả được tất cả 

Vì cầu đạo Bồ-đề

Vô lượng kiếp bố thí.

Vô lượng ức ngàn kiếp

Khó gặp được Như Lai

Thấy, nghe, hoặc thờ phụng

Đều được lợi ích lớn.

Nay sẽ cùng đại chúng

Đến gặp đấng Điều Ngự 

Ngồi bảo tòa Như Lai 

Hàng ma thành Chánh giác. 

Chiêm ngưỡng thân Như Lai

Phóng ra vô lượng quang

Nhiều thứ sắc vi diệu

Diệt trừ tất cả tối.

Trong mỗi mỗi lỗ lông 

Phóng quang bất tư nghì 

Chiếu khắp các quần sanh 

Đều khiến rất vui mừng.

Đại chúng đều nên phát

Tâm tinh tấn quảng đại

Đến chỗ đức Như Lai

Cung kính cúng dường Phật.

Sau đó, Thánh vương cùng Bảo nữ vì chúng nói kệ khen ngợi Phật, khiến đại chúng đều phát tâm cung kính cúng dường Thế Tôn.

Chuyển luân thánh vương nói kệ khen Phật khai ngộ tất cả chúng sanh rồi, do thiện căn của Luân vương xuất hiện mười ngàn thứ mây đại cúng dường, thẳng đến phía đạo tràng của Như Lai. Như là mây tất cả bảo cái, mây tất cả hoa trướng, mây tất cả bảo y, mây tất cả bảo linh võng, mây tất cả diệu hương, mây tất cả bảo tòa, mây tất cả bảo tràng, mây tất cả cung điện, mây tất cả diệu hoa, mây tất cả đồ trang nghiêm giăng đẹp khắp hư không.

Thánh vương đảnh lễ nơi chân đức Phổ Trí Bảo Diệm Diệu Đức Tràng Như Lai, hữu nhiễu vô lượng vòng, rồi ngồi trên tòa phổ chiếu thập phương bảo liên hoa phía trước đức Phật. 

Chuyển luân thánh vương nói kệ khen Phật khai ngộ cho tất cả chúng sanh rồi, do thiện căn của Luân vương xuất hiện mười ngàn thứ mây báu.

Vương nữ Phổ Trí Diệm Diệu Đức Nhãn cởi đồ trang sức trên thân cầm rải lên cúng dường Phật. Những đồ trang sức đó liền ở trên hư không biến thành lưới bảo cái thòng rủ xuống. Long vương cầm giữ bảo cái này. Những cung điện xen bày trong đó. Mười thứ bảo cái bao vòng hình như lâu các trong ngoài thanh tịnh, trang nghiêm với những chuỗi ngọc, bảo thọ, hương hải, ma-ni. Trong bảo cái đó có cây bồ-đề nhánh lá sum sê che trùm cả pháp giới, mỗi niệm hiện ra vô lượng trang nghiêm.

Thánh vương nói kệ xong liền tán hoa tất cả bảo để cúng dường, đảnh lễ nơi chân đức Phổ Trí Bảo Diệm Điệu Đức Tràng Như Lai, hữu nhiễu vô lượng vòng rồi ngồi trên toà Phổ chiếu thập phương bảo liên hoa phía trước đức Phật. Vương nữ Phổ Trí Diệm Điệu Đức Nhãn cởi đồ trang sức v.v… để cúng dường Phật. Những đồ trang sức đó đều trụ trong hư không. 

Đức Tỳ-lô-giá-na Như Lai ngự dưới cội Bồ-đề này. Có bất khả thuyết Phật sát vi trần số Bồ-tát vây quanh. Chư Bồ-tát này đều xuất sanh từ nơi hạnh nguyện của Phổ Hiền, an trụ nơi vô sai biệt trụ của Bồ-tát.

Cũng thấy có tất cả thế gian chủ. Cũng thấy thần lực tự tại của Như Lai. Cũng thấy những kiếp thứ để có thế giới thành hoại. Lại cũng thấy tất cả thế giới đó, mỗi mỗi thế giới đều có Phổ Hiền Bồ-tát cúng dường chư Phật điều phục chúng sanh. Lại cũng thấy tất cả Bồ-tát đó đều ở trong thân Phổ Hiền. Cũng thấy thân mình ở trong thân đó. Cũng thấy thân mình ở trước chỗ tất cả Như Lai, tất cả Phổ Hiền, tất cả Bồ-tát, tất cả chúng sanh. Lại cũng thấy tất cả thế giới đó mỗi mỗi đều có Phật sát vi trần số thế giới, những ranh giới, những nhiệm trì, những hình trạng, những thể tánh, những sắp đặt, những trang nghiêm, những thanh tịnh, những mây trang nghiêm mà che trên đó, những tên kiếp, chư Phật xuất thế, những tam thế, những phương xử, những trụ pháp giới, những nhập pháp giới, những trụ hư không, những Như Lai Bồ-đề tràng, những Như Lai thần thông lực, những Như Lai sư tử tòa, những Như Lai đại chúng, những Như Lai chúng sai biệt. Những Như Lai xảo phương tiện, những Như Lai chuyển pháp luân, những Như Lai diệu âm thanh, những Như Lai ngôn thuyết, những Như Lai khế kinh. Thấy như vậy rồi, Vương nữ rất hoan hỷ lòng thanh tịnh.

Phổ Trí Bảo Diệm Diệu Đức Tràng Như Lai vì Vương nữ mà nói tu-đa-la tên là Nhất Thiết Như Lai Chuyển Pháp Luân, có mười Phật sát vi trần số tu-đa-la làm quyến thuộc. 

Vương nữ nghe kinh xong, thì được thành tựu mười ngàn môn tam-muội, tâm nhu nhuyến không cứng thô, như mới thọ thai, như mới đản sanh, như cây ta-la mới mọc mộng, tâm tam-muội đó cũng như vậy. Như là Hiện kiến nhất thiết chư Phật tam-muội, Phổ chiếu nhất thiết sát tam-muội, Nhập nhất thiết tam thế môn tam-muội, Thuyết nhất thiết Phật pháp luân tam-muội, Tri nhất thiết Phật nguyện hải tam-muội, Khai ngộ nhất thiết chúng sanh linh xuất sanh tử khổ tam-muội, Thường nguyện phá nhất thiết chúng sanh ám tam-muội, Thường nguyện diệt nhất thiết chúng sanh khổ tam-muội, Thường nguyện sanh nhất thiết chúng sanh lạc tam-muội, Giáo hóa nhất thiết chúng sanh bất sanh bì yểm tam-muội, Nhất thiết Bồ-tát vô chướng ngại tràng tam-muội, Phổ nghệ nhất thiết thanh tịnh Phật sát tam-muội... Vương nữ được mười ngàn tam-muội như vậy.

Vương nữ lại được tâm diệu định, tâm bất động, tâm hoan hỷ, tâm an ủi, tâm quảng đại, tâm thuận thiện tri thức, tâm duyên thậm thâm Nhất thiết trí, tâm trụ quảng đại phương tiện hải, tâm xả ly tất cả chấp trước, tâm chẳng trụ thế gian cảnh giới, tâm nhập Như Lai cảnh giới, tâm phổ chiếu tất cả sắc hải, tâm không não hại, tâm không cao ngạo, tâm không mệt mỏi, tâm không thối chuyển, tâm không giải đãi, tâm tư duy tự tánh của các pháp, tâm an trụ tất cả pháp môn, tâm quán sát tất cả pháp môn, tâm biết rõ tất cả chúng sanh, tâm cứu hộ tất cả chúng sanh, tâm chiếu khắp tất cả thế giới, tâm khắp sanh tất cả Phật nguyện, tâm đều phá tất cả núi chướng, tâm chứa nhóm phước đức trợ đạo, tâm hiện thấy chư Phật thập lực, tâm chiếu khắp cảnh giới Bồ-tát, tâm tăng trưởng Bồ-tát trợ đạo, tâm duyên khắp tất cả phương, tâm tư duy Phổ Hiền đại nguyện.

Vương nữ lại phát mười Phật sát vi trần số nguyện hải của Như Lai: Nguyện nghiêm tịnh tất cả cõi Phật. Nguyện điều phục tất cả chúng sanh. Nguyện biết khắp tất cả thế giới. Nguyện vào khắp tất cả pháp giới. Nguyện trong tất cả Phật độ tu Bồ-tát hạnh cùng tận thuở kiếp vị lai. Nguyện tận thuở vị lai kiếp không bỏ hạnh Bồ-tát. Nguyện được gần gũi tất cả Như Lai. Nguyện được thừa sự tất cả thiện hữu. Nguyện được cúng dường tất cả chư Phật. Nguyện ở trong mỗi niệm tu Bồ-tát hạnh, tăng Nhất thiết trí không gián đoạn. Phát mười Phật sát vi trần số nguyện hải như vậy, thành tựu đại nguyện Phổ Hiền.

Đức Phổ Trí Như Lai lại vì Vương nữ mà nói những thiện căn đã chứa nhóm từ khi phát tâm tới nay, cùng những diệu hạnh đã tu, đại quả đã được. Làm cho Vương nữ khai ngộ thành tựu nguyện hải của Như Lai, nhất tâm hồi hướng bậc Nhất thiết trí.

Vương nữ từ khi phát tâm, liên tục bao nhiêu đời gặp bao nhiêu đức Phật, phát tâm bố thí cúng dường và làm lợi ích chúng sanh cho tới viên mãn, mới thành tựu công đức như hiện nay.

Dạ thần Phổ Cứu Chúng Sanh Diệu Đức nói tiếp:

Này Thiện nam tử! Lại quá đây mười đại kiếp về trước, có thế giới tên là Nhật Luân Quang Ma-ni, Phật hiệu là Nhẫn-đà-la Tràng Diệu Tướng. Vương nữ Diệu Nhãn ở trong pháp để lại của đức Như Lai đó, Phổ Hiền Bồ-tát khuyên nàng tu bổ tượng Phật cũ hư trên tòa Liên hoa. Nàng đã tu bổ xong lại sơn vẽ. Sơn vẽ xong lại trang nghiêm các châu báu, rồi phát tâm vô thượng Bồ-đề.

Này Thiện nam tử! Ta nhớ thuở quá khứ do Phổ Hiền Bồ-tát thiện tri thức mà Vương nữ gieo được thiện căn này, từ đó trở đi chẳng đọa ác thú, thường thọ sanh trong dòng thiên vương nhân vương, xinh đẹp khả ái, đủ những tướng tốt, khiến mọi người thích thấy, thường gặp Phật, thường được gần gũi Phổ Hiền Bồ-tát, được Bồ-tát chỉ dạy khai ngộ thành thục mãi đến ngày nay.

Này Thiện nam tử! Chuyển luân thánh vương Tỳ-lô-giá-na Tạng Diệu Bảo Liên Hoa Kế nay là Di-lặc Bồ-tát. Vương phi Viên Mãn Diện nay là dạ thần Tịch Tịnh Âm Hải đang ở gần đây. Vương nữ Diệu Đức Nhãn chính là ta.

Đoạn này kể tiền thân của dạ thần Phổ Cứu Chúng Sanh Diệu Đức, về sau làm vương nữ Diệu Đức Nhãn. Ngài kết luận thuở xưa phát tâm là một vương nữ, bây giờ cũng là nữ dạ thần v.v… thường phát tâm cúng dường các đức Phật liên tục.

Thuở xưa ấy, ta làm đồng nữ, Phổ Hiền Bồ-tát khuyên ta tu bổ tượng Phật, dùng đó làm nhân duyên phát tâm vô thượng Bồ-đề. Đó là lúc ta bắt đầu phát tâm.

Sau đó Phổ Hiền Bồ-tát dẫn dắt ta thấy đức Diệu Đức Tràng Phật, ta cởi chuỗi ngọc rải lên cúng dường, thấy thần lực của Phật, nghe Phật thuyết pháp, liền được môn giải thoát Bồ-tát hiện khắp tất cả thế gian điều phục chúng sanh. Trong mỗi niệm thấy Tu-di sơn vi trần số Phật. Cũng thấy đạo tràng chúng hội và quốc độ thanh tịnh của chư Phật. Ta đều tôn trọng cung kính cúng dường nghe diễn chánh pháp, y giáo tu hành.

Này Thiện nam tử! Qua khỏi thế giới Tỳ-lô-giá-na Đại Oai Đức, kiếp viên mãn thanh tịnh, có thế giới tên là Bảo Luân Diệu Trang Nghiêm, kiếp tên là Đại Quang, có năm trăm đức Phật xuất hiện trong đó. Ta đều kính thờ cúng dường. Đức Phật tối sơ hiệu là Đại Bi Tràng, lúc mới xuất gia, ta làm dạ thần cung kính cúng dường.

Kế đó có Phật xuất thế hiệu là Kim Cang Na-la-diên Tràng. Ta làm Chuyển luân thánh vương cung kính cúng dường Phật. Đức Phật đó vì ta mà nói kinh tên là Nhất Thiết Phật Xuất Hiện, mười Phật sát vi trần số tu-đa-la làm quyến thuộc. 

Kế đó có Phật xuất thế hiệu là Kim Cang Vô Ngại Đức. Ta làm Chuyển luân vương cung kính cúng dường Phật. Đức Phật đó vì ta mà nói kinh tên là Phổ Chiếu Nhất Thiết Chúng Sanh Căn, Tu-di sơn vi trần số tu-đa-la làm quyến thuộc, ta đều thọ trì.

Kế đó có Phật xuất thế tên là Hỏa Diệm Sơn Diệu Trang Nghiêm. Ta thuở đó làm trưởng giả nữ. Đức Phật đó vì ta mà nói kinh tên là Phổ Chiếu Tam Thế Tạng. Diêm-phù-đề vi trần số tu-đa-la làm quyến thuộc. Ta đều nghe hiểu y giáo thọ trì.

Kế đó có Phật xuất thế hiệu là Nhất Thiết Pháp Hải Cao Thắng Vương. Thuở đó ta làm a-tu-la vương cung kính cúng dường Phật. Được Phật nói kinh tên là Phân Biệt Nhất Thiết Pháp Giới, năm trăm tu-đa-la làm quyến thuộc. Ta đều nghe hiểu như pháp thọ trì.

Kế đó có Phật xuất thế hiệu là Hải Nhạc Pháp Quang Minh. Thuở đó ta làm Long vương nữ mưa mây như ý ma-ni bảo cúng dường Phật. Đức Phật đó vì ta mà nói kinh tên là Tăng Trưởng Hoan Hỷ Hải, có trăm vạn ức tu-đa-la làm quyến thuộc. Ta đều nghe hiểu như pháp thọ trì.

Kế đó có Phật xuất thế hiệu là Bảo Diệm Sơn Đăng. Thuở đó ta làm Hải thần mưa mây bảo Liên hoa cung kính cúng dường Phật. Đức Phật đó vì ta mà nói kinh tên là Pháp Giới Phương Tiện Hải Quang Minh. Có Phật sát vi trần số tu-đa-la làm quyến thuộc. Ta đều nghe hiểu như pháp thọ trì.

Kế đó có Phật xuất thế hiệu là Công Đức Hải Quang Minh Luân. Thuở đó ta làm Ngũ Thông tiên hiện đại thần thông, có sáu vạn tiên nhân vây quanh, mưa mây hương hoa cúng dường Phật. Đức Phật đó vì ta mà nói kinh tên là Vô Trước Pháp Đăng, có sáu vạn tu-đa-la làm quyến thuộc. Ta đều nghe hiểu như pháp thọ trì.

Kế đó có Phật xuất thế hiệu là Tỳ-lô-giá-na Công Đức Tạng. Thuở đó ta làm Chủ địa thần tên là Xuất Sanh Bình Đẳng Nghĩa, cùng vô lượng địa thần đồng mưa tất cả bảo thọ, tất cả ma-ni tạng, tất cả mây bảo anh lạc để cúng dường Phật. Đức Phật đó vì ta mà nói kinh tên là Xuất Sanh Nhất thiết Như Lai Trí Tạng, vô lượng khế kinh làm quyến thuộc. Ta đều nghe hiểu thọ trì chẳng quên.

Này Thiện nam tử! Thứ đệ như vậy, đức Phật tối hậu hiệu là Sung Mãn Hư Không Pháp Giới Diệu Đức Đăng. Thuở đó ta là kỹ nữ tên là Mỹ Nhan. Ta thấy Phật vào thành, liền ca vũ cúng dường. Ta thừa thần lực của Phật vọt mình lên hư không nói ngàn bài kệ tán thán Phật. Đức Phật vì ta mà phóng ánh sáng chặng mây tên là Trang nghiêm pháp giới đại quang minh chiếu khắp thân ta. Khi được quang minh của Phật chiếu đến thân, ta được môn giải thoát tên là Pháp giới phương tiện bất thối tạng.

Này Thiện nam tử! Trong thế giới này có Phật sát vi trần số kiếp như vậy, tất cả Như Lai xuất hiện trong đó, ta đều kính thờ cúng dường cả.

Chư Phật đó có bao nhiêu chánh pháp ta đều ghi nhớ chẳng quên một câu, một chữ. Ở chỗ chư Phật đó, ta tán dương tất cả Phật pháp, rộng làm lợi ích cho vô lượng chúng sanh. Ở chỗ mỗi đức Như Lai ta được Nhất thiết trí quang minh, hiện tam thế pháp giới hải, nhập tất cả Phổ Hiền hạnh.

Này Thiện nam tử! Vì ta y cứ Nhất thiết trí quang minh nên ở trong mỗi niệm thấy vô lượng Phật. Đã thấy Phật rồi, trước chưa được chưa thấy Phổ Hiền hạnh, nay đều thành tựu viên mãn.

Tại sao vậy? Vì đã được Nhất thiết trí quang minh vậy.

Phổ Cứu Chúng Sanh dạ thần muốn tuyên lại nghĩa giải thoát này, thừa Phật thần lực, vì Thiện Tài đồng tử mà nói kệ rằng:

Thiện Tài nghe ta nói

Pháp thậm thâm khó thấy 

Chiếu khắp cả tam thế

Tất cả môn sai biệt.

Như ta sơ phát tâm

Chuyên cầu Phật công đức 

Các giải thoát đã được 

Ngươi nay phải lóng nghe. 

Ta nhớ thuở quá khứ

Quá sát trần số kiếp

Trước đó có một kiếp

Tên Viên Mãn Thanh Tịnh.

Thuở đó có thế giới

Tên là Biến Chiếu Đăng

Tu-di trần số Phật

Xuất thế ở trong đó.

Sơ Phật Diệu Trí Diệm 

Phật kế hiệu Pháp Tràng 

Thứ ba Pháp Tu-di

Thứ tư Đức Sư Tử.

Thứ năm Tịch Tịnh Vương 

Thứ sáu Diệt Chư Kiến

Thứ bảy Cao Danh Xưng 

Thứ tám Đại Công Đức. 

Thứ chín Phật Thắng Nhật 

Thứ mười Phật Nguyệt Diện 

Ta nơi mười Phật này

Tối sơ ngộ pháp môn. 

Thứ đệ kế sau đó

Lại có mười Như Lai: 

Một là Hư Không Xứ 

Thứ hai Phật Phổ Quang.

Thứ ba Trụ Chư Phương

Thứ tư Chánh Niệm Hải 

Thứ năm Cao Thắng Quang

Thứ sáu Tu-di Vân.

Thứ bảy Pháp Diệm Phật 

Thứ tám Sơn Thắng Phật 

Thứ chín Đại Bi Hoa

Thứ mười Pháp Giới Hoa. 

Lúc mười Phật xuất thế

Ta giác ngộ thứ hai

Thứ đệ kế sau đó

Lại có mười đức Phật:

Một là Phật Quang Tràng 

Thứ hai Trí Huệ Phật 

Thứ ba Tâm Nghĩa Phật 

Thứ tư Đức Chủ Phật. 

Thứ năm Thiên Huệ Phật 

Thứ sáu Huệ Vương Phật 

Thứ bảy Thắng Trí Phật 

Thứ tám Quang Vương Phật. 

Thứ chín Dũng Mãnh Phật 

Thứ mười Liên Hoa Phật

Tại chỗ mười Phật này 

Ta thứ ba ngộ pháp. 

Thứ đệ kế sau đó

Có mười Phật xuất thế:

Thứ nhất Bảo Diệm Sơn

Thứ hai Công Đức Hải.

Thứ ba Pháp Quang Minh

Thứ tư Liên Hoa Tạng

Thứ năm Chúng Sanh Nhãn

Thứ sáu Hương Quang Bảo.

Bảy, Tu-di Công Đức

Tám, Càn-thát-bà Vương

Thứ chín Ma-ni Tạng

Mười, Phật Tịch Tịnh Sắc.

Thứ đệ kế sau đó

Có mười Phật xuất thế: 

Thứ nhất Quảng Đại Trí

Kế Phật Bảo Quang Minh. 

Thứ ba Hư Không Vân 

Thứ tư Thù Thắng Tướng

Thứ năm Viên Mãn Giới

Thứ sáu Na-la-diên.

Thứ bảy Tu-di Đức 

Thứ tám Công Đức Luân

Thứ chín Vô Thắng Tràng 

Thứ mười Đại Thọ Sơn. 

Thứ đệ kế sau đó

Có mười Phật xuất thế:

Thứ nhất Bà-la Tạng

Thứ hai Thế Chủ Thân.

Thứ ba Cao Hiển Quang

Thứ tư Kim Cang Chiếu

Thứ năm Địa Oai Lực

Thứ sáu Thậm Thâm Pháp.

Thứ bảy Pháp Huệ Âm

Thứ tám Tu-di Tràng

Thứ chín Thắng Quang Minh

Thứ mười Diệu Bảo Quang.

Thứ đệ kế sau đó

Có mười Phật xuất thế:

Thứ nhất Phạm Quang Minh

Thứ hai Hư Không Âm.

Thứ ba Pháp Giới Thân

Thứ tư Quang Minh Luân

Thứ năm Trí Huệ Tràng

Thứ sáu Hư Không Đăng.

Thứ bảy Vi Diệu Đức

Thứ tám Biến Chiếu Quang

Thứ chín Thắng Phước Quang

Thứ mười Đại Bi Vân.

Thứ đệ kế sau đó

Có mười Phật xuất thế:

Thứ nhất Lực Quang Tuệ

Thứ hai Phổ Hiện Tiền.

Thứ ba Cao Hiển Quang

Thứ tư Quang Minh Thân

Thứ năm Phật Pháp Khởi

Thứ sáu Phật Bảo Tướng.

Thứ bảy Tốc Tật Phong

Thứ tám Dũng Mãnh Tràng

Thứ chín Diện Bảo Cái

Thứ mười Chiếu Tam Thế.

Thứ đệ kế sau đó

Có mười Phật xuất thế:

Thứ nhất Nguyện Hải Quang

Thứ hai Kim Cang Thân.

Thứ ba Tu-di Đức

Thứ tư Niệm Tràng Vương 

Thứ năm Công Đức Huệ 

Thứ sáu Trí Huệ Đăng. 

Thứ bảy Quang Minh Tràng

Thứ tám Quảng Đại Trí

Thứ chín Pháp Giới Trí

Thứ mười Pháp Hải Trí.

Thứ đệ kế sau đó

Có mười Phật xuất thế: 

Thứ nhất Bố Thí Pháp 

Thứ hai Công Đức Luân. 

Thứ ba Thắng Diệu Vân 

Thứ tư Nhẫn Trí Đăng 

Thứ năm Tịch Tịnh Âm 

Thứ sáu Tịch Tịnh Tràng. 

Thứ bảy Thế Gian Đăng 

Thứ tám Thâm Đại Nguyện 

Thứ chín Vô Thắng Tràng 

Thứ mười Trí Diệm Hải.

Thứ đệ kế sau đó

Có mười Phật xuất thế: 

Thứ nhất Pháp Tự Tại

Thứ hai Vô Ngại Huệ.

Thứ ba Ý Hải Huệ

Thứ tư Chúng Diệu Âm

Thứ năm Tự Tại Thí

Thứ sáu Phổ Hiện Tiền.

Thứ bảy Tùy Lạc Thân

Thứ tám Trụ Thắng Đức

Thứ chín Bổn Tánh Phật

Thứ mười Phật Hiền Đức. 

Tu-di trần số kiếp

Bao nhiêu Phật trong đó 

Khắp làm đèn thế gian 

Ta đều từng cúng dường. 

Phật sát vi trần kiếp

Bao nhiêu Phật xuất thế 

Tôi đều từng cúng dường 

Vào môn giải thoát này. 

Ta trong vô lượng kiếp 

Ta tu được đạo này 

Nếu người tu hành được 

Chẳng lâu cũng sẽ được.

Này Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát “Bồ-tát Phổ hiện nhất thiết thế gian điều phục chúng sanh”. Như chư đại Bồ-tát tích tập vô biên hạnh, sanh những hiểu biết, hiện những thân mình, đủ những căn tướng, mãn những nguyện vọng, vào những tam-muội, khởi những thần biến, hay quán sát pháp, nhập những trí tuệ môn, được những pháp quang minh... Ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh đó.

Bài kệ lặp lại thứ lớp cúng dường của các ngài. Do sự cúng dường đó mà viên mãn công đức, nên được pháp giải thoát Bồ-tát Phổ Hiền nhất thiết thế gian điều phục chúng sanh.

Này Thiện nam tử! Cách đây không xa, có Chủ dạ thần tên là Tịch Tịnh Âm Hải, ngồi trên tòa Liên hoa ma-ni quang tràng trang nghiêm. Có trăm vạn a-tăng-kỳ Chủ dạ thần vây quanh. Ngươi đến đó hỏi Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, tu Bồ-tát đạo?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Dạ thần, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ dạ thần Phổ Cứu Chúng Sanh Diệu Đức, nghe pháp môn giải thoát Bồ-tát phổ hiện nhất thiết thế gian điều phục chúng sanh. Thiện Tài biết rõ tin hiểu tự tại an trụ trong môn giải thoát đó.

Dạ thần Phổ Cứu Chúng Sanh giới thiệu Thiện Tài đến tham vấn nữ dạ thần Tịch Tịnh Âm Hải.

Bồ-tát tu tới Thập địa công đức rất nhiều nên ở đây kể quá dài, khiến người đọc ngán. Do đó chúng ta toát yếu gọn lại cho dễ nhớ, dễ hiểu. Đại khái tất cả công đức Bồ-tát thành tựu đều từ tâm hạnh giáo hóa vô lượng vô biên chúng sanh mà được. Nói như vậy chúng ta đừng lệ thuộc vào thời gian không gian. Bản ý của kinh Đại thừa đều nhằm xoay lại mình, người nhận ra tự tâm là hiểu được kinh. Nếu học kinh thấy đức Phật bên ngoài, thế giới bên ngoài thì bị kinh chuyển. Ngược lại nơi mỗi câu, mỗi hình ảnh mà xoay lại tự tâm, đó là chuyển kinh. Đây là điều tối quan trọng. 

Ở đây chư Bồ-tát nói những diệu dụng, thần lực bất khả tư nghì vượt qua tất cả tâm lượng chúng sanh, nghe thế chúng ta tưởng tượng quá sức, thành ra không nhận được yếu lý để tu hành. Sự thật chủ yếu kinh Hoa Nghiêm là giải thích khi chúng ta trở về được với pháp thân bất sanh bất diệt thì diệu dụng như hằng sa, độ vô lượng chúng sanh không thể lường, không thể tính kể, chứ không phải là chỗ im lặng vô tri vô thức. Đa số người cứ quan niệm rằng, khi tu tới chỗ tâm không còn vọng tưởng thì lặng lẽ không có gì hết, tức là không ngơ, đâm ra hoảng sợ cảnh giới ấy.

Ngay đây đức Phật muốn chỉ chúng ta khi thể nhập được chỗ chân thật rồi, sẽ có vô lượng diệu dụng. Những diệu dụng đó sức hiểu biết của kẻ phàm tục không lường nổi, nên trong kinh diễn tả hình ảnh này hình ảnh nọ để chúng ta không thể tưởng tượng. Thí dụ nói thời gian vô lượng thì dùng hình ảnh như số cát sông Hằng, nói về hành động thì dùng từ “hải” nghĩa là biển, tức không thể tính được. Đó là điểm cốt yếu của kinh Hoa Nghiêm. 

Chư vị Bồ-tát diễn bày các cảnh giới rực rỡ huy hoàng, chứ không phải vào đó rồi im lìm lặng lẽ không ngơ, không lợi ích cho ai hết. Nhiều người nghe nói tu vô lượng vô biên ức kiếp liền hoảng hốt, sợ sệt. Thật ra khi thể nhập pháp thân thì vượt qua thời gian và không gian, vì thời gian và không gian thật thì làm gì có dài ngắn, lớn nhỏ, tốt xấu đối đãi... nên kinh dùng chữ diệu dụng bất tư nghì. 

Chúng ta tu lâu dễ thối chí nản lòng, coi bộ càng ngày càng yên lặng, càng thấy ngờ nghệch không biết gì về chuyện thế gian, suy tính hơn thiệt. Sự thật nhập được pháp thân rồi thì diệu dụng vô lượng, bao nhiêu chúng sanh, bao nhiêu cảnh giới đều thấy đều biết, bao nhiêu nợ cũng trả hết. Chỉ sợ chúng ta không nhập được pháp thân thôi. Nhiều vị gấp lo trả nợ chúng sanh, không biết càng trả càng vay, trả cái này vay cái kia, trả cái kia vay cái nọ... khi mê trong cái trả có cái vay. Khi ngộ trả mà không vay, vì không còn ái nhiễm, không còn vọng tưởng gây thêm nữa. Bấy giờ làm tất cả việc đều từ Căn bản trí khởi Sai biệt trí, dùng thân như huyễn tùy duyên ứng hóa độ sanh.

Sai biệt trí giúp cho chúng ta thực hành tất cả hạnh được viên mãn. Trí này tùy căn cơ của mỗi người mà giáo hóa, không có tiêu chuẩn cố định. Vì vậy ban đầu Bồ-tát phát tâm Bồ-đề là nhờ Sai biệt trí của chư Phật gia hộ. Như Vương nữ phát tâm Bồ-đề, được những sự lợi ích, là nhờ ngài Phổ Hiền dùng Sai biệt trí gia hộ, phát Bồ-đề tâm rồi mới từ từ viên mãn công hạnh. 

Căn bản trí là trí dẫn đầu khi tu để mình đừng lạc đường, làm tất cả hạnh mà không rời bản giác. Phần trước Căn bản trí dẫn đầu, nên lúc nào cũng có ngài Văn-thù hướng dẫn. Đến đây là hạnh nguyện dẫn đầu, dùng Sai biệt trí khởi đại bi tâm nên luôn luôn nói đến ngài Phổ Hiền. Sai biệt trí là trí làm lợi ích chúng sanh, Căn bản trí là trí dẫn đường chiếu phá vô minh, lợi ích cho việc tu tập của chúng ta. 

Đến đây là địa thứ năm trong Thập địa, tên là Nan thắng địa. Về pháp tu thì lấy thiền định làm chủ, chín pháp kia làm bạn. Vị Chủ dạ thần ở đây tên là Tịch Tịnh Âm Hải. Tịch Tịnh Âm Hải nghĩa là sao? Thể thiền này khắp giáp pháp giới, không phải thiền trụ tâm một chỗ. Thiền thể trùm khắp tất cả pháp giới, tự tánh vô tác vô động, nên gọi là Tịch Tịnh Âm Hải. Nghĩa là nhất thiết trí, đại từ bi, vô tác hằng che đậy trùm khắp tất cả chúng sanh. 

Thiền của hàng Nhị thừa chỉ tự tịch tịnh trong tâm, thiền Đại thừa ở đây là tịch tịnh tất cả chúng sanh. Đối với tất cả chúng sanh đều làm cho dứt khổ được vui. Tuy làm cho được vui mà lúc nào cũng thấy chúng sanh tịch tịnh, tự tâm mình cũng tịch tịnh. Không phải thiền là ngồi im lặng, mà tùy bệnh cho thuốc để chúng sanh thoát khổ. Trong tất cả trường hợp, tất cả thời gian làm lợi ích chúng sanh mà tâm Bồ-tát vẫn rỗng rang an tịnh, nên gọi là Tịch Tịnh Âm Hải. 

Thiện Tài đồng tử tạ từ ngài dạ thần Phổ Trí Chúng Sanh Diệu Đức ra đi. Khi đó ngài tư duy pháp môn giải thoát của vị Dạ thần đã dạy. Do tư duy nên ngài tin hiểu, an trụ trong pháp môn, tức là chứng pháp đó, bước vào đệ tứ địa. Đã bước vào đệ tứ địa rồi, bây giờ phải tiến lên đệ ngũ địa. Cho nên Thiện Tài đi đến chỗ Tịch Tịnh Âm Hải đảnh lễ tham vấn Dạ thần này. 

Thiện Tài đến chỗ dạ thần Tịch Tịnh Âm Hải, đảnh lễ nơi chân Dạ thần hữu nhiễu vô số vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng Bồ-đề. Tôi muốn nương theo thiện tri thức để học Bồ-tát hạnh, nhập Bồ-tát hạnh, tu Bồ-tát hạnh, trụ Bồ-tát hạnh. Mong đức Thánh thương xót, vì tôi mà tuyên nói Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào tu Bồ-tát đạo?

Thiện Tài thưa đã phát tâm vô thượng Bồ-đề nên muốn nương theo thiện tri thức học Bồ-tát hạnh, nhập Bồ-tát hạnh. Nếu chỉ học thôi chưa đủ, học rồi phải nhập, nhập rồi phải tu, tu rồi phải trụ. Học, nhập, tu, trụ như vậy mới viên mãn hạnh của Bồ-tát. 

Chúng ta xuất gia thọ giới Tỳ-kheo xong lại thọ giới Bồ-tát, vì phát tâm vô thượng Bồ-đề mong cầu thành Phật quả. Nếu thọ giới rồi mà không có thiện hữu tri thức chỉ dạy, tất nhiên chúng ta không thể viên mãn được chỗ phát tâm ấy. Cho nên cần phải được thiện trí thức chỉ dạy. Khi được chỉ dạy, mình phải học cho xong rồi nhập cho được, tu cho thành, trụ luôn trong hạnh đó mới viên mãn hạnh của Bồ-tát. Hạnh Bồ-tát viên mãn thì tiến đến thành tựu Phật đạo. 

Thiện Tài đồng tử ở đây là ai? Là người phát tâm tu cầu thành Phật, trong đó có chúng ta. Cho nên mình phải trải qua những hạnh, nỗ lực thực hành kỳ được lời thiện tri thức chỉ dạy. Thiện Tài đồng tử ngay trong đời này đã giải quyết xong các chặng đường học đạo, từ khi sơ phát tâm cho đến thành Phật. Đó là chỉ cho chúng ta ngay đời này nếu nỗ lực tiến tu qua từng đoạn của bậc Sơ địa cho tới Thập địa hay từ Tín, Trụ, Hạnh, Hướng, Địa, vượt qua hết những công hạnh ấy, chắc chắn một đời sẽ thành Phật. Mỗi khi nhớ tới Thiện Tài đi hỏi đạo là chúng ta nhớ ngay tới bổn phận tu hành của mình. Thiện Tài hỏi điều gì tức là hỏi cho mình, chứ không phải hỏi cho riêng ngài. 

Nhập Bồ-tát hạnh là gì? Thường thường khi tu, trước hết nhờ học, học mới hiểu, hiểu mới hành, hành mới nhập. Học là giai đoạn nhờ thiện tri thức bên ngoài, nhập là giai đoạn thành tựu bên trong. Thành ra nhập ở đây khác hơn khai, thị, ngộ, nhập trong kinh Pháp Hoa. Chữ nhập này là nhận được, đạt được trong tâm, gọi đó là Bồ-tát hạnh. 

Dạ thần nói:

Lành thay! Lành thay! Này Thiện nam tử! Ngươi có thể nương thiện tri thức cầu Bồ-tát hạnh.

Này Thiện nam tử! Ta được môn giải thoát Bồ-tát niệm niệm xuất sanh quảng đại hỷ trang nghiêm.

Môn giải thoát này gọi là Bồ-tát niệm niệm xuất sanh quảng đại hỷ trang nghiêm. Niệm niệm xuất sanh là mỗi niệm đều phát ra sức quảng đại rộng lớn. Hỷ là vui mừng. Trang nghiêm là trang nghiêm tất cả. Môn giải thoát này chỉ cho thiền định. Hàng Nhị thừa khi được chánh định gọi là thiền duyệt hay pháp hỷ, tức cái vui ở trong thiền hay trong pháp. Cái vui ấy do nhập định được nên tâm an lành, giai đoạn này niệm niệm được an lành. Bồ-tát nhập thể thiền này trùm cả pháp giới, lợi ích vô lượng chúng sanh. Mỗi niệm nhiếp phục giáo hóa chúng sanh khiến họ trở về chỗ an lành giác ngộ, vì vậy cái vui này khác với cái vui của hàng Nhị thừa. 

Thiện Tài thưa:

Đại thánh! Môn giải thoát này sự nghiệp thế nào? Cảnh giới thế nào? Khởi phương tiện gì? Quan sát thế nào?

Dạ thần nói:

Này Thiện nam tử! Ta phát khởi tâm nguyện bình đẳng thanh tịnh. Ta phát khởi tâm nguyện ly tất cả trần cấu thế gian thanh tịnh kiên cố trang nghiêm chẳng hư hại. 

Dạ thần phát khởi tâm nguyện thứ nhất là bình đẳng thanh tịnh. Bình đẳng thanh tịnh là tâm nguyện gì? Là tâm nguyện khế hợp với pháp thân thanh tịnh. Kế đó phát khởi tâm nguyện ly tất cả trần cấu thế gian, thanh tịnh kiên cố trang nghiêm tức là không bị phiền não quấy nhiễu.

Ta phát khởi tâm trọn chẳng thối chuyển phan duyên địa vị bất thối chuyển.

Đó là tinh tấn kiên cố.

Ta phát khởi tâm bất động trang nghiêm công đức bảo sơn.

Là không lay chuyển, không lay động.

Ta phát khởi tâm vô trụ xứ.

Là không mắc kẹt, không dính vào chỗ nào.

Ta phát khởi tâm cứu hộ hiện thân trước khắp tất cả chúng sanh.

Là khởi lòng đại bi cứu độ chúng sanh.

Ta phát khởi tâm không nhàm đủ thấy tất cả Phật hải.

Là cầu Phật quả.

Ta phát khởi tâm nguyện lực thanh tịnh cầu tất cả Bồ-tát.

Là nguyện lực được gặp gỡ thiện tri thức.

Ta phát khởi tâm trụ nơi đại trí quang minh hải.

Là trí tuệ chân thật.

Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng sanh vượt khỏi đồng hoang lo buồn.

Là khởi niệm cứu khổ chúng sanh.

Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng sanh bỏ rời sầu lo khổ não.

Là dứt phiền não cho chúng sanh.

Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng sanh bỏ rời sắc thanh hương vị xúc pháp chẳng vừa ý.

Là dẹp ái nhiễm về lục trần cho chúng sanh.

Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng sanh bỏ rời ái biệt ly khổ và oán tắng hội khổ.

Là làm cho chúng sanh lìa được khổ thương mà xa lìa, ghét lại gặp gỡ.

Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng sanh bỏ rời những khổ ác duyên, ngu si.

Là làm cho chúng sanh được trí tuệ dứt ngu si.

Ta phát khởi tâm làm chỗ nương tựa cho tất cả chúng sanh bị hiểm nạn.

Là làm chỗ y cứ cho chúng sanh.

Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng sanh thoát khỏi chỗ khổ sanh tử.

Là dạy cho chúng sanh được giải thoát.

Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng sanh bỏ rời những khổ sanh, lão, bệnh, tử.

Là làm cho chúng sanh thật sự giải thoát.

Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng sanh thành tựu pháp lạc vô thượng của Như Lai.

Là đạt được pháp lạc của Như Lai.

Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng sanh đều thọ hỷ lạc.

Là làm cho chúng sanh được vui an lành.

Ta phát khởi những tâm như vậy rồi, lại vì chúng sanh mà thuyết pháp, làm cho họ lần đến bậc Nhất thiết trí.

Như là: Nếu thấy chúng sanh mến luyến nhà cửa cung điện của họ ở, thì ta vì họ mà thuyết pháp cho họ thấu rõ tự tánh của các pháp lìa chấp trước.

Trước hết làm cho chúng sanh thấu rõ tự tánh của các pháp là không, lìa chấp trước. Trong A-hàm có một bài kinh đức Phật khen ngợi về hạnh vô trụ. Mỗi vị Tỳ-kheo chỉ có ba y và bình bát đi khất thực rày đây mai đó, tối ngủ dưới gốc cây. Người giữ được hạnh như vậy sẽ lìa các lỗi mến luyến nhà cửa, tham đắm chất chứa tài sản thế gian v.v... Sở dĩ đức Phật dạy người xuất gia ngủ dưới gốc cây chỉ một đêm, vì sợ các thầy mến thích nơi êm mát, rồi sanh tâm quyến luyến. Người xuất gia là khất sĩ lang thang để trừ tâm tham ái. 

Bây giờ chúng ta không thực hành được như vậy vì kẹt lỗi tham luyến quá nhiều. Chùa to Phật lớn, cảnh trí xinh đẹp, Phật tử đông đảo... tất cả đều là các duyên làm cho ta quyến luyến, còn quyến luyến là còn ở trong vòng sanh tử. Chỗ này thật khó khăn. Nếu thầy trụ trì không tạo cảnh già lam trang nghiêm tốt đẹp thì tăng ti Phật tử thấy buồn, không phát tâm về chùa tu hành. Nếu tạo đàng hoàng thì lại sanh tâm quyến luyến. Bây giờ phải làm sao? Đây là chỗ cần phải biết. 

Người thế gian quyến luyến nhà cửa của họ cũng như tăng ni quyến luyến cái chùa của mình. Bây giờ muốn hết quyến luyến, phải thấy rõ tự tánh của các pháp là không, như huyễn, không thật có. Nhận ngay lẽ thật đó, luôn luôn thấy như vậy thì dù sống trong cảnh vàng son rực rỡ, cũng có thể bỏ đi không tiếc nuối. Nếu không nhận được lý này thì khó tránh khỏi bệnh quyến luyến, là một căn bệnh trầm kha, đưa chúng ta đi tới trầm luân sanh tử. Cho nên đức Phật dạy người xuất gia là kẻ bỏ nhà, không nhà học đạo để dứt tất cả tâm tham luyến. Tham luyến con người, tham luyến của cải, tham luyến gia đình... tham luyến nào cũng phải dứt hết. Như vậy mới có thể giải thoát. 

Chúng ta không thực hành được hạnh của người khất sĩ lang thang nay đây mai đó như đức Phật thưở xưa, thì ít ra cũng phải nhận cho được tự tánh các pháp là không, duyên khởi như huyễn, để không nhiễm không chấp các pháp. Vì vậy phải thuyết giảng cho chúng sanh biết rõ tự tánh các pháp là không, khiến họ lìa chấp trước. 

Nếu thấy chúng sanh mến luyến cha mẹ anh em chị em, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được dự chúng hội thanh tịnh chư Phật Bồ-tát.

Với những người thương cha mẹ anh em, họ không thể xa lìa thì dạy họ cách thức để dự vào chúng hội thanh tịnh chư Phật, Bồ-tát. Chỗ này rất khó giảng. Bởi vì chuyện thương cha mẹ, anh em là điều hiển nhiên hợp đạo lý của người thế gian. Bây giờ dạy họ bỏ cha mẹ, anh em, dự vào chúng hội thanh tịnh của Phật Bồ-tát, làm sao họ chấp nhận được. Chúng ta phải khéo nhận chỗ này, nếu không dễ bị lầm. Thuyết pháp không đúng chẳng những không độ được ai mà còn làm cho người ta thêm buồn phiền.

Trong trường hợp này, chúng ta phải giải thích cho họ hiểu việc quyến luyến gia đình là tình thương giới hạn trong phạm vi nhỏ hẹp, cần chuyển tình thương ấy sang phạm vi rộng lớn hơn. Như thuở nhỏ từ lúc lọt lòng mẹ cho tới mười tám hai mươi tuổi, mỗi người có gia đình, tất nhiên phải chia lìa, rồi khi ta năm sáu mươi tuổi, cha mẹ sẽ xa lìa vĩnh viễn. Bấy giờ dù quyến luyến mấy cũng không giữ được. Anh em cũng vậy, kẻ đi đông người đi bắc, kẻ mất người còn, tình thương đó mình cố giữ mấy cũng không được. Vậy mà cố giữ hoài, cho nên khổ. 

Bây giờ mỗi người phát tâm cầu Phật đạo, tức là đồng chí đồng nguyện với nhau, mỗi nơi sanh ra đều gặp Phật, đều làm đồ đệ của Phật, tất nhiên đồng ở trong chúng hội thanh tịnh. Mỗi đức Phật có vô số đệ tử, mỗi vị Bồ-tát có biết bao quyến thuộc. Số quyến thuộc của Bồ-tát, đệ tử của Phật đều là những người gieo trồng nhân duyên thanh tịnh. Bởi gieo trồng nhân duyên thanh tịnh nên hội họp nhau ở những nơi thanh tịnh. Từ đó đồng tu tập, đồng giải thoát không bị buồn phiền vì phải chia ly nữa. Cho nên cần dạy họ ý thức rằng tình thương của thế gian là hữu hạn, chỉ có trong giai đoạn nào thôi rồi cũng mất. Chi bằng chúng ta chuyển tình thương ấy sang tâm niệm cầu Phật đạo. Do khởi niệm cầu Phật đạo, đời đời chúng ta được làm bạn với nhau, có phải hay hơn không. Cho nên phải khéo chuyển họ dự vào chúng hội thanh tịnh của chư Phật, Bồ-tát. 

Nếu thấy chúng sanh mến luyến vợ con, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ bỏ rời sanh tử ái nhiễm khởi tâm đại bi, với tất cả chúng sanh bình đẳng vô nhị.

Ái nhiễm vợ con là gốc của luân hồi sanh tử, đời đời kiếp kiếp không có ngày cùng. Cho nên phải khuyên chúng sanh chuyển lòng thương nhỏ hẹp thành lòng đại bi đối với tất cả muôn loài, tức là mở rộng tình thương ấy ra, đối với mọi người đều thương bình đẳng không hai. Ở trên tình cha mẹ anh em mở rộng thành tình đạo trong Phật pháp. Đến đây mở rộng tình thương gia đình thành tình thương chúng sanh. Làm sao từ nhỏ hẹp mở ra thành rộng lớn, từ tạm bợ thành lâu dài. Đó là lối thuyết pháp khéo léo để chúng sanh tiến tu. 

Nếu thấy chúng sanh ở vương cung thể nữ hầu hạ, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được hội họp với Thánh chúng vào giáo pháp của Như Lai.

Với người được thể nữ hầu hạ trong cung vui vẻ thì khéo nói cho họ hiểu sự vui vẻ trong dục lạc thế gian không bền lâu, không thật. Cần phải phát tâm tu hành để thành một thánh chúng ở trong giáo pháp của đức Phật, đời đời làm bạn pháp với nhau. Như vậy mới an vui lâu dài, 

Nếu thấy chúng sanh nhiễm trước cảnh giới, thì ta vì họ mà thuyết pháp, làm cho họ được nhập Như Lai cảnh giới.

Nếu thấy người nhiễm trước cảnh giới, thấy việc làm ăn dễ dàng cuộc sống sung túc thì nhiễm thích, muốn đời đời được như vậy, chúng ta phải khéo giải thích cho họ thấy cảnh giới này là ô nhiễm xấu xa, cần phải nhập vào cảnh giới của Phật mới là cảnh giới thanh tịnh thuần khiết. 

Nếu thấy chúng sanh nhiều sân hận, thì ta vì họ mà thuyết pháp, làm cho họ được Như Lai Nhẫn nhục ba-la-mật. 

Người nhiều sân hận thì dạy tu đức nhẫn nhục. 

Nếu thấy chúng sanh có lòng giải đãi, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được thanh tịnh Tinh tấn ba-la-mật.

Nếu người lười biếng thì nói pháp khiến cho họ cố gắng tinh tấn.

Nếu thấy chúng sanh tâm tán loạn, thì ta vì họ mà thuyết pháp, làm cho họ được Như Lai Thiền ba-la-mật. 

Nếu thấy chúng sanh tâm loạn thì dạy tu thiền. 

Nếu thấy chúng sanh vào rừng rậm kiến chấp vô minh ám chướng, thì ta vì họ mà thuyết pháp cho họ thoát khỏi si ám. 

Rừng rậm kiến chấp là kiến chấp của chúng sanh như rừng rậm, chấp cái này chấp cái nọ... đủ thứ chấp. Tại sao chấp nhiều như vậy? Vì vô minh ám chướng che đậy. Nên ta phải thuyết pháp cho họ mở mang trí tuệ. Trí tuệ mở mang thì thoát khỏi si ám, khỏi si ám thì dứt các kiến chấp. 

Nếu thấy chúng sanh không trí tuệ, thì ta vì họ thuyết pháp, cho họ được Bát-nhã ba-la-mật.

Nếu thấy chúng sanh nhiễm trước tam giới, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ thoát khỏi sanh tử. 

Nếu thấy chúng sanh chí ý hạ liệt, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ viên mãn Phật Bồ-đề nguyện.

Nếu thấy người ý chí hạ liệt thì ta thuyết pháp cho họ viên mãn Bồ-đề nguyện. Có người nói: “Bây giờ tôi cứ tu gieo nhân nhiều đời nhiều kiếp, lần lần mỗi đời một ít, lâu ngày chầy tháng được tới đâu hay tới đó.” Đây là người ý chí hạ liệt, không có lòng quyết tiến, giải quyết cho xong việc tu hành của mình, cứ chầm chậm thả trôi. Đó là trường hợp thứ nhất. Trường hợp thứ hai nói: “Tôi tu để đời sau khỏi khổ, được sung sướng là đủ rồi, không mong thành Phật thành Thánh gì hết.” Trường hợp thứ ba chỉ muốn thành Thánh nhập Niết-bàn cho khỏe, làm Bồ-tát sanh trở lại khổ quá. Thành ra tâm hạ liệt tùy theo mỗi trình độ có sai khác, chúng ta phải theo bệnh của họ mà dạy cách tiến tu, 

Trường hợp hạ liệt thứ nhất thì khuyên: Thuở xưa đức Phật Thích-ca phát tâm tu đồng thời với đức Phật Di-lặc, mà ngài thành Phật trước đức Di-lặc là nhờ tinh tấn. Dù mình phát tâm tu nhưng thiếu đức tinh tấn cũng khó thành tựu. Cho nên quả quyết trong một đời giải quyết cho xong những gì mình ấn định, tức là phải quyết chí mãnh liệt, đừng thả trôi. Trường hợp thứ hai, với người hạ liệt tu mong hưởng phước báu nhân thiên, thì khuyến khích họ biết phước báu nhân thiên chỉ là hữu lậu, có rồi mất không khỏi vòng luân hồi, cần phát nguyện cầu thành Phật siêu thoát thế gian. Trường hợp thứ ba, với những vị mong cầu Nhị thừa thì khuyên phát Bồ-đề tâm, vì Nhị thừa chỉ là hóa thành không phải bảo sở. Như vậy, tùy người mà giải thích giúp họ dứt hẳn ý chí hạ liệt. 

Thật ra thời nay phần nhiều người tu mang ý chí hạ liệt. Tu tới đâu hay tới đó, biết tu còn hơn không. Tu như vậy không bao giờ đạt kết quả mỹ mãn. Mình không tu thì thôi, đã tu thì quyết định phải thành Phật mới được. Có quyết định như thế mới nỗ lực. Giả sử trong đời này nỗ lực mà không xong, có lỗi gì không? Không có lỗi, chỉ có lợi. Nhờ sự cố gắng mà mình đi nhiều hơn người thả rề, không tới đâu hết. Người quyết chí mãnh liệt khẳng định trong một đời, nếu không xong thì cũng tiến nhiều. Vì vậy người tu phải phát tâm nhất định trong đời này giải quyết xong. Giả sử chưa xong, cũng đạt gần đến mục tiêu đã đề ra.

Nếu thấy chúng sanh an trụ hạnh tự lợi, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ phát khởi tâm nguyện lợi ích tất cả chúng sanh.

Nếu thấy chúng sanh chí lực kém yếu, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được Bồ-tát Lực ba-la-mật.

Sức kém yếu tức là tinh thần yếu đuối, bấy giờ mình phải khuyến khích họ có sức mạnh ba-la-mật, tức dũng mãnh tu hành đến nơi đến chốn. 

Nếu thấy chúng sanh tâm ngu si mê tối, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được Bồ-tát Trí ba-la-mật. 

Nếu thấy chúng sanh sắc tướng không đủ, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được Như Lai thanh tịnh sắc thân.

Làm sao thuyết pháp cho họ được Trí ba-la-mật? Nhiều người tu mà không tự tin mình có trí, thấy mình ám độn ngu si. Bây giờ đừng chấp theo thế gian cái giả tưởng là thật, phải dùng pháp quán duyên sanh như huyễn để thấy rõ tánh tướng của các pháp. Đó là người có trí tuệ Bát-nhã. 

Nếu thấy chúng sanh sắc tướng không đủ, thân hình tật nguyền thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được Như Lai thanh tịnh sắc thân. Đó là dạy cho chúng sanh tu sắc thân thanh tịnh của Phật. Thế Tôn có ba mươi hai tướng tốt, mỗi tướng tốt đều có nguyên nhân của nó. 

Nếu thấy chúng sanh hình dung xấu xí, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được pháp thân thanh tịnh vô thượng.

Nếu thấy chúng sanh hình dung xấu xí, thì vì họ thuyết pháp cho họ biết pháp thân thanh tịnh vô thượng của Như Lai cũng chính là của họ.

Nếu thấy chúng sanh sắc tướng thô ác, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được Như Lai vi diệu sắc thân.

Thô ác là tướng dữ dằn, với người tướng như vậy thì dạy họ tu để được sắc thân vi diệu. 

Nếu thấy chúng sanh lòng nhiều ưu não, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được Như Lai rốt ráo an lạc.

Nếu thấy chúng sanh khổ vì nghèo cùng, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được bảo tạng công đức của Bồ-tát.

Đối với người nghèo khó mình an ủi họ, nói pháp cho họ hiểu. Một là dạy họ gieo trồng nhân lành để sau này khỏi bị nghèo cùng. Hai là chỉ cho họ biết dù nghèo khổ đến đâu thì Phật tánh cũng không mất. Đó là giúp cho họ thấy được bảo tạng công đức của Bồ-tát. 

Nếu thấy chúng sanh ở nơi núi rừng, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ siêng cầu nhân duyên Phật pháp.

Nếu chúng sanh ở chỗ núi rừng vắng vẻ thì dạy họ cầu Phật pháp. 

Nếu thấy chúng sanh đi nơi đường sá, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ xu hướng đạo Nhất thiết trí.

Người dạo chơi ngoài đường thì dạy họ nhắm vào đạo Nhất thiết trí.

Nếu thấy chúng sanh ở trong tụ lạc, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ thoát khỏi tam giới. 

Người ở chợ búa thì dạy cho họ pháp tu ra khỏi tam giới. 

Nếu thấy chúng sanh ở nhân gian, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ siêu việt Nhị thừa đạo, an trụ nơi Như Lai địa.

Nếu thấy chúng sanh cư ngụ thành quách, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được ở trong thành Pháp Vương.

Nếu thấy chúng sanh ở nơi bốn hướng, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được trí tuệ tam thế bình đẳng.

Nếu thấy chúng sanh ở các phương, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ có trí tuệ thấy được tất cả pháp.

Nếu thấy chúng sanh nhiều tham, thì ta vì họ mà nói môn đại từ quán, cho họ được nhập siêng năng tập.

Chúng ta cần phân biệt chữ tham ở đây với chữ tham trong Ngũ đình tâm quán. Tham trong pháp quán ngũ đình tâm thuộc về tham sắc. Với người tham sắc mà dạy quán đại từ khiến người ta thương nữa thì chết. Cho nên với người tham sắc phải dạy quán bất tịnh để sanh nhàm gớm và hết tham. Lòng tham ở đây là tham tất cả thế gian, không chỉ riêng tham sắc. Tham tài tham của, tham danh tham lợi... tức là tham do lòng ích kỷ, muốn giữ riêng cho mình. Bây giờ quán đại từ để chan hòa chia sớt tất cả mọi người. Như vậy là phá lòng tham, pho nên một chữ tham mà không giản trạch kỹ, nhiều khi bị lầm. 

Nếu thấy chúng sanh nhiều si, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được trí sáng quan sát các pháp hải.

Nếu thấy chúng sanh thích vui sanh tử, thì ta vì họ mà thuyết pháp cho họ nhàm lìa.

Nếu thấy chúng sanh nhàm khổ sanh tử đáng được Như Lai hóa độ, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ có thể phương tiện thị hiện thọ sanh.

Chỗ này là bệnh của người tu, không phải bệnh của người thế gian. Đối với người mê say trong sanh tử, phải nói sanh tử là đau khổ để họ thức tỉnh, chán sanh tử. Bây giờ họ đã chán khổ sanh tử thì thuyết pháp cách nào? Chúng ta phải cẩn thận chỗ này. Đây là việc làm của Bồ-tát mà cũng là việc làm của chúng ta, vì mình lập nguyện lợi sanh. Giáo hóa chúng sanh thì phải biết bệnh, biết thuốc. Bồ-tát biết bệnh, biết thuốc nên chúng ta phải học theo hạnh Bồ-tát mà giáo hóa chúng sanh. 

Đối với Nhị thừa, nhàm lìa sanh tử là người cao quý, quyết chí tu hành cầu giải thoát sanh tử, không muốn tái sanh nữa. Nhưng đối với Đại thừa Bồ-tát lại thấy khác. Bồ-tát thấy sanh tử như mộng huyễn, cả Niết-bàn cũng huyễn mộng. Sanh tử và Niết-bàn đều không có thật nên không trụ sanh tử, cũng không mến Niết-bàn. Đã không trụ sanh tử không mến Niết-bàn thì tùy duyên hóa độ chúng sanh. Đó là điểm đặc biệt của Bồ-tát. Các ngài qua lại trong sanh tử vì tùy duyên hóa độ chúng sanh, không phải vì nhiễm sanh tử. Cho nên ở đây dùng chữ thị hiện thọ sanh, là dùng hóa thân để độ chúng sanh, không phải vì nghiệp mê luyến thế gian. Chúng ta ở trong sanh tử là do ưa thích. Bởi thích sanh tử nên nghe nói sắp chết liền hoảng sợ. 

Nếu thấy chúng sanh mến luyến ngũ uẩn, thì ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được an trụ cảnh giới vô y.

Nếu người mến luyến ngũ uẩn tức sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì phải vì họ mà thuyết pháp, cho họ được an trụ cảnh giới vô y. Cảnh giới vô y là cảnh giới gì? Là pháp thân. Pháp thân không có nơi chốn, không còn kẹt trong thời gian, không gian. 

Nếu thấy chúng sanh tâm họ hạ liệt, thì ta vì họ mà thị hiện đạo thắng trang nghiêm.

Chúng sanh thường có tâm hạ liệt, khi tu hành tới cảnh giới vô tâm, lúc đó chới với sợ sệt nên sanh ra tư tưởng hạ liệt, rồi lùi lại. Vì vậy đức Phật mới nói cảnh rực rỡ của pháp giới hoa tạng, để cho thấy tới đó rồi không phải là chỗ im lìm không ngơ, mà còn bao nhiêu diệu dụng không thể lường được. Cho nên nói vì họ mà thị hiện đạo thắng trang nghiêm. 

Nếu thấy chúng sanh tâm sanh kiêu mạn, thì ta vì họ mà nói pháp nhẫn bình đẳng. 

Nói pháp nhẫn bình đẳng tức là nói pháp kiến tánh.

Nếu thấy chúng sanh tâm siểm khúc, thì ta vì họ mà nói Bồ-tát trực tâm.

Này Thiện nam tử! Ta dùng vô lượng pháp thí như vậy để nhiếp độ tất cả chúng sanh, nhiều phương tiện giáo hóa điều phục, cho họ khỏi ác đạo, hưởng vui nhân thiên, thoát sự trói buộc của tam giới, an trụ Nhất thiết trí.

Lúc đó, ta bèn được đại hoan hỷ pháp quang minh hải. Tâm ta vui vẻ an ổn thư thái.

Khi làm cho tâm tất cả mọi người được lợi ích thì tâm mình cũng được đại hoan hỷ, an ổn, vui vẻ, thư thái. Đó là thiền.

Lại này Thiện nam tử! Ta thường quan sát đạo tràng chúng hội tất cả Bồ-tát, tu những hạnh nguyện, hiện những tịnh thân có những thường quang, phóng những quang minh, dùng những phương tiện nhập môn Nhất thiết trí, nhập những tam-muội, hiện những thần biến, phát ra những âm thanh hải, đủ những thân trang nghiêm, nhập những Như Lai môn, đến những quốc độ hải, thấy chư Phật hải, được những biện tài hải, chiếu những cảnh giải thoát, được những trí quang hải, nhập những tam-muội hải, du hý những môn giải thoát, dùng những pháp môn xu hướng Nhất thiết trí trang nghiêm hư không pháp giới, dùng những mây trang nghiêm che khắp hư không, quan sát những đạo tràng chúng hội, hợp những thế giới, nhập những Phật sát, đến những phương hải, thọ những Như Lai mạng, theo những chỗ Như Lai, cùng chư Bồ-tát câu hội, tuôn những mây trang nghiêm, vào những phương tiện Như Lai, quán những pháp hải Như Lai, vào những trí tuệ hải, ngồi những tòa trang nghiêm.

Này Thiện nam tử! Ta quán sát chúng hội đạo tràng này, biết Phật thần lực vô lượng vô biên sanh lòng rất hoan hỷ.

Phần trước nói về thuyết pháp giáo hóa chúng sanh, bây giờ tới phần quán sát. Quán sát những gì? Quán sát chúng hội Bồ-tát, quán sát thân Phật, quán sát chánh định của Phật, quán sát tất cả toà của Phật v.v… Quán sát như vậy rồi sanh lòng rất hoan hỷ.

Này Thiện nam tử! Ta quán Tỳ-lô-giá-na Như Lai, niệm niệm xuất hiện bất tư nghì sắc thân thanh tịnh. Thấy như vậy rồi lòng ta rất vui mừng.

Tức là quán sát pháp thân của Phật.

Lại thấy đức Như Lai trong mỗi niệm phóng đại quang minh sung mãn pháp giới. Thấy như vậy rồi, lòng ta rất vui mừng.

Lại thấy đức Như Lai, mỗi lỗ lông, niệm niệm xuất hiện vô lượng Phật sát vi trần số quang minh hải. Mỗi quang minh có vô lượng Phật sát vi trần số quang minh làm quyến thuộc, mỗi mỗi châu biến tất cả pháp giới, tiêu diệt tất cả chúng sanh khổ. Thấy như vậy rồi, lòng ta rất vui mừng.

Lại quán Như Lai, đảnh đầu và chặng mày, niệm niệm xuất hiện Phật sát vi trần số mây bảo diệm sơn sung mãn tất cả pháp giới mười phương. Thấy như vậy rồi, ta rất vui mừng.

Lại quán Như Lai, mỗi mỗi lỗ lông, niệm niệm xuất sanh Phật sát vi trần số mây hương quang minh, sung mãn tất cả cõi Phật mười phương. Thấy như vậy rồi, ta rất vui mừng.

Lại quán Như Lai mỗi mỗi tướng, niệm niệm phát ra Phật sát vi trần số mây Như Lai thân đủ tướng trang nghiêm, đến khắp tất cả thế giới mười phương. Thấy như vậy rồi, ta rất vui mừng.

Lại quán Như Lai mỗi mỗi lỗ lông, trong niệm niệm xuất sanh Phật sát vi trần số mây Phật biến hóa, thị hiện đức Như Lai từ sơ phát tâm, tu ba-la-mật, đủ đạo trang nghiêm nhập Bồ-tát địa. Thấy như vậy rồi, ta rất vui mừng.

Lại quán Như Lai mỗi mỗi lỗ lông niệm niệm xuất hiện bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số mây Thiên vương thân và tự tại thần biến, đầy khắp tất cả thế giới mười phương, người đáng do thân Thiên vương mà đắc độ thì hiện ra trước họ thuyết pháp cho họ. Thấy như vậy rồi, ta rất vui mừng. 

Những thần vân: long vương, dạ-xoa vương, càn-thát-bà vương, a-tu-la vương, ca-lâu-la vương, khẩn-na-la vương, ma-hầu-la-già vương, nhân vương, Phạm vương, đều trong mỗi lỗ lông của Như Lai niệm niệm xuất hiện, thuyết pháp như thân vân thiên vương. Thấy như vậy rồi, ta rất hoan hỷ, rất tin mến, lượng bằng pháp giới Nhất thiết trí, chỗ xưa chưa được mà nay mới được, chỗ xưa chưa chứng mà nay mới chứng, chỗ xưa chưa nhập mà nay mới nhập, chỗ xưa chưa mãn mà nay mới mãn, chỗ xưa chưa thấy mà nay mới thấy, chỗ xưa chưa nghe mà nay mới nghe.

Tại sao vậy?

Bởi có thể biết rõ tướng pháp giới. Vì biết tất cả pháp chỉ một tướng. Vì có thể bình đẳng nhập đạo tam thế. Vì có thể nói tất cả vô biên pháp.

Đến đây quán sát về thần dụng của Phật. Tất cả những thứ trên mỗi lỗ chân lông v.v... đều thuộc thần dụng của Phật, những điều này thật quá sức hiểu biết của chúng ta. Do quán sát thần dụng của Phật mà chỗ xưa chưa chứng nay mới chứng, chỗ xưa chưa nhập nay mới nhập, chỗ xưa chưa mãn nay mới mãn, chỗ xưa chưa thấy nay mới thấy, chỗ xưa chưa nghe nay mới nghe. Tại sao? Bởi vì biết rõ tướng pháp giới, vì tất cả pháp chỉ một tướng, vì có thể bình đẳng nhập đạo tam thế, vì có thể nói tất cả vô biên pháp.

Này Thiện nam tử! Ta nhập Bồ-tát niệm niệm xuất sanh quảng đại hỷ trang nghiêm giải thoát quang minh hải này.

Giải thoát này vô biên, vì vào khắp tất cả pháp giới môn.

Giải thoát này vô tận, vì khắp phát tâm Nhất thiết trí tánh.

Tất cả phần giải thoát này nói lên công dụng của pháp môn giải thoát mà ngài đã chứng được.

Giải thoát này vô tế, vì vào trong tâm tưởng tất cả chúng sanh không giới hạn. Giải thoát này thậm thâm, vì là cảnh sở tri của trí tuệ tịch tịnh. Giải thoát này quảng đại, vì châu biến tất cả Như Lai cảnh. Giải thoát này vô hoại, vì là cảnh sở tri của Bồ-tát trí nhãn. Giải thoát này không đáy, vì tận nguồn đáy nơi pháp giới. Giải thoát này chính là phổ môn, vì trong một sự thấy khắp tất cả thần biến. Giải thoát này trọn chẳng thể nắm giữ, vì tất cả pháp thân bình đẳng không hai. Giải thoát này trọn không có sanh, vì rõ biết được pháp như huyễn. Giải thoát này như ảnh tượng, vì Nhất thiết trí nguyện quang sanh ra. Giải thoát này dường như biến hóa, vì hóa sanh những thắng hạnh Bồ-tát. Giải thoát này dường như đại địa, vì là chỗ sở y của tất cả chúng sanh. Giải thoát này dường như đại thủy, vì có thể dùng đại bi nhuận tất cả. Giải thoát này dường như đại hỏa, vì khô cạn nước tham ái của tất cả chúng sanh. Giải thoát này dường như đại phong, vì làm cho chúng sanh mau đến Nhất thiết trí. Giải thoát này dường như đại hải, vì những công đức trang nghiêm tất cả chúng sanh. Giải thoát này như núi Tu-di, vì xuất hiện biển pháp Nhất thiết trí. Giải thoát này như thành quách lớn, vì tất cả pháp được trang nghiêm. Giải thoát này như hư không, vì dung khắp thần lực của tất cả Phật tam thế. Giải thoát này như mây lớn, vì mưa pháp vũ cho khắp chúng sanh. Giải thoát này như mặt nhật, vì phá được tối ngu si của chúng sanh. Giải thoát này như mặt trăng tròn, vì mãn túc biển phước đức quảng đại. Giải thoát này dường chân như, vì đều có thể cùng khắp tất cả chỗ. Giải thoát này như bóng của mình, vì do thiện nghiệp của mình hóa xuất ra. Giải thoát này như tiếng vang, vì tùy nghi mà thuyết pháp. Giải thoát này như ảnh tượng, vì tùy tâm chúng sanh mà chiếu hiện. Giải thoát này như đại thọ vương, vì nở xòe tất cả hoa thần thông. Giải thoát này như kim cang vì bản lai bất khả hoại. Giải thoát này như châu ma-ni, vì xuất sanh vô lượng sức tự tại. Giải thoát này như ly cấu tạng ma-ni vương, vì thị hiện tất cả tam thế Như Lai thần lực. Giải thoát này như hỷ tràng ma-ni bảo, vì có thể bình đẳng phát ra tiếng pháp luân của tất cả chư Phật. Này Thiện nam tử! Nay ta vì ngươi mà nói những ví dụ này. Ngươi nên tư duy tùy thuận ngộ nhập. 

Đến đây ngài kết luận bằng cách khuyên Thiện Tài phải tu những pháp mà ngài đã nói.

Thiện Tài thưa:

Bạch Đại thánh! Tu hành thế nào để được môn giải thoát này?

Dạ thần nói:

Này Thiện nam tử! Bồ-tát tu hành mười đại pháp tạng mới được giải thoát này:

Muốn tu được pháp môn giải thoát này phải tu cả mười đại pháp tạng. Mười đại pháp tạng là gì? Là tên khác của thập ba-la-mật. 

Một là tu bố thí quảng đại pháp tạng, tùy tâm chúng sanh đều khiến đầy đủ.

Đó là Bố thí ba-la-mật.

Hai là tu tịnh giới quảng đại pháp tạng, vào khắp tất cả biển Phật công đức.

Đó là Trì giới ba-la-mật.

Ba là tu kham nhẫn quảng đại pháp tạng, có thể khắp tư duy tất cả pháp tánh.

Bốn là tu tinh tấn quảng đại pháp tạng, vì xu hướng Nhất thiết trí hằng chẳng thối chuyển.

Năm là tu thiền định quảng đại pháp tạng, vì có thể diệt trừ tất cả chúng sanh nhiệt não.

Sáu là tu Bát-nhã quảng đại pháp tạng, vì có thể biết rõ khắp tất cả pháp hải.

Bảy là tu phương tiện quảng đại pháp tạng, có thể thành thục khắp những chúng sanh hải.

Tám là tu những nguyện quảng đại pháp tạng, vì tận vị lai kiếp tu Bồ-tát hạnh khắp tất cả cõi Phật, tất cả chúng sanh.

Chín là tu những lực quảng đại pháp tạng, vì niệm niệm hiện thành Đẳng chánh giác nơi tất cả pháp giới, nơi tất cả quốc độ thường chẳng thôi dứt.

Mười là tu tịnh trí quảng đại pháp tạng, được Như Lai trí biết khắp tất cả pháp tam thế, không có chướng ngại.

Đó là Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Bát-nhã, Phương tiện, Nguyện, Lực, Trí ba-la-mật.

Nếu chư Bồ-tát an trụ mười pháp tạng này, thì có thể chứng được giải thoát như vậy.

Người nào muốn đạt được pháp môn giải thoát thì phải tu đủ thập ba-la-mật.

Thiện Tài thưa:

Đại thánh phát tâm vô thượng Bồ-đề đã bao lâu? 

Dạ thần nói:

Này Thiện nam tử! Phía đông của Hoa Tạng Trang Nghiêm thế giới hải này, qua khỏi mười thế giới hải, có thế giới hải tên là Nhất Thiết Tịnh Quang Bảo. Trong thế giới hải này có thế giới chủng tên là Nhất Thiết Như Lai Nguyện Quang Minh Âm, trong đó có thế giới tên là Thanh Tịnh Quang Kim Trang Nghiêm, thể chất bằng hương kim cang ma-ni vương, hình như lâu các. Diệu bảo vân làm biên tế, ở trong biển Nhất Thiết Bảo Anh Lạc. Mây diệu cung điện che trên. Tịnh uế lẫn lộn. 

Trong thế giới đó, thuở xưa có kiếp tên là Phổ Quang Tràng. Nước tên là Phổ Mãn Diệu Tạng. Đạo tràng tên là Nhất Thiết Bảo Tạng Diệu Nguyệt Quang Minh. Có Phật tên là Bất Thối Chuyển Pháp Giới Âm, thành Đẳng chánh giác nơi đạo tràng này.

Thuở đó ta làm bồ-đề thọ thần tên là Cụ Túc Phước Đức Đăng Quang Minh Tràng. Ta thủ hộ đạo tràng ấy.

Ta thấy đức Phật Pháp Giới Âm thành Đẳng chánh giác thị hiện thần lực, ta phát tâm vô thượng Bồ-đề. Liền lúc đó, ta được tam-muội tên là Phổ chiếu Như Lai công đức hải.

Kế đó, trong đạo tràng ấy có Như Lai xuất thế hiệu là Pháp Thọ Oai Đức Sơn. Bấy giờ, ta mạng chung sanh trở lại làm đạo tràng Chủ dạ thần, tên là Thù Diệu Phước Trí Quang. Ta thấy đức Oai Đức Sơn Như Lai hiện đại thần thông chuyển chánh pháp luân, liền được tam-muội tên là Phổ chiếu nhất thiết ly tham cảnh giới. 

Kế đó có Như Lai xuất thế hiệu là Nhất Thiết Pháp Hải Âm Thanh Vương. Bấy giờ, ta làm Dạ thần được gặp Phật và kính thờ cúng dường. Ta liền được tam-muội tên là Sanh trưởng nhất thiết thiện pháp địa.

Kế đó có Như Lai xuất thế hiệu là Bảo Quang Minh Đăng Tràng Vương. Bấy giờ, ta làm Dạ thần được gặp Phật và kính thờ cúng dường. Ta liền được tam muội tên là Phổ hiện thần thông quang minh vân.

Kế đó có Như Lai xuất thế hiệu là Công Đức Tu-di Quang. Bấy giờ, ta làm Dạ thần được gặp Phật và kính thờ cúng dường. Ta liền được tam-muội tên là Phổ chiếu chư Phật hải.

Kế đó có Như Lai xuất thế hiệu là Pháp Vân Âm Thanh Vương. Bấy giờ, ta làm Dạ thần được gặp Phật và kính thờ cúng dường. Ta liền được tam-muội tên là Nhất thiết pháp hải đăng.

Kế đó có Như Lai xuất thế hiệu là Trí Đăng Chiếu Diệu Vương. Bấy giờ, ta làm Dạ thần được gặp Phật và kính thờ cúng dường. Ta liền được tam-muội tên là Diệt nhất thiết chúng sanh khổ thanh tịnh quang minh đăng.

Kế đó có Như Lai xuất thế hiệu là Pháp Dũng Diệu Đức Tràng. Bấy giờ, ta làm Dạ thần được gặp Phật và kính thờ cúng dường. Ta liền được tam-muội tên là Tam thế Như Lai quang minh tạng.

Kế đó có Như Lai xuất thế hiệu là Sư Tử Dũng Mãnh Pháp Trí Đăng. Bấy giờ, ta làm Dạ thần được gặp Phật và kính thờ cúng dường. Ta liền được tam-muội tên là Nhất thiết thế gian và chướng ngại trí tuệ luân.

Kế đó có Như Lai xuất thế hiệu là Trí Lực Sơn Vương. Bấy giờ, ta làm Dạ thần được gặp Phật và kính thờ cúng dường. Ta liền được tam-muội tên là Phổ chiếu chúng sanh chư căn hạnh.

Này Thiện nam tử! Trong thế giới Thanh Tịnh Quang Kim Trang Nghiêm, thuở kiếp Phổ Quang Minh Tràng, có Phật sát vi trần số Như Lai xuất thế như vậy.

Trong thời gian đó, ta hoặc làm thiên vương, long vương, hoặc làm dạ-xoa vương, càn-thát-bà vương, a-tu-la vương, ca-lâu-la vương, khẩn-na-la vương, ma-hầu-la-già vương, hoặc làm nhân vương, Phạm vương, hoặc làm thiên thân, nhân thân, làm nam tử, nữ nhân, làm đồng nam, đồng nữ... nơi tất cả thân, ta đều kính thờ cúng dường tất cả Như Lai, nghe Phật thuyết pháp.

Khi mạng chung, ta sanh trở lại trong thế giới đó, trải qua Phật sát vi trần số kiếp tu Bồ-tát hạnh.

Sau đó, ta mạng chung sanh nơi Ta-bà thế giới trong Hoa Tạng Trang Nghiêm thế giới hải này, gặp và cúng dường đức Câu-lưu-tôn-đà Như Lai. Ta được tam-muội tên là Ly nhất thiết trần cấu quang minh.

Kế đó gặp đức Câu-na-hàm-mâu-ni Như Lai, ta kính thờ cúng dường, được tam-muội tên là Phổ hiện nhất thiết chư sát hải.

Kế đó gặp đức Ca-diếp Như Lai, ta kính thờ cúng dường, được tam-muội tên là Diễn nhất thiết chúng sanh ngôn âm hải.

Kế đó gặp đức Tỳ-lô-giá-na Như Lai thành Đẳng chánh giác nơi đạo tràng này niệm niệm thị hiện đại thần thông lực. Do đó ta được môn giải thoát Niệm niệm xuất sanh quảng đại hỷ trang nghiêm,

Được giải thoát này rồi ta có thể nhập mười bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số pháp giới an lập hải. Ta thấy trong tất cả pháp giới an lập hải bao nhiêu vi trần của tất cả Phật sát. Trong mỗi vi trần có mười bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số Phật độ. Mỗi Phật độ đều có Tỳ-lô-giá-na Như Lai ngồi đạo tràng trong mỗi niệm thành Đẳng chánh giác hiện đại thần biến. Những thần biến của Như Lai hiện đều khắp pháp giới hải.

Ta cũng thấy thân mình ở tại chỗ của tất cả Như Lai, cũng nghe Phật nói diện pháp. Ta cũng thấy tất cả chư Phật, nơi mỗi lỗ lông xuất hiện, thần thông biến hóa khắp tất cả pháp giới hải, khắp tất cả thế giới hải, khắp tất cả thế giới chủng, trong tất cả thế giới tùy tâm chúng sanh mà chuyển chánh pháp luân.

Nhân đó ta được sức tốc tật đà-la-ni, thọ trì tư duy tất cả văn nghĩa. Dùng trí minh liễu vào khắp tất cả pháp tạng thanh tịnh. Dùng trí tự tại dạo khắp tất cả thậm thâm pháp hải. Dùng trí châu biến biết khắp những nghĩa quảng đại trong tam thế. Dùng trí bình đẳng đạt khắp pháp vô sai biệt của chư Phật.

Ta hiểu rõ tất cả pháp môn như vậy. Trong mỗi mỗi pháp môn, hiểu rõ tất cả tu-đa-la vân. Trong mỗi mỗi tu-đa-la vân, ta hiểu rõ tất cả pháp hải. Trong mỗi mỗi pháp hải, ta hiểu rõ tất cả pháp phẩm. Trong mỗi mỗi pháp phẩm, ta hiểu rõ tất cả pháp vân. Trong mỗi mỗi pháp vân, ta hiểu rõ tất cả pháp lưu. Trong mỗi mỗi pháp lưu xuất sanh tất cả đại hỷ hải. Mỗi đại hỷ hải xuất sanh tất cả địa. Mỗi địa xuất sanh tất cả tam-muội hải. Mỗi tam-muội hải được tất cả kiến Phật hải. Mỗi kiến Phật hải được tất cả trí quang hải. Mỗi trí quang hải chiếu khắp tam thế, vào khắp mười phương, biết những hạnh hải thuở xưa của vô lượng Như Lai, biết những bổn sự hải của vô lượng Như Lai, biết năng xả nan thí hải của vô lượng Như Lai, biết thanh tịnh giới luân hải của vô lượng Như Lai, biết thanh tịnh kham nhẫn hải của vô lượng Như Lai, biết quảng đại tinh tấn hải của vô lượng Như Lai, biết thậm thâm thiền định hải của vô lượng Như Lai, biết Bát-nhã ba-la-mật hải của vô lượng Như Lai, biết Phương tiện ba-la-mật hải của vô lượng Như Lai, biết Nguyện ba-la-mật hải của vô lượng Như Lai, biết Lực ba-la-mật hải của vô lượng Như Lai, biết Trí ba-la-mật hải của vô lượng Như Lai, biết vô lượng Như Lai thuở xưa siêu Bồ-tát địa, trụ Bồ-tát địa, hiện thần thông lực trong vô lượng kiếp hải.

Cũng biết vô lượng Như Lai thuở xưa nhập Bồ-tát địa, tu Bồ-tát địa, trụ Bồ-tát địa, quán Bồ-tát địa.

Biết vô lượng Như Lai, thuở xưa lúc làm Bồ-tát, thường thấy chư Phật hải, kiếp hải đồng trụ. Biết vô lượng Như Lai, thuở xưa, lúc làm Bồ-tát, dùng vô lượng thân sanh khắp sát hải. Biết vô lượng Như Lai, thuở xưa lúc làm Bồ-tát, cùng khắp pháp giới tu hạnh quảng đại. Biết vô lượng Như Lai, thuở xưa lúc làm Bồ-tát, thị hiện những phương tiện môn điều phục thành thục tất cả chúng sanh.

Biết vô lượng Như Lai phóng đại quang minh chiếu khắp tất cả sát hải mười phương. Biết vô lượng Như Lai hiện đại thần lực ra trước tất cả chúng sanh. Biết trí quảng đại của vô lượng Như Lai. Biết vô lượng Như Lai chuyển chánh pháp luân. Biết vô lượng Như Lai thị hiện tướng hải. Biết vô lượng Như Lai thị hiện thân hải. Biết vô lượng Như Lai quảng đại lực hải.

Tất cả chư Như Lai đó từ sơ phát tâm nhẫn đến pháp diệt, trong mỗi niệm ta đều thấy biết. 

Này Thiện nam tử! Ngươi hỏi ta phát tâm đã bao lâu?

Này Thiện nam tử! Thuở xưa quá hai Phật sát vi trần số kiếp như đã nói ở trên, trong thế giới Thanh Tịnh Quang Kim Trang Nghiêm, ta làm bồ-đề thọ thần nghe đức Bất Thối Chuyển Pháp Giới Âm Như Lai thuyết pháp, ta phát tâm vô thượng Bồ-đề, tu Bồ-tát hạnh suốt hai Phật sát vi trần số kiếp, sau đó mới sanh trong Hiền kiếp nơi thế giới Ta-bà này, từ Câu-lưu-tôn-đà Phật, đến Thích-ca-mâu-ni Phật và tất cả Phật vị lai trong kiếp này, ta đều thân cận cúng dường như vậy.

Trong tất cả thế giới tất cả kiếp vị lai đây có tất cả chư Phật, ta cũng đều thân cận cúng dường như vậy.

Đoạn này ngài kể lại nhân tu hành của thuở xưa, thời gian trải qua bao nhiêu đức Phật, bao nhiêu cõi không thể tính kể.

Này Thiện nam tử! Thế giới Thanh tịnh Quang Kim Trang Nghiêm hiện nay vẫn còn, chư Phật nối tiếp xuất hiện không dứt. Ngươi nên nhất tâm tu môn Bồ-tát đại dũng mãnh này.

Ngài kể lại thế giới thuở xưa ngài phát tâm tu hành. Thế giới ấy hiện giờ vẫn còn, chư Phật luôn xuất hiện nơi đó. Thế giới Thanh Tịnh Quang Kim Trang Nghiêm là thế giới gì? Là thế giới của pháp thân, chư Phật xuất hiện không dứt. Nói thế giới và chư Phật kia rồi bảo Thiện Tài nhất tâm tu pháp môn đó. Pháp môn đó là gì? Là nhận ra mình có pháp thân thanh tịnh từ vô lượng kiếp đến giờ. Từ pháp thân hiện ra bao nhiêu hóa thân, làm lợi ích vô số chúng sanh. 

Bấy giờ, Chủ dạ thần Tịch Tịnh Âm Hải muốn tuyên lại nghĩa giải thoát này, vì Thiện Tài đồng tử mà nói kệ rằng:

Thiện Tài nghe ta nói

Môn thanh tịnh giải thoát

Nghe rồi sanh vui mừng 

Siêng tu cho rốt ráo. 

Xưa, vi trần kiếp hải

Ta phát tín nguyện lớn 

Thanh tịnh như hư không 

Thường quán Nhất thiết trí. 

Ta nơi tam thế Phật

Đều có lòng tin mến

Cùng chúng hội đạo tràng 

Đều nguyện thường thân cận.

Xưa, ta từng thấy Phật

Vì chúng sanh cúng dường 

Được nghe pháp thanh tịnh

Tâm mình rất hoan hỷ. 

Thường tôn trọng phụ mẫu 

Cung kính mà cúng dường 

Không thôi trễ như vậy

Vào môn giải thoát này.

Chủ dạ thần nghe Phật giáo hoá, từ đó về sau thường vì chúng sanh mà cúng dường, tâm rất hoan hỷ. Đối với cha mẹ hết lòng cung kính, cúng dường không bê trễ, nên vào được môn giải thoát này.

Người già bệnh nghèo cùng

Căn thân chẳng toàn vẹn

Đều thương giúp tất cả 

Cho họ được an ổn.

Đó là giúp những kẻ cùng khốn.

Nước, lửa và vua, giặc

Trong biển có khủng bố 

Xưa, ta tu các hạnh

Vì cứu chúng sanh đó. 

Thường cứu những người bị tai nạn.

Phiền não hằng hẫy hừng

Nghiệp chướng luôn ràng buộc 

Sa vào các đường hiểm 

Ta cứu chúng sanh đó. 

Cứu những chúng sanh bị phiền não, nghiệp chướng ràng buộc, thiêu đốt.

Tất cả các ác thú

Vô lượng sự khốn khổ

Sanh già bệnh chết thảy

Ta sẽ đều trừ diệt.

Thường trừ diệt sự khốn khổ ở trong cõi ác.

Nguyện tận kiếp vị lai

Vì khắp các chúng sanh

Diệt trừ khổ sanh tử

Được Phật rốt ráo vui.

Nguyện cho tất cả chúng sanh đều được quả vị Phật.

Này Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát niệm niệm sanh quảng đại trí trang nghiêm này. Như chư đại Bồ-tát thâm nhập tất cả pháp giới hải, đều biết tất cả những kiếp số, thấy khắp tất cả cõi thành hoại. Ta thế nào biết được nói được công đức hạnh đó.

Chủ dạ thần này không thể hiểu hết tất cả các cõi thành hoại trong pháp giới hải, nên giới thiệu Thiện Tài tiếp tục đến vị Chủ dạ thần tên là Thủ Hộ Nhất Thiết Thành Tăng Trưởng Oai Lực. Đến đây là xong phần của Chủ dạ thần Tịch Tịnh Âm Hải.

Này Thiện nam tử! Trong hội Bồ-đề Tràng của đức Như Lai đây có Chủ dạ thần tên là Thủ Hộ Nhất Thiết Thành Tăng Trưởng Oai Lực. Ngươi đến đó hỏi Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, tu Bồ-tát đạo. 

Thiện Tài nhất tâm quan sát thân của Chủ dạ thần Tịch Tịnh Âm Hải rồi nói kệ rằng:

Tôi do thiện hữu dạy

Đến chỗ Chủ dạ thần 

Thấy thần ngồi bảo tòa

Thân lượng lớn vô biên.

Những người chấp sắc tướng

Chấp các pháp là có

Kẻ trí kém hiểu cạn

Chẳng biết cảnh giới thần.

Người chấp sắc tướng và các pháp thật có là do trí kém hiểu cạn. Bởi trí kém hiểu cạn nên không thấy cảnh giới của thần. Cảnh giới của thần là cảnh giới nào? Chúng ta không nên lầm chữ thần trong kinh nói với chữ thần của mấy thầy bùa, thầy pháp. Ở đây nói diệu dụng của chư Phật, Bồ-tát tạo ra cảnh giới vi diệu tức là cảnh giới của thần. 

Trời và người thế gian

Quan sát vô lượng kiếp 

Cũng chẳng tính lường được

Vì sắc tướng vô biên.

Xa lìa nơi năm uẩn

Cũng chẳng trụ nơi xứ

Dứt hẳn thế gian nghi

Hiển hiện sức tự tại.

Hàng trời người, cả thảy thế gian quan sát trải qua vô lượng kiếp cũng không thể tính được sắc tướng vô biên bất khả lường của Phật, Bồ-tát. Sắc tướng đó là gì? Là những diệu dụng, những ứng hiện tùy tâm chúng sanh mà giáo hóa. Những sắc tướng đó xa lìa năm uẩn, không có chỗ trụ xứ, dứt hẳn lưới nghi của thế gian, hiển hiện sức tự tại. Sắc tướng ấy thị hiện không ở trong cũng không ở ngoài, nên nói chẳng chấp pháp nội ngoại. 

Chẳng chấp pháp nội ngoại

Không động không chướng ngại 

Mắt trí tuệ thanh tịnh

Thấy Phật thần thông lực.

Thân là chánh pháp tạng

Tâm là trí vô ngại

Đã được trí quang chiếu 

Lại chiếu các quần sanh.

Tâm Phật, Bồ-tát không động cũng không bị chướng ngại. Con mắt trí tuệ của các ngài lúc nào cũng thanh tịnh, sức thần thông không lường, thân là kho tàng chánh pháp, tâm là trí tuệ vô ngại. Các Bồ-tát được trí quang của Phật chiếu đến, nghĩa là được Phật dùng trí tuệ giáo hóa. Khi nhận được trí tuệ của Phật, các ngài mới tiếp tục giáo hóa chúng sanh, nên nói lại chiếu các quần sanh. 

Tâm nhóm vô biên nghiệp 

Trang nghiêm các thế gian

Biết thế gian là tâm

Hiện thân khắp chúng sanh.

Tâm nhóm hợp nghiệp vô biên trang nghiêm các thế gian. Nghiệp này là nghiệp thiện, không phải vô biên ác nghiệp. Tâm nhóm vô biên nghiệp là vô biên thiện nghiệp, để trang nghiêm tất cả cảnh thế gian, làm cho được tươi đẹp. 

Phàm phu thấy có cảnh ngoài tâm, nhưng Bồ-tái thấy không có cảnh nào ngoài tâm, nên biết thế gian là tâm. Ngoài tâm không có cảnh, nên cảnh không rời tâm. Tất cả chỗ đều là tâm nên nói hiện khắp tất cả chúng sanh. Đó cũng là cái thấy của các thiền sư.

Biết thế gian như mộng 

Tất cả Phật như bóng

Các pháp đều như vang

Khiến người không chấp trước.

Theo lối nói thông thường của chúng ta thì thế gian là hư giả, cõi Phật mới chân thật. Nhưng đó chỉ là nói trong vòng tương đối chưa phải cứu cánh. Ở đây nói đến chỗ cứu cánh, thế gian như mộng thì tất cả Phật cũng như bóng. Tại sao? Chỗ này không hiểu sẽ lầm tưởng các thiền sư nói năng vô phép. Như có người hỏi thiền sư: 

- Ngài có niệm Phật không? 

- Nghe nói một tiếng Phật đã dơ lỗ tai rồi. 

Các ngài là đệ tử Phật tại sao lại nói thế? Đó là do nhận thức của các ngài đã tới nơi. Biết tất cả pháp là tâm, từ tâm mà hiện thế gian nên thế gian đối với tâm là mộng. Từ tâm mà hiện ra Phật nên Phật đối với tâm là bóng. Thế gian là tên gọi khác của chúng sanh, mà chúng sanh và Phật là danh từ đối đãi không thật, chỉ có thể tánh như như. Thể tánh như như đó vượt ngoài cả thế gian và Phật, không còn danh tự, hình tướng. Thấy được thể tánh như như rồi mới biết thế gian là Phật, tất cả Phật như bóng. 

Kinh Đại Bát-nhã nói: “Giả sử có pháp nào cao hơn Niết-bàn ta cũng nói như mộng, như huyễn.” Hiểu như vậy chúng ta mới thâm nhập được tinh thần Đại thừa, nếu không hiểu đọc kinh Đại thừa sẽ đâm ra sợ. Sợ điều chi? Vì biết thế gian là mộng, mình mới ham cầu thành Phật. Phật là quả thật để mình cầu. Nhưng ở đây lại nói Phật như bóng, mình biết tựa vào đâu tu hành? Thật ra khi biết thế gian như mộng Phật như bóng, mới thấy được chỗ chân thật cứu cánh. Đó là chỗ nào? Chỗ mà không chỗ. Đức Phật vì muốn chỉ cho chúng sanh chỗ cứu cánh nên nói các pháp đều giả. Phật đối chúng sanh, thế gian đối Niết-bàn... Nếu chúng sanh giả thì Phật làm sao thật được, thế gian giả thì Niết-bàn cũng giả. Nhận được như vậy mới đến cảnh giới cứu cánh. 

Vì tam thế chúng sanh

Niệm niệm thị hiện thân

Mà tâm vô sở trụ

Mười phương khắp nói pháp. 

Thế gian như mộng, Phật như bóng, các pháp đều như tiếng vang không thật. Như vậy còn chỗ nào dính mắc, còn chỗ nào chấp trước? Chư Phật dùng phương tiện giáo hóa chúng sanh như mẹ hiền dỗ con nít khóc. Đứa bé dốt nát bốc đất nhét vào miệng, bà mẹ móc ra nó không chịu nên khóc thét. Bà muốn dỗ con nín khóc nên lấy kẹo nhét vào miệng, nó mới chịu yên. Chúng ta cũng vậy, vì si mê nên chấp giả cho là thật. Phật thấy thương nên nói các pháp hư giả không thật. Chúng ta nghe không có gì thật không chịu tu. Do đó Phật phương tiện nói cảnh này giả cảnh kia thật. Cảnh kia là cảnh Niết-bàn hoặc Cực lạc... mình có cảnh bám mới chịu bỏ cảnh cũ. Cứ thế dần dần Phật gỡ bỏ từng kiến chấp, chỗ nào cũng không được, cuối cùng không còn kẹt chỗ nào mới tới cứu cánh. Cho nên biết trí chúng ta đối với trí Phật, giống như con nít khóc oa oa thôi, chưa biết phải quấy gì hết. Gặp đâu bám đó không phân biệt tốt xấu, phải quấy, sạch dơ. 

Lục Tổ thì nói chân như vô thường. Tại sao? Chúng sanh mê chấp nhiều lớp. Trở lại thí dụ trên, như đứa con nít bốc đất bỏ vào miệng bị mẹ mắng, bắt phải bỏ đi. Nó bỏ xong lại bốc lá cây đưa vào miệng, mẹ cũng mắng bắt phải bỏ. Nó bỏ rồi đưa cái khác vào miệng. Cứ thế, bỏ cái này đưa cái kia không chịu yên. Chúng sanh cũng vậy, vì ngu si chấp pháp thế gian, Phật dạy Phật pháp để bỏ chấp thế gian, mình bắt đầu chuyển sang chấp Phật pháp. Tóm lại cái gì mình cũng bám cũng giữ. 

Thành ra với người mê thì nói thế gian vô thường, còn chân như phải thường. Với người đã ngộ, nói chân như vô thường cũng được, nói thường cũng được. Bởi vì chân như và thế gian đều là pháp giả lập để giáo hóa chúng sanh. Đã là giả danh lập thì đâu có thật. Cho nên nói vô thường hay thường gì cũng đúng. Chư Phật Bồ-tát chỉ dạy chỗ rốt ráo nên nói “Biết thế gian như mộng, tất cả Phật như bóng, các pháp đều như vang”, để mình thông còn chấp trước. 

Vì tam thế chúng sanh, nghĩa là Bồ-tát trong ba đời, niệm niệm thị hiện thân để giáo hóa tất cả chúng sanh. Giáo hóa mà tâm không có sở trụ, tức không chấp trước. Mười phương khắp nói pháp mà không vướng mắc.

Vô biên những sát hải 

Phật hải, chúng sanh hải

Đều ở trong một trần

Là giải thoát của thần.

Câu này kết luận đầy đủ. Vô biên những sát hải là cõi nước nhiều như nước biển. Phật nhiều như nước biển, chúng sanh nhiều như nước biển... tất cả đều ở trong một hạt bụi. Như vậy hạt bụi này chỉ cho nhất tâm chân như, vì có thể chứa tất cả Phật, tất cả chúng sanh tất cả cõi nước. Đạt được như thế mới là chỗ giải thoát của thần.

Nói kệ xong, Thiện Tài đảnh lễ Dạ thần, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Thiện Tài tùy thuận lời dạy của Chủ dạ thần Tịch Tịnh Âm Hải, quán sát pháp môn của Dạ thần vừa nói, mỗi câu mỗi chữ đều không quên sót. Nơi vô lượng thâm tâm, vô lượng pháp tánh, tất cả phương tiện thần thông trí tuệ, nghĩ nhớ suy chọn tiếp nối không dứt, tâm niệm quảng đại chứng nhận an trụ.

Bồ-tát Chủ dạ thần Tịch Tịnh Âm Hải đã dạy xong, Thiện Tài tư duy, thâm nhập được pháp môn này. Khi thâm nhập rồi ngài mới tiến lên, đi đến dạ thần Thủ Hộ Nhất Thiết Thành.

Thiện Tài đi đến chỗ dạ thần Thủ Hộ Nhất Thiết Thành. Thấy Dạ thần này ngồi trên tòa sư tử Nhất thiết bảo quang minh ma-ni vương, vô số dạ thần vây quanh, hiện thân nhất thiết chúng sanh sắc tướng, hiện thân đối khắp tất cả chúng sanh, hiện thân chẳng nhiễm tất cả thế gian, hiện thân số bằng tất cả chúng sanh, hiện thân siêu quá tất cả thế gian, hiện thân thành thục tất cả chúng sanh, hiện thân mau đến tất cả mười phương, hiện thân nhiếp khắp tất cả mười phương, hiện thân rốt ráo Như Lai thể tánh, hiện thân rốt ráo điều phục chúng sanh.

Đến đây là đệ lục địa tức Hiện tiền địa. Địa này lấy Bát-nhã làm phương pháp tu chánh, còn chín phần kia là phụ. Dạ thần này tên Thủ Hộ Nhất Thiết Thành, người có chánh trí tuệ hay thủ hộ tất cả tâm và cảnh, các ác tập, vô minh không thể nào xâm nhập. Thể tâm tánh không thì ác tập, vô minh tự nhiên tiêu diệt. Đại trí pháp vương tự nhiên xuất hiện, gọi là Chủ dạ thần Thủ Hộ Nhất Thiết Thành, chỉ cho cái thành của tâm và cảnh. Đối với tâm cảnh gìn giữ không cho xâm nhiễm nhau, không để vô minh ác tập quấy nhiễu. Thể của tâm và cảnh vốn vắng lặng, nên vô minh ác tập không từ đâu mà quấy nhiễu được. Đó là nói về pháp tu của Bồ-tát. 

Dạ thần này đã được trí gìn giữ tất cả tâm cảnh đều tự tại, nên hiện tất cả thân, đối tất cả sắc tướng của chúng sanh, đối tất cả thế gian hiện thân mà không nhiễm.

Thiện Tài xem thấy hớn hở vui mừng đảnh lễ nơi chân Dạ thần, hữu nhiễu vô lượng vòng, chắp tay cung kính mà thưa rằng: 

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng Bồ-đề, mà chưa biết Bồ-tát lúc tu Bồ-tát hạnh thế nào lợi ích chúng sanh, thế nào dùng pháp nhiếp vô thượng để nhiếp chúng sanh, thế nào thuận theo lời dạy của Phật, thế nào gần ngôi Pháp vương? Ngưỡng mong từ mẫn tuyên nói cho.

Tới địa thứ sáu, gần quả Phật nên những câu hỏi cũng khác hơn trước. Đây là phần thật tu thật chứng, làm lợi ích cho chúng sanh. Vì vậy nói rằng: “Tôi đã phát tâm Bồ-đề rồi, chưa biết Bồ-tát tu Bồ-tát hạnh thế nào mà được lợi ích cho chúng sanh?” Không hỏi thế nào được Bồ-tát hạnh, chỉ hỏi tu thế nào được lợi ích chúng sanh, thế nào dùng pháp nhiếp vô thượng để nhiếp chúng sanh v.v... đó là nhắm vào phần lợi tha viên mãn.

Dạ thần nói:

Này Thiện nam tử! Ngươi vì cứu hộ tất cả chúng sanh, vì nghiêm tịnh tất cả Phật độ, vì cúng dường tất cả Như Lai, vì muốn trụ tất cả kiếp để cứu chúng sanh, vì muốn giữ gìn tất cả Phật chủng, vì muốn vào khắp mười phương để tu những công hạnh, vì muốn vào khắp tất cả pháp môn hải, vì muốn dùng tâm bình đẳng khắp tất cả, vì muốn thọ khắp tất cả Phật pháp, vì muốn tùy khắp sở thích của tất cả chúng sanh mà mưa pháp vũ, nên ngươi hỏi pháp môn của Bồ-tát tu hành.

Này Thiện nam tử! Ta được môn giải thoát Bồ-tát thậm thâm tự tại diệu âm.

Diệu âm là tiếng nhiệm mầu. Thậm thâm là rất sâu xa. Tiếng đó do trí tuệ viên mãn mà được, nên dùng âm thanh giáo hóa chúng sanh cũng được nhiệm mầu.

Làm đại Pháp sư không còn chướng ngại, vì có thể khéo khai thị pháp tạng của chư Phật. Đủ thệ nguyện lớn, sức đại từ bi, vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ tâm Bồ-đề. Có thể làm tất cả sự lợi cho chúng sanh, vì chứa nhóm thiện căn không thôi nghỉ. Làm Điều Ngự Sư cho tất cả chúng sanh, vì khiến tất cả chúng sanh an trụ đạo Nhất thiết trí. Làm pháp nhật thanh tịnh cho tất cả thế gian, vì chiếu khắp thế gian khiến sanh căn lành. Tâm bình đẳng với tất cả thế gian, vì khắp làm cho chúng sanh tăng trưởng pháp lành. Tâm thanh tịnh nơi tất cả cảnh giới, vì trừ diệt tất cả nghiệp bất thiện. Thệ nguyện lợi ích tất cả chúng sanh, vì thân hằng hiện khắp tất cả quốc độ. Thị hiện tất cả bổn sự nhân duyên, vì làm cho các chúng sanh an trụ hạnh lành. Hằng thờ tất cả thiện tri thức, vì khiến chúng sanh an trụ Phật pháp.

Ngài nói đến khả năng sẽ làm nhiều lợi ích cho chúng sanh.

Này Thiện nam tử! Ta dùng pháp thí ban bố cho chúng sanh, khiến họ sanh bạch pháp, cầu Nhất thiết trí. Tâm được kiên cố như kim cang na-la-diên tạng, hay quán sát Phật lực, ma lực, thường được gần gũi thiện tri thức, dẹp phá tất cả núi hoặc nghiệp chướng, hợp pháp trợ đạo Nhất thiết trí, tâm hằng chẳng bỏ bậc Nhất thiết trí. 

Lẽ ra khi tu chỉ cần quán sát Phật lực để dũng mãnh tiến lên, còn ma lực cần gì phải biết. Nhưng ở đây dạy Phật lực, ma lực đều phải quán. Ma lực là pháp chướng đạo. Trong khi tu cần phải biết tất cả các pháp thuận nghịch. Bởi vì nếu chỉ biết phần tiến mà không biết những trở ngại thì khi gặp trở ngại, mình sẽ hư hỏng hoặc thối lui. Cho nên chẳng những thông Phật lực, mà còn phải hiểu cả ma lực. Đó là hai điều cần thiết.

Này Thiện nam tử! Ta dùng tịnh pháp quang minh như vậy để lợi ích tất cả chúng sanh. Lúc nhóm hợp pháp trợ đạo thiện căn, khởi mười thứ quan sát pháp giới:

Một là ta biết pháp giới vô lượng, vì chứng được trí quang minh quảng đại.

Hai là ta biết pháp giới vô biên, vì thấy chỗ thấy biết của tất cả Phật.

Ba là ta biết pháp giới vô hạn, vì vào khắp tất cả Phật độ cung kính cúng dường chư Như Lai.

Bốn là ta biết pháp giới không bờ mé, vì thị hiện tu hành Bồ-tát hạnh khắp trong tất cả thế giới hải.

Năm là ta biết pháp giới không dứt, vì nhập nơi trí bất đoạn của Như Lai.

Sáu là ta biết pháp giới một tánh, vì Như Lai một âm thanh mà tất cả chúng sanh đều rõ biết.

Bảy là ta biết pháp giới tánh tịnh, vì rõ Như Lai nguyện độ khắp tất cả chúng sanh.

Tám là ta biết pháp giới khắp chúng sanh, vì diệu hạnh Phổ Hiền đều cùng khắp.

Chín là ta biết pháp giới một trang nghiêm, vì diệu hạnh Phổ Hiền khéo trang nghiêm.

Mười là ta biết pháp giới chẳng thể hư hoại, vì thiện căn Nhất thiết trí sung mãn pháp giới chẳng thể hoại.

Thứ nhất là vô lượng, thứ hai là vô biên, thứ ba là vô hạn, thứ tư là vô tế tức không có bờ mé, thứ năm là không dứt, thứ sáu là một tánh, thứ bảy là tánh tịnh, thứ tám là khắp chúng sanh, thứ chín là trang nghiêm, thứ mười là pháp giới chẳng thể hư hoại. Đó là mười thứ quán pháp giới. 

Pháp giới là gì? Kinh Hoa Nghiêm nói nhập Pháp giới, kinh Pháp Hoa gọi là nhập Phật tri kiến, chỗ khác thì nói nhập chân tâm, tên tuy khác mà đều chỉ cho một pháp gốc. Thể của tâm ấy bao trùm nên gọi là pháp giới, thể của tâm ấy hiện ra thiên sai vạn biệt nên gọi là diệu dụng. Từ pháp giới sanh trưởng không biết bao nhiêu chúng sanh, bao nhiêu cõi. Đây là căn cứ trên phần khởi hiện vô lượng vô biên diệu dụng của pháp giới mà nói. Chỗ khác gọi là chân tâm, Phật tánh v.v... 

Người tu muốn được diệu dụng, trước hết phải nhận ra pháp giới hay chân tâm. Nó là vô lượng, vô biên, vô hạn, không có bờ mé, không đoạn dứt, một tánh, thanh tịnh, khắp chúng sanh, trang nghiêm, không hư hoại. Biết được tường tận như vậy, nhà thiền gọi là thấy tánh. Bởi thấy được thể tánh nên mới đầy đủ tất cả công đức.

Này Thiện nam tử! Ta khởi mười thứ quan sát pháp giới trên đây để nhóm hợp những thiện căn, hoàn tất pháp trợ đạo, biết rõ oai đức quảng đại của chư Phật, thâm nhập cảnh giới nan tư của Như Lai.

Nhờ quán pháp giới hay nói cách khác là quán sát tự tâm mình, thấy được thể tánh chân tâm trùm khắp, không giới hạn, không ngằn mé, không sanh diệt, không hư hoại. Nhận được rồi thì thâm nhập cảnh giới nan tư của Như Lai, tức là vào được cảnh giới khó nghĩ bàn của Như Lai. 

Lại này Thiện nam tử! Ta chánh niệm tư duy như vậy, được Như Lai mười môn đại oai đức đà-la-ni luân.

Nhờ chánh tư duy nhập thẳng vào pháp giới mà được mười môn đà-la-ni luân dưới đây.

Những là: Đà-la-ni luân vào khắp tất cả pháp, đà-la-ni luân trì khắp tất cả pháp, đà-la-ni luân nói khắp tất cả pháp, đà-la-ni luân niệm khắp tất cả Phật mười phương, đà-la-ni luân nói khắp danh hiệu của tất cả Phật, đà-la-ni luân vào khắp nguyện hải của tam thế Phật, đà-la-ni luân vào khắp tất cả những thừa hải, đà-la-ni luân nhập khắp tất cả chúng sanh nghiệp hải, đà-la-ni luân mau chuyển tất cả nghiệp, đà-la-ni luân mau sanh Nhất thiết trí.

Này Thiện nam tử! Mười đà-la-ni luân này dùng mười ngàn đà-la-ni luân làm quyến thuộc, hằng vì chúng sanh diễn nói diệu pháp.

Do có những đà-la-ni luân này nên tuỳ ý diễn nói diệu pháp. Diễn nói bằng cách nào?

Này Thiện nam tử! Ta vì chúng sanh hoặc nói văn tuệ pháp, tư tuệ pháp, tu tuệ pháp.

Đầu tiên dạy người nói ba món tuệ học: văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ.

Hoặc nói một hữu pháp, hoặc nói tất cả hữu pháp. 

Tức là nói có một pháp hoặc nói tất cả pháp.

Hoặc vì họ mà nói danh hải pháp của một Như Lai.

Tức là nói danh từ, tên của tất cả pháp nhiều như nước biển của đức Phật.

Hoặc nói danh hải pháp của tất cả Như Lai, hoặc vì họ mà nói một thế giới hải pháp, hoặc nói tất cả thế giới hải pháp, hoặc nói một Phật thọ ký hải pháp, hoặc nói tất cả Phật thọ ký hải pháp, hoặc nói chúng hội đạo tràng hải pháp của một Như Lai, hoặc nói chúng hội đạo tràng của tất cả Như Lai, hoặc vì họ mà nói pháp luân hải pháp của một Như Lai, hoặc nói pháp luân hải pháp của tất cả Như Lai.

Đà-la-ni là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là tổng trì, tức ghi nhớ hết. Chữ luân là một thứ, một loại. Đà-la-ni luân là một thứ đà-la-ni hay tổng trì tất cả. Nói tóm lại do ngài được đà-la-ni luân nên tổng trì tất cả.

Hoặc nói tu-đa-la pháp của một Như Lai, hoặc nói tu-đa-la pháp của tất cả Như Lai, hoặc nói tập hội pháp của một Như Lai, hoặc nói tập hội pháp của tất cả Như Lai, hoặc nói tâm hải pháp của một trí, hoặc nói tâm hải pháp của Nhất thiết trí, hoặc nói pháp xuất ly của một thừa, hoặc nói xuất ly pháp của tất cả thừa. Ta vì chúng sanh mà nói bất khả thuyết pháp môn như vậy.

Này Thiện nam tử! Ta nhập Như Lai vô sai biệt pháp giới môn hải, nói pháp vô thượng nhiếp khắp chúng sanh, tận vị lai kiếp trụ hạnh Phổ Hiền.

Tất cả cách nói của ngài đều quy về hạnh Phổ Hiền, tức là hạnh viên mãn của Bồ-tát.

Này Thiện nam tử! Ta thành tựu môn giải thoát thậm thâm tự tại diệu âm này, ở trong mỗi niệm tăng trưởng tất cả những môn giải thoát, niệm niệm sung mãn tất cả pháp giới.

Đó là chỗ sở tu và sở chứng của ngài.

Thiện Tài thưa:

Lạ lùng thay, bạch đức Thánh! Môn giải thoát này hy hữu như vậy. Đức Thánh chứng được đã bao lâu?

Hỏi thời gian chứng được môn giải thoát này đã bao lâu?

Dạ thần nói:

Này Thiện nam tử! Thuở xưa, quá thế giới chuyển vi trần số kiếp.

Trong kinh Hoa Nghiêm, vô biên, vô số chuyển gấp mấy chục lần cái vô số. Có Bồ-tát tu trải qua Tu-di sơn vi trần số, tức là lấy núi Tu-di nghiền thành bụi, số kiếp tu hành nhiều như số bụi ấy. Có vị tu đã trải qua bao nhiêu kiếp, bao nhiêu vi trần kiếp v.v... Đến đây thì nói thế giới chuyển vi trần số kiếp, nghĩa là càng ngày càng cao. Thời gian quá khứ càng xa thì sự phát tâm tu càng lâu hơn. 

Có kiếp tên là Ly Cấu Quang Minh, có thế giới tên là Pháp Giới Công Đức Vân, thể chất bằng Hiện Nhất Thiết Chúng Sanh Nghiệp Ma-ni Vương Hải, hình như liên hoa, trụ trong tứ thiên hạ vi trần số hương ma-ni Tu-di sơn võng, trang nghiêm với xuất nhất thiết Như Lai bổn nguyện âm liên hoa, Tu-di sơn vi trần số liên hoa làm quyến thuộc, xen lẫn với Tu-di sơn vi trần số hương ma-ni. Thế giới đó có Tu-di sơn vi trần tứ thiên hạ. Mỗi tứ thiên hạ có trăm ngàn ức na-do-tha bất khả thuyết bất khả thuyết thành.

Trong đó có một tứ thiên hạ tên là Diệu Tràng, vương đô tên là Phổ Bảo Hoa Quang. Cách không xa có Bồ-đề Tràng tên là Phổ Hiền Hiện Pháp Vương Cung Điện. Tu-di sơn vi trần số Như Lai xuất hiện trong đó. Tối sơ Phật hiệu là Pháp Hải Lôi Âm Quang Minh Vương.

Lúc đức Phật đó xuất thế có Chuyển luân vương tên là Thanh Tịnh Nhật Quang Minh Diện, thọ trì tất cả pháp hải triền tu-đa-la của Phật. 

Phật hiệu là Pháp Hải Lôi Âm Quang Minh Vương. Khi đức Phật tối sơ xuất sanh, lúc đó chuyển luân vương tên là Thanh Tịnh Nhật Quang Minh Diện làm vua, nhưng sau đó xuất gia làm Tỳ-kheo. 

Sau khi đức Phật nhập Niết-bàn, nhà vua xuất gia hộ trì chánh pháp. Lúc pháp sắp diệt có ngàn bộ dị chúng thuyết pháp ngàn thứ. Gần lúc mạt kiếp nghiệp hoặc chướng nặng, các ác Tỳ-kheo nhiều sự đấu tranh, thích chấp cảnh giới chẳng cầu công đức. Thích nói vương luận, tặc luận, nữ luận, quốc luận, hải luận, nhẫn đến tất cả thế gian luận.

Thích nói vương luận là luận bàn việc vua chúa. Thích nói tặc luận là luận bàn việc giặc cướp. Thích nói nữ luận là luận bàn về nữ nhân. Thích nói quốc luận là luận bàn việc nước... thì lúc đó Phật pháp nhằm thời mạt kiếp. Thời chánh pháp hay tượng pháp thì người ta chỉ nhớ Phật pháp, chứ không nhớ những chuyện luận bàn như trên. Chúng ta là người tu phải biết trách nhiệm chính của mình là tu tập. Lẽ ra một vị Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni, mỗi ngày nếu không tu từng sát-na, từng tâm niệm thì ít ra cũng có vài thời công phu. Không tụng kinh thì niệm Phật, không niệm Phật thì tham thiền... như vậy còn có đạo lý. 

Ngược lại nhiều vị kinh Phật không đọc, mà báo chí thì đọc hết số này qua số khác. Lại thêm những sách tạp bên ngoài chất đầy cả tủ. Như vậy hình thức tuy là người xuất gia, thật sự tâm niệm là người thế tục. Đó là hiện thân của thời mạt kiếp. Bởi nghiệp hoặc chướng nặng nên mới sanh ra những hiện tượng như vậy. Mỗi vị xét lại nếu mình có những việc như vậy thì biết nghiệp hoặc chướng nặng rồi, phải ráng tu sửa. 

Lúc đó, Vương Tỳ-kheo bảo họ rằng:

Lạ thay, khổ thay! Đức Phật trong vô lượng kiếp hải chứa nhóm ngọn đuốc pháp này sao các người lại cùng nhau hủy diệt?

Nói xong, Vương Tỳ-kheo bay lên hư không cao bảy cây đa-la, thân phóng ra vô lượng những mây màu sáng, những lưới đại quang minh nhiều màu, làm cho vô lượng chúng sanh trừ nóng phiền não, làm cho vô lượng chúng sanh phát tâm Bồ-đề. Nhờ nhân duyên này nên giáo pháp của Như Lai được hưng thịnh thêm sáu vạn năm ngàn năm.

Trong thời mạt pháp nếu có người tu chín chắn, giáo pháp cũng có thể kéo dài thêm. Ở đây nói được sáu vạn năm ngàn năm. Nói rằng vị Vương Tỳ-kheo này bay lên hư không cao bảy cây đa-la. Cây này bên Ấn Độ không biết cao bao nhiêu, có lẽ mười mấy thước. Thân phóng quang, phóng ra vô lượng những mây màu sáng, những lưới đại quang minh nhiều màu làm cho chúng sanh trừ nhiệt não, nóng nảy. Ở đây nói diệu dụng của vị Vương Tỳ-kheo. Ngài thể nhập được Bát-nhã trí rồi, mới dùng pháp thất giác chi phóng ra bao nhiêu thứ phương tiện giáo hóa.

Màu sáng trong nhà Phật tượng trưng cho trí tuệ. Trước khi nói pháp, Phật thường phóng quang ngay giữa chặng mày để tượng trưng cho trí tuệ. Lưới đại quang minh tức là lưới trí tuệ bủa khắp, khiến chúng sanh trừ được nóng phiền não. Chúng ta sanh nhằm thời mạt Pháp nhưng nếu cố gắng tu hành như Tỳ-kheo Vương này, cũng đem pháp Bát-nhã chánh trí giáo hóa trừ phiền não cho mọi người, thì cũng có thể làm cho Phật pháp hưng thịnh thêm. Với ngài sáu vạn năm ngàn năm, còn mình cỡ vài ba chục năm. Như vậy để nói dù trong thời suy, nhưng nếu có người tu chân chánh thì Phật pháp cũng có thể kéo dài thêm. Đừng nghĩ thời mạt pháp rồi buông tay, mặc tình thả trôi thì không đúng. 

Lúc đó, có Tỳ-kheo-ni tên là Pháp Luân Hóa Quang, vốn là con gái của Chuyển luân vương, trăm ngàn Tỳ-kheo-ni làm quyến thuộc, nghe lời nói của phụ vương và thấy thần lực, liền phát tâm Bồ-đề không thối chuyển, được tam-muội tên là Nhất thiết Phật giáo đăng, lại được môn giải thoát thậm thâm tự tại diệu âm này, thân tâm nhu nhuyến, liền được thấy tất cả thần lực của đức Pháp Hải Lôi Âm Quang Minh Như Lai.

Này Thiện nam tử! Chuyển luân vương Tỳ-kheo xưa kia chính là Phổ Hiền Bồ-tát, vương nữ Tỳ-kheo-ni chính là ta.

Tỳ-kheo-ni này là ai? Chính là vị thần này, còn Vương Tỳ-kheo là ngài Phổ Hiền. Như vậy để biết rằng tất cả những vị Bồ-tát, tu hành trải qua vô lượng vô biên kiếp. Ở đây nhà vua Tỳ-kheo tức Thanh Tịnh Nhật Quang Minh Diện là hiện thân của ngài Phổ Hiền Bồ-tát. Vị Tỳ-kheo-ni này là con gái của ngài, hiện thân của từ bi. Từ bi nhờ Sai biệt trí mà có, nên mới thị hiện làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Muốn lợi ích chúng sanh nên hiện thần lực, tức là sức mạnh phi thường. Vị này kể lại thời gian xưa gặp Phật tu hành trải qua rất nhiều đức Phật, tu học rất nhiều pháp môn. Trước hết là pháp môn tam-muội, sau chót là pháp môn Bát-nhã ba-la-mật, vào khắp tất cả pháp môn hải. 

Thuở ấy ta thủ hộ Phật pháp làm cho mười vạn Tỳ-kheo-ni được chẳng thối chuyển nơi vô thượng Bồ-đề, lại được hiện thấy tất cả Phật tam-muội, lại được tất cả Phật pháp luân kim cang quang minh đà-la-ni, lại được Bát-nhã ba-la-mật vào khắp tất cả pháp môn hải.

Kế đó có Phật xuất thế hiệu là Ly Cấu Pháp Quang Minh, kế đó có Phật xuất thế hiệu là Pháp Luân Quang Minh Kế, kế đó có Phật xuất thế hiệu là Pháp Nhật Công Đức Vân, kế đó có Phật xuất thế hiệu là Pháp Hải Diệu Âm Vương, kế đó có Phật xuất thế hiệu là Pháp Nhật Thí Huệ Đăng, kế đó có Phật xuất thế hiệu là Pháp Hoa Tràng Vân, kế đó có Phật xuất thế hiệu là Pháp Diệm Sơn Tràng Vương, kế đó có Phật xuất thế hiệu là Thậm Thâm Pháp Công Đức Nguyệt, kế đó có Phật xuất thế hiệu là Pháp Trí Phổ Quang Tạng, kế đó có Phật xuất thế hiệu là Khai Thị Phổ Trí Tạng, kế đó có Phật xuất thế hiệu là Công Đức Tạng Sơn Vương. Kế đó có Phật xuất thế hiệu là Phổ Môn Tu-di Hiền, kế đó có Phật xuất thế hiệu là Nhất Thiết Pháp Tinh Tấn Tràng, kế đó có Phật xuất thế hiệu là Pháp Bảo Hoa Công Đức Vân, kế đó có Phật xuất thế hiệu là Tịch Tịnh Quang Minh Kế, kế đó có Phật xuất thế hiệu là Pháp Quang Minh Từ Bi Nguyệt, kế đó có Phật xuất thế hiệu là Công Đức Diệm Hải, kế đó có Phật xuất thế hiệu là Trí Nhật Phổ Quang Minh.

Kế đó có chư Phật đây thứ đệ nối tiếp xuất thế: Phổ Hiền Viên Mãn Trí Phật, Thần Thông Trí Quang Vương Phật, Phước Đức Hoa Quang Đăng Phật, Trí Sư Tử Tràng Vương Phật, Nhật Quang Phổ Chiếu Vương Phật, Tu-di Bảo Trang Nghiêm Tướng Phật, Nhật Quang Phổ Chiếu Phật, Pháp Vương Công Đức Nguyệt Phật, Khai Phu Liên Hoa Diệu Âm Vân Phật, Nhật Quang Minh Tướng Phật, Phổ Quang Minh Diệu Pháp Âm Phật, Sư Tử Kim Cang Na-la-diên Vô Úy Phật, Phổ Trí Dũng Mãnh Tràng Phật, Phổ Khai Pháp Liên Hoa Thân Phật, Công Đức Diệu Hoa Hải Phật, Đạo Tràng Công Đức Nguyệt Phật, Pháp Cự Xí Nhiên Nguyệt Phật, Phổ Quang Minh Kế Phật, Pháp Tràng Đăng Phật, Kim Cang Hải Tràng Vân Phật, Danh Xưng Sơn Công Đức Vân Phật, Chiên-đàn Diệu Nguyệt Phật, Phổ Diệu Quang Minh Hoa Phật, Chiếu Nhất Thiết Chúng Sanh Quang Minh Vương Phật, Công Đức Liên Hoa Tạng Phật, Hương Diệm Quang Minh Vương Phật, Ba-đầu-ma-hoa Nhân Phật, Chúng Tướng Sơn Phổ Quang Minh Phật, Phổ Danh Xưng Tràng Phật, Tu-di Phổ Môn Quang Phật, Công Đức Pháp Thành Quang Phật, Đại Thọ Sơn Quang Minh Phật, Phổ Đức Quang Minh Tràng Phật, Công Đức Kiết Tường Tướng Phật, Dũng Mãnh Pháp Lực Tràng Phật, Pháp Luân Quang Minh Âm Phật, Công Đức Sơn Trí Huệ Quang Phật, Vô Thượng Diệu Pháp Nguyệt Phật, Pháp Liên Hoa Tịnh Quang Tràng Phật, Bảo Liên Hoa Quang Minh Tạng Phật, Quang Diệm Vân Sơn Đăng Phật, Phổ Giác Hoa Phật, Chủng Chủng Công Đức Diệm Tu-di Tạng Phật, Viên Mãn Quang Sơn Vương Phật, Phước Đức Vân Trang Nghiêm Phật, Pháp Sơn Vân Tràng Phật, Công Đức Sơn Quang Minh Phật, Pháp Nhật Vân Đăng Vương Phật, Pháp Vân Danh Xưng Vương Phật, Pháp Luân Vân Phật, Khai Ngộ Bồ-đề Trí Quang Tràng Phật, Phổ Chiếu Pháp Luân Nguyệt Phật, Bảo Sơn Oai Đức Hiền Phật, Hiền Đức Quảng Đại Quang Phật, Phổ Trí Vân Phật, Pháp Lực Công Đức Sơn Phật, Công Đức Hương Diệm Vương Phật, Kim Sắc Ma-ni Sơn Diệu Âm Thanh Phật, Đảnh Kế Xuất Nhất Thiết Pháp Quang Minh Vân Phật, Pháp Luân Xí Thạnh Quang Phật, Vô Thượng Công Đức Sơn Phật, Tinh Tấn Cự Quang Minh Vân Phật, Tam-muội Ấn Quảng Đại Quang Minh Quan Phật, Bảo Quang Minh Công Đức Vương Phật, Pháp Cự Bảo Cái Âm Phật, Phổ Chiếu Hư Không Giới Vô Úy Pháp Quang Minh Phật, Nguyệt Tướng Trang Nghiêm Tràng Phật, Quang Minh Diệm Sơn Vân Phật, Chiếu Vô Chướng Ngại Pháp Hư Không Phật, Khai Hiển Trí Quang Thân Phật, Thế Chủ Đức Quang Minh Âm Phật, Nhất Thiết Pháp Tam-muội Quang Minh Âm Phật, Pháp Âm Công Đức Tạng Phật, Xí Nhiên Diệm Pháp Hải Vân Phật, Phổ Chiếu Tam Thế Tướng Đại Quang Minh Phật, Phổ Chiếu Pháp Luân Sơn Phật, Pháp Giới Sư Tử Quang Phật, Tu-di Hoa Quang Minh Phật, Nhất Thiết Tam-muội Hải Sư Tử Diệm Phật, Phổ Trí Quang Minh Đăng Phật.

Khi đó mới gặp các đức Phật, nào là Ly Cấu Pháp Quang Minh, Pháp Luân Quang Minh Kế v.v... cho tới rất nhiều đức Phật... Sau chót là đức Phật Phổ Trí Quang Minh Đăng Phật. 

Có Tu-di sơn vi trần số chư Phật Như Lai như vậy thứ đệ tiếp nối xuất thế. Tối hậu Phật hiệu là Pháp Giới Thành Trí Huệ Đăng, cũng xuất thế trong kiếp Ly Cấu Quang Minh. Với tất cả chư Phật trên đây ta đều kính thờ thân cận cúng dường nghe pháp thọ trì và xuất gia học đạo hộ trì giáo pháp, nhập môn giải thoát Bồ-tát thậm thâm tự tại diệu âm này, dùng nhiều phương tiện giáo hóa thành thục vô lượng chúng sanh. Từ đó đến nay trải qua Phật sát vi trần số kiếp, có bao nhiêu chư Phật xuất thế, ta đều kính thờ cúng dường thọ hành giáo pháp.

Ngài Văn-thù dẫn đạo cho Thiện Tài phát tâm, ngài Phổ Hiền giáo hóa những vị nữ thần. Chúng ta cần thấy chỗ sai biệt để không mắc kẹt vào những vị Bồ-tát, những thiên thần hoặc Chủ dạ thần bên ngoài. Ban đầu Thiện Tài phát tâm đi tham vấn năm mươi hai vị thiện tri thức là do ngài Văn-thù giáo hóa. Nhưng các vị Chủ dạ thần luôn luôn nói được ngài Phổ Hiền giáo hóa. Hai việc này khác nhau chỗ nào? 

Mỗi chúng ta khi phát tâm tu theo Phật, ban đầu do trí căn bản sẵn có bên trong ngầm xúi dục, chứ đâu có ai bảo mình phải đi tu. Văn-thù chính là trí sẵn có mà mình không thấy, không biết. Khi tu rồi muốn giáo hóa chúng sanh, thực hành hạnh từ bi thì phải có trí biết căn cơ sai biệt của từng chúng sanh mới dạy họ được. Cái biết sai biệt đó gọi là Sai biệt trí. Nếu không có trí này thì không làm được gì hết. Cho nên sự giáo hóa của các vị dạ thần phần nhiều là từ ngài Phổ Hiền. 

Các vị dạ thần là tượng trưng cho các vị Bồ-tát khởi hạnh đại bi làm lợi ích chúng sanh. Nếu không có Sai biệt trí thì các ngài không làm được. Thí dụ chúng sanh than “con ngu si quá, nhờ Thầy dạy cho biết pháp nào chánh, pháp nào tà để con bớt ngu si”. Tất nhiên mình phải có pháp dạy họ biết tà chánh. Giản trạch, cứu độ chúng sanh thuộc về Sai biệt trí. Sai biệt trí viên mãn thì thành tựu Bồ-tát hạnh. Chúng ta chỉ được vài phần Sai biệt trí nên còn ở trong vòng phàm phu tăng. Căn bản trí giúp chúng ta đến với đạo, Sai biệt trí giúp chúng ta làm lợi ích cho chúng sanh. Ý nghĩa Căn bản trí và Sai biệt trí khác nhau như thế. 

Này Thiện nam tử! Từ đó đến nay, ta ở trong chúng sanh vô minh tăm tối sanh tử mà riêng mình giác ngộ, làm cho chúng sanh thủ hộ thành của tâm, bỏ thành tam giới mà an trụ nơi thành pháp Nhất thiết trí vô thượng.

Những vị thần này mang tính tượng trưng, nhưng sự thật tới chỗ kết cuộc các ngài đều chỉ rõ pháp tu. Như Thủ Hộ Thành là gìn giữ cái thành tâm của tất cả chúng sanh. Bỏ thành tam giới là bỏ sự chìm đắm trong mê lầm, được thành Nhất thiết trí vô thượng là thành trí tuệ của Phật, đâu phải thành nào khác. Tóm lại là ở trong vô minh tăm tối mà riêng được giác ngộ. 

Này Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát thậm thâm tự tại diệu âm này, làm cho các thế gian rời hý luận ngữ, chẳng nói nhị ngữ, thường chân thật ngữ, hằng thanh tịnh ngữ.

Bồ-tát muốn cho tất cả thế gian rời tất cả hý luận vô ích, rời nói hai bên, nên thường nói lời chân thật, lời thanh tịnh.

Như chư đại Bồ-tát có thể biết tự tánh của tất cả ngữ ngôn, trong mỗi niệm tự tại khai ngộ tất cả chúng sanh, vào biển ngôn âm của tất cả chúng sanh, đều biết rõ được tất cả ngôn từ, thấy rõ tất cả pháp môn, đã được tự tại nơi phổ nhiếp nhất thiết pháp đà-la-ni, tùy chỗ nghi của tâm chúng sanh mà vì họ thuyết pháp, rốt ráo điều phục tất cả chúng sanh, có thể nhiếp thọ khắp tất cả chúng sanh, khéo tu những nghiệp vô thượng của Bồ-tát, thâm nhập những trí vi tế của Bồ-tát, có thể khéo quán sát Bồ-tát tạng, có thể tự tại diễn thuyết những Bồ-tát pháp.

Tại sao vậy? Vì đã được thành tựu nhất thiết pháp luân đà-la-ni. Ta đâu biết được nói được công đức hạnh đó.

Chư Bồ-tát không biết hết hành động của các ngài, nên ở đây giới thiệu.

Này Thiện nam tử! Trong Phật hội này có Chủ dạ thần tên là Khai Phu Nhất Thiết Thọ Hoa. Người đến đó hỏi Bồ-tát thế nào học Nhất thiết trí, thế nào an lập tất cả chúng sanh trụ Nhất thiết trí.

Thiện Tài nghe lời dạy, Chủ dạ thần Thủ Hộ Nhất Thiết Thành liền lặp lại bài tụng.

Thủ Hộ Nhất Thiết Thành Chủ dạ thần muốn tuyên lại nghĩa này, vì Thiện Tài mà nói kệ rằng: 

Bồ-tát giải thoát sâu khó thấy

Hư không như như bình đẳng tướng 

Thấy khắp trong vô biên pháp giới 

Tất cả tam thế Phật Như Lai. 

Xuất sanh vô lượng thắng công đức 

Chứng nhập nan tư chân pháp tánh 

Tăng trưởng Nhất thiết trí tự tại 

Khai thông tam thế đạo giải thoát. 

Quá xưa sát chuyển vi trần kiếp 

Bấy giờ, có kiếp tên Tịnh Quang 

Thế giới tên là Pháp Diệm Vân 

Có thành hiệu là Bảo Hoa Quang.

Trong đó chư Phật nối xuất thế 

Số đến vô lượng Tu-di trần: 

Tối sơ Phật hiệu Pháp Hải Ấm 

Ở trong kiếp này xuất hiện trước.

Trong kiếp Tịnh Quang tối hậu Phật 

Hiệu là Pháp Giới Diệm Đăng Vương

Tất cả chư Như Lai trên đây 

Ta đều cúng dường thính thọ pháp. 

Ta thấy Pháp Hải Lôi Âm Phật

Thân Phật chói rực màu chân kim 

Các tướng trang nghiêm như bảo sơn 

Phát tâm nguyện được thành Phật quả. 

Ta tạm thấy thân Như Lai kia

Liền phát tâm Bồ-đề quảng đại 

Thệ nguyện siêng cầu Nhất thiết trí 

Tánh cùng pháp giới hư không đồng. 

Do đây thấy khắp tam thế Phật 

Và cùng tất cả chúng Bồ-tát 

Cũng thấy quốc độ và chúng sanh 

Duyên đó nên khởi tâm đại bi.

Tùy các chúng sanh tâm sở thích 

Thị hiện đủ loại vô lượng thân 

Cùng khắp mười phương các quốc độ 

Động địa phóng quang ngộ hàm thức. 

Thấy đệ nhị Phật kính thân cận 

Cũng thấy mười phương sát hải Phật 

Nhẫn đến tối hậu Phật ra đời 

Tu-di sơn trần số như vậy.

Trải qua sát chuyển vi trần kiếp

Có những Như Lai Chiếu Thế Đăng

Ta đều gần gũi mà kính thờ

Cho môn giải thoát này thanh tịnh.

Bài kệ có hai nghĩa: Một là tán thán. Hai là chỉ bày công hạnh của vị thần này hay nói rõ hơn là công hạnh của Bồ-tát Lục địa tức là địa thứ sáu.

Bấy giờ Thiện Tài đồng tử được nhập môn giải thoát Bồ-tát thậm thâm tự tại diệu âm nên nhập vô biên tam-muội hải, nhập quảng đại tổng trì hải, được Bồ-tát đại thần thông, được Bồ-tát đại biện tài.

Thiện Tài do được Chủ dạ thần chỉ dạy, ngài thâm nhập pháp môn Bồ-tát thậm thâm tự tại diệu âm, nhập vô biên tam-muội, nhập quảng đại tổng trì hải, được Bồ-tát đại thần thông, được Bồ-tát đại biện tài. 

Thiện Tài rất hoan hỷ, ngắm nhìn Thủ Hộ Nhất Thiết Thành Chủ dạ Thần rồi nói kệ khen rằng: 

Đã đi biển diệu tuệ quảng đại
Đã qua vô biên biển tam hữu
Thân trí tạng trường thọ không khổ
Oai đức quang minh ở chúng này.

Ngài đã đi biển diệu tuệ quảng đại, tức đã được diệu tuệ quảng đại rồi, đã qua biển sanh tử trong tam hữu. Trí tạng của ngài còn mãi, không khổ, đầy đủ oai đức quang minh ở trong chúng này.

Liễu đạt pháp tánh như hư không
Vào khắp tam thế đều vô ngại
Niệm niệm phan duyên tất cả cảnh
Tâm tâm dứt hẳn các phân biệt.

Liễu đạt pháp tánh như hư không, vào khắp tam thế đều vô ngại. Liễu đạt là rõ thấu. Nếu rõ thấu được pháp tánh như hư không, lúc đó mình vào trong ba đời không có gì ngăn ngại. Tại sao? Vì thấy hư không không chướng ngại. Chỗ này là thiết yếu của sự tu. Sở dĩ chúng ta bị pháp chướng, nhân chướng, tất cả thứ bên ngoài chướng, là vì không rõ thấu tánh của các pháp là không. Người ta nói một câu khó nghe, mình chấp câu nói đó thật nên buồn. Như vậy có rõ thấu được pháp tánh không? Nếu rõ thấu được pháp tánh thì câu nói đó là một pháp không thật, được ráp từ lời mới thành, thể tánh là không. Thấy thể tánh là không thì nó không còn chướng ngại mình. Khen không vui, chê không buồn là không bị chướng ngại. Như vậy cái gì ràng buộc, cái gì làm ô nhiễm được mình. 

Sở dĩ chúng ta bị buộc bị nhiễm là nhìn giả tướng cho là thật. Đó là cái nhìn mê muội của chúng sanh, nên cứ qua lại mãi trong tam giới. Người rõ thấu pháp tánh không, dù có đi trong tam giới cũng không ngăn ngại. Vận dụng trí tuệ quán chiếu, thấy rõ ràng các pháp duyên hợp như huyễn, chắc chắn không vướng kẹt nó. Nếu nhìn các pháp với màu sắc của nó liền thấy đẹp xấu, từ đó sanh tâm luyến mến. Thấy sắc đẹp thì thích, bởi thích nên mắc kẹt, bị chướng ngại. Đi tới đâu chướng tới đó, khắp thế gian này đều là chỗ chướng ngại. 

Niệm niệm phan duyên tất cả cảnh, tâm tâm dứt hẳn các phân biệt. Chỗ này không khéo sẽ sanh nghi. Nhiều người cho rằng tu là tâm không phân biệt. Nếu thấy xe biết là xe, thấy người đi biết là người, thấy phố biết là phố... Biết nhiều như vậy mà nói vô phân biệt sao? Chỗ này nếu không hiểu rõ sẽ thấy mâu thuẫn. Niệm niệm phan duyên tất cả cảnh mà tâm chạy theo cảnh là phân biệt, niệm niệm phan duyên tất cả cảnh mà tâm không chạy theo cảnh là dứt hẳn các phân biệt. Tâm thường biết cũng phân biệt rõ ràng, nhưng không phải cái phân biệt của ý thức sanh diệt. Phân biệt mà không phân biệt mới là cái biết của tâm định, của trí tuệ Bát-nhã. Chỗ này chính là vô niệm của Lục tổ Huệ Năng. 

Lục tổ Huệ Năng nói duyên tất cả cảnh mà tâm hằng không phân biệt, đó mới thật là cứu cánh, là trí Bát-nhã. Người tới biết người, vật tới biết vật, xe tới biết xe, cái gì biết cái nấy, biết đầy đủ chứ không phải không biết. Biết người mà không phân biệt người đó hay dở, tốt xấu thì không có lỗi. Lỗi ở chỗ phân biệt hay dở, tốt xấu. Hay thì khen dở thì chê, tốt thì thích xấu thì ghét, vừa phân biệt là khởi hai, đó là gốc của phiền não. Thấy tất cả biết tất cả mà tâm vẫn vô phân biệt, đó là thể thiền mà Lục Tổ chủ trương. Vô niệm là như vậy. Không phải vô niệm là không biết gì hết, không biết gì hết là chết. Ở đây trong định có tuệ, trong tuệ có định, định tuệ không rời nhau.

Liễu đạt chúng sanh không tự tánh
Nhưng với chúng sanh khởi đại bi
Thâm nhập Như Lai môn giải thoát
Rộng độ quần mê vô lượng chúng.

Thấy rõ chúng sanh không thật mà luôn khởi đại bi thương chúng sanh, đó mới là tâm hạnh của Bồ-tát. Thông thường, người đời thấy vật gì thật thì hư mới sửa, xấu làm lại cho tốt. Nếu biết nó giả thì kệ, dính dáng gì đến mình mà sửa. Bồ-tát biết chúng sanh không tự tánh, duyên hợp huyễn có mà luôn khởi đại bi thương chúng sanh, đó mới là đặc biệt. Vì vậy trong kinh Kim Cang nói: Độ tất cả chúng sanh vào Niết-bàn, mà không thấy có chúng sanh được độ, không thấy mình hay độ. 

Bồ-tát dùng trí Bát-nhã thấy rõ tự tánh các pháp là không, nhưng chúng sanh mê lầm tưởng là thật nên khổ. Bởi thương họ, Bồ-tát giáo hóa cho họ biết nó không thật để họ hết khổ, đó là khởi đại bi độ chúng sanh. Như có đứa bé sợ ma, ban đêm nó đi ra đường thấy gốc cây đen sì tưởng là ma, nó hoảng hốt vừa chạy vừa la. Lúc đó mình biết gốc cây, không phải ma thì làm sao? Chẳng lẽ làm thinh để mặc nó sợ, nên phải nắm tay rọi đèn cho nó thấy đó là gốc cây, không phải ma. Nó biết rõ thì hết sợ. Người có lòng đại bi không cho phép thấy chúng sanh khổ mà bỏ mặc. Vì vậy Bồ-tát thường mặc giáp đại bi chiến đấu với hư không. 

Nghe nói chiến đấu với hư không, thấy đường như vô lý nhưng đó là sự thật. Bởi biết các pháp như huyễn mà vẫn xông vào để cứu độ, thử hỏi không phải chiến đấu với hư không là gì? Bồ-tát biết làm như vậy là huyễn, nhưng chúng sanh còn mê thì còn khổ, tất nhiên các ngài phải nỗ lực cứu giúp cho họ hết mê hết khổ. 

Quan sát tư duy tất cả pháp
Biết rõ chứng nhập các pháp tánh
Như vậy tu hành Phật trí tuệ
Giáo hóa chúng sanh khiến giải thoát.

Phần này lấy trí Bát-nhã làm pháp môn tu chính, cho nên lời tán thán của Thiện Tài đều nhắm vào Bát-nhã.

Ngài là Đạo sư của chúng sanh

Khai thị đạo trí tuệ của Phật

Khắp vì pháp giới các chúng sanh

Nói những hạnh thoát thế gian khổ.

Ngài là thầy dẫn đường cho tất cả chúng sanh, chỉ dạy trí tuệ Phật, vì chúng sanh khắp trong pháp giới nói những hạnh thoát thế gian khổ. 

Ngài đã trụ Như Lai đại nguyện
Đã thọ Bồ-đề pháp quảng đại
Đã tu tất cả biến hành lực
Đã thấy mười phương Phật tự tại.

Ngài đã trụ được đại nguyện của Phật, đã thọ pháp quảng đại của Bồ-đề tức là giác, đã tu tất cả biến hành lực. Biến là khắp, hành là làm. Biến hành lực là sức mạnh làm lợi ích khắp tất cả chúng sanh.

Đức thánh tâm tịnh như hư không
Lìa khắp tất cả những phiền não
Biết rõ tam thế vô lượng cõi
Chư Phật, Bồ-tát và chúng sanh.

Khen ngợi tâm thanh tịnh của ngài như hư không lìa tất cả phiền não. Tâm tịnh như hư không, chứ không phải là hư không. Khi tâm vừa dấy động chẳng khác nào như hư không trong trẻo bị một áng mây che. Tâm thanh tịnh là giác, do không động nên nói như hư không, không có phiền não nào dấy khởi. 

Biết rõ tam thế vô lượng cõi; chư Phật, Bồ-tát và chúng sanh, tức là biết các cõi vô lượng trong ba đời, biết Phật, Bồ-tát và chúng sanh. 

Đức Thánh một niệm đều biết rõ

Ngày, đêm, tháng, năm vi trần kiếp,

Cũng biết tất cả chúng sanh loại

Nhiều loại danh tướng đều sai biệt.

Trong một niệm ngài biết hết tất cả ngày đêm, tháng năm, cho tới kiếp số như vi trần. Biết tất cả chúng sanh, nhiều loại danh tướng sai khác. Kinh Phạm Động trong Trường A-hàm, đức Phật nói các ngoại đạo tu được định sâu, biết cả trăm năm hoặc ngàn năm trở về trước. Người nhập định sâu hơn, biết cả mấy ngàn năm về trước. Sở dĩ họ biết lui về quá khứ nhiều như vậy là do định cạn hoặc sâu. Định là do tâm không lay động bởi những vọng tưởng. Vọng tưởng không dấy động nên tâm lóng sạch. Lúc đó tâm như gương sáng, ở xa bao nhiêu hình ảnh rọi vào cũng được, rọi một cách rõ ràng. Nên nói định sanh tuệ. Nếu tâm lắng thì chúng ta biết rất cả những chuyện quá khứ. Như tối mình ngồi thiền, vừa yên một chút sực nhớ những chuyện từ năm ngoái, năm kia, nhớ tới nhớ hoài. Mới yên một chút mà còn nhớ như vậy, huống là yên hoàn toàn. Lúc đó muốn nhớ bao nhiêu kiếp về trước cũng được. 

Người tu định thấy như ngu vì dứt hết suy nghĩ, dứt hết vọng tưởng, thấy có vẻ khờ khạo. Nhưng chính cái ngu đó mới là khôn, mới biết lẽ thật, còn những suy tư phân biệt không đúng sự thật, do tưởng tượng thôi. Biết rõ tam thế cõi vô lượng, cho tới biết tất cả ngày đêm, năm tháng của bao nhiêu số kiếp, nhiều danh tướng biết hết.

Mười phương chúng sanh chỗ sanh tử
Có sắc, vô sắc, tưởng, phi tưởng
Tùy thuận thế tục đều biết rõ
Dẫn dắt cho vào đường Bồ-đề.
Đã sanh nhà Như Lai thệ nguyện
Đã nhập biển chư Phật công đức
Phát thân thanh tịnh tâm vô ngại
Tùy theo chúng sanh mà hiện thân.

Trong kinh A-hàm đức Phật thường nói: “Ta nhìn thấy chúng sanh qua lại trong lục đạo chẳng khác nào như người đứng trên lầu cao nhìn thấy người đi qua lại tới ngã tư đường.” Ngài nhìn thấy bằng thiên nhãn, rõ ràng không ngờ vực gì hết. Do tâm định Phật biết tất cả cõi, tất cả chúng sanh, sanh đây tử kia rành rẽ. Nếu chúng ta đi đứng nằm ngồi, hoạt động trong tất cả cảnh, thấy biết mà tâm không phân biệt, ngày cũng như đêm, lúc nào cũng như lúc nào thì định sâu hay cạn, tiểu định hay đại định? Quan trọng là làm sao trong tất cả thời, tất cả hành động, tất cả trường hợp đều không động. Được như vậy mới gọi là đại định. 

Chúng ta ngồi thiền một hai tiếng im phăng phắc, nhưng xả ra liền loạn động thì chưa phải đại định. Đại định của nhà thiền là định trong các hoạt động. Đi, đứng, nằm, ngồi, thấy, nghe v.v... tâm như như, nghĩa là vẫn thấy, vẫn biết mà không phân biệt. Được đại định mới giải quyết nổi việc sanh tử. 

Nói kệ xong, Thiện tài đảnh lễ chân Dạ thần, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi. 

Thiện Tài đã nhập môn giải thoát Bồ-tát thậm thâm tự tại diệu âm, tu hành tinh tấn, đi đến chỗ Dạ Thần Khai Phu Nhất Thiết Thọ Hoa. 

Đến địa thứ bảy là Viễn hành địa. Địa này lấy phương tiện làm chủ, chín phần kia là phụ. Vị thần Ở đây là dạ thần Khai Phu Nhất Thiết Thọ Hoa. Khai Phu Nhất Thiết Thọ Hoa nghĩa là sao? Nghĩa là khai phát phản hoàn sanh tử đồng hành với tất cả chúng sanh, sanh tử ở trong lục đạo, không bỏ lìa tất cả chúng sanh, sau mới thành Phật quả nên gọi là Khai Phu Nhất Thiết Thọ Hoa.

Thấy Dạ Thần này ở trong lâu các chúng bảo hương thọ, ngồi trên tòa sư tử bằng những diệu bảo. Trăm vạn dạ thần vây quanh.

Vì sao được trăm vạn dạ thần vây quanh? Vì Bồ-tát tu tới Viễn hành địa, qua lại trong tam giới độ thoát chúng sanh không có gì chướng ngại, nên gọi là viễn hành. Các ngài dùng phương tiện giáo hóa chúng sanh, nên có bao nhiêu dạ thần đều cùng làm quyến thuộc. 

Thiện Tài đảnh lễ chân Dạ thần chắp tay cung kính thưa rằng: 

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng Bồ-đề mà chưa biết Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào được Nhất thiết trí? Xin ngài từ mẫn vì tôi mà tuyên nói.

Câu hỏi của Thiện Tài từ trước đến đây, mỗi vị mỗi khác. Bây giờ không hỏi học Bồ-tát hạnh, tu Bồ-tát đạo mà hỏi học Bồ-tát hạnh được Nhất thiết trí. Vì đến đây đã gần đầy đủ viên mãn Nhất thiết trí. 

Dạ Thần nói:

Này Thiện nam tử! Nơi Ta-bà thế giới này, lúc mặt nhật lặn, hoa sen khép cánh, mọi người bãi bỏ du ngoạn, ta thấy những chúng sanh muốn trở về chỗ họ ở hoặc núi, hoặc thành, hoặc đồng quê, ta đều mật hộ cho họ đi đúng đường đến nơi đến chốn, đêm nghỉ an ổn.

Chư thần ủng hộ chúng sanh đáo để, muốn đi đâu cũng ủng hộ đến nơi đến chốn. Nhưng chúng ta nên nhớ khi mặt trời lặn, đêm tối đó là hiện thân của vô minh. Lúc đó hoa sen khép cánh, thôi du ngoạn tức là đã hết vui vẻ rồi. Bấy giờ chúng sanh muốn trở về chỗ an nghỉ tức là trở về nguồn. Ngài mật hộ tức là thầm khiến cho họ trở về nguồn một cách an ổn.

Này Thiện nam tử! Nếu có chúng sanh tuổi trẻ háo sắc kiêu mạn phóng dật vui say ngũ dục, thời ta vì họ mà hiện tướng già bệnh chết, khiến họ sợ sệt rời bỏ các điều ác. Lại vì họ mà khen ngợi những thiện căn khiến họ tu tập.

Đây nói về phương tiện giáo hóa của các ngài. Nếu người tuổi trẻ nào có bệnh háo sắc, kiêu mạn, phóng dật... ngài hiện tướng già bệnh chết để nhiếp phục. Tuổi trẻ dễ kiêu mạn, tại sao? Tại sinh lực dồi dào, thấy mình khỏe mạnh đầy đủ khả năng làm tất cả việc. Tuổi già sáu bảy mươi, đau lên đau xuống không còn làm gì nổi, Lúc đó hết ngạo mạn vì cảm thấy mình bất lực, bất lực với mình và với tất cả. Cho nên háo sắc phóng dật kiêu mạn là bệnh của tuổi trẻ. 

Bây giờ muốn họ thức tỉnh chỉ có cách hiện thân già, bệnh, chết, họ hoảng mới chịu tỉnh. Vì vậy Phật dạy Tỳ-kheo trẻ tuổi phải quán bất tịnh, nhớ sanh mạng vô thường, luôn luôn khắc chữ tử trên trán, cho họ biết mà dừng bớt tánh kiêu mạn. Nếu già cần gì khắc chữ tử nữa, nó tới nơi rồi. 

Vì người bỏn sẻn, khen ngợi bố thí. Vì người phá giới, khen ngợi tịnh giới. Với người sân hận, dạy họ hạnh đại từ. Khiến người não hại, thực hành nhẫn nhục. Nếu người giải đãi, khiến họ tinh tấn. Nếu người tán loạn, khiến tu thiền định. Người trụ ác tuệ, khiến học Bát nhã. Người thích Tiểu thừa, khiến trụ Đại thừa. Người đắm các loài trong tam giới, khiến họ trụ Bồ-tát nguyện ba-la-mật. 

Nếu người nào còn thích lăn lộn trong tam giới, thì dạy họ phát nguyện ba-la-mật.

Nếu có chúng sanh phước trí kém yếu bị kiết nghiệp ràng buộc lưu ngại nhiều, thì làm cho họ trụ Bồ-tát lực ba-la-mật. Nếu có chúng sanh tâm họ tối tăm không có trí tuệ, thì làm cho họ trụ Bồ-tát trí ba-la-mật.

Này Thiện nam tử! Ta đã thành tựu môn giải thoát Bồ-tát xuất sanh quảng đại hỷ quang minh.

Thiện Tài thưa: 

Bạch đức Thánh! Cảnh giới của môn giải thoát này thế nào?

Dạ Thần nói:

Này Thiện nam tử! Nhập môn giải thoát này có thể biết trí phương tiện thiện xảo của Như Lai Phổ nhiếp chúng sanh. Phổ nhiếp thế nào?

Này Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh hưởng vui đều là do sức oai đức của Như Lai. 

Tất cả chúng sanh hưởng vui đều do sức oai đức của Như Lai, nếu như vậy những người vui hưởng dục lạc cũng do oai đức của Phật sao? Không phải. Niềm vui ở đây là chỉ cho sự tỉnh giác, niềm vui này do sức của Phật mà được.

Vì thuận lời dạy của Như Lai. Vì thực hành theo lời của Như Lai. Vì học hạnh của Như Lai. Vì được sức hộ trì của Như Lai. Vì tu tập đạo của Như Lai ấn khả. Vì gieo điều lành của Như Lai làm. Vì y theo pháp của Như Lai nói. Vì trí tuệ nhật quang của Như Lai chiếu đến. Vì được Như Lai tánh tịnh nghiệp lực nhiếp thọ.

Hiện trong hội này, chúng ta bớt được phần nào phiền não cũng đều do sức gia hộ của Phật, được an ổn phần nào đều do oai đức Như Lai. Như Lai dùng mặt trời trí tuệ soi chiếu đến nên chúng ta biết được đạo lý cao siêu. Như vậy tất cả những việc quý báu ấy đều do Như Lai mà được. 

Tại sao biết như vậy?

Ta nhập môn giải thoát xuất sanh quảng đại hỷ quang minh này, nghĩ nhớ đức Tỳ-lô-giá-na Như Lai thành Đẳng chánh giác, thuở xưa tu Bồ-tát hạnh thảy đều thấy rõ.

Này Thiện nam tử! Thuở xưa, lúc làm Bồ-tát, đức Thế Tôn thấy tất cả chúng sanh chấp ngã, ngã sở, trụ nhà tối vô minh, vào rừng rậm kiến chấp, bị tham ái trói buộc, bị giận hờn làm hư, bị ngu si làm loạn, bị bỏn sẻn ganh ghét ràng rịt, nên sanh tử luân hồi bần cùng khốn khổ, chẳng gặp được chư Phật Bồ-tát. Thấy như vậy rồi khởi lòng đại bi lợi ích chúng sanh.

Thuở xưa Bồ-tát thấy cái khổ của chúng sanh mà khởi tâm đại bi. Bởi chúng sanh chấp ngã, ngã sở nên ở trong nhà vô minh đen tối. Vào rừng rậm kiến chấp là chấp đủ thứ. Bị tham ái trói buộc, bị giận hờn làm cho phiền não, bị ngu si làm cho rối loạn. Tại sao ngu si mà làm loạn? Vì ngu si nên thấy giả tưởng là thật, chạy theo nó nên bị nó làm loạn. 

Bị bỏn sẻn ganh ghét ràng rịt nghĩa là tự giam mình trong bỏn sẻn ganh ghét. Nên sanh tử luân hồi bần cùng khốn khổ, nghĩa là còn qua lại trong sanh tử luân hồi vì những bệnh này. Phật, Bồ-tát thấy chúng sanh như thế mới khởi tâm đại bi. 

Những là: Khởi tâm nguyện được tất cả diệu bảo tư cụ nhiếp lấy chúng sanh.

Được tất cả diệu bảo tư cụ là được mua sắm những thứ đồ báu. 

Khởi tâm nguyện tất cả chúng sanh đều được đầy đủ vật tư sanh không thiếu thốn. Với tất cả sự rời tâm chấp trước. Nơi tất cả cảnh giới không tâm tham nhiễm. 

Đó là khởi tâm nguyện của Bồ-tát. 

Nơi tất cả sở hữu không tâm tiếc nuối. Nơi tất cả quả báo không tâm hy vọng. 

Hai việc này đều khó. Tài vật của mình đem cho người không tiếc nuối. Như khi đi đường gặp người hoạn nạn, khởi lòng từ bi trong túi có bao nhiêu tiền móc ra cho hết. Tới chừng thấy món đồ muốn mua, trong túi không còn một xu, lúc đó thấy tiếc phải chi hồi nãy cho chừng một trăm thôi, còn một trăm để mua món này. Đó là còn tâm tiếc nuối. Hầu hết chúng ta có bệnh này. Gặp cảnh xúc động tâm từ bi dấy lên nhưng không được miên viễn, dễ sanh tiếc nuối. 

Thứ hai, nơi tất cả quả báo không tâm hy vọng. Như người ta thường nghĩ bố thí được quả báo giàu sang nghĩa là phải có chỗ hy vọng mong cầu. Đa số mọi người làm gì cũng hy vọng đạt được kết quả tốt đẹp. Ở đây đức Phật dạy làm tất cả lợi ích chúng sanh mà không có hy vọng. Tại sao? Vì hy vọng là gốc của phiền não. Thí dụ gặp người nghèo đói, nếu có tâm niệm Bồ-tát thì giúp rồi thôi, không nhớ gì nữa. Nhưng đa số chúng ta giúp rồi nhớ hoài, nhớ tới chết mới thôi. Bởi nhớ hoài nên mai kia gặp lại, họ không kính cẩn chào hỏi là hờn trách, mong đền đáp mà họ không đền đáp nên phiền não. Đó là bệnh của chúng sanh. 

Nơi tất cả vinh hảo không tâm khen chuộng.

Tất cả vinh hão là gì? Như chức tước, địa vị v.v... Những người có tiền thường mua chức, chức đó để chơi chứ không có thực lực. Theo đạo lý thì tất cả danh vọng của thế gian đều là hão, không có giá trị gì. Ngày nay là ông bộ trưởng, người ta khép nép, ngày mai xuống thì họ với mình như nhau. Thành ra tất cả danh vọng thế gian đều là hão. Biết như vậy đừng khen, đừng chuộng. 

Nơi tất cả nhân duyên không tâm mê hoặc.

Nơi tất cả các pháp nhân duyên không có tâm mê hoặc.

Khởi tâm quán sát pháp tánh chân thật. 

Khởi tâm quán biết tánh chân thật của tất cả các pháp.

Khởi tâm cứu hộ tất cả chúng sanh. Khởi tâm thâm nhập tất cả pháp. Khởi tâm trụ bình đẳng đại từ đối với tất cả chúng sanh. Khởi tâm thực hành phương tiện đại bi đối với tất cả chúng sanh. Khởi tâm làm lọng đại pháp che khắp chúng sanh. Khởi tâm chày kim cang đại trí phá tất cả núi chướng phiền não của tất cả chúng sanh. 

Kinh dùng những hình ảnh cụ thể hoá. Những cái chướng của chúng sanh dụ như núi, trí dụ như chày kim cang. Chày kim cang đập tan những ngọn núi phiền não của chúng sanh.

Khởi tâm làm cho tất cả chúng sanh tăng trưởng hỷ lạc. Khởi tâm nguyện tất cả chúng sanh rốt ráo an lạc. Khởi tâm tùy chỗ muốn của tất cả chúng sanh mà mưa tất cả của báu. Khởi tâm dùng phương tiện bình đẳng thành thục tất cả chúng sanh. Khởi tâm làm cho tất cả chúng sanh đầy đủ thánh tài. Khởi tâm nguyện tất cả chúng sanh rốt ráo đều được thập lực trí quả.

Khởi tâm như vậy rồi ta được Bồ-tát lực, hiện đại thần biến khắp pháp giới hư không giới. Ở trước chúng sanh mưa tất cả vật tư sanh, tùy sở thích của chúng sanh đều được toại ý, đều làm cho họ hoan hỷ, chẳng hối chẳng tiếc chẳng xen chẳng dứt. Dùng phương tiện này nhiếp khắp chúng sanh giáo hóa thành thục, đều làm cho họ ra khỏi khổ nạn sanh tử chẳng cầu báo đáp. Rửa sạch tâm bảo của tất cả chúng sanh, làm cho họ sanh khởi đồng một thiện căn với tất cả chư Phật. Thêm biển lớn phước đức Nhất thiết trí.

Bồ-tát dùng phương tiện nhiếp hóa chúng sanh được thành thục, đưa họ ra khỏi vòng sanh tử. Tâm bảo là hòn ngọc tâm quý báu. Hạt châu vô giá ví dụ cho tâm, nên ở đây dùng chữ tâm bảo. Rửa sạch tâm bảo tất cả chúng sanh, làm cho họ sanh khởi đồng một thiện căn với tất cả chư Phật, nghĩa là rửa sạch phiền não cấu bợn trong tâm thì đồng một thiện căn với chư Phật. Từ đó thêm lớn biển Nhất thiết trí. 

Bồ-tát niệm niệm thành thục tất cả chúng sanh như vậy. Niệm niệm nghiêm tịnh tất cả cõi Phật. Niệm niệm vào khắp tất cả pháp giới. Niệm niệm thảy đều khắp hư không giới. Niệm niệm vào khắp tất cả tam thế. Niệm niệm thành tựu trí điều phục tất cả chúng sanh. Niệm niệm hằng chuyển tất cả pháp luân. Niệm niệm hằng dùng đạo Nhất thiết trí lợi ích chúng sanh. Niệm niệm khắp tất cả thế giới ở trước các chúng sanh, tận vị lai kiếp hiện tất cả Phật thành Đẳng chánh giác. Niệm niệm khắp tất cả thế giới, tất cả kiếp tu Bồ-tát hạnh chẳng sanh hai tưởng.

Không có tưởng hai, đều tiến một chiều như vậy.

Những là: Vào khắp tất cả thế giới hải quảng đại, trong tất cả thế giới chủng, những ranh giới các thế giới, những trang nghiêm các thế giới, những thể tánh các thế giới, những hình trạng các thế giới, những phân bố các thế giới. Hoặc có thế giới uế mà kiêm tịnh, hoặc có thế giới tịnh mà kiêm uế, hoặc có thế giới một bề tạp uế, hoặc có thế giới một bề thanh tịnh, hoặc nhỏ hoặc lớn, hoặc thô hoặc tế, hoặc ngay hoặc nghiêng, hoặc úp hoặc ngửa.

 Trong tất cả thế giới như vậy niệm niệm tu hành những hạnh Bồ-tát, nhập Bồ-tát vị, hiện Bồ-tát lực. Cũng hiện tất cả thân Phật tam thế. Tùy tâm chúng sanh khiến biết thấy khắp cả.

Này Thiện nam tử! Tỳ-lô-giá-na Như Lai, lúc tu hành hạnh Bồ-tát như vậy, thấy các chúng sanh chẳng tu công đức, không có trí tuệ, chắp ngã ngã sở, bị vô minh che chướng, chẳng chánh tư duy, vào các tà kiến, chẳng biết nhân quả, thuận phiền não nghiệp, sa vào hầm sâu hiểm nạn sanh tử. Thọ đủ vô lượng những sự khổ, khởi tâm đại bi, tu đủ tất cả ba-la-mật hạnh. Vì các chúng sanh mà tán dương thiện căn kiên cố, cho họ an trụ xa rời khổ nghèo cùng sanh tử, siêng tu pháp trợ đạo phước trí. Vì họ mà nói những môn nhân quả. Vì họ mà nói nghiệp báo chẳng trái nhau. Vì họ mà nói chỗ chứng nhập của pháp. Vì họ mà nói tất cả chúng sanh hiểu biết và muốn thích và nói tất cả quốc độ thọ sanh, khiến họ chẳng dứt tất cả Phật chủng, khiến họ thủ hộ tất cả Phật giáo, khiến họ rời bỏ tất cả các ác. Lại vì họ mà tán dương pháp trợ đạo xu hướng Nhất thiết trí, khiến các chúng sanh hoan hỷ, khiến hành pháp thí nhiếp khắp tất cả, khiến họ phát khởi hạnh Nhất thiết trí, khiến họ tu học đạo ba-la-mật của chư đại Bồ-tát, khiến họ tăng trưởng những thiện căn hải thành Nhất thiết trí, khiến họ đầy đủ tất cả thánh tài, khiến họ được nhập môn tự tại của Phật. Khiến họ nhiếp thủ vô lượng phương tiện, khiến họ quán thấy oai đức của Như Lai, khiến họ an trụ Bồ-tát trí tuệ.

Lòng đại từ đại bi của chư Phật rộng lớn không có ngằn mé. Mục đích của ngài muốn chỉ cho chúng ta thấy được tâm bảo của mình, để thoát khỏi hiểm họa sanh tử. Nhưng có người không muốn cầu ra khỏi sanh tử, mà cầu đời sau sanh ra giàu sang sung sướng. Chư Phật vì họ nói nhân quả, nếu đời này gieo nhân lành, đời sau được quả lành. Đời này tu phước thập thiện đời sau được sanh lên cõi trời v.v... Chư Phật từ bi, không thể chỉ chỗ cứu cánh thì chỉ phương tiện cho chúng sanh đỡ khổ một chút. Cho nên giáo pháp tam thừa do lòng đại bi quá lớn của đức Phật mà có. 

Trên đường giáo hóa chúng ta cũng gặp trường hợp giống như vậy. Thời này đâu có ai muốn cầu giải thoát, nếu có cũng rất ít. Đa số muốn thọ hưởng sung sướng, phải dạy họ tu sanh về các cõi lành, đời sau được sung sướng. Vì vậy nói Bồ-tát tùy tâm chúng sanh mà giáo hóa, không phải theo tâm các ngài. 

Thiện Tài thưa: 

Đức Thánh phát tâm vô thượng Bồ-đề đã bao lâu?

Dạ Thần nói:

Này Thiện nam tử! Việc này khó tin, khó hiểu, khó vào, khó nói, tất cả thế gian và hàng Nhị thừa đều chẳng biết được, chỉ trừ thần lực của Phật gia hộ, thiện hữu nhiếp thọ, chứa thắng công đức, chí nguyện thanh tịnh, không tâm hạ liệt, không tâm tạp nhiễm, không tâm siểm khúc, được tâm trí quang minh khắp soi sáng, phát tâm nhiêu ích khắp các chúng sanh, tâm mà tất cả phiền não nhẫn đến chúng ma không phá hoại được, khởi tâm quyết thành tựu Nhất thiết trí, tâm chẳng thích tất cả sự vui sanh tử, có thể cầu tất cả diệu lạc của chư Phật, có thể diệt tất cả khổ não của chúng sanh, có thể tu công đức của tất cả Phật, có thể quán thật tánh của tất cả pháp, có thể đủ tất cả tín giải thanh tịnh, có thể siêu tất cả dòng thác sanh tử, có thể nhập tất cả trí hải của Như Lai, có thể quyết định đến thành Vô thượng pháp, có thể dũng mãnh nhập cảnh giới Như Lai, có thể mau chóng đến địa vị chư Phật, có thể liền thành tựu sức Nhất thiết trí, có thể ở nơi thập lực đã được rốt ráo. Người như vậy ở nơi đây có thể trì, có thể nhập, có thể rõ. Tại sao vậy? 

Vì đây là cảnh giới trí tuệ của Như Lai, tất cả Bồ-tát còn chẳng biết được huống là những chúng sanh khác. Nhưng nay ta do oai lực của đức Phật, muốn khiến chúng sanh điều thuận đáng được hóa độ, ý họ mau thanh tịnh. Muốn khiến chúng sanh tu tập thiện căn, tâm họ được tự tại. Nên theo chỗ hỏi của ngươi mà ta tuyên nói.

Chúng ta cần nhớ những lời nói của các vị dạ thần, xem như lời của Phật dạy chúng ta chứ không phải dạy ai xa lạ. Như vậy mới thấy lợi ích. 

Thời gian các ngài phát tâm ban đầu đến nay khó tính kể hết được. Phàm phu cho tới Nhị thừa cũng không hiểu thấu vì còn suy lường tương đối. Bồ-tát phát tâm tu hành vượt ngoài tương đối, các ngài kiến tánh khởi tu nên không còn nằm trong thời gian nữa. Người nào được thiện hữu nhiếp thọ, được sự giáo huấn của Bồ-tát, chứa công đức thù thắng, có chí nguyện thanh tịnh, không tâm hạ liệt v.v... mới có thể nhận hiểu nổi thời gian của các ngài phát tâm tu. 

Ở nơi đây có thể trì, có thể nhập, có thể rõ, vì đây là cảnh giới trí tuệ của Như Lai, tức là chỉ phát tâm ban đầu. Khi khởi tâm tu hành là các ngài đã thấy tánh, thấy được pháp thân Phật, nên gọi đó là cảnh giới trí tuệ của Như Lai. Tất cả Bồ-tát đều chẳng biết được cảnh giới này huống là chúng sanh. Nhưng nay ta do oai lực của đức Phật muốn khiến chúng sanh điều thuận đáng được hóa độ, ý họ mau thanh tịnh. Muốn khiến chúng sanh tu tập thiện căn, tâm họ được tự tại, nên theo chỗ hỏi của ngươi mà ta tuyên nói. 

Bấy giờ, dạ thần Khai Phu Nhất Thiết Thọ Hoa muốn tuyên lại nghĩa này, quan sát cảnh giới của tam thế Như Lai mà nói kệ rằng:

Phật tử ngươi đã hỏi
Cảnh giới Phật rất sâu
Nan tư sát trần kiếp
Nói đó chẳng thể hết.

Cảnh giới của Phật rất sâu xa, trải qua số kiếp như vi trần khó nghĩ lường, nói không thể hết. 

Chẳng phải tham sân si
Kiêu mạn phiền não che
Những chúng sanh như vậy
Biết được Phật diệu pháp.

Những người còn đầy phiền não tham, sân, si, kiêu mạn không thể thấy được diệu pháp của Phật, tức là không thấy được Phật tánh. 

Chẳng phải bỏn sẻn ganh
Siểm khúc những ý trược
Nghiệp phiền não che đậy
Mà biết được Phật cảnh.

Những người đầy lòng bỏn sẻn, ganh tỵ, siểm khúc, ý ô trược, nghiệp phiền não che đậy không thể biết được Phật cảnh, thấy được Phật tánh. 

Chẳng phải chấp uẩn xứ
Và chắp thân hữu lậu
Người kiến đảo, tưởng đảo
Biết được Phật giác ngộ.

Những người chấp nặng thân ngũ uẩn, thập nhị xứ cho là thật và chấp thân hữu lậu cho là quý, những người ấy mang kiến đảo tưởng đảo, tức cái thấy cái tưởng hay thấy được Phật tánh viên mãn. 

Phật cảnh giới tịch tịnh
Tánh tịnh rời phân biệt
Chẳng phải chấp ba cõi
Biết được pháp tánh này.

Phật ở đây là chỉ cho Phật pháp thân, nên nói Phật cảnh giới tịch tịnh, nghĩa là cảnh giới thường tịch quang. Muốn đạt cảnh giới này phải rời vọng tưởng phân biệt. Người nào còn chấp ba cõi Dục, Sắc và Vô sắc cho là thật, người đó không bao giờ thấy được pháp thân của chư Phật, cũng là pháp thân của chính mình. 

Sanh nơi nhà chư Phật
Được chư Phật thủ hộ
Người trì Phật pháp tạng
Cảnh giới của trí nhãn.

Người nào được sanh trong nhà chư Phật, được chư Phật thủ hộ, người đó là người trì pháp tạng của Phật. Đó là cảnh giới của trí nhãn, con mắt trí tuệ. 

Gần gũi thiện tri thức
Mến thích pháp bạch tịnh
Siêng cầu chư Phật lực
Nghe pháp này hoan hỷ.

Pháp bạch tịnh là những pháp trong sạch, chỉ cho pháp thiện hay pháp dứt sạch vọng tưởng phiền não. Siêng cầu chư Phật lực, tức là nỗ lực tu hành để đạt kết quả tốt đẹp của chư Phật. Nghe pháp này hoan hỷ, tức là nghe pháp bạch tịnh sanh tâm hoan hỷ.

Tâm tịnh vô phân biệt
Dường như thái hư không
Đèn trí tuệ phá tối
Cảnh giới của người này.

Người tâm lóng lặng không phân biệt, lặng lẽ rỗng rang như hư không, sẽ có ngọn đèn trí tuệ phá sạch hết mọi tối tăm, vào được cảnh giới Phật. Chỗ này thông khác với chỗ ngộ của ngài Vô Ngôn Thông Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu thấy không khác. Ở đây tâm tịnh vô phân biệt, dường như thái hư không, đèn trí tuệ phá tối, ý nghĩa giữa thiền và kinh không hai. Sở dĩ trí tuệ mờ tối vì tâm mình vọng tưởng phân biệt. Nếu tâm vọng tưởng lặng, lúc đó bản tánh rỗng rang như hư không thì đèn trí tuệ tự sáng. Nên nói đất tâm nếu không thì mặt trời trí tuệ tự nhiên chiếu sáng. Sanh trong nhà Phật được Phật thủ hộ, được pháp tạng của Phật tức là hiểu tất cả kinh điển, đó là cảnh giới của trí nhãn. Gần gũi thiện tri thức, học những pháp Phật, tâm hoan hỷ, vô phân biệt. Cảnh giới của người này là cảnh giới của trí tuệ, của đại bi. 

Dùng ý đại từ bi
Che khắp các thế gian
Tất cả đều bình đẳng
Cảnh giới của người này.

Dùng ý đại từ bi che khắp các thế gian, tất cả đều bình đẳng. Khởi tâm đại bi che hết tất cả chúng sau, tất cả đều bình đẳng, không sai biệt. Đó là cảnh giới của người này. 

Hoan hỷ tâm vô trước
Tất cả đều xả được
Bình đẳng thí chúng sanh
Cảnh giới của người này.

Người tâm hoan hỷ, không còn chấp trước, tất cả đều xả bỏ, không dính mắc, bình đẳng bố thí cho chúng sanh, đó là cảnh giới của Phật trí mà cũng là của người đó. 

Tâm tịnh rời các ác
Rốt ráo không hối hận
Thuận hành chư Phật giáo
Cảnh giới của người này.

Người tâm thanh tịnh, rời tất cả pháp ác, rốt ráo không bao giờ hối hận, làm theo hạnh của chư Phật đã dạy, đó là cảnh giới của hàng Bồ-tát đạt đạo mà cũng là cảnh giới của người này. 

Biết rõ pháp tự tánh
Nhẫn đến các nghiệp chủng
Tâm họ không động loạn
Cảnh giới của người này.

Biết rõ pháp tự tánh là biết thế nào? Biết các pháp tự tánh là không, duyên khởi huyễn có, đó là biết rõ tự tánh các pháp. Nhẫn đến các nghiệp chủng, những nghiệp chủng cũng biết rõ, nghiệp chủng thiện, nghiệp chủng ác v.v... Biết được như vậy thì tâm không động cũng không loạn, nên nói không động không loạn là cảnh giới của người này. 

Tam tổ Tăng Xán khi gặp Nhị Tổ, ngài nói: Bạch Hòa thượng, con nghiệp ác quá nhiều, cho nên bây giờ mang bệnh tật ghẻ lở, xin Hòa thượng dạy con phương pháp sám hối. Nhị Tổ bảo đem tội ra ta sám cho. Ngài tìm một hồi không thấy, thưa con tìm không thấy tội. Nhị Tổ nói ta đã sám hối cho ngươi rồi. Như vậy là biết nghiệp chủng tánh không, duyên hợp như huyễn, tất nhiên là đã đi tới chỗ tâm không loạn không động. Vì vậy ngài Tăng Xán liền ngộ đạo. 

Câu nói dường như rất tầm thường, nhưng ý nghĩa của nó nằm trong kinh điển tối thượng thừa. Bởi vì chúng ta lầm mê cảnh ngoài là thật, tự thân là thật, nên nghiệp cũng theo đó là thật. Bây giờ nếu biết tự tánh nghiệp không thật, thân và cảnh này tự tánh cũng không thật, tất cả thân tâm cảnh giới đều không thật, lúc đó còn chạy theo cái gì mà loạn động? Cho nên liền đó tâm không loạn động, đó là cảnh giới của người này. 

Dũng mãnh siêng tinh tấn
An trụ tâm bất thối
Siêng tu Nhất thiết trí
Cảnh giới của người này.

Luôn luôn dũng mãnh siêng năng tinh tấn, an trụ tâm bất thối, siêng tu Nhất thiết trí, đó là cảnh giới của hàng Bồ-tát mà cũng là cảnh giới của người này. 

Tâm họ tịch tịnh trụ tam-muội
Rốt ráo thanh lương không nhiệt não
Đã tu nhân Nhất thiết trí hải
Là giải thoát của người chứng ngộ.

Ở trên nói cảnh giới của người này tức là cảnh giới của Bồ-tát. Ở đây nói cảnh giới giải thoát của Phật đã chứng. Phật chứng bằng cách nào? Do tâm ngài tịch tịnh trụ ở tam-muội, tức trong chánh định. Rốt ráo thanh lương tức là mát mẻ không nóng nảy. Đã tu nhân Nhất thiết trí hải tức là tu nhân trí hải đầy đủ. Đó là giải thoát của người chứng ngộ. 

Khéo biết tất cả tướng phân biệt
Thâm nhập vô biên môn pháp giới
Độ khắp quần sanh không sót thừa
Là giải thoát của bậc trí tuệ.

Khéo biết tất cả tướng chân thật, đối tất cả trí nhận ra, hiểu thấu, rành rẽ, thâm nhập trong pháp môn pháp giới vô biên, độ khắp quần sanh không còn thừa sót. Đó là giải thoát của bậc trí tuệ. 

Rõ tánh chân thật của chúng sanh
Chẳng chấp tất cả biển hữu lậu
Như bóng hiện khắp trong tâm thủy
Là giải thoát của người chánh đạo.

Thấy tánh chân thật của chúng sanh là thấy tánh nào? Là thấy được pháp thân bất sanh bất diệt nơi tất cả chúng sanh, không chấp những biển hữu lậu. Biển hữu lậu là tất cả những pháp hữu lậu có hình tướng trên thế gian. Những pháp hữu lậu ấy chẳng khác nào như bóng hiện khắp trong tâm thủy. Tâm thủy là chỉ cho pháp chân. Các pháp hữu lậu do pháp thân biến hiện, chẳng khác nào như hình ảnh hiện dưới đáy nước vậy thôi. 

Là giải thoát của người chánh đạo, người được giải thoát là người chánh đạo. Cũng như thiền sư nói nhạn bay trên hư không, bóng chìm dưới đáy nước, nhạn không cố ý lưu dấu vết mà nước cũng không có tâm lưu lại bóng nhạn. Thí dụ này cho thấy rõ tất cả pháp hữu lậu như bóng trong pháp thân, lúc đó tâm và cảnh đều như. Cảnh qua cứ qua chứ không phân biệt, cảnh đến cứ đến chứ không chấp trước. Đó là giải thoát của người chánh đạo. 

Từ nơi tất cả tam thế Phật
Phương tiện nguyện chủng mà xuất sanh
Tận những kiếp sát siêng tu hành
Là giải thoát của bậc Phổ Hiền.

Từ phương tiện nguyện chủng của ba đời tất cả chư Phật mà xuất sanh, siêng năng tu hành nhiều kiếp như số bụi, làm lợi ích cho chúng sanh. Đó là hạnh giải thoát của Bồ-tát Phổ Hiền. 

Vào khắp tất cả môn pháp giới
Đều thấy mười phương những sát hải
Cũng thấy trong đó kiếp thành hoại
Mà tâm rốt ráo vô phân biệt.
Trong những vi trần của pháp giới
Đều thấy Như Lai ngồi đạo thọ
Thành tựu Bồ-đề độ quần sanh
Là giải thoát của vô ngại nhãn.

Bồ-tát vào khắp tất cả môn pháp giới, thấy mười phương tất cả pháp giới như biển, trong đó nào là kiếp thành kiếp hoại mà tâm không phân biệt không chấp trước. Trong những vi trần của pháp giới đó, đều thấy có đức Như Lai ngồi dưới cây bồ-đề thành đạo độ quần sanh, đó là giải thoát của vô ngại nhãn. Tức là thấy nơi mỗi hạt bụi đều có Phật thành đạo giáo hóa chúng sanh. Làm sao thấy được như vậy Phẩm Như Lai Xuất Hiện có nói, trong mỗi hạt bụi có quyển kinh, lượng chứa bằng Tam thiên đại thiên thế giới. Ý nói tất cả pháp hữu lậu đều là bóng trong tâm thủy, bóng không rời nước. Cho nên trong mỗi hạt bụi đều thấy Phật thành đạo chuyển pháp luân, tức là thấy Phật tánh nằm sẵn trong thân, đâu có chỗ nào khác. Như vậy gọi là con mắt vô ngại, con mắt giải thoát.

Ngươi ở vô lượng đại kiếp hải
Thân cận cúng dường thiện tri thức
Vì lợi quần sanh cầu chánh pháp
Nghe rồi ghi nhớ không quên sót.

Thiện Tài đã ở trong vô lượng đại kiếp hải ấy, thân cận cúng dường các thiện tri thức, vì lợi lạc quần sanh mà cầu chánh pháp, nghe rồi ghi nhớ không quên sót. 

Tỳ-lô-giá-na cảnh rộng lớn
Vô lượng vô biên chẳng thể suy
Ta thừa Phật lực nói với ngươi
Cho ngươi thâm tâm càng thanh tịnh. 

Đây là cảnh giới rộng lớn vô lượng vô biên của Phật không thể nào suy lường. Ta nương sức gia hộ của Phật mà nói với ngươi, ngươi nghe rồi thâm tâm càng thanh tịnh. Dạ thần dạy Thiện Tài mà cũng chính là lời Phật dạy chúng ta. 

Này Thiện nam tử! Thuở xưa quá thế giới hải vi trần số kiếp, có thế giới hải tên là Phổ Quang Minh Chân Kim Ma-ni Sơn. Trong thế giới hải này có Phật xuất hiện hiệu là Phổ Chiếu Pháp Giới Trí Huệ Sơn Tịch Tịnh Oai Đức Vương.

Này Thiện nam tử! Lúc đức Phật ấy tu hạnh Bồ-tát, nghiêm tịnh thế giới hải đó. Trong thế giới hải đó có thế giới vi trần số thế giới chủng. Mỗi thế giới chủng có thế giới vi trần số thế giới. Mỗi thế giới đều có Như Lai xuất thế. Mỗi Như Lai diễn nói thế giới vi trần số khế kinh. Mỗi khế kinh thọ ký cho Phật sát vi trần số Bồ-tát, hiện những thần lực, nói những pháp môn, độ vô lượng chúng sanh.

Này Thiện nam tử! Trong thế giới hải Phổ Quang Minh Chân Kim Ma-ni Sơn, có thế giới chủng tên là Phổ Trang Nghiêm Tràng. Trong thế giới chủng ấy có thế giới tên là Nhất Thiết Bảo Sắc Phổ Quang Minh. Thể chất bằng Hiện Nhất Thiết Hóa Phật Ảnh Ma-ni Vương, hình như thành quách cõi trời. Hạ tế làm bằng hiện nhất thiết Như Lai đạo tràng ảnh tượng ma-ni vương, an trụ trên biển Nhất Thiết Bảo Hoa. Thế giới ấy tịnh uế lẫn lộn, trong có Tu-di sơn vi trần số tứ thiên hạ. Chính giữa có một tứ thiên hạ tên là Nhất Thiết Bảo Sơn Tràng. Tứ thiên hạ này, mỗi thiên hạ ngang dọc đều một vạn do-tuần. Mỗi thiên hạ đều có một vạn thành lớn. 

Trong thế giới hải Phổ Quang Minh Chân Kim Ma-ni Sơn có thế giới chủng tên là Phổ Trang Nghiêm Tràng. Trong thế giới đó có thế giới tên là Nhất Thiết Bảo Sắc Phổ Quang Minh. Thể chất bằng Hiện Nhất Thiết Hóa Phật Ảnh Ma-ni Vương v.v... Đó là kể tên thế giới. 

Trong Diêm-phù-đề ấy có một vương đô tên là Kiên Cố Diệu Bảo Trang Nghiêm Vân Đăng, một vạn đại thành rải rác bao quanh.

Thời kỳ người Diêm-phù-đề thọ mạng vạn năm, có vua tên là Nhất Thiết Pháp Ấm Viên Mãn Cái. Có năm trăm đại thần, sáu vạn thế nữ, bảy trăm vương tử. Những vương tử này đều đoan chánh dũng kiện có oai lực lớn. Đức vua ấy có oai đức ban bố khắp Diêm-phù-đề, không có kẻ oán địch.

Ở đây dùng hình ảnh tượng trưng, nói năm trăm đại thần chỉ cho ngũ căn. Sáu vạn thể nữ là lục độ, bảy trăm vương tử là thất thánh tài hay thất giác chi.

Thế giới ấy, lúc kiếp sắp tận, có năm thứ trược phát khởi, nhân chúng thọ mạng ngắn ngủi, của cải thiếu thốn, thân hình xấu xí, nhiều khổ ít vui, chẳng tu thập thiện, chuyên làm nghiệp ác. Giận gây hủy nhục nhau, làm quyến thuộc người xa lìa, ganh ghét hạnh phúc của người, kiến chấp tà vạy, tham cầu phi pháp.

Thế giới ấy lúc kiếp sắp tận, có năm thứ trược phát khởi: 

1. Dân chúng thọ mạng ngắn ngủi 

2. Của cải thiếu thốn 

3. Thân hình xấu xí 

4. Nhiều khổ ít vui 

5. Chẳng tu thập thiện, chuyên làm nghiệp ác 

Đó là năm thứ hiện khởi. Lại còn hờn giận gây hủy nhục nhau, làm quyến thuộc người xa lạ, ganh ghét hạnh phúc của người, kiến chấp tà vạy, tham cầu phi pháp. Thời của chúng ta bây giờ cũng giống như vậy.

Do nhân duyên ấy nên mưa gió bất thường, lúa mạ chẳng tốt, vườn tược cây cối khô cằn, nhân dân đói kém, nhiều bệnh tật, tản cư bốn phương không biết nương tựa vào đâu nên đều đến ở quanh vương đô số đông đến trăm ngàn vạn ức, to tiếng kêu gào, hoặc giơ tay, hoặc chắp tay, hoặc cúi đầu, hoặc quỳ gối, hoặc nhảy nhót, đầu tóc rối tung, y phục rách rưới, da thưa nhăn nứt, mặt mắt mất thần, đồng hướng về cung vua kêu van rằng:

Dân tình thống khổ, người nào người nấy đầu tóc rối bời, mặt mày thất sắc. Đó là quả báo đo bình thường ganh ghét, thù hiềm nhau, đủ thứ xấu xa. Theo quan niệm thế gian, muốn cho cuộc sống ấm no hạnh phúc phải tổ chức xã hội tiến bộ, làm ăn giỏi, sản xuất tốt, khả dĩ mới tiến. Nhưng trong nhà Phật lại nói tất cả tai ách khổ nạn gốc từ lòng xấu xa của con người mà ra. So sánh hai quan điểm này, chúng ta thấy như đạo Phật thiếu thực tế. Một bên tập trung phát triển nền văn minh, chế tạo những phương tiện tối tân phục vụ cho cuộc sống vật chất được tiện nghi. Một bên tập trung chuyển hóa nghiệp tập, tu sửa tâm tánh hiền lành, nhân từ đức hạnh, sống thương yêu bảo bọc lẫn nhau. Được vậy thế giới sẽ thanh bình, nhân dân an lạc. 

Chúng ta xét kỹ xem bên nào là gốc, bên nào là ngọn. Nếu chỉ một bề phát triển vật chất đó là ngọn. Nếu phát triển đời sống tinh thần đạo đức, mọi người biết bảo bọc, thương yêu nhau, đó là gốc. Bởi vì của cải nhiều mấy đi nữa mà con người sống thiếu tình thương, thiếu niềm tin thì đâu có gì vui. Như hiện giờ trên thế giới có nhiều nước thiếu ăn thiếu mặc, ngược lại có những nước sản xuất dư thừa, không ai tiêu thụ. Vậy mà họ thà đổ sông đổ biển chứ không cho những người thiếu. Thế thì sản xuất nhiều có lợi gì cho nhân loại đâu. Nhân loại chỉ an vui khi người ta biết thương nhau, đùm bọc nhau, dứt hết những tâm tham lam, ganh tỵ, tật đố. 

Nhiều người phàn nàn đức Phật chứng được Nhất thiết trí, tức là trí biết tất cả, tại sao không dạy người Ấn Độ phát minh ra tài sản vật chất cho giàu hơn người ta, để xứ đó nghèo cùng. Nếu hiểu tường tận thì không thắc mắc như thế. Đức Phật cố tình khai thác phần tâm, làm sao chuyển hướng tâm người ác thành ra thiện, tâm xấu trở thành tốt. Đó là mục tiêu đức Phật nhắm. Nếu cứ dạy cho họ khoa học mới mẻ, chế tạo bom đạn các thứ, sau đó có thể rút lại được không? Như một nước chế tạo bom nguyên tử, nước khác lo sợ, liền đua nhau sản xuất ra những thứ vũ khí độc hại hơn. Rõ ràng là tai họa. 

Khoa học càng nghiên cứu, càng phát minh nhiều vật chất mà tâm linh không ổn thì chỉ đưa con người tới hiểm họa. Trong đó lợi cũng có mà hại cũng có, hậu quả không thể lường. Đức Phật giáo hóa nhân tâm, dạy con người chuyển ác thành thiện, chỉ có lợi chứ không có hại. Nếu lòng người chân chánh lương thiện thì thế gian này không còn đau khổ nữa. 

Đại Vương! Đại vương! Chúng tôi ngày nay nghèo cùng đói rách, bệnh tật khốn khổ, không chỗ nương tựa, không biết kêu cứu vào đâu. Chúng tôi đồng về nương với Đại vương.

Đại vương là bực nhân từ trí tuệ, chúng tôi mong được Đại vương ban cho an lạc, ban cho sự sống. Xin Đại vương thương xót chúng tôi, nhiếp thọ chúng tôi. Đại vương là bảo tạng, là cầu đò, là đường sá, là thuyền bè, là hòn đảo châu báu, là tài lợi, là thiên cung của chúng tôi.

Nhà vua nghe lời kêu than của dân chúng liền được trăm vạn vô số môn đại bi. Nhất tâm tư duy phát khởi mười thứ đại bi ngữ:

Một là: Thương thay chúng sanh sa vào hố lớn sanh tử không đáy, ta phải làm cách nào để cứu họ, cho họ an trụ nơi bậc Nhất thiết trí.

Nhà vua nghe những lời kêu than cầu cứu của dân chúng, ngài liền khởi lòng đại bi. Lòng đại bi đó gồm mười thứ gọi là đại bi ngữ. 

Thứ nhất là thương tất cả chúng sanh đang rơi vào hố lớn sanh tử không đáy, cứ rơi xuống chìm mãi không cùng. Nên khởi tâm đại bi thương xót, cứu vớt chọ họ an trụ nơi bậc Nhất thiết trí.

Hai là: Thương thay chúng sanh bị bức ngặt bởi phiền não, ta phải làm cách nào cứu hộ họ, cho họ an trụ nơi tất cả nghiệp lành.

Nghe Phật dạy hạnh Bồ-tát, chúng ta xét lại lòng mình có tâm hạnh ấy không? Thấy người nhiều giận hờn bực tức, mình thương hay ghét, chiếu theo đó thì biết mình có lòng đại bi chưa. Nếu chưa thì phải tập cho có lòng đại bi, không nên nuôi dưỡng tâm xấu xa. Chúng ta thường thương người hiền, ghét người ác, thương người có hiếu, ghét người bất hiếu... Đó là quan niệm lâu nay, cho nên tâm bất bình đẳng, có thương ghét rõ ràng. 

Tâm đại bi không cho phép bất bình đẳng như vậy. Bây giờ phải đổi quan niệm, thấy người nhiều phiền não, mình phải tìm cách dập tắt giùm họ, nên khởi tâm đáng thương chứ không đáng ghét. Như vậy khả dĩ được tâm bình đẳng, tâm đại bi của Bồ-tát. Nếu không thì từ đời này sang kiếp nọ, không bao giờ ra khỏi tâm phàm phu. Cho nên nói thương thay chúng sanh bị bức ngặt bởi phiền não, ta phải làm cách nào cứu hộ, cho họ an trụ nơi tất cả nghiệp lành.

Ba là: Thương thay chúng sanh bị khủng bố bởi sanh lão bệnh tử, ta phải làm cách nào cho họ về nương, cho họ vĩnh viễn được thân tâm an lạc.

Thấy chúng sanh đang chìm trong sanh lão bệnh tử, mình thương xót tìm cách để đưa họ tới chỗ vĩnh viễn an lạc. 

Bốn là: Thương thay chúng sanh thường bị thế gian đại chúng làm ngặt làm khiếp, ta phải làm thế nào hộ trợ họ, cho họ an trụ đạo Nhất thiết trí.

Năm là: Thương thay chúng sanh không có trí nhãn thường bị thân kiến nghi lầm che đậy, ta phải dùng phương tiện gì cho họ mau giải quyết kiến chấp.

Những người bị kiến chấp thì nên thương xót, tìm cách làm cho hết kiến chấp. 

Sáu là: Thương thay chúng sanh thường bị si tối làm mê lầm, ta phải thế nào để làm đèn sáng cho họ soi thấy thành Nhất thiết trí.

Vì thương chúng sanh bị si tối mê lầm, mình phải làm ngọn đèn sáng cho họ soi thấy Nhất thiết trí. 

Bảy là: Thương thay chúng sanh thường bị xan tật siểm cuống làm nhơ đục, ta phải thế nào để khai hiểu họ, cho họ chứng được pháp thân thanh tịnh.

Chúng sanh bị sân tham tật đố, siểm khúc làm cho tâm nhơ nhớp, bây giờ phải làm cho họ thấy được pháp thân thanh tịnh. 

Tám là: Thương thay chúng sanh mãi trôi chìm trong biển lớn sanh tử, ta phải vớt đưa họ thế nào cho họ được lên bờ Bồ-đề.

Chín là: Thương thay chúng sanh các căn cang cường khó điều khó phục, ta phải điều ngự họ thế nào cho họ được đầy đủ thần lực của Phật.

Mười là: Thương thay chúng sanh như kẻ mù lòa chẳng thấy đường sá, ta phải dẫn dắt họ thế nào cho họ được vào cửa Nhất thiết trí.

Trong mười điều này, có chúng sanh nào đáng ghét đâu, nên biết lòng đại bi của Bồ-tát thật rộng lớn. Chúng ta phải cố gắng tu tập theo các ngài. Nếu có chúng sanh nào gặp bất cứ hoàn cảnh gì, mình cũng khởi lòng thương xót, không ghét giận oán trách. Nếu không khởi lòng thương xót thì hờn giận oán trách sẽ xảy ra. Như vậy chẳng những mất cảm tình với nhau, mà phiền não cũng dấy khởi luôn, không an ổn. 

Bồ-tát khởi tâm đại bi thương chúng sanh để đi đến chỗ giải thoát. Nhiều người bảo những kẻ tật nguyền, bệnh hoạn tới xin đừng cho. Tại sao? Vì họ đã tạo nghiệp ác để họ trả quả ác. Nếu cho, họ trả không được. Dạy như thế là mất hết lòng đại từ bi đối với chúng sanh. Hiểu đạo như vậy, vô tình phỉ báng Phật pháp. Biết rằng tất cả đều do nhân quả của họ, nhưng cứu được phần nào mình cứu phần ấy, đâu để cho họ chịu khổ đến như vậy. Cho nên đạo Phật không cho phép chúng ta làm ngơ trước cảnh khổ của chúng sanh, đó là lòng đại bi của Bồ-tát.

Nói như thế xong, đức vua truyền đánh trống ban lệnh:

Nay đức vua bố thí khắp tất cả chúng sanh, tùy theo nhu cầu đều làm cho đầy đủ cả.

Vua lại ban lệnh cho tất cả thành trong Diêm-phù-đề và các tụ lạc đều khai kho chẩn tế, những là vàng bạc, lương thực, y phục, thuốc men, đồ dùng, giường ghế, nhà cửa, châu báu, xe cộ, lụa là gấm vóc đều đem bố thí. Nhẫn đến đức vua có thể sẽ xả thí cung điện, vợ con, vương vị, da thịt, tay chân, môi răng, miệng lưỡi, mũi tai, đầu mắt, tâm can tỳ phế.

Phía đông của vương đô có cổng tên là Ma-ni Sơn Quang Minh. Ngoài cổng thành ấy có hội trường bố thí rộng rãi bằng phẳng trống trải rất mực trang nghiêm, đều là quả báo do tịnh nghiệp của Bồ-tát.

Trong thí hội này có tòa sư tử, đất bằng mười thứ báu, lan can mười thứ báu, mười thứ cây báu bao quanh, dưới là kim cang bảo luân. Dùng tất cả thứ báu làm tượng long thần cầm bảo vật để trang sức hội trường, tràng phan bày hàng, lưới báu giăng che, vô lượng thứ hương luôn phất mùi thơm vi diệu, hàng lụa báu đẹp trải giăng khắp nơi, trăm ngàn âm nhạc luôn hòa tấu. Lại có bảo cái thường phóng vô lượng bảo quang minh như vàng diêm-phù-đàn hực hở thanh tịnh. Những anh lạc bảo linh hằng phát ra âm thanh vi diệu khuyên các chúng sanh tu hành nghiệp lành.

Lúc đó, đức vua ngự tòa sư tử, hình dung đoan chánh đủ những tướng tốt, thân na-la-diên không hư hoại, tánh hiền thiện, tài pháp hai thứ đều tự tại, biện luận vô ngại trí tuệ siêu phàm, trị nước không ai trái mệnh lệnh.

Bấy giờ vô lượng vô số chúng sanh trong Diêm-phù-đề đua nhau đến hội trường bố thí này, thấy đức vua ngự trên tòa sư tử, đều cho là người đại trí, đại phước, là bực đủ đức đủ hạnh đủ nguyện, là nhà đại thí chủ.

Nhà vua thấy những người đến cầu xin liền sanh lòng bi mẫn, lòng hoan hỷ, lòng tôn trọng, lòng thiện hữu, lòng quảng đại, lòng tương tục, lòng tinh tấn, lòng bất thối, lòng thí xả, lòng châu biến.

Nhà vua thấy những người đến cầu xin liền sanh lòng bi mẫn. Bi mẫn là thương xót. Lòng hoan hỷ vui mừng, thấy người ta cầu xin mình vui mừng. Lòng tôn trọng, lòng thiện hữu, tức là xem người tới xin là thiện hữu. Lòng quảng đại, lòng tương tục, lòng tinh tấn, lòng bất thối, lòng thí xả, lòng châu biến. Điều thứ nhất, lòng bi mẫn thực hiện tương đối dễ. Cần phải biết rõ những bệnh trong tâm, nên tập hạnh Bồ-tát, nhờ đó mà sanh lòng bi mẫn. Đến thứ hai, lòng hoan hỷ khó hơn một chút, vì biết sẽ thiệt thòi cho mình. Vì thương nên bóp bụng cho, chứ không hoan hỷ. Điều thứ ba là lòng tôn trọng. Nếu gặp người xin đến, mình bái họ như bạn hữu, cho với tư cách tôn trọng, được như vậy mới là đại Bồ-tát, điều này khó chứ không dễ. 

Học qua các vị Bồ-tát rồi, nhìn lại mới thấy mình phàm phu, bởi vì chúng ta làm chưa nổi hay chưa chịu làm những chuyện các ngài đã làm. Bây giờ nên tập làm. Chúng ta tu là kẻ ăn mày, mà Phật tử xá chào, vậy tại sao gặp ăn mày ta lại không xá được? Bồ-tát bi trí đầy đủ, thấy chúng sanh khổ nên thương giúp đỡ, sau đó dùng trí giáo hóa. Như biết người đó lợi dụng mình, nhưng vẫn cứ giúp để giáo hóa họ. Từ trí mà chuyển tâm niệm, đưa chúng sanh ra khỏi sanh tử, tới bờ Bồ-đề, được Nhất thiết trí. 

Chúng ta thì ngược lại, thấy bị lợi dụng đâm ra sân, không chuyển được ai mà lòng từ bi còn khép lại. Đại đa số người tu thời nay mắc kẹt chỗ này. Câu chuyện thái tử Tu-đại-noa bố thí voi, ngựa đến cả vợ con... là trước dùng bi cứu khổ chúng sanh, sau dùng trí để giáo hóa họ. Bồ-tát luôn luôn đại bi, nhưng dùng trí để giáo hóa, đưa chúng sanh tới chỗ giải thoát. 

Lòng hoan hỷ trong giây lát của nhà vua khi thấy những người đến xin còn hơn sự khoái lạc trong trăm ngàn ức na-do-tha kiếp của Đao-lợi thiên vương, Dạ-ma thiên vương, Đâu-suất-đà thiên vương, nhẫn đến hơn cả sự vui tịch tịnh trong bất khả thuyết kiếp của Tịnh Cư thiên vương. 

Thấy người khổ tới xin, mình vui mừng đem cho. Cái vui đó chừng một phút thôi mà bằng cái vui của cõi trời Đao-lợi thiên vương trăm ngàn ức na-do-tha kiếp. Tại sao nhiều như vậy? Vì có cơ hội làm việc đạo lý, bố thí để giáo hóa chúng sanh. Cái vui làm việc đạo lý, lợi ích chúng sanh một phút bằng cái vui hưởng ngũ dục ngàn đời. 

Bồ-tát vì chúng sanh đau khổ phát tâm đại bi cứu giúp, họ vui mừng và các ngài cũng hoan hỷ. Cái vui đó có giá trị hơn ở cõi trời Đao-lợi trăm ngàn ức na-do-tha kiếp. Bồ-tát không nghĩ sẽ sanh về chỗ nào, thụ hưởng sung sướng cho riêng mình, mà cứ nghĩ cứu khổ chúng sanh. Thấy chúng sanh vui thì các ngài vui. Đó là cái vui đặc biệt của Bồ-tát. 

Này Thiện nam tử! Ví như có người nhân từ hiếu hữu gặp loạn lạc cha mẹ vợ con huynh đệ tỷ muội đều thất lạc, tình cờ được đoàn tụ đông đủ thì sự vui mừng biết ngần nào. Lòng hoan hỷ của nhà vua khi thấy những người đến cầu xin cũng như vậy.

Này Thiện nam tử! Nhà vua ấy nhờ thiện tri thức nên được tăng trưởng tri giải và chí nguyện nơi Phật Bồ-đề, các căn thành tựu, tín tâm thanh tịnh hoan hỷ viên mãn. Tại sao vậy? 

Vì nhà vua là bậc Bồ-tát siêng tu các công hạnh cầu Nhất thiết trí. Nguyện được lợi ích tất cả chúng sanh. Nguyện được Bồ-đề vô lượng diệu lạc. Rời bỏ tất cả những tâm bất thiện. Thường thích chứa nhóm tất cả thiện căn. Thường nguyện cứu hộ tất cả chúng sanh. Thường thích quán sát đạo trí tuệ. Thường ham tu hành pháp Nhất thiết trí. Làm thỏa mãn nguyện vọng của tất cả chúng sanh. Vào biển lớn công đức của tất cả Phật. Phá tất cả núi ma nghiệp hoặc chướng. Tùy thuận giáo hạnh của tất cả Như Lai. Thực hành đạo Nhất thiết trí vô ngại. Đã có thể thâm nhập dòng Nhất thiết trí. Tất cả pháp lưu thường hiện tiền. Đại nguyện vô tận làm đại trượng phu, trụ pháp đại nhân. Chứa nhóm tất cả tạng lành phổ môn, lìa tất cả chấp, chẳng nhiễm tất cả cảnh giới thế gian. Biết các pháp tánh dường như hư không. Với những người đến xin xem như con một, xem như cha mẹ, xem là phước điền, xem là khó được, xem là ân nhân, xem là chỗ bền chắc, xem là thầy, là Phật. Chẳng chọn xứ sở, chẳng lựa chủng tộc, chẳng phân hình mạo.

Biết các pháp tánh dường như hư không. Với những người đến xin xem như con một hoặc xem như cha mẹ, là phước điền, là cơ hội làm việc thiện, là ân nhân, là chỗ bền chắc, là thầy, là Phật. Đây là những đặc biệt của Bồ-tát. Chẳng chọn xứ sở, chẳng lựa chủng tộc, chẳng phân hình mạo. Chúng ta bây giờ ngược lại hết, mình chọn xứ sở, lựa chủng tộc, phân hình mạo. Nhìn thấy người kháu khỉnh dễ thương mới cho, người nào mặt mày xấu xí thì không cho. Xem như con một, như cha mẹ, như phước điền, như ân nhân... coi bộ khó quá. Họ xin mình thì mình là ân nhân của họ, tại sao họ là ân nhân của mình? Do thấy như thế nên cái ngã tăng lên, Bây giờ tập thấy họ là ân nhân của mình mới dứt lược tâm ngạo mạn.

Tùy theo chỗ muốn của họ, nhà vua vẫn một tâm từ bi bình đẳng vô ngại cung cấp đầy đủ cho tất cả. Người cầu lương thực thời cho lương thực. Người xin y phục thời cho y phục. Người xin vàng bạc thời cho vàng bạc. Nhẫn đến những người cầu xin xe cộ, ruộng vườn, nhà cửa, voi ngựa, châu báu, phan lọng, hương hoa, quyến thuộc v. v... nhà vua đều cấp cho tất cả.

Trong thí hội này có trưởng giả nữ tên là Bảo Quang Minh cùng sáu mươi đồng nữ câu hội, hình dung đoan chánh đẹp lạ, mọi người thích thấy da màu chân kim, tóc và mắt màu xanh biếc thân phát mùi thơm, miệng diễn Phạm âm, bảo y thượng diệu trang nghiêm trên thân, thường có lòng tàm quý chánh niệm chẳng loạn, đầy đủ oai nghi cung kính sư trưởng, thường nhớ thuận hành công hạnh vi diệu thậm thâm, những pháp đã nghe ghi nhớ chẳng quên, thiện căn đời trước chảy nhuần nơi tâm, thanh tịnh quảng đại dường như hư không, khắp an lợi chúng sanh, thường thấy chư Phật cầu Nhất thiết trí.

Bấy giờ nàng Bảo Quang minh cách đức vua không xa, chắp tay đảnh lễ, tự nghĩ rằng: Tôi được lợi lành, tôi được lợi lành. Nay tôi được thấy bậc thiện tri thức. 

Bệnh của chúng sanh là đố kỵ. Thấy người ta làm thiện, ít khi nào mình tùy hỷ. Không tùy hỷ là có tâm đố kỵ. Đố kỵ với điều thiện là xấu. Bảo Quang Minh thấy nhà vua bố thí liền chắp tay tùy hỷ cung kính, đó là lòng tùy hỷ. Nhờ tùy hỷ nên phước đức của nàng cũng gần kề với phước đức của nhà vua. Nhà vua chỉ cho đức Phật Tỳ-lô-giá-na hiện ngồi dưới cội bồ-đề, Bảo Quang Minh chỉ cho Dạ thần này. Như vậy do tâm tùy hỷ mà nàng thành tựu Bồ-tát hạnh, người bố thí là Phật. 

Nơi nhà vua, nàng nghĩ là đại sư, là thiện tri thức, là đủ từ bi, là hay nhiếp thọ. Tâm nàng chánh trực rất vui mừng, liền cởi anh lạc dâng lên vua mà nguyện rằng:

Nay Đại vương này làm chỗ nương cho vô lượng vô biên chúng sanh mê tối, nguyện ngày sau tôi cũng như vậy. Như Đại vương đây, những pháp đã biết, thừa đã theo, đạo đã tu, sắc tướng đã đủ, tài sản đã có, chúng hội đã nhiếp, vô biên vô tận, khó hơn khó hoại, nguyện ngày sau tôi đều được như vậy. Đức vua đây sanh ở đâu tôi đều theo sanh nơi đó.

Đức vua biết nàng ấy phát tâm như vậy nên bảo rằng: 

Này Đồng nữ! Tùy ý nàng muốn ta đều cấp cho. Tất cả sở hữu nay ta đều xả cả, cho các chúng sanh đều được đầy đủ.

Nghe đức vua nói, nàng Bảo Quang Minh rất hoan hỷ tín tâm thanh tịnh, liền nói kệ ca ngợi đức vua:

Thuở xưa thành ấp này

Lúc chưa có Đại vương

Không có mảy may vui

Dường như xứ ngạ quỷ.

Chúng sanh sát hại nhau

Cướp trộm và dâm dật,

Lưỡng thiệt nói dối trá

Lời thô ác vô nghĩa.

Tham lam tài vật người

Sân hận lòng độc ác,

Tà kiến làm điều quấy

Chết rồi đọa ác đạo.

Bởi những chúng sanh này

Bị ngu si che đậy

Ở trong điên đảo kiến

Trời ít khi ban lành.

Vì không mưa phải mùa

Ngũ cốc đều chẳng mọc

Cỏ cây nhiều khô héo

Sông suối cũng khô cạn.

Lúc chưa có Đại vương

Sông ao đều khô cạn

Thây chết chật trong vườn

Nhìn đó như đồng hoang.

Đại vương lên ngôi báu

Rộng cứu những quần sanh

Mây mát che tám phương

Khắp nơi đều mưa xuống.

Đại vương cai trị dân

Dứt hết những ngược ác

Hình ngục đều dẹp bỏ

Kẻ côi cùng được an.

Ngày trước các chúng sanh

Thường tàn sát lẫn nhau

Uống máu và ăn thịt

Nay đều sanh lòng từ.

Ngày trước các chúng sanh

Nghèo cùng thiếu y phục

Dùng cỏ tự che thân

Gầy xấu như ngạ quỷ.

Khi Đại vương trị vì

Lúa tốt tự nhiên sanh

Trong cây sanh y phục

Nam nữ đều xinh đẹp.

Ngày trước người tham lam

Phi pháp lấn đoạt nhau

Nay thì đều giàu đủ

Như khu vườn Đế-thích.

Ngày trước người làm ác

Dâm dật sanh tham nhiễm

Vợ người và đồng nữ

Cùng xâm bức lẫn nhau.

Nay thấy vợ con người

Xinh đẹp trang sức khéo

Mà lòng không nhiễm trước

Giống như trời Tri Túc.

Ngày trước các chúng sanh

Nói dối chẳng chân thật

Phi pháp không lợi ích

Nịnh hót lấy lòng người.

Nay tất cả mọi người

Đều bỏ lời nói ác

Lòng họ rất nhu nhuyến

Lời nói cũng điều thuận.

Ngày trước các chúng sanh

Làm nhiều hạnh tà vạy

Chắp tay cung kính lạy

Những trâu, bò, heo, dê.

Nay theo pháp của vua

Tỏ ngộ trừ tà kiến

Biết rõ báo khổ vui

Đều từ nhân duyên khởi.

Đại vương diễn diệu âm 

Người nghe đều vui mừng

Âm thanh của Thích, Phạm

Tất cả không bằng được.

Đại vương những bảo cái

Ở cao trên không trung

Cán bằng ngọc lưu ly

Trùm bằng lưới ma-ni.

Linh vàng tự nhiên phát

Tiếng Phật rất hòa nhã

Tuyên dương pháp vi diệu

Diệt trừ chúng sanh mê.

Kế lại rộng diễn thuyết

Mười phương các cõi Phật

Trong tất cả những kiếp

Như Lai và quyến thuộc.

Và lại thứ đệ nói

Quá khứ mười phương cõi

Và trong quốc độ đó

Tất cả các Như Lai.

Lại phát tiếng diệu âm

Khắp cõi Diêm-phù-đề

Nói rộng về nhân thiên

Những nghiệp làm sai khác.

Chúng sanh nghe tiếng này 

Tự biết những hạnh nghiệp

Bỏ ác siêng tu hành

Hồi hướng Phật Bồ-đề.

Vương phụ: Tịnh Quang Minh

Vương Mẫu: Liên Hoa Quang

Thuở ngũ trược xuất hiện

Ở ngôi trị thiên hạ.

Bấy giờ, có vườn rộng

Vườn có năm trăm ao

Mỗi ao ngàn cây lớn

Trên cây đầy những hoa.

Ở trên bờ ao ấy

Xây dựng nhà ngàn cột

Lan can rất trang nghiêm

Không gì là chẳng đủ.

Mạt thế khởi ác pháp

Nhiều năm chẳng có mưa

Sông ao đều khô cạn

Cỏ cây cũng héo rũ.

Bảy ngày trước vua sanh

Trước hiện tướng linh thoại

Người thấy đều nghĩ rằng

Bậc cứu thế sẽ hiện.

Bấy giờ, vào giữa đêm

Đại địa động sáu cách

Có một ao bảo hoa

Quang minh như trời sáng.

Trong vườn năm trăm ao

Đầy nước bát công đức,

Cây khô đều đâm chồi

Hoa lá đều tươi tốt.

Nước ao đã đầy tràn

Chảy lan tất cả xứ

Khắp cả cõi Diêm-phù

Không đâu chẳng nhuần ướt.

Dược thảo và cây cối

Trăm thứ lúa đậu thảy

Nhánh lá bông trái hột

Tất cả đều sum sê.

Rãnh mương và gò nổng

Những nơi cao và thấp

Tất cả những chỗ ấy

Tự nhiên bằng phẳng cả.

Gai gốc cát sỏi thảy

Bao nhiêu những tạp uế

Đều ở trong một niệm

Biến thành những ngọc báu.

Chúng sanh thấy sự này 

Hoan hỷ mà ca ngợi

Đều nói mình được lợi

Như khát uống nước ngọt.

Bấy giờ, vua Quang Minh

Cùng vô lượng quyến thuộc

Xe giá đồng du ngoạn

Đi xem khắp khu vườn.

Trong số năm trăm ao

Có ao tên Khánh Hỷ

Trên ao có pháp đường

Phụ vương ngự nơi đây.

Tiên vương bảo phu nhân:

Ta nhớ bảy ngày trước

Giữa đêm đất chấn động

Trong đây phát ánh sáng.

Bấy giờ trong ao đó

Mọc bông sen ngàn cánh

Sáng như ngàn mặt nhật

Chói đến đảnh Tu-di.

Cọng hoa bằng kim cang

Đài hoa: Vàng Diêm-phù

Cánh hoa bằng những báu

Diệu hương làm nhụy tua.

Đức vua sanh trên hoa

Ngồi kiết già đoan trang

Trang nghiêm với tướng hảo

Thiên thần đều cung kính.

Tiên vương rất hoan hỷ

Tự vào ao ẵm lên

Đem trao cho phu nhân

Bà nên mừng được con.

Liền đó tạng báu hiện

Cây báu sanh diệu y

Thiên nhạc tấu mỹ âm

Sung mãn trong hư không.

Tất cả các chúng sanh

Đều sanh lòng hoan hỷ

Chắp tay khen hy hữu

Đấng cứu thế ra đời.

Thân vua phóng quang minh

Chiếu khắp cả mọi nơi

Làm cho tứ thiên hạ

Hết tối, trừ bệnh tật.

Dạ-xoa, tỳ-xá-xà

Độc trùng các ác thú

Những thứ muốn hại người

Tất cả đều ẩn trốn.

Tiếng xấu và thất lợi

Tai họa cùng bệnh tật

Tất cả khổ đều diệt

Mọi người đều hoan hỷ. 

Phàm là chúng sanh loại

Xem nhau như cha mẹ

Bỏ ác sanh lòng lành

Chuyên cầu Nhất thiết trí.

Đóng bít các ác thú

Mở bày đường nhân thiên

Tuyên dương đạo trí tuệ

Độ thoát các quần sanh.

Chúng tôi thấy Đại vương

Được những lợi lành lớn

Làm cho người cô cùng

Tất cả đều an lạc.

Bảo Quang Minh đồng nữ nói kệ ca ngợi vua Nhất Thiết Pháp Âm Viên Mãn Cái rồi đi nhiễu vô lượng vòng, cung kính đảnh lễ chắp tay đứng qua một bên.

Đại vương bảo Đồng nữ:

Lành thay! Đồng nữ có thể tin biết công đức của người khác. Sự ấy rất là hy hữu.

Tại sao tin biết công đức của người khác là hy hữu. Bởi vì ở thế gian, chúng ta ít biết công đức của người khác mà thường biết các tật xấu của họ. Cho nên người chỉ thấy điều lành của kẻ khác là người rất có ít.

Này Đồng nữ! Tất cả chúng sanh chẳng thể tin biết công đức của người khác.

Vì chúng sanh không biết công đức của người khác, nên người nào biết được công đức của người khác là hy hữu.

Này đồng nữ! Tất cả chúng sanh chẳng biết báo ơn, không có trí tuệ, tâm họ trược loạn, tánh chẳng sáng tỏ, vốn không chí lực lại thối thất sự tu hành. Những người như vậy chẳng tin chẳng biết thần thông trí tuệ và công đức của Bồ-tát và chư Phật. Nay đồng nữ quyết định cầu đến Bồ-đề, biết được công đức của Bồ-tát như vậy. Ngươi sanh trong Diêm-phù-đề này phát tâm dũng mãnh nhiếp khắp chúng sanh công chẳng uổng bỏ, rồi đây ngươi cũng sẽ thành tựu công đức như vậy.

Đức vua khen đồng nữ xong, tự tay cầm bảo y vô giá trao cho Đồng nữ và quyến thuộc của Đồng nữ mà bảo từng người rằng: 

Ngươi mặc y này. 

Các đồng nữ quỳ gối hai tay lãnh y để trên đầu rồi mới mặc. Mặc y xong đồng hữu nhiễu quanh đức vua, trong những bảo y đó phát ra quang minh tất cả tinh tú. Mọi người thấy thế đều nói rằng các đồng nữ này đều đoan chánh như sao sáng trong đêm tối trời.

Này Thiện nam tử! Thuở xưa đó, vua Nhất Thiết Pháp Âm Viên Mãn Cái, chính là đức Tỳ-lô-giá-na Như Lai hiện nay vậy. Quang Minh vương thuở xưa đó, nay là Tịnh Phạn vương. Liên Hoa Quang phu nhân, nay là Ma-ha Ma-da phu nhân. Bảo Quang Minh đồng nữ chính là thân ta đây. Những chúng sanh được đức vua dùng pháp tứ nhiếp để nhiếp thọ nay đây là những Bồ-tát bất thối chuyển trong pháp hội này, hoặc bậc Sơ địa nhẫn đến bậc Thập địa, đủ đại nguyện, nhóm trợ đạo, tu diệu hạnh, đủ trang nghiêm, được thần thông, trụ giải thoát, nay ở trong hội này ở nơi những cung điện diệu pháp.

Vua khen rồi đem áo tặng, kế đó Chủ dạ thần Khai Phu Nhất Thiết Thọ Hoa tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ. Trong kệ này nói ngài có đầy đủ tất cả công đức.

Chủ dạ thần Khai Phu Nhất Thiết Thọ Hoa, muốn tuyên lại nghĩa giải thoát này, vì Thiện Tài đồng tử mà nói kệ rằng:

Ta có quảng đại nhãn
Thấy khắp cả mười phương
Trong tất cả sát hải
Ngũ thú luân hồi thảy.
Cũng thấy chư Phật đó
Ngồi dưới cội bồ-đề
Thần thông khắp mười phương
Thuyết pháp độ chúng sanh.
Ta có thanh tịnh nhĩ
Nghe khắp tất cả tiếng
Cũng nghe Phật thuyết pháp
Hoan hỷ tin thọ trì.
Ta có tha tâm trí
Không hai, không chướng ngại
Có thể trong một niệm
Biết rõ tất cả tâm.
Ta được túc mạng trí
Biết được tất cả kiếp
Thân mình và người khác
Phân biệt đều rõ ràng.
Khoảng một niệm ta biết
Sát hải vi trần kiếp
Chư Phật và Bồ-tát
Chúng sanh trong ngũ đạo.
Nhớ biết chư Phật kia
Tối sơ phát đại nguyện
Nhẫn đến tu các hạnh
Mỗi mỗi đều viên mãn.
Cũng biết chư Phật kia
Thành tựu Bồ-đề đạo
Dùng các môn phương tiện
Vì chúng chuyển pháp luân.
Cũng biết chư Phật kia
Có bao nhiêu thừa hải
Chánh pháp trụ lâu gần
Chúng sanh độ nhiều ít. 

Đó là túc mạng trí, tức trí biết trở về các kiếp trước.

Ta trong vô lượng kiếp
Tu tập pháp môn này
Nay ta vì ngươi nói
Phật tử phải siêng học.

Đó là pháp môn giải thoát Bồ-tát xuất sanh quảng đại.

Này Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Bồ-tát xuất sanh quảng đại hỷ quang minh này, như chư đại Bồ-tát thân cận cúng dường tất cả chư Phật vào biển Nhất thiết trí đại nguyện, viên mãn những nguyện hải của chư Phật. Được trí dũng mãnh nơi một Bồ-tát địa vào khắp tất cả Bồ-tát địa hải. Được thanh tịnh nguyện nơi một Bồ-tát hạnh vào khắp tất cả Bồ-tát hạnh hải. Được tự tại lực nơi một Bồ-tát giải thoát môn vào khắp tất cả Bồ-tát giải thoát môn hải. 

Ta thế nào biết được nói được công đức hạnh đó.

Này Thiện nam tử! Trong đạo tràng này có một dạ thần tên là Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Hộ Nhất Thiết Chúng Sanh. Ngươi đến đó hỏi Bồ-tát thế nào giáo hóa chúng sanh khiến đến vô thượng Bồ-đề? Thế nào nghiêm tịnh tất cả cõi Phật? Thế nào thừa sự tất cả Như Lai? Thế nào tu hành tất cả Phật pháp?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Dạ thần, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi. 

Nhà Phật thường nói, kẻ học kinh chẳng khác nào như người soi gương. Soi gương để làm gì? Để thấy mặt. Nếu thấy mặt có chút lấm lem thì phải chùi cho sạch sẽ. Cũng vậy, chúng ta học kinh để nương tâm hạnh của chư Phật, Bồ-tát mà soi lại mình. Soi coi có điểm nào giống với các ngài không? Nếu giống thì mừng, không giống thì tu sửa lại. 

Ở đây Phật dạy từng hạnh Bồ-tát, cốt dẫn đến quả Phật. Nếu chúng ta chưa làm được hay chưa chịu làm thì phải cố gắng tập làm hạnh Bồ-tát. Phải hành hạnh từ bi của Bồ-tát mới viên mãn công đức thành Phật. Chính những hạnh đó làm cho chúng ta dứt hết phiền não. Sở dĩ mình điều phục không nổi phiền não vọng tưởng là tại tâm ích kỷ, tâm chấp ngã, tâm bỏn sẻn, tâm tham lam, tâm tật đố... Bây giờ muốn bỏ nó phải tập hạnh Bồ-tát. 

Bố thí là dứt lòng bỏn sẻn, tâm tật đố, tâm kiêu ngạo tự cao của mình. Thật ra người tới xin, họ luôn luôn cúi đầu cung kính, chứ đâu có người nào đứng thõng tay ngó mình mà xin. Nếu mình cung kính lại sẽ phá được ba thứ: Lòng bỏn sẻn, nóng giận tật đố và kiêu mạn. Chỉ một việc bố thí thôi mà phá được ba tâm xấu.

Đến đây là đệ bát địa tức Bất động địa trong Thập địa. Vào đệ bát địa là vào được chỗ bất động của Phật, pháp tu lấy dụng làm đầu, còn chín pháp kia phụ. Vị thần ở đây tên là Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Hộ Nhất Thiết Chúng Sanh, ở trong Bồ-đề tòa, được trí vô sanh dụng. Nhớ bản nguyện, khởi đại bi làm lợi ích cho tất cả chúng sanh không cùng tột. Đó là đại nguyện tinh tấn lực cứu hộ nhất thiết chúng sanh. Chỗ này thiền tông gọi là vô công dụng, dùng trí vô tâm dụng, trí này không gì làm dao động được. 

Đến quả vị này, phần nhiều chư Bồ-tát phải nhờ đức Phật khuyến khích mới có thể tiến lên, nếu không thì dừng một chỗ. Bởi an trụ chỗ bất động thanh tịnh quá nên không muốn khởi dụng. Chư Phật gia hộ, khuyến khích bằng cách nào? Bằng cách nhắc lại đại nguyện của Bồ-tát mà khởi tinh tấn, không nên trụ chỗ bất động. Địa thứ tám của Bồ-tát giống như Thanh văn nhập Niết-bàn, rất thanh tịnh nên ưa thích an trụ ở đó. Nhờ đức Phật khuyến khích, nhắc lại bản nguyện nên các ngài khởi tinh tấn lực, cứu hộ tất cả chúng sanh. 

Thiện Tài đến chỗ dạ thần Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Hộ Nhất Thiết Chúng Sanh. Thấy Dạ thần này ở trong đại chúng ngồi tòa sư tử Phổ hiện Nhất thiết cung điện ma-ni vương tạng. Lưới ma-ni bảo che phía trên.

Dạ thần này hiện thân nhật nguyệt tinh tú ảnh tượng. Hiện thân tùy tâm chúng sanh khiến tất cả đều thấy. Hiện thân đồng hình tướng của tất cả chúng sanh. Hiện thân sắc tướng hải rộng lớn vô biên. Hiện thân khắp tất cả oai nghi. Hiện thân thị hiện khắp mười phương. Hiện thân điều phục khắp tất cả chúng sanh. Hiện thân vận thần thông quảng đại nhanh chóng. Hiện thân lợi ích chúng sanh chẳng dứt. Hiện thân thường đi trên hư không để làm lợi ích. Hiện thân đảnh lễ tại chỗ tất cả Phật. Hiện thân tu tập tất cả thiện căn. Hiện thân thọ trì Phật pháp chẳng quên. Hiện thân thành mãn đại nguyện Bồ-tát. Hiện thân quang minh sung mãn mười phương. Hiện thân pháp đăng khắp dứt tối tăm thế gian. Hiện thân tịnh trí biết pháp như huyễn. Hiện thân pháp tánh xa lìa trần nhiễm. Hiện thân phổ trí chiếu pháp rõ ràng. Hiện thân rốt ráo không khổ không nóng. Hiện thân kiên cố chẳng bị ngăn trở phá hoại. Hiện thân Phật lực vô sở trụ. Hiện thân vô phân biệt ly nhiễm. Hiện thân pháp tánh bổn thanh tịnh.

Bồ-tát tới đây nhớ lại đại nguyện khởi đại bi cứu độ chúng sanh, các ngài hiện thân đồng với tất cả chúng sanh trong thế giới, nhẫn đến hiện thân nhật nguyệt tinh tú ảnh tượng... tùy tâm tùy loại chúng sanh ưa thích, Bồ-tát thị hiện vô lượng thân vì đó giáo hóa. Thiện Tài thấy Phật sát vi trần số thân sai biệt như vậy liền trụ được trí vô phân biệt, tức là chỗ vô công dụng trí. Nơi bất động mà khéo khởi vô lượng thân tùy tâm chúng sanh mà độ họ. 

Thiện Tài thấy Phật sát vi trần số thân sai biệt như vậy, liền nhất tâm đảnh lễ mọp đầu giây lâu mới đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng, nơi thiện tri thức phát khởi mười tâm:

Một là nơi thiện tri thức sanh tâm đồng với mình, vì làm cho mình siêng năng làm xong pháp trợ đạo Nhất thiết trí.

Tại sao nơi thiện tri thức mà sanh tâm đồng với mình? Bởi vì người tu gặp thầy lành bạn tốt thì lúc nào cũng nguyện sẽ tiến lên bằng bạn bằng thầy. Cho nên nói sanh tâm đồng với mình, làm cho mình siêng năng làm xong pháp trợ đạo Nhất thiết trí. 

Hai là nơi thiện tri thức sanh tâm thanh tịnh tự nghiệp quả, vì thân cận cúng dường sanh thiện căn.

Nhờ sự giáo hóa của thiện tri thức mà dứt trừ hết những nghiệp quả của mình, để tâm được thanh tịnh. 

Ba là nơi thiện tri thức sanh tâm trang nghiêm Bồ-tát hạnh, vì khiến tôi có thể mau trang nghiêm tất cả Bồ-tát hạnh.

Đối với thiện tri thức là người đã và đang thực hành hạnh Bồ-tát, mình cũng học cũng hành hạnh Bồ-tát, nên gọi là trang nghiêm Bồ-tát hạnh, khiến cho mau trang nghiêm tất cả Bồ-tát hạnh. 

Bốn là nơi thiện tri thức sanh tâm thành tựu tất cả Phật pháp, vì dạy dỗ tôi tu hành đạo hạnh.

Nhờ thiện tri thức dạy mình biết tất cả Phật pháp, nên cố gắng thành tựu tất cả Phật pháp.

Năm là nơi thiện tri thức sanh tâm năng sanh, vì có thể sanh pháp vô thượng cho tôi.

Đối với thiện tri thức hay sanh tâm sanh trưởng đạo vô thượng, vì nhờ thiện tri thức đã dạy mình đạo vô thượng. 

Sáu là nơi thiện tri thức sanh tâm xuất ly, vì khiến tôi tu hành những hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ-tát mà xuất ly.

Đối với thiện tri thức hay sanh tâm xuất ly. Xuất ly ở đây không giống với hàng Thanh văn A-la-hán ly tục, mà chỉ cho hạnh Phổ Hiền, lìa tất cả nhiễm ô trong trần tục. Cứu độ chúng sanh mà lìa tất cả nhiễm ô trần tục, gọi là hạnh xuất ly của Bồ-tát. 

Bảy là nơi thiện tri thức sanh tâm tròn đủ tất cả phước trí, vì khiến tôi chứa nhóm những pháp lành.

Thiện tri thức dạy những pháp lành cho mình tu tập, nên khởi tâm thành tựu viên mãn tất cả phước trí. 

Tám là nơi thiện tri thức sanh tâm tăng trưởng, vì khiến tôi tăng trưởng Nhất thiết trí.

Vì được thiện tri thức dạy tăng trưởng Nhất thiết trí nên lúc nào cũng sanh tâm tăng trưởng. 

Chín là nơi thiện tri thức sanh tâm đầy đủ tất cả thiện căn, vì khiến tôi được viên mãn chí nguyện.

Vì thiện tri thức dạy cho được mãn nguyện, nên nơi thiện tri thức sanh tâm đầy đủ các thiện căn.

Mười là nơi thiện tri thức sanh tâm thành xong lợi ích lớn, vì khiến tôi tự tại an trụ tất cả Bồ-tát pháp, được thành đạo Nhất thiết trí, được thành tất cả Phật pháp.

Vì thiện tri thức chỉ dạy an trụ trong hạnh Bồ-tát, thành tựu đạo Nhất thiết trí, làm tất cả việc Phật pháp, nên sanh tâm thành tựu lợi ích đối tất cả chúng sanh.

Thiện Tài phát mười tâm này rồi, thì được Phật sát vi trần số đồng hạnh với Dạ thần cùng chư Bồ-tát. Những là:

Đồng niệm, vì tâm thường ghi nhớ thập phương tam thế tất cả chư Phật.

Đồng tuệ, vì phân biệt quyết rõ tất cả pháp hải sai biệt môn. 

Đồng xu hướng, vì có thể chuyển tất cả diệu pháp luân của chư Phật Như Lai.

Đồng giác ngộ, vì dùng trí khắp hư không vào khắp tất cả ba thế gian.

Đồng căn, vì thành tựu Bồ-tát thanh tịnh quang minh trí tuệ căn.

Đồng tâm, vì khéo tu tập được công đức vô ngại trang nghiêm tất cả Bồ-tát đạo.

Đồng cảnh, vì chiếu khắp cảnh sở hành của chư Phật.

Đồng chứng, vì được Nhất thiết trí chiếu thật tướng hải tịnh quang minh.

Đồng nghĩa, vì có thể dùng trí tuệ biết tánh chân thật của tất cả pháp.

Đồng dũng mãnh, vì có thể phá hoại tất cả núi chướng ngại.  

Đồng sắc thân, vì tùy chúng sanh tâm mà hiện thân.

Đồng lực, vì cầu Nhất thiết trí chẳng thối chuyển. 

Đồng vô úy, vì tâm thanh tịnh như hư không.

Đồng tinh tấn, vì trong vô lượng kiếp thực hành Bồ-tát hạnh không mỏi lười.

Đồng biện tài, vì được pháp vô ngại trí quang minh.  

Đồng vô đẳng, vì thân tướng thanh tịnh siêu thế gian.

Đồng ái ngữ, vì làm cho tất cả chúng sanh đều hoan hỷ.  

Đồng diệu âm, vì diễn nói khắp tất cả pháp môn.

Đồng mãn âm, vì tất cả chúng sanh tùy theo loài mà đều hiểu.

Đồng tịnh đức, vì tu tập công đức thanh tịnh của Như Lai. 

Đồng trí địa, vì lãnh thọ pháp luân nơi tất cả Phật.

Đồng phạm hạnh, vì an trụ cảnh giới của tất cả Phật.

Đồng đại từ, vì niệm niệm che khắp tất cả quốc độ chúng sanh hải.

Đồng đại bi, vì khắp rưới mưa pháp thấm nhuần tất cả chúng sanh.

Đồng thân nghiệp, vì dùng phương tiện hạnh giáo hóa tất cả chúng sanh.

Đồng ngữ nghiệp, vì dùng tùy loại âm diễn nói tất cả pháp môn.

Đồng ý nghiệp, vì nhiếp khắp chúng sanh để trong cảnh giới Nhất thiết trí.

Đồng trang nghiêm, vì nghiêm tịnh tất cả cõi Phật. 

Đồng thân cận, vì có Phật xuất thế đều gần gũi.

Đồng khuyến thỉnh, vì thỉnh tất cả Phật chuyển pháp luân.

Đồng cúng dường, vì thường thích cúng dường tất cả Phật. 

Đồng giáo hóa, vì điều phục tất cả chúng sanh.

Đồng quang minh, vì chiếu rõ tất cả pháp môn. 

Đồng tam muội, vì biết khắp tất cả tâm chúng sanh.

Đồng sung mãn cùng khắp, vì dùng sức tự tại sung mãn tất cả Phật độ tu những công hạnh.

Đồng trụ xứ, vì an trụ đại thần thông của chư Bồ-tát. 

Đồng quyến thuộc, vì tất cả Bồ-tát đồng ở chung.

Đồng nhập xứ, vì vào khắp chỗ vi tế của thế giới. 

Đồng tâm lự, vì biết khắp tất cả những Phật sát.

Đồng qua đến, vì vào khắp tất cả Phật sát hải.  

Đồng phương tiện, vì đều hiện tất cả những Phật sát.

Đồng siêu thắng, vì nơi những Phật sát đều vô tỷ.  

Đồng bất thối, vì vào khắp mười phương không chướng ngại.

Đồng phá ám, vì được tất cả Phật thành Bồ-đề trí đại quang minh.

Đồng vô sanh nhẫn, vì nhập tất cả Phật chúng hội hải.

Đồng cùng khắp, vì cung kính cúng dường chư Như Lai trong bất khả thuyết cõi khắp tất cả những Phật sát võng.

Đồng trí chứng, vì biết rõ những pháp môn hải. 

Đồng tu hành, vì thuận hành tất cả những pháp môn.

Đồng mong cầu, vì nơi pháp thanh tịnh rất thích muốn.

Đồng thanh tịnh, vì nhóm hợp Phật công đức mà trang nghiêm thân khẩu ý. 

Đồng diệu ý, vì trí biết rõ tất cả pháp.

Đồng tinh tấn, khắp vì nhóm hợp tất cả thiện căn. 

Đồng tịnh hạnh, vì thành mãn tất cả Bồ-tát hạnh.

Đồng vô ngại, vì rõ biết tất cả pháp đều vô tướng.  

Đồng thiện xảo, vì trí tự tại trong tất cả pháp.

Đồng tùy lạc, vì tâm chúng sanh mà hiện cảnh giới.  

Đồng phương tiện, vì khéo tu tập tất cả điều nên tập.

Đồng hộ niệm, vì được tất cả Phật hộ niệm.  

Đồng nhập địa, vì được vào tất cả Bồ-tát địa.

Đồng sở trụ, vì an trụ tất cả Bồ-tát vị.  

Đồng ký biệt, vì tất cả chư Phật thọ ký cho.

Đồng tam-muội, vì trong một sát-na vào khắp tất cả môn tam-muội. 

Đồng kiến lập, vì thị hiện những Phật sự.

Đồng chánh niệm, vì chánh niệm tất cả cảnh giới môn.  

Đồng tu hành, vì tận vị lai kiếp tu hành Bồ-tát hạnh.

Đồng tịnh tín, vì rất mến thích vô lượng trí tuệ của đức Như Lai.

Đồng xả ly, vì diệt trừ tất cả những chướng ngại.

Đồng trí bất thối, vì trí tuệ đồng với chư Như Lai.  

Đồng thọ sanh, vì ứng hiện thành thục các chúng sanh.

Đồng chỗ an trụ, vì an trụ môn phương tiện Nhất thiết trí.  

Đồng cảnh giới, vì nơi pháp giới cảnh được tự tại.

Đồng vô y, vì dứt hẳn tâm sở y. 

Đồng thuyết pháp, vì đã nhập trí bình đẳng của các pháp.

Đồng siêng tu, thường được chư Phật hộ niệm.

Đồng thần thông, vì khai ngộ chúng sanh khiến tu tất cả Bồ-tát hạnh.

Đồng thần lực, vì có thể nhập thập phương thế giới hải.  

Đồng đà-la-ni, vì chiếu khắp tất cả tổng trì hải.

Đồng pháp bí mật, vì biết rõ diệu pháp môn trong tất cả tu-đa-la.

Đồng pháp thậm thâm, vì hiểu tất cả pháp như hư không. 

Đồng quang minh, vì chiếu khắp tất cả thế giới.

Đồng ưa thích, vì tùy tâm chúng sanh mà khai thị khiến họ hoan hỷ.

Đồng chấn động, vì các chúng sanh hiện thần thông lực động khắp tất cả cõi mười phương.

Đồng chẳng luống uổng, vì thấy nghe nghĩ nhớ đều làm cho tâm được điều phục.

Đồng xuất ly, vì đầy đủ tất cả những đại nguyện hải, thành tựu mười trí lực của Như Lai.

Đồng xuất ly, nghĩa là được xuất ly là do đầy đủ đại nguyện như biển, thành tựu mười trí lực của Phật. Tất cả những thứ kể trên đều đồng với thiện tri thức hay nói cách khác là đồng với hạnh Bồ-tát. Ở đây kể rất nhiều, tôi chỉ đọc qua. 

Thiện Tài đồng tử quán sát Chủ dạ thần Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Hộ Nhất Thiết Chúng Sanh, phát khởi mười tâm thanh tịnh, được Phật sát vi trần số đồng Bồ-tát hạnh như vậy, tâm càng thanh tịnh hơn, trịch vai áo phía hữu, đảnh lễ chắp tay nói kệ rằng: 

Tôi phát ý kiên cố
Chí cầu Vô thượng giác
Nay nơi thiện tri thức
Khởi tâm là chính mình.

Ngài nói đã phát ý vững chắc để cầu giác ngộ vô thượng, hiện nay nơi thiện tri thức khởi tâm, ấy là chính mình khởi chứ không phải thiện tri thức khởi.

Bởi thấy thiện tri thức
Hợp vô tận pháp lành
Diệt trừ những tội nhơ
Thành tựu quả Bồ-đề.

Sở dĩ thành tựu quả Bồ-đề, dứt hết những tội xấu, tạo bao nhiêu pháp lành đều gốc từ nhờ thiện tri thức mà được.

Tôi thấy thiện tri thức
Tâm công đức trang nghiêm
Tận trần kiếp vị lai
Siêng tu đạo Bồ-tát.

Nhờ thấy thiện tri thức mà tâm công đức được trang nghiêm, từ nay cho đến tột vi trần kiếp về sau liền siêng tu đạo Bồ-tát. 

Tôi nhớ thiện tri thức
Nhiếp thọ lợi ích tôi
Vì tôi mà thị hiện
Giáo pháp chánh chân thật.

Ngài nhớ nhờ thiện tri thức nhiếp thọ mà được lợi thiện tri thức thị hiện những giáo pháp chân chánh. 

Đóng bít các ác thú
Mở bày đường nhân thiên
Cũng chỉ đường đại trí
Của chư Phật đã thành.

Sao gọi là thiện tri thức đóng bít cửa ác thú, mở đường nhân thiên? Như tôi thường nhắc mọi người đừng làm việc gì bằng tâm sân hận, vì đó là vào đường ác; khuyên nên bố thí từ bi sẽ đi trong nhân thiên. Cũng vậy, nhờ thiện tri thức nhắc nhở nên biết việc nào có hại thì dừng, đó là thiện tri thức đã đóng bít cửa ác thú. Chỉ những điều thiện lợi nên làm, đó là mở lối nhân thiên cho mình. Thiện tri thức còn khai mở con đường đại trí tuệ của chư Phật đã đi, để cho chúng ta phát tâm hướng đến mà nỗ lực tu tập. 

Tôi nghĩ thiện tri thức
Là Phật công đức tạng
Niệm niệm hay xuất sanh
Biển hư không công đức.

Thiện Tài nghĩ rằng thiện tri thức là người làm cho mình được tất cả tạng công đức của chư Phật, nên trong mỗi niệm đều hay xuất sanh công đức rộng lớn như biển, không ngằn mé như hư không. 

Cho tôi ba-la-mật
Thêm tội phước vô tận
Lớn tôi tịnh công đức
Khiến tôi đội mão Phật.

Thiện tri thức là người giúp cho ngài đầy đủ tất cả ba-la-mật, phước thêm lớn vô tận, công đức càng thanh tịnh. Đội mão của Phật tức là được mang hình thức trang nghiêm của đức Phật.

Tôi nghĩ thiện tri thức
Hay mãn đạo Phật trí,
Thệ nguyện thường y chỉ
Viên mãn pháp bạch tịnh.

Ngài nghĩ đến thiện tri thức là người hay làm cho ngài đầy đủ đạo Phật trí, nên phát thệ nguyện thường y chỉ, nương tựa vào thiện tri thức mà viên mãn tất cả pháp thiện. 

Tôi do những sự này
Công đức đều đầy đủ
Vì khắp các chúng sanh
Nói đạo Nhất thiết trí.
Đức Thánh là thầy tôi
Cho tôi pháp Vô thượng
Vô lượng vô số kiếp
Chẳng báo được ơn ngài.

Do những sự này, tức là tất cả việc kể trên đều nhờ gần gũi thiện tri thức mà công đức của ngài được đầy đủ, có thể làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, vì chúng sanh nói đạo Nhất thiết trí. Ơn của thiện tri thức thông gì có thể đền đáp hết. 

Nói kệ xong, Thiện Tài thưa rằng: Bạch Đại thánh! Xin vì tôi mà nói môn giải thoát này tên là gì? Ngài phát tâm đã được bao lâu? Chừng nào ngài sẽ chứng vô thượng Bồ-đề?

Đồng tử Thiện Tài hỏi về pháp tu của Dạ thần, môn giải thoát đó tên gì, đã phát tâm tu được bao lâu, chừng nào sẽ thành Phật? 

Dạ thần nói: Này Thiện nam tử! Môn giải thoát này gọi là Giáo hóa chúng sanh khiến sanh thiện căn. Vì ta thành tựu môn giải thoát này nên ngộ tất cả pháp tự tánh bình đẳng, vào nơi tánh chân thật của các pháp, chứng pháp vô y, bỏ rời thế gian, đều biết các pháp sắc tướng sai biệt, cũng có thể thấu rõ tánh của xanh, vàng, đỏ, trắng đều chẳng thật. Vẫn vô sai biệt mà hằng thị hiện vô lượng sắc thân. 

Dạ thần nói: Vì ta thành tựu môn giải thoát này nên ngộ tất cả pháp tự tánh bình đẳng. Tất cả pháp tự tánh bình đẳng là sao? Căn cứ vào thể tánh của các pháp bình đẳng, chúng ta có thể chia ra làm ba phần cho dễ hiểu. 

1. Về mặt vật chất thì tất cả pháp thuộc hình tướng đều là tứ đại giả hợp, vì giả hợp nên không có tướng riêng biệt, tự tánh của nó là không. 

2. Đứng về mặt dung thông thì tuy tự tánh các pháp là không nhưng duyên hợp huyễn có, nên tất cả pháp bình đẳng như nhau. 

3. Về phương diện hữu lậu hữu vi thì các pháp đối với tâm thể chẳng khác nào như bóng hiện dưới nước còn tâm thanh tịnh mới là thể chân thật. Khi nhận được pháp thân thanh tịnh ấy rồi, thấy rõ tất cả pháp đều từ thể thanh tịnh hiện ra, nên biết chúng bình đẳng không hai.

Vì vậy nên nói, do thành tựu pháp môn này mà giác ngộ được tất cả pháp tự tánh bình đẳng như nhau. Ngộ được lý này là thể nhập tánh chân thật của các pháp. Chứng được pháp vô y, không còn phiền não, thẳng vào chỗ thanh tịnh của pháp thân. Bỏ rời thế gian, vì biết thế gian chỉ là bóng thì đâu còn gì dính mắc. Biết các pháp sắc tướng sai biệt chỉ như bóng hiện, nên thể tánh của xanh vàng đỏ trắng hay tất cả hình sắc hiện ra cũng đều không thật. 

Vẫn vô sai biệt mà hằng thị hiện vô lượng sắc thân. Nghĩa là từ tâm thể thanh tịnh, trí tuệ thấy biết không có sai biệt đó, mà hằng thị hiện vô lượng sắc thân. 

Những là: Nhiều loại sắc thân, chẳng phải một sắc thân, vô biên sắc thân, sắc thân thanh tịnh, sắc thân tất cả trang nghiêm, sắc thân thấy khắp, sắc thân đồng tất cả chúng sanh, sắc thân hiện trước khắp tất cả chúng sanh, sắc thân quang minh chiếu khắp, sắc thân thấy không nhàm, sắc thân tướng hảo thanh tịnh, sắc thân chói sáng rời lìa những ác tướng, sắc thân thị hiện đại dũng mãnh, sắc thân rất khó được, sắc thân tất cả thế gian không che chướng được, sắc thân tất cả thế gian đồng tán dương vô tận, sắc thân niệm niệm thường quán sát, sắc thân thị hiện các thứ mây, sắc thân nhiều loài hình mạo và hiển sắc, sắc thân hiện vô lượng sức tự tại, sắc thân diệu quang minh, sắc thân tất cả tịnh diệu trang nghiêm, sắc thân tùy thuận thành thục tất cả chúng sanh, sắc thân tùy tâm mình thích hiện tiền điều phục, sắc thân không chướng ngại khắp chói sáng, sắc thân thanh không trược uế, sắc thân đầy đủ trang nghiêm không hư hoại, sắc thân quang minh bất tư nghì pháp phương tiện, tất cả sắc thân không gì chói khuất được, sắc thân không tối phá được tất cả tối, sắc thân hợp tất cả pháp bạch tịnh, sắc thân biển công đức đại thế lực, sắc thân do nhân hạnh cung kính thuở quá khứ mà sanh, sắc thân do tâm thanh tịnh như hư không sanh ra, sắc thân tối thắng quảng đại, sắc thân vô đoạn vô tận, sắc thân biển quang minh, sắc thân nơi tất cả thế gian đều bình đẳng không y tựa, sắc thân khắp mười phương vô ngại, sắc thân niệm niệm hiện những sắc tướng hải, sắc thân tăng trưởng tâm hoan hỷ của tất cả chúng sanh, sắc thân nhiếp thú chúng sanh hải, sắc thân nơi mỗi lỗ lông diễn nói công đức hải của tất cả Phật, sắc thân làm thanh tịnh dục giải hải của tất cả chúng sanh, sắc thân quyết rõ tất cả pháp nghĩa, sắc thân không chướng ngại khắp soi sáng, sắc thân thanh tịnh sáng suốt khắp hư không, sắc thân phóng tịnh quang minh quảng đại, sắc thân chiếu hiện pháp vô cấu, sắc thân vô tỷ, sắc thân sai biệt trang nghiêm, sắc thân chiếu khắp mười phương, sắc thân tùy thời thị hiện ứng chúng sanh, sắc thân tịch tịnh, sắc thân diệt tất cả phiền não, sắc thân phước điền của tất cả chúng sanh, sắc thân tất cả chúng sanh thấy chẳng luống uổng, sắc thân sức trí tuệ dũng mãnh, cùng khắp vô ngại, sắc thân diệu vân hiện khắp thế gian đều nhờ lợi ích, sắc thân đầy đủ biển đại từ, sắc thân đại phước đức bảo sơn vương, sắc thân phóng quang minh chiếu khắp tất cả loài ở thế gian, sắc thân đại trí tuệ thanh tịnh, sắc thân sanh chánh niệm cho chúng sanh, sắc thân tất cả bảo quang minh, sắc thân tạng sáng khắp, sắc thân hiện những tướng thanh tịnh thế gian, sắc thân cầu Nhất thiết trí, sắc thân hiện vi tiếu khiến chúng sanh phát khởi lòng tin thanh tịnh, sắc thân quang minh tất cả bảo trang nghiêm, sắc thân chẳng lấy chẳng bỏ tất cả chúng sanh, sắc thân không quyết định không rốt ráo, sắc thân hiện sức gia trì tự tại, sắc thân hiện tất cả thần thông biến hóa, sắc thân sanh nhà Như Lai, sắc thân xa lìa những ác khắp pháp giới hải, sắc thân hiện khắp trong đạo tràng chúng hội của tất cả Như Lai, sắc thân đủ những sắc hải, sắc thân từ thiện hạnh lưu xuất, sắc thân tùy chỗ đáng hóa độ mà thị hiện, sắc thân tất cả thế gian nhìn xem không chán, sắc thân những tịnh quang minh, sắc thân hiện tất cả tam thế hải, sắc thân phóng tất cả quang minh hải, sắc thân hiện vô lượng sai biệt quang minh hải, sắc thân siêu thế gian tất cả hương quang minh, sắc thân hiện bất khả thuyết nhật luân vân, sắc thân hiện quảng đại nguyệt luân vân, sắc thân phóng vô lượng Tu-di sơn diệu hoa vân, sắc thân xuất sanh những mây tràng hoa, sắc thân hiện tất cả bao liên hoa vân, sắc thân nổi tất cả mây hương đốt khắp pháp giới, sắc thân rải mây tạng hương bột, sắc thân hiện thân đại nguyện của tất cả Như Lai, sắc thân hiện tất cả ngữ ngôn âm thanh diễn pháp hải, sắc thân hiện tượng Phổ Hiền Bồ-tát.

Chẳng phải một sắc thân mà vô biên sắc thân, nào là sắc thân thanh tịnh, sắc thân tất cả trang nghiêm, sắc thân hiện tất cả ngữ ngôn âm thanh v.v... Đây nói lên giáo lý căn bản của kinh Hoa Nghiêm, từ thể pháp thân thanh tịnh vô sai biệt mà hiện sắc thân. Hay còn gọi là từ vô Sai biệt trí mà hiện vô lượng sắc thân, đầy đủ hạnh của Phổ Hiền, nên nói sắc thân hiện tượng Phổ Hiền Bồ-tát.

Trong mỗi niệm hiện những sắc tướng thân như vậy sung mãn mười phương, khiến các chúng sanh hoặc thấy, hoặc nhớ, hoặc nghe thuyết pháp, hoặc nhân thân cận, hoặc được khai ngộ, hoặc thấy thần thông, hoặc thấy biến hóa, đều tùy tâm sở thích liền được điều phục bỏ nghiệp bất thiện, an trụ nơi thiện hạnh.

Này Thiện nam tử! Phải biết đây là do sức đại nguyện, do sức Nhất thiết trí, do sức Bồ-tát giải thoát, do sức đại bi, do sức đại từ, mà làm những sự như vậy.

Sở dĩ hiện bao nhiêu thân để làm lợi ích cho bao nhiêu chúng sanh, đều gốc từ sức đại nguyện. Cho nên tinh thần Đại thừa Bồ-tát luôn luôn chú trọng đại nguyện. Nghĩa là sức mạnh làm cho viên mãn Phật quả, thêm sự hỗ trợ của sức Nhất thiết trí, sức Bồ-tát giải thoát, sức đại từ đại bi... mà thành tựu được các công đức lớn lao như vậy. 

Này Thiện nam tử! Ta nhập môn giải thoát này biết rõ pháp tánh không sai khác mà có thể thị hiện vô lượng sắc thân. Mỗi thân thị hiện vô lượng sắc tướng hải. Mỗi tướng phóng vô lượng quang minh vân. Mỗi quang minh hiện vô lượng Phật độ. Mỗi cõi hiện vô lượng Phật xuất thế. Mỗi Phật hiện vô lượng thần thông lực khai phát thiện căn đời trước của chúng sanh. Kẻ chưa gieo thì khiến họ gieo. Kẻ đã gieo thì làm cho tăng trưởng. Đã tăng trưởng thì làm cho thành thục. Trong mỗi niệm làm cho vô lượng chúng sanh chẳng thối chuyển nơi vô thượng Bồ-đề.

Đây lặp lại ý nghĩa ở trước, nghĩa là trên thể của pháp tánh không khác nhưng trên dụng thì thể hiện vô lượng sắc thân, cho nên Bồ-tát luôn khởi đại nguyện, hướng công dụng của các ngài vào việc khai phát thiện căn cho chúng sanh. 

Tất cả chúng ta đều đủ thiện lẫn ác, nhưng có người thiện nhiều ác ít, có người thiện ít ác nhiều, không ai thuần thiện cũng không ai thuần ác. Thiện nhiều thì gọi người lành, ác nhiều gọi là người dữ. Nếu thuần thiện tức đã thành thánh, bởi trong cái thiện còn xen kẽ cái ác, nên vẫn làm phàm phu. Những người ác kia nếu họ thuần ác thì đã đọa địa ngục, đâu được làm người. Hiện tại được làm người, nên biết rằng trong ác họ cũng thiện. Bồ-tát hành hạnh giáo hóa chúng sanh, các ngài khéo soi xét thiện ác của họ làm cho căn lành tăng trưởng, nghiệp ác được dừng. 

Bồ-tát khéo gieo trồng và làm tăng trưởng căn lành cho chúng sanh, cũng như sự giáo dục ở ngoài xã hội. Gia đình hay học đường muốn giáo dục con em học tốt, tiến nhanh thì phải khéo biết năng khiếu của nó thuộc lãnh vực nào. Mộc, văn chương, hội họa hay toán học v.v... Nếu khéo biết được rồi phát huy đúng sở thích thì sự giáo dục cho con em phát triển mau. Như người thích văn chương mà bắt học toán thì đau đầu học không nổi; người thích làm mộc mà bắt ngồi vẽ hay làm văn, rốt cuộc không làm được... Cũng vậy Bồ-tát do khéo biết người căn lành sẵn thì khuyến khích thêm, người chưa có căn lành thì gieo cho họ tạo chủng tử lành, từ đó sự giáo hóa được thành tựu viên mãn. 

Này Thiện nam tử! Như ngươi hỏi ta phát tâm Bồ-đề tu Bồ-tát hạnh đã bao lâu? Ta thừa thần lực của Phật sẽ vì ngươi mà nói những nghĩa ấy.

Này Thiện nam tử! Bồ-tát trí luân xa rời tất cả cảnh giới sai biệt. Chẳng nên đem những kiếp dài ngắn rộng hẹp nhiễm tịnh nhiều ít trong sanh tử để phân biệt hiển bày. 

Trí luân là chỉ cho lý tánh. Nghĩa là Bồ-tát khi thể nhập được Phật tánh hay Căn bản trí thì lúc đó xa rời những cảnh giới sai biệt, không còn thấy thời gian dài ngắn, không thấy nhiễm tịnh, lớn nhỏ, nhiều ít… Không thể đem hiểu biết phàm phu của chúng sanh để hiển bày cảnh giới của Bồ-tát trí luân này. 

Tại sao vậy? Vì trí luân của Bồ-tát bổn tánh thanh tịnh, rời tất cả lưới phân biệt, siêu tất cả núi chướng ngại. Tùy chỗ nên hóa độ mà chiếu khắp. 

Bồ-tát thể nhập được bản tánh thanh tịnh rồi thì bao nhiêu phân biệt theo đó liền dứt, tất cả chướng ngại theo đó mà hết, khi ấy tùy chỗ nên hóa độ mà chiếu khắp. 

Chúng ta tu muốn thể nhập trí luân thanh tịnh thì đi đứng nằm ngồi... đều phải dừng vọng tưởng, dứt phân biệt. Hằng tu như vậy mới không còn bị chướng ngại, rồi tùy căn cơ chúng sanh chiếu khắp hóa độ. Nếu không thể nhập được mà muốn cứu độ chúng sanh thì khi ra làm việc dễ bị chướng ngại, không thể đạt đến rốt ráo. Người đang tu thấy dường như tiêu cực ích kỷ, không làm gì cho ai, nhưng sự thật khi thể nhập được bản tánh thanh tịnh rồi thì việc cứu độ chúng sanh lợi ích không thể tính kể. 

Này Thiện nam tử! Ví như mặt nhật không có ngày đêm, chỉ có lúc mọc gọi là ngày, lúc lặn gọi là đêm. Cũng vậy, trí luân của Bồ-tát không có phân biệt, cũng không tam thế, chỉ tùy tâm hiện giáo hóa chúng sanh, mà nói Bồ-tát ở kiếp trước kiếp sau.

Mặt trời là mặt trời, không ngày đêm, không lặn mọc. Tùy theo mỗi nơi mà thấy có mặt trời hay không thấy mặt trời. Thấy mặt trời thì gọi là ngày, khuất mặt trời thì gọi là đêm. Như vậy gọi ngày đêm hay sáng tối đều không thật, chỉ tùy chỗ thấy mà nói. Trí của Bồ-tát cũng thế, vì không phân biệt nên không thấy có ba đời, quá khứ hiện tại vị lai. Chỉ tùy tâm mà hiện ra để giáo hóa chúng sanh, tức là chúng sanh nơi đâu cần thì các ngài thị hiện giáo hóa. Bởi thị hiện giáo hóa, nên có Bồ-tát ở kiếp trước, Bồ-tát ở kiếp sau. Nói kiếp trước kiếp sau chỉ là phương tiện, trong sự hoá độ chúng sanh mà thôi.

Này Thiện nam tử! Ví như mặt nhật ở không trung, bóng nó hiện trong tất cả bảo vật và trong nước trong lặng của ao hồ sông biển. Chúng sanh đều thấy bóng mặt nhật. Nhưng mặt nhật chẳng đến các chỗ ấy. Trí luân của Bồ-tát cũng vậy, ra khỏi biển hữu lậu, an trụ nơi thật pháp của Phật, tịch tịnh rỗng rang không có sở y. Vì muốn hóa độ chúng sanh nên tùy loại thọ sanh trong các loài, mà thật ra thì không sanh tử, không nhiễm trước, không kiếp dài ngắn, không tưởng phân biệt.

Đến thí dụ này lại càng thấy rõ. Bồ-tát hay chư Phật giáo hóa chúng sanh không phải các ngài tự đến, nên không có sanh tử, không nhiễm trước. Cũng như mặt trời trong hư không, tùy sông biển, ao hồ bên dưới, nếu nơi nào có nước trong thì thấy bóng mặt trời hiện. Vậy mặt trời đến hồ nước hay hồ nước đến mặt trời? Không cái nào đến cái nào, mà vẫn thấy mặt trời dưới đáy hồ. Cũng vậy, khi tâm chúng ta tịnh thì lúc đó thấy Phật Bồ-tát đến với chúng ta. Đến mà không đến. Nên nói an trụ nơi thật pháp của Phật, tịch tịnh rỗng rang không có sở y. Nghĩa là thể trí đó thanh tịnh vô tận, không có hình tướng y cứ theo vật chất. Vì muốn hóa độ chúng sanh nên tùy theo từng loài mà ứng hiện, do đó không có sanh tử, không có nhiễm trước, không thấy kiếp dài ngắn cũng không tưởng phân biệt. Đó là điểm đặc biệt của Bồ-tát.

Tại sao vậy? Vì Bồ-tát rốt ráo rời tâm tưởng kiến chấp tất cả điên đảo, được chân thật kiến, thấy thật tánh của các pháp, biết tất cả thế gian như mộng như huyễn, không có chúng sanh, chỉ do sức đại bi đại nguyện mà hiện ra trước chúng sanh để giáo hóa điều phục họ.

Bồ-tát do xa rời tất cả kiến chấp điên đảo được cái thấy chân thật, thấy thật tánh của tất cả pháp, biết thế gian như mộng huyễn, không thật có chúng sanh... Thấy rõ như vậy nên các ngài dùng sức đại bi đại nguyện, hiện ra trước chúng sanh để giáo hóa điều phục họ. 

Sở dĩ chúng ta phải làm chúng sanh, chịu khổ sanh tử luân hồi là do tâm tưởng điên đảo và kiến chấp sai lầm mà ra. Khi nào dứt trừ những thứ ấy, được cái thấy chân thật, thấu rõ pháp tánh, biết thế gian và chúng sanh như mộng huyễn, chừng đó sự giáo hóa của chúng ta mới rốt ráo, vì đã thành tựu được sức đại bi đại nguyện. 

Này Thiện nam tử! Ví như nhà lái thuyền thường dùng thuyền lớn ở trong sông, chẳng đậu bờ bên này, chẳng ghé bờ bên kia, chẳng dừng ở giữa dòng, nên có thể đưa mọi người không thôi nghỉ. Cũng vậy, đại Bồ-tát dùng thuyền ba-la-mật ở trong biển sanh tử, chẳng tấp bờ bên này, chẳng ghé bờ bên kia chẳng dừng ở giữa dòng nên độ được chúng sanh không thôi dứt. Dầu tu Bồ-tát hạnh vô lượng kiếp, nhưng chưa từng phân biệt kiếp số dài ngắn.

Thể nhập pháp tánh rồi Bồ-tát dùng thuyền ba-la-mật ở giữa dòng sanh tử mà độ chúng sanh trong vô lượng kiếp vẫn không mỏi mệt, vì các ngài không có niệm phân biệt nên không thấy kiếp số đài ngắn. Chúng ta do chưa thể nhập được tánh linh, còn nhiều phân biệt nên thấy thời gian có dài có ngắn. 

Sở dĩ kinh Phật được truyền bá lâu dài nhiều đời kiếp, vì khế lý khế cơ và có giá trị về mặt văn học rất lớn. Như đây dùng những thí dụ bằng hình ảnh thật sống động. 

Bồ-tát dùng thuyền ba-la-mật ở trong biển sanh tử, hình ảnh này gợi lên cho chúng ta thấy một chiếc thuyền chèo qua chèo lại mà không dừng bên bờ này, không ghé bờ bên kia, cũng không ở giữa dòng. Bờ bên này dụ cho sanh tử. Bờ bên kia dụ Niết-bàn. Giữa dòng dụ kiến chấp hay còn gọi là sở tri kiến. Tuy không dừng ở sanh tử nhưng cũng không tiến tới Niết-bàn, nên gọi giữa dòng. Nếu mắc bên này bên kia hay còn kẹt nơi sở tri kiến thì không độ khắp chúng sanh được, nên dùng hình ảnh con thuyền Bát-nhã ba-la-mật chèo qua chèo lại không dừng, không đậu lại bên nào. Bồ-tát cứ siêng năng làm hoài như vậy không nghĩ tới thời gian. Thời gian đối với các ngài là vô nghĩa, nên nói chưa từng phân biệt kiếp số dài ngắn. Chỉ chuyên tâm đưa chúng sanh không nghĩ bao nhiêu năm, bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp. 

Chúng ta nghe nói tu một đời thành Phật thì ham, nếu bảo tu nhiều đời mới thành Phật thì chán. Tại sao chán? Bởi vì mình lười biếng. Độ chúng sanh có giới hạn, tới mức nào thôi không muốn làm thêm, nghĩ rằng làm mấy chục năm với bao nhiêu công đức đó đủ rồi. Đối với Bồ-tát thì bao nhiêu công đức cũng không thấy đủ, cứ làm hoài không chán, đến bao lâu cũng được chừng nào viên mãn mới thôi. Do không nhất định thời gian bao lâu, nên các ngài không thấy thời gian dài ngắn. Nguyện lực của chúng ta và Bồ-tát mạnh yếu khác nhau rõ ràng như vậy. 

Người tu Đại thừa, học theo hạnh của Bồ-tát thì phải huân tập được tâm đó. Mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm... cứ gieo trồng công đức lành, gieo mãi chừng nào đủ công đức thì thành Phật, chứ không nói thời gian bao lâu. Như hình ảnh người lái đò này, chèo hoài không dừng bờ bên này, không đậu bờ bên kia, cũng không thả trôi giữa dòng, có thế mới đến rốt ráo thành Phật. 

Này Thiện nam tử! Như thái hư không, tất cả thế giới thành hoại trong đó, mà hư không vẫn chẳng phân biệt, bổn tánh thanh tịnh không nhiễm không loạn, không ngại không nhàm, chẳng dài chẳng ngắn, tận vị lai kiếp giữ gìn tất cả cõi.

Pháp thân thanh tịnh trùm khắp không phân biệt thời gian, không gian. Như hư không rỗng rang vắng lặng, tất cả thế giới thành hoại trong đó mà hư không vẫn không phân biệt. 

Đại Bồ-tát cũng vậy, dùng thâm tâm rộng lớn khắp cõi hư không khởi gió đại nguyện nhiếp các chúng sanh khiến lìa ác đạo sanh các đường lành, đều khiến an trụ bậc Nhất thiết trí, diệt những dây phiền não sanh tử khổ não, mà không có lòng lo mừng mỏi nhàm.

Bồ-tát khởi đại nguyện nhiếp độ chúng sanh xa lìa ác đạo, lòng không khởi lo mừng cũng không mỏi nhàm, cứ làm hoài không bao giờ chán. 

Này Thiện nam tử! Như người huyễn hóa, dầu chi tiết thân thể đầy đủ mà không có mười sự: thở ra, hít vào, lạnh, nóng, đói, khát, lo, mừng, sanh, tử. Cũng vậy, đại Bồ-tát dùng như huyễn trí bình đẳng pháp thân hiện các sắc tướng, nơi các loài trụ vô lượng kiếp giáo hóa chúng sanh ở trong sanh tử, nơi tất cả cảnh giới, không ưa, không nhàm, không thương, không giận, không khổ, không vui, không lấy, không bỏ, không an, không sợ.

Này Thiện nam tử! Trí tuệ của Bồ-tát dầu lại như vậy mà rất sâu khó lường, ta sẽ thừa sức oai thần của đức Phật mà nói cho ngươi, cũng làm cho chư Bồ-tát vị lai viên mãn đại nguyện thành tựu trí lực.

Đoạn trên là chỉ cho lý thể, khi thể nhập trí luân thanh tịnh, chẳng còn vọng tưởng phân biệt nhưng lại có khả năng vì chúng sanh mà ứng hóa, không bị hạn cuộc vào buồn thương giận ghét, không thấy thời gian dài ngắn, không gian lớn nhỏ. Bởi tùy thuận thế gian, muốn mọi người đều được lợi ích, nên tạm nói có kiếp trước kiếp sau, nơi này chốn nọ v.v…

Trí tuệ của Bồ-tát rất sâu khó lường như vậy, bây giờ ngài sẽ thừa sức oai thần của Phật mà nói ra, nhằm khiến cho tất cả Bồ-tát vị lai viên mãn đại nguyện và đầy đủ trí lực. 

Này Thiện nam tử! Thuở xưa, quá thế giới vi trần số kiếp, có kiếp tên là Thiện Quang, thế giới tên là Bảo Quang. Trong kiếp đó có một vạn đức Phật xuất thế.

Đức Phật tối sơ hiệu là Pháp Luân Âm Hư Không Đăng Vương Như Lai. Nơi Diêm-phù-đề có vương đô tên là Bảo Trang Nghiêm. Phía đông đô thành, cách không xa, có một khu rừng lớn tên là Diệu Quang, trong rừng có đạo tràng tên là Bảo Hoa. Trong đạo tràng có tòa sư tử Phổ quang minh ma-ni liên hoa tạng. Đức Pháp luân Âm Như Lai thành Đẳng chánh giác trên tòa sư tử này. Phật ngồi nơi đạo tràng mãn một trăm năm, vì chư Bồ-tát và hàng nhân thiên cùng những kẻ đã thành thục thiện căn ở Diêm-phù-đề mà diễn nói chánh pháp.

Chúng ta giảng pháp chỉ một hai tiếng đồng hồ thấy dài đăng đẳng, đức Phật ngồi dưới cây bồ-đề nơi đạo tràng một trăm năm vì người nói pháp, tức là Phật ngồi giảng kinh một trăm năm, việc này có dễ tin không? Đem suy lượng của mình ra để so sánh thấy khó tin, nhưng nếu thể nhập được trong đó thì thấy không có gì khó tin hết. Giống như đem con phù du so với chúng ta, hai tiếng đồng hồ đối với nó dài quá không thể tin nổi.

Quốc vương tên là Thắng Quang. Thuở ấy nhân dân thọ một vạn tuổi, trong đó phần đông phạm nghiệp ác: sát sanh, trộm cướp, dâm dật, nói dối, nói thô, hai lưỡi, thêu dệt, tham lam, giận thù, tà kiến, bất hiếu, bất kính. Nhà vua vì muốn sửa trị họ nên thiết lập nhà ngục, giam nhốt vô lượng người phạm tội hành hạ khổ sở.

Thái tử tên là Thiện Phục, đoan chánh đẹp lạ đủ hai mươi tám tướng đại nhân. Thái tử ở trong cung vẳng nghe tiếng kêu khóc ở chốn ngục tù, động lòng trắc ẩn, liền vào nhà ngục, thấy tù nhân bị gông xiềng tối tăm, có kẻ bị đốt, có kẻ bị xông khói, có kẻ bị đánh, có kẻ bị thẻo lóc, tóc rối mình trần, đói khát ốm gầy, rên rỉ khóc la. Quá xót thương, Thái tử an ủi tội nhân:

Các ngươi chớ lo sầu kinh sợ. Ta sẽ cứu thoát các ngươi.

Thái tử liền đến tâu Phụ vương xin tha tội nhân. Nhà vua hội các quan lại để hỏi ý. Các quan luận rằng tội nhân là những kẻ gian ác cướp trộm của công, mưu toan cướp ngôi lén vào cung cấm, tội đáng hành hình. Có ai thương cứu cũng bị tử hình.

Nhà vua hội ý với quần thần. Quần thần kết án người nào thả tội nhân thì người đó bị tử hình. Khi đó Thái tử phải làm sao?

Thái tử buồn thương bảo các quan rằng: 

Xin thả những người ấy, tôi đành chịu tội, dầu nát thân mất mạng tôi cũng cam, miễn tội nhân được thoát khổ.

Đây là những tiêu chuẩn của hạnh Bồ-tát. Hiện tại chúng ta nói mình tập tu hạnh Bồ-tát mà không nắm vững tiêu chuẩn này. Bồ-tát thà chịu tội để lợi ích cho chúng sanh, chứ không làm ngơ mặc chúng sanh khổ. Như vì muốn cứu những khách buôn mà Bồ-tát phải giết người lái đò toan cướp của. Vậy Bồ-tát có tội không? Nói không tội là sai, là phá giới luật. 

Trong khi làm những việc cứu chúng sanh, nếu mình có tội thì cam chịu, chứ không nói tôi làm như thế là tại thế này thế kia, không được quyền bắt tội tôi. Nói thế là mình trốn tội. Bồ-tát vì cứu chúng sanh mà phạm tội. Các ngài luôn thấy việc làm đó là tội, là trái giới luật, nhưng vì thương chúng sanh nên cam chịu xuống địa ngục thọ khổ cho chúng sanh được vui. Đó là tâm nguyện của Bồ-tát. 

Điểm đặc biệt của Bồ-tát là ở chỗ đó, mang tội mà các ngài vẫn dám làm để cứu chúng sanh. Như trong kinh Đại thừa dẫn chuyện Đề-bà-đạt-đa phạm tội ngũ nghịch, vẫn được đức Phật thọ ký sau này sẽ thành Phật. Đề-bà-đạt-đa phạm tội xuống địa ngục vẫn vui vẻ ưng chịu, chấp nhận xuống địa ngục để được thành Phật. 

Tiền thân Đề-bà-đạt-đa là Bồ-tát, ngài có người bạn đồng tu đang hành hạnh nhẫn nhục, bấy giờ vì muốn khuyến khích cho hạnh nhẫn nhục của bạn được viên mãn, nên ngài mạ nhục. Dù biết mạ nhục một người đang tu là có tội mà vẫn mạ nhục. Bị mạ nhục mà không sân thì hạnh nhẫn nhục mới được viên mãn. Vì thành tựu cho bạn thành đạo mà mình cam chịu tội. Đó là điểm đặc biệt, là hạnh của Bồ-tát.

Tại sao vậy? Vì nếu tôi không cứu được những tội nhân này thì làm sao cứu được chúng sanh trong nhà ngục tam giới. Tất cả chúng sanh trong ba cõi bị tham ái buộc ràng, nghèo thiếu công đức, ngu si che đậy, đọa trong ác đạo, thân hình xấu xí, thân căn phóng dật, tâm họ mê loạn chẳng cầu đạo xuất ly, mất ánh sáng trí tuệ, ưa mến ba cõi, dứt các phước đức, diệt những trí tuệ, phiền não làm tâm họ nhơ đục, ở trong ngục khổ, vào rọ của ma. Thường bị những khổ sanh lão bệnh tử ưu bi não hại bức bách mãi. Tôi phải làm thế nào cho họ được giải thoát? Tôi phải xả thân mạng để cứu họ.

Đây là những điều rất cao siêu của Bồ-tát, các ngài xả thân mạng vì chúng sanh chứ không phải vì mình. Nếu làm như vậy mà mình an lành sung sướng thì không còn mang ý nghĩa Đại thừa nữa. 

Lúc đó, các quan đồng đến chỗ vua giơ tay nói lớn rằng: 

Đại vương nên biết, như ý của Thái tử là hủy hoại vương pháp, họa đến nhân dân. Nếu Đại vương không trị tội Thái tử thì ngôi báu của Đại vương tất khó được bền lâu.

Vua nghe các quan tâu liền nổi giận truyền giết Thái tử và các tội nhân. Vương hậu hay tin kinh hãi gào khóc, cùng ngàn thể nữ chạy đến chỗ vua mọp lạy cầu vua tha tội Thái tử.

Vua ngó Thái tử mà bảo rằng: Ngươi chớ cứu tội nhân, nếu cứu họ ta sẽ giết ngươi.

Thái tử vì muốn chuyên cầu Nhất thiết trí, vì muốn lợi ích chúng sanh, vì lòng đại bi phổ cứu, nên trong lòng vững chắc không khiếp sợ, lại tâu rằng: 

Xin thả tội nhân, con đành chịu chết.

Vua bảo: Tùy ý.

Vương hậu tâu xin cho Thái tử tùy ý bố thí nửa tháng để tu phước, sau đó sẽ trị tội. Vua liền phê chuẩn.

Đến đây mới được ân chuẩn cho bố thí, bố thí rồi tất nhiên được thấy Phật thị hiện. Qua hình ảnh này chúng ta thấy rõ, Bồ-tát khi lợi ích chúng sanh các ngài phải chịu khổ nhục đau đớn, nhưng vẫn không nhớ nghĩ đến việc mình bị đau đớn mà chỉ nghĩ nhớ cái khổ của chúng sanh. Đó mới thật là hạnh của Bồ-tát. 

Phía bắc Đô Thành có khu vườn lớn tên là Nhật Quang, là hội trường bố thí thuở xưa. Thái tử đến đó lập đại thí hội. Tất cả những đồ uống ăn, y phục, thuốc men, hoa hương, phan cái, vàng bạc châu ngọc đều cung cấp cho người cầu xin.

Đến ngày thứ mười lăm, vua cùng các quan, trưởng giả, cư sĩ, nhân dân và các nhà ngoại đạo đều hội họp.

Bấy giờ đức Pháp Luân Âm Hư Không Đăng Vương Như Lai biết chúng sanh đã đến lúc được điều phục nên cùng đại chúng câu hội: Thiên vương hầu hạ, long vương cúng dường, dạ-xoa vương thủ hộ, càn-thát-bà vương ca ngợi, a-tu-la vương cúi mình đảnh lễ, ca-lâu-la vương lòng thanh tịnh rải hoa báu, khẩn-na-la vương hoan hỷ khuyến thỉnh, ma-hầu-la-già vương nhất tâm chiêm ngưỡng, đồng đến hội trường bố trí.

Thái tử và đại chúng thấy đức Phật sắp đến. Thân Phật đoan nghiêm thù đặc, các căn tịch tịnh, tâm không nhơ đục như ao nước sạch trong, hiện đại thần thông tự tại, hiển đại oai đức, những tướng hảo trang nghiêm, phóng đại quang minh chiếu khắp thế giới, tất cả lỗ lông phát ra mây sáng thơm, chấn động vô lượng Phật độ mười phương, chỗ nào Phật đến đều mưa những đồ trang nghiêm. Do oai nghi và công đức nên chúng sanh nào thấy Phật thì tâm thanh tịnh hoan hỷ phiền não tiêu diệt.

Thái tử và đại chúng đảnh lễ chân đức Phật, dọn tòa cao đẹp, chắp tay bạch Phật: 

Lành thay, đấng Thế Tôn! Lành thay, đấng Thiện Thệ! Xin đức Như Lai từ mẫn nhiếp thọ chúng tôi mà ngự trên tòa này.

Do thần lực của Phật, nên Tịnh Cư thiên liền biến tòa ấy thành tòa sen hương ma-ni. Đức Phật ngồi trên tòa sen ấy. Chư Bồ-tát cũng ngồi xung quanh Phật. Tất cả mọi người trong hội trường ấy nhân thấy đức Như Lai nên dứt khổ trừ chướng, có thể lãnh thọ Thánh pháp. Đức Như Lai biết họ đáng được hóa độ, bèn dùng âm thanh viên mãn nói khế kinh tên là Phổ Chiếu Nhân Luân, khiến các chúng sanh tùy theo loài mà nhận hiểu.

Lúc đó, có tám mươi na-do-tha chúng sanh xa trần lìa cấu, được pháp nhãn thanh tịnh. Vô lượng na-do-tha chúng sanh được bậc vô học. Mười ngàn chúng sanh trụ đạo Đại thừa nhập Phổ Hiền hạnh, thành mãn đại nguyện. Đồng thời mỗi phương trong mười phương đều có trăm Phật sát vi trần số chúng sanh ở trong Đại thừa tâm được điều phục. Tất cả chúng sanh trong vô lượng thế giới thoát khỏi ác đạo sanh lên trời, cõi người. Thái tử Thiện Phục liền được môn giải thoát Bồ-tát giáo hóa chúng sanh khiến sanh thiện căn. 

Này Thiện nam tử! Thái tử Thiện Phục xưa kia chính là thân ta. Vì thuở xưa ta phát tâm đại bi bỏ thân mạng của cải cứu khổ chúng sanh mở cửa đại thí, cúng dường đức Phật, nên được môn giải thoát này.

Này Thiện nam tử! Nên biết rằng thuở ấy ta chỉ vì lợi ích tất cả chúng sanh, chẳng luyến tam giới, chẳng cầu quả báo, chẳng tham danh tiếng, chẳng muốn tự khen mà kinh hủy người khác. Nơi các cảnh giới không chút tham nhiễm không hề e sợ. Chỉ trang nghiêm đạo Đại thừa xuất yếu. Thường thích quán sát môn Nhất thiết trí, tu hành khổ hạnh, nên được môn giải thoát này.

Này Thiện nam tử! Thuở xưa năm trăm quan đại thần muốn hại Thái tử Thiện Phục, nay là năm trăm đồ đảng của Đề-bà-đạt-đa. Những người này nhờ đức Phật giáo hóa, sẽ được thành Phật. Đời vị lai quá Tu-di sơn vi trần số kiếp, có kiếp tên là Thiện Quang, thế giới tên là Bảo Quang, năm trăm người này sẽ thứ đệ thành Phật trong đó. 

Người kết án chính là người sẽ thành Phật sau này. Nói theo kinh Hoa Nghiêm thì họ là những Bồ-tát, vì chính họ làm cho Bồ-tát viên mãn đại nguyện, cho tên năm trăm vị ấy vị lai sẽ kế tiếp thành Phật, đầy đủ đại bi bình đẳng, chứ không phải là người ác. 

Đức Phật tối sơ hiệu là Đại Bi, thứ hai hiệu là Nhiêu Ích Thế Gian, thứ ba hiệu là Đại Bi Sư Tử, thứ tư hiệu là Cứu Hộ Chúng Sanh, đức Phật tối hậu hiệu là Y Vương.

Dầu năm trăm đức Phật vị lai ấy đại bi bình đẳng, nhưng quốc độ, chủng tộc, cha mẹ, thọ sanh, đản sanh, xuất gia học đạo, đến đạo tràng, chuyển pháp luân, nói kinh, ngữ ngôn âm thanh, quang minh, chúng hội, thọ mạng, pháp trụ và danh hiệu của các ngài đều sai khác.

Này Thiện nam tử! Những người tội được ta cứu thuở xưa ấy, nay là đức Câu-lưu-tôn Như Lai và ngàn đức Phật trong Hiền kiếp này, cùng trăm vạn a-tăng-kỳ đại Bồ-tát phát tâm vô thượng Bồ-đề nơi chỗ đức Vô Lượng Tinh Tấn Lực Danh Xưng Công Đức Huệ Như Lai, hiện nay ở thập phương quốc độ tu tập tăng trưởng Bồ-tát đạo, giáo hóa chúng sanh khiến sanh thiện căn giải thoát.

Vua Thắng Quang thuở xưa ấy, nay là đại luận sư Tát-giá Ni-kiền Tử.

Cung nhân và quyến thuộc thuở xưa ấy, nay là sáu vạn đệ tử của Tát-giá Ni-kiền theo thầy đồng đến luận nghị với đức Phật, bị đức Phật hàng phục và đều được thọ ký sẽ thành Phật đời vị lai, cõi nước trang nghiêm, kiếp số, danh hiệu riêng khác.

Này Thiện nam tử! Thuở xưa ấy, lúc ta cứu tội nhân rồi, cha mẹ cho ta xuất gia học đạo với đức Phật Pháp Luân Âm Hư Không Đăng Vương Như Lai. Ta tu tịnh hạnh trong năm trăm năm liền thành tựu trăm vạn đà-la-ni, trăm vạn thần thông, trăm vạn pháp tạng, trăm vạn cầu Nhất thiết trí dũng mãnh tinh tấn, tịnh trị trăm vạn môn kham nhẫn, tăng trưởng trăm vạn tâm tư duy, thành tựu trăm vạn Bồ-tát lực, nhập trăm vạn Bồ-tát trí môn, được trăm vạn Bát-nhã ba-la-mật môn, thấy thập phương trăm vạn chư Phật, sanh trăm vạn Bồ-tát đại nguyện, trong mỗi niệm mười phương đều chiếu trăm vạn Phật độ, trong mỗi niệm tiền tế hậu tế đều nhớ trăm vạn chư Phật, trong mỗi niệm đều biết thập phương thế giới trăm vạn chư Phật biến hóa hải, trong mỗi niệm thấy thập phương trăm vạn thế giới có bao nhiêu chúng sanh, bao nhiêu loài theo nghiệp mà sanh mà tử, thiện đạo ác đạo, sắc tốt sắc xấu, những chúng sanh ấy có bao nhiêu tâm hành, dục lạc, căn tánh, nghiệp tập, thành tựu đều biết rõ tất cả.

Này Thiện nam tử! Thuở xưa ấy, sau khi chết, ta thọ sanh trở lại tại cung vua làm Chuyển luân vương. Sau khi đức Pháp Luân Âm Hư Không Đăng Vương Như Lai diệt độ, ta gặp đức Pháp Không Vương Như Lai xuất thế, ta kính thờ cúng dường.

Kế đó ta làm Đế-thích, cũng trong đạo tràng ấy, ta gặp Thiên Vương Tạng Như Lai. Kế đó ta làm Dạ-ma thiên vương, ở thế giới ấy ta gặp đức Đại Địa Oai Lực Sơn Như Lai. Kế đó ta làm Đâu-suất Thiên vương, ở thế giới ấy, ta gặp đức Pháp Luân Quang Âm Thanh Vương Như Lai. Kế đó ta làm Hóa Lạc thiên vương, ở thế giới ấy, ta gặp đức Hư Không Trí Vương Như Lai. Kế đó ta làm Tha Hóa Tự Tại thiên vương, ở thế giới ấy, ta gặp đức Vô Năng Hoại Tràng Như Lai. Kế đó ta làm A-tu-la vương, ở thế giới ấy, ta gặp đức Nhất Thiết Pháp Lôi Âm Vương Như Lai. Kế đó ta làm Phạm vương, ở thế giới ấy, ta gặp đức Phổ Hiền Hóa Diễn Pháp Âm Như Lai.

Này Thiện nam tử! Trong kiếp Thiện Quang nơi thế giới Bảo Quang ấy, có một vạn đức Như Lai xuất thế ta đều được gặp và thân cận kính thờ cúng dường như vậy. Sau kiếp Thiện Quang, có kiếp tên là Nhật Quang có sáu mươi ức Phật xuất thế. Đức Như Lai tối sơ hiệu là Diệu Tướng Sơn.

Bấy giờ ta làm quốc vương tên là Đại Huệ, kính thờ cúng dường đức Phật ấy. Kế có đức Phật xuất thế hiệu Viên Mãn Kiên. Bấy giờ ta làm cư sĩ thân cận cúng dường đức Phật ấy. Kế có đức Phật xuất thế hiệu Ly Cấu Đồng Tử. Bấy giờ, ta làm quan đại thần thân cận, cúng dường đức Phật ấy. Kế có đức Phật xuất thế hiệu là Dũng Mãnh Trì. Bấy giờ ta làm A-tu-la vương thân cận cúng dường Phật. Kế đó có đức Phật xuất thế hiệu là Tu-di tướng. Bấy giờ, ta làm thọ thần thân cận cúng dường Phật. Kế đó có đức Phật xuất thế hiệu là Ly Cấu Tý. Bấy giờ, ta làm chủ thương gia thân cận cúng dường Phật. Kế có đức Phật xuất thế hiệu là Sư Tử Du Bộ. Bấy giờ, ta làm Thành thần thân cận cúng dường Phật. Kế có đức Phật xuất thế hiệu là Bảo Kế. Bấy giờ, ta làm Tỳ-sa-môn thiên vương thân cận cúng dường Phật. Kế có đức Phật xuất thế hiệu là Tối Thượng Pháp Xưng. Bấy giờ, ta làm Càn-thát-bà vương thân cận, cúng dường đức Phật. Kế có đức Phật xuất thế hiệu là Quang Minh Quan. Bấy giờ, ta làm Cưu-bàn-trà vương thân cận cúng dường đức Phật.

Ở trong kiếp Nhật Quang đó, thứ đệ có sáu mươi ức Như Lai xuất thế. Thuở ấy ta thường thọ nhiều loại thân, ở chỗ mỗi đức Phật ta đều thân cận cúng dường, giáo hóa thành tựu vô lượng chúng sanh. Ở chỗ mỗi đức Phật ta được vô lượng môn tam muội, những môn đà-la-ni, những môn thần thông, những môn biện tài, những môn Nhất thiết trí, những môn pháp minh, những môn trí tuệ, chiếu những thập phương hải, nhập những Phật sát hải thấy chư Phật hải, thanh tịnh thành tựu tăng trưởng quảng đại.

Như ở trong kiếp Nhật Quang đó thân cận cúng dường bao nhiêu đức Phật như vậy, ở tất cả xứ, tất cả thế giới hải vi trần số kiếp có bao nhiêu đức Phật xuất thế, ta đều thân cận cúng dường, nghe pháp hộ trì cũng như vậy cả. Ở chỗ tất cả Như Lai như vậy, ta đều tu tập môn giải thoát này, ta lại được vô lượng phương tiện giải thoát.

Phần này chỉ kể lại việc ngài xuất gia học đạo, tinh tấn tu hành cho đến thành Bồ-tát đạo. Thời gian đầu ngài tu Bồ-tát hạnh, chịu khổ ách để cứu độ chúng sanh, tiếp theo ngài được gặp bao nhiêu đức Phật cúng dường và tu hành thêm.

Bấy giờ, Cứu Hộ Nhất thiết chúng sanh Chủ dạ thần muốn tuyên lại nghĩa giải thoát này, vì Thiện Tài đồng tử mà nói kệ rằng:

Ngươi dùng tâm hoan hỷ tin ưa
Hỏi pháp giải thoát khó nghĩ này
Ta thừa sức hộ niệm của Phật.
Vì ngươi tuyên nói, phải nghe nhận.
Quá khứ vô biên kiếp quảng đại
Quá hơn sát hải vi trần số
Lúc ấy có cõi tên Bảo Quang
Trong ấy có kiếp tên Thiện Quang.
Ở trong đại kiếp Thiện Quang này
Một vạn Như Lai nối xuất thế
Ta đều thân cận cúng dường Phật
Theo Phật tu học giải thoát này.
Có vương kinh đô tên Hỷ Nghiêm
Ngang dọc rộng bằng rất tráng lệ
Chúng sanh tạp nghiệp ở trong đó
Người tâm thanh tịnh, kẻ làm ác.
Quốc vương trị nước tên Thắng Quang.
Hằng dùng chánh pháp ngự quần sanh
Thái tử của vua tên Thiện Phục
Thân hình đoan chánh đủ tướng tốt.
Bấy giờ, vô lượng người phạm tội
Giam trong ngục tối sẽ hành hình
Thái tử xem thấy lòng xót thương
Tâu lên Phụ vương xin ân xá.
Các quan đại thần tâu Quốc vương
Nay Thái tử này phá vương pháp
Tội nhân như vậy phải gia hình
Thái tử sao lại cầu ân xá.
Thắng Quang quốc vương bảo Thái tử
Nếu cứu tội nhân ngươi phải chết
Thái tử lòng thương càng mạnh hơn
Thề cứu chúng sanh không thối khiếp.
Quốc mẫu phu nhân cùng thể nữ
Đồng đến triều đường tâu Quốc vương
Tạm tha Thái tử trong nửa tháng
Bố thí chúng sanh tạo công đức.
Quốc vương nghe tâu liền chuẩn cho
Lập hội đại thí giúp nghèo thiếu,
Những kẻ khốn cùng đều đến hội
Tùy chỗ nhu cầu đều cấp đủ.
Thấm thoát đến ngày thứ mười lăm
Giờ xử Thái tử đã sắp đến
Đại chúng trăm ngàn muôn ức người
Đồng thời chiêm ngưỡng đều than khóc.
Đức Phật biết chúng căn gần thục
Bèn đến thí hội độ quần sanh
Hiển hiện thần biến đại trang nghiêm
Đại chúng thân cận và cung kính.
Phật dùng nhất âm phương tiện nói
Pháp đăng chiếu khắp những khế kinh
Vô lượng chúng sanh ý nhu nhuyến
Đều được đức Phật thọ ký biệt.

Phần đầu bài kệ chỉ nhắc lại việc tu học như đã nói ở trước, sau đó được đức Phật độ đi tu và thọ ký cho ngài. Đến phần sau mới giải thích thêm.

Thiện Phục thái tử sanh hoan hỷ
Phát khởi tâm Bồ-đề vô thượng
Thệ nguyện kính thờ đức Như Lai
Khắp vì chúng sanh làm chỗ tựa.
Theo Phật xuất gia trì tịnh giới
Tu hành Nhất thiết chủng trí đạo
Bấy giờ bèn được giải thoát này
Đại bi rộng độ các quần sanh.
Trong đó nương ở trải kiếp hải
Xem kỹ các pháp chân thật tánh
Thường ở biển khổ cứu chúng sanh
Như vậy tu tập Bồ-đề đạo.

Sau khi được xuất gia ngài giữ giới, tu hành Nhất thiết chủng trí và được môn giải thoát này. Ngài phát tâm đại bi độ chúng sanh, nương ở trải qua kiếp số nhiều như biển, quán sát thấy rõ thật tánh của các pháp, tuy ở trong biển khổ cứu chúng sanh nhưng lúc nào cũng tu tập đạo Bồ-đề. 

Trong kiếp có những Như Lai hiện
Thảy đều kinh thờ không để sót
Đều dùng tâm tin hiểu thanh tịnh
Lắng nghe, trì, hộ Phật thuyết pháp.
Kế ở Phật sát vi trần số
Vô lượng vô biên những kiếp hải
Bao nhiêu chư Phật hiện thế gian
Mỗi mỗi cúng dường đều như vậy.
Ta nhớ thuở xưa làm thái tử
Thấy các chúng sanh ở lao ngục
Thệ nguyện xả thân để cứu hộ
Nhân đó chứng môn giải thoát này.

Ngài lặp lại nguyện trước, sở dĩ được môn giải thoát này là do xả thân vì chúng sanh.

Trải qua Phật sát vi trần số
Kiếp hải rộng lớn thường tu tập
Niệm niệm khiến họ được tăng trưởng
Lại được vô biên xảo phương tiện.

Những chúng sanh thuở xưa được Bồ-tát cứu thoát, còn được ngài làm cho tăng trưởng đạo Bồ-đề, chứ không phải cứu qua khổ rồi xong, vì vậy sau này họ đều thành Bồ-tát. Ngài là Bồ-tát thì tất cả những người kia cũng là Bồ-tát, cùng gặp nhau trong một pháp hội.

Trong đó có chư Phật Như Lai
Ta điều thấy Phật nhờ khai ngộ
Khiến ta thêm sáng giải thoát này
Và cùng những môn phương tiện lực.
Ta ở vô lượng ngàn ức kiếp
Học môn giải thoát nan tư này
Chư Phật pháp hải không có bờ
Trong nhất thời ta đều uống khắp.
Mười phương đều có tất cả cõi
Thân ta vào khắp không chướng ngại
Tam thế danh hiệu các quốc độ
Niệm niệm biết rõ hết tất cả.
Tam thế có những chư Phật hải
Mỗi mỗi thấy rõ không sót thừa
Cũng hiện được thân tướng Như Lai
Đến khắp chỗ của chư Phật đó.
Lại ở mười phương tất cả cõi
Nơi tất cả chư Phật đạo sư
Khắp mưa tất cả mây trang nghiêm
Cúng dường tất cả Vô thượng giác.
Lại dùng vô biên đại vấn hải
Khải thỉnh tất cả chư Thế Tôn
Đức Phật đã mưa mây diệu pháp
Thảy đều thọ trì không quên mất

Ngài đem những câu hỏi nhiều như biển để thưa hỏi Phật, nhờ vậy mà Phật ban rải mưa pháp không dứt.

Lại ở mười phương vô lượng cõi
Trước tất cả chúng hội Như Lai
Ngồi trên tòa những diệu trang nghiêm
Thị hiện các thứ thần thông lực.
Lại ở mười phương vô lượng cõi
Thị hiện các thứ những thần thông
Một thân thị hiện vô lượng thân
Trong vô lượng thân hiện một thân.
Lại ở trong mỗi mỗi lỗng lông
Đều phóng vô số đại quang minh
Đều dùng nhiều thứ xảo phương tiện
Diệt trừ chúng sanh lửa phiền não.

Kinh Đại thừa luôn mượn hình ảnh để cụ thể hóa cái không hình tướng, chúng ta cần nhận hiểu thật kỹ mới thâm nhập được ý nghĩa sâu xa đó. 

Lửa là phiền não, đại quang minh là trí tuệ. Mỗi lỗ chân lông đều phóng quang minh, để nói trí tuệ của các ngài trùm khắp. Do trí tuệ mới có thể dùng nhiều xảo phương tiện, diệt trừ được lửa phiền não. Nên nói phóng quang minh để diệt lửa phiền não của chúng sanh.

Lại ở trong mỗi mỗi lỗ lông
Xuất hiện vô lượng mây hóa thân
Đầy khắp mười phương các thế giới
Khắp mưa pháp vũ cứu quần phẩm.

Mây hóa thân, tức là hóa thân nhiều, rợp trời như mây. Mưa pháp vũ, nghĩa là giảng kinh thuyết pháp rộng khắp để cứu giúp các loài, như mưa tưới tắm muôn loại cỏ cây. 

Mười phương tất cả những Phật tử
Vào môn giải thoát nan tư này
Đều tận vị lai vô lượng kiếp
An trụ tu hành hạnh Bồ-tát.
Tùy tâm sở thích mà thuyết pháp
Khiến họ đều trừ lưới tà kiến,
Dạy họ thiện đạo và Nhị thừa.
Nhẫn đến tất cả trí Như Lai.
Lưới tà kiến để chỉ cho tà kiến quá nhiều, đan dệt như lưới. Tà kiến hay giam hãm chúng sanh, các ngài an trụ hạnh Bồ-tát để tùy duyên thuyết pháp hóa độ họ.

Tất cả chúng sanh chỗ thọ sanh
Thị hiện vô biên nhiều loại thân
Đều đồng loại họ hiện thân tượng
Ứng khắp tâm họ mà thuyết pháp.
Nếu ai được môn giải thoát này
Thời trụ vô biên biển công đức
Thí như sát hải vi trần số
Chẳng thể nghĩ bàn không số lượng.

Học kinh Đại thừa mà không khéo nhận ra những hình ảnh tượng trưng thì không thể nào hiểu nổi. Biết những hình ảnh đó tượng trưng cho điều gì chúng ta mới thấy kinh Đại thừa rất hay, dùng lối văn cụ thể hóa qua hình ảnh để diễn tả cái siêu hình ảnh. 

Này Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát giáo hóa chúng sanh khiến sanh thiện căn này.

Ngài khuyến khích thêm, về những pháp môn khác thì nên đến hỏi các vị Bồ-tát khác.

Như chư đại Bồ-tát siêu thế gian hiện thân các loài, chẳng trụ phan duyên không có chướng ngại, thấu rõ tự tánh của các pháp, khéo quán sát tất cả pháp được trí vô ngã, chứng pháp vô ngã, giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh hằng không thôi nghỉ, tâm thường an trụ pháp môn vô nhị, vào khắp tất cả biển ngôn từ. Nay ta thế nào biết được nói được biển công đức đó, trí dũng mãnh đó, chỗ tâm hành đó, cảnh tam muội đó, sức giải thoát đó.

Này Thiện nam tử! Diêm-phù-đề này có một viên lâm tên là Lâm-tỳ-ni. Trong vườn ấy có thần tên là Diệu Đức Viên Mãn. Ngươi đến đó hỏi Bồ-tát thế nào tu Bồ-tát hạnh, sanh nhà Như Lai, làm ánh sáng cho đời tận kiếp vị lai mà không nhàm mỏi?

Địa thứ chín là Thiện Tuệ địa. Pháp tu lấy Lực ba-la-mật làm đầu. Đến đây tất cả công hạnh của Bồ-tát sắp được viên mãn, nên vị thần này có tên là Diệu Đức Viên Mãn ở trong vườn Lâm-tỳ-ni. Vườn Lâm-tỳ-ni là nơi đức Phật đản sanh, để nói lên ý nghĩa khi Bồ-tát tu đến địa thứ chín thì lấy công đức thọ sanh làm chỗ nương tựa cho chính mình. Vì vậy phần sau nói về mười tạng thọ sanh, nghĩa là y cứ chỗ đức Phật sanh, lấy đó làm gương cho mình noi theo. 

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Chủ dạ thần, hữu nhiễu vô lượng vòng, chắp tay chiêm ngưỡng từ tạ mà đi. 

Thiện Tài đã được môn Bồ-tát giải thoát nơi Chủ dạ thần Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Hộ Nhất Thiết Chúng Sanh, ghi nhớ tu tập thấu rõ tăng trưởng, đi lần đến vườn Lâm-tỳ-ni tìm thần Diệu Đức Viên mãn. Thấy thần này ở trong lâu các Nhất Thiết Bảo Thọ Trang Nghiêm, ngồi trên tòa sư tử Bảo Liên Hoa, có hai mươi ức na-do-tha chư thiên cung kính vây quanh. Thần Diệu Đức vì chư thiên mà nói kinh Bồ-tát Thọ Sanh Hải, khiến chư thiên đều được sanh nhà Như Lai, thêm lớn biển đại công đức của Bồ-tát. 

Thiện Tài đồng tử từ tạ Chủ dạ thần Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Hộ Nhất Thiết Chúng Sanh, ngài vừa đi vừa tu tập những pháp đã học, rồi tiến tới vườn Lâm-tỳ-ni tìm thần Diệu Đức Viên Mãn. Đến nơi thấy vị thần này đang ở trong lâu các Nhất Thiết Bảo Thọ Trang Nghiêm, ngồi trên tòa sư tử bảo liên hoa nói kinh Bồ-tát Thọ Sanh Hải, có hai mươi ức na-do-tha chư thiên cung kính vây quanh. 

Bồ-tát Thọ Sanh Hải, nghĩa là Bồ-tát đời đời kiếp kiếp thọ sanh như biển. Tại sao ở đây lại chú trọng việc thọ sanh? Bởi nói tới sự thọ sanh là nói đến hóa độ chúng sanh. Mỗi lần Bồ-tát thọ sanh là một lần hóa độ chúng sanh, một lần hóa độ chúng sanh là một lần gây tạo công đức. Cho nên công đức Bồ-tát như biển thì thọ sanh cũng như biển. 

Thiện Tài đến đảnh lễ chân thần Diệu Đức, cung kính chắp tay bạch rằng: 

Đại Thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng Bồ-đề, mà chưa biết được Bồ-tát thế nào tu Bồ-tát hạnh sanh nhà Như Lai làm ánh sáng cho đời?

Ngài hỏi làm sao được sanh vào nhà Như Lai? Bởi vì Bồ-tát đến quả vị thứ chín của Thập địa là sắp bước vào nhà Phật, nên mới hỏi sanh trong nhà Như Lai. Chúng ta đọc lịch sử thấy đức Phật từ cung trời Đâu-suất giáng trần, rồi sanh tại vườn Lâm-tỳ-ni, đó gọi là hình dáng thọ sanh. Lớn lên tu hành thành Phật, tức là Bồ-tát sanh ra một đời rồi được thành Phật, gọi là sanh trong nhà Như Lai.

Thần Diệu Đức đáp:

Này Thiện nam tử! Bồ-tát có mười tạng thọ sanh. Nếu Bồ-tát thành tựu pháp này thời sanh nhà Như Lai, niệm niệm tăng trưởng thiện căn của Bồ-tát, chẳng mỏi, chẳng lười, chẳng nhàm, chẳng thối, không dứt, không mất, rời những mê lầm, chẳng sanh lòng khiếp hèn não hối, đến Nhất thiết trí, nhập môn pháp giới, phát tâm quảng đại, tăng trưởng những ba-la-mật thành tựu vô thượng Bồ-đề, rời thế gian, vào bậc Như Lai, được thắng thần thông, Phật pháp thường hiện tiền, thuận cảnh Nhất thiết trí chân thật.

Người nào đủ mười tạng thọ sanh này, người đó sẽ được sanh trong nhà Như Lai, sẽ thành Như Lai.

Đây là mười tạng thọ sanh của Bồ-tát:

Một là tạng thọ sanh nguyện thường cúng dường tất cả chư Phật.

Hai là tạng thọ sanh phát Bồ-đề tâm.

Ba là tạng thọ sanh quán các pháp môn siêng tu hành.

Bốn là tạng thọ sanh dùng tâm thanh tịnh chiếu khắp tam thế.

Năm là tạng thọ sanh bình đẳng quang minh.

Sáu là tạng thọ sanh sanh nhà Như Lai.

Bảy là tạng thọ sanh Phật lực quang minh.

Tám là tạng thọ sanh quán môn phổ trí.

Chín là tạng thọ sanh khắp hiện trang nghiêm.

Mười là tạng thọ sanh nhập Như Lai địa.

Này Thiện nam tử! Thế nào là tạng thọ sanh nguyện thường cúng dường tất cả chư Phật?

Lúc Bồ-tát sơ phát tâm phát nguyện như vầy: Tôi phải tôn trọng cung kính cúng dường tất cả chư Phật, thấy Phật không nhàm, ở chỗ chư Phật thường mến ưa, thường tin sâu chắc, tu những công đức không thôi nghỉ.

Bồ-tát sơ phát tâm phát nguyện cúng dường Phật khác hơn cách cúng dường của chúng ta. Chúng ta cúng Phật cơm nước hoa quả v.v... còn Bồ-tát cúng dường Phật tâm tôn trọng cung kính tất cả chư Phật, thấy Phật không nhàm, ở chỗ Phật thường mến ưa, thường tin sâu chắc, tu những công đức không thôi nghỉ... Như vậy cúng dường của Bồ-tát không phải chỉ ở bên ngoài mà các ngài luôn hướng về nội tâm, thấy được Phật tánh, nguyện không rời Phật tánh, không bao giờ nhàm lìa Phật tánh, y theo Phật tánh khởi công đức tu hành. Đó gọi là Bồ-tát sơ phát tâm.

Này Thiện nam tử! Thế nào là tạng thọ sanh phát Bồ-đề tâm?

Bồ-tát này phát tâm vô thượng Bồ-đề, những là phát khởi tâm đại bi vì cứu hộ tất cả chúng sanh; phát tâm cúng dường Phật, vì rốt ráo kính thờ; khởi tâm cầu khắp chánh pháp, vì tất cả không lẫn tiếc, khởi tâm quảng đại xu hướng, vì cầu Nhất thiết trí. 

Chúng ta phát tâm trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh. Nhưng ở đây dạy chúng ta lấy từ bi làm nền tảng cho bước đầu phát tâm. Trước hết phải khởi tâm đại bi cứu hộ chúng sanh, kế phát tâm cúng dường Phật, đến cầu pháp, rồi khởi tâm quảng đại hướng về Nhất thiết trí. 

Khởi tâm từ vô lượng, vì nhiếp khắp chúng sanh; khởi tâm chẳng bỏ tất cả chúng sanh, vì mặc giáp kiên thệ cầu Nhất thiết trí; khởi tâm không siểm cuống, vì được như thật trí; khởi tâm làm đúng như lời, vì tu Bồ-tát đạo. 

Vì muốn được Nhất thiết trí, nên không dối gạt ai. Khởi tâm làm đúng như lời, vì tu Bồ-tát đạo. Việc làm này rất khó. Tại sao? Bởi chúng ta khuyên dạy Phật tử điều này điều kia thì dễ, nhưng làm đúng như lời mình nói ra thì không dễ. Thí dụ một vị trụ trì lên giảng về từ bi nhẫn nhục rất hay, nhưng khi gặp việc phật lòng liền nổi sân, Phật tử phải khuyên lại thầy. Như vậy lời nói và hành động không giống nhau. Lời nói và hành động đi đôi không phải dễ, chúng ta dạy Phật tử tu tập hạnh bố thí, nhẫn nhục nhưng mình không bố thí, nhẫn nhục. Bồ-tát tâm hạnh tương ưng, lời nói và việc làm của các ngài luôn đúng như nhau, còn chúng ta nghĩ một đàng, nói một ngả, làm một nơi, không cái nào dính cái nào. Đó là do việc tu hành của mình chưa đến chỗ khế hợp. 

Khởi tâm chẳng dối chư Phật, vì thủ hộ đại thệ nguyện của Phật. 

Có người tu nào dám dối Phật không? Gạt chúng sanh thì dám gạt chứ đối với Phật đâu ai dám gạt. Thế mà thỉnh thoảng chúng ta cũng dối gạt Phật. Như khi thọ giới chúng ta hứa nguyện giữ giới trước Phật, nhưng thỉnh thoảng cũng phạm. Hứa mà không giữ tức là dối Phật. Hoặc khi chúng ta phát tâm tu hành, phát nhiều thệ nguyện với Phật, nhưng tu ít năm nguyện phai lạt dần rồi mất hẳn. Khi phát nguyện thì mạnh mẽ lúc làm lại quên, đó là dối Phật. 

Vì thủ hộ đại thệ nguyện của Phật, nên chẳng dối Phật. Khi tu chúng ta hứa nguyện điều gì thì phải ráng nhớ và giữ cho trọn vẹn, được vậy mới không dối gạt Phật. 

Khởi tâm nguyện Nhất thiết trí, vì tận vị lai giáo hóa chúng sanh không thôi dứt. Bồ-tát dùng công đức của Phật sát vi trần số Bồ-đề tâm như vậy được sanh nhà Như Lai.

Nguyện được Nhất thiết trí vì muốn giáo hóa chúng sanh không thôi nghỉ. Đó là tạng thọ sanh phát Bồ-đề tâm.

Này Thiện nam tử! Thế nào là tạng thọ sanh quán các pháp môn siêng tu hành?

Đại Bồ-tát này phát khởi tâm quán tất cả pháp môn hải, phát khởi tâm hồi hướng Nhất thiết trí viên mãn đạo, phát khởi tâm chánh niệm không nghiệp lỗi lầm, phát khởi tâm tất cả Bồ-tát tam-muội hải thanh tịnh, phát khởi tâm tu thành công đức của tất cả Bồ-tát, phát khởi tâm trang nghiêm tất cả đạo Bồ-tát, phát khởi tâm cầu Nhất thiết trí hạnh đại tinh tấn tu các công đức như kiếp hỏa lẫy lừng không thôi dứt, phát khởi tâm tu hạnh Phổ Hiền giáo hóa chúng sanh. Phát khởi tâm khéo học tất cả oai nghi, tu công đức của Bồ-tát bỏ lìa tất cả sở hữu an trụ nơi chân thật vô sở hữu.

Ở đây nói phát khởi tâm cầu Nhất thiết trí hạnh đại tinh tấn tu các công đức như kiếp hỏa lẫy lừng không thôi dứt, nghĩa là sao? Kiếp hỏa là khi thế giới sắp hoại kiếp hỏa cháy hừng hực không thể chữa được. Tất cả cây cối, núi sông đều khô hết. Cũng vậy, chúng ta tu hành phát tâm tinh tấn cầu Nhất thiết trí, phải mạnh mẽ như kiếp hỏa cháy lẫy lừng thì mới thành tựu được. 

Phát khởi tâm tu hạnh Phổ Hiền giáo hóa chúng sanh, tức là phát khởi tâm dùng Sai biệt trí mà giáo hóa tất cả chúng sanh. 

Phát khởi tâm khéo học tất cả oai nghi, tức là bao nhiêu oai nghi của chư Bồ-tát đều học hết. 

Tu công đức của Bồ-tát, xa lìa tất cả sở hữu, an trụ nơi chân thật. Tất cả cảnh thuộc về hữu vi trong tam giới đều gọi là sở hữu, còn các pháp vô vi chân thật bất sanh bất diệt gọi là vô sở hữu. Không dính mắc, không trụ trước nơi cảnh hữu vi, tâm luôn luôn an trụ nơi vô vi bất động, gọi là chân thật vô sở hữu. Tuy trụ nơi vô vi bất động mà tùy duyên ứng hóa cứu độ chúng sanh, đó là chỗ đặc biệt của Bồ-tát. 

Này Thiện nam tử! Thế nào là tạng thọ sanh dùng tâm thanh tịnh chiếu khắp tam thế?

Đại Bồ-tát này đủ tâm thanh tịnh tăng thượng được ánh sáng Bồ-đề của Như Lai, nhập biển phương tiện của Bồ-tát, tâm họ kiên cố như kim cang trái bỏ tất cả loài sanh các cõi, thành tựu tất cả sức tự tại của Phật, tu hạnh thù thắng, đủ căn Bồ-tát, tâm sáng sạch, nguyện lực bất động, thường được chư Phật hộ niệm, phá hoại tất cả núi chướng ngại, khắp vì chúng sanh làm chỗ sở y.

Nói trái bỏ tất cả loài sanh các cõi, như vậy là không độ sanh hay sao? Bởi do Bồ-tát đầy đủ tâm thanh tịnh, không chứa những nghiệp cấu sanh tử trong các loài, nên gọi trái bỏ. Thuần chứa công đức thanh tịnh, nên nói thành tựu tất cả sức tự tại của Phật. Đó là tạng thọ sanh dùng tâm thanh tịnh chiếu khắp tam thế.

Này Thiện nam tử! Thế nào là tạng thọ sanh quang minh bình đẳng?

Đại Bồ-tát này đầy đủ công hạnh hóa độ khắp chúng sanh, tất cả sở hữu đều có thể bỏ, an trụ nơi cảnh giới hạnh thanh tịnh rốt ráo của Phật, đầy đủ pháp nhẫn, thành tựu quang minh pháp nhẫn của Phật, dùng đại tinh tấn đến Nhất thiết trí, đến nơi bỉ ngạn, tu tập các môn thiền được phổ môn định, tịnh trí viên mãn, dùng trí tuệ nhật chiếu rõ các pháp, được vô ngại nhãn thấy biển chư Phật, ngộ nhập tất cả pháp tánh chân thật, tất cả thế gian người thấy hoan hỷ, khéo tu tập được pháp môn như thật.

Bồ-tát khi phát nguyện hóa độ chúng sanh thì tất cả sở hữu đều bỏ, an trụ cảnh giới thanh tịnh rốt ráo của Phật, thành tựu pháp nhãn của Phật, tinh tấn để được Nhất thiết trí v.v... Đó là tạng thọ sanh quang minh bình đẳng. 

Này Thiện nam tử! Thế nào gọi là thọ sanh tạng sanh nhà Như Lai?

Đại Bồ-tát này sanh nhà Như Lai, theo chư Phật mà an trụ, thành tựu tất cả pháp môn thậm thâm, đủ đại nguyện thanh tịnh của tam thế chư Phật, được đồng một thiện căn với tất cả chư Phật, cùng một thể tánh với chư Như Lai, đủ hạnh xuất thế pháp lành bạch tịnh, an trụ pháp môn công đức quảng đại, nhập những tam-muội thấy thần lực của Phật, tùy chỗ đáng hóa độ mà tịnh trị chúng sanh, đáp đúng lời hỏi, biện tài vô tận.

Sanh trong nhà Như Lai tức là an trụ chỗ của chư Phật, đầy đủ tất cả những sở nguyện, đồng thiện căn với ba đời chư Phật. Bồ-tát đến đây đã thể nhập pháp thân, công đức gần viên mãn nên nói đồng thể tánh Như Lai. Đủ những hạnh xuất thế, tùy chỗ đáng hóa độ mà tịnh trị chúng sanh, tức là dẹp hết phiền não chúng sanh khiến cho tâm họ được thanh tịnh. Dùng biện tài vô tận, chúng sanh hỏi điều gì thì đáp đúng như vậy. Đó gọi là thọ sanh tạng sanh nhà Như Lai. 

Này Thiện nam tử! Thế nào là thọ sanh tạng Phật lực quang minh?

Đại Bồ-tát này thâm nhập Phật lực, du hành các Phật độ lòng không thối chuyển, cúng dường thừa sự chúng hội Bồ-tát không có mỏi nhàm, rõ tất cả pháp đều như huyễn mà sanh khởi, biết các thế gian như cảnh trong mộng, tất cả sắc tướng dường như quang ảnh, thần thông hiện ra đều như biến hóa, tất cả thọ sanh đều như bóng, chư Phật thuyết pháp đều như tiếng vang nơi hang núi, khai thị pháp giới đều rốt ráo.

Thọ sanh tạng Phật lực quang minh tức là thọ sanh trong ánh sáng trí tuệ của Phật. Đến chỗ này Bồ-tát thâm nhập Phật lực, khởi tâm du hành các cõi Phật không thối chuyển, cúng dường thừa sự Phật không nhàm mỏi. Dùng ánh sáng trí tuệ soi thấy tất cả pháp đều như huyễn nên không trụ pháp, thấy cảnh thế gian là mộng nên không nhiễm thế gian, thấy sắc tướng là quang ảnh nên không mê sắc tướng, thấy thần thông như biến hóa nên không mắc kẹt vào thần thông, thấy việc thọ sanh như bóng chẳng thật nên không chán thọ sanh, thấy Phật thuyết pháp như tiếng vang, nên không chấp pháp... 

Đây là sự khai thị rốt ráo khiến cho chúng ta thâm nhập được pháp giới cứu cánh. Chúng ta muốn tiến tới Phật quả phải có cái nhìn như vậy. Nếu giờ phút nào cũng nhìn thấy tất cả các pháp đúng như vậy thì chúng ta sẽ luôn luôn tỉnh giác. Bởi vì cái thấy đó có quang minh của chư Phật, còn dính mắc là cái nhìn của chúng sanh. Lục Tổ nói “niệm trước mê là chúng sanh, niệm sau giác là Phật”. Nhìn thấy các pháp sanh tâm nhiễm ô, thấy cái gì cũng thật, đó là niệm chúng sanh. Thấy tất cả thế gian không thật, không nhiễm trước, đó là Phật lực quang minh. Như vậy làm Phật hay làm chúng sanh chỉ trong một tâm niệm. Ngày nào tâm niệm chúng sanh nhiều thì biết ngày đó là chúng sanh, tâm niệm tỉnh giác nhiều thì biết đã tiến lên gần Phật. 

Người tu luôn thấy tất cả các pháp như huyễn hóa, cho đến nghe Phật nói pháp cũng như huyễn hóa thì mới tiến tới chỗ giác ngộ được. Thông thường nơi các pháp thế gian chúng ta quán thấy là giả, nhưng đối với pháp Phật nói thì cho đó là thật, thành ra chấp vào pháp. Chấp pháp vẫn là bệnh, khác nào người đi bè qua sông, lên bờ rồi vác luôn chiếc bè theo bên mình. 

Như trường hợp ngài Pháp Dung, khi thấy Tứ Tổ vẽ chữ Phật trên tảng đá ngồi thiền, ngài hốt hoảng không dám ngồi. Vì chúng ta đã quen theo quan niệm cung kính đức Phật. Cung kính Phật rất có phước, nhưng đến chỗ cứu cánh thì phải nhận ra Phật sống ngay chính mình, giấy mực chỉ là những hình ảnh văn tự bên ngoài. Tứ Tổ biết tâm hạnh của ngài Pháp Dung gần thuần thục, nên khéo léo dẹp trừ pháp chấp xoay trở về Phật thật của mỗi người.

Ngài Đơn Hà cũng vậy, vì muốn phá chấp hình tướng giả huyễn bên ngoài của viện chủ, nên ngài đốt tượng Phật. Những việc làm này của các ngài, chỉ cốt giúp cho người học nhận ra Phật thật nơi mình mà thôi. Vì vậy khi giáo hóa chúng sanh, chúng ta phải biết lúc nào nên giữ hình thức bên ngoài, lúc nào nên soi lại cái bên trong. 

Đối với người sơ cơ chưa biết gì, chúng ta không thể nói tượng Phật đó là gỗ, là xi-măng... không có giá trị đừng kính trọng. Nói như vậy là có tội, vì khinh thường đức Phật, vì làm cho người mất tâm cung kính Phật. Nhưng với người tâm ý đã thuần thục mà còn kẹt vào pháp chấp thì phải dùng phương tiện để dẹp trừ, rồi chỉ cho họ nhận được Phật thật. Chúng ta nói pháp dạy người, không nên chấp vào một mặt mà phải biết được căn cơ của người học đang ở trình độ nào, để chỉ dạy cho phù hợp. Nếu người đang kẹt vào Phật bên ngoài, mình lại ca ngợi hình tướng bên ngoài nữa thì bệnh càng thêm bệnh. Cho nên ở trên nói đáp đúng lời hỏi là vậy. 

Bồ-tát tu tới đệ cửu địa là sắp vào quả vị Phật, các ngài sống với Phật tánh thanh tịnh không còn mắc kẹt hình tướng bên ngoài nữa, vì vậy lúc nào cũng nhìn thấy tất cả pháp, cho đến lời Phật nói thảy đều như huyễn không thật. Đó là thọ sanh tạng Phật lực quang minh của Bồ-tát.

Này Thiện nam tử! Thế nào tạng thọ sanh quán môn phổ trí? 

Đại Bồ-tát này trụ đồng chân vị quán Nhất thiết trí, mỗi mỗi trí môn tận vô lượng kiếp, khai diễn sở hành của tất cả Bồ-tát, nơi tam muội thậm thâm của chư Bồ-tát, tâm được tự tại, niệm niệm sanh chỗ chư Như Lai trong thế giới mười phương, nơi cảnh có sai biệt nhập định vô sai biệt, nơi pháp vô sai biệt hiện trí có sai biệt.

Nơi cảnh có sai biệt nhập định vô sai biệt, nghĩa là trước tất cả cảnh sai khác nhau mà tâm vẫn như như, không có niệm sai biệt. 

Nơi pháp vô sai biệt hiện trí có sai biệt, tức là ngay nơi tâm như như mà tùy nhu cầu của chúng sanh nên khởi trí sai biệt để giáo hóa họ. Theo tinh thần Bát-nhã thì nơi cảnh có sai biệt nhập vô sai biệt là sắc tức thị không, nơi pháp vô sai biệt hiện trí có sai biệt là không tức thị sắc. Đây là chỗ thiết yếu của người tu. 

Nơi vô lượng cảnh biết không cảnh giới, nơi cảnh giới ít, nhập cảnh vô lượng, thông đạt pháp tánh rộng lớn không ngằn mé, biết các thế gian đều là giả thi thiết, tất cả đều là thức tâm phát khởi.

Trên sắc biết là không, nơi một biết là nhiều, thấu suốt tất cả thế gian đều giả lập, do vọng thức sanh khởi, hoàn toàn không thật có. 

Này Thiện nam tử! Thế nào là tạng thọ sanh khắp hiện trang nghiêm?

Đại Bồ-tát này có thể nhiều cách trang nghiêm vô lượng cõi Phật, có thể khắp hóa hiện tất cả chúng sanh và những thân Phật được vô sở úy, diễn pháp thanh tịnh châu lưu pháp giới không chướng ngại, tùy tâm sở thích khiến thấy biết tất cả, thị hiện những hạnh thành Bồ-đề, khiến sanh đạo Nhất thiết trí vô ngại, việc làm như vậy chẳng lỗi thời, mà thường ở nơi tạng tam muội Tỳ-lô-giá-na trí tuệ.

Tất cả những sự ứng hiện vì làm lợi ích chúng sanh không lỗi thời, hằng trụ trong pháp thân trí tuệ. 

Này Thiện nam tử! Thế nào là tạng thọ sanh nhập Như Lai địa?

Đại Bồ-tát này đều thọ pháp quán đảnh ở chỗ chư Phật tam thế, biết khắp tất cả cảnh giới thứ đệ, nghĩa là biết tất cả chúng sanh thứ đệ thọ sanh ở tiền tế hậu tế, biết chư Bồ-tát tu hành thứ đệ, biết tâm niệm thứ đệ của tất cả chúng sanh, biết tam thế Như Lai thành Phật thứ đệ, biết phương tiện thuyết pháp thiện xảo thứ đệ, cũng biết tất cả sơ tế, trung tế, hậu tế có bao nhiêu kiếp hoặc thành hoặc hoại danh hiệu thứ đệ. Tùy những chúng sanh chỗ đáng hóa độ vì hiện thành đạo công đức trang nghiêm, thần thông thuyết pháp phương tiện điều phục.

Tang thọ sanh nhập Như Lai địa, tức là vào chỗ Như Lai. 

Biết phương tiện thuyết pháp thiện xảo thứ đệ, nghĩa là Bồ-tát thuyết pháp biết phương tiện khéo léo, nên theo thứ lớp mà dẫn dắt chúng sanh. Như đoạn trước đã nói, người trình độ nào thì Bồ-tát chỉ dạy phù hợp trình độ ấy, không lỗi thời, không sai lầm. Như vậy sự giáo hoá mới viên mãn.

Này Thiện nam tử! Nếu Đại Bồ-tát nơi mười pháp này tu tập tăng trưởng viên mãn thành tựu, thời có thể ở trong một trang nghiêm hiện nhiều thứ trang nghiêm. Như vậy trang nghiêm tất cả quốc độ, khai ngộ tất cả chúng sanh, tận vị lai kiếp không thôi dứt, diễn nói tất cả Phật pháp, những cảnh giới, những thành thục, xoay vần truyền đến vô lượng pháp, hiện bất tư nghì Phật tự tại lực sung mãn tất cả hư không pháp giới, ở trong biển tâm hành của các chúng sanh mà chuyển pháp luân, thị hiện thành Phật ở tất cả thế giới hằng không gián đoạn, dùng bất khả thuyết ngôn âm thanh tịnh để nói tất cả pháp, trụ vô lượng xứ thông đạt vô ngại, dùng tất cả pháp trang nghiêm đạo tràng, tùy các chúng sanh dục giải sai biệt mà hiện thành Phật, khai thị vô lượng pháp tạng thậm thâm, giáo hóa thành tựu tất cả thế gian.

Lâm-tỳ-ni Lâm thần muốn tuyên lại nghĩa này, dùng Phật thần lực quán sát khắp mười phương mà nói kệ rằng:

Tâm thanh tịnh ly cấu tối thượng

Thấy tất cả Phật không nhàm đủ

Nguyện tận vị lai thường cúng dường

Là tạng thọ sanh của bậc trí.

Trong tất cả tam thế quốc độ

Có những chúng sanh và chư Phật

Đều nguyện độ thoát, hằng kính thờ

Là tạng thọ sanh bậc nan tư.

Nghe pháp không nhàm thích quán sát

Ở khắp tam thế không chướng ngại

Thân tâm thanh tịnh như hư không

Là tạng thọ sanh bậc danh xưng.

Tâm đó hằng trụ biển đại bi

Cứng như kim cang và bảo sơn

Thấu tỏ tất cả những trí môn

Là tạng thọ sanh bậc tối thắng.

Đại từ trùm khắp ở tất cả

Diệu hạnh thường tăng biển các độ

Dùng pháp quang minh chiếu mọi loài

Là tạng thọ sanh bậc hùng mãnh.

Tỏ thấu pháp tánh tâm vô ngại

Sanh ở nhà chư Phật tam thế

Vào khắp biển pháp giới mười phương

Là tạng thọ sanh bậc minh trí.

Pháp thân thanh tịnh tâm vô ngại

Đến khắp mười phương các quốc độ

Tất cả Phật lực đều được thành

Là tạng thọ sanh bất tư nghì.

Vào trí tuệ sâu đã tự tại

Nơi các tam-muội cũng rốt ráo

Quán môn Nhất thiết trí như thật

Là tạng thọ sanh bậc chân thân.

Tịnh trị tất cả những Phật độ

Siêng tu pháp khắp hóa chúng sanh

Hiển hiện Như Lai sức tự tại

Là tạng thọ sanh bậc đại danh.

Lâu đã tu hành đại trí tuệ

Mau xu nhập được bậc Như Lai

Biết rõ pháp giới đều vô ngại

Là tạng thọ sanh của Phật tử.

Bài kệ này chỉ lặp lại ý trước, để nói lên công dụng của Bồ-tát khi được mười tạng thọ sanh như trên.

Này Thiện nam tử! Bồ-tát đủ mười pháp này thời sanh nhà Như Lai, làm quang minh thanh tịnh của tất cả thế gian. Ta từ vô lượng kiếp đến nay được môn giải thoát thọ sanh tự tại này.

Thiện Tài thưa: 

Bạch đức Thánh! Cảnh giới của môn giải thoát này thế nào?

Lâm thần nói: 

Này Thiện nam tử! Trước kia ta phát nguyện, nguyện lúc tất cả Bồ-tát thị hiện thọ sanh đều được thân cận. Nguyện nhập biển vô lượng thọ sanh của Tỳ-lô-giá-na Như Lai. Do nguyện lực thuở xưa ấy, nên nay ta sanh nơi vườn Lâm-tỳ-ni trong thế giới này, chuyên nghĩ tưởng Bồ-tát lúc nào hạ sanh? Qua một trăm năm quả nhiên Thế Tôn từ trời Đâu-suất đản sanh tại đây. Lúc ấy, vườn Lâm-tỳ-ni này hiện mười tướng:

Một là trong vườn này mặt đất bỗng nhiên bằng phẳng không còn hầm hố gò nổng.

Hai là kim cang làm đất, các báu trang nghiêm, không có ngói sạn gai gốc.

Ba là cây bảo đa-la bày hàng giáp vòng, rễ sâu đến thủy tế.

Bốn là những chồi hương mọc lên, những hương tạng hiện ra, cây bảo hương tàng to rậm rợp, mùi thơm đều hơn thiên hương.

Năm là những tràng hoa đẹp, đồ bảo trang nghiêm thành hàng đầy khắp mọi nơi.

Sáu là trong vườn có bao nhiêu cây đều tự nhiên nở hoa ma-ni bảo.

Bảy là trong những ao hồ đều mọc hoa đầy mặt nước.

Tám là cõi Sắc, cõi Dục của Ta-bà thế giới, tất cả hàng thiên, long, bát bộ, các quốc vương đều hội đến vườn Lâm-tỳ-ni này đứng chắp tay.

Chín là trong thế giới này có bao nhiêu thiên nữ, nhẫn đến ma-hầu-la-già nữ đều rất hoan hỷ, tay cầm những đồ cúng dường cung kính đứng hướng về phía cây vô ưu.

Mười là chư Phật mười phương, nơi rốn đều phóng quang minh tên là Bồ-tát thọ sanh tự tại đăng chiếu sáng khắp khu vườn này. Trong mỗi quang minh đều hiện chư Phật thọ sanh, đản sanh, thần biến, và công đức thọ sanh của tất cả Bồ-tát. Lại phát ra những ngôn âm của chư Phật.

Trên đây là mười thoại tướng trong vườn Lâm-tỳ-ni. Lúc mười thoại tướng này hiện ra, các thiên vương liền biết sẽ có Bồ-tát hạ sanh. Thấy thoại tướng, ta hoan hỷ vô lượng.

Này Thiện nam tử! Lúc Ma-da phu nhân ra khỏi thành Ca-tỳ-la đi vào khu vườn này, lại hiện mười quang minh thoại tướng, khiến các chúng sanh được pháp quang minh. Đây là mười thoại tướng quang minh: 

Quang minh của tất cả tạng bảo hoa, quang minh của tạng bảo hương, quang minh của bảo liên hoa khai diễn âm thanh vi diệu chân thật, quang minh của thập phương Bồ-tát sơ phát tâm, quang minh của tất cả Bồ-tát được nhập chư địa mà hiện thần biến, quang minh của tất cả Bồ-tát tu ba-la-mật viên mãn trí, quang minh đại nguyện trí của tất cả Bồ-tát, quang minh phương tiện trí của tất cả Bồ-tát giáo hóa chúng sanh, quang minh chân thật trí của tất cả Bồ-tát chứng pháp giới, quang minh của tất cả Bồ-tát được Phật tự tại thọ sanh xuất gia thành Chánh giác. Mười quang minh này chiếu khắp tâm của vô lượng chúng sanh.

Đoạn này nói về tiền thân của vị thần và những điều mà vị thần này thấy khi đức Phật giáng sanh.

Này Thiện nam tử! Lúc Ma-da phu nhân ngồi dưới cây vô ưu lại hiện mười thứ thần biến của Bồ-tát sắp đản sanh:

Lúc Bồ-tát sắp đản sanh, chư thiên cõi Sắc, và cõi Dục, chư thiên tử, thiên nữ, chư long, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, cùng quyến thuộc, vì để cúng dường nên đều vân tập.

Ma-da phu nhân oai đức thù thắng, các lỗ lông nơi thân đều phóng quang minh chiếu khắp Đại thiên thế giới không chướng ngại, chói lấn tất cả quang minh khác, diệt trừ tất cả phiền não và khổ ác đạo. Đây là thần biến thứ nhất của Bồ-tát lúc sắp đản sanh.

Lúc ấy, trong bụng của Ma-da phu nhân đều hiện tất cả hình tượng của Đại thiên thế giới, trong trăm ức Diêm-phù-đề những đô ấp, vườn rừng, danh hiệu riêng khác đều có Ma-da phu nhân ở và thiên chúng vây quanh, đều hiển hiện tướng thần biến bất tư nghì của Bồ-tát sắp đản sanh. Đây là tướng thứ hai. 

Tất cả lỗ lông nơi thân của Ma-da phu nhân đều hiện cảnh tượng thuở xưa lúc Bồ-tát tu hành công hạnh cúng dường cung kính chư Phật và nghe tiếng nói pháp của chư Phật như ảnh tượng hiện rõ trong gương sáng. Đây là thần biến thứ ba của Bồ-tát lúc sắp đản sanh. 

Lại trong mỗi lỗ lông nơi thân của Ma-da phu nhân đều hiện thuở xưa lúc Bồ-tát tu Bồ-tát hạnh, ở thế giới, thành ấp, tụ lạc, núi rừng, sông biển, chúng sanh, kiếp số, gặp Phật xuất thế, nhập tịnh quốc độ, y chỉ thiện tri thức, tu hành pháp lành, thọ mạng dài vắn, Ma-da phu nhân thường là sanh mẫu của Bồ-tát. Đây là thần biến thứ tư của Bồ-tát lúc sắp đản sanh.

Lại trong mỗi lỗ lông của Ma-da phu nhân hiển hiện thuở xưa lúc Bồ-tát tu Bồ-tát hạnh, tùy sanh tại xứ nào, hình mạo sắc tướng, y phục ăn uống, những sự khổ vui đều hiện rõ ràng. Đây là thần biến thứ năm của Bồ-tát lúc sắp đản sanh.

Lại trong mỗi lỗ lông của Ma-da phu nhân đều hiện thuở xưa lúc Bồ-tát tu hạnh bố thí, xả thí cả những vật khó xả như đầu, mắt, tai, mũi, môi, lưỡi, răng, tay, chân, máu, thịt, gân, xương, vợ, con, thành ấp, cung điện, y phục, anh lạc, vàng bạc, châu báu. Cũng thấy hình mạo của những người thọ thí và chỗ nơi của họ. Đây là thần biến thứ sáu của Bồ-tát lúc sắp đản sanh. Lúc Ma-da phu nhân đi vào khu vườn này, thời khu vườn này hiện khắp tất cả chư Phật quá khứ lúc nhập mẫu thai, cõi nước nơi chỗ, y phục, tràng hoa, hương thoa, hương bột, phan cái, đồ trang nghiêm, kỹ nhạc ca ngâm âm thanh thượng diệu, làm cho chúng sanh đều được nghe thấy. Đây là thần biến thứ bảy của Bồ-tát sắp đản sanh.

Lúc Ma-da phu nhân vào vườn này, từ nơi thân của phu nhân xuất hiện cung điện lâu các Ma-ni vương hơn hẳn tất cả cung điện của thiên, long, bát bộ và cung điện của Nhân vương. Cung điện Ma-ni vương này có lưới báu giăng phía trên, hương thơm ngào ngạt, các báu trang nghiêm, trong ngoài nghiêm tịnh, chẳng tạp loạn, bao khắp cả vườn Lâm-tỳ-ni. Đây là thần biến thứ tám của Bồ-tát sắp đản sanh.

Lúc Ma-da phu nhân vào vườn này, từ nơi thân của phu nhân xuất hiện mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na-do-tha Phật sát vi trần số Bồ-tát. Những Bồ-tát này, thân hình dung mạo, tướng hảo quang minh, oai nghi đi đứng, thần thông, quyến thuộc đều đồng như Tỳ-lô-giá-na Bồ-tát, tất cả đồng thời tán thán Như Lai. Đây là thần biến thứ chín của Bồ-tát sắp đản sanh

Lúc Ma-da phu nhân sắp đản sanh Bồ-tát, ở trước mặt phu nhân bỗng từ kim cang tế mọc lên hoa sen lớn tên là Nhất Thiết Bảo Trang Nghiêm Tạng, kim cang làm cọng, các báu làm tua, như ý châu vương làm đài, có Phật sát vi trần số cánh, tất cả đều bằng châu ma-ni. Lưới báu, lọng báu che phía trên. Tất cả thiên vương cầm giữ. Tất cả long vương mưa hương vũ. Tất cả dạ-xoa vương cung kính rải thiên hoa. Tất cả càn-thát-bà vương dùng âm thanh vi diệu ca ngợi công đức của Bồ-tát thuở xưa cúng dường chư Phật. Tất cả a-tu-la vương bỏ tâm kiêu mạn mà cúi đầu kính lễ. Tất cả ca-lâu-la vương thòng phan báu khắp hư không. Tất cả khẩn-na-la vương hoan hỷ chiêm ngưỡng ca ngâm khen ngợi công đức của Bồ-tát. Tất cả ma-hầu-la-già vương đều hoan hỷ tán thán mưa tất cả mây bảo trang nghiêm. Đây là thần biến thứ mười của Bồ-tát sắp đản sanh. 

Này Thiện nam tử! Vườn Lâm-tỳ-ni thị hiện mười thần biến như vậy rồi, sau đó Bồ-tát đản sanh, như mặt nhật hiện ra nơi hư không. Như mây lành hiện ở đảnh núi cao. Như làn chớp sáng giữa cụm mây dầy. Như ngọn đuốc sáng lớn giữa đêm tối.

Bấy giờ, Bồ-tát từ hông bên hữu của phu nhân mà đản sanh, thân tướng quang minh đủ các tướng hảo.

Này Thiện nam tử! Lúc đó dầu hiện sơ sinh, nhưng Bồ-tát đã tỏ thấu tất cả pháp như mộng, như huyễn, như ảnh, như tượng, không đến không đi, chẳng sanh chẳng diệt.

Đồng thời ta cũng thấy đức Bồ-tát ở vô lượng cõi Phật trong mỗi vi trần của Đại thiên thế giới, cũng thấy đức Bồ-tát ở vô lượng cõi Phật trong mỗi vi trần của trăm thế giới, ngàn thế giới, nhẫn đến tất cả thế giới mười phương thị hiện sơ sanh những sự thần biến giống như hiện thấy tại vườn Lâm-tỳ-ni này, niệm niệm thường không gián đoạn.

Trong đây nói Ma-da phu nhân ngồi dưới cây vô ưu hiện mười thứ thần biến của Bồ-tát sắp đản sanh. Có kỳ lạ không, điều này chúng ta phải hiểu thế nào? 

Ma-da phu nhân ở đây diễn tả không phải là một người đàn bà tầm thường vợ vua Tịnh Phạn, không phải Bồ-tát, cũng không phải Phật, mà chính là chỉ cho pháp thân, đức Phật là hóa thân. Hóa thân từ pháp thân sanh ra, nên nói mỗi lỗ chân lông đều phóng hào quang... Đây là cái thấy của Bồ-tát Cửu địa chứ không phải thấy theo phàm phu như chúng ta. Bồ-tát thấy chỗ sanh ra Phật ấy là pháp thân, mỗi pháp thân mới sanh ra vô lượng hóa thân của Phật. Tất cả chư Phật và chư Bồ-tát đều từ đây mà sanh. 

Thiện tài thưa:

Bạch đức Thánh! Ngài được môn giải thoát này được bao lâu?

Lâm thần nói:

Này Thiện nam tử! Thuở xưa quá ức Phật sát vi trần số kiếp, có kiếp tên là Duyệt Lạc, thế giới tên là Phổ Bảo. Có tám mươi na-do-tha Phật xuất hiện trong đó. Tối sơ Phật hiệu là Tự Tại Công Đức Tràng. Trong thế giới Phổ Bảo có tứ thiên hạ tên là Diệu Quang Trang Nghiêm. Trong Diêm-phù-đề có một vương đô tên là Tu-di Trang Nghiêm Tràng, Quốc vương tên là Bảo Diệm Nhãn, phu nhân tên là Hỷ Quang. Chính Hỷ Quang phu nhân là sinh mẫu của đức Tự Tại Công Đức Tràng Như Lai.

Lúc phu nhân sắp đản sanh Bồ-tát, cùng hai mươi ức na-do-tha thể nữ đến vườn Kim Hoa. Trong vườn có lầu tên là Diệu Bảo Phong, cạnh lầu có cội cây tên là Nhất Thiết Thí. Phu nhân Hỷ Quang vói vịn nhánh cây Nhất Thiết Thí mà đản sanh Bồ-tát. Chư thiên vương đem nước thơm đến tắm gội Bồ-tát. Tắm xong, chư thiên vương trao Bồ-tát cho nhũ mẫu Tịnh Quang. Nhũ mẫu lãnh bồng Bồ-tát, lòng rất hoan hỷ liền được Bồ-tát phổ nhãn tam-muội. Được tam-muội này, nhũ mẫu thấy vô lượng chư Phật mười phương. Nhũ mẫu lại được môn giải thoát Bồ-tát ở tất cả chỗ thị hiện thọ sanh tự tại, như thần thức lúc tối sơ thọ thai, mau chóng vô ngại. Vì được môn giải thoát này nên thấy tất cả Phật thừa bổn nguyện lực thọ sanh tự tại.

Này Thiện nam tử! Thuở đức Tự Tại Công Đức Tràng Như Lai, nhũ mẫu Tịnh Quang chính là thân ta đây.

Từ đó đến nay, niệm niệm ta thường thấy đức Tỳ-lô-giá-na Phật thị hiện Bồ-tát thọ sanh hải, thần lực tự tại điều phục chúng sanh. Nhẫn đến tất cả chư Phật ở trong vi trần của tất cả thế giới khắp mười phương thị hiện Bồ-tát thọ sanh thần biến, ta đều niệm niệm thấy cả, và đều cung kính phụng thờ cúng dường nghe thuyết pháp, như thuyết tu hành.

Bấy giờ, Lâm-tỳ-ni lâm thần muốn tuyên lại nghĩa giải thoát này, thừa thần lực của Phật quán sát mười phương mà nói kệ rằng: 

Đồng tử ngươi đã hỏi
Cảnh thậm thâm của Phật
Nay ngươi phải lắng nghe
Ta nói nhân duyên ấy.
Quá ức sát trần kiếp
Có kiếp tên Duyệt Lạc
Tám mươi na-do-tha
Như Lai xuất thế gian.
Tối sơ Như Lai hiệu
Tự Tại Công Đức Tràng
Ta ở vườn Kim Hoa
Thấy Bồ-tát sơ sanh.
Thời ta làm nhũ mẫu
Trí tuệ rất thông lẹ
Chư thiên trao cho ta
Thân Bồ-tát kim sắc.
Ta liền vội ẵm bồng
Nhìn kỹ vô kiến đảnh
Thân tướng đều viên mãn
Mỗi tướng vô biên tế.
Thân thanh tịnh ly cấu
Trang nghiêm với tướng hảo
Ví như tượng diệu bảo
Thấy xong tự vui mừng.
Tư duy công đức đó
Mau thêm những biển phước
Thấy sự thần thông này
Ta phát tâm Bồ-đề.
Chuyên cầu Phật công đức
Thêm rộng những đại nguyện
Nghiêm tịnh tất cả cõi
Diệt trừ ba ác đạo.
Khắp ở mười phương cõi 
Cúng dường vô số Phật
Tu hành bổn thệ nguyện
Cứu thoát khổ chúng sanh.
Ta ở chỗ Phật ấy
Nghe pháp được giải thoát
Ức cõi vi trần số
Vô lượng kiếp tu hành.
Có bao nhiêu đức Phật
Ta đều từng cúng dường
Hộ trì Phật chánh pháp
Tu biển giải thoát này.
Ức cõi vi trần số
Đức thập lực quá khứ
Thọ trì Phật pháp luân
Thêm sáng giải thoát này.
Ta trong khoảng một niệm
Thấy trong sát trần này
Mỗi trần có Như Lai
Nghiêm tịnh những sát hải.
Trong cõi đều có Phật
Hiện đản sanh trong vườn
Đều hiện bất tư nghì
Sức thần thông quảng đại.
Hoặc thấy bất tư nghì
Ức cõi chư Bồ-tát
Ở tại trên Thiên cung
Sắp chứng Phật Bồ-đề.
Trong vô lượng sát hải
Chư Phật hiện thọ sanh
Thuyết pháp giữa đại chúng
Nơi đây ta đều thấy.
Một niệm thấy ức cõi
Vi trần số Bồ-tát
Xuất gia đến đạo tràng
Thị hiện cảnh giới Phật.
Ta thấy trong sát trần
Vô lượng Phật thành đạo
Đều hiện những phương tiện
Độ thoát khổ chúng sanh.
Trong mỗi mỗi vi trần
Chư Phật chuyển pháp luân
Đều dùng tiếng vô tận
Khắp mưa pháp cam lộ.
Ức cõi vi trần số
Trong mỗi một sát trần
Đều thấy chư Như lai
Thị hiện nhập Niết-bàn.
Vô lượng cõi như vậy
Như lai hiện đản sanh
Khắp nơi ta phân thân
Hiện tiền cúng dường Phật.
Bất tư nghì sát hải
Vô lượng loài sai khác
Ta đều hiện trong đó
Khắp mưa đại pháp vũ.
Phật tử! Ta biết môn
Nan tư giải thoát này
Trong vô lượng ức kiếp
Tán dương không hết được. 

Vị thần kể lại sự tích của ngài thuở xưa sanh ở đâu và làm gì, tu ra sao, sau đó nói bài kệ tóm tắt thuật lại câu chuyện ngài thấy đức Phật đản sanh.

Mục Lục
Thanh Từ Toàn Tập 11 - Kinh Hoa Nghiêm Trích Giảng (Phần 2)