|
Thanh Từ Toàn Tập 11 - Kinh Hoa Nghiêm Trích Giảng (Phần 2)
Phẩm Nhập Pháp Giới (tt2)
Này Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Bồ-tát trong vô lượng kiếp khắp tất cả chỗ thị hiện thọ sanh tự tại này. Như chư đại Bồ-tát có thể đem một niệm làm những kiếp tạng, quán tất cả pháp, dùng phương tiện khéo mà hiện thọ sanh, cúng dường cùng khắp tất cả chư Phật. Thông đạt rốt ráo tất cả phật pháp, nơi tất cả loài đều hiện thọ sanh, ngồi tòa liên hoa ở trước tất cả Phật. Biết các chúng sanh lúc đáng được độ, vì hiện thọ sanh phương tiện điều phục, ở tất cả cõi hiện những thần biến, dường như ảnh tượng đều hiện ra trước họ. Ta thế nào biết được nói được công đức hạnh đó. Này Thiện nam tử! Thành Ca-tỳ-la này có cô gái họ Thích tên là Cù-ba. Ngươi đến đó hỏi Bồ-tát thế nào ở trong sanh tử giáo hóa chúng sanh? Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Lâm-tỳ-ni lâm thần, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi. Đến đây bước vào địa thứ mười là Pháp Vân địa, pháp tu thuộc về Trí ba-la-mật. Bồ-tát tu đến Thập địa là gần viên mãn quả Phật, nên đoạn sau diễn tả đồng tử Thiện Tài được chư thiên tán hoa cúng dường. Bởi pháp tu lấy Trí làm chủ nên tượng trưng bằng hình ảnh con gái của dòng họ Thích tên Cù-ba, bà là vợ thứ hai của Thái tử thuở xưa. Lại, Thập địa đại mãn lấy pháp hỷ làm thê, tất cả cảnh giới đều là pháp lạc vì mãn Thập địa thì được pháp hỷ, nên mượn hình ảnh vợ Thái tử để tượng trưng. Tại sao bà Cù-ba này lại được quả vị thứ mười của Bồ-tát? Vì đây là tiêu biểu cho Nhất thừa trí cảnh, lấy Căn bản trí phổ ấn thế gian, muôn cảnh đều chân, không mong cầu xuất thế nào khác mà trở về tịnh độ nơi chính mình. Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử tư duy tu tập môn thọ sanh giải thoát, tăng trưởng quảng đại, ghi nhớ chẳng bỏ. Hướng về phía thành Ca-tỳ-la, Thiện Tài đi lần đến giảng đường Bồ-tát Tập Hội Phổ Hiện Pháp Giới Quang Minh. Trong giảng đường này có thần hiệu Vô Ưu Đức cùng một vạn chủ cung điện thần câu hội đồng nghinh tiếp Thiện Tài và nói rằng: Thiện lai trượng phu! Có trí tuệ lớn, có dũng mãnh lớn khéo tu môn giải thoát tự tại bất tư nghì, tâm không bao giờ bỏ thệ nguyện rộng lớn, khéo quan sát cảnh giới của các pháp, an trụ nơi pháp thành, nhập vô lượng môn phương tiện, thành tựu biển công đức rộng lớn, được biện tài vi diệu, khéo điều phục chúng sanh, được thân thánh trí hằng thuận tu hành, biết các chúng sanh tâm hành sai khác làm cho họ hoan hỷ xu hướng Phật đạo. Chúng tôi xem ngài tu các diệu hạnh tâm không tạm lười, oai nghi cử chỉ thảy đều thanh tịnh. Chẳng bao lâu ngài sẽ được ba nghiệp vô thượng trang nghiêm thanh tịnh của Như Lai. Dùng những tướng hảo trang nghiêm thân mình. Dùng mười trí lực trau sáng tâm mình, du hành nơi thế gian. Chúng tôi quán ngài dũng mãnh tinh tấn không ai sánh bằng. Chẳng bao lâu sẽ được thấy khắp tất cả chư Phật tam thế và nghe lãnh chánh pháp. Chẳng bao lâu sẽ được những sự vui tam-muội thiền định giải thoát của tất cả Bồ-tát. Chẳng bao lâu sẽ nhập môn giải thoát thậm thâm của chư Phật Như Lai. Tại sao vậy? Vì ngài được thấy thiện tri thức, thân cận cúng dường, nghe lãnh lời chỉ dạy ghi nhớ tu hành, chẳng lười, chẳng thối, không lo, không e ngại, ma và dân ma không làm ngăn trở được, chẳng bao lâu ngài sẽ được thành quả vô thượng. Thiện Tài nói: Như lời của chư Thánh vừa nói, nguyện tôi sẽ đều được như vậy. Tôi nguyện cho tất cả chúng sanh dứt những nhiệt não, rời những ác nghiệp, sanh những an lạc, tu những tịnh hạnh. Bạch chư Thánh! Tất cả chúng sanh khởi phiền não tạo ác nghiệp, đọa ác thú, nơi thân, nơi tâm hằng chịu đau khổ. Bồ-tát thấy như vậy trong lòng rất đau xót. Thiện Tài đồng tử sắp mãn Thập địa nên được chư thần cung nghênh khen ngợi và nói rằng tương lai không bao lâu ngài sẽ được thành Phật. Vì ngài được thấy thiện tri thức, thân cận cúng dường nghe lãnh lời chỉ dạy ghi nhớ tu hành chẳng lười, chẳng lui sụt, không lo, không e ngại. Ma và dân ma không làm ngăn trở được, chẳng bao lâu ngài sẽ được thành quả vô thượng. Ví như người chỉ có một con, nên rất thương yêu. Bỗng thấy con mình bị người chặt tay chân, thì trong lòng đau đớn biết ngần nào. Cũng vậy, đại Bồ-tát thấy các chúng sanh vì nghiệp phiền não mà đọa ba ác thú chịu khổ, thì trong lòng rất đau xót. Bồ-tát tu tập đến đây tâm đại bi viên mãn nên thương tất cả chúng sanh như con một, khi thấy chúng sanh bị nghiệp phiền não phải đọa vào đường dữ, các ngài đau xót vô cùng. Nếu thấy chúng sanh phát khởi thân ngữ ý ba nghiệp lành sanh lên trời, cõi người, được an vui, thì lòng Bồ-tát rất hoan hỷ. Tại sao vậy? Vì Bồ-tát chẳng tự vì mình mà cầu Nhất thiết trí. Như cha mẹ thấy con mình lớn lên làm ăn giàu có thì vui, thấy bị người hành hạ đày đọa thì rất đau khổ. Bồ-tát thương chúng sanh cũng như thế. Bởi vì Bồ-tát cầu Nhất thiết trí không phải cho mình, mà do muốn cứu độ chúng sanh. Vì Bồ-tát chẳng tham những dục lạc trong vòng sanh tử, chẳng theo thế lực của tưởng đảo, kiến đảo, tâm đảo, kiết sử, tùy miên, ái kiến mà chuyển, chẳng khởi những quan niệm vui của chúng sanh, chẳng ham say nơi sự vui của thiền định, chẳng phải vì có chướng ngại mỏi nhọc thối chuyển mà trụ tại sanh tử, chỉ vì thấy chúng sanh ở trong tam hữu chịu đủ mọi sự khổ nên khởi tâm đại bi, dùng sức đại nguyện để nhiếp thủ chúng sanh. Vì sức bi nguyện mà tu hạnh Bồ-tát, vì dứt tất cả phiền não của chúng sanh, vì cầu Nhất thiết chủng trí của Như Lai, vì cúng dường tất cả chư Phật, vì nghiêm tịnh tất cả quốc độ quảng đại, vì tịnh trị tất cả dục lạc của chúng sanh và những hạnh nghiệp nơi thân nơi tâm của họ, nên Bồ-tát ở trong sanh tử không mỏi nhàm. Thế lực là sức mạnh. Tưởng đảo là những nghĩ tưởng sai lầm. Kiến đảo là chấp trước sai lầm. Tâm đảo là suy tư sai lầm. Kiết sử, tùy miên, ái kiến... tức là thập triền thập sử. Bồ-tát chuyển được tất cả những thứ sai lầm đó, không để nó lôi đi trong sanh tử. Đối với ngũ dục của chúng sanh Bồ-tát không khởi niệm vui theo, mà cũng không say mê trong thiền định như hàng Nhị thừa. Nhưng vì thương chúng sanh mà Bồ-tát ở trong sanh tử, chứ không phải các ngài mỏi mệt yếu đuối không ra khỏi sanh tử. Bạch chư thánh! Đại Bồ-tát đối với chúng sanh: Là trang nghiêm, vì khiến họ sanh làm trời, làm người giàu sang vui sướng. Là cha mẹ, vì an lập tâm Bồ-đề cho họ. Là dưỡng dục, vì làm cho họ thành tựu đạo Bồ-tát. Là vệ hộ, vì làm cho họ xa rời ba ác đạo. Là lái thuyền, vì đưa họ qua biển sanh tử. Là quy y, vì làm cho họ khỏi sợ ma phiền não. Là cứu cánh, vì làm cho họ vĩnh viễn được vui thanh lương. Là bờ bến, vì làm cho họ vào biển chư Phật. Là đạo sự, vì đưa họ đến xứ pháp bảo. Là diệu hoa, vì làm nở tâm công đức của chư Phật. Là đồ trang nghiêm, vì thường phóng quang minh phước đức trí tuệ. Là đáng mến, vì chỗ làm ra đều đoan chánh trang nghiêm. Là đáng tôn trọng, vì xa rời tất cả ác nghiệp. Là Phổ Hiền, vì đầy đủ tất cả thân đoan nghiêm. Là sáng lớn, vì thường phóng trí tuệ quang minh. Là mây lớn, vì thường mưa tất cả pháp cam lộ. Qua bao nhiêu thiện tri thức ngài Thiện Tài đạt được bao nhiêu quả vị, tới đây là Thập địa viên mãn. Đạt đến Thập địa gọi là đại Bồ-tát. Đại Bồ-tát đối với chúng sanh là trang nghiêm, vì luôn muốn chúng sanh được phước báu ở cõi trời cõi người, giàu sang sung sướng. Vì an lập tâm Bồ-đề cho chúng sanh, nên đối với chúng sanh Bồ-tát như cha mẹ... Các ngài luôn luôn làm nhiều điều lợi ích lớn lao cho chúng sanh. Bạch chư Thánh! Lúc Bồ-tát tu các hạnh như vậy, làm cho tất cả chúng sanh đều mến thích đầy đủ pháp lạc. Lúc đó, Thiện Tài sắp bước lên pháp đường, Chủ cung điện thần Vô Ưu Đức và chúng thần đem những hương hoa và đồ trang nghiêm quý hơn cõi trời rải trên Thiện Tài mà nói kệ rằng: Nay Ngài xuất thế gian Khen ngợi ngài Thiện Tài cũng chính là khen ngợi quả vị Thập địa. Vô lượng ức ngàn kiếp Bồ-tát đến quả vị Thập địa chẳng khác nào như mặt trời sắp mọc, làm cho thế gian được sáng sủa. Ngài thấy các chúng sanh Đây nói có mâu thuẫn không? Thiện Tài đồng tử từ lúc mới phát tâm cho đến hỏi đạo, tu tập tiến dần lên hàng Thập địa, trải qua các bậc thiện tri thức chỉ dạy đàng hoàng, nhưng tại sao tới đây lại nói chứng đạo vô sư? Đạo vô sư còn gọi là trí vô sư. Nghĩa là trí tuệ không do thầy dạy. Bởi khi thể nhập được pháp thân của chính mình là đạt đến chỗ cứu cánh viên mãn, không còn pháp gì trên nữa nên gọi là đạo vô sư. Ngài dùng tâm thanh tịnh Ngài dùng tâm thanh tịnh để tìm cầu Bồ-đề Phật và kính thờ thiện tri thức mà không tiếc thân mạng. Ngài ở các thế gian Sỡ dĩ tâm ngài được vô ngại là do ở thế gian mà không nương tựa, không chấp trước. Ngài tu hạnh Bồ-đề Bốn câu này thật hay, ngài chẳng rời thế gian mà cũng chẳng luyến thế gian, đây mới thật là khó. Theo lẽ thường, không rời thì mắc, không mắc thì rời, còn không rời không mắc là sao? Lục Tổ nói, vô niệm là đối trước tất cả cảnh thấy biết mà tâm không dính mắc. Thấy biết tất cả đó là không rời thế gian, không dính không mắc tức là không luyến thế gian. Ngài được như vậy nên đi trong đời như gió thổi hư không, không chướng không ngại. Ví như hỏa tai khởi Như hỏa tai nổi lên thiêu cả thế gian không gì làm tắt nổi, lửa tinh tấn của ngài cũng vậy, không có gì chặn đứng được. Dũng mãnh đại tinh tấn Sức tinh tấn của ngài kiên cố không lay động, cũng như sư tử tuệ kim cang du hành khắp nơi không sợ hãi. Trong tất cả pháp giới Thần Vô Ưu Đức nói kệ xong, vì mến thích chánh pháp nên theo luôn bên Thiện Tài đồng tử. Vô Ưu Đức là đức không lo, không buồn. Bồ-tát Thập địa được pháp hỷ nên không còn lo buồn. Ngài Thiện Tài đến đây là đã chứng được Thập địa không còn lo buồn, nên tượng trưng bằng hình ảnh thần Vô Ưu Đức mến thích đi theo luôn bên ngài. Thiện Tài vào trong giảng đường Phổ Hiện Pháp Giới Quang Minh tìm cô gái họ Thích. Thấy cô ấy ngồi trên tòa sư tử bảo liên hoa, có tám vạn bốn ngàn thể nữ vây quanh. Cô gái này nói theo tinh thần của kinh Hoa Nghiêm là Bồ-tát Thập địa, sắp bước vào giai vị Phật. Giáo pháp của Phật có tám muôn bốn ngàn pháp môn, ở đây cô cũng có tám muôn bốn ngàn thể nữ vây quanh. Hình ảnh này để tiêu biểu cho Bồ-tát sắp đồng hành với Phật, nên đầy đủ phương tiện gần như đức Phật. Những thể nữ này đều là dòng vua, thuở quá khứ đã tu hạnh Bồ-tát, đồng gieo căn lành, bố thí, ái ngữ nhiếp khắp chúng sanh, đã thấy rõ được cảnh Nhất thiết trí, đã chung tu tập hạnh Phật Bồ-đề, hằng trụ chánh định, thường dùng đại bi nhiếp khắp chúng sanh như đối với con một, đầy đủ từ tâm, quyến thuộc thanh tịnh, quá khứ đã thành tựu phương tiện thiện xảo bất tư nghì của Bồ-tát, đều không thối chuyển vô thượng Bồ-đề, đầy đủ những ba-la-mật của Bồ-tát, rời những chấp trước, chẳng thích sanh tử, dầu đi trong các cõi hữu lậu mà lòng hằng thanh tịnh, thường siêng quán sát đạo Nhất thiết trí, lìa lưới chướng cái, vượt khỏi chỗ chấp nhiễm, từ pháp thân mà hiện hóa thân, sanh hạnh Phổ Hiền, lớn sức Bồ-tát, trí nhật tuệ đăng đều đã viên mãn. Chướng là các thứ báo chướng, nghiệp chướng. Cái là ngũ cái. Các vị thể nữ được tả ở đây gần tương đương với Phật, đều từ pháp thân hiện ra hóa thân, rồi sanh ra hạnh Phổ Hiền, lớn sức Bồ-tát, trí nhật tuệ đăng đều viên mãn. Công hạnh đã gần kề với đức Phật. Thiện Tài đến đảnh lễ nơi chân của Thích nữ Cù-ba, chắp tay cung kính thưa rằng: Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng Bồ-đề, mà chưa biết Bồ-tát thế nào ở trong sanh tử mà chẳng bị lỗi sanh tử làm nhiễm? Thế nào là rõ pháp tự tánh mà chẳng trụ hàng Thanh văn Bích-chi Phật? Đồng tử Thiện Tài đặt ra những câu hỏi, làm sao ở trong sanh tử mà chẳng bị lỗi sanh tử làm nhiễm? Thế nào rõ pháp tự tánh mà chẳng trụ Thanh văn? Nghĩa là thấy được tánh của các pháp là không, mà chẳng an trụ nơi thật tế Niết-bàn của Thanh văn, Bích-chi Phật, khởi niệm vào sanh tử để độ chúng sanh. Thế nào là đầy đủ phật pháp mà tu hạnh Bồ-tát? Thế nào trụ bậc Bồ-tát mà nhập cảnh giới Phật? Thế nào siêu quá thế gian mà thọ sanh nơi thế gian? Thế nào là thành tựu pháp thân mà thị hiện vô biên sắc thân? Thế nào là Bồ-tát đầy đủ Phật pháp, vượt ra ngoài thế gian rồi mà vẫn không trụ ở cảnh giới Phật, trở lại thọ sanh nơi thế gian? Thế nào là đã được pháp thân viên mãn, mà thị hiện vô biên sắc thân? Thế nào là chứng pháp vô tướng mà vì chúng sanh thị hiện các tướng? Thế nào là biết pháp vô thuyết mà rộng vì chúng sanh diễn thuyết các pháp? Thế nào là biết chúng sanh không mà hằng chẳng bỏ sự giáo hóa chúng sanh? Thế nào là dầu biết chư Phật bất sanh bất diệt mà siêng cúng dường không có thối chuyển? Thế nào là biết các pháp là vô thuyết nhưng Bồ-tát vẫn vì chúng sanh mà thuyết pháp. Biết rõ sự giáo hóa chúng sanh và cúng dường chư Phật đều như huyễn mộng mà vẫn siêng năng cúng dường không lười mỏi? Thế nào là dầu biết các pháp không nghiệp, không báo mà tu những hạnh lành luôn không thôi nghỉ? Chúng ta thông thường có bệnh, thấy nghiệp báo thật thì sợ tội nên ráng tu phước tránh tội. Nếu biết tất cả nghiệp báo không thật thì sẽ buông xuôi không tu, không sợ gì hết. Nhưng Bồ-tát đối với nghiệp báo thấy không thật, mà vẫn làm việc lành hoài không nghỉ. Nên nói Bồ-tát mặc giáp chiến đấu với hư không là vậy. Thấy là giả dối không thật, là không... mà vẫn mặc giáp đánh với nó. Đó là tâm từ bi của Bồ-tát mà khởi hạnh cứu độ chúng sanh. Nàng Cù-ba nói: Lành thay, lành thay! Này Thiện nam tử! Nay ngươi có thể hỏi những việc làm của đại Bồ-tát như vậy. Ngươi tu tập những hạnh nguyện Phổ Hiền mới có thể hỏi như vậy. Ngươi lắng nghe và khéo suy gẫm ghi nhớ. Ta sẽ thừa thần lực của Phật mà nói cho ngươi. Hạnh Phổ Hiền là hạnh đại bi thị hiện độ chúng sanh, nên phải là người khởi tâm đại bi vì giáo hóa tất cả chúng sanh mới có thể đặt những câu hỏi như vậy, nếu sợ sanh tử không muốn vào thì đâu dám hỏi. Này Thiện nam tử! Nếu các Bồ-tát thành tựu mười pháp, thì có thể viên mãn hạnh Bồ-tát Nhân-đà-la võng phổ trí quang minh. Đây là mười pháp: Vì nương thiện tri thức. Vì được thắng giải quảng đại. Vì được dục lạc thanh tịnh. Vì nhóm tất cả phước trí. Vì nghe chánh pháp nơi chư Phật. Vì tâm hằng chẳng bỏ tam thế Phật. Vì đồng với tất cả Bồ-tát hạnh. Vì được tất cả Như Lai hộ niệm. Vì đại bi diệu nguyện đều thanh tịnh. Vì có thể dùng trí lực khắp dứt tất cả những sanh tử. Nếu người đủ mười hạnh này thì sẽ làm được những việc như đã hỏi ở trên. Này Thiện nam tử! Nếu thân cận thiện tri thức thì Bồ-tát có thể tinh tấn bất thối tu tập xuất sanh vô tận Phật pháp. Thiện tri thức ở đây chỉ cho hàng Bồ-tát. Nếu chúng ta tu mà không thân cận thiện tri thức thì việc tu khó tiến. Thí dụ như ở đây, có tôi làm Viện chủ nên chư tăng kính trọng nể nang, nhờ vậy khi nghe tôi khuyên nhắc thì các vị cố gắng tiến tu không dám bê trễ. Cho nên trừ những bậc đại căn đại trí, còn hàng trung hạ căn nếu không có thiện tri thức thì việc tu không thể nào thành tựu được. Này Thiện nam tử! Bồ-tát dùng mười pháp để thừa sự thiện tri thức. Đây là mười pháp: Không đoái tiếc thân mạng mình. Lòng chẳng tham cầu sự vui thế gian. Biết tất cả pháp tánh đều bình đẳng. Trọn chẳng lui bỏ nguyện Nhất thiết trí. Quán sát thật tướng pháp giới. Tâm hằng bỏ rời tất cả biển hữu lậu. Biết pháp như không, tâm không chỗ nương. Thành tựu tất cả đại nguyện Bồ-tát. Thường có thể thị hiện tất cả sát hải. Tịnh tu trí luận vô ngại của Bồ-tát. Này Thiện nam tử! Nên dùng pháp này để kính thờ tất cả thiện tri thức không trái nghịch. Người phát tâm tu đạo Bồ-tát luôn dùng mười pháp để kính thờ thiện tri thức: Lo tu hành không đoái tiếc thân mạng, không nghĩ đến sự vui thế gian, biết tánh của các pháp bình đẳng, không bao giờ lìa bỏ nguyện thành Phật v.v... Đối với thiện tri thức chỉ một bề kính thờ không trái nghịch. Bấy giờ, nàng Thích-ca Cù-ba muốn tuyên lại nghĩa này, thừa thần lực của Phật, quan sát mười phương mà nói kệ rằng: Bồ-tát vì lợi các quần sanh Nói kệ xong, Thích-ca Cù-ba bảo Thiện Tài: Này Thiện nam tử! Ta đã thành tựu môn giải thoát quán sát nhất thiết Bồ-tát tam-muội hải. Bài kệ toát yếu này nhằm lặp lại ý trên. Đến đoạn kế là giải thích về cảnh giới của môn giải thoát, chỗ này chúng ta chưa thể nhập được nên cũng không cần giải thích. Tiếp theo lại hỏi được môn giải thoát này đã bao lâu. Để trả lời, Thích-ca Cù-ba kể lại những việc làm của bà thuở xưa, từ khi phát tâm cầu được môn giải thoát v.v... tất cả có thể thấy đầy đủ trong bài kệ. Thiện Tài thưa: Bạch đức Thánh! Cảnh giới của môn giải thoát này thế nào? Thích-ca Cù-ba nói: Này Thiện nam tử! Ta nhập môn giải thoát này, biết trong cõi Ta-bà, trải qua Phật sát vi trần số kiếp có bao nhiêu chúng sanh ở trong các loài chết đây sanh kia, làm lành làm dữ, chịu những quả báo, có cầu xuất ly, chẳng cầu xuất ly, chánh định tà định và bất định, thiện căn có phiền não, thiện căn không phiền não, thiện căn đầy đủ, thiện căn không đầy đủ, bất thiện căn nhiếp lấy thiện căn, thiện căn nhiếp lấy bất thiện căn. Chúng sanh chứa nhóm những pháp thiện và bất thiện như vậy ta đều biết thấy. Lại trong những kiếp ấy, có bao nhiêu đức Phật danh hiệu thứ đệ ta đều biết rõ. Chư Phật Thế Tôn ấy từ sơ phát tâm, dùng phương tiện cầu Nhất thiết trí xuất sanh tất cả những biển đại nguyện, cúng dường chư Phật tu hạnh Bồ-tát, thành Đẳng chánh giác, chuyển diệu pháp luân, hiện đại thần thông hóa độ chúng sanh, ta đều biết rõ. Ta cũng biết chúng hội sai biệt của chư Phật ấy. Trong đó có chúng sanh y nơi Thanh văn thừa mà được xuất ly. Chúng Thanh văn này quá khứ tu tập tất cả thiện căn, và được những trí tuệ ta đều biết rõ. Có những chúng sanh y nơi Độc giác thừa mà được xuất ly. Những Độc giác này có bao nhiêu thiện căn, được Bồ-đề tịch diệt giải thoát, thần thông biến hóa thành thục chúng sanh, nhập Niết-bàn ta đều biết rõ. Ta cũng biết chư Bồ-tát trong chúng hội ấy, từ sơ phát tâm tu tập thiện căn xuất sanh vô lượng hạnh nguyện lớn, thành tựu đầy đủ những môn ba-la-mật, trang nghiêm đạo Bồ-tát, dùng sức tự tại nhập Bồ-tát địa, trụ Bồ-tát địa, quán Bồ-tát địa, tịnh Bồ-tát địa, tướng của Bồ-tát địa, trí của Bồ-tát địa, trí của Bồ-tát nhiếp, trí của Bồ-tát giáo hóa chúng sanh, trí của Bồ-tát kiến lập, cảnh giới hạnh rộng lớn của Bồ-tát, thần thông hạnh của Bồ-tát, biển tam-muội của Bồ-tát, phương tiện của Bồ-tát, Bồ-tát trong mỗi niệm nhập tam-muội hải, được quang minh Nhất thiết trí, được điển quang vân Nhất thiết trí, được thật tướng nhẫn, thông đạt Nhất thiết trí, trụ sát hải, nhập pháp hải, biết chúng sanh hải, trụ phương tiện, phát thệ nguyện hiện thần thông. Ta đều biết rõ cả. Này Thiện nam tử! Cõi Ta-bà này, tận thuở vị lai có những kiếp hải xoay vần chẳng dứt ta đều biết rõ. Như biết cõi Ta-bà, ta cũng biết vi trần số tất cả thế giới trong cõi Ta-bà. Ta cũng biết những thế giới trong vi trần của cõi Ta-bà. Cũng biết mười phương thế giới ở ngoài cõi Ta-bà. Cũng biết những thế giới của Ta-bà thế giới chủng sở nhiếp. Cũng biết những thế giới của thập phương vô lượng thế giới chủng sở nhiếp trong Hoa Tạng thế giới hải này. Những là: thế giới rộng rãi, thế giới an lập, thế giới luận, thế giới tràng, thế giới sai biệt, thế giới chuyển, thế giới liên hoa, thế giới Tu-di, thế giới danh hiệu. Tất cả những thế giới trong thế giới hải này, do bổn nguyện lực của Tỳ-lô-giá-na Thế Tôn, nên ta đều biết rõ và ghi nhớ cả. Ta cũng nhớ những nhân duyên hải thuở xưa của đức Như Lai. Như là: tu tập phương tiện của tất cả thừa, trụ Bồ-tát hạnh trong vô lượng kiếp, tịnh Phật quốc độ, giáo hóa chúng sanh, kính thờ chư Phật, tạo lập trụ xứ, nghe pháp, được tam-muội, được tự tại, tu Đàn ba-la-mật, nhập Phật công đức, trì giới khổ hạnh, đầy đủ nhẫn lực, dũng mãnh tinh tấn, thành tựu thiền định, viên mãn tịnh tuệ, thị hiện thọ sanh khắp mọi nơi, hạnh nguyện Phổ Hiền thảy đều thanh tịnh, vào khắp các cõi, tịnh khắp Phật độ, vào khắp Phật trí, nhiếp khắp Phật Bồ-đề, được đại trí quang minh của Như Lai, chứng Phật trí tánh, thành Đẳng chánh giác, chuyển diệu pháp luân. Nhẫn đến tất cả đạo tràng chúng hội của Phật, từ trước đến nay đã gieo thiện căn, từ sơ phát tâm thành thục chúng sanh tu hành phương tiện, niệm niệm tăng trưởng, được những tam-muội thần thông giải thoát, ta đều biết rõ tất cả. Tại sao vậy? Vì môn giải thoát của ta đã được đây, có thể biết tâm hành của tất cả chúng sanh, tất cả thiện căn của chúng sanh tu hành, tất cả chúng sanh tạp nhiễm thanh tịnh, tất cả chúng sanh sai biệt, tất cả môn tam-muội của Thanh văn, tất cả tam-muội thần thông giải thoát của Duyên giác, giải thoát quang minh của tất cả Bồ-tát, của tất cả Như Lai ta đều biết rõ. Thiện Tài thưa: Ngài được môn giải thoát này đã bao lâu? Cù-ba nói: Này Thiện nam tử! Thuở xưa, quá Phật sát cực vi trần số kiếp, có kiếp tên là Thắng Hạnh, thế giới tên là Vô Úy, trong thế giới ấy có tứ thiên hạ tên là An Ổn. Trong Diêm-phù-đề có thành vua tên là Cao Thắng Thọ, vương thành này là thượng thủ trong tám mươi vương thành. Quốc vương tên là Tài Chủ, có sáu vạn thể nữ, năm trăm vương tử, năm trăm đại thần. Các vương tử này đều dũng mãnh dẹp được oán địch. Thái tử tên là Oai Đức Chủ, thân tướng đầy đủ đoan chính xinh đẹp, mọi người đều thích thấy. Vương tử này dưới bàn chân bằng đầy đủ luân tướng, lưng bàn chân vun cao, ngón tay ngón chân đều có màn mỏng, gót chân ngay bằng, tay chân dịu mềm, bắp chân lộc vương, bảy chỗ viên mãn, âm tàng ẩn kín, phần trên của thân mình như sư tử vương, hai vai bằng đầy, hai tay suông dài, thân tướng ngay thẳng, cổ ba ngấn, má như sư tử, đủ bốn mươi cái răng tất cả đều bằng kín, bốn răng nanh trắng bóng, lưỡi dài rộng vang phạm âm thanh, tròng mắt xanh biếc, lông mắt như ngưu vương, chặng mày có bạch hào, trên đỉnh đầu có nhục kế, da thứa mịn nhuyễn màu chân kim, lông trên thân đều xoắn lên trên, tóc màu đế thanh, thân tròn đầy ngay thẳng như cây ni-câu-đà. Lúc đó, Thái tử tuân lệnh phụ vương, cùng một ngàn thể nữ vào vườn Hương Nha du ngoạn. Thái tử ngồi trên tòa sư tử đại ma-ni trong xe, năm trăm thế nữ cầm dây báu kéo xe. Trăm ngàn vạn người cầm bảo cái. Trăm ngàn muôn người cầm bảo tràng. Trăm ngàn muôn người cầm bảo phan. Trăm ngàn muôn người trổi nhạc. Trăm ngàn muôn người xông hương thơm. Trăm ngàn muôn người rải hoa đẹp. Tùy tùng trước sau theo xe Thái tử. Đường sá bằng phẳng, rải đầy những hoa đẹp. Hai bên đường cây báu thành hàng, lưới báu giăng che, nhiều lầu các chứa những châu báu, hoặc trần thiết những vật trang nghiêm, hoặc chưng dọn những thức uống ăn, hoặc treo y phục, hoặc sắm đủ những vật tư sanh, tùy ai cần gì đều ban cho. Bấy giờ, có bà mẹ tên là Thiện Hiện dắt một đồng nữ tên là Cụ Túc Diệu Đức. Đồng nữ này dung nhan đoan chánh, mắt và tóc xanh biếc, tiếng nói như phạm âm, nghề khéo, luận giỏi, siêng năng kính nhường, đủ lòng từ mẫn, hổ thẹn, nhu hòa, chất trực, lìa ngu si, ít tham dục, không siểm nịnh dối phỉnh. Đồng nữ cùng mẫu thân ngồi xe, các thể nữ theo hầu, đi trước xe Thái tử. Đồng nữ ấy thấy Thái tử bèn sanh lòng yêu mến, nói với mẹ rằng nàng muốn kính thờ người này, nếu không toại nguyện quyết sẽ tự vẫn. Mẹ bảo chớ có vọng niệm. Đây là Thái tử đủ tướng Luân vương. Sau đây lên ngôi sẽ làm Chuyển luân vương, có bảo nữ xuất hiện, bay trên không tự tại. Chúng ta là hàng ti tiện chớ sanh vọng niệm, vì sự ấy khó đạt thành. Bên cạnh khu vườn Hương Nha có một đạo tràng tên là Pháp Vân Quang Minh. Có đức Như Lai hiệu là Thắng Nhật Thân, đủ mười hiệu, xuất hiện trong đó đã được bảy ngày. Đồng nữ Diệu Đức ngủ gật mộng thấy Phật. Khi thức dậy, trên không có Thiên Thần bảo Đồng nữ rằng: Thắng Nhật Tân Như Lai thành Đẳng chánh giác nơi đạo tràng Pháp Vân Quang Minh đã được bảy ngày, chúng Bồ-tát vây quanh, chư thiên, long, bát bộ, cùng chư thần vì muốn thấy Phật nên đều tập hội. Đồng nữ Diệu Đức do mộng thấy Phật lại nghe công đức của Phật nên lòng nàng an ổn không khiếp sợ, ở trước Thái tử mà nói kệ rằng: Thân tôi rất đoan chánh Thái tử bảo Đồng nữ rằng: Nàng là con gái của ai? Ai thủ hộ nàng? Nếu trước đã thuộc người khác, thì ta không nên sanh lòng ái nhiễm. Thái tử nói kệ rằng: Thân nàng rất thanh tịnh Thân mẫu của Đồng nữ nói kệ trả lời Thái tử: Thái tử ngài lắng nghe Lúc đã vào vườn Hương Nha, Thái tử bảo Đồng nữ Diệu Đức và bà Thiện Hiện rằng: Này Thiện nữ! Ta cầu vô thượng Bồ-đề, sẽ tột vô lượng kiếp thuở vị lai chứa nhóm pháp trợ đạo Nhất thiết trí, tu tập vô biên Bồ-tát hạnh, tịnh tất cả ba-la-mật, cúng dường tất cả Như Lai, hộ trì tất cả Phật giáo, nghiêm tịnh tất cả Phật độ, sẽ làm cho Phật chủng của tất cả Như Lai chẳng mất, sẽ theo chủng tánh của tất cả chúng sanh để thành thục họ, sẽ diệt khổ sanh tử cho chúng sanh được ở chỗ rốt ráo an lạc, sẽ tịnh tri mắt trí tuệ cho tất cả chúng sanh, sẽ tu tập tất cả công hạnh của Bồ-tát, sẽ an trụ nơi tâm bình đẳng của tất cả Bồ-tát, sẽ thành tựu hành địa của tất cả Bồ-tát, sẽ làm cho tất cả chúng sanh đều hoan hỷ, sẽ xả thí tất cả vật để thực hành Đàn ba-la-mật tột thuở vị lai, làm cho tất cả chúng sanh đều được đầy đủ, những vật uống ăn, y phục, vợ con đến đầu mặt tay chân ta đều sẽ xả thí không hề tiếc. Lúc đó, nàng sẽ cản trở ta, lúc thí của cải nàng sẽ lẫn tiếc, lúc thí con cái nàng sẽ buồn khổ, lúc cắt tay chân nàng sẽ sầu muộn, lúc bỏ nàng để xuất gia lòng nàng sẽ hối hận. Thái tử nói kệ, bảo nàng Diệu Đức rằng: Vì thương xót chúng sanh Đồng nữ thưa với Thái tử: “Kính vâng lời dạy của Ngài.” Đồng nữ liền nói kệ đáp lời Thái tử: Trong vô lượng kiếp hải Thái tử nghe danh hiệu Thắng Nhật Thân Như Lai, rất hoan hỷ muốn được thấy Phật. Thái tử đem năm trăm châu ma-ni rải trên Đồng nữ, ban mão Diệu Tạng Quang Minh Bảo và áo Hỏa Diệm Ma-ni Bảo. Đồng nữ Diệu Đức lòng chẳng rung động cũng không lộ vẻ mừng, chỉ chắp tay cung kính chiêm ngưỡng Thái tử, mắt chẳng tạm rời. Bà Thiện Hiện ở trước Thái tử nói kệ rằng: Con tôi rất đoan chánh Lúc đó, Thái tử và nàng Diệu Đức đem một ngàn thể nữ cùng quyến thuộc, ra khỏi vườn Hương Nha, đến đạo tràng Pháp Vân Quang Minh, xuống xe đi bộ đến chỗ đức Phật. Thấy đức Phật Thắng Nhật Thân đoan nghiêm tịch tịnh, căn thân điều thuận, trong ngoài đều thanh tịnh, như ao Đại Long không có cặn nhơ, Thái tử và quyến thuộc sanh lòng kính tin vui mừng hớn hở đảnh lễ chân đức Phật, hữu nhiễu vô số vòng. Thái tử và nàng Diệu Đức, mỗi người cầm năm trăm bông sen báu cúng dường đức Phật. Thái tử vì Phật mà kiến tạo năm trăm tinh xá bằng gỗ thơm, trang nghiêm với những diệu bảo xen châu ma-ni. Đức Phật thuyết kinh Phổ Nhãn Đăng Môn. Thái tử nghe xong, ở trong tất cả pháp được tam-muội hải: Như là Phổ chiếu nhất thiết Phật nguyện hải tam-muội, Phổ chiếu tam thế tạng tam-muội, Hiện kiến nhất thiết Phật đạo tràng tam-muội, Phổ chiếu nhất thiết chúng sanh tam-muội, Phổ chiếu nhất thiết thế gian trí đăng tam-muội, Phổ chiếu nhứt thiết chúng sanh căn trí đăng tam-muội, Cứu hộ nhất thiết chúng sanh quang minh vân tam-muội, Phổ chiếu nhất thiết chúng sanh đại minh đăng tam-muội, Diễn nhất thiết phật pháp luân tam-muội, Cụ túc Phổ Hiền thanh tịnh hạnh tam-muội. Nàng Diệu Đức được Nan thắng hải tạng tam-muội, trọn chẳng thối chuyển nơi vô thượng Bồ-đề. Thái tử và Diệu Đức cùng quyến thuộc đảnh lễ chân Phật, hữu nhiễu vô số vòng từ tạ trở về cung, tâu cùng Phụ vương rằng: Đức Thắng Nhật Thân Như Lai gần đây xuất thế thành Đẳng chánh giác tại đạo tràng Bồ-đề Pháp Vân Quang Minh nơi vườn Hương Nha. Phụ Vương hỏi Thái tử: Ai nói cho con hay sự ấy. Thái tử tâu: Nàng Cụ Túc Diệu Đức nói cho con hay, và chúng con đã đến đảnh lễ cúng dường đức Phật. Phụ vương hoan hỷ vô lượng như người nghèo được của báu. Nhà vua tự nghĩ: Đức Phật là vô thượng bảo khó được gặp. Nếu được thấy Phật thì dứt hẳn sự sợ ác đạo. Đức Phật như Y vương trị lành tất cả bệnh phiền não, có thể cứu tất cả khổ lớn sanh tử. Đức Phật như Đạo sư, có thể làm cho chúng sanh đến nơi an ổn rốt ráo. Nhà vua suy nghĩ xong, liền hội chư tiểu vương, các quan, quyến thuộc và các Sát-đế-lợi, Bà-la-môn cùng tất cả quốc dân. Nhà vua tuyên bố thối vị, nhường ngôi cho Thái tử. Sau khi làm lễ quán đảnh cho Thái tử, Quốc vương Tài Chủ cùng một vạn người đến chỗ đức Phật, đảnh lễ nơi chân đức Phật, hữu nhiễu vô số vòng, rồi cùng quyến thuộc lui ngồi một phía. Đức Thắng Nhật Thân Như Lai quan sát Quốc vương và đại chúng, rồi phóng bạch hào quang minh tên là Nhất thiết thế gian tâm đăng, chiếu khắp vô lượng thế giới mười phương. Quang minh ấy dừng ở trước tất cả Thế Chủ, thị hiện Như Lai bất khả tư nghì đại thần thông lực, làm cho tất cả kẻ đáng được hóa độ thân tâm thanh lương. Lúc đó, đức Như Lai hiện thân siêu xuất tất cả thế gian, dùng viên mãn âm vì khắp đại chúng mà nói đà-la-ni tên là Nhất thiết pháp nghĩa ly ám đăng, có Phật sát vi trần số đà-la-ni làm quyến thuộc. Quốc vương nghe xong liền được đại trí quang minh. Trong chúng hội có Diêm-phù-đề vi trần số Bồ-tát đồng thời chứng được môn đà-la-ni này. Sáu mươi vạn na-do-tha người sạch hữu lậu tâm được giải thoát. Mười ngàn chúng sanh xa lìa trần cấu, được pháp nhãn tịnh. Vô lượng chúng sanh phát tâm Bồ-đề. Đức Phật lại hiện thần biến khắp mười phương vô lượng thế giới diễn pháp tam thừa hóa độ chúng sanh. Quốc vương tự nghĩ: Nếu tại gia, ta chẳng thể chứng được diệu pháp như vậy. Nếu ta xuất gia tu học bên Phật thì sẽ được thành tựu. Suy nghĩ xong, Quốc vương đến bạch Phật xin xuất gia. Đức Phật hứa khả. Quốc vương Tài Chủ cùng một vạn quyến thuộc đồng xuất gia. Không bao lâu, nhà vua và quyến thuộc đồng thành tựu Nhất thiết pháp nghĩa lý ám đăng đà-la-ni, và các môn tam-muội như trên. Lại được Bồ-tát mười môn thần thông. Lại được Bồ-tát vô biên biện tài. Lại được Bồ-tát vô ngại tịnh thân, đến chỗ chư Phật mười phương để nghe pháp, làm đại pháp sư diễn nói diệu pháp. Quốc vương lại dùng thần lực đến mười phương thế giới tùy tâm chúng sanh mà vì hiện thân, tán thán Phật xuất thế, nói bổn hạnh của Phật, bày bổn duyên của Phật, tán dương thần lực tự tại của Như Lai, hộ trì Phật pháp. Thái tử ở tại kim điện, đúng ngày rằm, thất bảo tự hiện đầy đủ: Một là luân bảo tên là Vô Ngại Hành. Đã đủ bảy báu, Thái tử làm Chuyển luân vương cai trị Diêm-phù-đề, nhân dân được an lạc. Luân vương có ngàn vương tử đoan chánh dũng kiện, có thể dẹp oán địch. Trong Diêm-phù-đề có tám mươi vương thành. Trong mỗi thành có năm trăm tăng phường. Mỗi tăng phường đều lập tinh xá cao rộng xinh đẹp, trang nghiêm với những diệu bảo. Mỗi vương thành đều thỉnh đức Thắng Nhật Thân Như Lai đến để cúng dường. Lúc nhập thành, đức Như Lai hiện đại thần lực khiến vô lượng chúng sanh gieo những căn lành, vô lượng chúng sanh tâm được thanh tịnh, thấy Phật hoan hỷ, phát tâm Bồ-đề, khởi lòng đại bi lợi ích chúng sanh, siêng tu Phật pháp chứng nhập thật nghĩa, trụ nơi pháp tánh rõ pháp bình đẳng, được tam thế trí bình đẳng xem xét tam thế biết tất cả Phật thứ đệ xuất thế thuyết pháp độ sanh, phát Bồ-tát nguyện, nhập Bồ-tát đạo, biết Như Lai pháp, thành tựu pháp hải, có thể khắp hiện thân khắp tất cả cõi, biết căn tánh dục lạc của chúng sanh khiến họ phát khởi chí nguyện Nhất thiết trí. Nàng Cù-ba bảo Thiện Tài rằng: Này Thiện nam tử! Xưa kia, Thái tử được ngôi Chuyển luân vương cúng dường đức Phật Thắng Nhật Thân Như Lai chính là đức Thích-ca-mâu-ni Thế Tôn hiện nay. Quốc vương Tài Chủ thuở xưa, nay là đức Bảo Hoa Phật hiện ngự đạo tràng Hiện Nhất Thiết Thế Chủ Thân ở Thế giới Viên Mãn Quang, trong thế giới chủng Phổ Hiện Tam Thế Ảnh Ma-ni Vương, tại thế giới hải Hiện Pháp Giới Hư Không Ảnh Tượng Vân cách đây về phương đông quá thế giới hải vi trần số cõi Phật. Có bất khả thuyết phật sát vi trần số chúng Bồ-tát vây quanh nghe pháp. Lúc Bảo Hoa Như Lai tu Bồ-tát hạnh, đức Phật nghiêm tịnh thế giới hải này. Nơi đây chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai xuất thế, đều là những vị do Bảo Hoa Như Lai lúc còn làm Bồ-tát, giáo hóa khiến phát tâm vô thượng Bồ-đề. Bà Thiện Hiện, thân mẫu của đồng nữ Diệu Đức, nay là thân mẫu của ta, bà Thiện Mục đấy. Quyến thuộc của nhà vua xưa kia, nay là chúng hội của đức Như Lai, đều tu hành đủ những hạnh Phổ Hiền, thành mãn đại nguyện. Dầu hằng ở tại đạo tràng của đức Thích-ca-mâu-ni Thế Tôn, mà có thể hiện khắp tất cả thế gian, trụ Bồ-tát bình đẳng tam-muội, thường được hiện thấy tất cả chư Phật, đều nghe lãnh được pháp luân của tất cả Như Lai, đều được tự tại nơi tất cả pháp, tiếng đồn khắp các Phật độ, đến chỗ tất cả đạo tràng, hiện trước tất cả chúng sanh, tùy nghi giáo hóa điều phục, tu Bồ-tát đạo tận vị lai kiếp không gián đoạn, thành mãn những thệ nguyện quảng đại của Phổ Hiền. Này Thiện nam tử! Nàng Diệu Đức xưa kia, chính là thân ta ngày nay. Đức Thắng Nhật Thân Như Lai diệt độ, sau đó, trong thế giới ấy có sáu mươi ức trăm ngàn na-do-tha đức Phật xuất thế, ta cùng Luân vương đều kính thờ cúng dường. Tối sơ Phật hiệu là Thanh Tịnh Thân, theo thứ đệ có Phật Nhất thiết Trí Nguyệt Quang Minh Thân, Phật Diêm-phù-đàn Kim Quang Minh Vương, Phật Chư Tướng Trang Nghiêm Thân, Phật Diệu Nguyệt Quang, Phật Trí Quán Tràng, Phật Đại Trí Quang, Phật Kim Cang Na-la-diên Tinh Tấn, Phật Trí Lực Vô Năng Thắng, Phật Phổ An Tường Trí, Phật Ly Cấu Thắng Trí Vân, Phật Sư Tử Trí Quang Minh, Phật Quang Minh Kế, Phật Công Đức Quang Minh Tràng, Phật Trí Nhật Tràng, Phật Bảo Liên Hoa Khai Phu Thân, Phật Phước Đức Nghiêm Tịnh Quang, Phật Trí Diệm Vân, Phật Phổ Chiếu Nguyệt, Phật Trang Nghiêm Cái Diệu Âm Thanh, Phật Sư Tử Dũng Mãnh Trí Quang Minh, Phật Pháp Giới Nguyệt, Phật Hiện Hư Không Ảnh Tượng Khai Ngộ Chúng Sanh Tâm, Phật Hằng Khứu Tịch Diệt Hương, Phật Phổ Chấn Tịch Tịnh Âm, Phật Cam Lộ Sơn, Phật Pháp Hải Âm, Phật Kiên Cố Võng, Phật Ảnh Kế Như Lai, Phật Nguyệt Quang Hào, Phật Biện Tài Khẩu, Phật Giác Hoa Trí, Phật Bảo Diệm Sơn, Phật Công Đức Tịnh, Phật Bảo Nguyệt Tràng, Phật Tam-muội Thân, Phật Bảo Quang Vương, Phật Phổ Trí Hành, Phật Diệm Hải Đăng, Phật Ly Cấu Pháp Âm Vương, Phật Vô Tỷ Đức Danh Xưng Tràng, Phật Tu Tý, Phật Bổn Nguyện Thanh Tịnh Nguyệt, Phật Chiếu Nghĩa Đăng, Phật Thâm Viễn Âm, Phật Tỳ-lô-giá-na Thắng Tạng Vương, Phật Chư Thừa Tràng, Phật Pháp Hải Diệu Liên Hoa. Có sáu mươi ức trăm ngàn na-do-tha đức Phật như vậy xuất thế trong thế giới ấy, ta đều kính thờ cúng dường. Tối Hậu Phật hiệu là Quảng Đại Giải. Nơi đức Phật này ta được trí nhãn thanh tịnh. Lúc đó, đức Phật Quảng Đại Giải vào thành giáo hóa, ta làm Vương phi, cùng Quốc vương kính lễ Phật, đem những diệu vật dâng lên cúng dường, nghe đức Phật nói pháp môn Xuất Sanh Nhất Thiết Như Lai Đăng, ta liền chứng được môn giải thoát quán sát nhất thiết Bồ-tát tam-muội hải cảnh giới. Này Thiện nam tử! Khi ta đã được môn giải thoát này, cùng với Bồ-tát trong phật sát vi trần số kiếp siêng năng tu tập, kính thờ cúng dường vô lượng chư Phật. Hoặc trong một kiếp kính thờ một đức Phật, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bất khả thuyết đức Phật, hoặc gặp phật sát vi trần số đức Phật, ta đều thân cận kính thờ cúng dường, mà chưa biết được thân hình, sắc mạo, thân nghiệp, tâm hành, trí tuệ cảnh giới, tam-muội của Bồ-tát. Này Thiện nam tử! Nếu có chúng sanh được thấy Bồ-tát tu hạnh Bồ-đề, hoặc nghi, hoặc tin, Bồ-tát đều dùng những phương tiện thế gian xuất thế gian để nhiếp thủ họ, dùng họ làm quyến thuộc, khiến họ không thối chuyển nơi vô thượng Bồ-đề. Này Thiện nam tử! Nơi đức Phật Quảng Đại Giải sau khi được môn giải thoát này, ta cùng Bồ-tát chung tu tập trong thời gian trăm phật sát vi trần số kiếp, trong những kiếp ấy có bao nhiêu đức Phật xuất thế, ta đều thân cận kính thờ cúng dường, nghe Phật thuyết pháp đọc tụng thọ trì. Ở chỗ chư Như Lai đó, ta được những môn giải thoát này, biết những tam thế, nhập những sát hải, thấy chư Phật thành Đẳng chánh giác, vào những chúng hội, phát những đại nguyện của Bồ-tát, tu những diệu hạnh của Bồ-tát, được những giải thoát của Bồ-tát, nhưng chưa biết được môn Phổ Hiền giải thoát mà Bồ-tát đã được. Tại sao vậy? Vì môn Phổ Hiền giải thoát của Bồ-tát như thái hư không, như tên của chúng sanh, như tam thế hải, như thập phương hải, như pháp giới hải, vô lượng vô biên. Môn Phổ Hiền giải thoát của Bồ-tát đồng với cảnh giới của Như Lai. Này Thiện nam tử! Trong Phật sát vi trần số kiếp, ta quán thân Bồ-tát không biết nhàm. Như người đa dục nam nữ hội họp ái nhiễm nhau sanh vô lượng vọng tưởng. Cũng vậy, ta quán thân của Bồ-tát, nơi mỗi lỗ chân lông, mỗi niệm thấy vô lượng vô biên thế giới rộng lớn, những sự an trụ, trang nghiêm, hình trạng, những núi, đất, mây, danh hiệu, Phật xuất thế; những đạo tràng, chúng hội, diễn thuyết những khế kinh, những sự quán đảnh, các thừa, những phương tiện, những thanh tịnh. Lại mỗi niệm nơi mỗi lỗ lông của Bồ-tát thường thấy vô biên Phật hải: những sự ngồi đạo tràng, những thần biến, thuyết pháp, thuyết kinh hằng không gián đoạn. Lại nơi mỗi lỗ chân lông của Bồ-tát thấy vô biên chúng sanh hải: những trụ xứ, hình mạo, tác nghiệp, căn tánh. Lại nơi mỗi lỗ chân lông của Bồ-tát thấy vô biên công hạnh của tam thế Bồ-tát: vô biên nguyện quảng đại, vô biên bậc sai biệt, vô biên ba-la-mật, vô biên sự thuở xưa, vô biên môn đại từ, vô biên mây đại bi, vô biên tâm đại hỷ, vô biên phương tiện nhiếp thủ chúng sanh. Này Thiện nam tử! Trong Phật sát vi trần số kiếp, mỗi niệm xem thấy nơi mỗi chân lông của Bồ-tát như vậy, chỗ đã đến không còn lại đến, chỗ đã thấy không còn lại thấy, tìm bờ mé đó trọn không thể được. Nhẫn đến thấy thái tử Tất-đạt ở trong hoàng cung, thể nữ vây quanh, ta dùng sức giải thoát xem nơi mỗi chân lông của Bồ-tát, thấy tất cả sự trong tam thế pháp giới. Này Thiện nam tử! Ta chỉ được môn giải thoát Quán sát Bồ-tát tam-muội hải này. Như chư đại Bồ-tát rốt ráo vô lượng những phương tiện hải, vì tất cả chúng sanh mà hiện tùy loại thân, vì tất cả chúng sanh mà nói tùy lạc hạnh, nơi mỗi chân lông hiện vô biên sắc tướng hải, biết các pháp tánh lấy vô tánh làm tánh, biết tánh chúng sanh đồng tướng hư không, chẳng có phân biệt, biết thần lực của Phật đồng với như như, khắp tất cả chỗ thị hiện vô biên cảnh giới giải thoát. Trong một niệm có thể tự tại nhập pháp giới quảng đại, du hý tất cả pháp môn của các bậc Bồ-tát... Ta làm sao biết, nói được công đức hạnh đó. Này Thiện nam tử! Trong thế giới này có Phật Mẫu Ma-da. Người đến đó hỏi Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh ở trong thế gian không nhiễm trước. Cúng dường chư Phật không thôi nghỉ. Tu Bồ-tát nghiệp trọn chẳng thối chuyển. Lìa tất cả chướng ngại, nhập Bồ-tát giải thoát. Chẳng do người khác mà trụ tất cả Bồ-tát đạo. Đến chỗ tất cả Như Lai. Nhiếp tất cả chúng sanh giới. Tận kiếp vị lai tu Bồ-tát hạnh, phát đại thừa nguyện. Tăng trưởng thiện căn cho tất cả chúng sanh thường không thôi nghỉ. Bấy giờ, nàng Thích-ca Cù-ba muốn tuyên lại nghĩa giải thoát này, thừa thần lực của Phật mà nói kệ rằng: Nếu ai thấy Bồ-tát Nếu người nào thấy Bồ-tát tu những công hạnh đó thì dù khởi tâm thiện hay bất thiện cũng đều được Bồ-tát nhiếp thủ. Thường cúng dường cung kính là khởi tâm thiện, hay ngăn trở chướng ngại là khởi tâm bất thiện. Cả hai Bồ-tát đều nhiếp thủ, chứ không phải chỉ cứu độ người thiện còn người ác thì không cứu độ. Thuở lâu xa về trước Nếu vị lãnh đạo trong chúng có trí tuệ biện tài thì mọi người nương đó đều được thanh tịnh. Có lúc nhân khất thực Tuy cúng dường với tâm ái nhiễm mà hai trăm năm mươi kiếp cũng không đọa ác đạo. Hoặc sanh nhà thiên vương Thanh tịnh nhãn là con mắt thanh tịnh, nhìn thấu biết rõ các pháp tướng. Do biết rõ các pháp tướng nên thấy tột cùng những chỗ đã thọ sanh, dứt trừ hết tâm điên đảo. Ta được môn giải thoát Quán Bồ-tát tam-muội tức là quán hình tướng Bồ-tát mà được tam-muội. Trong một niệm vào khắp mười phương cõi nước nhiều như biển không thể nghĩ nghì. Ta thấy các thế giới Quan niệm của Bồ-tát đến bậc này khác hẳn chúng ta. Chúng ta bây giờ tu chán uế ưa sạch, chán động ưa tịnh v.v… Đối với Bồ-tát hàng Thập địa, tâm các ngài đã bình đẳng không còn thấy uế tịnh để sanh ra ưa chán. Vì ưa hay chán là còn ở hai bên, nên Bồ-tát nơi tịnh chẳng tham ưa, nơi uế chẳng ghét bỏ. Thấy khắp các thế giới Thấy mười phương thế giới chư Phật ngồi đạo tràng, ở trong một niệm phóng quang minh vô lượng. Một niệm là nói về thời gian cực ngắn, vậy mà trong một niệm vào được khắp bất khả thuyết chúng hội, biết rõ tất cả hạnh nguyện quảng đại cùng vô lượng phương tiện của tất cả chúng hội. Bởi tâm lặng lẽ như như, không có niệm thứ hai nên gọi đó là một niệm, hay một niệm hiện tiền. Nói cách khác, chỉ một tâm thanh tịnh mà vào khắp tất cả cõi nước bất khả thuyết, biết rõ hết những hạnh nguyện quảng đại của chư Phật v.v… Ta quán thân Bồ-tát Nghĩa là trong mỗi lỗ chân lông hiện ra vô biên kiếp tu hành, cũng không thể tính lường được hết công phu tu hành tích luỹ của Bồ-tát. Nơi mỗi mỗi chân lông Bồ-tát đã thể nhập pháp thân nên mỗi lỗ chân lông đều từ pháp thân hiện vô số cõi với đầy đủ đất nước gió lửa... không thể tính kể. Bao nhiêu sự kiến lập Chẳng biết thân Bồ-tát và tất cả thân nghiệp. Bồ-tát đã thể nhập pháp thân nên không còn thấy thân Bồ-tát, mà đã không biết thân Bồ-tát thì làm sao thấy được thân nghiệp của Bồ-tát. Cũng chẳng biết tâm trí, thành đạo trong nhiều kiếp. Thể nhập pháp thân rồi thì báo hóa thân trở thành vô nghĩa, không còn quan trọng nữa, nên không thấy có những hiện tướng tu hành, thành đạo... Nói cách khác là Bồ-tát từ nơi thân tướng mà nhìn tận pháp thân, khi đã thấu suốt pháp thân rồi thì thìn hóa thân này không có gì quan trọng. Như khi được hỏi về việc sanh tử, Tuệ Trung thượng sĩ nói như hòn bọt ngoài biển cả, như hai vành xe trong hư không, không có gì quan trọng. Đó là cái nhìn của Bồ-tát, còn chúng ta quen thấy thân tướng quan trọng nên chưa thấy được pháp thân. Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân nàng Thích-ca Cù-ba, hữu nhiễu vô số vòng, từ tạ mà đi. Thiện Tài nhất tâm muốn đến chỗ Ma-da phu nhân, tức thời chứng được trí quán Phật cảnh giới. Thiện Tài nhất tâm muốn đến ra mắt Ma-da phu nhân, liền chứng được Trí quán Phật cảnh giới. Ở những phần sau này chúng ta thấy nói đến quyến thuộc của Phật, từ vợ con rồi tới mẹ. Như vậy, phần trước là thuộc về Bồ-tát thập địa, nên mượn hình ảnh bà Cù-ba là vợ của Thái tử, tức là người bạn gần của Phật, ngầm chỉ cho quả vị Thập địa sắp kề ngôi Diệu giác. Đến phần này là bước lên Đẳng giác, cũng được tượng trưng qua mười vị thiện tri thức, mà vị thiện tri thức đầu tiên là Ma-da phu nhân, người sanh ra đức Phật. Thiện Tài tự nghĩ rằng: Thiện tri thức này xa lìa thế gian an trụ nơi vô sở trụ, siêu quá sáu trần, lìa tất cả chấp trước, biết đạo vô ngại, đủ pháp thân thanh tịnh, dùng nghiệp như huyễn mà hiện hóa thân, dùng trí như huyễn mà quán thế gian, dùng nguyện như huyễn mà gìn giữ thân Phật. Bồ-tát Thập địa là thiện tri thức đã vượt ngoài thế gian, an trụ chỗ không trụ. Thế nào gọi là trụ nơi vô sở trụ? Trong kinh Kim Cang, Phật nói: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.” Đây gọi là siêu quá sáu trần. Không trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp... lìa tất cả chấp trước, biết đạo vô ngại. Như vậy chỗ vô sở trụ cũng nhằm chỉ cho tâm không trụ mắc nơi sáu trần, nếu còn dính sáu trần tức là còn trụ, không dính sáu trần đó là trụ chỗ không trụ. Chúng ta tự kiểm lại xem, khi tâm mình không dấy một niệm thì lúc đó an trụ hay loạn động, là có nơi chốn hay không nơi chốn? Tất cả niệm dấy khởi đều có chỗ nơi, đều dính mắc vào sáu trần. Không nghĩ về sắc thì nghĩ về thanh, không nghĩ về hương thì nghĩ về vị v.v... Vừa dấy niệm là dính mắc, là trụ trong sáu trần, nếu không dấy niệm thì không có chỗ trụ. Vì không chỗ trụ nên tâm không động, gọi là vô sở trụ mà trụ, hay an trụ nơi vô sở trụ. Vượt ra ngoài sáu trần, lìa tất cả chấp trước. Bởi khởi tâm chạy theo cảnh mới có chấp trước, không chạy theo cảnh lấy gì mà chấp. Khi ấy rõ biết đạo vô ngại, thể nhập pháp thân. Thân theo ý sanh, thân không sanh diệt, thân không lai khứ, thân chẳng phải hư thật, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận. Chúng ta cứ tìm kiếm đâu đâu, không ngờ chín ngay không chỗ trụ là pháp thân thanh tịnh. An trụ nơi pháp thân thanh tịnh rồi từ đó dấy lên diệu dụng, dùng nghiệp như huyễn mà hiện hóa thân, dùng trí như huyễn quán sát thế gian. Có bao nhiêu tướng đều là thân một tướng, thân rời hai bên, thân không chỗ tựa nương. Thân một tướng tức thân từ pháp thân hiện, cho nên dù có bao nhiêu thân tướng cũng không rời pháp thân. Thân đó lìa hai bên, không kẹt bên có cũng không kẹt bên không, không chỗ nương tựa, an trụ nơi vô sở trụ. Thân vô cùng tận, thân như ảnh hiện rời phân biệt. Biết thân như mộng, như tượng trong gương. Thân như tịnh nhật, thân hoá hiện khắp mười phương. Thân ở tam thế không đổi khác. Tất cả thân đều vì chúng sanh mà tùy duyên ứng hóa, Bởi tùy duyên ứng hóa nên hiện thân như ảnh, như mộng, tợ hình bóng trong gương, rời tất cả sự phân biệt. Cũng như mặt trời sáng trong, chiếu hiện khắp mười phương, thân ấy ở trong ba đời đều không đổi dời. Thân chẳng phải thân tâm, dường như hư không chỗ đi vô ngại, siêu thế gian nhãn, chỉ tịnh nhãn của Phổ Hiền mới thấy được. Thân đó không có hình tướng nên không phải thân, cũng không dấy niệm nên không phải tâm. Chữ tâm ở đây là chỉ cho dấy niệm, dấy niệm gọi là tâm khởi. Pháp thân không có dấy niệm cũng không hình tướng, vì vậy không bị chướng ngại như hư không. Nên nói, thân chẳng phải thân tâm, dường như hư không chỗ đi vô ngại. Siêu thế gian nhãn, chỉ có tịnh nhãn của Phổ Hiền mới có thể thấy được. Phổ Hiền là Sai biệt trí, tịnh nhãn của ngài tức chỉ cho Căn bản trí. Con mắt thế gian không thể nhìn thấy, phải dùng con mắt thanh tịnh của Phổ Hiền mới thấy được thân ấy. Hạng người như vậy, tôi làm sao được thân cận để kính thờ cúng dường, để được cùng ở hầu quan sát dung mạo, nghe tiếng nói, suy nghĩ lời dạy và nhận lãnh. Ở đây cụ thể hóa pháp thân như một thân có hình tướng, có dạy bảo, nên nói hạng người như vậy, tôi làm sao thân cận kính thờ được... Bởi pháp thân không có dung mạo để quan sát, không có tiếng nói để nghe, cũng không có lời dạy để nhận. Bấy giờ, có Chủ thành thần tên là Bao Nhãn, quyến thuộc vây quanh hiện thân trên không trung, tay cầm những bảo hoa nhiều màu rải trên mình Thiện Tài mà bảo rằng: Này Thiện nam tử! Phải giữ gìn thành trì của tâm, nghĩa là chẳng tham tất cả cảnh giới sanh tử. Phải trang nghiêm thành trì của tâm, nghĩa là chuyên ý xu cầu Phật thập lực. Muốn được viên mãn pháp thân thì phải làm sao? Vị thần làm chủ thành này tên là Bảo Nhãn, chỉ dạy cho ngài: Phải giữ gìn thành trì của tâm. Gìn giữ thành trì của tâm bằng cách nào? Chẳng tham tất cả cảnh giới. Đừng mắc kẹt những cảnh giới sắc tướng bên ngoài, đó là dùng thập lực của Phật để trang nghiêm thành trì của tâm. Phải tịnh trị tâm thành, nghĩa là dứt hẳn bỏn sẻn, ganh ghét, dua bợ, phỉnh dối. Phải thanh lương tâm thành, nghĩa là tư duy thật tánh của tất cả pháp. Tâm thành tức thành trì của tâm. Tịnh trị là quét tước dọn dẹp cho sạch sẽ. Làm sạch thành trì của tâm bằng cách dứt bỏn sẻn, ganh ghét, dua bợ, phỉnh dối... Thanh lương tâm thành nghĩa là làm cho thành trì của tâm được mát mẻ. Muốn vậy phải luôn luôn suy xét về thật tánh của các pháp. Nếu không thấy được thật tánh của các pháp thì tâm rất khó mát mẻ thanh lương. Phải tăng trưởng tâm thành, nghĩa là làm xong tất cả pháp trợ đạo. Phải nghiêm sức tâm thành, nghĩa là tạo lập cung điện thiền định giải thoát. Thực hành viên mãn các pháp trợ đạo là tăng trưởng thành trì của tâm. Dùng thiền định giải thoát làm cung điện, đó là nghiêm sức thành trì của tâm. Lối diễn tả ở đây thật khéo léo, rất có giá trị về mặt văn học. Cụ thể qua hình ảnh tâm là thành trì, thiền định là cung điện ở trong thành trì đó. Phải chiếu diệu tâm thành, nghĩa là vào khắp tất cả Phật đạo tràng nghe lãnh pháp Bát-nhã ba-la-mật. Phải tăng ích tâm thành, nghĩa là nhiếp khắp tất cả Phật phương tiện đạo. Soi sáng thành trì của tâm bằng cách vào khắp đạo tràng của Phật, nghe và thâm nhập pháp Bát-nhã ba-la-mật. Thâu nhiếp tất cả phương tiện của Phật, đó là làm cho thành trì của tâm được tăng ích. Phải kiên cố tâm thành, nghĩa là hằng siêng tu tập hạnh nguyện Phổ Hiền. Phải phòng hộ tâm thành, nghĩa là thường chuyên ngăn ngừa ác hữu và ma quân. Muốn kiên cố thành trì của tâm tức phải hằng siêng năng tu tập mười hạnh nguyện Phổ Hiền. Phòng hộ bằng cách giữ gìn không cho bạn ác và ma quân xâm nhập quấy nhiễu. Phải rỗng suốt tâm thành, nghĩa là khai dẫn tất cả ánh sáng Phật trí. Phải khéo bồi bổ tâm thành, nghĩa là nghe lãnh tất cả Phật pháp. Đem ánh sáng của trí tuệ Phật khai mở chiếu soi, làm cho thành trì của tâm luôn rỗng suốt. Nghe học Phật pháp để bồi bổ thành trì của tâm, hư hỏng chỗ nào, bại hoại chỗ nào... bổ túc sửa sang cho được vững chắc. Mỗi một lần chúng ta học Phật pháp là một dịp bổ túc những chỗ còn khuyết, nên nói nghe lãnh Phật pháp là bồi bổ tâm thành. Phải phò trợ tâm thành, nghĩa là thâm tín tất cả Phật công đức hải. Phải quảng đại tâm thành, nghĩa là đại từ đến khắp tất cả thế gian. Phò trợ thành trì của tâm bằng cách tin sâu tất cả công đức của Phật. Khởi tâm đại từ ban vui cứu độ đến khắp thế gian là làm cho thành trì của tâm được rộng lớn thêm ra. Phải khéo che đậy tâm thành, nghĩa là tích tập những thiện pháp để đậy trên tâm. Che đậy thành trì của tâm bằng việc tích tập tất cả pháp lành, dùng pháp lành làm mái che thành tâm của mình. Phải rộng rãi tâm thành, nghĩa là đại bi thương xót tất cả chúng sanh. Phải mở cửa tâm thành, nghĩa là đem tất cả sở hữu tùy nghi bố thí giúp đỡ. Trên nói quảng đại tâm thành là khởi lòng đại từ, đây nói rộng rãi tâm thành là dấy lên tâm đại bi. Tùy nghi bố thí giúp đỡ người khác với những gì mình có, đó là mở cửa thành trì của tâm. Phải giữ kín tâm thành, nghĩa là phòng những ác dục chẳng cho vào. Phải nghiêm túc tâm thành, nghĩa là đuổi những pháp ác chẳng cho ở chung. Muốn thành trì của tâm không bị giặc ác xâm nhập thì phải đóng kín cửa lại đừng cho ngũ dục thế gian chen vào. Nghiêm túc tâm thành, đuổi hết những pháp ác không cho ở chung. Phải quyết định tâm thành, nghĩa là tích tập tất cả pháp trợ đạo hằng không thối chuyển. Phải an lập tâm thành, nghĩa là chánh niệm cảnh giới của tam thế tất cả Như Lai. Quyết định tâm thành, tích tập những pháp trợ đạo không để cho thối chuyển. An lập thành trì của tâm bằng cách chuyên nhớ tất cả cảnh giới của Phật. Phải sáng bóng tâm thành, nghĩa là thông suốt tất cả những pháp môn, những duyên khởi trong khế kinh của chư Phật đã tuyên thuyết. Tu học thông suốt những pháp môn, hiểu rõ lý duyên khởi trong khế kinh là làm cho thành trì của tâm được sáng bóng đẹp đẽ. Phải bộ phận tâm thành, nghĩa là hiển khắp tất cả chúng sanh cho họ được thấy đạo Nhất thiết trí. Phải trụ trì tâm thành, nghĩa là phát những đại nguyện hải của tất cả tam thế chư Như Lai. Chỉ dạy khiến cho chúng sanh thấy đạo Nhất thiết trí, tức là kiện toàn từng bộ phận thành trì của tâm. Trụ giữ thành tâm bằng cách phát thệ nguyện rộng lớn như biển của tất cả chư Như Lai trong ba đời. Phải phú quý tâm thành, nghĩa là chứa nhóm tất cả phước đức lớn cùng khắp pháp giới. Phải làm cho tâm thành sáng rõ, nghĩa là biết khắp những pháp căn dục của chúng sanh. Người nào chứa nhóm phước đức nhiều thì trong thành trì tâm họ luôn giàu sang, sung túc. Biết tất cả căn dục của chúng sanh, lòng ham thích những gì, trình độ đến đâu để mà hóa độ họ, vì vậy phải giữ cho thành tâm luôn hằng sáng tỏ. Phải làm cho tâm thành tự tại, nghĩa là nhiếp khắp tất cả thập phương pháp giới. Phải làm cho tâm thành thanh tịnh, nghĩa là chánh niệm tất cả chư Phật Như Lai. Phải làm cho thành tâm tự tại là nhiếp khắp mười phương pháp giới. Làm cho thành tâm được thanh tịnh là chánh niệm tất cả chư Phật. Phải biết tự tánh của tâm thành, nghĩa là biết tất cả pháp đều không tự tánh. Phải biết tâm thành như huyễn, nghĩa là dùng Nhất thiết trí biết rõ những pháp tánh. Phải biết tự tánh của thành tâm, tức là thấy tất cả pháp không có tự tánh. Thấy các pháp không có tự tánh, cũng là yếu chỉ của Thiền tông. Như khi ngài Huệ Khả đến thưa với tổ Bồ-đề-đạt-ma: Tâm con không an xin Hòa thượng dạy con phương pháp an tâm. Tổ Bồ-đề-đạt-ma nói: Đem tâm ra đây ta an cho. Ngài Huệ Khả tìm một hồi, thưa: Con tìm tâm không được. Tổ nói: Ta đã an tâm cho ngươi rồi. Rõ ràng, biết được tự tánh đó là thấy đạo. Chỗ này kinh và thiền phù hợp nhau. Cho nên các ngài ngộ đạo không phải ngộ cái gì khác với kinh điển, mà chính là nhận rõ yếu chỉ trong kinh đức Phật đã dạy. Này Thiện nam tử! Đại Bồ-tát nếu có thể tịnh tu tâm thành như vậy thì có thể tích tập tất cả thiện pháp. Bồ-tát khi tu gìn giữ thành trì của tâm được như vậy thì mới có thể chứa nhóm tất cả pháp lành. Tại sao vậy? Vì trừ bỏ tất cả những chướng nạn: Những là chướng thấy Phật, chướng nghe pháp, chướng cúng dường Như Lai, chướng nhiếp chúng sanh, chướng tịnh Phật độ. Này Thiện nam tử! Đại Bồ-tát do lìa những chướng nạn như vậy, nếu phát tâm mong cầu thiện tri thức, chẳng cần dùng công lực bèn được thấy. Nhẫn đến rốt ráo tất sẽ thành Phật. Chúng ta đọc qua đoạn này thấy rất mâu thuẫn, tại sao thấy Phật, nghe pháp, cúng dường Như Lai cho đến nhiếp chúng sanh, tịnh Phật quốc độ là chướng? Ở trước dạy tu là phải phát tâm cúng dường Phật, nghe pháp, nhiếp chúng sanh v.v... mà đến đây gọi đó là chướng, bảo phải trừ bỏ. Khi nào trừ bỏ được chướng thấy Phật, chướng nghe pháp... thì việc phá tâm cầu thiện tri thức chẳng cần dùng dụng công liền được thấy. Như vậy cầu thiện tri thức đó chính là cầu pháp thân. Bồ-tát tu hành đến đây gần viên mãn quả Phật, tức từ Đẳng giác sắp lên Diệu giác. Vì vậy phải xả bỏ tất cả những chướng thuộc về sắc tướng, âm thanh... Kinh Kim Cang nói: Nhược dĩ sắc biến ngã Dĩ âm thanh cầu ngã Thị nhân hành tà đạo Bất năng biến Như Lai. Thấy Phật là sắc tướng, nghe pháp là âm thanh, cúng dường, nhiếp chúng sanh, tịnh Phật độ... tất cả đều thuộc về hình tướng. Nếu còn mắc kẹt vào hình tướng bên ngoài, dù là hình tướng Phật cũng chưa thể nhập được pháp thân. Vì còn kẹt vào cái thấy bên ngoài tức là chướng. Trừ được những thứ chướng đó thì pháp thân hiện tiền, đâu cần dụng công. Nên nói, chẳng cần dùng công lực bèn được thấy. Nhẫn đến rốt ráo tất sẽ thành Phật. Tất cả kinh điển Đại thừa đều chỉ cho mọi người nhận ra bản tâm thanh tịnh của mình, đó là pháp thân. Nói thiện tri thức cũng nhằm chỉ cho pháp thân, rốt ráo đều quy về pháp thân. Muốn trở về pháp thân thì đừng dính mắc các pháp thiện ác ở bên ngoài. Như kinh Kim Cang nói “thiện pháp ưng xả hà huống phi pháp”. Thiện pháp là thấy Phật, nghe pháp, cúng dường, nhiếp hóa chúng sanh v.v... Pháp thiện còn phải xả mới thấy được pháp thân, huống là pháp ác mà còn chấp giữ thì vô lý vô cùng. Bấy giờ, có Thân Chúng thần tên là Liên Hoa Pháp Đức và Diệu Hoa Quang Minh, vô lượng chư thần vây quanh sau trước, ra khỏi đạo tràng dừng ở không trung trước mặt Thiện Tài dùng diệu âm thanh ca ngợi. Ma-da phu nhân, từ bông tai phóng lưới quang minh vô lượng sắc tướng chiếu khắp vô biên thế giới mười phương, cho Thiện Tài thấy tất cả chư Phật. Lưới quang minh đó hữu nhiễu thế gian giáp một vòng, rồi xoay về chiếu đỉnh đầu Thiện Tài và vào khắp lỗ lông trên thân Thiện Tài. Chúng ta thấy lối dạy tu tâm ở đây thật khéo léo cụ thể và có rất nhiều điều kỳ đặc. Thông thường Phật phóng quang giữa chặng mày hoặc trên trán, trên đảnh, hoặc nơi mũi, nơi lưỡi, hoặc từ ngực. Nhưng ở đây nói, từ hoa tai của Ma-da phu nhân phóng lưới quang minh vô lượng sắc, chiếu khắp vô biên thế giới, khiến cho Thiện Tài thấy được chư Phật v.v... Bởi trong năm căn, mắt tai mũi lưỡi và thân thì nhĩ căn thù thắng hơn hết. Bồ-tát dùng đại từ bi cứu khổ chúng sanh khắp cả pháp giới, nghe tiếng liền cứu không đợi thấy hình, nên được tượng trưng phóng quang ở hoa tai. Bồ-tát Quán Thế Âm tu tập pháp môn nhĩ căn viên thông, dùng tai nghe âm thanh mà cứu khổ chúng sanh. Liền đó Thiện Tài chứng được tịnh quang minh nhãn, vì lìa hẳn tất cả tối ngu si. Được ly ế nhãn, vì có thể rõ tánh của tất cả chúng sanh. Được ly cấu nhãn, vì có thể quán tất cả môn pháp tánh. Được tịnh tuệ nhãn, vì có thể quán tánh tất cả Phật độ. Được Tỳ-lô-giá-na nhãn, vì thấy pháp thân Phật. Được phổ quang minh nhãn, vì thấy thân Phật bình đẳng bất tư nghì. Được vô ngại quang nhãn, vì quan sát tất cả sát hải thành hoại. Được phổ chiếu nhãn, vì thấy thập phương Phật khởi đại phương tiện chuyển chánh pháp luân. Được phổ cảnh giới nhãn, vì thấy vô lượng Phật dùng sức tự tại điều phục chúng sanh. Được phổ kiến nhãn, vì thấy tất cả cõi chư Phật xuất thế. Đến đây Thiện Tài đồng tử chứng nhập được pháp thân Phật. Phần chứng nhập này nếu không hiểu rõ thì chúng ta sẽ thấy kỳ lạ. Bồ-tát tu đến địa vị Đẳng giác, trong Đẳng giác có chia ra mười bậc nhưng không có tên. Bậc đầu tiên chuyên tu về hạnh bố thí. Ở đây dùng hình ảnh Ma-da phu nhân là mẹ của đức Phật, để tượng trưng cho hàng Đẳng giác này. Tại sao? Bởi vì Như Lai lấy tâm đại từ bi làm mẹ, hay phát đại trí tuệ giáo hóa chúng sanh. Cho nên mẹ của Phật chính là đại từ bi chứ không phải mẹ theo thế gian. Trước khi Thiện Tài đồng tử tìm gặp Phật mẫu Ma-da phu nhân, ngài gặp vị thần giữ thành tên Bảo Nhãn. Ma-da phu nhân tượng trưng cho Đại bi, thần Bảo Nhãn tượng trưng cho trí nhãn là con mắt trí tuệ. Đến đây phần bi mạnh hơn phần trí, vì vậy vị chủ thành là bi mà vị thần giữ thành là trí. Do trí nhãn ở trong đại bi tiếp dẫn chúng sanh đạt được Phật quả, cho nên tượng trưng bằng hình ảnh vị thần hướng dẫn ngài Thiện Tài đi vào thành. Bấy giờ, có la-sát quỷ vương thủ hộ pháp đường của Bồ-tát, tên là Thiện Nhãn, cùng quyến thuộc một vạn la-sát câu hội, ở không trung dùng những hoa đẹp rải trên mình Thiện Tài mà nói rằng: Này Thiện nam tử! Bồ-tát thành tựu mười pháp thời được thân cận chư thiện trí thức. Đồng tử Thiện Tài vào trong gặp la-sát quỷ vương thủ hộ pháp đường, la-sát lại nói đạo lý cho ngài nghe. Bồ-tát dùng pháp đại trí không, thường ở trong biển sanh tử, vì la-sát thường ở trên hư không, nên mượn hình ảnh la-sát để tượng trưng cho chỗ đại trí không đó. La-sát là loài quỷ dữ ăn thịt chúng sanh, la-sát vương này cũng vậy, ăn thịt tất cả chúng sanh vô minh, nhưng chúng sanh đó là tham ái, sân hận, si mê v.v... chứ không phải những chúng sanh thông thường. Đây là mười pháp: Tâm thanh tịnh rời những dua bợ phỉnh dối. Đại bi bình đẳng nhiếp khắp chúng sanh, biết các chúng sanh không có thật. Xu hướng Nhất thiết trí, tâm không thối chuyển. Dùng sức tín giải vào khắp tất cả Phật đạo tràng. Được tịnh tuệ nhãn rõ các pháp tánh. Đại từ bình đẳng che chở khắp chúng sanh. Dùng trí quang minh chiếu rỗng những vọng cảnh. Dùng mưa cam lộ xối sanh tử nóng. Dùng mắt quảng đại soi suốt các pháp. Tâm thường tùy thuận chư thiện tri thức. Trong mười pháp này, pháp đầu tiên là tâm thanh tịnh rời những dua bợ phỉnh dối. Người thế gian mới tu sơ sơ cũng đã tập rời dua bợ phỉnh dối, tại sao tu tới Đẳng giác rồi mà còn nhắc điều này? Dua bợ phỉnh dối ở đây là lấy tưởng làm thật, nên lầm lẫn chạy theo hình tướng, cảnh giả bên ngoài. Tâm thường tùy thuận chư thiện tri thức, hằng hòa hợp với thiện tri thức, tức là trở về sống với pháp thân. Lại này Thiện nam tử! Bồ-tát thành tựu mười môn tam-muội thì thường hiện thấy chư thiện tri thức. Đây là mười môn tam-muội: Thanh tịnh luân pháp không tam-muội. Quan sát thập phương hải tam-muội. Nơi tất cả cảnh giới chẳng rời bỏ, chẳng tổn giảm tam-muội. Thấy khắp tất cả Phật xuất thế tam-muội. Nhóm tất cả tạng công đức tam-muội. Tâm hằng chẳng bỏ thiện tri thức tam-muội. Thường thấy tất cả thiện tri thức sanh Phật công đức tam-muội. Thường chẳng rời tất cả thiện tri thức tam-muội. Thường cúng dường tất cả thiện tri thức tam-muội. Thường không lỗi lầm ở chỗ tất cả thiện tri thức tam-muội. Này Thiện nam tử! Bồ-tát thành tựu mười môn tam-muội này thì thường được thân cận chư thiện tri thức. Lại được môn tam-muội thiện tri thức chuyển tất cả Phật pháp luân. Được môn tam-muội này rồi thì đều biết chư Phật thể tánh bình đẳng, gặp thiện tri thức mọi nơi. Thanh tịnh luân pháp không tam-muội, nghĩa là thấy các pháp tự tánh là không. Thành tựu mười thứ tam-muội này thì sẽ được gặp thiện tri thức ở tất cả mọi nơi, tức là thâm nhập được pháp thân. Thiện Tài ngước nhìn không trung mà thưa rằng: Lành thay, lành thay! Ngài vì thương xót nhiếp thọ tôi mà phương tiện dạy cho tôi pháp thấy thiện tri thức. Xin ngài vì tôi mà chỉ bảo thế nào đến chỗ thiện tri thức? Tìm thiện tri thức ở chỗ nào? La-sát vương nói: Này Thiện nam tử! Ngươi nên đảnh lễ khắp mười phương để cầu thiện tri thức. Nên chánh niệm tư duy tất cả cảnh giới để cầu thiện thi thức. Nên dũng mãnh tự tại du hành khắp mười phương để cầu thiện tri thức. Nên quán thân, quán tâm như mộng như ảnh để cầu thiện tri thức. La-sát quỷ vương chỉ cho Thiện Tài thấy được pháp thân trùm khắp cả mười phương, tất cả cảnh giới không ngoài pháp thân, vì mười phương đều không rời pháp thân mà có. Khi thể nhập pháp thân rồi thì thấy thân, cảnh, tâm vọng tưởng... đều như mộng như ảnh. Thiện Tài y lời làm theo, tức thời thấy đại bảo liên hoa từ đất vọt lên: cọng bằng kim cang, diệu bảo làm tạng, ma-ni làm cánh, quang minh bảo vương làm đài, hương báu nhiều màu làm tua, vô số lưới báu giăng che phía trên. Trên đài sen báu ấy có lâu các đẹp lạ tên là Phổ Nạp Thập Phương Pháp Giới Tạng. Nền bằng kim cang, ngàn cột ngay hàng đều bằng ma-ni bảo. Vách bằng vàng diêm-phù-đàn. Bốn mặt thòng những chuỗi ngọc. Thềm bậc lan can trang nghiêm giáp vòng. Trong lâu các có tòa như ý bảo liên hoa nghiêm sức với những châu báu, bảo lan, bảo y xen lẫn, bảo trướng, bảo võng che phía trên. Những phan lụa báu thòng rủ bốn phía. Gió nhẹ thổi lay phóng ánh sáng phát âm vang. Trong tràng bảo hoa tuôn những hoa đẹp. Trong lục lạc báu phát âm thanh tốt. Trong cửa báu thòng những chuỗi ngọc. Trong thân ma-ni chảy nước thơm. Trong miệng tượng bảo xuất hiện lưới liên hoa. Trong miệng bảo sư tử thổi mây diệu hương. Bảo luân phạm hình phát tiếng vui dạ. Linh kim cang bảo phát tiếng Bồ-tát đại nguyện. Trong tràng bảo nguyệt xuất hiện hình Phật hóa. Tịnh tạng bảo vương hiện tam thế Phật thứ đệ thọ sanh. Nhật tạng ma-ni phóng đại quang minh chiếu khắp tất cả quốc độ mười phương. Ma-Ni bảo vương phóng quang minh viên mãn của tất cả chư Phật. Tỳ-lô-giá-na ma-ni bảo vương nổi mây đồ cúng để dâng hiến tất cả chư Phật Như Lai. Như ý châu vương niệm niệm thị hiện Phổ Hiền thần biến sung mãn pháp giới. Tu-di bảo vương xuất hiện thiên cung điện, trong đây chư thiên nữ dùng diệu âm ca tụng công đức vi diệu bất tư nghì của đức Như Lai. Xung quanh bảo tòa này lại có vô lượng bảo tòa. Ma-da phu nhân hiện tịnh sắc thân ngồi trên đại bảo tòa ấy. Phần này diễn tả đồng tử Thiện Tài quán sát chỗ ở của Ma-da phu nhân. Tòa ngồi bằng bảo liên hoa từ đất vọt lên. Tất cả sự trang sức đều rất đẹp đẽ. Ma-da phu nhân thị hiện tịnh sắc thân vô lượng vô biên ngồi trên đại bảo tòa... Những hình ảnh này để nói lên Bồ-tát khi tới bậc Đẳng giác thì các công đức đã sắp viên mãn, cho nên bao nhiêu sự trang nghiêm tráng lệ hơn hẳn những bậc trước, cho đến thị hiện sắc thân cũng vô lượng. Nhắc lại, Ma-da phu nhân ở đây là nhằm chỉ cho pháp thân. Bởi là pháp thân nên mới làm mẹ của chư Phật, mới tùy hiện sắc thân. Những là: Sắc thân siêu tam giới, vì đã thoát tất cả loài hữu lậu. Sắc thân tùy tâm sở thích, vì với tất cả thế gian không chấp trước. Sắc thân cùng khắp, vì bằng số tất cả chúng sanh. Những sắc thân đó là gì? Sắc thân siêu vượt ngoài tam giới, vì không còn mắc kẹt trong hữu lậu. Sắc thân tùy tâm sở thích, vì đối với thế gian tâm không chấp trước. Sắc thân cùng khắp, vì có bao nhiêu chúng sanh thì hiện bấy nhiêu sắc thân. Sắc thân không gì sánh bằng, vì làm cho tất cả chúng sanh diệt trừ kiến chấp điên đảo. Sắc thân vô lượng thứ, vì tùy tâm của chúng sanh mà thị hiện. Sắc thân vô biên tướng, vì hiện khắp những hình tướng. Sắc thân không gì sánh bằng, vì diệt trừ kiến chấp điên đảo của chúng sanh, chúng sanh có bao nhiêu tâm tưởng thì Bồ-tát hiện bao nhiêu sắc thân để độ họ. Vì hiện khắp các hình tướng nên gọi là vô biên tướng. Sắc thân đối hiện khắp nơi, vì dùng đại tự tại để thị hiện. Sắc thân giáo hóa tất cả, vì tùy nghi mà thị hiện. Sắc thân hằng thị hiện, vì tận chúng sanh giới mà vẫn vô tận. Chỗ nào, lúc nào cũng có thể hiện sắc thân, vì còn chúng sanh thì còn Bồ-tát để độ họ, cho nên Bồ-tát hiện sắc thân vô lượng. Sắc thân vô khứ, vì nơi tất cả loài vẫn không diệt. Sắc thân vô lai, vì nơi tất cả thế gian vẫn không sanh. Tất cả loài không diệt, tất cả thế gian không sanh, cho nên sắc thân của Phật Bồ-tát cũng không khứ không lai. Tại sao? Vì đều là huyễn hóa. Sắc thân bất sanh, vì không sanh khởi. Sắc thân bất diệt vì rời ngữ ngôn. Sắc thân chẳng phải thật, vì được như thật. Sắc thân chẳng phải hư, vì tùy thế gian mà hiện. Sắc thân vô động, vì lìa hẳn sanh diệt. Sắc thân bất hoại, vì pháp tánh bất hoại. Vì không sanh khởi, nên gọi là bất sanh. Vì không thể dùng ngôn ngữ bàn nói đến được, nên gọi bất diệt. Vì được thể như chân thật của pháp thân, nên thấy sắc chân hiện ra chẳng thật. Vì tùy theo thế gian mà hiện, nên đối với thế gian vẫn thấy là có chứ không phải không có. Vì căn cứ vào pháp tánh bất hoại, nên thấy sắc thân cũng bất hoại. Sắc thân vô tướng, vì dứt đường ngôn ngữ. Sắc thân một tướng, vì lấy vô tướng làm tướng. Bởi lấy vô tướng làm tướng nên tất cả sắc thân đều là một tướng, vì bao nhiêu tướng sai biệt đồng là tự tánh không. Sắc thân như tượng, vì tùy tâm ứng hiện. Sắc thân như huyễn, vì huyễn trí sanh ra. Sắc thân như diệm, vì chỉ do tưởng mà còn. Sắc thân như ảnh, vì tùy nguyện hiện sanh. Sắc thân như mộng, vì tùy tâm mà hiện. Sắc thân pháp giới, vì tánh tịnh như hư không. Tượng là bóng dáng. Diệm nói đủ là dương diệm, tức sóng nắng. Nói sắc thân pháp giới là căn cứ vào thể tánh thanh tịnh của sắc thân như hư không, nên thấy sắc thân đồng pháp giới. Sắc thân đại bi, vì thường cứu hộ chúng sanh. Sắc thân vô ngại, vì niệm niệm cùng khắp pháp giới. Sắc thân vô biên, vì tịnh khắp tất cả chúng sanh. Sắc thân vô lượng, vì siêu xuất tất cả ngữ ngôn. Sắc thân vô trụ, vì nguyện độ tất cả thế gian. Sắc thân vô xứ, vì hằng hóa độ chúng sanh không thôi dứt. Sắc thân vô sanh, vì huyễn nguyện làm thành. Sắc thân vô thắng, vì siêu các thế gian. Sắc thân như thật, vì định tâm hiện ra. Sắc thân chẳng sanh, vì tùy nghiệp của chúng sanh mà xuất hiện. Sắc thân châu như ý, vì khắp thỏa mãn tất cả nguyện cầu của chúng sanh. Sắc thân vô phân biệt, vì chỉ tùy theo chúng sanh phân biệt mà khởi. Sắc thân rời phân biệt, vì tất cả chúng sanh chẳng biết được. Sắc thân vô tận, vì tận sanh tử tế của các chúng sanh. Sắc thân thanh tịnh, vì đồng vô phân biệt với Như Lai. Có thể nói đại khái hiện sắc thân vô biên là được rồi, tại sao ở đây phải kể ra sắc thân nhiều như vậy? Bởi vì kinh Hoa Nghiêm cốt nêu lên cho thấy, khi đạt được pháp thân thanh tịnh thì tùy chúng sanh mà hiện vô lượng sắc thân, chứ không phải tới đó rồi im lìm vắng lặng không còn gì. Thể nhập pháp thân thanh tịnh tự tại thì cảnh giới đó rực rỡ phi thường, có thể khởi diệu dụng không thể tính kể, vì vậy diễn tả Ma-da phu nhân hiện sắc thân vô lượng vô biên. Thân như vậy chẳng phải sắc, vì bao nhiêu sắc tướng như ảnh tượng cả. Chẳng phải thọ, vì đã diệt hẳn khổ thọ của thế gian. Chẳng phải tưởng, vì chỉ tùy theo chúng sanh tưởng mà hiện. Sắc thân đó không phải là thân sắc uẩn như chúng. Vì sao? Vì thấy tất cả sắc uẩn đều như bóng dáng, không thật có. Bởi không thật nên nên không thọ khổ như thế gian, vì tùy hóa độ chúng sanh mà hiện chứ không phải do tưởng nghiệp báo hiện. Chẳng phải hành, vì nương theo nghiệp như huyễn mà thành tựu. Hành tức là nghiệp. Chúng ta bởi nghiệp của quá khứ nên mang lấy tâm hành sanh diệt, còn sắc thân của Bồ-tát thị hiện không do hành uẩn tạo nên, vì không phải từ nghiệp của quá khứ, mà là nương theo nghiệp huyễn thành tựu để độ chúng sanh. Chẳng phải thức, vì là nguyện trí không vô tánh của Bồ-tát, vì ngữ ngôn của tất cả chúng sanh đều dứt, vì đã thành tựu thân tịch diệt. Nguyện trí không vô tánh của Bồ-tát, tức là Bồ-tát dùng trí tuệ biết tự tánh các pháp là không, tùy chúng sanh huyễn hiện chứ không phải thức tình. Bấy giờ, Thiện Tài lại thấy Ma-da phu nhân tùy theo tâm sở thích của các chúng sanh mà hiện sắc thân siêu quá tất cả thế gian. Những là: Hoặc hiện thân siêu quá thiên nữ nơi trời Tha Hóa Tự Tại, nhẫn đến siêu quá thiên nữ nơi trời Tứ Thiên vương. Hoặc hiện thân siêu quá long nữ, nhẫn đến siêu quá nhân nữ. Hiện vô lượng sắc thân như vậy để lợi ích chúng sanh, nhóm hợp pháp trợ đạo Nhất thiết trí, hành bình đẳng Đàn ba-la-mật, đại bi che khắp tất cả thế gian, xuất sanh vô lượng công đức của Như Lai, tu tập tăng trưởng tâm Nhất thiết trí, quán sát tư duy thật tánh của các pháp, được thâm nhẫn, đủ định môn, an trụ cảnh giới tam-muội bình đẳng, được Như Lai định, viên mãn quang minh, tiêu cạn biển lớn phiền não của chúng sanh, tâm thường chánh định chưa từng động loạn, hằng chuyển pháp luân thanh tịnh bất thối. Khéo biết rõ tất cả Phật pháp, hằng dùng trí tuệ quán khắp thật tướng, thấy chư Như Lai không lòng nhàm chán, biết tam thế Phật thứ đệ xuất thế, thấy tam-muội Phật thường hiện tiền, thấu rõ Như Lai xuất hiện nơi đời, vô lượng vô số những đạo thanh tịnh, đi nơi cảnh giới hư không của Phật. Nhiếp khắp chúng sanh đều theo tâm họ để giáo hóa thành tựu, nhập Phật vô lượng thanh tịnh pháp thân, thành tựu đại nguyện nghiêm tịnh Phật độ, rốt ráo điều phục tất cả chúng sanh, tâm hằng vào khắp cảnh giới của chư Phật, xuất sanh Bồ-tát tự tại thần lực, đã được pháp thân thanh tịnh vô nhiễm mà hằng thị hiện vô lượng sắc thân, xô dẹp tất cả ma lực thành sức đại thiện căn, xuất sanh sức chánh pháp, đầy đủ Phật lực, được sức tự tại của chư Bồ-tát, mau tăng trưởng sức Nhất thiết trí, được Phật trí quang chiếu khắp tất cả, biết hết tâm tánh giải dục sai biệt của vô lượng chúng sanh, thân cùng khắp mười phương cõi, biết rõ tướng thành hoại của các cõi, dùng quảng đại nhãn thấy thập phương hải, dùng châu biến trí biết tam thế hải, thân khắp thừa sự tất cả Phật hải, tâm hằng nạp thọ tất cả pháp hải, tu tập tất cả công đức của Như Lai, xuất sanh tất cả trí tuệ của Bồ-tát, thường thích quan sát tất cả Bồ-tát từ sơ phát tâm nhẫn đến thành tựu đạo Bồ-tát, thường siêng thủ hộ tất cả chúng sanh, thường thích tán dương công đức của chư Phật, nguyện làm mẹ của tất cả Bồ-tát. Đoạn này kể về công đức của Ma-da phu nhân, đến phần sau là nói về Thiện Tài đồng tử. Thiện Tài thấy Ma-da phu nhân hiện Diêm-phù-đề vi trần số môn phương tiện như vậy. Đúng như số thân của Ma-da phu nhân đã hiện, Thiện Tài cũng tự hiện bao nhiêu thân ở trước tất cả Ma-da phu nhân mà cung kính lễ bái. Thiện Tài thấy Ma-da phu nhân hiện bao nhiêu thân, ngài cũng hiện bao nhiêu thân như vậy để cung kính lễ bái. Sao hay vậy? Đồng tử Thiện Tài là hình ảnh tu hành của chúng sanh. Nếu chúng ta tu hành tới bậc Đẳng giác thì cũng được diệu dụng tự tại như chư Bồ-tát. Cho nên các ngài hiện bao nhiêu thân thì mình cũng hiện bao nhiêu thân như vậy. Tức thời Thiện Tài chứng được vô lượng vô số môn tam-muội, phân biệt quan sát, tu hành, chứng nhập. Sau khi xuất định, Thiện Tài hữu nhiễu Phu Nhân và quyến thuộc của phu nhân, đứng chắp tay cung kính thưa rằng: Bạch Đại thánh! Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát dạy tôi phát tâm vô thượng Bồ-đề, cầu thiện tri thức để thân cận cúng dường. Ở chỗ mỗi vị thiện tri thức tôi đều đến kính thờ không bỏ luống, lần lượt đến đây. Xin Đại thánh vì tôi mà dạy bảo Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh mà được thành tựu? Chỗ thấy và hiện thân của Thiện Tài đều là cảnh trong định, khi xuất định thì trở lại cảnh bình thường, nên ngài thưa rằng: Bồ-tát Văn-thù dạy tôi phát tâm Bồ-đề và đến cầu thiện tri thức để được gần gũi cúng dường. Tại sao từ trước đến đây trải qua nhiều vị thiện tri thức mà Thiện Tài đồng tử không kể, chỉ nhắc lại ngài Văn-thù là vị Bồ-tát đầu tiên chỉ ngài đi hỏi đạo? Ngài Văn-thù là tượng trưng cho Căn bản trí. Như vậy hình ảnh này cho thấy, khi tu tới bậc Đẳng giác là sắp đồng hành với chư Phật, tức đã huân được trí thủy giác. Trí thủy giác viên mãn thì trở lại trí bản giác. Trí bản giác còn gọi là Căn bản trí, trí thủy giác là Sai biệt trí. Khi tu đến đây hai trí này sắp dung hội nhau không còn riêng lẽ nữa. Ma-da phu nhân nói: Này Thiện nam tử! Ta đã thành tựu môn giải thoát Bồ-tát đại nguyện trí huyễn, do đây ta thường làm mẹ của Bồ-tát. Này Thiện nam tử! Như ta ở tại cung vua Tịnh Phạn nơi thành Ca-tỳ-la này, từ hông bên hữu sanh thái tử Tất-đạt hiện bất tư nghì thần biến tự tại. Như vậy nhẫn đến tận thế giới hải này, tất cả Tỳ-lô-giá-na Như Lai đều vào thân ta mà thị hiện đản sanh tự tại thần biến. Ma-da phu nhân kể lại sự thấy biết và nhân duyên làm mẹ chư Phật như thế nào. Bà đã thành tựu công đức, được môn giải thoát tên Bồ-tát đại nguyện trí huyễn. Nghĩa là Bồ-tát do đại nguyện nên sau khi nhập pháp thân, các ngài dùng trí như huyễn để thị hiện giáo hóa chúng sanh. Trí huyễn là chỉ cho Bồ-tát hóa thân thị hiện. Do trí đó mà sanh ra gọi là vào thai mẹ, tức là thể nhập pháp thân. Vì vậy ở đây nói bà là mẹ của tất cả chư Phật chư Bồ-tát, chẳng những bà sanh thái tử Tất-đạt-đa mà cũng sanh ra tất cả chư Phật. Lại này Thiện nam tử! Lúc ta ở cung vua Tịnh Phạn, lúc Bồ-tát sắp hạ sanh, ta thấy thân của Bồ-tát mỗi mỗi lỗ lông đều phóng quang minh tên là Nhất Thiết Như Lai Thọ Sanh Công Đức Luân. Mỗi lỗ lông đều hiện bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số Bồ-tát thọ sanh trang nghiêm. Những quang minh đó thảy đều chiếu khắp tất cả thế giới, rồi nhập vào đảnh của ta và khắp các chân lông. Lại trong quang minh ấy hiện khắp tất cả danh hiệu của Bồ-tát, cùng thọ sanh, thần biến, cung điện, quyến thuộc, ngũ dục tự vui của Bồ-tát. Trong quang minh lại thấy Bồ-tát xuất gia, đến đạo tràng thành Đẳng chánh giác, ngồi tòa sư tử, Bồ-tát vây quanh, các vua chúa cúng dường, vì đại chúng mà chuyển pháp luân. Lại thấy đức Như lai thuở xưa lúc tu hành Bồ-tát đạo, cung kính cúng dường chư Phật, phát tâm Bồ-đề, nghiêm tịnh Phật độ, niêm niệm thị hiện vô lượng hóa thân khắp thập phương thế giới, nhẫn đến rốt sau nhập Niết-bàn. Tất cả những sự như vậy đều thấy rõ cả. Ma-da phu nhân thuật lại việc bà trông thấy những thần biến diệu dụng của Bồ-tát là như vậy. Này Thiện nam tử! Lúc diệu quang minh ấy vào thân của ta, hình lượng của thân ta dầu chẳng hơn trước, nhưng thật ra thì đã siêu thế gian. Nếu nhìn theo quan điểm của kinh điển A-hàm thì Ma-da phu nhân chỉ là một con người bình thường nhờ sanh thái tử Tất-đạt-đa tu hành thành Phật, nên bà được phước đức sanh về cõi trời Đao-lợi. Nhưng theo kinh Hoa Nghiêm, Ma-da phu nhân là chỉ cho pháp thân chứa trùm tất cả, chứ không phải hình dáng phàm tục thế gian. Phật là hóa thân, mẹ Phật là pháp thân. Đó là điểm khác biệt nhau giữa hệ A-hàm và Đại thừa. Tại sao vậy? Vì lúc đó, thân của ta lượng đồng hư không, đều có thể dung thọ những cung điện trang nghiêm của thập phương Bồ-tát thọ sanh. Thân của Ma-da phu nhân chính là pháp thân, nên lượng đồng hư không, có thể dung thọ tất cả cung điện trang nghiêm của mười phương Bồ-tát thọ sanh. Ở đây dùng những hình ảnh diễn tả chúng ta nghe qua không thể nào tưởng tượng nổi, bao nhiêu Bồ-tát tụ hội trong đạo tràng mà cùng ở trong bụng của Ma-da. Mỗi vị đều có pháp thân tại sao pháp thân của bà lại che trùm hết? Đây là mượn hình ảnh để lồng vào chứ không phải một lẽ thật, nhằm nói lên ý nghĩa chư Bồ-tát hóa thân thảy từ pháp thân mà thị hiện. Lúc Bồ-tát từ cung trời Đâu-suất sắp giáng thần, có mười Phật sát vi trần số Bồ-tát đồng nguyện, đồng hạnh, đồng thiện căn, đồng trang nghiêm, đồng giải thoát, đồng trí tuệ, trí lực, pháp thân, sắc thân, nhẫn đến Phổ Hiền thần thông hạnh nguyện thảy đều đồng với Bồ-tát. Vi trần số Bồ-tát này cùng vây quanh. Lại có tám vạn Long vương và tất cả Thế Chủ thừa cung điện của mình đều đến cúng dường. Bấy giờ, Bồ-tát dùng sức thần thông cùng chư Bồ-tát quyến thuộc hiện khắp tất cả Đâu-suất Thiên cung. Mỗi mỗi thiên cung đều hiện hình tượng thọ sanh trong tất cả Diêm-phù-đề ở thập phương thế giới, phương tiện giáo hóa vô lượng chúng sanh, khiến chư Bồ-tát rời giải đãi, không chấp trước. Bồ-tát lẽ ra không còn giải đãi, không còn chấp trước, tại sao lại nói Bồ-tát rời giải đãi, không chấp trước. Bởi đại Bồ-tát thì đã hết những bệnh đó, còn tiểu Bồ-tát hay Bồ-tát mới phát tâm như mình là còn giải đãi, phải nhờ vào sự giáo hóa của chư Phật Bồ-tát mới dứt trừ được những thứ chấp. Lại dùng thần lực phóng đại quang minh chiếu khắp thế gian phá những tối tăm, diệt những khổ não, làm cho các chúng sanh đều biết những hành nghiệp đã có từ đời trước, hầu thoát hẳn ác đạo. Lại vì cứu hộ tất cả chúng sanh mà hiện ra trước họ, để hiện những thần biến. Bồ-tát đã hiện những sự kỳ đặc như vậy rồi, cùng quyến thuộc đến nhập vào thân của ta. Đó là kể ra những cái kỳ đặc của Bồ-tát trong khi thọ sanh. Chư Bồ-tát ấy ở trong bụng ta du hành tự tại: hoặc dùng Đại thiên thế giới làm một bước, nhẫn đến hoặc dùng bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới làm một bước. Lại trong mỗi niệm, chúng hội Bồ-tát ở chỗ chư Phật Như Lai nơi bất khả thuyết bất khả thuyết tất cả thế giới mười phương, cùng Dục giới, Sắc giới chư Thiên vương chư Phạm vương, vì muốn thấy thần biến của Bồ-tát ở trong thai mẹ để cung kính cúng dường nghe lãnh chánh pháp nên đều đến vào thân của ta. Dầu trong bụng của ta đều có thể dung thọ tất cả chúng hội như vậy, mà thân ta vẫn không lớn thêm, cũng chẳng chật hẹp. Chư Bồ-tát và chúng hội đều tự thấy mình ở đạo tràng thanh tịnh nghiêm sức. Kinh điển Đại thừa diễn tả những chỗ này, người thế gian và hàng tiểu căn tiểu trí đọc vào không thể hiểu nỗi. Bồ-tát ở trong bụng mẹ du hành tự tại, một bước có thể bước ra đại thiên thế giới... Tất cả những cảnh trí đó đều vào trong thân của Ma-da phu nhân, mà thân bà không lớn thêm cũng chẳng chật hẹp. Chư Phật đời trước đời sau đều sanh trong bụng bà, cho đến chúng ta cũng đang hít thở, cười giỡn, nghe pháp, nói pháp... trong bụng của bà. Chư Bồ-tát và chúng hội ở trong bụng của bà đều tự thấy mình đang ở đạo tràng thanh tịnh nghiêm sức. Sao lạ vậy? Bởi vì pháp thân bất tăng bất giảm, nên có thể dung chứa khắp hết không ngăn ngại. Này Thiện nam tử! Như trong Diêm-phù-đề này Bồ-tát thọ sanh, ta làm mẹ, trong tất cả trăm ức Diêm-phù-đề khắp Đại thiên thế giới cũng như vậy. Nhưng thân của ta đây bản lai không hai, chẳng phải ở một xứ, chẳng phải ở nhiều xứ. Tại sao vậy? Vì ta tu môn giải thoát Bồ-tát đại nguyện trí huyễn trang nghiêm. Thân bản lai không hai, không có nơi có chốn, nên không ở một xứ cũng chẳng phải nhiều xứ. Vì do trí huyễn trang nghiêm mà thị hiện vô lượng Như Lai. Này Thiện nam tử! Như đức Thế Tôn hiện nay, ta làm mẹ của Ngài. Bao nhiêu chư Phật thuở xưa ta cũng làm mẹ như vậy. Này Thiện nam tử! Thuở xưa, ta từng làm thần ao sen. Bấy giờ, có Bồ-tát bỗng nhiên hóa sanh nơi liên hoa tạng, ta liền bồng ẵm, săn sóc, nuôi nấng. Thế gian gọi ta là mẹ của Bồ-tát. Những hình ảnh này người thường không làm sao hiểu nổi. Làm mẹ, làm thần ở ao sen là sao? Ao sen tượng trưng cho giải thoát, thân là diệu dụng thần biến. Bởi do diệu dụng thần biến nên mới nuôi nấng được những hóa thân thị hiện của chư Phật. Lại thuở xưa, ta từng làm thần Bồ-đề tràng. Bấy giờ, có Bồ-tát bỗng nhiên hóa sanh trong lòng của ta. Người đời ấy cũng gọi ta là mẹ của Bồ-tát. Này Thiện nam tử! Có vô lượng tối hậu thân Bồ-tát phương tiện thị hiện thọ sanh nơi thế giới này, ta đều làm mẹ của các ngài. Bồ-đề Tràng là hội giác ngộ, ngài làm vị thần ở chỗ đó tức chỉ cho pháp thân, là nguồn cội của sự giác ngộ. Thế nên có bao nhiêu thân tối hậu cũng từ bà mà sanh ra. Ngay trong Hiền kiếp những vị Phật đã sanh và chưa sanh bà đều làm mẹ tất cả. Này Thiện nam tử! Như ở thế giới Ta-bà này, trong kiếp Hiền, quá khứ đức Câu-lưu-tôn Phật, đức Câu-na-hàm-mâu-ni Phật, đức Ca-diếp Phật và đức Thích-ca-mâu-ni Phật, hiện nay thị hiện thọ sanh, ta đều làm mẹ, Đời vị lai, Di-lặc Bồ-tát từ Thiên cung Đâu-suất lúc sắp giáng thần phóng đại quang minh chiếu khắp pháp giới thị hiện thần biến thọ sanh cùng chúng Bồ-tát, ta cũng sẽ làm mẹ. Kế đó theo thứ tự, có Sư Tử Phật, Pháp Tràng Phật, Thiện Nhãn Phật, Tịnh Hoa Phật, Hoa Đức Phật, Đề-xá Phật, Phất-sa Phật, Thiện Ý Phật, Kim Cang Phật, Ly Cấu Phật, Nguyệt Quang Phật, Trì Cự Phật, Danh Xưng Phật, Kim Cang Thuẩn Phật, Thanh Tịnh Nghĩa Phật, Cám Thân Phật, Đáo Bỉ Ngạn Phật, Bảo Diệm Sơn Phật, Trì Minh Phật, Liên Hoa Đức Phật, Danh Xưng Phật, Vô Lượng Công Đức Phật, Tối Thắng Đăng Phật, Trang Nghiêm Thân Phật, Thiện Oai Nghi Phật, Từ Đức Phật, Vô Trụ Phật, Đại Oai Quang Phật, Vô Biên Âm Phật, Thắng Oán Địch Phật, Ly Nghi Hoặc Phật, Thanh Tịnh Phật, Đại Quang Phật, Tịnh Tâm Phật, Vân Đức Phật, Trang nghiêm Đảnh Kế Phật, Thọ Vương Phật, Bảo Đăng Phật, Hải Huệ Phật, Diệu Bảo Phật, Hoa Quan Phật, Mãn Nguyện Phật, Đại Tự Tại Phật, Diệu Đức Vương Phật, Tối Tôn Thắng Phật, Chiên-đàn Vân Phật, Cám Nhãn Phật, Thắng Huệ Phật, Quán Sát Huệ Phật, Xí Thạnh Vương Phật, Kiên Cố Huệ Phật, Tự Tại Danh Phật, Sư Tử Vương Phật, Tự Tại Phật, Tối Thắng Đảnh Phật, Kim Cang Trí Sơn Phật, Diệu Đức Tạng Phật, Bảo Võng Nghiêm Thân Phật, Thiện Huệ Phật, Tự Tại Thiên Phật, Đại Thiên Vương Phật, Vô Y Đức Phật, Thiện Thí Phật, Diệm Huệ Phật, Thủy Thiên Phật, Đắc Thượng Vị Phật, Xuất Sanh Vô Thượng Công Đức Phật, Tiên Nhân Thị Vệ Phật, Tùy Thế Ngữ Ngôn Phật, Công Đức Tự Tại Tràng Phật, Quang Tràng Phật, Quán Thân Phật, Diệu Thân Phật, Hương Diệm Phật, Kim Cang Bảo Phật, Hỷ Nhãn Phật, Ly Dục Phật, Cao Đại Thân Phật, Tài Thiên Phật, Vô Thượng Thiên Phật, Thuận Tịch Diệt Phật, Trí Giác Phật, Diệt Tham Phật, Đại Diệm Vương Phật, Tịch Chư Hữu Phật, Tỳ-xá-khư Thiên Phật, Kim Cang Sơn Phật, Trí Diệm Đức Phật, An Ổn Phật, Sư Tử Xuất Hiện Phật, Viên Mãn Thanh Tịnh Phật, Thanh Tịnh Hiền Phật, Đệ Nhất Nghĩa Phật, Bá Quang Minh Phật, Tối Tăng Thượng Phật, Thâm Tự Tại Phật, Đại Địa Vương Phật, Trang Nghiêm Vương Phật, Giải Thoát Phật, Diệu Âm Phật, Thù Thắng Phật, Tự Tại Phật, Vô Thượng Y Vương Phật, Công Đức Nguyệt Phật, Vô Ngại Quang Phật, Công Đức Tụ Phật, Nguyệt Hiện Phật, Nhật Thiên Phật, Xuất Chư Hữu Phật, Dũng Mãnh Danh Xưng Phật, Quang Minh Môn Phật, Ta-la Vương Phật, Tối Thắng Phật, Dược Vương Phật, Bảo Thắng Phật, Kim Cang Huệ Phật, Vô Năng Thắng Phật, Vô Năng Ánh Tế Phật, Chúng Hội Vương Phật, Đại Danh Xưng Phật, Mẫn Trì Phật, Vô Lượng Quang Phật, Đại Nguyện Quang Phật, Pháp Tự Tại Bất Hư Phật, Bất Thối Địa Phật, Tịnh Thiên Phật, Thiện Thiên Phật, Kiên Cố Khổ Hạnh Phật, Nhất Thiết Thiện Hữu Phật, Giải Thoát Âm Phật, Du Hý Vương Phật, Diệt Tà Khúc Phật, Chiêm-bặc Tịnh Quang Phật, Cụ Chúng Đức Phật, Tối Thắng Nguyệt Phật, Chấp Minh Cự Phật, Thù Diệu Thân Phật, Bất Khả Thuyết Phật, Tối Thanh Tịnh Phật, Hữu An Chúng Sanh Phật, Vô Lượng Quang Phật, Vô Úy Âm Phật, Thủy Thiên Đức Phật, Bất Động Huệ Quang Phật, Hoa Thắng Phật, Nguyệt Diêm Phật, Bất Thối Huệ Phật, Ly Ái Phật, Vô Trước Huệ Phật, Tập Công Đức Uẩn Phật, Diệt Ác Thú Phật, Phổ Tán Hoa Phật, Sư Tử Hống Phật, Đệ Nhất Nghĩa Phật, Vô Ngại Kiến Phật, Phá Tha Quân Phật, Bất Trước Tướng Phật, Ly Phân Biệt Hải Phật, Đoan Nghiêm Hải Phật, Tu-di Sơn Phật, Vô Trước Trí Phật, Vô Biên Toà Phật, Thanh Tịnh Trụ Phật, Tùy Sư Hành Phật, Tối Thượng Thí Phật, Thường Nguyệt Phật, Nhiêu Ích Vương Phật, Bất Động Tụ Phật, Phổ Nhiếp Thọ Phật, Nhiêu Ích Huệ Phật, Trì Thọ Phật, Vô Diệt Phật, Cụ Túc Danh Xưng Phật, Đại Oai Lực Phật, Chủng Chủng Sắc Tướng Phật, Vô Tướng Huệ Phật, Bất Động Thiên Phật, Diệu Đức Nan Tư Phật, Mãn Nguyệt Phật, Giải Thoát Nguyệt Phật, Vô Thượng Vương Phật, Hy Hữu Thân Phật, Phạm Cúng Dường Phật, Bất Thuấn Phật, Thuận Tiên Cổ Phật, Tối Thượng Nghiệp Phật, Thuận Pháp Trí Phật, Vô Thắng Thiên Phật, Bất Tư Nghì Công Đức Quang Phật, Tùy Pháp Hành Phật, Vô Lượng Hiền Phật, Phổ Tùy Thuận Tự Tại Phật, Tối Tôn Thiên Phật, nhẫn đến đức Lâu-chí Như Lai, tất cả là một ngàn đức Phật đã và sẽ thành Phật trong Hiền kiếp nơi Ta-bà thế giới này, ta đều làm mẹ của các ngài. Cũng như ở cõi Đại Thiên này, vô lượng thế giới ở mười phương, trong tất cả kiếp, những bậc tu hành hạnh nguyện Phổ Hiền để hóa độ chúng sanh, ta đều tự thấy thân mình làm mẹ của các Ngài. Không những tất cả chư Phật đều sanh ra từ bụng của Ma-da phu nhân, mà ngay như chúng ta hiện đang trong hội này tu hành cho đến rốt sau thành Phật, chắc chắn cũng từ trong bụng bà mà sanh ra. Phần trên nói về diệu dụng của môn giải thoát, kế đây là nói về thời gian được môn giải thoát. Thiện Tài bạch rằng: Đại Thánh được môn giải thoát này đến nay là bao nhiêu thời gian? Ma-da phu nhân nói: Này Thiện nam tử! Thuở xưa, quá bất tư nghì kiếp số, chẳng phải đạo nhãn của bậc tối hậu thân Bồ-tát biết được, có kiếp tên là Tịnh Quang, thế giới tên là Tu-di Đức, dầu là năm loài ở lộn lạo, nhưng cõi đó bằng những chất báu thanh tịnh trang nghiêm không có sự nhơ uế xấu xí. Cõi đó có ngàn ức tứ thiên hạ. Trong đó có một tứ thiên hạ tên là Sư Tử Tràng. Nơi đây có tám mươi ức vương thành. Có một vương thành tên là Tự Tại Tràng, ngự trị bởi Chuyển luân vương tên là Đại Oai Đức. Phía bắc vương thành Tự Tại Tràng, có một đạo tràng tên là Mãn Nguyệt Quang Minh. Thần đạo tràng này tên là Từ Đức. Bấy giờ, có Bồ-tát tên là Ly Cấu Tràng ngồi nơi đạo tràng này thành Đẳng chánh giác. Có một ác ma tên là Kim Sắc Quang cùng quyến thuộc vô lượng chúng câu hội đến chỗ Bồ-tát. Chuyển luân vương Đại Oai Đức đã được Bồ-tát thần thông tự tại, biến hóa binh chúng đông hơn quân ma bao vây đạo tràng. Quân ma sợ hãi tự tan rã. Do đó Bồ-tát Ly Cấu Tràng thành Vô thượng Chánh giác. Thần đạo tràng thấy sự việc trên đây, lòng hoan hỷ vô lượng, với Chuyển luân vương tưởng là con trai của mình, đối trước Phật phát nguyện rằng: Chuyển luân vương này chẳng luận sanh chỗ nào, nguyện tôi đều làm mẹ của Vương, nhẫn đến đời vương thành Phật cũng vậy. Sau khi phát nguyện, nơi đạo tràng ấy, Thần lại từng cúng dường mười na-do-tha đức Phật. Này Thiện nam tử! Thuở xưa ấy, thần đạo tràng tên Từ Đức chính là tiền thân của ta. Chuyển luân vương Đại Oai Đức là tiền thân của đức Tỳ-lô-giá-na Như Lai. Từ lúc ta phát nguyện thuở xưa ấy, đức Tỳ-lô-giá-na Như Lai phàm thọ sanh ở xứ nào cõi nào tu Bồ-tát hạnh, gieo thiện căn giáo hóa chúng sanh, nhẫn đến thị hiện tối hậu thân, mỗi niệm khắp tất cả thế giới, thị hiện thần biến Bồ-tát thọ sanh, thường làm con trai của ta, ta thường làm mẹ của ngài. Này Thiện nam tử! Quá khứ và hiện tại thập phương thế giới, vô lượng chư Phật lúc sắp thành Đẳng chánh giác, đều từ nơi rốn phóng đại quang minh chiếu đến thân ta và cung điện của ta ở tối hậu thân của các ngài, ta đều làm mẹ. Đoạn này kể chuyện tiền thân Ma-da phu nhân đã từng làm thần đạo tràng, để nói lý do đời đời bà được làm mẹ của chư Phật. Này Thiện nam tử! Ở thế giới này, nơi Đao-lợi thiên, có thiên vương tên là Chánh Niệm. Thiên vương có người con gái tên là Thiên Chủ Quang. Ngươi đến đó hỏi Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, tu Bồ-tát đạo? Thiện Tài đồng tử kính lễ nơi chân Ma-da phu nhân, hữu nhiễu vô số vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng, từ tạ mà đi. Đến đây tôi nhắc lại, Phật mẫu đây là chỉ cho pháp thân Phật, chứ không phải như Phật mẫu theo mê tín của chúng ta nói bây giờ. Ở thế gian hiện nay có nhiều nơi lên đồng cốt rồi tự xưng là Phật mẫu, có đáng tin không? Nếu căn cứ theo hai trường hợp để lượng xét thì đều không phù hợp. Trường hợp thứ nhất, căn cứ theo kinh Hoa Nghiêm thì Phật mẫu là chỉ cho pháp thân, mà pháp thân chỉ có ứng hóa ra chư Phật. Trường hợp thứ hai, căn cứ vào các kinh A-hàm thì Phật mẫu là chỉ cho Ma-da phu nhân, mà hiện giờ bà đang làm một vị trời trong cõi trời Đao-lợi. Như vậy, những người đồng cốt chẳng qua chỉ là trá danh, mượn danh từ Phật để nói, chứ sự thật Phật mẫu ở đâu mà xuống đây nhập vào đồng cốt. Chúng ta phải hiểu kỹ để không bị lầm lẫn. Nghe những chỗ xưng danh trá hình Phật, dù cho mọi người có đồn đãi linh thiêng huyền bí đến mấy mình cũng không tin. Thiện Tài đến thiên cung Đao-lợi, đảnh lễ thiên nữ Thiên Chủ Quang, hữu nhiễu cung kính, chắp tay thưa rằng: Đại thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng Bồ-đề mà chưa biết Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào tu Bồ-tát đạo? Tôi nghe Đại thánh khéo có thể dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Thiện nữ nói: Này Thiện nam tử! Ta được Bồ-tát giải thoát môn tên là Vô ngại niệm thanh tịnh trang nghiêm. Từ trước tới đây trải qua bốn mươi mốt thiện tri thức, đến vị thiện tri thức này là vị thứ bốn mươi hai, là bậc thứ hai trong mười bậc của Đẳng giác, lấy trì giới làm chủ. Ma-da phu nhân giới thiệu Thiện Tài đồng tử đến lễ Thiên Chủ Quang, con gái của vua trời Chánh Niệm ở cõi trời Tam thập tam. Vì lấy từ bi làm giới thể nên tượng trưng qua hình ảnh thiên nữ. Thiên chủ là trí tuệ, thiên nữ là từ bi. Trì giới phải gồm đủ cả bi và trí, bi trí tròn đủ gọi là giới thể viên mãn hay trì giới viên mãn. Này Thiện nam tử! Ta ở nơi thế lực của môn giải thoát này, ghi nhớ quá khứ có một kiếp tên là Thanh Liên Hoa. Trong kiếp đó, ta cúng dường hằng hà sa số chư Phật Như Lai. Chư Như Lai ấy từ khi mới xuất gia, ta đều săn sóc kính thờ kiến tạo tăng-già-lam, sắm sửa vật dụng. Lại lúc chư Phật ấy làm Bồ-tát ở thai mẹ, lúc đản sanh, lúc đi bảy bước, lúc đại sư tử hống, lúc làm đồng tử ở tại cung, lúc đến cội bồ-đề thành Đẳng chánh giác, lúc chuyển pháp luân hiện thần biến giáo hóa điều phục chúng sanh, tất cả sự việc nhẫn đến pháp tận, ta đều ghi nhớ rõ không sai sót. Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Thiện Địa, trong kiếp ấy ta cúng dường mười hằng hà sa số chư Phật Như Lai. Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Diệu Đức, trong kiếp ấy ta cúng dường một Phật sát vi trần số chư Phật Như Lai. Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Vô Sở Đắc, trong kiếp ấy ta cúng dường tám mươi bốn ức trăm ngàn na-do-tha chư Phật Như Lai. Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Thiện Quang, trong kiếp ấy ta cúng dường Diêm-phù-đề vi trần số chư Phật Như Lai. Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Vô Lượng Quang, trong kiếp ấy ta cúng dường hai mươi hằng hà sa số chư Phật Như Lai. Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Tối Thắng Đức, trong kiếp ấy ta cúng dường một hằng hà sa số chư Phật Như Lai. Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Thiện Bi, trong kiếp ấy ta cúng dường tám mươi hằng hà sa số chư Phật Như Lai. Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Thắng Du, trong kiếp ấy ta cúng dường sáu mươi hằng hà sa số chư Phật Như Lai. Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Diệu Nguyệt, trong kiếp ấy ta cúng dường bảy mươi hằng hà sa số chư Phật Như Lai. Này Thiện nam tử! Ghi nhớ quá khứ hằng hà sa số kiếp như vậy, ta thường chẳng bỏ rời chư Phật Như Lai Chánh đẳng giác. Ở chỗ chư Như Lai như vậy, ta nghe môn giải thoát Bồ-tát vô ngại niệm thanh tịnh trang nghiêm này, thọ trì tu hành hằng chẳng quên mất. Những kiếp trước như vậy, có bao nhiêu đức Như Lai từ sơ Bồ-tát nhẫn đến pháp tận, tất cả sự việc của chư Phật đã làm, ta dùng sức giải thoát thanh tịnh trang nghiêm, đều ghi nhớ rõ ràng như hiện trước mắt và ta giữ gìn tùy thuận tuân hành từng không bỏ phế. Này Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Vô ngại niệm thanh tịnh trang nghiêm này. Như chư đại Bồ-tát ra khỏi đêm sanh tử, sáng suốt rời hẳn si tối, chưa từng mê ngủ, tâm không bị che chướng, thân luôn khinh an, thanh tịnh biết rõ các pháp tánh, thành tựu thập lực khai ngộ quần sanh. Ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh đó. Này Thiện nam tử! Thành Ca-tỳ-la có đồng tử sư tên là Biến Hữu. Ngươi đến đó hỏi Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, tu Bồ-tát đạo? Nhờ nghe pháp, Thiện Tài vui mừng hớn hở thiện căn bất tư nghì tự nhiên thêm lớn rộng, bèn đảnh lễ nơi chân thiên nữ Thiên Chủ Quang, hữu nhiễu vô số vòng từ tạ mà đi. Thiện Tài đồng tử tới đây dễ dàng, lên trời xuống đất không có gì ngăn ngại, giới thiệu ở đâu thì ngài liền đến đó, không nghĩ mau chậm gì cả. Thiện Tài từ Thiên cung xuống, đi lần đến thành Ca-tỳ-la chỗ của Biến Hữu đảnh lễ hữu nhiễu, đứng chắp tay cung kính thưa rằng: Đại thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng Bồ-đề, mà chưa biết Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào tu Bồ-tát đạo? Tôi nghe Đại thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Biến Hữu nói: Này Thiện nam tử! Nơi đây có đồng tử tên là Thiện Tri Chúng Nghệ, học Bồ-tát Tự Trí, ngươi nên đến hỏi. Thiện Tài vâng lời đến đảnh lễ đồng tử, cung kính thưa rằng: Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng Bồ-đề mà chưa biết Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào tu Bồ-tát đạo? Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Đồng tử nói: Này Thiện nam tử! Ta được Bồ-tát giải thoát môn tên là Thiện tri chúng nghệ. Ta hằng xướng trì những tự mẫu này: Lúc xướng chữ A, thì nhập Bát-nhã ba-la-mật môn tên là Bồ-tát oai lực nhập vô sai biệt cảnh giới. Lúc xướng chữ Đa, thì nhập Bát-nhã ba-la-mật môn tên là Vô biên sai biệt môn. Lúc xướng chữ Ba, thì nhập Bát-nhã ba-la-mật môn tên là Phổ chiếu pháp giới. Lúc xướng chữ Giả, thì nhập Bát-nhã ba-la-mật môn tên là Phổ luân đoạn sai biệt. Lúc xướng chữ Na, thì nhập Bát-nhã ba-la-mật môn tên là Đắc vô y vô thượng. Lúc xướng chữ Lã, thì nhập Bát-nhã ba-la-mật môn tên là Y chỉ vô cấu. Lúc xướng chữ Đả, thì nhập Bát-nhã ba-la-mật môn tên là Bất thối chuyển phương tiện. Lúc xướng chữ Bà, thì nhập Bát-nhã ba-la-mật môn tên là Kim cang tràng. Lúc xướng chữ Đồ, thì nhập Bát-nhã ba-la-mật môn tên là Nhật phổ luân. Lúc xướng chữ Sa, thì nhập Bát-nhã ba-la-mật môn tên là Hải tạng. Lúc xướng chữ Phược, thì nhập Bát-nhã ba-la-mật môn tên là Phổ sanh an trụ. Lúc xướng chữ Đá, thì nhập Bát-nhã ba-la-mật môn tên là Viên mãn quang. Lúc xướng chữ Dã, thì nhập Bát-nhã ba-la-mật môn tên là Sai biệt tích tụ. Lúc xướng chữ Sắc-tra, thì nhập Bát-nhã ba-la-mật môn tên là Phổ quang minh tức phiền não. Lúc xướng chữ Ca, thì nhập Bát-nhã ba-la-mật môn tên là Vô sai biệt vân. Lúc xướng chữ Ta, thì nhập Bát-nhã ba-la-mật môn tên là Giáng chú đại vũ. Lúc xướng chữ Mạ, thì nhập Bát-nhã ba-la-mật môn tên là Đại lưu thoan khích chúng phong tề trĩ. Lúc xướng chữ Giả, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Phổ an lập. Lúc xướng chữ Tha, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Chân như bình đẳng tạng. Lúc xướng chữ Xã, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Nhập thế gian hải thanh tịnh. Lúc xướng chữ Tỏa, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Niệm nhất thiết Phật trang nghiêm. Lúc xướng chữ Đà, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Quán sát giản trạch nhất thiết pháp tụ. Lúc xướng chữ Xa, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Tùy thuận nhất thiết Phật giáo luân quang minh. Lúc xướng chữ Khư, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Tu nhân địa trí tuệ tạng. Lúc xướng chữ Xoa, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Tức chư nghiệp hải tạng. Lúc xướng chữ Ta-đa, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Quyên chư hoặc chướng khai tịnh quang minh. Lúc xướng chữ Nhương, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Tác thế gian trí tuệ môn. Lúc xướng chữ Hạt-lã-đa, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Sanh tử cảnh giới trí tuệ luân. Lúc xướng chữ Bà, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Nhất thiết trí cung điện viên mãn trang nghiêm. Lúc xướng chữ Xa, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Tu hành phương tiện tạng các biệt viên mãn. Lúc xướng chữ Ta-mạ, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Tùy thập phương hiện kiến chư Phật. Lúc xướng chữ Ha-bà, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Quán sát nhất thiết vô duyên chúng sanh phương tiện nhiếp thọ linh xuất sanh vô ngại lực. Lúc xướng chữ Tha, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Tu hành xu nhập nhất thiết công đức hải. Lúc xướng chữ Giả, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Trì nhất thiết pháp vân kiên cố hải tạng. Lúc xướng chữ Tra, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Tùy nguyện phổ kiến thập phương chư Phật. Lúc xướng chữ Nã, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Quán sát tự luân hữu vô tận chư ức tự. Lúc xướng chữ Ta-phã, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Hóa chúng sanh cứu cánh xứ. Lúc xướng chữ Ta-ca, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Quảng đại tạng vô ngại biện quang minh luân biến chiếu. Lúc xướng chữ Dã-ta, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Tuyên thuyết nhất thiết Phật pháp cảnh giới. Lúc xướng chữ Thất, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Nhất thiết chúng sanh giới pháp lôi biến hống. Lúc xướng chữ Sá, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Dĩ vô ngã pháp khai hiểu chúng sanh. Lúc xướng chữ Đà, thì nhập môn Bát-nhã ba-la-mật tên là Nhất thiết pháp luân sai biệt tạng. Này Thiện nam tử! Lúc ta xướng những tự mẫu như vậy, thì trước tiên ta nhập bốn mươi hai môn Bát-nhã ba-la-mật đây, cùng với vô lượng vô số môn Bát-nhã ba-la-mật. Này Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Bồ-tát thiện tri chúng nghệ này. Như chư đại Bồ-tát có thể đối với pháp thiện xảo thế gian và xuất thế gian dùng trí thông đạt đến bỉ ngạn. Những phương pháp lạ, những nghề nghiệp khéo đều thấu đáo không sót. Hiểu rành những văn tự toán số. Y phương chú thuật, trị lành bệnh tật. Lại biết rành những chỗ sản xuất vàng, bạc, châu, ngọc, san hô, lưu ly, ma-ni, xà cừ, tất cả kho tàng bảo vật, những phẩm loại, những giá trị. Những xóm làng thành ấp, cung điện, vườn tược, núi, rừng, suối, ao... phàm những chỗ ở của tất cả nhân chúng, Bồ-tát đều có thể phương tiện nhiếp thọ. Bồ-tát lại khéo quán sát thiên văn, địa lý, tướng người tốt xấu, tiếng của chim thú, mây ráng khí hậu, trúng mùa, thất thu, quốc độ an nguy, tất cả kỹ nghệ thế gian Bồ-tát đều rành rẽ tận nguyên bổn tất cả. Bồ-tát lại có thể phân biệt pháp xuất thế, chánh danh biện nghĩa quán sát thể tướng, tùy thuận tu hành, trí nhập trong đó, không nghi ngại, không ngu tối, không ngoan độn, không ưu não, không trầm một, đều hiện chứng tất cả. Ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh đó. Phần này nói về hai hạnh nhẫn nhục và tinh tấn, tượng trưng cho hai vị thiện tri thức là đồng tử sư Biến Hữu và đồng tử Thiện Tri Chúng Nghệ, để nói lên chủ và bạn. Chủ là đồng tử sư Biến Hữu, bạn là đồng tử Thiện Tri Chúng Nghệ. Chủ bạn giao hòa, nhẫn tấn viên mãn. Nói cách khác, khi nhẫn nhục và trí tuệ viên mãn thì lúc đó tinh tấn tiến lên không bao giờ ngưng trệ, có thể làm lợi ích vô lượng chúng sanh. Cho nên Bồ-tát không những chỉ biết pháp của Phật dạy mà các ngài còn biết khắp tất cả môn, tất cả nghề nghiệp, phương tiện ở bên ngoài. Tại sao Bồ-tát phải biết tất cả các môn? Bởi vì Bồ-tát tu tới bậc này thì công hạnh trí tuệ đều sắp viên mãn, sự học hiểu không có gì khó khăn, cho nên các ngài biết tất cả môn để làm phương tiện giáo hóa chúng sanh. Đồng tử Thiện Tri Chúng Nghệ trong bốn mươi hai mẫu tự Ấn Độ ngài thông suốt rành rẽ. Một mẫu tự là một pháp môn tam-muội Bát-nhã, ngài xướng đủ bốn mươi hai mẫu tự thì có bốn mươi hai tam-muội Bát-nhã. Như trong chữ Việt chúng ta có hai mươi bốn mẫu tự, nếu nơi mỗi mẫu tự mình thấu hiểu thì mỗi mẫu tự làm một pháp tu. Bồ-tát tùy theo chúng sanh, có những ngôn ngữ, danh từ, hạnh nghiệp thế gian... các ngài đều biết và khéo chuyển thành Phật pháp. Chúng ta bây giờ cũng học hạnh Bồ-tát, nghe nói Bồ-tát đối với nghề nghiệp, tướng số thế gian cái gì cũng biết, rồi mình cũng bắt chước học tướng số... nhưng không chuyển cái nào trở thành Bát-nhã được hết. Những điều Bồ-tát làm được chúng ta làm chưa được, vì vậy phải cẩn thận. Nếu việc gì nắm tới liền bị mắc kẹt trong đó thì chưa nên làm. Nên biết thuốc hay bệnh là do chúng ta khéo sử dụng đúng hay không đúng mà thôi. Này Thiện nam tử! Nước Ma-kiệt-đà có một tụ lạc, trong đó có thành Bà-đát-na. Trong thành ấy có một ưu-bà-di tên là Hiền Thắng. Ngươi đến đó hỏi Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, tu Bồ-tát đạo? Thiện Tài đảnh lễ Tri Nghệ đồng tử, hữu nhiễu vô số vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng, từ tạ mà đi. Thiện Tài đến thành Bà-đát-na đảnh lễ Hiền Thắng, hữu nhiễu cung kính, chắp tay thưa rằng: Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng Bồ-đề, mà chưa biết Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào tu Bồ-tát đạo. Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Ưu-bà-di Hiền Thắng nói: Này Thiện nam tử! Ta được môn Bồ-tát giải thoát tên là Vô y xứ đạo tràng. Nơi môn giải thoát này, ta đã thông đạt và đem dạy người. Ta lại được môn vô tận tam-muội, vì có thể xuất sanh Nhất thiết trí tánh nhãn vô tận, nhĩ vô tận, tỹ vô tận, thật vô tận, thân vô tận, ý vô tận, công đức vô tận, trí tuệ vô tận, thần thông vô tận. Này Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn Bồ-tát giải thoát vô y xứ đạo tràng này. Như chư đại Bồ-tát, tất cả công đức hạnh không chấp trước, ta thế nào biết được, nói được. Ưu-bà-di Hiền Thắng tượng trưng cho pháp tu thiền định, lấy thiền định làm chủ. Ưu-bà-di này thông tất cả pháp thế gian, để nói lên thiền thể tùy thời ứng dụng, chứ không phải thiền thể lặng lẽ bất động. Này Thiện nam tử! Phương Nam có thành Ốc Điền. Trong thành ấy có trưởng giả Kiên Cố Giải Thoát. Ngươi nên đến đó hỏi Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào tu Bồ-tát đạo? Thiện Tài đảnh lễ Hiền Thắng, hữu nhiễu vô số vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng từ tạ mà đi qua hướng nam đến chỗ Trưởng giả đảnh lễ hữu nhiễu, cung kính chắp tay thưa rằng: Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng Bồ-đề, mà chưa biết Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào tu Bồ-tát đạo. Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Trưởng giả nói: Này Thiện nam tử! Ta được môn Bồ-tát giải thoát tên là vô trước niệm thanh tịnh trang nghiêm. Từ khi ta được môn giải thoát này đến nay, ta siêng cầu chánh pháp nơi thập phương chư Phật không thôi dứt. Này Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Vô trước niệm thanh tịnh trang nghiêm. Như chư đại Bồ-tát được vô úy sư tử hống, an trụ nơi phước trí quảng đại, mà ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh ấy. Thiện tri thức thứ sáu tượng trưng cho Bát-nhã, nên vị trưởng giả này có tên là Kiên Cố Giải Thoát, vì thể của trí tuệ không dính mắc, tất cả tâm cảnh thảy đều không. Này Thiện nam tử! Chính trong thành này có một trưởng giả tên là Diệu Nguyệt, nhà ông thường có quang minh. Ngươi đến đó hỏi Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào tu Bồ-tát đạo? Thiện Tài đảnh lễ trưởng giả Kiên Cố Giải Thoát, hữu nhiễu vô số vòng, từ tạ đi đến nhà trưởng giả Diệu Nguyệt đảnh lễ hữu nhiễu, cung kính chắp tay thưa rằng: Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng Bồ-đề mà chưa biết Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào tu Bồ-tát đạo. Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Trưởng giả Diệu Nguyệt nói: Này Thiện nam tử! Ta được Bồ-tát giải thoát tên là Tịnh trí quang minh. Này Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát này. Như chư đại Bồ-tát chứng được vô lượng môn giải thoát. Ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh ấy. Vị thứ bảy tượng trưng cho phương tiện, lấy pháp tu phương tiện làm chủ. Trưởng giả tên Diệu Nguyệt. Dù ra vào sanh tử mà luôn cùng tịnh trí tương ưng, nên gọi là Diệu Nguyệt. Như mặt trăng rọi bóng đáy hồ, tuy hiện bóng dưới các hồ mà mặt trăng lúc nào cũng sáng rỡ không bị nhiễm ô. Này Thiện nam tử! Phương Nam có thành Xuất Sanh. Nơi đó có trưởng giả tên là Vô Thắng Quân. Ngươi đến đó hỏi Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào tu Bồ-tát đạo? Thiện Tài đảnh lễ trưởng giả Diệu Nguyệt, hữu nhiễu vô số vòng, từ tạ đi qua phương nam, đến đảnh lễ trưởng giả Vô Thắng Quân, cung kính thưa rằng: Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng Bồ-đề, mà chưa biết Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào tu Bồ-tát đạo. Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Trưởng giả Vô Thắng Quân nói: Này Thiện nam tử! Ta được Bồ-tát giải thoát tên là Vô tận tướng. Thiện tri thức thứ tám tên là trưởng giả Vô Thắng Quân, tượng trưng cho Nguyện, pháp tu lấy Nguyện ba-la-mật làm chủ, những phần kia phụ. Vô Thắng Quân là dùng trí vô công dụng khéo phá vị đạo không ai hơn được. Vô Thắng Quân được môn giải thoát của Bồ-tát tên là Vô tận tướng, nghĩa là thấu tột tất cả tướng. Ta do chứng môn Bồ-tát giải thoát này nên thấy vô lượng chư Phật, được vô tận tạng. Này Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Vô tận tướng này. Như chư đại Bồ-tát được vô hạn trí vô ngại biện tài, ta làm sao biết được nói được công đức hạnh ấy. Này Thiện nam tử! Thành Nam này có tụ lạc Chi Vi Pháp. Trong đó có một Bà-la-môn tên là Tối Tịch Tịnh. Ngươi đến đó hỏi Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào tu Bồ-tát đạo? Tối Tịch Tịnh, Bồ-tát tu tới hạnh này tâm cảnh đều tịch tịnh, tâm như cảnh như. Thiện Tài đảnh lễ trưởng giả Vô Thắng Quân, hữu nhiễu vô số vòng luyến mộ chiêm ngưỡng từ tạ đi đến đảnh lễ Tối Tịch Tịnh, hữu nhiễu cung kính chắp tay thưa rằng: Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng Bồ-đề, mà chưa biết Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào tu Bồ-tát đạo. Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Bà-la-môn nói: Này Thiện nam tử! Ta được môn Bồ-tát giải thoát tên là Thành nguyện ngữ. Chư Bồ-tát quá khứ hiện tại và vị lai do dùng lời nói chân thành này nên được không thối chuyển đạo vô thượng Bồ-đề, không đã thối, không hiện thối, không sẽ thối. Do ta trụ nơi lời nói thành nguyện, nên làm điều chi cũng được toại ý. Này Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Thành nguyện ngữ này. Như chư đại Bồ-tát đi đứng đều chẳng trái với Thành nguyện ngữ, lời nói ra quyết là chân thành chưa bao giờ hư vọng, do đây xuất sanh vô lượng công đức. Ta làm sao biết được nói được công đức hạnh đó. Này Thiện nam tử! Phương Nam đây có thành tên là Diệu Ý Hoa Môn. Nơi đó có đồng tử tên là Đức Sanh, lại có đồng nữ tên là Hữu Đức. Ngươi đến đó hỏi Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào tu Bồ-tát đạo. Thiện Tài đảnh lễ Tối Tịch Tịnh, hữu nhiễu vô số vòng, từ tạ đi qua phương Nam. Vị thứ mười được tượng trưng là đồng tử Đức Sanh và đồng nữ Hữu Đức, đây lấy trí làm chủ. Đến quả vị này trí bi đã viên mãn, hằng ở trong mười phương đồng hành, do trí bi không nhiễm tập. Đồng tử Đức Sanh là trí, đồng nữ Hữu Đức là bi. Tới đây trí bi tròn đầy, tùy ý tất cả chúng sanh ở mười phương mà vì họ hiện thân một lúc cùng khắp. Do diệu hạnh viên mãn sẽ được thành Phật, vì vậy thành tên Diệu Ý Hoa Môn. Thiện Tài đi lần đến thành Diệu Ý Hoa Môn, đảnh lễ đồng tử Đức Sanh và đồng nữ Hữu Đức, hữu nhiễu cung kính chắp tay bạch rằng: Đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng Bồ-đề mà chưa biết Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào tu Bồ-tát đạo? Xin đức Thánh từ mẫn chỉ dạy. Đức Sanh và Hữu Đức nói: Này Thiện nam tử! Chúng ta chứng được Bồ-tát giải thoát tên là Huyễn trụ. Vì được môn giải thoát này nên thấy: Tất cả thế giới đều là huyễn trụ, do nhân duyên mà sanh khởi. Đây là chỗ thấy của Bồ-tát Thập địa tiến lên Đẳng giác viên mãn. Các ngài chứng được môn giải thoát của Bồ-tát tên là Huyễn trụ, nên thấy tất cả thế giới đều huyễn trụ, do nhân duyên mà có sanh khởi. Chúng ta tu theo thiền tông chủ yếu cũng tập theo hạnh này, biết tất cả thế giới đều là huyễn trụ, do nhân duyên sanh khởi. Thế giới vận hành trong hư không, do nghiệp tập, do duyên hợp nên có như vậy chứ nó hoàn toàn không thật, nếu thật thì phải có chỗ tựa vững chắc. Tất cả chúng sanh đều là huyễn trụ, do nghiệp phiền não mà sanh khởi. Vũ trụ là huyễn, nhân sanh cũng là huyễn, do nghiệp phiền não mà sanh khởi. Chúng ta có mặt trên đời là do nghiệp phiền não khởi, nên có ra cũng chỉ như huyễn. Tất cả thế gian đều là huyễn trụ, do vô minh, hữu, ái xoay vần làm duyên sanh khởi. Thế gian là tên gọi chung cho cả chúng sanh và thế giới. Ở trên nhìn thế giới riêng, chúng sanh riêng, đến đây gom chúng sanh và thế giới chung lại. Gốc bởi hữu là nghiệp, ái là vô minh, hai thứ này xoay vần làm duyên sanh khởi. Tất cả tam thế đều là huyễn trụ, do những trí điên đảo như ngã kiến v.v... sanh khởi. Tất cả chúng sanh sanh diệt, sanh lão bệnh tử ưu bi khổ não đều là huyễn trụ, do hư vọng phân biệt sanh khởi. Tất cả quốc độ đều huyễn trụ, do tưởng đảo, tâm đảo, kiến đảo và vô minh hiện khởi. Tất cả Thanh văn và Bích-chi Phật đều là huyễn trụ, do trí đoạn phân biệt mà thành. Trong kinh Pháp Hoa gọi là Hóa thành, ở đây gọi là Huyễn trụ. Tất cả Bồ-tát đều là huyễn trụ, do những hạnh nguyện hay tự điều phục và giáo hóa chúng sanh mà thành. Tất cả Bồ-tát chúng hội biến hóa điều phục, những công hạnh đều là huyễn trụ, do nguyện trí huyễn mà thành. Này Thiện nam tử! Huyễn cảnh tự tánh bất tư nghì. Chúng ta chỉ biết môn giải thoát Huyễn trụ này. Như chư đại Bồ-tát khéo nhập vô biên sự huyễn. Chúng ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh đó. Ma-da phu nhân thành tựu được trí nguyện giải thoát, nên phát sanh ra chư Phật Bồ-tát. Như vậy chư Phật Bồ-tát đó là hóa thân từ pháp thân ứng hiện ra, những sự biến hóa điều phục cho đến công hạnh của các ngài từ huyễn trí mà hiện, thế nên tất cả đều là pháp huyễn. Vì vậy ở đoạn sau đồng tử Thiện Tài khi vào lâu các trang nghiêm của đức Di-lặc, lúc bước ra nhớ lại bao nhiêu cảnh đều là huyễn hóa, không có gì thật. Hình ảnh diễn tả chỗ này thật hay. Đồng tử và Đồng nữ nói môn giải thoát của mình đã chứng xong, dùng sức thiện căn bất tư nghì làm cho thân Thiện Tài được nhu nhuyến bóng sáng, mà nói rằng: Này Thiện nam tử! Phương Nam đây có nước Hải Ngạn. Trong nước ấy có khu vườn Đại Trang Nghiêm. Trong vườn có một tòa lâu các rộng lớn tên là Tỳ-lô-giá-na Trang Nghiêm Tạng. Lâu các này là do thiện căn quả báo của Bồ-tát sanh ra; do niệm lực, nguyện lực, tự tại lực, thần thông lực của Bồ-tát sanh ra; do phương tiện thiện xảo, do phước đức trí tuệ của Bồ-tát sanh ra. Này Thiện nam tử! Bồ-tát trụ bất tư nghì giải thoát dùng tâm đại bi vì các chúng sanh mà hiện cảnh giới như vậy, chứa hợp những trang nghiêm như vậy. Di-lặc đại Bồ-tát ở trong lâu các ấy để nhiếp thọ phụ mẫu quyến thuộc và nhân dân, làm cho họ được thành thục. Lại muốn cho những chúng sanh đồng thọ sanh, đồng tu hành ở trong Đại thừa được kiên cố. Lại muốn cho tất cả chúng sanh ấy, tùy bậc tùy thiện căn, đều được thành tựu. Lại cũng muốn vì ngươi mà hiển thị môn Bồ-tát giải thoát, hiển thị Bồ-tát khắp tất cả chỗ thọ sanh tự tại, hiển thị Bồ-tát dùng nhiều thân hiện khắp nơi thường giáo hóa chúng sanh, hiển thị Bồ-tát dùng sức đại bi nhiếp tất cả tài sản thế gian mà chẳng nhàm, hiển thị tu đủ tất cả công hạnh biết rõ tất cả hạnh lìa các tướng, hiển thị Bồ-tát thọ sanh khắp nơi vì biết rõ tất cả sanh đều vô tướng. Ngươi đến đó hỏi: Bồ-tát thế nào thực hành Bồ-tát hạnh, thế nào tu Bồ-tát đạo, thế nào học Bồ-tát giới, thế nào tịnh Bồ-tát tâm, thế nào phát Bồ-tát nguyện, thế nào chứa nhóm Bồ-tát trợ đạo, thế nào nhập bậc Bồ-tát, thế nào thành mãn Bồ-tát ba-la-mật, thế nào được Bồ-tát vô sanh nhẫn, thế nào đủ Bồ-tát công đức, thế nào thờ Bồ-tát thiện tri thức? Thờ Bồ-tát thiện tri thức tức là thể nhập pháp thân. Đồng tử Thiện Tài tới đây là mãn Đẳng giác, bước qua Diệu giác. Như vậy ngài Thiện Tài đã tham vấn qua năm mươi thiện tri thức, đến vị thiện tri thức kế là Bồ-tát Di-lặc. Bồ-tát Di-lặc là Phật tương lai, đồng tử Thiện Tài tới gặp Bồ-tát Di-lặc tức là tiến vào Diệu giác thành Phật. Hai vị Đồng tử và Đồng nữ giới thiệu hạnh của Bồ-tát Di-lặc đã làm, sẽ giúp ích cho Thiện Tài như thế nào để đồng tử Thiện Tài đến đó tham vấn. Này Thiện nam tử! Di-lặc Bồ-tát thông đạt tất cả Bồ-tát hạnh, biết rõ tâm chúng sanh, thường hiện thân trước họ để giáo hóa điều phục. Di-lặc Bồ-tát đã viên mãn tất cả ba-la-mật, đã ở tất cả bậc Bồ-tát, đã chứng tất cả Bồ-tát nhẫn, đã nhập tất cả Bồ-tát vị, đã được Phật thọ ký, đã dạo đi tất cả cảnh Bồ-tát, đã được thần lực của tất cả Phật, đã được đức Như Lai đem pháp thủy cam lộ Nhất thiết trí quán đảnh. Bồ-tát Di-lặc đã đầy đủ công quả của một vị Phật, cho nên Thiện Tài đến đó cũng sẽ được đầy đủ công đức của Phật. Ý nói muốn được làm Phật thì phải đầy đủ tất cả công hạnh của chư Phật. Này Thiện nam tử! Di-lặc Bồ-tát có thể nhuận trạch thiện căn của ngươi, có thể tăng trưởng tâm Bồ-đề của ngươi, có thể kiên cố chí của ngươi, có thể thêm pháp lành cho ngươi, có thể lớn căn Bồ-tát cho ngươi, có thể chỉ bày pháp vô ngại cho ngươi, có thể làm cho ngươi vào bậc Phổ Hiền, có thể nói nguyện Bồ-tát cho ngươi, có thể nói hạnh Phổ Hiền cho ngươi, có thể vì ngươi mà nói tất cả Bồ-tát hạnh nguyện làm thành công đức. Này Thiện nam tử! Ngươi chẳng nên tu một điều lành, chiếu một pháp, hành một hạnh, phát một nguyện, được một thọ ký, trụ một nhẫn mà cho là rốt ráo. Ngươi chớ nên đem tâm có hạn lượng mà thực hành lục độ, trụ nơi Thập địa, tịnh Phật độ, thờ thiện tri thức. Tại sao vậy? Không nên đem tâm hạn lượng mà thực hành lục độ, trụ Thập địa, thanh tịnh cõi Phật và thờ thiện tri thức. Bởi vì nếu tâm có hạn lượng thì công đức cũng hữu hạn, mà công đức hữu hạn thì làm sao viên mãn Phật quả. Nhân không giới hạn thì quả tất nhiên cũng không hạn lượng. Này Thiện nam tử! Vì Bồ-tát phải gieo vô lượng thiện căn, phải chứa vô lượng Bồ-đề cụ, phải tu vô lượng Bồ-đề nhân, phải học vô lượng xảo hồi hướng, phải giáo hóa vô lượng chúng sanh giới, phải biết vô lượng chúng sanh tâm, phải biết vô lượng chúng sanh căn, phải rõ vô lượng chúng sanh giải, phải quán vô lượng chúng sanh hạnh, phải điều phục vô lượng chúng sanh, phải đoạn vô lượng phiền não, phải tịnh vô lượng nghiệp tập, phải diệt vô lượng tà kiến, phải trừ vô lượng tâm tạp nhiễm, phải phát vô lượng tâm thanh tịnh, phải nhổ vô lượng tên độc khổ, phải cạn vô lượng biển ái dục, phải phá vô lượng tối vô minh, phải xô vô lượng núi ngã mạn, phải chặt đứt vô lượng dây sanh tử, phải qua khỏi vô lượng dòng hữu lậu, phải khô vô lượng biển thọ sanh, phải làm cho vô lượng chúng sanh ra khỏi bùn lầy ngũ dục, phải khiến vô lượng chúng sanh lìa ngục tù tam giới, phải đặt vô lượng chúng sanh ở trong Thánh đạo, phải tiêu diệt vô lượng hạnh tham dục, phải trừ sạch vô lượng hạnh sân hận, phải phá trừ vô lượng hạnh ngu si, phải siêu vô lượng lưới ma, phải lìa vô lượng nghiệp ma, phải rửa sạch Bồ-tát vô lượng dục lạc, phải tăng trưởng Bồ-tát vô lượng phương tiện, phải xuất sanh Bồ-tát vô lượng căn tăng thượng, phải sáng sạch Bồ-tát vô lượng quyết định giải, phải xu nhập Bồ-tát vô lượng bình đẳng, phải thanh tịnh Bồ-tát vô lượng công đức, phải tu tập Bồ-tát vô lượng công hạnh, phải thị hiện Bồ-tát vô lượng hạnh tùy thuận thế gian, phải sanh vô lượng sức tịnh tín, phải trụ vô lượng sức tinh tấn, phải thanh tịnh vô lượng sức chánh niệm, phải thành mãn vô lượng sức tam-muội, phải khởi vô lượng sức tịnh tuệ, phải kiên cố vô lượng sức thắng giải, phải tích tập vô lượng sức phước đức, phải lớn vô lượng sức trí tuệ, phải phát khởi vô lượng sức Bồ-tát, phải viên mãn vô lượng sức Như Lai, phải phân biệt vô lượng pháp môn, phải rõ biết vô lượng pháp môn, phải thanh tịnh vô lượng pháp môn, phải sanh vô lượng pháp quang minh, phải làm vô lượng pháp chiếu diệu, phải chiếu vô lượng phẩm loại căn, phải biết vô lượng phiền não bệnh, phải chứa vô lượng diệu pháp dược, phải chữa vô lượng bệnh của chúng sanh, phải sắm sửa vô lượng đồ cúng cam lộ, phải đến vô lượng Phật độ, phải cúng dường vô lượng Như Lai, phải vào vô lượng Bồ-tát hội, phải thọ vô lượng Phật giáo, phải nhẫn vô lượng tội chúng sanh, phải diệt vô lượng nạn ác đạo, phải khiến vô lượng chúng sanh sanh về thiện đạo, phải dùng pháp tứ nhiếp để nhiếp vô lượng chúng sanh, phải tu vô lượng môn tổng trì, phải sanh vô lượng môn đại nguyện, phải tu vô lượng sức đại từ đại nguyện, phải siêng cầu vô lượng Phật pháp thường không thôi dứt, phải khởi vô lượng sức tư duy, phải khởi vô lượng sự thần thông, phải tịnh vô lượng trí quang minh, phải qua đến vô lượng loài chúng sanh, phải thọ vô lượng đời trong các cõi, phải hiện vô lượng thân sai biệt, phải biết vô lượng pháp ngôn từ, phải nhập vô lượng tâm sai biệt, phải biết Bồ-tát đại cảnh giới, phải trụ Bồ-tát đại cung điện, phải quán Bồ-tát thậm thâm diệu pháp, phải biết cảnh giới khó biết của Bồ-tát, phải thực hành những hạnh khó làm của Bồ-tát, phải đầy đủ oai đức tôn trọng của Bồ-tát, phải đi theo chánh vị khó nhập của Bồ-tát, phải biết những hạnh của Bồ-tát, phải hiện thần lực phổ biến của Bồ-tát, phải thọ pháp vân bình đẳng của Bồ-tát, phải làm rộng vô biên hạnh của Bồ-tát, phải viên mãn vô biên ba-la-mật của Bồ-tát, phải thọ vô lượng ký biệt của Bồ-tát, phải nhập vô lượng nhẫn môn của Bồ-tát, phải tu vô lượng địa vị của Bồ-tát, phải thanh tịnh vô lượng pháp môn của Bồ-tát. Phải đồng với chư Bồ-tát: trụ vô biên kiếp cúng dường vô lượng Phật, nghiêm tịnh bất khả thuyết Phật độ, xuất sanh bất khả thuyết Bồ-tát nguyện. Đoạn này nói về những công hạnh của Bồ-tát phải viên mãn, mới có thể thành Phật. Này Thiện nam tử! Tóm lại, phải khắp tu Bồ-tát hạnh, phải khắp giáo hóa chúng sanh giới, phải khắp vào tất cả kiếp, phải khắp sanh tất cả xứ, phải khắp biết tất cả thế, phải khắp thực hành tất cả pháp, phải khắp tịnh tất cả cõi, phải khắp mãn tất cả nguyện, phải khắp cúng tất cả Phật, phải khắp đồng tất cả Bồ-tát nguyện, phải khắp thờ tất cả thiện tri thức. Tất cả công hạnh đều đầy khắp hết để cầu thiện tri thức mà lòng không mỏi nhàm, cho nên công hạnh của Bồ-tát khi viên mãn thành Phật thật vô biên, vô lượng. Bởi công hạnh vô biên vô lượng nên Bồ-tát tu hành giáo hóa chúng sanh không hạn định bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp. Vì mỗi một lần sanh ra, mỗi một đời có mặt là thành tựu một hạnh hay một công đức, càng nhiều đời nhiều kiếp thì công đức càng viên mãn. Bồ-tát biết thế gian là lò lửa sanh tử, nhưng vì thương chúng sanh mê muội, nên các ngài làm vô lượng vô biên công đức, vào trong sanh tử mà không chán mỏi. Do đầy đủ vô lượng vô biên công đức nên rốt ráo viên mãn mới được thành Phật. Chúng ta học Đại thừa phải hiểu thông những điều này, đừng yếu đuối mà nên phát tâm cao thượng vì lợi ích chúng sanh. Tại sao Phật dạy mình tu phải một đời giải quyết xong việc sanh tử, mà theo kinh này nói thì Bồ-tát còn đi trong sanh tử không biết bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp nữa, như vậy có mâu thuẫn không? Chỗ này là chỗ cần phải chú ý. Sở dĩ được gọi là Bồ-tát vì các ngài đã giải quyết vấn đề sanh tử, nhưng vẫn lăn trong sanh tử để độ chúng sanh, thế nên khi độ chúng sanh Bồ-tát không gây tạo nghiệp dữ. Nếu người tu chưa giải quyết xong việc sanh tử, khi trôi trong trần tục dễ bị nhiễm, nhiễm thì phải bị đọa. Các Bồ-tát vì thương chúng sanh nên các ngài cũng luôn luôn ở trong trần tục, nhưng không dấy nhiễm trần tục. Vì vậy chúng ta tu theo pháp Đại thừa thì phải học hạnh Bồ-tát. Khi học hạnh Bồ-tát chúng ta cũng cần phải cấp bách giải quyết cho xong việc sanh tử của mình. Giải quyết xong không phải để nghỉ mà để độ mọi người, giúp ích mọi người. Đó là chỗ đặc biệt của Bồ-tát. Này Thiện nam tử! Ngươi cầu thiện tri thức chẳng nên nhàm mỏi. Ngươi thỉnh hỏi thiện tri thức chớ sợ khổ nhọc. Ngươi gần gũi thiện tri thức chớ có thối chuyển. Ngươi cúng dường thiện tri thức chớ có thôi nghỉ. Ngươi lãnh thọ lời dạy của thiện tri thức chớ có lầm lộn. Ngươi học hạnh của thiện tri thức chớ có nghi hoặc. Ngươi nghe thiện tri thức diễn nói môn xuất ly chẳng nên do dự. Thấy thiện tri thức tùy phiền não hành chớ có hiềm lạ. Ở chỗ thiện tri thức phải sanh lòng thâm tín tôn kính chẳng nên biến đổi. Ở chỗ thiện tri thức phải sanh lòng thâm tín, tôn kính chẳng nên biến đổi, thối lùi. Tại sao vậy? Này Thiện nam tử! Vì Bồ-tát do nơi thiện tri thức mà được nghe tất cả Bồ-tát hạnh, thành tựu tất cả Bồ-tát công đức, xuất sanh tất cả Bồ-tát đại nguyện, dẫn phát tất cả Bồ-tát thiện căn, tích tập tất cả Bồ-tát trợ đạo, khai phát tất cả Bồ-tát pháp quang minh, hiển thị tất cả Bồ-tát xuất ly môn, tu học tất cả Bồ-tát thanh tịnh giới, an trụ tất cả Bồ-tát công đức pháp, thanh tịnh tất cả Bồ-tát quảng đại chí, tăng trưởng tất cả Bồ-tát kiên cố tâm, đầy đủ tất cả Bồ-tát đà-la-ni biện tài môn, được tất cả Bồ-tát thanh tịnh tạng, sanh tất cả Bồ-tát định quang minh, được tất cả Bồ-tát thù thắng nguyện, cùng tất cả Bồ-tát đồng một nguyện, nghe tất cả Bồ-tát thù thắng pháp, được tất cả Bồ-tát bí mật xứ, đến tất cả Bồ-tát pháp bảo sở, thêm tất cả Bồ-tát mầm thiện căn, lớn tất cả Bồ-tát thân trí tuệ, hộ tất cả Bồ-tát tạng thâm mật, trì tất cả Bồ-tát phước đức tụ, tịnh tất cả Bồ-tát thọ sanh đạo, thọ tất cả Bồ-tát chánh pháp vân, nhập tất cả Bồ-tát đại nguyện lộ, đến tất cả Như Lai Bồ-đề quả, nhiếp thủ tất cả Bồ-tát diệu hạnh, khai thị tất cả Bồ-tát công đức, qua tất cả phương thính thọ diệu pháp, khen tất cả Bồ-tát oai đức quảng đại, sanh tất cả Bồ-tát đại từ bi lực, nhiếp tất cả Bồ-tát thắng tự tại lực, sanh tất cả Bồ-tát Bồ-đề phần, làm tất cả Bồ-tát lợi ích sự. Chúng ta thấy ở đây ca ngợi công đức của thiện tri thức đối với Bồ-tát lớn lao vô cùng vô tận. Vậy thiện tri thức là người thế nào mà làm cho mình được lợi ích lớn lao như vậy, và ai mới xứng đáng làm thiện tri thức? Thiện tri thức có hai: Một là thiện tri thức sẵn có nơi mình, đó là pháp thân, là Phật tánh. Bồ-tát khi tu nhận được pháp thân, Phật tánh rồi, các ngài nương đó mà tiến tới Phật quả. Hai là thiện tri thức ở bên ngoài, là những bậc thầy chỉ dạy giáo hóa cho mình tu tập tiến tới giác ngộ. Căn cứ theo kinh Hoa Nghiêm thì hàng thiện tri thức là những vị Bồ-tát từ Thập trụ trở lên. Vị thiện tri thức đầu tiên là Bồ-tát Văn-thù, tức là Căn bản trí, là Phật tánh dẫn phát. Năm mươi hai vị thiện tri thức kế tiếp đều là hàng Bồ-tát từ Sơ trụ cho tới Bồ-tát Nhất sanh bổ xứ. Theo tinh thần Thiền tông thì người kiến tánh mới có đủ khả năng làm thiện tri thức chỉ dạy người khác. Ngoài ra như bạn bè hay những người khuyên nhủ nhắc nhở mình tu tập điều lành... cũng là thiện tri thức nhưng mới là thiện tri thức bậc thấp thôi, chứ chưa phải bậc thiện tri thức xứng đáng đúng nghĩa. Này Thiện nam tử! Bồ-tát do thiện tri thức nhiệm trì nên chẳng đọa ác đạo, do thiện tri thức nhiếp thọ mà chẳng thối Đại thừa, do thiện tri thức hộ niệm mà chẳng phạm Bồ-tát giới, do thiện tri thức thủ hộ mà chẳng theo ác tri thức, do thiện tri thức dưỡng dục mà chẳng khuyết Bồ-tát pháp, do thiện tri thức nhiếp thủ mà siêu việt hạng phàm phu, do thiện tri thức giáo hối mà siêu việt bậc Nhị thừa, do thiện tri thức dìu dắt mà được ra khỏi thế gian, do thiện tri thức trưởng dưỡng mà có thể chẳng nhiễm thế pháp, do kính thờ thiện tri thức mà tu tất cả Bồ-tát hạnh, do cúng dường thiện tri thức mà đủ tất cả pháp trợ đạo, do thân cận thiện tri thức mà chẳng bị nghiệp hoặc nhiếp phục, do nương dựa thiện tri thức mà thế lực kiên cố chẳng sợ ma chúng, do y chỉ thiện tri thức mà tăng trưởng tất cả pháp Bồ-đề phần. Đến đây kết luận, do y chỉ thiện tri thức mà tăng trưởng tất cả pháp Bồ-đề phần. Tại sao vậy? Này Thiện nam tử! Vì thiện tri thức có thể trừ sạch các điều chướng ngại, có thể diệt các tội, có thể dứt các nạn, có thể ngăn các ác, có thể phá đêm dài tối tăm vô minh, có thể làm sập đổ lao ngục kiên cố kiến chấp, có thể thoát khỏi thành sanh tử, có thể bỏ nhà thế tục, có thể cắt lưới ma, có thể nhổ tên khổ, có thể lìa chỗ hiểm nạn vô trí, có thể ra khỏi đồng hoang rộng lớn tà kiến, có thể qua khỏi dòng hữu lậu, có thể lìa những tà đạo, có thể chỉ đường Bồ-đề, có thể dạy pháp Bồ-tát, có thể khiến an trụ Bồ-tát hạnh, có thể khiến xu hướng Nhất thiết trí, có thể tịnh mắt trí tuệ, có thể lớn tâm Bồ-đề, có thể sanh đại bi, có thể diễn diệu hạnh, có thể nói ba-la-mật, có thể tẩn ác tri thức, có thể khiến trụ các bậc, có thể khiến được các nhẫn, có thể khiến tu tập các thiện căn, có thể khiến thành xong tất cả đạo cụ, có thể thí cho tất cả công đức lớn, có thể khiến đến ngôi Nhất thiết chủng trí, có thể khiến hoan hỷ nhóm công đức, có thể khiến hớn hở tu các công hạnh, có thể khiến xu nhập nghĩa thậm thâm, có thể khiến khai thị môn xuất ly, có thể khiến trừ tuyệt các ác đạo, có thể dùng pháp quang chiếu diệu, có thể dùng pháp vũ nhuận trạch, có thể khiến tiêu diệt tất cả phiền não, có thể khiến bỏ lìa tất cả kiến chấp, có thể khiến tăng trưởng tất cả Phật trí tuệ, có thể khiến an trụ tất cả Phật pháp môn. Này Thiện nam tử! Thiện tri thức như từ mẫu, vì xuất sanh Phật chủng. Như từ phụ, vì lợi ích rộng lớn. Như nhũ mẫu, vì thủ hộ chẳng cho làm ác. Như giáo sư, vì dạy sở học của Bồ-tát. Như đạo sư, vì hay chỉ đường ba-la-mật. Như lương y, vì hay chữa bệnh phiền não. Như Tuyết Sơn, vì tăng trưởng thuốc Nhất thiết trí. Như dũng tướng, vì dẹp trừ tất cả sự bố úy. Như người đưa đò, vì làm cho ra khỏi dòng sanh tử. Như lái thuyền, vì khiến đến bảo sở trí tuệ. Tán thán công đức và những diệu dụng của thiện tri thức lớn lao vô cùng, thiện tri thức như người đưa đò giúp chúng sanh ra khỏi dòng sanh tử, như lái thuyền đưa đến chỗ châu báu trí tuệ. Này Thiện nam tử! Thường phải chánh niệm suy nghĩ thiện tri thức là như vậy. Trước đã nói diệu dụng của thiện tri thức đối với người học đạo, giờ nói đến người học đạo đối với thiện tri thức phải như thế nào. Lại này Thiện nam tử! Ngươi kính thờ tất cả thiện tri thức phải phát tâm như đại địa, vì gánh vác trọng nhiệm không mỏi nhọc. Gia Đại địa là đất đai, bỏ cái gì xuống đất cũng gánh mang, gieo cái gì xuống đất cũng dung chứa. Đối với thiện tri thức chúng ta phải phát tâm như đại địa, gánh vác trọng trách không mỏi mệt. Phải phát tâm như kim cang, vì chí nguyện kiên cố chẳng hư hoại. Phải phát tâm như núi Thiết vi, vì tất cả các sự khổ không lay động. Phải phát tâm như người hầu hạ, vì đều tùy thuận theo lời dạy. Phải phát tâm như đệ tử, vì không chống trái lời dạy bảo. Phải phát tâm như tôi tớ, vì tất cả lao vụ không nhàm. Đối với thiện tri thức phải phát tâm kiên cố như kim cang để thọ nhận, chí nguyện mạnh mẽ không hư hoại. Tuân theo lời chỉ dạy để tu hành, làm tất cả việc không thấy mỏi nhọc. Phải phát tâm như dưỡng mẫu, vì chịu những sự cần khổ không biết nhọc. Phải phát tâm như người làm thuê, vì không trái chỗ sai bảo. Phải phát tâm như người hốt phân, vì lìa kiêu mạn. Phải phát tâm như cây lúa đã chín, vì có thể hạ thấp. Phải phát tâm như lương mã, vì lìa ác tánh. Phải phát tâm như xe lớn, vì có thể chở nặng. Phải phát tâm như voi điều thuận, vì hằng phục tùng. Phải phát tâm như núi Tu-di, vì chẳng khuynh động. Phải phát tâm như lương khuyển, vì chẳng phản hại chủ. Phải phát tâm như chiên-đà-la, vì lìa kiêu mạn. Phải phát tâm như kiện ngưu, vì không hung giận. Phải phát tâm như ghe thuyền, vì qua lại chẳng mỏi. Phải phát tâm như cầu đò, vì tế độ không biết nhọc. Phải phát tâm như hiếu tử, vì thừa thuận nhan sắc. Phải phát tâm như vương tử, vì tuân hành giáo mạng. Chúng ta đối với thiện tri thức phải có quan niệm đứng đắn thì mới nhận được sự lợi ích nơi thiện tri thức. Đó là đối với thiện tri thức, còn với tự thân mình phải như thế nào? Lại này Thiện nam tử! Với tự thân, ngươi phải tưởng là bệnh khổ. Với thiện tri thức, ngươi phải tưởng là y vương. Với pháp của thiện tri thức dạy, ngươi phải tưởng là lương dược. Với chỗ tu hành, tưởng trừ được bệnh. Nhận xét thân mình như người bệnh khổ trầm trọng, còn thiện tri thức là thầy thuốc giỏi. Pháp thiện tri thức chỉ dạy là thuốc hay, mình phải tôn trọng thầy thuốc, nghe lời dặn bảo, chịu uống thuốc thì bệnh mới được lành. Thiện tri thức chỉ dạy tu hành phải phát tâm tu tập, đó là trừ được bệnh khổ. Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là đi xa. Nơi thiện tri thức, tưởng là đạo sư. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là con đường chánh. Nơi chỗ tu hành, tưởng là đến được xa. Nơi tự thân thấy mình như người viễn hành tha phương. Người đi phương xa không biết đường thì thiện tri thức là thầy dẫn đường, pháp của thiện tri thức dạy là con đường đúng, dẫn đến chỗ mình muốn đến. Lại phải ở nơi tự thân, tưởng cầu được độ. Nơi thiện tri thức, tưởng là người lái thuyền. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là thuyền là chèo. Nơi chỗ tu hành, tưởng là đến bờ kia. Cầu được độ tức là muốn qua sông. Như kẻ muốn qua đò sang bờ bên kia thì thiện tri thức là người lái thuyền, pháp của thiện tri thức chỉ dạy là thuyền là chèo, thực hành tu tập là được đến bờ bên kia. Phải luôn luôn tưởng như vậy. Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là lúa mạ. Nơi thiện tri thức tưởng là Long vương. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là mưa đúng thời tiết. Nơi chỗ tu hành tưởng là có thể thành thục. Thành thục tức là lúa đã chín. Những thí dụ trong đây thật phong phú, chỉ một việc mà diễn đạt bằng rất nhiều thí dụ. Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là nghèo cùng. Nơi thiện tri thức tưởng là Tỳ-sa-môn thiên vương. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là của cải châu báu. Nơi chỗ tu hành, tưởng là giàu có. Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là đệ tử. Nơi thiện tri thức, tưởng là thợ khéo. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là nghề khéo. Nơi chỗ tu hành, tưởng là biết rõ. Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là chỗ đáng sợ hãi. Nơi thiện tri thức, tưởng là người dũng kiện. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là dao gậy. Nơi chỗ tu hành, tưởng là dẹp trừ được kẻ oán địch. Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là người đi buôn. Nơi thiện tri thức, tưởng là đạo sư. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là trân bảo. Nơi chỗ tu hành, tưởng là lượm châu báu. Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là con cái. Nơi thiện tri thức, tưởng là cha mẹ. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là gia nghiệp. Nơi chỗ tu hành, tưởng là nối nghiệp nhà. Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là vương tử. Nơi thiện tri thức, tưởng là đại thần. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là lệnh của vua. Nơi chỗ tu hành, tưởng là đội mão vua, mặc áo vua, cột đai vua, ngồi điện vua. Này Thiện nam tử! Ngươi phải phát tâm như vậy, suy nghĩ như vậy để gần thiện tri thức. Tại sao vậy? Vì có tâm như vậy để gần thiện tri thức thì chí nguyện trọn được thanh tịnh. Nếu người nào trong những thí dụ này mà có được một điểm, để gần thiện tri thức thì đều có lợi ích lớn. Cho nên phải phát tâm như vậy mà gần gũi thiện tri thức. Đối với thiện tri thức chúng ta phải nhận thức rõ, thấy bản thân mình thế nào, phương pháp chỉ dạy của thiện tri thức như thế nào vv... nhận thức rõ ràng rồi y cứ thiện tri thức tu hành, thành tựu chí nguyện thanh tịnh. Lại này Thiện nam tử! Thiện tri thức làm lớn các thiện căn, như núi Tuyết sanh lớn các dược thảo. Thiện tri thức là pháp khí của Phật, như đại hải nhận thọ các dòng nước. Thiện tri thức là chỗ công đức, như đại hải xuất sanh các châu báu. Thiện tri thức thanh tịnh tâm Bồ-đề, như lửa hừng luyện chân kim. Thiện tri thức vượt hơn thế pháp như núi Tu-di vọt lên mặt đại hải. Thiện tri thức chẳng nhiễm thế pháp, như hoa sen chẳng dính nước. Thiện tri thức chẳng thọ các điều ác, như đại hải chẳng chứa tử thi. Thiện tri thức tăng trưởng pháp lành, như trăng tròn quang sắc viên mãn. Thiện tri thức soi sáng pháp giới, như mặt nhật chiếu khắp thế gian. Thiện tri thức làm lớn thân Bồ-tát, như cha mẹ nuôi nấng con cái. Ở trước đã nói thiện tri thức có bao nhiêu công hạnh nhưng cũng chưa đủ, đến đây lại nói thêm một lần nữa. Kinh Hoa Nghiêm dẫn thí dụ rất dồi dào, nếu ai muốn viết những bài tiểu luận hay tham luận về thiện tri thức nên đọc kinh này. Này Thiện nam tử! Tóm lại, Bồ-tát nếu có thể tùy thuận lời dạy của thiện tri thức, thì được mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na-do-tha công đức, thì thanh tịnh mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na-do-tha thâm tâm, thì lớn mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na-no-tha Bồ-tát căn, thì thành mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na-do-tha Bồ-tát lực, thì dứt mười bất khả thuyết trăm ngàn ức a-tăng-kỳ chướng, thì siêu mười bất khả thuyết trăm ngàn ức a-tăng-kỳ ma cảnh, thì nhập mười bất khả thuyết trăm ngàn ức a-tăng-kỳ pháp môn, thì mãn mười bất khả thuyết trăm ngàn ức a-tăng-kỳ trợ đạo, thì tu mười bất khả thuyết trăm ngàn ức a-tăng-kỳ diệu hạnh, thì phát mười bất khả thuyết trăm ngàn ức a-tăng-kỳ đại nguyện. Nếu tùy thuận lời dạy của thiện tri thức thì đạt được lợi ích bất khả thuyết. Này Thiện nam tử! Ta lại lược nói Bồ-tát hạnh, tất cả Bồ-tát ba-la-mật, tất cả Bồ-tát địa, tất cả Bồ-tát nhẫn, tất cả Bồ-tát tổng trì môn, tất cả Bồ-tát tam-muội môn, tất cả Bồ-tát thần thông trí, tất cả Bồ-tát hồi hướng, tất cả Bồ-tát nguyện, tất cả Bồ-tát thành tựu Phật pháp, đều do sức của thiện tri thức. Đều dùng thiện tri thức làm căn bổn. Đều nương thiện tri thức mà sanh. Đều nương thiện tri thức mà ra. Đều nương thiện tri thức mà lớn. Đều nương thiện tri thức mà trụ. Đều do thiện tri thức làm nhân duyên. Đều do thiện tri thức hay phát khởi. Tất cả điều tốt đẹp là do sức của thiện tri thức, những công hạnh nơi Phật pháp gốc từ thiện tri thức mà ra. Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử nghe thiện tri thức có công đức như vậy, có thể khai thị vô lượng diệu hạnh Bồ-tát, có thể thành tựu Phật pháp quảng đại, nên vui mừng hớn hở đảnh lễ Đức sanh và Hữu Đức, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ đi qua phương Nam. Thiện Tài được nghe lời thiện tri thức dạy nhuận trạch tâm mình, chánh niệm tư duy công hạnh của Bồ-tát. Tự nhớ đời trước chẳng tu hạnh lễ kính, tức thời phát tâm cố gắng tiến bước. Lại nhớ đời trước thân tâm chẳng thanh tịnh, tức thời phát tâm chuyên tự sửa sạch. Đồng tử Thiện Tài tự quán sát lại mình, thấy có những điều dở nghe thiện tri thức chỉ dạy liền bỏ. Chúng ta tu muốn tiến được là nhờ biết dở rồi chừa bỏ, nếu biết dở mà không chừa thì không thể tu tiến được. Vì vậy khi nhớ lại mình còn khuyết chỗ nào, thiếu cái gì là phải vội vàng sửa ngay. Lại nhớ đời trước làm những ác nghiệp, tức thời phát ý chuyên tự phòng ngừa và dứt diệt. Lại nhớ đời trước khởi những vọng tưởng, tức thời phát ý hằng suy gẫm chân chánh. Thế nào là phát ý hằng suy gẫm chân chánh? Thí dụ chúng ta đang ngồi chơi, bỗng những vọng tưởng ập tới nhớ chuyện này chuyện kia, lúc đó mình liền quán sát các pháp thế gian duyên khởi như huyễn không thật. Quán một lúc vọng tưởng lặn mất, đó là dùng suy gẫm chân chánh để trừ vọng tưởng. Nếu không phát ý suy gẫm mà cứ ngồi nuôi dưỡng thì nó tăng trưởng và giết hết thời gian tu hành của mình. Lại nhớ đời trước tu tập chỉ vì tự thân, tức thời phát ý khiến tâm quảng đại lợi khắp chúng sanh. Lại nhớ đời trước theo cầu cảnh dục thường tự tổn hao không chút lợi ích, tức thời phát ý tu hành Phật pháp nuôi lớn các căn để tự an ổn. Nhớ đời trước tu ích kỷ chỉ lo cho mình thì bây giờ phát tâm rộng lớn để làm lợi ích chúng sanh. Ngày xưa chạy theo dục lạc, hao tổn tinh thần, tiêu tốn tiền của thì bây giờ phải phát tâm tu hành Phật pháp, nuôi lớn các căn để tự an ổn. Bồ-tát vui khi bố thí hay làm được điều gì lợi ích cho chúng sanh. Niềm vui của Bồ-tát trong giây phút ấy bằng niềm vui của chư thiên cõi trời Đao-lợi mấy trăm năm. Hàng phàm phu bậc hạ tìm vui nơi ngũ dục, lao mình vào ngũ dục cho đó là vui, cái vui đó chỉ là thỏa mãn tự thân mà làm tổn hại mọi người. Hàng bậc trung là những người sống thanh nhàn, sáng uống trà, chăm sóc hoa kiểng... tìm vui trong cảnh thiên nhiên. Vui đó cũng chỉ là vui cho mình chứ không lợi ích ai. Hàng bậc thượng thì vui trên niềm vui của người khác, làm cho người vui là mình vui. Như khi người đói giúp cho chén cơm, nhìn thấy họ được no bụng cười vui sung sướng mình vui. Bởi vì Bồ-tát lấy vui của người làm niềm vui của mình, cho nên niềm vui đó phát sanh ra các công đức. Lại nhớ đời trước khởi tà tư niệm điên đảo, tức thời phát ý sanh tâm chánh kiến khởi nguyện Bồ-tát. Lại nhớ đời trước ngày đêm siêng nhọc làm những sự ác, tức thời phát ý khởi đại tinh tấn thành tựu Phật pháp. Lại nhớ đời trước thọ sanh ngũ thú, thân mình thân người đều không lợi ích, tức thời phát ý nguyện đem thân mình nhiêu ích chúng sanh, thành tựu Phật pháp, kính thờ tất cả thiện tri thức. Suy nghĩ như trên đây rồi, trong lòng rất hoan hỷ. Thiện Tài lại quán thân này là nhà khổ sanh lão bệnh tử. Nguyện tận kiếp vị lai tu Bồ-tát đạo giáo hóa chúng sanh, gặp chư Như Lai thành tựu Phật pháp, du hành tất cả cõi Phật, kính thờ tất cả pháp sư, trụ trì tất cả Phật giáo, tìm cầu tất cả pháp lữ, thấy tất cả thiện tri thức, chứa họp tất cả những Phật pháp, làm nhân duyên cho tất cả Bồ-tát nguyện trí thân. Lúc nghĩ như vậy, Thiện Tài được thêm lớn vô lượng thiện căn. Liền ở nơi tất cả Bồ-tát thâm tín tôn trọng, tưởng là hy hữu, tưởng là đại sư, các căn thanh tịnh, pháp lành càng thêm, khởi tất cả Bồ-tát cung kính cúng dường, làm tất cả Bồ-tát cúi mình chắp tay, sanh con mắt thấy khắp thế gian của tất cả Bồ-tát, khởi lòng nhớ khắp chúng sanh của tất cả Bồ-tát, hiện vô lượng thân nguyện hóa của tất cả Bồ-tát, xuất âm thanh nói khen thanh tịnh của tất cả Bồ-tát, thấy tất cả chư Phật và Bồ-tát quá khứ, hiện tại, thị hiện thành đạo và thần thông biến hóa ở khắp mọi nơi. Nhẫn đến không có một chỗ nhỏ nào bằng đầu sợi lông mà chẳng châu biến. Thiện Tài lại được trí nhãn quang minh thanh tịnh, thấy cảnh giới sở hành của tất cả Bồ-tát, tâm vào khắp thập phương sát võng, nguyện rộng khắp hư không pháp giới, tam thế bình đẳng không thôi nghỉ. Tất cả những sự lợi ích lớn mà Thiện tài đã được, đều do tin thọ lời dạy của thiện tri thức cả. Thiện Tài đồng tử quán sát lại tự thân, thấy bao nhiêu lợi ích mà ngài được đó, đều là do tin thọ thực hành theo lời dạy của thiện tri thức. Đến nước Hải Ngạn, Thiện tài dùng tâm tôn trọng như vậy, cúng dường như vậy, xưng tán như vậy, quán sát như vậy, nguyện lực như vậy, tưởng niệm như vậy, vô lượng cảnh giới trí tuệ như vậy, ở trước đại lâu các Tỳ-lô-giá-na Trang Nghiêm Tạng gieo năm vóc đảnh lễ, tạm thời nhiếp niệm tư duy quán sát. Thiện Tài đi tới nước Hải Ngạn. Hải Ngạn là bờ biển, tức qua khỏi biển sanh tử lên được bờ giác ngộ. Lầu các Tỳ-lô-giá-na Trang Nghiêm Tạng, tức là lầu pháp thân. Ngài đến trước lầu các gieo mình đảnh lễ, nhiếp niệm tư duy. Hình ảnh này nói lên ý nghĩa sắp bước vào địa vị Phật chứ chưa vào, còn ở bên ngoài. Vì sức đại nguyện tín giải sâu, nên nhập môn trí tuệ thân bình đẳng khắp tất cả xứ, hiện thân mình ở khắp trước chư Như Lai, chư Bồ-tát, chư thiện tri thức, chư Phật tháp miếu, chư Phật hình tượng, ở trước tất cả chỗ ở của chư Phật chư Bồ-tát, tất cả pháp bảo, tất cả Thanh văn, Bích-chi Phật và tháp miếu của chư vị ấy. Cũng hiện thân mình ở trước tất cả thánh chúng, tất cả phụ mẫu, tất cả chúng sanh. Tất cả chỗ, Thiện Tài đều tôn trọng lễ tán suốt vị lai tế không thôi nghỉ, khắp hư không vì chẳng có biên lượng, khắp pháp giới vì không chướng ngại, khắp thật tế vì khắp tất cả, khắp Như Lai vì vô phân biệt, dường như bóng vì tùy trí hiện, dường như mộng vì từ tư duy khởi, giống như tượng vì thị hiện tất cả, dường như vang vì theo duyên mà phát, không có sanh vì xoay vần khởi diệt, không có tánh vì theo duyên mà chuyển. Do sức nhập định mà Thiện Tài đồng tử thấy rõ các pháp, nơi nơi chốn chốn, chỗ chư Phật Bồ-tát ngài đều hiện thân. Chỉ mới sắp bước vào lầu các Tỳ-lô-giá-na Trang Nghiêm Tạng mà đã được diệu dụng như vậy rồi. Lại quyết định biết tất cả báo đều do nghiệp, tất cả quả đều do nhân, tất cả nghiệp đều do hoặc tập, tất cả Phật xuất thế đều do đức tin, tất cả sự hóa hiện cúng dường đều do quyết định giải, tất cả Hóa Phật đều do tâm cung kính, tất cả Phật pháp đều do thiện căn, tất cả hóa thân đều do phương tiện, tất cả Phật sự đều do đại nguyện, tất cả Bồ-tát tu công hạnh đều do hồi hướng, tất cả pháp giới quảng đại trang nghiêm đều từ cảnh giới Nhất thiết trí. Biết như thế là cái biết của chư Phật. Biết rõ báo nào cũng từ nghiệp mà ra, quả nào cũng từ nhân mà có. Biết sở dĩ có nghiệp là gốc tại hoặc tập, tức là do mê lầm nhóm hợp nên tạo thành nghiệp. Tất cả chư Phật ra đời là do đức tin, tất cả sự hóa hiện cúng dường là do sự hiểu biết quyết định... Những cảnh giới quảng đại trang nghiêm đều gốc từ Nhất thiết trí mà được. Rời đoạn kiến nên biết hồi hướng, rời thường kiến nên biết vô sanh, rời vô nhân kiến nên biết chánh nhân, rời điên đảo kiến nên biết như thật lý, rời tự tại kiến nên biết chẳng do nơi khác, rời tự tha kiến nên biết từ duyên khởi, rời biên chấp kiến nên biết pháp giới vô biên, rời vãng lai kiến nên biết như ảnh tượng, rời hữu vô kiến nên biết chẳng sanh diệt, rời nhất thiết pháp kiến nên biết không vô sanh, nên biết chẳng tự tại, nên biết do nguyện lực xuất sanh, rời nhất thiết tướng kiến nên nhập vô tướng tế. Rời đoạn kiến mà biết hồi hướng. Có người cho rằng chết rồi là hết như cây đốt thành tro, đức Phật gọi đó là chấp đoạn kiến. Đối với người tu Bồ-tát hạnh, chứng được Phật quả thì thấy tất cả những điều đó là sai lầm, cho nên rời đoạn kiến mà biết hồi hướng. Như nguyện mình và chúng sanh đều sẽ thành Phật, sự hồi hướng ấy dứt được đoạn kiến. Bởi nếu chết rồi mất không còn nữa thì sau này ai thành Phật. Rời thường kiến nên biết vô sanh. Theo quan niệm của Ấn Độ nói có thần ngã bất sanh bất diệt, còn nói theo Việt Nam thì có linh hồn bất sanh bất diệt. Linh hồn A thì chết cũng là A, sanh trở lại cũng là A... cứ như vậy dù đảo lộn bao nhiêu phen cũng là A, chứ không ai khác. Kẹt vào quan niệm đó Phật gọi là thường kiến, tức chấp có cái ngã thường hằng. Bồ-tát khi tu biết rõ các pháp tự tánh là vô sanh, nên rời thường kiến. Rời vô nhân kiến nên biết chánh nhân, biết các pháp có chánh nhân cho nên không chấp vô nhân. Rời điên đảo kiến nên biết như thật lý, khi thấy được lý như thật rồi thì không còn kiến chấp điên đảo nữa. Rời tự tại kiến nên biết chẳng do nơi khác. Tự tại kiến là một lối chấp của Ấn Độ, họ cho rằng con người là do Tự Tại thiên biến hiện ra, nên lệ thuộc vào Tự Tại thiên. Bồ-tát biết chẳng do nơi khác, tức chẳng phải Tự Tại thiên làm ra mà chính do nghiệp của mỗi người tạo nên. Rời tự tha kiến nên biết từ duyên khởi. Thế nào là tự tha kiến? Có một số người cho rằng tất cả khổ vui đều do mình, có người cho khổ vui là do hoàn cảnh. Do mình là tự, do hoàn cảnh là tha. Người chấp tự, người chấp tha đều không thấy chánh lý. Nếu biết tất cả khổ vui đều do nhân duyên thì không nói tự, không nói tha. Rời kiến chấp tự tha đó là thấy được chánh lý. Trong kinh A-hàm ghi lại, có lần đức Phật hỏi các thầy Tỳ-kheo: Có những người nói khổ vui do mình tạo nên, phải không? Các Tỳ-kheo không dám đáp. Phật lại hỏi: Có những người nói khổ vui do kẻ khác tạo nên, phải không? Các thầy cũng không dám đáp. Cuối cùng các Tỳ-kheo thưa: Phật là gốc của pháp, Phật là chủ của pháp, xin Ngài vì nói khổ vui là do cái gì tạo? Phật đáp: Khổ vui là do nhân duyên sanh. Nếu nói khổ vui do mình thì khi không người xúc não mình đâu có khổ. Nếu nói do người, tức là mình không có, thì khi người xúc não mình đâu có buồn khổ. Nên nói tất cả đều do nhân duyên. Biết nhân duyên sanh đó là chánh lý. Rời biên chấp kiến nên biết pháp giới vô biên. Biên chấp là chấp có chừng có hạn. Bởi biết pháp giới là vô biên nên không còn mắc kẹt trong chấp có chừng hạn. Rời vãng lai kiến nên biết như ảnh tượng. Vãng là đi, lai là đến. Chúng ta học Luận Trung Quán cũng thấy nói lý này, đi mà không đi, đến mà không đến. Phàm phu chấp các pháp là thật nên thấy có đến có đi, Bồ-tát biết các pháp không thật, có đó chỉ như bóng, nên các ngài không kẹt vào kiến chấp vãng lai. Rời hữu vô kiến nên biết chẳng sanh diệt. Không kẹt vào chấp có chấp không, rõ biết các pháp không sanh không diệt. Rời nhất thiết pháp kiến nên biết không, vô sanh, nên biết chẳng tự tại, nên biết do nguyện lực xuất sanh. Rời nhất thiết tướng kiến nên nhập vô tướng tế. Nhất thiết pháp kiến tức là chấp cho tất cả pháp là thật. Do không thấy các pháp là thật nên rõ biết tự tánh của các pháp vốn không, là vô sanh, không tự tại, từ nguyện lực mà sanh ra. Vì biết tất cả pháp như hạt giống nảy mầm, như ấn sanh văn. Vì biết chất như tượng, biết thanh âm như vang, biết cảnh như mộng, biết nghiệp như huyễn, rõ đời do tâm hiện, quả do nhân khởi, rõ báo do nghiệp tập. Như ẩn sanh văn, nghĩa là như đóng con dấu chữ hiện ra. Chữ đó không thật, do con dấu ấn xuống chữ mới có. Biết tất cả hình chất như bóng hiện trong gương, các thứ thanh âm tợ tiếng vang không thật, rõ cảnh như mộng, nghiệp hiện như huyễn, rõ đời này là do tâm mình hiện, quả do nhân khởi, báo do nghiệp tập... Biết như vậy là biết đúng đạo lý. Biết rõ tất cả pháp công đức đều từ Bồ-tát phương tiện thiện xảo mà lưu xuất. Thiện Tài đồng tử nhập quán trí như vậy, đoan tâm khiết niệm, ở trước lâu các mọp lạy sát đất, bất tư nghì thiện căn lưu chú thân tâm mát mẻ thơ thới. Rồi đứng dậy chiêm ngưỡng, mắt không tạm rời, chắp tay hữu nhiễu vô lượng vòng. Tự nghĩ rằng: Đại lâu các này là chỗ ở của bậc đạt không, vô tướng, vô nguyện. Đây là chỗ ở của Phật, là diệu dụng của Phật. Là chỗ ở bậc nhất thiết pháp vô phân biệt. Là chỗ ở của bậc rõ pháp giới vô sai biệt. Là chỗ ở của bậc biết tất cả chúng sanh bất khả đắc. Là chỗ ở của bậc biết tất cả pháp vô sanh. Là chỗ ở của bậc chẳng tham chấp tất cả thế gian. Là chỗ ở của bậc chẳng tham chấp tất cả nhà của. Là chỗ ở của bậc chẳng thích tất cả tụ lạc. Là chỗ ở của bậc chẳng dựa tất cả cảnh giới. Là chỗ ở của bậc lìa tất cả tưởng. Là chỗ ở của bậc biết tất cả pháp không tự tánh. Là chỗ ở của bậc dứt tất cả nghiệp phân biệt. Là chỗ ở của bậc lìa tất cả tưởng, tâm, ý, thức. Là chỗ ở của bậc chẳng xuất, chẳng nhập tất cả đạo. Là chỗ ở của bậc nhập thậm thâm Bát-nhã ba-la-mật. Là chỗ ở của bậc hay dùng phương tiện trụ phổ môn pháp giới. Là chỗ ở của bậc tắt dứt tất cả lửa phiền não. Là chỗ ở của bậc dùng tăng thượng tuệ dứt trừ tất cả kiến, ái, mạn. Là chỗ ở của bậc xuất sanh tất cả thiền, giải thoát, tam-muội, thông sáng và du hý trong đó. Là chỗ ở của bậc cảnh giới tam-muội của tất cả Bồ-tát. Là chỗ ở của bậc an trụ chỗ của tất cả Như Lai. Là chỗ ở của bậc đem một kiếp vào tất cả kiếp, đem tất cả kiếp vào một kiếp mà không hư tướng thời gian. Là chỗ ở của bậc đem một thế giới vào tất cả thế giới, đem tất cả thế giới vào một thế giới mà chẳng hoại tướng không gian. Là chỗ ở của bậc đem một pháp vào tất cả pháp, đem tất cả pháp vào một pháp mà chẳng hư hoại tướng của pháp. Là chỗ ở của bậc đem một chúng sanh vào tất cả chúng sanh, đem tất cả chúng sanh vào một chúng sanh, mà không hư tướng chúng sanh. Là chỗ ở của bậc đem một Phật vào tất cả Phật, đem tất cả Phật vào một Phật, mà chẳng hoại tướng Phật. Là chỗ ở của bậc ở trong một niệm mà biết tất cả tam thế. Là chỗ ở của bậc trong khoảng một niệm qua đến tất cả quốc độ. Là chỗ ở của bậc hiện thân mình ra trước tất cả chúng sanh. Là chỗ ở của bậc tâm thường lợi ích tất cả thế gian. Là chỗ ở của bậc hay đến khắp tất cả chỗ. Là chỗ ở của bậc dầu đã thoát ly tất cả thế gian, nhưng vì hóa độ chúng sanh nên hằng hiện thân ở trong thế gian. Là chỗ ở của bậc chẳng chấp lấy tất cả cõi, nhưng vì cúng dường chư Phật mà du hành tất cả cõi. Là chỗ ở của bậc chẳng động bổn xứ, mà có thể đến khắp tất cả Phật độ để trang nghiêm. Là chỗ ở của bậc thân cận tất cả Phật mà chẳng khởi Phật tưởng. Là chỗ ở của bậc y chỉ tất cả thiện tri thức, mà chẳng khởi thiện tri thức tưởng. Là chỗ ở của bậc ở tất cả ma cung, mà chẳng đắm nhiễm cảnh dục. Là chỗ ở của bậc rời hẳn tất cả tâm tưởng. Là chỗ ở của bậc dầu hiện thân trong tất cả chúng sanh, mà không có quan niệm mình người riêng khác. Là chỗ ở của bậc hay vào khắp tất cả thế giới, mà đối với pháp giới không có tưởng sai biệt. Là chỗ ở của bậc nguyện trụ tất cả kiếp vị lai, nhưng đối với kiếp số không có quan niệm thời gian dài, ngắn. Là chỗ ở của bậc chẳng rời chỗ một đầu sợi lông, mà hiện thân khắp tất cả thế giới. Là chỗ ở của bậc hay diễn thuyết những pháp khó được gặp, được nghe. Là chỗ ở của bậc hay trụ pháp khó biết, pháp thậm thâm, pháp không hai, pháp vô tướng, pháp không đối trị, pháp vô sở đắc, pháp không hý luận. Là chỗ ở của bậc trụ đại từ đại bi. Là chỗ ở của bậc đã vượt hẳn trí Nhị thừa, đã siêu cảnh giới ma, đã không nhiễm thế pháp, đã đến bờ của Bồ-tát đã đến, đã trụ nơi chỗ trụ của Như Lai. Là chỗ ở của bậc dầu rời tất cả tướng mà chẳng nhập chánh vị của Thanh văn, dầu rõ tất cả pháp vô sanh mà cũng chẳng trụ pháp tánh vô sanh. Là chỗ ở của bậc dầu quán bất tịnh mà chẳng chứng pháp ly tham cũng chẳng cùng chung với tham dục, dầu tu hạnh từ mà chẳng chứng pháp ly sân cũng chẳng cùng chung với sân hận, dầu quán duyên khởi mà chẳng chứng pháp ly si cũng chẳng cùng chung với si hoặc. Là chỗ ở của bậc dầu trụ tứ thiền mà chẳng tùy thiền sanh, dầu tu hành tứ vô lượng tâm nhưng vì hóa độ chúng sanh nên chẳng sanh cõi Sắc, dầu tu vô sắc định nhưng vì đại bi nên chẳng trụ cõi Vô sắc. Là chỗ ở của bậc dầu siêng tu chỉ quán nhưng vì hóa độ chúng sanh nên chẳng chứng quả giải thoát, dầu thật hành hạnh xả mà chẳng bỏ sự hóa độ chúng sanh. Là chỗ ở của bậc dầu quán Không mà chẳng khởi không kiến, dầu hành Vô tướng mà thường giáo hóa chúng sanh chấp tướng, dầu hành Vô nguyện mà chẳng bỏ hạnh nguyện vô thượng Bồ-đề. Là chỗ ở của bậc dầu ở trong tất cả nghiệp phiền não mà vẫn tự tại, vì để hóa độ chúng sanh nên tùy thuận các nghiệp phiền não, dầu không sanh tử mà vì hóa độ chúng sanh nên thị hiện thọ sanh tử, dầu đã rời tất cả loài mà vì hóa độ chúng sanh nên thị hiện vào các loài. Là chỗ ở của bậc dầu thực hành hạnh từ mà không ái luyến chúng sanh, dầu thực hành hạnh bi mà không chấp trước chúng sanh, dầu thực hành hạnh hỷ mà thường ai mẫn chúng sanh khổ, dầu thực hành hạnh xả mà chẳng bỏ sự lợi ích cho người khác. Là chỗ ở của bậc dầu hành cửu thứ đệ định mà chẳng nhàm lìa thọ sanh Dục giới, dầu biết tất cả pháp vô sanh vô diệt mà chẳng tác chứng nơi thật tế, dầu nhập ba môn giải thoát mà chẳng lấy quả giải thoát của Thanh văn, dầu quán tứ thánh đế mà chẳng trụ quả Tiểu thừa, dầu quán duyên khởi thậm thâm mà chẳng trụ rốt ráo tịch diệt, dầu tu bát thánh đạo mà chẳng cầu thoát hẳn thế gian, dầu siêu phàm phu địa mà chẳng sa Thanh văn Bích-chi Phật địa, dầu quán ngũ thủ uẩn mà chẳng diệt hẳn các uẩn, dầu siêu xuất tứ ma mà chẳng phân biệt các ma, dầu chẳng chấp lục xứ mà chẳng dứt hẳn lục xứ, dầu an trụ chân như mà chẳng đọa thật tế, dầu nói tất cả thừa mà chẳng bỏ Đại thừa. Bấy giờ Thiện Tài nói kệ rằng: Lâu các đây là chỗ ở của Quán đảnh đại bi, tức là đức Bồ-tát Từ Thị đã được Phật thọ ký sắp thành Phật, cũng như thái tử được rót nước trên đầu làm lễ quán đảnh để trao ngôi thái tử, đây là tục lệ của Ấn Độ. Tất cả Phật tử có tiếng tăm Bậc vô đẳng chỉ cho đức Phật. Thí, giới, nhẫn, tấn, thiền, trí tuệ, Bậc ở lầu này đủ mười ba-la-mật, tức là Phật. Trí tuệ rộng lớn như hư không Người nào có trí rộng lớn như hư không, biết khắp tam thế tất cả pháp, rõ vô ngại, vô y, không chấp thì mới được ở lầu này. Khéo biết rõ được tất cả pháp Người ở lầu này là bậc đại trí khéo biết tất cả pháp không tự tánh, không sanh, không diệt, không có chỗ nương, như chim bay trong hư không tự do tự tại. Biết rõ phiền não chân thật tánh Người ở lầu này là bậc tịch tịnh, rõ tánh chân thật của phiền não, biết tất cả pháp nhân duyên đều hư vọng. Tuy biết rõ như vậy nhưng chẳng nhàm chán cầu thoát ra, cũng không bị nhiễm ô nên gọi là tịch tịnh. Bậc thiện xảo ở lầu này rõ biết ba môn giải thoát, tám thánh đạo, biết các uẩn, xứ, giới và duyên khởi... khéo quán sát như thế mà không nhập Niết-bàn. Bậc đã chứng tịch diệt nhìn thấy mười phương các quốc độ và chúng sanh bằng trí tuệ vô ngại, khéo quán sát tất cả đều không, nên không khởi phân biệt. Đi khắp pháp giới đều vô ngại Bồ-tát thị hiện khắp mười phương, qua lại tất cả cõi Phật mà không có đi thật. Vì sao? Vì tánh đi không thể được, chẳng khác nào gió trong hư không, tuy có qua lại nhưng không dấu vết. Thấy khắp ác đạo loài quần sanh Phật tử ở lầu này Bài tụng này dùng để tóm kết đoạn kinh trên, nhằm nói lên diệu dụng bất khả tư nghì của bậc được ở trong lầu các Tỳ-lô-giá-na, bậc ấy có đầy đủ diệu dụng của đức Phật. Sau khi dùng vô lượng pháp xưng tán để tán dương chư Bồ-tát ở trong đại lâu các Tỳ-lô-giá-na Trang Nghiêm, Thiện Tài cung kính đảnh lễ, nhất tâm nguyện thấy Di-lặc Bồ-tát để thân cận cúng dường, bèn thấy đức Di-lặc Bồ-tát từ chỗ khác đến, vô lượng thiên, long, bát bộ, Đế-thích, Phạm vương, Tứ Thiên vương cùng vô lượng thân quyến và vô số chúng sanh theo Di-lặc Bồ-tát. Thiện Tài vui mừng hớn hở, gieo mình mọp lạy. Tại sao lầu các của Bồ-tát Di-lặc mà ngài không ở, đến khi đồng tử Thiện Tài đảnh lễ thì ngài mới từ phương khác đến? Đây là điểm cần phải chú ý. Lầu các Tỳ-lô-giá-na tượng trưng cho pháp thân. Bồ-tát không an trụ pháp thân, vì nếu an trụ pháp thân thì làm sao lợi ích chúng sanh. Các ngài như người lái đò chèo qua chèo lại, để đưa chúng sanh ra khỏi dòng sông sanh tử nên đâu thể dừng nghỉ. Vì vậy tượng trưng bằng hình ảnh Bồ-tát Di-lặc từ phương khác về. Đến chỗ viên mãn nên công hạnh của Bồ-tát rất nhiều, công đức vô lượng kể hoài không hết. Chúng ta tu cố gắng học theo hạnh của các ngài, dù chỉ tập theo một hai hạnh nhỏ cũng đã an lạc, huống là thực hành cho đến viên mãn công hạnh của Bồ-tát. Vì vậy phải tập dần, từ hạnh dễ nhớ dễ làm rồi đến hạnh khó. Nếu đem mình so với Bồ-tát thì cách xa nhau một trời một vực. Nhưng tuy xa mà không xa, tại sao? Vì ngài có lầu Tỳ-lô-giá-na Trang Nghiêm Tạng thì mình cũng có lầu các đó, nhưng vì chưa vào được nên thấy cách xa, chứ sự thật mình cũng không thua gì các ngài. Chúng ta đừng nghe nói cách xa quá rồi nản, tưởng mình không thể nào làm nổi việc của Bồ-tát. Bởi mình chưa trở về pháp thân, một khi thể nhập pháp thân thì bao nhiêu công hạnh đều viên mãn. Trong bài kệ này, ngài Di-lặc tán thán công đức của Thiện Tài đồng tử. Thiện Tài đồng tử trải qua năm mươi vị thiện tri thức, đã học viên mãn được năm mươi pháp giải thoát, tiến tới quả vị Đẳng giác, sắp bước vào Diệu giác thành Phật. Công đức của Thiện Tài đã được viên mãn, nên Bồ-tát Di-lặc khen ngợi công đức đó để khuyến khích những người khác. Di-lặc Bồ-tát quan sát Thiện Tài, chỉ thị với đại chúng về công đức của Thiện Tài mà nói kệ rằng: Đại chúng xem Thiện Tài Sở dĩ đến được lầu các của Bồ-tát Di-lặc là do Thiện Tài đồng tử tâm trí thanh tịnh, vì cầu hạnh Bồ-đề mà đến. Lành thay viên mãn từ! Khen ngợi ngài Thiện Tài lòng từ viên mãn, lòng bi thanh tịnh, đã có con mắt tịch tịnh, tức là trí nhãn thanh tịnh, tu hành không lười mỏi. Lành thay thanh tịnh ý! Ý của Thiện Tài đồng tử đã thanh tịnh, tâm rộng lớn, căn không thối chuyển, tu hành không lười mỏi. Lành thay bất động hạnh! Ngài Thiện Tài đã được hạnh bất động, thường cầu thiện tri thức, thấu rõ các pháp, điều phục tất cả quần sanh. Lành thay hành diệu đạo! Ngài đã khéo hành diệu đạo, khéo trụ nơi các công đức, đã tiến đến Phật quả và tu hành không mỏi nhọc. Lành thay đức làm thể! Tư nhuận là giúp ích cho thân thể được mát mẻ, được tăng trưởng. Ngài Thiện Tài lấy đức làm thể, lấy pháp để tư nhuận, được vô biên hạnh, thế gian khó có người được thấy. Lành thay lìa mê hoặc! Thiện Tài đồng tử đã lìa hết si mê, những pháp thế gian không làm ô nhiễm được. Đối với bát phong: Lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc, ngài đều không phân biệt. Lành thay chí an lạc! Điều nhu tức nhu hòa và điều thuận. Ngài Thiện Tài được thí an lạc, điều nhu kham được độ. Tâm siểm cuống, sân mạn... tất cả đều đã trừ diệt. Lành thay chân Phật tử! Ngài đã đi khắp mười phương cầu học, công đức thêm tăng trưởng, tâm được điều nhu không lười mỏi. Lành thay tam thế trí! Ngài Thiện Tài là người có trí ba đời, biết khắp các pháp, phát sanh tất cả những kho tàng công đức, tu hành không biết mỏi nhàm. Văn-thù, Đức Vân thảy Đây nhắc lại các vị thiện tri thức trước, đầu tiên là Bồ-tát Văn-thù, kế là Bồ-tát Đức Vân v.v... bảo Thiện Tài tìm tới chỗ Bồ-tát Di-lặc dạy cho được vô ngại. Tu đủ hạnh Bồ-tát Chúng ta đọc từ trước đến đây, chỉ thấy ngài Thiện Tài đi tìm thiện tri thức hỏi đạo và đã thưa hỏi qua năm mươi thiện tri thức, nơi mỗi mỗi vị ngài đều suy tư tu hành, nhưng chưa từng thấy nói ngài chỉ dạy cứu độ cho ai, vậy tại sao ở đây Bồ-tát Di-lặc lại khen ngợi đồng tử Thiện Tài đã tu đủ hạnh Bồ-tát, khắp độ các quần sanh? Đó là chỗ chúng ta phải nghiền ngẫm cho chín chắn. Trong Thiếu Thất Lục Môn, tổ Bồ-đề-đạt-ma nói độ tất cả chúng sanh. Chúng sanh đó là chỉ cho tâm sanh diệt của mỗi người, điều phục được tâm sanh diệt tức là đã độ tất cả chúng sanh. Khi trở về với pháp thân thì trùm hết chúng sanh, vì vậy ở đây nói Thiện Tài đồng tử độ khắp tất cả chúng sanh. Trong kinh điển Đại thừa nói Bồ-tát tu vô lượng kiếp độ vô lượng chúng sanh. Bồ-tát nào cũng độ hằng hà sa số chúng sanh như số vi trần, nhưng hiện tại ở trên thế giới có bao nhiêu triệu dân, tại sao những chúng sanh này còn chưa được độ? Nếu chúng ta đọc kinh Đại thừa mà không thông hiểu lý thiền thì không thể nào tin nổi. Với cái nhìn của thiền sư, mỗi tâm niệm dấy lên là một chúng sanh, chừng nào độ hết những chúng sanh trong tâm niệm thì thành Phật. Niệm mê là chúng sanh, khi trong tâm niệm mê không còn tức là giác, giác là Phật. Nếu nghĩ rằng, kinh nói độ hết chúng sanh mới thành Phật, mà chúng sanh trên thế gian này nhiều quá, chừng nào mới độ hết nổi, từ đó sanh chán nản thối tâm thì làm sao tu được. Hiểu được lý này rồi, chúng ta không nghi việc Bồ-tát Di-lặc khen ngợi đồng tử Thiện Tài đầy đủ công hạnh Bồ-tát, khắp nhiếp tất cả quần sanh. Vì cầu những cảnh giới Thiện Tài vì cầu những cảnh giới thanh tịnh của Như Lai, cùng muốn tu học công hạnh của ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai chư Phật, nên mới tìm gặp Bồ-tát Di-lặc. Với chư thiện tri thức Bồ-tát Di-lặc khen ngợi Thiện Tài đồng tử, khéo thắp lên ngọn đèn chánh pháp. Ngọn đèn chánh pháp đó lấy đức tin làm tim, từ bi làm dầu, lấy niệm làm bình, công đức làm ánh sáng, để diệt trừ bóng tối tam độc tham sân si. Giác tâm ca-la-lã, Giác tâm ca-la-lã là chỉ tâm giác ngộ, dụ như thai mới tượng hình. Bi là bào thai, Từ là da thịt, Bồ-đề phần là các căn, nuôi lớn Như Lai tạng. Thân của chúng phàm phu, trước tiên mới tượng hình gọi là ca-la-lã, từ đó dần dần thành thân người ở trong bào thai, đầy đủ da thịt, gân xương cùng các bộ phận chi tiết. Ca-la-lã dụ cho giác tâm, nên tượng trưng qua hình ảnh Bồ-tát Văn-thù, chính giác tâm đó hướng dẫn ngài Thiện Tài phát tâm tu hành. Sau mới khởi từ bi, dùng thất Bồ-đề phần trợ giúp, cuối cùng thành tựu Như Lai tạng. Thêm lớn phước đức tạng, Thiện Tài gặp ngài Di-lặc xem như đã viên mãn, nhưng lại được bảo phải tìm ngài Văn-thù để viên mãn hạnh Phổ Hiền. Việc tu bấy lâu giống như đi vòng quanh thế giới, bắt đầu tất cả công hạnh đều nhờ Căn bản trí hướng dẫn, đến khi viên mãn cũng trở lại. Đây nói gặp ngài Di-lặc tức là bước lên Phật quả, trở về với ngài Văn-thù là trở về Căn bản trí, đồng thời phải khởi Sai biệt trí làm lợi ích chúng sanh, đó là thâm nhập diệu hạnh của ngài Phổ Hiền. Thiện Tài nghe Di-lặc Bồ-tát ở trước đại chúng tán dương công đức tạng quảng đại của mình, liền vui mừng hớn hở, toàn thân rởn ốc, rơi lệ nghẹn ngào, đứng dậy chắp tay cung kính hữu nhiễu vô lượng vòng. Do sức tưởng niệm đức Văn-thù nên bất giác những hoa anh lạc và diệu bảo bỗng nhiên đầy cả hai tay. Thiện tài liền rải lên cúng dường Di-lặc Bồ-tát. Thiện Tài nghe Bồ-tát Di-lặc tán dương công đức của mình mừng rỡ, nghẹn ngào rơi lệ. Chúng ta tu mới thông cảm chỗ này. Trải qua bao nhiêu năm, bao nhiêu đời kiếp, tiến mãi trên đường tu đến khi được giác ngộ viên mãn, còn gì sung sướng hơn. Vì thế vui vô hạn, vui chảy nước mắt. Thiện Tài tưởng niệm Bồ-tát Văn-thù, nhận được Cản bản trí, bất giác trong tay có đầy đủ các thứ hoa anh lạc, liền rải lên cúng dường Bồ-tát Di-lặc. Bấy giờ Di-Lặc Bồ-tát xoa đầu Thiện Tài mà nói kệ rằng: Xoa đầu tức là chấp nhận Thiện Tài đã bước vào quả vị. Lành thay, lành thay chân Phật-tử! Thiện Tài nói kệ kính thưa: Tôi nghĩ thiện tri thức Nói kệ xong, Thiện Tài chắp tay cung kính thưa Di-lặc Bồ-tát rằng: Bạch Đại thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng Bồ-đề, mà chưa biết Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào tu Bồ-tát đạo? Đức Như Lai thọ ký cho Đại thánh một đời sẽ chứng quả Vô thượng Chánh giác. Nếu là một đời sẽ được Vô thượng Chánh giác thời là đã siêu việt tất cả chỗ sở trụ của Bồ-tát, thời đã xuất quá tất cả bậc ly sanh của Bồ-tát, thời đã viên mãn tất cả ba-la-mật, thời đã thâm nhập tất cả nhẫn môn, thời đã đầy đủ Bồ-tát địa, thời đã du hý tất cả giải thoát môn, thời đã thành tựu tất cả pháp tam-muội, thời đã thông đạt tất cả Bồ-tát hạnh, thời đã chứng được tất cả đà-la-ni biện tài, thời đã ở trong tất cả Bồ-tát tự tại mà được tự tại, thời đã chứa nhóm tất cả pháp trợ đạo của Bồ-tát, thời đã du hý trí tuệ phương tiện, thời đã xuất sanh trí đại thần thông, thời đã thành tựu tất cả học xứ, thời đã viên mãn tất cả diệu hạnh, thời đã đầy đủ tất cả đại nguyện, thời đã lãnh thọ tất cả ký biệt của Phật, thời đã biết rõ tất cả các thừa môn, thời đã kham thọ chỗ hộ niệm của tất cả chư Phật, thời đã có thể nhiếp tất cả Phật Bồ-đề, thời đã có thể trì pháp tạng của tất cả Phật, thời đã có thể trì tạng bí mật của tất cả chư Phật và Bồ-tát, thời đã có thể làm thượng thủ trong tất cả chúng Bồ-tát, thời đã có thể làm đại mãnh tướng phá phiền não ma quân, thời đã có thể làm đại đạo sư ra khỏi đồng hoang sanh tử, thời đã có thể làm đại y vương trị những bệnh nặng phiền não, thời đã có thể làm bậc tối thắng trong tất cả chúng sanh, thời đã có thể được tự tại ở trong tất cả Thế Chủ, thời đã có thể tối đệ nhất trong tất cả Thánh, thời đã có thể tối tăng thượng trong tất cả Thanh văn và Bích-chi Phật, thời đã có thể làm lái thuyền trong biển sanh tử, thời đã có thể bủa lưới điều phục tất cả chúng sanh, thời đã có thể quán căn của tất cả chúng sanh, thời đã có thể nhiếp tất cả chúng sanh giới, thời đã có thể thủ hộ tất cả chúng Bồ-tát, thời đã có thể luận nghị tất cả Bồ-tát sự, thời đã có thể qua đến tất cả chỗ Như Lai, thời đã có thể ở trong hội của tất cả Như Lai, thời đã có để hiện thân ở trước tất cả chúng sanh, thời đã có thể không nhiễm trước tất cả thế pháp, thời đã có thể siêu việt tất cả cảnh giới ma, thời đã có thể an trụ tất cả cảnh giới Phật, thời đã có thể đến cảnh vô ngại của tất cả Bồ-tát, thời đã có thể tinh cần cúng dường tất cả chư Phật, thời đã đồng thể tánh với tất cả Phật pháp, đã cột lụa diệu pháp, đã thọ Phật quán đảnh, đã trụ Nhất thiết trí, đã có thể khắp sanh tất cả Phật pháp, đã có thể mau lên bậc Nhất thiết trí. Bạch Đại thánh! Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh? Thế nào tu Bồ-tát đạo? Thế nào tùy chỗ tu học mau được đầy đủ tất cả Phật pháp, đều có thể độ thoát chúng sanh đã nhớ đến, có thể thành mãn những đại nguyện đã phát, có thể khắp rốt ráo những hạnh đã khởi, có thể an ủi tất cả thiên nhân, chẳng phụ tự thân, chẳng dứt Tam bảo, chẳng hư tất cả Phật chủng Bồ-tát chủng, có thể gìn pháp nhãn của tất cả chư Phật? Những sự trên đây xin Đại thánh chỉ dạy cho. Đây hỏi những phương pháp tu mau chóng. Tu thế nào và tuỳ chỗ tu mau được đầy đủ tất cả Phật pháp. Di-lặc Bồ-tát quán sát tất cả chúng hội nơi đạo tràng, chỉ dạy Thiện Tài rằng: Này đại chúng! Các ngài thấy Đồng tử này hiện đang hỏi tôi về công đức của Bồ-tát hạnh đây chăng? Ngài Di-lặc quán sát tất cả hội chúng, khen ngợi Thiện Tài, ý nhắm vào đại chúng nhiều hơn. Đồng tử này dũng mãnh tinh tấn, chí nguyện không tạp, thâm tâm kiên cố hằng chẳng thối chuyển, đủ những hy vọng thù thắng như chữa dầu cháy không hề nhàm đủ. Mến chư thiện tri thức thân cận cúng dường, tìm cầu khắp nơi để kính thờ thỉnh pháp. Trước đây, Đồng tử này thọ giáo nơi đức Văn-thù, rồi lần lượt đi qua phương Nam cầu thiện tri thức. Trải qua một trăm mười vị thiện tri thức, nay mới đến đây gặp tôi. Phương Nam là chỉ cho chánh quang minh. Tức là từ nơi Căn bản trí tiến vào con đường chân chánh, sáng suốt để cầu thiện tri thức. Bản của ngài Phật-đà-bạt-đà-la dịch Thiện Tài đồng tử trải qua trăm mười thành như thế. Bản này dịch là một trăm mười vị thiện tri thức, e không đúng vì Thiện Tài đến gặp Bồ-tát Di-lặc là vị thiện tri thức thứ năm mươi mốt. Đồng tử này chưa từng có một niệm lười mỏi. Đồng tử này rất là khó có. Đồng tử này xu hướng Đại thừa, đi nơi đại tuệ, phát đại dũng mãnh, choàng giáp đại bi, dùng tâm đại từ cứu hộ chúng sanh, khởi đại hạnh đại Tinh tấn ba-la-mật, làm đại thương chủ hộ trợ các chúng sanh, làm thuyền pháp lớn vượt qua biển hữu lậu, trụ ở đại đạo, chứa hợp pháp bảo lớn, tu những pháp trợ đạo rộng lớn. Người như thế rất khó được nghe, rất khó được thấy, rất khó được gần gũi, cùng ở cùng đi. Tại sao vậy? Vì Đồng tử này phát tâm cứu hộ tất cả chúng sanh, làm cho tất cả chúng sanh thoát khổ, khỏi ác thú, rời hiểm nạn, phá vô minh, khỏi sanh tử, dứt các loài, khỏi cảnh ma, chẳng nhiễm thế pháp, ra khỏi ái dục, dứt tham, hết kiến chấp, phá tưởng, tuyệt mê, xô kiêu mạn, trừ phiền não, triệt ngủ nghỉ, xé lưới ái, diệt vô minh, qua khỏi dòng hữu lậu, lìa siểm nịnh, tịnh tâm cấu ra khỏi sanh tử. Thiện Tài phát tâm cứu hộ chúng sanh, làm cho tất cả chúng sanh thoát khổ… tức là phát tâm chứ chưa phải làm xong. Phát tâm rồi cố gắng tu thành Phật để giáo hóa chúng sanh. Về phần chúng sanh bên trong, ngài đã dẹp được, đã độ rồi, với chúng sanh bên ngoài cũng sẽ độ thoát. Đồng tử này vì những người bị bốn dòng hữu lậu cuốn trôi mà tạo thuyền đại pháp. Vì những người bị sình lầy kiến chấp lún chìm mà lập cầu đại pháp. Vì những người bị si tối làm hôn mê mà thắp đèn đại trí. Vì những người đi trong đồng hoang sanh tử mà khai thị Thánh đạo. Vì những người mang bệnh nặng phiền não mà điều hòa pháp dược. Cho người bị khổ sanh lão tử uống cam lộ để được an ổn. Vì người vào trong lửa tham sân si mà tưới định thủy cho họ được thanh lương. Đây dùng những hình ảnh cụ thể. Kiến chấp dụ cho bãi sình lầy làm lún chìm. Sanh tử thì diễn tả là đồng hoang, chúng sanh lạc lõng trong chỗ mênh mông đó. Người bệnh phiền não cho uống thuốc Phật pháp thì dụ như nước sương ngọt. Tham sân si dụ như lửa. Pháp Phật là nước định lóng lặng rưới tắt. Với người nhiều lo sầu thời an ủi cho họ được an. Với người bị nhốt trong ngục hữu lậu thời khuyên bảo họ thoát ra. Với người vào lưới kiến chấp thời mở lưới bằng kiếm trí tuệ. Kiến chấp ví như lưới, trí tuệ như kiếm bén cắt đứt lưới để cứu thoát người bị trói. Với người ở trong thành tam giới thời chỉ cửa giải thoát. Với người ở chỗ hiểm nạn thời dắt họ đến chỗ an ổn. Với người sợ giặc kiết sử thời cho họ pháp vô úy. Với người đọa ác đạo thời trao cho họ tay từ bi. Với người bị hại về ngũ uẩn thời chỉ cho họ thành Niết-bàn. Với người bị ràng buộc trong thập bát giới thời dùng Thánh đạo để mở. Với người đắm nơi trong tụ lạc lục xứ trống rỗng thời dùng ánh sáng trí tuệ để dẫn họ ra. Tụ lạc lục xứ trống rỗng là sáu chỗ nhóm hợp sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Đó là xóm làng trống rỗng không thật có. Bồ-tát dùng ánh sáng trí tuệ để cứu chúng sanh ra khỏi. Người ở nơi đạo tà thời dùng chánh đạo cứu họ. Người gần ác hữu thời chỉ thiện hữu cho họ. Người ưa phàm pháp thời dạy cho Thánh pháp. Người ham sanh tử thời làm cho họ xu hướng thành Nhất thiết trí. Đồng tử này hằng dùng những công hạnh như vậy để cứu hộ chúng sanh, phát Bồ-đề tâm chưa từng thôi dứt, cầu Đại thừa đạo chưa từng lười mỏi, uống những pháp thủy không lòng nhàm đủ, hằng siêng chứa nhóm hạnh trợ đạo, thường thích tịnh tu tất cả pháp môn, tu hạnh Bồ-tát chẳng bỏ tinh tấn, thành mãn đại nguyện, khéo thật hành phương tiện, luôn muốn được thấy thiện tri thức, kính thờ thiện tri thức thân không lười mỏi, nghe thiện trí thức dạy bảo thời luôn tùy thuận thật hành chưa từng trái nghịch. Này đại chúng! Nếu chúng sanh nào có thể phát tâm vô thượng Bồ-đề thời là rất hy hữu. Nếu đã phát tâm lại có thể tinh tấn phương tiện chứa nhóm những Phật pháp như vậy thời lại càng hy hữu hơn. Phát tâm vô thượng Bồ-đề đã là hy hữu rồi, phát tâm rồi lại có thể tinh tấn để chứa nhóm Phật pháp thì thật là hy hữu hơn. Lại có thể cầu Bồ-tát đạo như vậy, tịnh Bồ-tát hạnh như vậy, thờ thiện tri thức như vậy, như chữa dầu cháy như vậy, thuận theo lời dạy của thiện tri thức như vậy. kiên cố tu hành như vậy, chứa nhóm Bồ-đề phần như vậy, chẳng cầu tiếng tăm lợi dưỡng như vậy, chẳng bỏ tâm Bồ-tát thuần nhất như vậy, chẳng thích nhà cửa như vậy, chẳng ham dục lạc, chẳng luyến cha mẹ thân thích tri thức. Đây là những điều cần chú ý. Người cầu Bồ-tát đạo luôn tinh tấn không lúc nào bỏ tâm Bồ-tát thuần nhất. Chẳng thích nhà cửa, chẳng ham dục lạc, cho đến chẳng luyến cha mẹ thân thích tri thức. Cha mẹ thân thích tri thức còn không luyến mến, huống nữa con của người khác mà ôm về nuôi rồi luyến mến, điều đó thật là trái với hạnh tinh tấn vô cùng. Chẳng thích theo cầu Bồ-tát bạn lữ. Tại sao Bồ-tát là người mà chúng ta cần phải thích cầu, đây lại không thích? Dầu là thầy hay bạn giỏi nhưng không ai cứu được sanh tử cho mình. Chính mình phải tự nhận pháp, đến Bồ-tát nghe pháp rồi tự tu, nếu cứ đi theo kè kè bên các ngài cũng không làm sao giải thoát được. Chỗ này rất thiết yếu, chúng ta nên nhớ kỹ. Chính Bồ-tát mà không thân, huống nữa thân luyến với bạn phàm phu rồi bị mắc kẹt trong lưới ái, tụ không tiến. Lại có thể chẳng đoái đến thân mạng mà chỉ nguyện siêng tu đạo Nhất thiết trí như vậy, thời nên biết đó là lần lượt càng khó hơn. Này đại chúng! Chư Bồ-tát khác trải qua vô lượng trăm ngàn muôn ức na-do-tha kiếp mới có thể đầy đủ Bồ-tát hạnh nguyện, mới có thể gần Phật Bồ-đề. Không kể thân mạng, chỉ nghĩ đến đạo Nhất thiết trí, như thế là tu từ cạn đến sâu, ngày càng khó hơn. Đồng tử này trong một đời có thể tịnh Phật độ, có thể hóa chúng sanh, có thể dùng trí tuệ thâm nhập pháp giới, có thể thành tựu các môn ba-la-mật, có thể thêm rộng tất cả hạnh, có thể viên mãn tất cả đại nguyện, có thể siêu xuất tất cả ma nghiệp, có thể thừa sự tất cả thiện hữu, có thể thanh tịnh Bồ-tát đạo, có thể đầy đủ những hạnh Phổ Hiền. Các Bồ-tát khác phải trải qua biết bao nhiêu kiếp số mới đầy đủ Bồ-tát hạnh, Đồng tử này chỉ trong một đời, đầy đủ tất cả. Tại sao? Đây có hai ý: Ý thứ nhất, người tinh tấn sánh với người không tinh tấn thì vượt hơn bao nhiêu kiếp tu. Các Bồ-tát phải trải qua vô lượng trăm ngàn muôn ức na-do-tha số kiếp là những Bồ-tát tu từ từ, vừa tu vừa uống trà ngâm thơ, còn Bồ-tát này tinh tấn nên trong một đời đã vượt hơn bao nhiêu đời của các vị kia. Ý thứ hai, tuy trải vô lượng kiếp tu hành để độ chúng sanh, nhưng đối với người có tâm niệm một đời dứt sạch phiền não thì một đời cũng viên mãn, không đợi phải trải qua vô lượng kiếp. Như bây giờ trong hội chúng ba bốn mươi người có người tu từ từ, có người tu hơi khá khá, có người thì nỗ lực ráo riết... Tu tập có sai biệt thì tiến tới kết quả cũng sai biệt, không thể nào giống nhau. Người tu chậm rãi thì mất lâu ngày, người nỗ lực khá khá thì thời gian ngắn hơn, người đem hết khả năng thực hành thì tất nhiên phải chóng tới. Nếu đại tinh tấn, ấy là một đời giải quyết xong, nghĩa là một đời này diệt sạch phiền não, khởi đầy đủ hạnh Bồ-tát thì một đời này thành Phật. Kinh Hoa Nghiêm nói lên yếu chỉ, ngay một đời phát tâm tu hành thì ngay một đời viên mãn Phật quả, không trải qua vô số kiếp. Ngài Thiện Tài là hình ảnh cụ thể, ngay trong đời này được Căn bản trí hướng dẫn khởi lên Sai biệt trí, dũng mãnh tiến tu đầy đủ tất cả công hạnh, ngay hiện đời liền thành Phật. Đó là ý nghĩa cao siêu của kinh Đại thừa. Sở dĩ nói vô lượng kiếp là nói theo lý thường để khuyến khích người tu, nếu trực nhận pháp thân thì thời gian không gian đều vô nghĩa. Khi dứt sạch tất cả phiền não, thì bước vào lầu pháp thân không còn xa lạ. Vào lầu pháp thân rồi, tùy tâm lượng chúng sanh mà hiện tất cả hóa thân cứu độ, nên nói ngay trong một đời này có thể giải quyết viên mãn. Di-lặc Bồ-tát khen ngợi công đức của Thiện Tài làm cho vô lượng trăm ngàn chúng sanh phát tâm Bồ-đề, rồi bảo Thiện Tài rằng: Lành thay! Lành thay! Này Thiện nam tử! Ngươi vì lợi ích tất cả thế gian, vì cứu hộ tất cả chúng sanh, vì siêng cầu tất cả Phật pháp, nên phát tâm vô thượng Bồ-đề. Đây là nói lý do Bồ-tát phát tâm vô thượng Bồ-đề. Này Thiện nam tử! Ngươi được lợi lành, khéo được thân người, khéo trụ thọ mạng, khéo gặp đức Như Lai xuất hiện, khéo thấy Văn-thù-sư-lợi đại thiện tri thức, thân của ngươi là thiện khí được những thiện căn đượm nhuần, được pháp lành nuôi lớn, bao nhiêu giải dục đều được thanh tịnh, đã được chư Phật đồng hộ niệm, đã được thiện hữu nhiếp thọ. Khen ngợi lợi lành của Thiện Tài. Được thân người là một lợi lành. Được tuổi thọ là lợi lành thứ hai. Được gặp Phật là lợi lành thứ ba. Được thấy ngài Văn-thù làm thiện tri thức là lợi lành thứ tư. Thân của Thiện Tài là một thiện khí, tức là món đồ làm đượm nhuần thiện căn. Các lợi lành Thiện Tài có được, chúng ta có được không? Chúng ta cũng khéo được thân người, cũng khéo trụ thọ mạng, cũng khéo gặp đức Như Lai, cũng khéo thấy ngài Văn-thù. Nếu biết khéo sử dụng thì cũng sẽ được chư Phật đồng hộ niệm, được thiện hữu nhiếp thọ. Tại sao vậy? Vì tâm Bồ-đề như chủng tử, vì có thể sanh tất cả phật pháp. Bồ-đề tâm như ruộng tốt, vì có thể sanh trưởng bạch tịnh pháp cho tất cả chúng sanh. Tâm Bồ-đề là hạt giống sanh ra tất cả Phật pháp. Tâm Bồ-đề như ruộng tốt hay sanh trưởng tất cả pháp lành. Bồ-đề tâm như đại địa, vì có thể giữ gìn tất cả thế gian. Bồ-đề tâm như tịnh thủy, vì có thể rửa sạch phiền não nhơ nhớp. Tâm Bồ-đề như nước trong, rửa sạch những phiển não nhơ nhớp. Thiện tri thức và tâm Bồ-đề là hai điều chính yếu mà kinh này rất chú trọng, không tiếc lời khen ngợi. Dùng hình ảnh cụ thể để thí dụ tâm Bồ-đề như hạt giống, ruộng tốt, nước sạch, đại địa... Tâm Bồ-đề quan trọng như vậy nên khi phát tâm rồi cần nuôi dưỡng mạnh mẽ. Khi chúng ta phát tâm tu hành lãnh thọ giới pháp của Phật, đó là đã phát tâm Bồ-đề phải giữ gìn cẩn thận. Như khi nhóm một ngọn lửa lên, nếu không khéo đem củi về mồi tiếp, thì nó cháy một lúc rồi tàn dần tắt lịm. Muốn nó cháy sáng liên tục, phải có người đem củi, vào bồi thêm. Ngọn lửa dụ cho Bồ-đề tâm. Người đem củi bồi vào cho nó tiếp tục cháy sáng, càng ngày càng sáng, đó là thiện tri thức. Có lửa mà thiếu củi thì lửa tắt. Lửa cháy soi sáng cho mọi người chung quanh, được bao nhiêu lợi ích đều từ gốc ban đầu nhóm lên và được củi cháy nuôi dưỡng liên tục. Cũng vậy, chúng ta tu thành Phật cũng do phát tâm ban đầu. Nếu phát tâm ban đầu không được thiện tri thức giúp đỡ, dạy dỗ, giáo hóa thì tu một lúc thấy không kết quả chán nản thối tâm. Đó là ngọn lửa tắt. Vì thế tâm ban đầu quan trọng, thiện tri thức quan trọng. Đây nói Bồ-đề tâm rửa sạch tất cả phiền não, Tại sao? Tâm Bồ-đề là lòng mong mỏi được thành Phật, mong mỏi được giác ngộ. Ôm giữ lòng mong mỏi đó không bao giờ quên, gọi là giữ tâm Bồ-đề. Tất cả phiền não vừa dấy đều nhờ tâm đó thiêu đốt hết. Như vừa dấy niệm buồn, liền nghĩ muốn thành Phật cầu giác ngộ mà tại sao buồn phiền? Liền buông. Muốn làm gì trái với con đường thành Phật, vừa nhớ tới, nghĩ tới liền nhờ tâm Bồ-đề quyết định thành Phật, cầu thành Phật mà dứt sạch được tất cả phiền não. Ngược lại, khi phát tâm mạnh mẽ nhưng một lúc rồi quên, gặp duyên trần thì nhiễm. Sở dĩ quên Bồ-đề tâm vì không được thiện tri thức nhắc nhở. Nếu được nhắc nhở mãi thì Bồ-đề tâm càng ngày càng sáng, càng mạnh đi tới chỗ viên mãn. Then chốt ban đầu là phát Bồ-đề tâm, và thầy bạn tốt giúp đỡ là then chốt thứ hai để đưa mình tới đạo quả. Nếu phát tâm ban đầu mà thiếu sự nhắc nhở tiếp nối thì cũng khó tiến. Đó là hai điều quan trọng. Bồ-tát Di-lặc dùng tất cả thí dụ cốt khen ngợi tánh cách quý báu của Bồ-đề tâm đưa đến viên mãn Phật quả. Bồ-đề tâm như gió lớn, vì vô ngại khắp ở thế gian. Bồ-đề tâm như lửa mạnh, vì có thể đốt tiêu củi kiến chấp. Bồ-đề tâm như tịnh nhật, vì chiếu khắp tất cả thế gian. Bồ-đề tâm như mặt nguyệt sáng, vì những pháp bạch tịnh đều viên mãn. Bồ-đề tâm như đèn sáng, vì có thể phóng những pháp quang minh. Bồ-đề tâm như mắt sáng, vì thấy khắp tất cả chỗ an nguy. Bồ-đề tâm dường như con đường lớn, vì dẫn vào thành đại trí. Bồ-đề tâm như con đường chánh, vì làm cho rời khỏi tà pháp. Bồ-đề tâm như cỗ xe lớn, vì có thể chuyên chở chư Bồ-tát. Bồ-đề tâm như cửa nẻo, vì khai thị tất cả hạnh Bồ-tát. Bồ-đề tâm như cung điện, vì an trụ tu tập pháp tam-muội. Bồ-đề tâm như khu vườn, vì ở trong đó dạo chơi hưởng pháp lạc. Bồ-đề tâm như nhà cửa vì an ổn tất cả chúng sanh. Bồ-đề tâm là chỗ về, vì lợi ích tất cả thế gian. Bồ-đề tâm là chỗ dựa, vì là dựa nương của những Bồ-tát hạnh. Bồ-đề tâm như từ phụ, vì dạy dỗ tất cả chư Bồ-tát. Bồ-đề tâm như từ mẫu, vì sanh trưởng tất cả Bồ-tát. Bồ-đề tâm như nhũ mẫu, vì dưỡng dục tất cả chư Bồ-tát. Bồ-đề tâm như thiện hữu, vì thành tựu lợi ích cho chư Bồ-tát. Bồ-đề tâm như vua chúa, vì vượt hơn tất cả hàng Nhị thừa. Bồ-đề tâm như đế vương, vì được tự tại trong tất cả nguyện. Bồ-đề tâm như đại hải, vì tất cả công đức đều vào trong đó. Bồ-đề tâm như núi Tu-di, vì bình đẳng nơi tâm các chúng sanh, Bồ-đề tâm như Thiết Vi vì nhiếp trì tất cả thế gian. Bồ-đề tâm như Tuyết Sơn, vì sanh lớn tất cả cây thuốc trí tuệ, Bồ-đề tâm như Hương Sơn, vì xuất sanh tất cả hương công đức, Bồ-đề tâm như hư không, vì những diệu công đức rộng vô biên. Bồ-đề tâm như liên hoa, vì chẳng nhiễm tất cả pháp thế gian. Bồ-đề tâm như voi thông minh thuần thục, vì tâm ấy thuận lành chẳng ngang trái. Bồ-đề tâm như ngựa hiền hay, vì xa lìa tất cả những tánh ác. Bồ-đề tâm như điều ngự sư, vì thủ hộ tất cả pháp đại thừa. Bồ-đề tâm như thuốc hay, vì trị được tất cả bệnh phiền não. Bồ-đề tâm như hố sâu, vì có thể làm sụp đổ tất cả những ác pháp. Bồ-đề tâm như kim cang, vì đều có thể xuyên thấu tất cả các pháp. Bồ-đề tâm như trấp hương, vì có thể đựng tất cả hương công đức. Bồ-đề tâm như diệu hoa, vì tất cả thế gian đều ưa thấy. Bồ-đề tâm như bạch chiên-đàn, vì trừ những nóng tham dục làm cho mát mẻ. Bồ-đề tâm như hắc trầm hương, vì có thể xông khắp pháp giới. Bồ-đề tâm như Thiên Kiến dược vương, vì phá được tất cả bệnh phiền não, Bồ-đề tâm như thuốc tỳ-cấp-ma, vì nhổ được tất cả hoặc tiễn. Bồ-đề tâm như Đế-thích, vì là tối tôn trong tất cả vua chúa. Bồ-đề tâm như Tỳ-sa-môn, vì dứt được tất cả khổ nghèo cùng. Bồ-đề tâm như Công Đức thiên, vì trang nghiêm với tất cả công đức. Bồ-đề tâm như đồ trang nghiêm, vì trang nghiêm tất cả chư Bồ-tát. Bồ-đề tâm như kiếp hỏa đốt cháy, vì có thể cháy tiêu tất cả hữu vi. Bồ-đề tâm như thuốc vô sanh căn, vì trưởng dưỡng tất cả Phật pháp. Bồ-đề tâm như long châu, vì tiêu được tất cả độc phiền não. Bồ-đề tâm như thủy thanh châu, vì có thể thanh tất cả phiền não trược. Bồ-đề tâm như châu như ý, vì châu cấp cho tất cả kẻ nghèo thiếu. Bồ-đề tâm như bình công đức, vì làm cho tâm chúng sanh được thoả mãn. Bồ-đề tâm như cây như ý, vì có thể mưa tất cả đồ trang nghiêm. Bồ-đề tâm như áo lông ngỗng, vì chẳng dính bụi sanh tử. Bồ-đề tâm như chỉ bạch điệp, vì bổn lai tánh thanh tịnh. Bồ-đề tâm như lưỡi cày bén, vì có thể dọn tất cả ruộng chúng sanh. Bồ-đề tâm như na-la-diên, vì có thể dẹp tất cả kẻ địch ngã kiến. Bồ-đề tâm như mũi tên đi mau, vì phá được tất cả đích khổ. Bồ-đề tâm như ngọn mâu nhọn, vì có thể xuyên thủng giáp phiền não. Bồ-đề tâm như giáp cứng, vì có thể hộ tâm như lý. Bồ-đề tâm như dao bén, vì có thể chặt tất cả đầu phiền não. Bồ-đề tâm như gươm bén, vì có thể chặt đức tất cả giáp kiêu mạn. Bồ-đề tâm như dũng tướng tràng, vì có thể dẹp phục tất cả ma quân. Bồ-đề tâm như cưa bén, vì có thể cưa đứt tất cả cây vô minh. Bồ-đề tâm như búa bén, vì có thể chặt những cây khổ. Bồ-đề tâm như binh khí, vì có thể đề phòng nạn khổ. Bồ-đề tâm như cánh tay giỏi, vì phòng hộ tất cả những pháp độ thân, Bồ-đề tâm như đôi chân tốt, vì an lập tất cả những công đức. Bồ-đề tâm như thuốc chữa mắt, vì diệt trừ tất cả bệnh lòa vô minh. Bồ-đề tâm như kềm nhíp, vì có thể nhổ tất cả gai thân kiến. Bồ-đề tâm như ngọa cụ, vì dứt trừ những lao khổ sanh tử. Bồ-đề tâm như thiện tri thức, vì có thể mở tất cả dây trói sanh tử. Bồ-đề tâm như tài bảo, vì trừ tất cả sự nghèo cùng. Bồ-đề tâm như đại đạo sư, vì khéo biết đạo xuất yếu của Bồ-tát. Bồ-đề tâm như phục tạng, vì xuất sanh của công đức không thiếu. Bồ-đề tâm như nước suối trào, vì sanh nước trí tuệ không cùng tận. Bồ-đề tâm như gương sáng, vì hiện khắp tất cả tượng pháp môn. Bồ-đề tâm dường như liên hoa, vì chẳng nhiễm tất cả tội cấu. Bồ-đề tâm như sông lớn, vì chảy dẫn ra tất cả nhiếp pháp độ pháp. Bồ-đề tâm như đại Long vương, vì có thể mưa tất cả diệu pháp. Bồ-đề tâm dường như mạng căn, vì nhậm trì thân đại bi của Bồ-tát. Bồ-đề tâm như cam lộ, vì có thể làm cho an trụ nơi cõi bất tử. Bồ-đề tâm như tấm lưới lớn, vì nhiếp khắp tất cả những chúng sanh. Bồ-đề tâm như lưới chài, vì nhiếp lấy tất cả kẻ đáng được hóa độ. Bồ-đề tâm như câu mồi, vì bắt những kẻ ở trong vực hữu lậu. Bồ-đề tâm như thuốc a-già-đà, vì có thể làm cho người vô bệnh vĩnh viễn được an ổn. Bồ-đề tâm như thuốc trừ độc, vì có thể tiêu hết độc tham ái. Bồ-đề tâm như người trì chú giỏi, vì có thể trừ tất cả độc điên đảo. Bồ-đề tâm như gió mạnh, vì có thể thổi cuốn tất cả sương mù che chướng. Bồ-đề tâm như xứ châu bảo, vì xuất sanh tất cả báu giác phần. Bồ-đề tâm như chủng tánh tốt, vì xuất sanh tất cả pháp bạch tịnh. Bồ-đề tâm như nhà ở, vì là chỗ ở của những pháp công đức. Bồ-đề tâm như thị tứ, vì là chỗ đổi chác của thương gia Bồ-tát. Bồ-đề tâm như thuốc luyện vàng, vì có thể trị tất cả căn phiền não. Bồ-đề tâm như mật tốt, vì viên mãn tất cả vị công đức. Bồ-đề tâm như chánh đạo, vì khiến chư Bồ-tát vào trí thành. Bồ-đề tâm như chậu tốt, vì có thể đựng tất cả pháp bạch tịnh. Bồ-đề tâm như mưa phải thời, vì có thể trừ tất cả bụi phiền-não. Bồ-đề tâm là chỗ ở, vì là chỗ ở của tất cả Bồ-tát. Bồ-đề tâm là hạnh vô tận, vì chẳng chứng lấy quả giải thoát của Thanh văn. Bồ-đề tâm như tịnh lưu ly, vì tự tánh sáng sạch không nhơ, Bồ-đề tâm như châu Đế thanh, vì hơn hẳn trí của thế gian và Nhị thừa. Bồ-đề tâm như tiếng trống tan canh, vì đánh thức chúng sanh say ngủ bởi phiền não. Bồ-đề tâm như nước trong sạch, vì tánh vốn thuần sạch không nhơ đục. Bồ-đề tâm như vàng diêm-phù-đàn, vì che chói tất cả pháp lành hữu vi. Bồ-đề tâm như đại sơn vương, vì siêu xuất tất cả thế gian. Bồ-đề tâm là chỗ về, vì chẳng chối từ tất cả ai trở về. Bồ-đề tâm là nghĩa lợi, vì có thể trừ tất cả sự suy não. Bồ-đề tâm là diệu bảo, vì có thể làm cho tất cả tâm sanh hoan hỷ. Bồ-đề tâm như hội đại thí, vì sung mãn tất cả tâm chúng sanh. Bồ-đề tâm là tôn thắng, vì tâm chúng sanh không tâm nào bằng. Bồ-đề tâm như phục tạng, vì có thể nhiếp tất cả Phật pháp. Bồ-đề tâm như lưới Nhân-đà-la, vì có thể phục a-tu-la phiền não. Bồ-đề tâm như gió bà-lâu-na, vì có thể chấn động những kẻ đáng được hóa độ. Bồ-đề tâm như lửa Nhân-đà-la, vì có thể đốt cháy tất cả hoặc tập. Bồ-đề tâm như Phật Chi-đề, vì tất cả thế gian nên cúng dường. Phật Chi-đề tức là tháp của Phật. Bồ-đề tâm như ngôi tháp Phật, tất cả người thế gian nên cúng dường. Này Thiện nam tử! Bồ-đề tâm thành tựu vô lượng công đức như vậy. Tóm lại, phải biết Bồ-đề tâm đồng với công đức của tất cả Phật pháp. Bồ-đề tâm công đức lớn vô lượng vô biên. Có một thí dụ rất hay, rất thấm thía với chúng ta: Bồ-đề tâm như tiếng trống ta canh, vì đánh thức những chúng sanh say ngủ đang phiền não. Đoạn trước dùng hình ảnh thí dụ sự quý báu vô lượng của Bồ-đề tâm. Đoạn này mượn hình ảnh thí dụ nói lên lợi ích của Bồ-đề tâm. Tại sao vậy? Vì nhân nơi Bồ-đề tâm mà xuất sanh tất cả Bồ-tát hạnh. Tam thế Như Lai từ Bồ-đề tâm mà xuất sanh. Vì thế nên nếu có ai phát tâm vô thượng Bồ-đề thời là đã xuất sanh vô lượng công đức, có thể nhiếp thủ khắp Nhất thiết trí đạo. Người phát tâm vô thượng Bồ-đề là đã xuất sanh vô lượng công đức, có thể nhiếp thủ đạo Nhất thiết trí. Này Thiện nam tử! Ví như có người được thuốc vô úy thời rời năm điều khủng bố. Những là lửa không cháy được. Độc không hại được. Gươm dao không đứt được. Nước không làm trôi chìm được. Khói không xông ngộp được. Cũng vậy, đại Bồ-tát được thuốc Nhất thiết trí Bồ-đề tâm, thời lửa tham không cháy, độc sân chẳng hại, dao hoặc chẳng đứt, dòng hữu lậu chẳng cuốn trôi, khói giác quán không thể xông hại. Bồ-tát được Bồ-đề tâm rồi thì qua khỏi tham, sân, hoặc nghiệp, hữu lậu, giác quán. Ví như có người được thuốc giải thoát, thời vĩnh viễn không hoạn nạn. Cũng vậy, đại Bồ-tát được thuốc giải thoát trí Bồ-đề tâm, thời lìa hẳn sanh tử hoạn nạn. Ví như có người cầm thuốc ma-ha-ưng-già, rắn độc nghe mùi thời liền tránh xa. Cũng vậy, đại Bồ-tát gìn lấy thuốc đại ưng-già Bồ-đề tâm, thời tất cả rắn độc ác phiền não nghe hơi thảy đều tan mất. Bồ-đề tâm dụ như thuốc quý rắn dụ cho phiền não, có được thuốc hay thì rắn chạy hết, có Bồ-đề tâm thì phiền não tan mất. Ví như có người cầm thuốc vô thắng, tất cả oán địch không hơn được. Cũng vậy, đại Bồ-tát cầm thuốc vô thắng đại Bồ-đề tâm, thời hàng phục được tất cả ma quân. Dùng những tưởng tượng mà dụ. Thí dụ Bồ-đề tâm như thuốc vô thắng tức là thuốc không ai hơn, người cầm thuốc đó tất cả oán địch không sao thắng được. Dùng thí dụ này để diễn tả diệu dụng của Bồ-đề tâm. Ví như có người cầm thuốc tỳ-cấp-ma, có thể làm cho độc tiễn tự nhiên rơi rớt. Cũng vậy, đại Bồ-tát cầm thuốc tỳ-cấp-ma Bồ-đề tâm, làm cho tên độc tham sân si ác kiến tự nhiên rơi rớt. Ví như có người cầm thuốc thiện kiến, có thể trừ tất cả bệnh tật đã mang. Cũng vậy, đại Bồ-tát cầm thuốc thiện kiến Bồ-đề tâm, trừ hết tất cả bệnh phiền não. Những tên thuốc này chúng ta chưa từng thấy. Như có dược thọ tên san-đà-na, có ai lấy vỏ dùng thoa ghẻ, thời ghẻ liền lành, vỏ cây ấy vừa lấy là sanh lại liền, lấy không hết được. Cũng vậy, đại Bồ-tát từ Bồ-đề tâm sanh cây Nhất thiết trí, có ai thấy mà sanh lòng tin, thời ghẻ phiền não nghiệp đều được tiêu diệt, cây Nhất thiết trí không hề tổn. Bồ-đề khéo dùng những thí dụ để chúng sanh dễ hiểu Bồ-đề tâm. Như có cây thuốc tên là vô sanh căn, do sức của cây này mà tăng trưởng tất cả cây ở Diêm-phù-đề. Cũng vậy do sức cây Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát làm cho tất cả thiện pháp của hàng hữu học vô học và chư Bồ-tát đều được tăng trưởng. Tất cả cây cối ở trên thế giới này đều từ cây vô sanh căn làm cho tăng trưởng, thí dụ do sức cây Bồ-đề tâm mà tất cả thiện pháp của hàng tam thừa đều tăng trưởng. Ví như thuốc a-lam-bà, nếu dùng thoa thân, thời thân và tâm đều có kham năng. Cũng vậy Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát làm cho thân tâm tăng trưởng pháp lành. Ví như có người được thuốc nhiệm lực, phàm những sự đã được nghe thời ghi nhớ chẳng quên. Đại Bồ-tát được tâm Bồ-đề thời nghe trì tất cả Phật pháp đều không quên mất. Thuốc niệm lực là thuốc nhớ, người nào được thuốc này thì ghi nhớ không quên. Đại Bồ-tát được Bồ-đề tâm thời nghe trì tất cả Phật pháp đều không quên mất. Ví như thuốc đại liên hoa, nếu ai uống thuốc này thời sẽ sống lâu một kiếp. Cũng vậy, đại Bồ-tát uống Bồ-đề tâm thời được thọ mạng tự tại trong vô số kiếp. Ví như thuốc ẩn hình, người cầm thuốc này thời nhân và phi nhân đều không thấy được. Đại Bồ-tát cầm Bồ-đề tâm thời tất cả ma chúng không thấy được. Này Thiện nam tử! Như biển có châu vương tên là Phổ Tập Chúng Bảo. Châu này nếu còn, giả sử kiếp hỏa đốt cháy thế gian cũng không thể làm cho biển này giảm được một giọt nước. Cũng vậy, tâm Bồ-đề ở trong biển đại nguyện của Bồ-tát, nếu thường ghi nhớ gìn giữ chẳng thối thất, thời không thể hư hoại một thiện căn của Bồ-tát. Nếu thối tâm Bồ-đề thời tất cả pháp lành đều diệt tan. Như có châu ma-ni tên là Đại Quang Minh, nếu ai đeo châu này thời bao nhiêu quang minh của tất cả đồ trang sức khác đều bị che chói khuất cả. Cũng vậy Bồ-đề tâm trang nghiêm nơi thân của Bồ-tát thời tất cả tâm Nhị thừa đều khuất mất. Như thủy thanh châu có thể lóng trong nước đục. Cũng vậy, Bồ-đề tâm của Bồ-tát lóng sạch tất cả phiền não. Như có người đeo châu Trụ Thủy xuống biển không bị nước làm hại. Cũng vậy, đại Bồ-tát được Bồ-đề tâm vào trong tất cả biển sanh tử trọn không bị chìm. Như có người được bảo châu của rồng rồi cầm đi vào long cung, không bị các loài rồng rắn làm hại. Cũng vậy, đại Bồ-tát được tâm Bồ-đề vào trong Dục giới, tất cả phiền não không làm hại được. Như thiên Đế-thích đội mão ma-ni che khuất tất cả thiên chúng khác. Cũng vậy, đại Bồ-tát đội mão đại nguyện Bồ-đề tâm thời vượt hơn tất cả chúng sanh trong tam giới. Như có người được châu như ý thời hết nghèo khổ. Cũng vậy, đại Bồ-tát được Bồ-đề tâm thời xa lìa tất cả tà mạng bố úy. Như có người được châu Nhật Tinh cầm hướng về phía ánh nắng mặt trời thời sanh ra lửa. Cũng vậy, đại Bồ-tát được tâm Bồ-đề cầm hướng đến trí quang mà sanh trí hỏa. Như có người được châu Nguyệt Tinh, cầm hướng về phía ánh sáng mặt trăng thời sanh ra nước. Cũng vậy, đại Bồ-tát được tâm Bồ-đề xoay về hồi hướng thời sanh tất cả thiện căn đại nguyện. Như Long vương đội mão ma-ni bảo thời rời khỏi tất cả oán địch bố úy. Cũng vậy, đại Bồ-tát đội mão Bồ-đề tâm đại bi thời rời khỏi ác đạo và các nạn. Như có bảo châu tên là Nhất thiết thế gian trang nghiêm tạng, nếu ai được châu này thời muốn chi cũng đều được thoả mãn, mà châu này không bị tổn giảm. Cũng vậy, nếu ai được tâm Bồ-đề này thời đều được toại nguyện, mà tâm này không bị tổn giảm. Như Chuyển luân vương có ma-ni bảo để trong cung, phóng ánh sáng lớn phá tất cả tối. Cũng vậy, đại Bồ-tát đem Bồ-đề tâm để ở Dục giới phóng đại trí quang phá vô minh của mọi loài. Như châu đế thanh đại ma-ni, ai được quang minh của châu này chiếu nhằm thời thân người ấy đồng màu với châu này. Cũng vậy, đại Bồ-tát dùng Bồ-đề tâm quán sát các pháp hồi hướng thiện căn thời đều đồng một màu Bồ-đề tâm. Như châu lưu ly trăm ngàn năm ở trong chỗ nhơ uế mà chẳng nhiễm nhơ uế, vì tánh nó bổn lai trong sạch. Cũng vậy, Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát ở Dục giới trăm ngàn kiếp mà chẳng bị sự lỗi ác của cõi dục làm nhiễm, vì tánh nó thanh tịnh như pháp giới. Như châu tịnh quang minh có thể chói khuất màu sắc của tất cả châu báu khác. Cũng vậy, Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát, có thể chói khuất tất cả công đức của phàm phu và Nhị thừa. Như châu hỏa diệm đều có thể trừ diệt tất cả tối tăm. Cũng vậy, Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát có thể diệt trừ tất cả sự tối tăm của vô tri. Như trong biển có vô giá bảo, người đi buôn châu báu lượm được đem về thành thị, tất cả quang sắc của những châu ngọc khác không bằng được. Cũng vậy, Bồ-đề tâm ở trong biển lớn sanh tử, đại Bồ-tát dùng thuyền đại nguyện chở đem vô thành giải thoát, công đức của hàng Nhị thừa không bằng được. Như có bảo châu tên là Tự tại vương ở tại châu Diêm-phù-đề cách mặt nhật mặt nguyệt bốn vạn do-tuần, bao nhiêu cảnh vật trang nghiêm của nhật nguyệt đều hiện bóng rõ ràng trong bảo châu này. Cũng vậy, công đức thanh tịnh của đại Bồ-tát phát Bồ-đề tâm ở trong sanh tử chiếu pháp giới không, tất cả công đức của Phật trí đều hiện trong đó. Như bảo châu tự tại vương, tất cả tài vật châu báu y phục mà ánh sáng nhật nguyệt chiếu đến giá trị không bằng được bảo châu này. Cũng vậy, tâm Bồ-đề của đại Bồ-tát, tất cả công đức của thiên nhân Nhị thừa mà Nhất thiết trí quang chiếu đến đều không bằng được. Như trong biển có bảo châu hải tạng. Châu này hiện khắp những sự trang nghiêm trong biển. Cũng vậy, Bồ-đề tâm của Bồ-tát hiện khắp những sự trang nghiêm của Nhất thiết trí. Như vàng diêm-phù-đàn trên trời chỉ trừ tâm vương đại ma-ni, không bảo vật nào sánh bằng. Cũng vậy, Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát, trừ Nhất thiết trí, không công đức nào sánh bằng. Như người giỏi phương pháp thâu rồng, thời ở trong loài rồng được tự tại. Cũng vậy, Bồ-đề tâm của Bồ-tát được tự tại trong tất cả phiền não. Như dũng sĩ mặc giáp cầm binh khí, tất cả oán địch không chế phục được. Cũng vậy, đại Bồ-tát mặc và cầm tâm Bồ-đề thời tất cả nghiệp hoặc không chế ngự được. Như hắc chiên-đàn hương trên trời, nếu đốt một chỉ thời hơi hương xông khắp Tiểu thiên thế giới, giá trị của tất cả trân bảo trong Đại thiên thế giới đều không bằng. Cũng vậy, một niệm công đức của Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát xông khắp pháp giới, tất cả công đức của Thanh văn Duyên giác đều không bằng được. Như bạch chiên-đàn thoa trên thân thời có thể trừ tất cả nhiệt não làm cho thân tâm được thanh lương. Cũng vậy, Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát có thể trừ tất cả hư vọng phân biệt phiền não, làm cho được trí tuệ. Như núi Tu-di, nếu ai ở gần thời đồng một màu sắc với núi này. Cũng vậy, nếu ai ở gần Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát thời đồng màu với Nhất thiết trí của Bồ-tát. Như cây ba-lợi chất-đa-la, hương khí của vỏ cây này không cỏ cây hoa nào ở Diêm-phù-đề thơm bằng. Cũng vậy, hương công đức đại nguyện của Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát hơn hẳn công đức của hương giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến của tất cả hàng Nhị thừa. Như cây ba-lợi chất-đa-la dầu chưa đơm hoa, nhưng nên biết chính nơi cây này là chỗ sản xuất vô lượng hoa. Cũng vậy, tâm Bồ-đề của đại Bồ-tát dầu chưa phát sanh Nhất thiết trí, nhưng nên biết tâm này là chỗ xuất sanh hoa trí giác cho vô số chúng nhân thiên. Như dùng hoa ba-lợi chất-đa-la để ướp y phục trong một ngày, thời mùi thơm hơn hẳn dùng các thứ hoa thơm khác ướp y phục trong ngàn năm. Cũng vậy, tâm Bồ-đề của đại Bồ-tát huân tập công đức trong một đời hơn hẳn công đức vô lậu của hàng Nhị thừa huân tập trong trăm ngàn kiếp. Như trong hải đảo mọc cây gia tử, cây rễ nhánh lá bông trái của cây này, mọi người thường lấy ăn dùng, mà vẫn không hết. Cũng vậy, tâm Bồ-đề của đại Bồ-tát, từ sơ phát tâm đến thành Phật, chánh pháp trụ thế luôn lợi ích tất cả thế gian không lúc nào tạm dứt. Như có nước thuốc tên là ha-trạch-ca, nếu dùng một lượng nước thuốc này thời biến được ngàn lượng đồng đều thành chân-kim, chẳng phải đồng biến được thuốc này. Cũng vậy, đại Bồ-tát dùng thuốc trí hồi hướng của Bồ-đề tâm, biến tất cả pháp nghiệp hoặc làm cho đều thành tướng Nhất thiết trí, chẳng phải nghiệp hoặc biến được tâm này. Như chút ít lửa, tùy đem nhúm đốt chỗ nào thời ngọn lửa càng thêm mạnh. Cũng vậy, Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát, tùy chỗ nào phan duyên thời trí tuệ càng mạnh. Như một ngọn đèn đem thắp trăm ngàn đèn khác, mà ngọn đèn này không tổn giảm. Cũng vậy, Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát sanh thành tam thế Phật trí, mà tâm này không giảm không hết. Như đem một ngọn đèn vào trong nhà tối, thời có thể phá trừ sự tối tăm đã trăm ngàn năm. Cũng vậy, Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát đem vào trong tâm của chúng sanh, thời có thể trừ hết những phiền não nghiệp chướng trong trăm ngàn vạn ức bất khả thuyết kiếp. Như tim đèn, tùy lớn hay nhỏ mà phát ánh sáng, nếu thêm dầu thời ánh sáng chẳng tắt. Cũng vậy, đèn Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát, dùng đại nguyện làm tim quang minh chiếu pháp giới, thêm dầu đại bi thời giáo hóa chúng sanh, tịnh Phật độ, thi hành Phật sự không thôi dứt. Như Tha Hóa Tự Tại thiên vương đội thiên quan diêm-phù-đàn kim, tất cả vật trang nghiêm của chư thiên tử cõi dục đều không bằng được. Cũng vậy, đại Bồ-tát đội Bồ-đề tâm đại nguyện, thời tất cả công đức của phàm phu Nhị thừa đều không bằng được. Như lúc sư tử vương gầm rống, sư tử con nghe tiếng đều thêm mạnh mẽ, còn các muông thú khác đều kinh sợ lẩn trốn. Cũng vậy, Bồ-đề tâm của Pháp Vương gầm rống, chư Bồ-tát Pháp Vương tử nghe tiếng Phật thời thêm công đức, còn người có sở đắc nghe tiếng Phật thời đều thối tán. Như có người lấy gân sư tử làm dây đờn, tấu đờn này thời tiếng của những đờn khác đều tắt mất. Cũng vậy, đại Bồ-tát dùng tâm Bồ-đề làm dây pháp nhạc, khi tấu lên thời tất cả ngũ dục và công đức của Nhị thừa đều đoạn tuyệt. Như có người chứa sữa dê, sữa bò nhiều như biển lớn, đem một giọt sữa sư tử nhỏ vào trong đó, thời đều biến hoại, sữa sư tử xuyên thẳng qua không bị trở ngại. Cũng vậy, đại Bồ-tát đem tâm Bồ-đề để vào trong biển phiền não nghiệp đã chứa từ vô lượng kiếp, thời đều hư hoại, mà Bồ-đề tâm thẳng qua vô ngại, trọn không trụ trong quả giải thoát của Nhị thừa. Như chim ca-lăng-tần-già lúc còn ở trong vỏ trứng đã có thế lực, các loại chim khác đều không bằng được. Cũng vậy, Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát có những thế lực công đức đại bi, hàng Thanh văn và Duyên giác không bằng được. Như chim kim sí lúc mới sanh cặp mắt sáng lanh, bay liệng mau chóng, tất cả chim khác dầu đã sanh lâu đã trưởng thành vẫn không bằng được. Cũng vậy, đại Bồ-tát phát Bồ-đề tâm làm Pháp Vương tử thời trí tuệ thanh tịnh, đại bi dũng mãnh, tất cả hàng Nhị thừa dầu đã tu hành trăm ngàn kiếp vẫn không bằng được. Như có tráng sĩ cầm mâu nhọn đâm thủng giáp cứng dày xuyên qua vô ngại. Cũng vậy, đại Bồ-tát dùng Bồ-đề tâm đâm thủng hư những tà kiến phiền não, xuyên qua vô ngại. Như đại lực sĩ Ma-ha-na-già, nếu phấn khởi oai lực, thời trên trán nổi bóng ghẻ, nếu bóng ghẻ ấy chưa lặn, thời tất cả người trong Diêm-phù-đề không ai đấu sức lại. Cũng vậy, đại Bồ-tát nếu khởi đại bi thời tất định phát Bồ-đề tâm, lúc chưa xả tâm này thời tất cả thế gian những ma và ma dân không làm hại được. Như xạ sư có các đệ tử, dầu chưa tập quen nghề của thầy, nhưng sự khôn ngoan khéo léo đã hơn những người khác. Đại Bồ-tát lúc mới phát tâm cũng như vậy, dầu chưa tập quen hạnh Nhất thiết trí, nhưng bao nhiêu trí nguyện dục giải đã hơn hẳn tất cả thế gian và Nhị thừa. Như người tập bắn tên, trước đặt chân sau mới tập cách bắn. Cũng vậy, đại Bồ-tát muốn học đạo Nhất thiết trí của Như Lai, trước phải an trụ tâm Bồ-đề, rồi sau mới tu hành tất cả Phật pháp. Như nhà ảo thuật sắp bày trò, trước phải nhớ và trì ảo pháp, sau đó biến hiện mới thành tựu. Cũng vậy, đại Bồ-tát sắp phát khởi thần thông của chư Phật Bồ-tát, trước phải phát tâm Bồ-đề, sau đó mọi sự mới được thành tựu. Như ảo thuật, không có hình sắc mà hiện ra hình sắc. Cũng vậy, Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát dầu không hình sắc thấy được, nhưng có thể khắp thập phương pháp giới thị hiện những công đức trang nghiêm. Như mèo chồn vừa nhìn thấy chuột, thời chuột liền rút vô hang chẳng dám ra. Cũng vậy, đại Bồ-tát phát Bồ-đề tâm tạm dùng tuệ nhãn xem nghiệp hoặc, thời nghiệp hoặc liền lẩn trốn chẳng còn sanh. Như có người đeo đồ trang sức bằng vàng diêm-phù-đàn, vàng này chói che những vật khác, làm cho những vật khác như đống mực đen. Cũng vậy, đại Bồ-tát đeo Bồ-đề tâm, tâm này che chói tất cả công đức của phàm phu và Nhị thừa, làm cho những công đức này không còn quang sắc. Như chút ít từ thạch, sức của nó có thể hút những xiềng xích sắt. Cũng vậy, đại Bồ-tát khởi một niệm Bồ-đề tâm, thời có thể hoại diệt tất cả kiến dục vô minh. Như có từ thạch, sắt nếu đối diện thời đều bị hút đi không còn an trụ được. Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát cũng như vậy, những nghiệp phiền não và Nhị thừa giải thoát nếu tạm đối diện thời đều tan mất không còn lưu trú. Như có người giỏi vào biển lớn, tất cả loài thủy tộc không làm hại được, giả sử vào miệng cá ma-kiệt cũng không bị cắn nuốt. Cũng vậy, đại Bồ-tát phát tâm Bồ-đề vào biển sanh tử, những nghiệp phiền não không làm hại được, giả sử vào trong pháp thiện tế của Thanh văn Duyên giác cũng chẳng bị họ làm lưu nạn. Như có người uống nước cam lộ, tất cả vật độc không làm hại được. Cũng vậy, đại Bồ-tát uống Bồ-đề tâm thời chẳng sa vào hàng Thanh văn Bích-chi Phật, vì đủ sức bi nguyện quảng đại. Như có người được thuốc an-thiện-na dùng thoa lên đôi mắt, dầu đi trong nhân gian mà không ai ngó thấy. Cũng vậy, đại Bồ-tát được Bồ-đề tâm, có thể dùng thiện phương tiện nhập cảnh giới ma, nhưng tất cả chúng ma không thấy được. Như có người nương dựa quốc vương thời chẳng sợ những người khác. Cũng vậy, đại Bồ-tát nương dựa thế lực lớn của Bồ-đề tâm thời chẳng sợ những nạn chướng cái ác đạo. Như có người ở trong nước thời chẳng sợ lửa cháy. Cũng vậy, đại Bồ-tát ở trong thiện căn Bồ-đề tâm thời chẳng sợ trí giải thoát của Nhị thừa. Như người nương dựa mãnh tướng thời không sợ tất cả kẻ oán địch. Cũng vậy, đại Bồ-tát nương dựa sức dũng mãnh của Bồ-đề tâm thời chẳng sợ tất cả ác hạnh. Như thiên Đế-thích cầm chày kim cang đánh dẹp tất cả chúng a-tu-la. Cũng vậy, đại Bồ-tát cầm giữ tâm Bồ-đề xô dẹp tất cả những ma ngoại đạo. Như có người uống thuốc diên mạng thời mãi mãi được tráng kiện chẳng già chẳng ốm. Cũng vậy, đại Bồ-tát uống Bồ-đề tâm thời trong vô số kiếp thật hành Bồ-tát hạnh không nhàm mỏi, cũng không nhiễm trước. Như có người điều hòa thuốc nước, thời trước hết phải lấy nước tốt trong sạch. Cũng vậy, đại Bồ-tát muốn tu tất cả hạnh nguyện Đại thừa thời trước hết phải phát Bồ-đề tâm. Như người giữ gìn thân thể, thời trước hết phải gìn giữ mạng căn. Cũng vậy, đại Bồ-tát hộ trì Phật pháp thời phải hộ trì Bồ-đề tâm trước. Như người nếu mạng căn dứt thời không thể làm lợi ích cho cha mẹ tôn thân. Cũng vậy, đại Bồ-tát nếu xả bỏ Bồ-đề tâm thời không thể làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, không thể thành tựu Phật công đức. Như đại hải không ai làm hư hoại được. Cũng vậy, những nghiệp hoặc và tâm Nhị thừa chẳng thể làm hư hoại Bồ-đề tâm được. Như ánh sáng mặt nhật, ánh sáng của tinh tú không chói che được. Cũng vậy, tất cả trí vô lậu của Nhị thừa không thể chói che Bồ-đề tâm được. Như Vương tử sơ sanh, thời được tất cả quan đều tôn trọng, vì là dòng Vua tự tại. Cũng vậy, đại Bồ-tát ở trong Phật pháp phát Bồ-đề tâm thời được các bậc kỳ túc tu phạm hạnh, Nhị thừa đều tôn trọng, vì đại bi tự tại. Như Vương tử dầu tuổi còn nhỏ bé, nhưng các quan đều kính lễ. Cũng vậy, đại Bồ-tát dầu mới phát tâm tu Bồ-tát hạnh, nhưng được các bậc kỳ cựu Thanh văn kính lễ. Như Vương tử dầu chưa được tự tại nơi tất cả các quan, nhưng đã đủ vương tướng nên chẳng đồng với tất cả các quan, vì dòng dõi tôn thắng. Cũng vậy, đại Bồ-tát dầu chưa được tự tại trong tất cả nghiệp hoặc nhưng đã đủ tướng Bồ-đề nên chẳng đồng với tất cả hàng Nhị thừa, vì là chủng tánh Phật đệ nhất. Như ma-ni bảo thanh tịnh, vì mắt lòa nên thấy là bất tịnh. Cũng vậy, Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát vốn thanh tịnh, kẻ vô trí chẳng tin cho là bất tịnh. Như có thuốc được chú lực gia trì, nếu ai được thấy nghe cùng ở chung, thời tiêu diệt được tất cả bệnh. Cũng vậy, Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát được tất cả thiện căn, trí tuệ, phương tiện, nguyện trí đồng nhiếp trì, nếu có chúng sanh thấy, nghe, ở chung, ghi nhớ, thời tất cả bệnh phiền não đều được trừ diệt. Như có người thường uống cam lộ, thân người này chẳng biến chẳng hoại. Cũng vậy, nếu đại Bồ-tát ghi nhớ giữ gìn Bồ-đề tâm thời thân nguyện trí rốt ráo chẳng hoại. Như người máy bằng gỗ, nếu không có chốt thời ly tán chẳng vận động được. Cũng vậy, đại Bồ-tát nếu không Bồ-đề tâm thời công hạnh phân tán chẳng thể thành tựu tất cả Phật pháp. Như Chuyển luân vương có trầm hương bảo tên là Tượng Tạng, nếu đốt hương này thời bốn binh chủng của Luân vương đều bay lên không trung. Cũng vậy, đại Bồ-tát có Bồ-đề tâm, nếu phát tâm này thời tất cả thiện căn của Bồ-tát thoát hẳn tam giới đi trong trí vô vi của Như Lai. Như chất kim cang chỉ sản xuất từ mỏ kim cang hoặc mỏ vàng, chẳng phải sản xuất từ mỏ báu khác. Cũng vậy, Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát chỉ phát sanh từ lòng đại bi cứu hộ chúng sanh, và từ cảnh giới thù thắng Nhất thiết chủng trí, chẳng phải xuất sanh từ những thiện căn khác. Như cây vô căn, chẳng có rễ mà nhánh lá bông trái đều sum sê. Cũng vậy, Bồ-đề tâm của đại Bồ-tát vốn không căn vô sở đắc mà có thể trưởng dưỡng Nhất thiết chủng trí thần thông đại nguyện che mát khắp thế gian. Như chất kim cang chẳng phải chậu xấu chậu bể đựng được, chỉ trừ chậu lành thật tốt. Cũng vậy, những chúng sanh hạ liệt tham sân phá giới giải đãi vọng niệm vô trí không thể chứa đựng Bồ-đề tâm, chỉ trừ Bồ-tát thâm tâm. Như kim cang có thể xoi lủng các chất báu khác. Cũng vậy, Bồ-đề tâm có thể xuyên thấu tất cả pháp bảo. Như kim cang có thể làm hoại các hòn núi. Cũng vậy, Bồ-đề tâm có thể phá vỡ những núi tà kiến. Như kim cang dầu đã bể, nhưng các thứ báu khác vẫn không bằng. Cũng vậy, Bồ-đề tâm dầu vì chí liệt mà có chút suy tổn, nhưng vẫn còn hơn tất cả công đức của hàng Nhị thừa. Như kim cang dầu tổn khuyết nhưng vẫn trừ được sự nghèo cùng. Cũng vậy, Bồ-đề tâm dầu bị tổn khuyết chẳng tăng tấn được các công hạnh, nhưng còn bỏ rời được tất cả sanh tử. Như chút ít kim cang có thể phá hoại tất cả vật. Cũng vậy, tâm Bồ-đề nhập chút ít cảnh giới liền phá tất cả vô tri phiền não. Như kim cang chẳng phải người phàm có được. Cũng vậy, chẳng phải những chúng sanh ý liệt mà có được Bồ-đề tâm. Như kim cang, nếu là người chẳng biết rành chất báu thời không biết được công năng tác dụng của nó. Cũng vậy, người chẳng biết chánh pháp thời không biết được công năng tác dụng của Bồ-đề tâm. Như kim cang không gì làm tiêu diệt được. Cũng vậy, tất cả pháp không thể tiêu diệt được Bồ-đề tâm. Như chày kim cang, những người có sức khoẻ đều không cầm được, chỉ trừ người có sức đại na-la-diên. Cũng vậy, Bồ-đề tâm tất cả hàng Nhị thừa đều không cầm giữ được, chỉ trừ Bồ-tát có thiện lực kiên cố nhân duyên quảng đại. Như kim cang, tất cả vật khác không làm hoại được, mà kim cang lại có thể làm hoại các vật, thể tánh nó vẫn không tổn giảm. Cũng vậy, Bồ-đề tâm khắp tất cả kiếp giáo hóa chúng sanh tu hành khổ hạnh. Những sự mà hàng Thanh văn Duyên giác không làm được, Bồ-tát đều làm được, vẫn không nhàm mỏi, không tổn giảm Bồ-đề tâm. Như kim cang, chỉ trừ đất kim cang, những chỗ khác không thể giữ chịu được. Cũng vậy, Thanh văn Duyên giác đều không thể giữ chịu được Bồ-đề tâm, chỉ trừ người xu hướng Phật trí. Như chậu kim cang không nứt mẻ dùng đựng nước, thời vĩnh viễn nước không chảy rịn vào đất. Cũng vậy, dùng Bồ-đề tâm chứa đựng thiện căn, thời vĩnh viễn không lọt vào các loài. Như kim cang tế có thể giữ vững đại địa. Cũng vậy, Bồ-đề tâm có thể giữ vững hạnh nguyện Bồ-tát chẳng sa vào tam giới. Như kim cang ở lâu trong nước chẳng rã chẳng ướt. Cũng vậy, Bồ-đề tâm ở trong nghiệp hoặc sanh tử nhiều kiếp, vẫn không hư không đổi. Như kim cang, tất cả thứ lửa không đốt cháy được, chẳng làm nóng được. Bồ-đề tâm cũng vậy, tất cả lửa phiền não sanh tử không đốt được, không làm nóng được Bồ-đề tâm. Như trên tòa kim cang trong Đại thiên thế giới có thể giữ vững chư Phật ngồi đạo tràng, hàng ma, thành đạo Vô thượng Chánh giác, tất cả những tòa khác không kham được. Cũng vậy, Bồ-đề tâm có thể giữ vững tất cả hạnh nguyện, các môn ba-la-mật, các nhẫn, các địa, hồi hướng thọ ký, tu tập pháp Bồ-đề trợ đạo, cúng dường chư Phật nghe pháp thọ hành của Bồ-tát, tất cả tâm khác không có công năng này. Những thí dụ này về mặt văn chương rất hay, rất dễ cảm nhận, dù có những điều không thể tưởng tượng nổi. Chỉ khen công đức phát Bồ-đề tâm mà viết mấy chục trang giấy, để thấy sức biện tài vô ngại của các ngài. Thí dụ mèo rình chuột rất dễ nhớ. Ở đây có mấy con mèo đi tới đi lui, thằn lằn hay chuột thấy nó đều nhát sợ, không dám ló đầu ra. Như người phát Bồ-đề tâm tạm dùng tuệ nhãn nhìn xem nghiệp hoặc phiền não thì nghiệp hoặc đều né tránh. Chúng ta không thể nhớ hết tất cả thí dụ, nhưng tựu trung lại có ba ý chính. Thứ nhất, phát Bồ-đề tâm hay dẹp trừ phiền não. Thứ hai, phát Bồ-đề tâm hay làm lợi ích tất cả chúng sanh. Thứ ba, phát Bồ-đề tâm hay thẳng đến quả vô thượng Bồ-đề thành Phật. Chúng ta nhớ kỹ tầm quan trọng của Bồ-đề tâm. Nếu trong lòng không ấp ủ, không mong mỏi, không quyết tiến đến chỗ giác ngộ cứu cánh, thì không thể rốt ráo thành Phật. Bồ-đề tâm là nghị lực mạnh mẽ thúc đẩy chúng ta tiến tới viên mãn. Nếu người xuất gia mà nói tu để gieo duyên lành chứ biết đời nào thành Phật, không tưởng tượng mình thành Phật, làm sao ấp ủ lòng mong thành Phật, bởi thế trên đường tu gặp điều gì vui hơn, hoặc gặp trở ngại thì liền thối chuyển. Vì thế ca ngợi Bồ-đề tâm là then chốt, là động cơ thiết yếu của người tu đến thành Phật đạo. Nhờ Bồ-đề tâm tức là nhờ lòng ấp ủ thiết tha mong thành Phật, mà chúng ta dẹp hết tất cả ngũ dục, ái luyến, chấp ngã, phiền não, khổ đau, buồn phiền... để thẳng đến thành Phật. Nếu Bồ-đề tâm được hâm nóng mãi, thì chắc chắn không đến nỗi người ta phải rơi, phải chìm trong dục lạc. Kinh Hoa Nghiêm đặc biệt nêu cao Bồ-đề tâm tối quan trọng không thể thiếu, không thể quên được. Có Bồ-đề tâm chẳng khác nào như ôm hòn ngọc quý không rời, như người ôm trong lòng đứa con một mà đi chạy giặc, chạy đến đâu súng bắn đến đâu cũng luôn ôm giữ con không dám bỏ rời. Hiểu được tầm quan trọng đó, chúng ta tu nhất định phải thành Phật. Ấp ủ lòng thành Phật, lúc nào cũng nuôi dưỡng cho nó tăng trưởng. Bồ-đề tâm là lý tưởng tối cao, nếu không nuôi dưỡng là mất lý tưởng. Chúng ta quyết định tu thành Phật, nghe nói như thế, có người không hài lòng, cho là ngã mạn. Nhưng Phật thường khuyến khích chúng sanh phải quả quyết, nhất định thành Phật, Phật đi trước, chúng ta nối gót theo sau, Phật đi được thì mình cũng phải đi được. Phải quyết định như vậy, luôn luôn nuôi ý chí đó, tin rằng thành Phật không khó. Này Thiện nam tử! Bồ-đề tâm thành tựu vô lượng vô biên nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết công đức thù thắng. Nếu có chúng sanh phát tâm vô thượng Bồ-đề thời được công đức thù thắng như vậy. Vì thế nên ngươi đã được lợi lành lớn, vì ngươi đã phát tâm vô thượng Bồ-đề cầu Bồ-tát hạnh, đã được công đức lớn như vậy. Này Thiện nam tử! Như ngươi hỏi Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào tu Bồ-tát đạo? Ngươi nên vào trong lâu các Tỳ-lô-giá-na Đại Trang Nghiêm này, ngươi quán sát khắp nơi thời có thể biết rõ học Bồ-tát hạnh, học rồi thời thành tựu vô lượng công đức. Thiện Tài muốn biết tường tận Bồ-tát hạnh, tu Bồ-tát đạo, nên bước chân vào lầu các Tỳ-lô-giá-na Đại Trang Nghiêm. Thiện Tài đồng tử cung kính hữu nhiễu Di-lặc Bồ-tát, rồi thưa rằng: Xin Đại thánh mở cửa lâu các cho tôi được vào. Lúc ấy Di-lặc Bồ-tát đến trước cửa lâu các đàn chỉ ra tiếng, cửa liền mở. Đàn chỉ tức là khảy móng tay ra tiếng, Bồ-tát Di-lặc khảy móng tay vài cái thì cửa liền mở. Bồ-tát bảo Thiện Tài vào. Tại sao đến chỗ này không lên tiếng kêu cửa mà khảy móng tay thì cửa tự mở? Đó là điều huyền bí lạ thường. Lầu các Tỳ-lô-giá-na tượng trưng cảnh giới pháp thân, muốn diễn tả cảnh giới này, các thiền sư hoặc hét hoặc đánh, hoặc tằng hắng, khảy móng tay... nhân tiếng động đánh thức chúng ta thâm nhập lầu các pháp thân. Muốn tiến vào lâu các pháp thân phải bặt đường ngôn ngữ, vì ngôn ngữ gốc từ suy tư vọng tưởng. Vì thế một cái khảy móng tay thì cửa liền mở, Bồ-tát bảo Thiện Tài bước vào. Đó là hình ảnh trong kinh, các thiền sư cũng tương tự như vậy. Các ngài chỉ cho chúng ta nhận ra pháp thân không qua ngôn ngữ, phần nhiều dùng hành động để người học tự nhận. Cũng như tiếng hét đâu có nghĩa lý gì, nhân tiếng hét mà người học ngộ đạo. Một cái đánh không có nghĩa lý gì, nhân đánh mà người ta ngộ. Thiện Tài rất hoan hỷ đi vào trong lâu các, cửa liền đóng lại. Thiện Tài bước vào rồi, cửa đóng lại, nghĩa là đây chỉ dành riêng cho người đầy đủ nhân duyên, người chưa đủ nhân duyên thì đứng ngoài cửa. Thiện Tài thấy trong lâu các rộng vô lượng đồng như hư không. Vô số chất báu làm đất. Vô số cung điện, vô số cửa cái, vô số cửa sổ, vô số thềm bậc, vô số lan can, vô số đường sá, tất cả đều bằng thất bảo. Vô số tràng, vô số phan, vô số lọng hàng liệt khắp nơi. Vô số chuỗi báu, vô số chuỗi chân châu, vô số chuỗi xích chân châu, vô số chuỗi sư tử châu, thòng rũ khắp nơi. Vô số bán nguyệt, vô số dải lụa, vô số lưới báu dùng để trang sức. Vô số lục lạc báu gió động thành tiếng. Rải vô số hoa trời đẹp. Treo vô số dải tràng báu cõi trời. Vô số lư hương báu trang nghiêm. Rưới vô số bột chân kim. Treo vô số gương báu. Thắp vô số đèn báu. Trải vô số y báu. Giăng vô số trướng báu. Trần thiết vô số tòa báu, vô số lụa báu trải trên tòa. Vô số tượng đồng nữ bằng vàng diêm-phù-đàn. Vô số hình tượng bằng nhiều thứ báu. Khắp nơi có vô số tượng Bồ-tát bằng diệu bảo. Vô số chim hót tiếng hòa nhã. Vô số hoa sen xanh báu, vô số hoa sen vàng báu, vô số hoa sen đỏ báu, vô số hoa sen trắng báu, dùng để trang nghiêm. Vô số cây báu thứ đệ hàng liệt. Vô số ma-ni bảo phóng đại quang minh. Tất cả đều dùng chữ vô số, không có chữ gì để diễn tả khác hơn. Lại thấy trong đó có vô lượng trăm ngàn lâu các đẹp, đều nghiêm sức như trên. Mỗi mỗi lâu các đều rộng rãi nghiêm lệ, đồng như hư không chẳng ngại nhau cũng chẳng tạp loạn nhau. Trong một lầu các có vô số lầu các, vô số lầu các đều bằng lầu các này. Cái nào lượng cũng bằng hư không, cái nào cũng đẹp đẽ trang nghiêm như nhau. Nghĩa là thấy một là thấy tất cả, biết một là biết tất cả, tuy các pháp có vô lượng sai khác nhưng đồng một thể chân thật. Như vậy Phật thành Phật rồi, ngài thấy tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều có kiếm trí tuệ nhưng chúng sanh không tự thấy không tự biết. Diễn tả sự trang nghiêm để thấy rằng pháp thân hay Phật tánh rực rỡ, không phải rỗng không. Tuy thể rỗng rang như hư không, ngang bằng thái hư, nhưng tướng dụng thật là trang nghiêm đẹp đẽ. Kinh Hoa Nghiêm diễn tả pháp giới rỗng không vô ngại, tương dung tương nhiếp qua hình ảnh lầu các Di-lặc. Thiện Tài bước vào lầu các là đạt đến chỗ cứu cánh thành tựu mục đích của mình. Thiện Tài ở một chỗ thấy tất cả chỗ. Nơi tất cả chỗ đều thấy như vậy. Chỗ thấy của Thiện Tài là pháp giới nhiếp nhập không chướng ngại, một là tất cả, tất cả là một. Đôi khi chúng ta cũng thắc mắc, lúc thành Phật tất cả đều nhập pháp thân, nhập viên giác tánh. Lúc đó là đồng hay là một? Đoạn kinh này trả lời chỗ đó. Nói rằng tất là một, chân như không hai, nhưng một mà không phải một. Trong đây nói một lầu các có vô số lầu các tất cả không ngại nhau, không tạp loạn. Không ngại nhau thì không phải là hai, đây là chỗ rất khó, khó vì chúng ta chưa thể nhập, chư Phật thì thấy rõ không nghi ngờ. Biểu hiện bằng hình ảnh vô lượng lầu các đều rỗng rang rộng rãi như hư không, tráng lệ như nhau. Nhưng sắp đặt hàng lối đâu đó rành rẽ chứ không lộn xộn, không phải nhồi thành một cục, một khối. Nhiều người hiểu lầm tưởng rằng thành Phật là thành một ông Phật chung. Không phải. Tuy tất cả lầu các đều rộng rãi như hư không nhưng mỗi cái đều có thứ tự riêng, không phải là một. Thể đồng mà tướng biệt. Thiện Tài thấy lâu các Tỳ-lô-giá-na Trang Nghiêm Tạng có bất tư nghì cảnh giới tự tại như vậy, lòng rất vui mừng hớn hở vô lượng, thân tâm nhu nhuyến, rời tất cả tưởng, trừ tất cả chướng, diệt tất cả hoặc, chỗ thấy chẳng quên, chỗ nghe đều nhớ, chỗ nghĩ chẳng tạp, chứng nhập môn vô ngại giải thoát, vận dụng tâm cùng khắp, thấy cùng khắp, kính lễ cùng khắp. Khi Thiện Tài bước vào lầu các này, thân tâm nhẹ nhàng, tất cả vọng tưởng đều dứt, tất cả chướng ngại trừ sạch, tất cả mê lầm không còn. Tâm thanh tịnh tự tại nên thấy thì không quên, nghe qua đều nhớ nghĩ không lộn xộn. Lúc đó thấy cùng khắp, vận dụng tâm cùng khắp, kính lễ cùng khắp. Vừa mới cúi đầu, do thần lực của Di-lặc Bồ-tát, Thiện Tài tự thấy thân của mình ở khắp trong tất cả lâu các, thấy đủ những cảnh giới tự tại bất tư nghì. Thiện Tài nhờ thần lực Bồ-tát Di-lặc, vừa cúi đầu đã thấy thân mình ở khắp trong tất cả lầu các, thấy đủ những cảnh giới tự tại bất tư nghì chứ không phải thấy mình là một cá thể như thuở trước nữa. Những là thấy Di-lặc Bồ-tát lúc mới phát tâm tên hiệu như vậy, chủng tộc như vậy, thiện hữu khai ngộ khiến gieo trồng căn lành như vậy, thọ mạng như vậy, ở kiếp như vậy, gặp Phật tại quốc độ như vậy, tu hành như vậy, phát nguyện như vậy. Chư Phật Như Lai ấy, những chúng hội, thọ mạng, thân cận cúng dường đều thấy rõ cả. Hoặc thấy Di-lặc Bồ-tát tối sơ chứng được từ tâm tam-muội, từ đó đến nay hiệu là Từ Thị. Hoặc thấy Di-lặc Bồ-tát tu những diệu hạnh, thành mãn tất cả môn ba-la-mật. Hoặc thấy Di-lặc Bồ-tát đắc nhẫn, trụ địa, thành tựu quốc độ thanh tịnh, hộ trì Phật pháp, làm đại pháp sư, được vô sanh nhẫn. Hoặc thấy thời gian ấy, tại xứ ấy, đức Phật ấy thọ ký thành Phật cho Di-lặc Bồ-tát. Hoặc thấy Di-lặc Bồ-tát làm Chuyển luân vương khuyên các chúng sanh an trụ nơi thập thiện đạo. Hoặc thấy Di-lặc Bồ-tát làm Hộ thế lợi ích chúng sanh, hoặc làm Đế-thích quở trách ngũ dục, hoặc làm Dạ-ma thiên vương tán dương hạnh bất phóng dật, hoặc làm Đâu-suất thiên vương khen ngợi công đức của Bồ-tát Nhất sanh bổ xứ, hoặc làm Hóa Lạc thiên vương vì chư thiên chúng mà hiện những sự biến hóa trang nghiêm của chư Bồ-tát, hoặc làm Tha Hóa Tự Tại thiên vương vì chư thiên chúng mà diễn thuyết tất cả Phật pháp, hoặc làm ma vương tuyên nói tất cả pháp thảy đều vô thường, hoặc làm Phạm vương tuyên nói chư thiền định có vô lượng hỷ lạc, hoặc làm a-tu-la vương vào biển đại trí rõ pháp như huyễn vì chúng a-tu-ta mà thường thuyết pháp dứt trừ tất cả kiêu mạn ngạo nghễ. Hoặc thấy Di-lặc Bồ-tát ở xứ Diêm-la cứu khổ địa ngục, hoặc thấy ở xứ ngạ quỷ bố thí đồ uống ăn cứu sự đói khát, hoặc thấy ở đạo súc sanh dùng những phương tiện điều phục chúng sanh. Hoặc thấy Di-lặc Bồ-tát vì chúng hội Hộ thế thiên vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Đao-lợi thiên vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Dạ-ma thiên vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Đâu-suất thiên vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Hóa Lạc thiên vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Tha Hóa thiên vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Đại Phạm thiên vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội long vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội dạ-xoa vương, la-sát vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội càn-thát-bà vương và khẩn-na-la vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội a-tu-la vương và đà-na-bà vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội ca-lâu-la vương và ma-hầu-la-già vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì những chúng hội nhân, phi nhân khác mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Thanh văn Duyên giác mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Bồ-tát sơ phát tâm nhẫn đến Bồ-tát Nhất sanh bổ xứ trụ quán đảnh vị mà thuyết pháp. Hoặc lại thấy Di-lặc Bồ-tát khen nói những công đức của Sơ địa nhẫn đến Thập địa. Hoặc thấy khen nói đầy đủ tất cả ba-la-mật. Hoặc thấy khen nói pháp môn nhập các nhẫn. Hoặc thấy khen nói những môn đại tam-muội. Hoặc thấy khen nói những môn giải thoát thậm thâm. Hoặc thấy khen nói cảnh giới của những tam-muội thần thông. Hoặc thấy khen nói những Bồ-tát hạnh. Hoặc thấy khen nói những thệ nguyện lớn. Hoặc thấy cùng với chư Bồ-tát đồng hành khen nói những phương tiện lợi ích chúng sanh. Hoặc thấy cùng với chư Bồ-tát Nhất sanh bổ xứ khen nói tất cả môn Phật quán đảnh. Hoặc thấy Di-lặc Bồ-tát trong trăm ngàn năm kinh hành, đọc tụng, thơ tả kinh quyển, siêng cầu quán sát vì đại chúng mà thuyết pháp. Hoặc nhập tứ thiền, tứ vô lượng tâm. Hoặc nhập biến xứ và những giải thoát. Hoặc nhập tam-muội dùng sức phương tiện hiện những thần biến. Hoặc thấy Di-lặc Bồ-tát nhập biến hóa tam-muội, nơi mỗi lỗ lông trên thân hiện ra tất cả biến hóa thân vân. Hoặc hiện ra thiên chúng thân vân. Hoặc hiện ra Long chúng thân vân. Hoặc hiện ra Bát bộ chúng thân vân. Hoặc hiện ra Thích, Phạm, Hộ thế, Chuyển luân thánh vương, Tiểu vương, vương tử, đại thần, quan thuộc, trưởng giả, cư sĩ thân vân. Hoặc hiện ra Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Như Lai thân vân. Hoặc hiện ra tất cả chúng sanh thân vân. Hoặc phát ra tiếng vi diệu khen những pháp môn của chư Bồ-tát. Hoặc khen nói môn công đức của Đàn ba-la-mật nhẫn đến công đức của Trí ba-la-mật. Khen nói các nhiếp pháp, các thiền, các vô lượng tâm, các tam-muội chánh quán, các thông, các minh, tổng trì, biện tài, các đế, các trí, chỉ, quán, giải thoát, các duyên, các y, các thuyết, các pháp môn. Khen nói niệm xứ, chánh cần, thần túc, căn, lực, bảy phần Bồ-đề, tám Thánh đạo, những Thanh văn thừa, những Duyên giác thừa, những Bồ-tát thừa, những địa, những nhẫn, những hạnh, những nguyện, tất cả những công đức môn như vậy. Hoặc ở trong những lỗ lông ấy lại thấy chư Như Lai có đại chúng vây quanh. Cũng thấy chư Phật này: chỗ sanh, chủng tánh, thân hình, thọ mạng, quốc độ, kiếp số, danh hiệu, thuyết pháp lợi ích, chánh pháp ở đời mau hay lâu, nhẫn đến đạo tràng chúng hội đều thấy rõ cả. Thiện Tài thấy đức Di-lặc, từ khi sơ phát tâm cho tới khi thành Phật, nghĩa là thấy về quá khứ, luôn cả vị lai. Ngoài đức Di-lặc, Thiện Tài còn thấy tất cả chư Phật cùng đại chúng vây quanh ở trong lầu các này, tất cả những lầu các khác đều cũng hiện như vậy. Cho đến cả Đại thiên thế giới trăm ức tứ thiên hạ, trăm ức Đâu-suất thiên, mỗi mỗi đều có Di-lặc giáng thần đản sanh. Thích, Phạm và thiên vương ẵm bồng… cũng đều ở trong lầu các trang nghiêm tạng này. Để chứng minh rằng khi thể nhập pháp thân, lúc đó nhìn lại tất cả công hạnh quá khứ một cách tường tận không thiếu sót. Vì vậy đức Phật thuở xưa khi cần nhắc lại tiền thân của ngài, thì liền kể quá khứ ta ở đâu, tên gì, họ gì, con của ai, tu tập thế nào… thấy tất cả việc như hiện ở trước mắt. Lại ở nơi những lâu các trong phạm vi Trang Nghiêm Tạng này, mỗi lâu các đều cao rộng trang nghiêm tối thượng, trong đó đều thấy Đại thiên thế giới, trăm ức Tứ thiên hạ, trăm ức Đâu-suất thiên. Mỗi mỗi đều có Di-lặc Bồ-tát giáng thần đản sanh, Thích, Phạm và thiên vương ẵm bồng cung kính. Bồ-tát sơ sanh kinh hành bảy bước, nhìn xem mười phương, tuyên bố độc tôn, làm đồng tử, ở cung điện, dạo chơi viên uyển, vì cầu Nhất thiết trí mà xuất gia khổ hạnh, thị hiện thọ cháo sữa, đến ngồi đạo tràng hàng phục ma quân, thành Đẳng chánh giác, quán sát Bồ-đề thọ. Phạm vương thỉnh chuyển pháp luân. Lên cung trời mà thuyết pháp. Kiếp số thọ lượng, chúng hội trang nghiêm, nghiêm tịnh quốc độ, thật hành hạnh nguyện, phương tiện giáo hóa thành thục chúng sanh, phân chia xá-lợi, trụ trì giáo pháp, những sự việc chẳng đồng như vậy thảy đều thấy rõ. Lầu các này trùm khắp chứa khắp không sót một vật, bất cứ loài nào cũng nằm sẵn trong này. Thiện Tài lại thấy thân mình ở tại chỗ chư Phật Như Lai ấy, cũng dự trong chúng hội ấy, đều nhớ rõ tất cả Phật sự và thông đạt vô ngại. Lại nghe tất cả lưới, linh, nhạc khí trong tất cả lâu các ấy đều diễn xướng bất tư nghì pháp âm vi diệu. Kinh điển Đại thừa diễn tả không khác nhau Cảnh giới Cực lạc cũng có chim thuyết pháp, gió rung cây nói pháp, đất bằng lưu ly, cây bằng vàng ròng, ao sen thất bảo, hoa sen lớn nhỏ bằng thất bảo. Cõi Cực lạc hoặc lầu các Tỳ-lô-giá-na Đại Trang Nghiêm tên có khác diễn tả có khác chút ít, sự thật ý không khác. Tinh thần Đại thừa Phật giáo cốt cho chúng ta thấy cảnh giới rực rỡ khi thể nhập Phật tánh hay pháp thân. Trong đó đủ tất cả rực rỡ, sáng sủa đẹp đẽ trang nghiêm, bao hàm không sót một vật, trùm quá khứ, vị lai, hiện tại, ba đời không sót, mười phương không thừa. Đạo tràng của chư Phật, Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác, những tịnh thế giới, uế thế giới, tịnh uế thế giới, thế giới có Phật, thế giới không Phật, tiểu thế giới, trung thế giới, những đại thế giới, Nhân-đà-la võng thế giới, thế giới úp, thế giới ngửa... đều hiện đủ. Những phần này xét qua như vậy để biết đại khái tất cả những hình ảnh Bồ-tát khi tu nhân, cho đến khi được quán đảnh, được thọ ký một đời thành Phật đều hiện đầy đủ không thiếu sót. Hoặc nói Bồ-tát phát Bồ-đề tâm, hoặc nói tu hành các môn ba-la-mật, hoặc nói các nguyện, các địa, hoặc nói cung kính cúng dường Như Lai, hoặc nói trang nghiêm Phật độ, hoặc nói chư Phật thuyết pháp sai biệt. Lại nghe xứ đó có Bồ-tát nghe pháp môn như vậy. Thiện tri thức ấy khuyên phát tâm Bồ-đề ở cõi ấy, kiếp ấy, chỗ đức Phật ấy, trong đại chúng ấy, phát tâm, khởi nguyện, gieo thiện căn quảng đại như vậy, trải qua bao nhiêu kiếp tu Bồ-tát hạnh, bao nhiêu thời gian sẽ thành Chánh giác danh hiệu như vậy, thọ lượng như vậy, quốc độ trang nghiêm như vậy, mãn nguyện như vậy, giáo hóa chúng sanh như vậy, chúng Thanh văn Bồ-tát như vậy. Sau khi nhập Niết-bàn, chánh pháp ở đời bao lâu năm lợi ích vô lượng chúng sanh. Hoặc lại nghe xứ ấy có Bồ-tát tu lục ba-la-mật. Hoặc nghe xứ ấy có Bồ-tát vì cầu pháp mà rời bỏ ngôi vua, cung điện, vợ con quyến thuộc, tài sản, nhẫn đến xả thí tay, chân, đầu, mắt, thân thể. Hoặc nghe xứ ấy có Bồ-tát thủ hộ chánh pháp làm đại pháp sư rộng hành pháp thí, dựng pháp tràng, thổi pháp loa, đánh pháp cổ, mưa pháp vũ, xây Phật tháp miếu, làm hình tượng Phật, bố thí tất cả đồ an vui cho chúng sanh. Hoặc nghe xứ ấy có đức Như Lai ở kiếp ấy thành Đẳng chánh giác thuyết pháp độ sanh. Thiện Tài nghe bất tư nghì vi diệu pháp âm như vậy, thân tâm hoan hỷ nhu nguyến liền được vô lượng môn tổng trì, vô lượng môn biện tài, các thiền, các nhẫn, các nguyện, các độ, các thông, các minh và các giải thoát, các môn tam-muội. Lại thấy những hình tượng trong các gương báu: Những là chư Phật chúng hội đạo tràng, Bồ-tát chúng hội đạo tràng, Thanh văn chúng hội đạo tràng, Duyên giác chúng hội đạo tràng, những tịnh thế giới, những uế thế giới, hoặc những tịnh uế thế giới, những thế giới có Phật, những thế giới không Phật, những tiểu thế giới, những trung thế giới, những đại thế giới, những Nhân-đà-la võng thế giới, những thế giới úp, những thế giới ngửa, những thế giới bình thản, những thế giới của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ở, những thế giới đầy chúng nhân thiên. Ở trong những thế giới như vậy, thấy có vô số chúng đại Bồ-tát hoặc đi hoặc ngồi làm nhiều sự nghiệp: Những là hoặc khởi đại bi thương xót chúng sanh, hoặc soạn những bộ luận lợi ích chúng sanh, hoặc thọ, hoặc trì, hoặc biên, hoặc tụng, hoặc hỏi, hoặc đáp, ba thời sám hối hồi hướng phát nguyện. Thiện Tài lại thấy trong tất cả cột báu phóng lưới đại quang minh ma-ni vương, hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc trắng, hoặc màu pha lê, hoặc màu thủy tinh, hoặc màu đế thanh, hoặc màu hồng nghệ, hoặc màu vàng diêm-phù-đàn, hoặc làm thành màu tất cả quang minh. Lại thấy những bảo tượng và hình đồng nữ bằng vàng diêm-phù-đàn, hoặc tay cầm hoa vân, y vân, tràng phan, táng cái. Hoặc cầm những hương thoa, hương bột. Hoặc cầm thượng diệu ma-ni bảo võng. Hoặc thòng xích vàng, hoặc mang anh lạc. Hoặc giơ cánh tay bưng đồ trang nghiêm, hoặc cúi đầu trút mão ma-ni khom mình chiêm ngưỡng mắt chẳng tạm rời. Lại thấy chuỗi chân châu thường xuất sanh nước thơm đủ tám công đức. Thấy chuỗi lưu ly phóng trăm ngàn quang minh đồng thời chiếu sáng. Những tràng phan bảo cái, bảo võng tất cả đều trang nghiêm với những châu bảo. Lại thấy bốn màu hoa sen, mỗi mỗi đều sanh vô lượng hoa, hoặc bằng cánh tay, hoặc bằng bánh xe. Trong mỗi hoa thảy đều thị hiện nhiều thứ hình tượng để trang nghiêm: Như là tượng nam, tượng nữ, tượng đồng nam, tượng đồng nữ, tượng Thích Phạm, Hộ thế, thiên, long, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, tượng Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Tất cả những sắc tượng trên đây đều khom mình chắp tay kính lễ. Cũng thấy đức Như Lai ngồi kiết già, thân ba mươi hai tướng trang nghiêm. Lại thấy nơi đất tịnh lưu ly, trong khoảng mỗi bước hiện bất tư nghì những sắc tượng: Như là sắc tượng thế giới, sắc tượng Bồ-tát, sắc tượng Như Lai, sắc tượng những lâu các trang nghiêm. Lại nơi những nhánh lá bông trái của bảo thọ, đều thấy những sắc tượng bán thân: Như là sắc tượng bán thân của Phật, của Bồ-tát, của thiên, long, bát bộ. Sắc tượng bán thân của Hộ thế Tứ thiên vương, của Chuyển luân vương, của tiểu vương, vương tử, đại thần, quan trưởng và của tứ chúng. Những sắc tượng bán thân này hoặc cầm tràng hoa, hoặc cầm anh lạc, hoặc cầm những đồ trang nghiêm, hoặc khom mình chắp tay lễ kính, nhất tâm chiêm ngưỡng mắt chẳng tạm rời. Hoặc ca ngợi, hoặc nhập tam-muội nơi thân đều dùng tướng hảo trang nghiêm phóng những quang minh nhiều màu. Như là quang minh màu chân kim, màu bạch ngân, màu san hô, màu đâu-sa-la, màu đế thanh, màu Tỳ-lô-giá-na bảo, màu châu bảo, màu bông chiêm-ba-ca. Lại thấy trong tượng bán nguyệt phóng ra vô số quang minh của nhật nguyệt tinh tú chiếu khắp mười phương. Lại thấy bốn phía vách trong mỗi bước đều dùng châu bảo để trang nghiêm. Trong mỗi châu bảo đều hiện hình Di-lặc Bồ-tát thuở kiếp xưa tu hành Bồ-tát đạo: hoặc bố thí đầu, mắt, tay, chân, môi, lưỡi, răng, nướu, tai, mũi, máu, thịt, da thứa, xương tủy, nhẫn đến móng, tóc. Hoặc bố thí vợ con, thành ấp, tụ lạc, quốc độ, ngôi vua. Làm cho người ở lao ngục thời được ra khỏi, kẻ bị trói buộc thời được cởi mở, người bệnh tật thời được lành, người vào đường tà thời chỉ cho đường chánh. Hoặc thấy Di-lặc Bồ-tát làm lái thuyền đưa qua biển lớn. Hoặc làm mã vương cứu hộ ác nạn. Hoặc làm đại tiên khéo giảng luận. Hoặc làm Luân vương khuyên tu thập thiện. Hoặc làm y vương khéo chữa các bệnh. Hoặc hiếu thuận cha mẹ. Hoặc thân cận thiện hữu. Hoặc làm Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Hoặc làm Như Lai giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh. Hoặc làm pháp sư phụng hành Phật giáo, thọ trì, đọc tụng, tư duy đúng lý. Lập Phật tháp, tạo Phật tượng. Hoặc mình cúng dường, hoặc khuyên người cúng, thoa hương, rải hoa, cung kính lễ bái. Những sự như trên thật hành luôn không dứt. Hoặc thấy Di-lặc Bồ-tát ngồi tòa sư tử thuyết pháp khuyên chúng sanh an trụ thập thiện, nhất tâm quy hướng Tam bảo, thọ trì năm giới và tám giới, xuất gia nghe pháp, thọ trì đọc tụng, tu hành đúng pháp. Nhẫn đến hoặc thấy những sắc tượng của Di-lặc Bồ-tát tu hành các môn ba-la-mật trong trăm ngàn ức na-do-tha vô số kiếp. Lại thấy Di-lặc Bồ-tát từng kính thờ chư thiện tri thức đều dùng tất cả công đức trang nghiêm. Lại thấy Di-lặc Bồ-tát tại chỗ của mỗi thiện tri thức thân cận cúng dường, tuân hành lời dạy, nhẫn đến trụ bậc Quán đảnh. Bấy giờ chư thiện tri thức ấy bảo Thiện Tài rằng: Lành thay Đồng tử! Ngươi nhìn xem những sự bất tư nghì của Di-lặc Bồ-tát chớ có nhàm mỏi. Lúc đó vì được sức ghi nhớ chẳng quên, vì được mắt thanh tịnh thấy mười phương, vì được trí vô ngại khéo quán sát, vì được trí tự tại của Bồ-tát, vì được quảng đại giải của chư Bồ-tát đã nhập trí địa, nên Thiện Tài ở trong mỗi vật của tất cả lâu các đều thấy vô lượng cảnh giới bất tư nghì như vậy. Như người nằm mộng thấy những cảnh vật, khi thức dậy bèn biết là cảnh mộng, nhưng có thể nhớ rõ không quên mất. Cũng vậy, nhờ thần lực gia trì của Di-lặc Bồ-tát, vì biết những pháp trong tam giới như mộng, vì diệt được tâm tưởng hèn kém của chúng sanh, vì được tri giải rộng lớn vô ngại, vì an trụ cảnh giới thù thắng của Bồ-tát, vì nhập trí phương tiện bất tư nghì, nên Thiện Tài thấy được cảnh giới tự tại như vậy. Những cảnh giới tự tại này thấy rất nhiều vô lượng nhưng nó có thật không? Tất cả đều như mộng, không có gì là thật. Tại sao các ngài thấy một cách rõ ràng như vậy? Là do diệt hết tâm tưởng hèn kém, được tri giải rộng lớn, an trụ cảnh giới thù thắng của Bồ-tát… Như người sắp mạng chung, thấy tướng thọ báo theo nghiệp của họ: Người gây ác nghiệp thời thấy tất cả cảnh giới khổ nơi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Hoặc thấy lính ngục tay cầm binh khí sân mắng trói bắt dẫn đi. Cũng nghe những tiếng kêu khóc than van. Hoặc thấy sông tro, vạc nước sôi, núi dao, cây gươm, rồi bị bức vào chịu khổ. Người làm lành thời thấy cung điện trời, vô lượng thiên chúng, thiên nữ, y phục trang nghiêm, cung điện viên lâm đều đẹp tốt. Dầu thân chưa chết, nhưng do nghiệp lực thấy những sự như vậy. Người sắp chết, nghiệp lực thiện hay ác hiện ra địa ngục hay thiên đường rõ ràng. Cảnh ấy đối với người khác không thấy được mà chỉ người đó thấy. Cũng vậy, do sức bất tư nghì của Bồ-tát nghiệp nên Thiện Tài được thấy tất cả cảnh giới trang nghiêm. Đối với Thiện Tài thì do nghiệp bất tư nghì của Bồ-tát gia trì nên thấy được lầu các trang nghiêm này. Như có người bị quỷ nhiếp trì thấy các sự việc tùy nơi người hỏi đều đáp được cả. Cũng vậy, do Bồ-tát trí tuệ nhiếp trì nên Thiện Tài được thấy tất cả sự trang nghiêm, nếu có ai hỏi đều đáp được cả. Như có người bị rồng nhiếp trì, tự cho mình là rồng rồi vào Long cung, trong thời gian ngắn tự cho là đã trải qua nhiều ngày nhiều tháng nhiều năm. Cũng vậy, vì trụ Bồ-tát trí tuệ, vì Di-lặc Bồ-tát gia trì, nên trong một ít thời gian mà Thiện Tài cho là vô lượng kiếp. Thời gian ngắn mà thấy dài là do trụ nơi sức trí tuệ và do sức gia trì của Bồ-tát. Như Phạm thiên cung tên là Trang Nghiêm Tạng, trong đó hiện tất cả sự vật trong Đại thiên thế giới chẳng tạp loạn nhau. Cũng vậy, trong lâu các này, Thiện Tài thấy khắp tất cả cảnh giới trang nghiêm, nhiều thứ sai khác chẳng tạp loạn nhau. Như Tỳ-kheo nhập biến xứ định, khi đi đứng ngồi nằm, tùy theo định đã nhập, cảnh giới ấy hiện tiền. Cũng vậy, Thiện Tài nhập lâu các này, tất cả cảnh giới đều hiện rõ. Biến xứ định, nghĩa là khi hành giả tu quán nhập định không giới, nhập định nước, nhập định lửa, thấy tất cả đều là hư không, hoặc đều là nước… Nhập định màu xanh, nhập định màu vàng… thấy tất cả đều là màu xanh hay màu vàng… Đây là sức người nhập định thấy, người khác thì không thấy. Như có người ở không trung thấy thành Càn-thát-bà đủ sự trang nghiêm đều thấy biết rõ không chướng ngại. Như cung điện của thần dạ-xoa cùng cung điện của người đồng ở một chỗ mà chẳng tạp loạn nhau, đều tùy theo nghiệp nên chỗ thấy chẳng đồng. Trong đây nói thần dạ-xoa ở chung trong thế giới của mình. Mình với họ cũng đồng ở mà mình không thấy họ, họ không thấy mình. Như nơi đại hải, tất cả sắc tượng của thế giới đều hiện trong đó. Như nhà ảo thuật, dùng ảo lực hiện những ảo sự. Cũng vậy, do sức oai thần của Di-lặc Bồ-tát, do sức huyễn trí bất tư nghì, do có thể dùng huyễn trí biết các pháp, do được sức tự tại của Bồ-tát, nên Thiện Tài thấy tất cả cảnh giới tự tại trang nghiêm trong lâu các. Bấy giờ Di-lặc Bồ-tát nhiếp thần lực vào trong lâu các, đàn chỉ ra tiếng bảo Thiện Tài rằng: Thiện nam tử dậy! Pháp tánh như vậy. Đây là những tướng của trí biết các pháp của Bồ-tát làm nhân duyên tụ tập mà hiện ra. Tự tánh như vậy, như huyễn, như mộng, như ảnh, như tượng, đều chẳng thành tựu. Khi vào trong lầu các này, biết tất cả pháp đều huyễn mộng. Bồ-tát Di-lặc đánh thức Thiện Tài, nói pháp tánh như vậy, không do ai làm, cũng không có gì được tạo nên. Đây là do trí biết các pháp của Bồ-tát làm nhân duyên tu tập mà hiện ra. Nghe tiếng đàn chỉ, Thiện Tài liền từ tam-muội dậy. Di-lặc Bồ-tát nói: Này Thiện nam tử! Ngươi ở trong giải thoát tự tại bất tư nghì của Bồ-tát thọ những hỷ lạc tam-muội của Bồ-tát, có thể thấy cung điện trang nghiêm của Bồ-tát thần lực gia trì, của trợ đạo lưu xuất, của nguyện trí hiển hiện. Ngươi thấy Bồ-tát hạnh, nghe Bồ-tát pháp, biết Bồ-tát đức, rõ Như Lai nguyện. Thiện Tài thưa: Bạch Đại thánh! Đây là sức oai thần gia hộ ghi nhớ của thiện tri thức. Bạch Đại thánh! Môn giải thoát này tên là gì? Di-lặc Bồ-tát nói: Này Thiện nam tử! Môn giải thoát này tên là tạng trí trang nghiêm nhập tất cả cảnh giới ba đời chẳng quên mất. Này Thiện nam tử! Trong môn giải thoát này có bất khả thuyết bất khả thuyết môn giải thoát, là chỗ chứng đắc của Bồ-tát Nhất sanh bổ xứ. Thiện Tài hỏi: Sự trang nghiêm này đi về đâu? Di-lặc Bồ-tát nói: Đi về nơi chỗ đến. Thiện Tài hỏi: Từ chỗ nào đến? Di-lặc Bồ-tát nói: Từ trong trí tuệ thần lực của Bồ-tát mà đến, nương thần lực của Bồ-tát mà an trụ, không có chỗ đi, cũng không có chỗ trụ, chẳng phải tích tập, chẳng phải thường hằng, xa rời tất cả. Đến chỗ này là chỗ cứu cánh. Thử hỏi lầu các trang nghiêm này từ đâu đến, đi về đâu? Nếu có đến đi, có nơi chốn, tức là tướng tạm của phàm phu, đó là pháp hữu vi. Bồ-tát Di-lặc trả lời rằng đi về nơi chỗ đến, chỗ đến là do trí tuệ thần lực của Bồ-tát mà đến. Nghĩa là trí tuệ của Bồ-tát thấy được như vậy, nên nói nương từ đó mà đến, do thần lực của Bồ-tát mà an trụ, sự thật nó không có chỗ đi cũng không có chỗ trụ. Chẳng phải tích tập, chẳng phải thường hằng, xa rời tất cả, không dính mắc gì cả, chỉ do trí nhập được. Như vậy để thấy rõ ràng pháp thân hiển hiện không có nơi chốn, bởi không có nơi chốn nên không đến không đi, chỉ có trí tuệ thần lực thấy được thôi. Này Thiện nam tử! Như long vương làm mưa, chẳng từ thân ra, chẳng từ tâm ra, chẳng có tích tập, mà chẳng phải là chẳng thấy. Chỉ do sức tâm niệm của long vương mà mưa tuôn khắp thiên hạ. Cảnh giới như vậy chẳng thể nghĩ bàn. Chỉ trong tâm niệm của long vương nghĩ mưa thì hiện ra mưa. Cũng vậy, chỉ có tâm niệm thể nhập bằng trí tuệ, thể nhập được thì thấy chứ không nói từ đâu đến. Này Thiện nam tử! Cũng vậy, những sự trang nghiêm trong lâu các này chẳng ở trong cũng chẳng ở ngoài, mà chẳng phải là không thấy. Chỉ do thần lực của Bồ-tát và sức thiện căn của ngươi, mà ngươi được thấy như vậy. Thường thường khi định vị một vật, chúng ta nói vật đó hoặc ở trong hoặc ở ngoài, nếu nói không phải ở trong ở ngoài thì tưởng như vật đó không có. Những sự trang nghiêm trong lầu các này không phải trong không phải ngoài, mà do thần lực của người tu và do thiện căn đầy đủ liền thấy. Cho nên pháp thân không có nơi chốn, nà không phải không có. Này Thiện nam tử! Như nhà ảo thuật làm những ảo sự không từ đâu lại, không đi đến đâu. Dầu không lại không đi, nhưng do ảo lực mà thấy rõ ràng. Đối với người kiến tánh thì thấy tất cả các pháp đều là huyễn hóa, không đến không đi duyên hợp liền có, không có chỗ quy tụ. Như chiều hôm qua chú thị giả hỏi tôi: Chỗ nào phát ra gió? Tôi liền cầm cây quạt trên tay phe phẩy, hỏi phải cây quạt phát ra gió không? Như vậy để biết rằng khi các pháp đủ nhân duyên thì hiện, không thể nói nơi chốn. Nhân duyên như huyễn thì nói thế nào ra nơi chốn, nếu có chỗ nơi thì có căn cứ, tức là có thật. Các pháp tạm có không thật nên nơi chốn cũng không thật. Những người cứ tìm hiểu thế giới này từ đâu có, hạn lượng thế nào... Phật cho rằng người đó làm chuyện vô ích, không cần thiết cho sự tu hành. Chỉ cần biết mình có tật xấu như tham, sân, si, ngã mạn... thì lo sửa đổi, trừ dẹp, đó là biết tu. Nếu cứ chạy theo các pháp nhân duyên huyễn hiện không có ngằn mé thì chỉ tốn thời giờ mà già chết đến nơi. Cũng vậy, sự trang nghiêm này không từ đâu lại, cũng không chỗ đi. Dầu không lại không đi, nhưng do quen tập sức huyễn trí bất tư nghì và do sức đại nguyện thuở xưa mà hiển hiện như vậy. Tuy sự trang nghiêm không đến không đi nhưng tích tập phước lực có công đức, do đại nguyện từ trước mà hiện rạ, không phải là không có. Đôi khi chúng ta hiểu lầm cho rằng tu đến nhập pháp thân không còn gì hết. Pháp thân không hình tướng nhưng bao nhiêu công đức, bao nhiêu nguyện lực của chúng ta tích tập, đến lúc đó sẽ hiện ra đầy đủ. Như người tích tập những việc xấu khi lâm chung sẽ hiện quả báo ác, tích tập những điều thiện khi lâm chung sẽ hiện quả báo lành. Người tu tích tập những công hạnh của Bồ-tát, khi nhập pháp thân thì tất cả cảnh lành sẽ hiện. Lúc đó nhìn lại tất cả công hạnh, tất cả pháp tu tập, tất cả số kiếp giáo hóa chúng sanh đều như giấc mộng đêm qua. Thiện Tài thưa: Đại thánh từ xứ nào đến đây? Di-lặc Bồ-tát nói: Này Thiện nam tử! Chư Bồ-tát không đến không đi, như vậy mà đến. Trước hỏi về cảnh, đây hỏi về người. Bồ-tát trả lời, không đến không đi, như vậy mà đến. Tại sao? Không đến không đi nghĩa là thể tánh bất động, như vậy mà đến nghĩa là tùy duyên ứng hiện. Không đi không ở, như vậy mà đến. Không chỗ, không chấp, không mất, không sanh, chẳng ở, chẳng dời, chẳng động, chẳng khởi, không luyến, không nhiễm, không nghiệp, không báo, chẳng khởi, chẳng diệt, chẳng đoạn, chẳng thường, như vậy mà đến. Trong tất cả chỗ không chấp trước, không dính mắc mà đến. Đó là lẽ thật, là lý chân thật của Bồ-tát. Kinh kim Cang nói Như Lai không có chỗ đến, không có chỗ đi. Không đến không đi là Như, tùy chúng sanh có duyên liền ứng hiện là Lai, nên nói như vậy mà đến. Như Lai lìa tất cả chấp trước không phải có, không phải không, không phải thường, không phải đoạn... mà tùy duyên ứng hiện. Ngài chỉ thẳng lý cứu cánh pháp thân, từ pháp thân mà ứng hóa. Này Thiện nam tử! Bồ-tát từ chỗ đại bi mà đến, vì muốn điều phục các chúng sanh. Đoạn trên nói thẳng về lý thể, đây nói về phần ứng hóa diệu dụng. Ứng hóa diệu dụng là do lòng đại bi mà các ngài đến để hóa độ chúng sanh. Từ chỗ đại từ mà đến, vì muốn cứu hộ các chúng sanh. Từ chỗ tịnh giới mà đến, vì tùy sở thích mà thọ sanh. Từ chỗ đại nguyện mà đến, vì nguyện lực thuở xưa gia trì. Từ chỗ thần thông mà đến, vì nơi tất cả xứ, tùy thích mà hiện. Chỗ nào thích thì hiện, không nói đến chỗ nào, đi chỗ nào. Chúng ta thường thắc mắc, không biết tu thiền rồi đi về đâu. Nếu có chỗ đi tức là còn nghiệp. Bồ-tát không có chỗ đi đến nhưng do lòng đại từ đại bi, nơi nào thấy chúng sanh đáng cứu độ thì đến. Do đại nguyện, tên tùy sự gia trì theo nguyện lực mà đến. Do thần thông tự tại, chỗ nào thích thì đến. Đó là tự do. Nếu có thật đi về chỗ nào tức là còn nghiệp quyết định, chưa thể gọi là Bồ-tát. Từ chỗ không lay động mà đến, vì hằng chẳng bỏ rời tất cả Phật. Chỗ không lay động là chỉ cho pháp thân, vì hằng chẳng bỏ rời tất cả Phật là từ pháp thân mà ứng hiện. Lúc nào cũng ở trong pháp thân của chư Phật, hay pháp thân Phật của mình. Từ chỗ không thủ xả mà đến, vì chẳng bắt buộc thân tâm phải qua lại. Từ chỗ phương tiện trí tuệ mà đến, vì tùy thuận tất cả chúng sanh. Từ chỗ thị hiện biến hóa mà đến, vì dường như ảnh tượng mà hóa hiện. Bồ-tát trả lời chỗ đến vì bản nguyện, vì từ bi, vì thần thông… ngài nói sự hoá độ của ngài trong hiện tại. Nhưng này Thiện nam tử! Ngươi hỏi ta từ chỗ nào mà đến? Này Thiện nam tử! Ta từ sanh quán, nước Ma-la-đề mà đến nơi đây. Này Thiện nam tử! Nước ấy có tụ lạc tên là Phòng Xá. Trong tụ lạc có trưởng giả tử tên là Cù-ba-la, ta vì hóa độ người ấy vào Phật pháp mà ở nơi đó. Lại vì tất cả nhân dân đáng được hóa độ nên sanh nơi đó để thuyết pháp. Lại cũng vì cha mẹ quyến thuộc nói pháp Đại thừa cho được xu nhập nên ở nơi đó, rồi từ đó đến đây. Chỗ Bồ-tát nói, chúng ta không thể lường được, nếu cố chấp vào một chỗ thì bị mắc kẹt không bao giờ thấy, không bao giờ hiểu. Thiện tài đã bước vào lầu các Tỳ-lô-giá-na Đại Trang Nghiêm, thấy tất cả pháp giới nhiệm mầu giao xen ảnh hiện. Do thần lực của Bồ-tát Di-lặc gia trì, những việc vừa trải qua như trong chớp mắt. Hiểu rằng việc đến đi của Bồ-tát vô ngại không chỗ trụ. Đến đây, Thiện tài thưa hỏi về sanh xứ của Bồ-tát. Thiện Tài thưa: Bạch Đại thánh! Những gì là sanh xứ của Bồ-tát? Sanh xứ tức là chỗ sanh của Bồ-tát. Không hỏi Bồ-tát sanh nơi nào, mà hỏi chỗ sanh, nghĩa là hỏi Bồ-tát từ nơi nào sanh ra. Di-lặc Bồ-tát nói: Này Thiện nam tử! Bồ-tát có mười thứ sanh xứ: Bồ-đề tâm là sanh xứ của Bồ-tát, vì là nhà sanh ra Bồ-tát. Tu đạo Bồ-tát lấy Bồ-đề tâm làm trên, Bồ-đề tâm là chỗ Bồ-tát nương tựa. Vì vậy nói Bồ-đề tâm là sanh xứ của Bồ-tát. Thâm tâm là sanh xứ của Bồ-tát, vì là nhà sanh thiện tri thức. Bồ-đề tâm là tâm ấp ủ mong mỏi đạt được giác ngộ, thâm tâm là tâm sâu dày đối với đạo. Trên nói giữ tâm Bồ-đề làm chỗ nương tựa, đây là làm cho tâm Bồ-đề ngày càng thêm sâu dày vững chãi, gọi đó là thâm tâm. Chư địa là sanh xứ của Bồ-tát, vì là nhà sanh các môn ba-la-mật. Theo Đại thừa như trong kinh Hoa Nghiêm, kể từ Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng và Thập địa gọi là chư địa. Đại nguyện là sanh xứ của Bồ-tát, vì là nhà sanh diệu hạnh. Đại bi là sanh xứ của Bồ-tát, vì là nhà sanh tứ nhiếp pháp. Khi chúng ta có đại nguyện mới khởi ra công hạnh phi thường. Như có người phát nguyện bố thí tất cả nội tài lẫn ngoại tài, vì thế họ mới làm được diệu hạnh là bố thí cả thân mạng. Sở đĩ có diệu hạnh, là gốc từ đại nguyện mà ra, nên nói đại nguyện là sanh xứ của Bồ-tát. Do có đại bi cho nên mới sanh ra tứ nhiếp pháp là bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự. Do có tâm đại bi nên khởi tâm bố thí, dùng tâm ái ngữ nhiếp phục đồng sự để giáo hóa chúng sanh. Động cơ chính yếu của tứ nhiếp pháp là đại bi. Quán sát đúng lý là sanh xứ của Bồ-tát, vì là nhà sanh Bát-nhã ba-la-mật. Hằng ngày chúng ta dùng trí tuệ quán chiếu biết các pháp tự tánh là không, duyên khởi như huyễn, gọi là quán sát đúng lý. Quán sát đúng lý thì trí tuệ tăng trưởng, trí tuệ càng sáng quán sát càng thâm sâu. Đại thừa là sanh xứ của Bồ-tát, vì là nhà sanh thiện xảo phương tiện. Đại thừa là pháp đầy đủ thể đại, tướng đại, dụng đại, tức là nhất tâm chân như. Đó là chỗ sanh ra bao nhiêu thiện xảo phương tiện, Bồ-tát lấy phương tiện thiện xảo làm cứu cánh nên Đại thừa là sanh xứ của Bồ-tát. Giáo hóa chúng sanh là sanh xứ của Bồ-tát, vì là nhà sanh chư Phật. Chư Phật luôn giáo hóa chúng sanh mà thành Phật quả, Bồ-tát lấy sự giáo hóa chúng sanh làm bổn phận, làm sanh xứ của mình. Trí tuệ phương tiện là sanh xứ của Bồ-tát, vì là nhà sanh vô sanh pháp nhẫn. Do có trí tuệ phương tiện nên chứng được pháp vô sanh, vì vậy trí tuệ phương tiện là nhà sanh của Bồ-tát. Tu hành tất cả pháp là sanh xứ của Bồ-tát, vì là nhà sanh tam thế tất cả Như Lai. Tất cả pháp môn đều gắng tu vì đó là nhà sanh ra chư Phật. Này Thiện nam tử! Đại Bồ-tát dùng Bát-nhã ba-la-mật làm mẹ, phương tiện thiện xảo làm cha. Kinh Kim Cang Bát-nhã nói, kinh này là mẹ sanh ra ba đời chư Phật. Do dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu nên được giác ngộ thành Phật, vì vậy trí Bát-nhã là mẹ chư Phật. Phương tiện thiện xảo là chỗ cứu cánh của Bồ-tát. Theo kinh này, ngài Văn-thù tượng trương cho trí tuệ, ngài Phổ Hiền tượng trưng cho phương tiện thiện xảo. Một vị là mẹ, một vị là cha của Bồ-tát. Cho nên khởi đầu Thiện Tài gặp ngài Văn-thù, nhưng cuối cùng trong cuộc tham vấn đạo lý là ngài Phổ Hiền. Vì từ trí tuệ khởi lên phương tiện thiện xảo tùy cơ giáo hóa chúng sanh, đầy đủ tất cả công hạnh mới thành được Phật quả, gọi đó là cứu cánh. Thí ba-la-mật làm nhũ mẫu, Giới ba-la-mật làm dưỡng mẫu, Nhẫn ba-la-mật làm đồ trang nghiêm, Tinh tấn ba-la-mật làm ông già dưỡng dục, Thiền ba-la-mật làm người rửa giặt. Do thiền nên chúng ta rửa sạch được phiền não. Tại sao? Như bây giờ vừa ngồi liền khởi nghĩ, khi khởi nghĩ thì xem như ô uế, là không thật liền buông bỏ không theo, khởi niệm liền lau sạch, hoặc là giặt rửa, giặt rửa luôn luôn thì tâm trong sáng. Vì thế nói Thiền ba-la-mật làm người rửa giặt. Thiện tri thức làm thầy dạy, tất cả phần Bồ-đề làm bạn, tất cả pháp lành làm quyến thuộc, tất cả Bồ-tát làm huynh đệ, Bồ-đề tâm làm nhà, tu hành đúng lý làm gia pháp, chư địa làm gia xứ. Tu hành đúng lý, đó là pháp luật trong nhà, chư địa là các bậc của Bồ-tát chính là chỗ cất nhà. Chư nhẫn làm gia tộc, đại nguyện làm gia giáo, đầy đủ các hạnh làm thuận gia pháp, khuyên phát Đại thừa làm nối gia nghiệp, pháp thủy rưới đầu Nhất sanh bổ xứ Bồ-tát làm Thái tử, thành tựu Bồ-đề là hay tịnh gia tộc. Đây dùng hình ảnh thí dụ ở trong gia đình giúp cho chúng ta biết để tu như vậy. Này Thiện nam tử! Bồ-tát siêu phàm phu địa, nhập Bồ-tát vị, sanh nhà Như Lai, trụ chủng tánh Phật như vậy, có thể tu các hạnh chẳng dứt Tam bảo, khéo giữ được chủng tộc Bồ-tát, tịnh Bồ-tát chủng, chỗ sanh tôn thắng, không lỗi ác, tất cả thế gian, thiên, nhân, ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn cung kính ngợi khen. Bồ-tát khi tu đầy đủ căn hạnh gọi là khéo giữ chủng tộc Bồ-tát, chỗ sanh của các ngài hơn tất cả, được trời người cung kính. Này Thiện nam tử! Đại Bồ-tát sanh nhà tôn thắng như vậy rồi, vì biết tất cả pháp như ảnh tượng nên đối với thế gian không ghét chê. Chúng ta tu theo hạnh Bồ-tát cũng phải học tâm lý này, phải luôn luôn sống với tâm lý này. Biết tất cả pháp như bóng bên ngoài, như hình phản chiếu trong gương không thật. Đã không thật thì không chê cũng không khen, nên nói đối với thế gian không ghét chê. Vì biết tất cả pháp như biến hóa nên không nhiễm trước các cõi hữu lậu. Như khi chúng ta được sanh trong nước giàu sang sung sướng, tâm cũng không nhiễm, vì biết giàu sang sung sướng đến đâu rồi ít mươi năm cũng mất, cũng tan. Vì biết tất cả pháp không có ngã nên giáo hóa chúng sanh lòng không nhàm mỏi. Biết không một pháp nào có chủ thể thật, chúng ta có thể chuyển hoá người dở thành người hay, từ mê thành ngộ mà không nhàm mỏi. Sở dĩ chúng ta giáo hóa chúng sanh mà chán nản là sao? Vì thấy dạy hoài mà họ không sửa, nếu cho là bệnh cố định của họ, thì chán nản không muốn dạy. Phải biết đó chỉ là tập nhiễm sâu dày không có chủ thể thật, cố gắng giáo hoá cái gì cũng có thể chuyển. Thấu được lẽ đó nên Bồ-tát không nhàm mỏi. Vì dùng đại từ bi làm thể tánh nên nhiếp thọ chúng sanh chẳng biết lao khổ. Dùng đại từ bi làm thể tánh, nên giáo hoá hướng dẫn dìu dắt chúng sanh, mãi mãi không thấy nhọc nhằn. Vì liễu đạt sanh tử dường như mộng nên trải qua tất cả kiếp mà không e sợ. Bồ-tát biết sanh tử như mộng, các ngài không sợ sanh tử. Khác hơn quan niệm Nhị thừa thấy Niết-bàn là an tịnh, sanh tử là khổ đau, nên sợ sanh tử mà cầu Niết-bàn. Tuy các ngài quán thấy cuộc đời là vô thường, nhưng không thấy nó như mộng, nên các ngài còn sợ. Bồ-tát cũng thấy cuộc đời vô thường như mộng, nhưng các ngài không sợ vô thường sanh tử, vì lòng đại bi nguyện độ chúng sanh, nên luôn trải qua số kiếp không chán sợ. Vì biết rõ các uẩn đều như huyễn nên thị hiện thọ sanh mà không nhàm mỏi. Biết thân mình như huyễn hoá, nên thị hiện thọ sanh không chán, không mỏi mệt. Vì biết các giới, xứ, đồng pháp giới nên nơi các cảnh giới không bị hoại diệt. Giới là thập bát giới, Xứ là thập nhị xứ. Vì biết thập bát giới, thập nhị xứ đồng với pháp giới nên nơi cảnh giới không bị hoại diệt. Như sắc giới có đồng với pháp giới không? Sắc pháp khi tụ lại có hình tướng, khi ta ra chúng ta thấy nó bị hoại diệt. Sắc pháp ấy hoặc là nhẹ, hoặc là nặng, phạm vi của nó có chừng ngằn, nếu theo duyên tan rã thành bụi nhỏ, mắt không nhìn thấy nữa, sắc đó sẽ trùm cả hư không. Trùm bằng cách nào? Khi dùng kính hiển vi nhìn trong hư không sẽ thấy những hạt bụi lăng xăng. Kinh Lăng-nghiêm nói thể tánh đất, nước, gió, lửa đều trùm cả hư không, bởi trùm cả hư không nên đồng pháp giới. Nội căn như nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý; ngoại trần như sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp… thể tánh của chúng cũng đồng với pháp giới. Vì thể đồng pháp giới, nên không bị hoại diệt. Chúng ta thấy có tướng sanh nên nói có tướng hoại, nhận được thể vô sanh thì nơi các cảnh giới không bị hoại diệt. Vì biết tất cả tưởng như dương diệm nên vào trong các loài mà chẳng sanh điên đảo mê hoặc. Tưởng là chỉ cho tâm tưởng của con người, tâm tưởng ấy không thật, chẳng khác nào như nắng loá chập chờn, biết rõ thì không bị điên đảo mê hoặc. Vì đạt tất cả pháp đều như huyễn nên vào cảnh giới ma chẳng sanh nhiễm trước. Biết tất cả pháp như huyễn, vào cảnh giới ma không nhiễm trước. Cảnh giới ma có hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất, cảnh giới ngũ dục cám dỗ. Như cõi trời Đao-lợi, ngũ dục đầy đủ hay tất cả những gì muốn là được, cõi đó với phàm phu rất ưa thích, nhưng với Bồ-tát xem như cảnh ma chướng ngại việc tu. Ma đó là ma ngũ dục, Bồ-tát biết ngũ dục như huyễn, nên ma ngũ dục không thể quấy nhiễu được. Trường hợp thứ hai, cảnh giới do tu thiền hiện ra. Như chúng ta đang ngồi thiền, thấy Phật hiện ra trước mắt, lúc ấy phải làm sao? Nên biết đó là huyễn hóa không thật, không chấp nhận, không chấp nhận nên không bị quấy nhiễu. Nếu thấy Phật, mừng rỡ mất tỉnh giác, hoặc đi khoe với mọi người đó là bị nhiễm. Khi bị nhiễm thì ma tìm cơ hội dần dần lừa đảo, dẫn dắt mình đi con đường ma. Chúng ta biết các pháp như huyễn, thân này hiện có đây là như huyễn, huống nữa trong khi tu hiện bất cứ hình ảnh gì cũng đều như huyễn liền không chấp nhận. Bởi không chấp nhận nên không vào cảnh giới ma. Vì biết pháp thân nên tất cả phiền não chẳng khi dối được. Biết pháp thân nên tất cả phiền não không dối gạt. Chỗ này như trong kinh Lăng-nghiêm nói, nếu người mê thì nhận giặc làm con, nghĩa là bị giặc dối gạt tưởng nó là người thân của mình. Giặc là gì? Là những vọng tưởng điên đảo. Người chấp nhận vọng tưởng điên đảo là nhận giặc làm con. Nếu nhận được pháp thân chân thật nơi mình, lúc đó không còn nhận giặc làm con, không bị phiền não khi dối. Vì được tự tại nên nơi tất cả loài đều thông đạt vô ngại. Vì được tự tại rồi, nên đối với tất cả loài thông suốt không có gì ngăn ngại. Này Thiện nam tử! Thân ta sanh khắp tất cả pháp giới, đồng sắc tướng sai biệt với tất cả chúng sanh, đồng ngôn âm sai khác với tất cả chúng sanh, đồng những danh hiệu với tất cả chúng sanh, đồng những cử chỉ sở thích của tất cả chúng sanh để tùy thuận thế gian giáo hóa điều phục, thị hiện thọ sanh đồng với tất cả chúng sanh thanh tịnh, những sự nghiệp làm ra đồng với tất cả phàm phu chúng sanh. Đồng với tâm tưởng của tất cả chúng sanh, đồng thệ nguyện với tất cả Bồ-tát mà hiện thân mình đầy khắp pháp giới. Bồ-tát Di-lặc nói, thân ngài khắp cả pháp giới, sắc tướng ngài đồng sắc tướng sai biệt với tất cả chúng sanh, đồng ngôn âm sai khác với tất cả chúng sanh. Ngài đã thể nhập pháp thân nên thân sanh đồng pháp giới, ứng hiện tùy theo sở thích của chúng sanh để giáo hóa họ. Này Thiện nam tử! Ta vì hóa độ những người thuở xưa cùng ta đồng tử công hạnh mà nay thối thất tâm Bồ-đề. Cũng vì giáo hóa cha mẹ thân thuộc. Cũng vì giáo hóa các Bà-la-môn khiến họ bỏ tánh kiêu mạn để được sanh trong chủng tánh Như Lai, nên ta sanh tại nhà Bà-la-môn nơi tụ lạc Phòng Xá trong nước Ma-la-đề ở Diêm-phù-đề này. Kết luận, sở dĩ ngài sanh ra ở nước Ma-la-đề trong dòng Bà-la-môn vì muốn giáo hoá những người bạn đồng tu thuở xưa mà nay thối thất đạo tâm, vì giáo hoá cha mẹ thân thuộc đời này đời trước, vì chinh phục Bà-la-môn dứt tâm kiêu mạn trở về Phật pháp. Như vậy người tu là có hiếu hay bất hiếu? Người ta cứ trách phiền kẻ tu hành là bội bạc, bỏ hết cha mẹ anh em không nghĩ tưởng, đọc kinh này mới thấy chính người tu thật là thương cha mẹ, thương quyến thuộc, thương tất cả, Tại sao? Người xuất gia biết cuộc đời như ảo mộng, nay còn mai mất, có đó rồi mất đó, mỗi người tự theo nghiệp, không ai cứu được ai. Vì thế nỗ lực tu, để sau này cứu độ cha mẹ. Như cha mẹ nuôi dưỡng săn sóc chúng ta rất cực khổ, đến khi lớn lên có gia đình thì lại lo nuôi con, bỏ mặc cha mẹ cho tới khi cha mẹ chết. Lúc trước cha mẹ vì thương con tạo nghiệp rồi lúc chết mang lấy nghiệp mà đi, mình biết đâu mà kiếm. Đến phiên mình gây tạo nghiệp, rồi cũng tới khi chết, bị nghiệp lôi kéo, không ai cứu được ai. Chúng ta có một chút duyên lành thức tỉnh biết rằng cuộc đời là ảo mộng, mỗi chúng sanh không giác ngộ nên bị nghiệp lôi kéo. Bây giờ chúng ta cần phải mượn thân như huyễn cảnh như huyễn này để tỉnh giác tu hành, đạt đến trình độ tự tại, lúc đó mới quán sát cha mẹ mình sanh nơi nào rồi đến đó tùy duyên giáo hóa, để khiến song thân được thoát khỏi vòng trầm luân sanh tử. Như thế mới thật là lòng chân thật hiếu thảo. Người thế gian không thấy xa, chỉ thấy trước mắt đi tu bỏ cha bỏ mẹ gọi là con bất hiếu. Nhưng không ngờ chính vì thương cha mẹ ngày mai không biết làm sao cho nên chúng ta mới tu. Bồ-tát Di-lặc đã chỉ rõ, lý do sanh vào chỗ này vì ngài muốn độ cha mẹ thân thuộc đời trước. Lời dạy của ngài giúp chúng ta thấy rõ ý nghĩa của sự tu hành không phải là bội bạc, mà chính vì muốn hóa độ, muốn chuyển những người thân thuộc của mình trở về con đường giác ngộ, thoát khỏi vòng trầm luân. Muốn làm việc lớn thì phải hy sinh việc nhỏ, đó là lẽ đương nhiên. Này Thiện nam tử! Ta ở trong đại lâu các này tùy tâm sở thích của các chúng sanh dùng nhiều phương tiện để giáo hóa điều phục. Đại lầu các trang nghiêm, tức là lầu các pháp thân. Từ nơi lầu các pháp thân đó, tùy theo sở thích của chúng sanh, ngài tùy phương tiện ứng hiện, để giáo hóa điều phục họ. Này Thiện nam tử! Ta vì tùy thuận tâm chúng sanh, ta vì thành thục chư thiên đồng hành nơi cung Đâu-suất, ta vì thị hiện Bồ-tát phước trí biến hóa trang nghiêm siêu quá tất cả Dục giới cho họ bỏ rời những dục lạc, vì cho họ biết hữu vi đều vô thường, vì cho họ biết chư thiên hễ thạnh tất có suy, vì muốn thị hiện lúc sắp giáng sanh dùng đại trí pháp môn cùng chư Bồ-tát Nhất sanh bổ xứ cùng nhau đàm luận, vì muốn nhiếp hóa những người đồng hành, vì muốn giáo hóa những kẻ mà đức Thích-ca Như Lai để sót lại cho họ đều được khai ngộ như hoa sen nở, nên khi mạng chung ta sẽ sanh lên trời Đâu-suất. Này Thiện nam tử! Lúc ta viên mãn bổn nguyện thành Nhất thiết trí, chứng vô thượng Bồ-đề, thời ngươi và Văn-thù-sư-lợi đều được thấy ta. Khi Bồ-tát Di-lặc thì Thiện Tài và Bồ-tát Văn-thù sẽ thấy ngài. Đến đây phần của Bồ-tát Di-lặc đã xong, ngài giới thiệu Bồ-tát Văn-thù, tức là Thiện Tài trở về bậc thiện tri thức đầu tiên. Này Thiện nam tử! Ngươi nên qua đến chỗ Văn-thù-sư-lợi thiện tri thức mà hỏi rằng: Bồ-tát thế nào học Bồ-tát hạnh, thế nào nhập Phổ Hiền hạnh môn, thế nào thành tựu, thế nào quảng đại, thế nào tùy thuận, thế nào thanh tịnh, thế nào viên mãn? Văn-thù-sư-lợi sẽ vì ngươi mà phân biệt diễn nói. Tại sao vậy? Vì những đại nguyện của Văn-thù-sư-lợi, chẳng phải vô lượng trăm ngàn ức na-do-tha Bồ-tát khác có được. Đây là ca ngợi công đức của ngài Văn-thù. Này Thiện nam tử! Văn-thù-sư-lợi có hạnh quảng đại, nguyện vô biên, xuất sanh tất cả Bồ-tát công đức không thôi dứt. Văn-thù-sư-lợi thường làm mẹ của vô lượng trăm ngàn ức na-do-tha chư Phật. Chúng ta học kinh Đại thừa cần phải đạt lý, Văn-thù-sư-lợi là chỉ cho Căn bản trí khai phát buổi đầu, không một người nào phát tâm tu hành mà không do Căn bản trí khai phát. Vì vậy Căn bản trí là mẹ của chư Phật. Thường làm thầy của vô lượng trăm ngàn ức na-do-tha Bồ-tát. Giáo hóa thành tựu vô lượng chúng sanh. Tiếng đồn vang khắp mười phương thế giới. Thường làm thuyết pháp sư trong tất cả chúng hội của chư Phật. Được tất cả Như Lai khen ngợi, trụ nơi trí thậm thâm, có thể thấy tất cả pháp như thật, thông đạt tất cả cảnh giới giải thoát, rốt ráo những hạnh của Phổ Hiền. Này Thiện nam tử! Văn-thù-sư-lợi là thiện tri thức của ngươi, làm cho ngươi được sanh nhà Như Lai, trưởng dưỡng tất cả thiện căn, phát khởi tất cả pháp trợ đạo, gặp thiện tri thức chân thật khiến người tu tất cả công đức, nhập tất cả nguyện võng, trụ tất cả đại nguyện, vì ngươi mà nói tất cả pháp bí mật của Bồ-tát, hiện tất cả hạnh bất tư nghì của Bồ-tát, thuở xưa cùng người đồng sanh đồng hành. Căn bản trí không bao giờ rời chúng sanh nên đồng sanh đồng hành. Chúng sanh không biết nên mù mờ tối tăm, nếu tỉnh giác thì Căn bản trí ấy sẽ chỉ đường tu hành đúng với đạo lý. Vì thế nên ngươi phải đến chỗ Văn-thù-sư-lợi chớ có nhàm mỏi. Văn-thù-sư-lợi sẽ vì ngươi mà nói tất cả công đức. Tại sao vậy? Vì trước kia ngươi thấy thiện tri thức, nghe Bồ-tát hạnh, nhập môn giải thoát, đầy đủ đại nguyện, đều do thần lực của Văn-thù-sư-lợi. Văn-thù-sư-lợi đều được rốt ráo tất cả xứ. Lúc đó Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Di-lặc Bồ-tát, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi. Y lời dạy của Di-lặc Bồ-tát, Thiện Tài đi qua hơn một trăm mười thành đến nước Phổ Môn, thành Tô-ma-na, ở nơi cửa thành suy tìm Văn-thù-sư-lợi, trông được gặp gỡ kính thờ. Bây giờ Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát từ xa đưa tay hữu qua khỏi một trăm mười do-tuần áp trên đầu Thiện Tài mà nói rằng: Ngài Văn-thù ở đâu mà khi Thiện Tài đến thành đó không thấy, từ xa ngài vói tay để trên đầu Thiện Tài đồng tử? Đó là chỗ chúng ta cần chú ý. Lúc ban đầu Thiện Tài phát tâm thì được ngài Văn-thù hiện thân trực tiếp giáo hóa. Kinh này luôn lấy số mười làm gốc để chỉ cho pháp môn viên mãn, vì thế đi qua hơn một trăm mười thành, ngài Văn-thù cũng ở xa một trăm mười do-tuần. Nhưng đến khi viên mãn công hạnh, được vào trong lầu các của đức Di-lặc rồi trở ra thì ngài Văn-thù chỉ gián tiếp đưa tay xoa đầu. Căn bản trí là trí đầu tiên khai phát chúng ta khởi dụng công tu hành, khi tu viên mãn thì cũng lại trở về với Căn bản trí. Căn bản trí lúc đầu với Căn bản trí lúc sau có khác, lúc mới tu Căn bản trí chỉ sáng lên đôi chút để hướng dẫn đường đi, khi viên mãn thì trí trước và trí sau sắp hợp thành một, không còn tên Căn bản trí như lúc đầu. Vì thế đến lúc này không còn hình ảnh ngài Văn-thù ngồi trên tòa giáo hóa nữa, mà chỉ là một bàn tay duỗi tới để khuyến hóa, nhắc nhở. Đến đây Thiện Tài sắp viên mãn Sai biệt trí nên phần này là phần của ngài Phổ Hiền, vì vậy ngài Văn-thù chỉ được giới thiệu sơ qua, không chính thức như lúc đầu. Chúng ta thấy rõ rằng thật ra không có hai trí. Khi mê thì trí Căn bản chìm lặng, đủ cơ duyên tốt thì trí ấy khởi lên cho chúng ta thấy được đúng đường lối tu hành. Khi tu hành dứt được bao nhiêu phiền não, Căn bản trí ngời sáng, đầy đủ diệu hạnh biến thành Sai biệt trí. Sai biệt trí với Căn bản trí không khác, một bên đứng về diệu dụng một bên đứng về phần sơ khởi. Như chúng ta thuở bé vào trường học nhờ thầy giáo dạy a, b, c dần dần mở trí khôn, đó gọi là trí khôn ban đầu. Học dần lên mười năm, hai chục năm... trở thành một nhà bác học. Trí khôn của nhà bác học ngày nay và trí khôn của chú bé học lớp a, b, c ngày xưa là hai hay một? Ngày xưa chỉ biết a, b, c còn bây giờ biết tất cả, nếu chia từng giai đoạn thì lúc đầu là lúc mới mở trí, lúc này là lúc trí được tròn đầy. Nói là hai trí nhưng không rời trí ban đầu mà có trí sau, hai mà một, một mà hai. Đây cũng vậy, ngài Văn-thù với ngài Phổ Hiền không phải hai cũng không phải một. Đến phần thành tựu của Thiện Tài, Bồ-tát Văn-thù đưa tay xoa đầu để ấn chứng cho sự viên mãn. Lành thay! Lành thay! Này Thiện nam tử! Nếu rời tín căn thời tâm yếu kém, lo sợ ăn năn công hạnh chẳng tròn đủ, thối thất tinh cần, nơi một thiện căn sanh lòng trụ trước, với chút ít công đức đã cho là đủ. Chẳng thể phát khởi hạnh nguyện, chẳng được thiện tri thức nhiếp thọ, chẳng được Như Lai ức niệm, chẳng biết được pháp tánh như vậy, lý thú như vậy, pháp môn như vậy, công hạnh như vậy, cảnh giới như vậy, đều không thể biết khắp, biết nhiều, tột nguồn đáy, hiểu rõ, xu nhập giải thoát, phân biệt, chứng biết, chứng đắc, tất cả điều trên đây đều không thể được. Bồ-tát Văn-thù nhắc lại cho Thiện Tài biết, sở dĩ người tu thành tựu viên mãn mọi công đức, mọi trí tuệ đều gốc bởi tín căn sâu dày. Nhờ gốc tin sâu dày mới có thể tiến được, nếu gốc tin kém yếu thì không thể nào đến chỗ viên mãn. Như khi chúng ta tin rằng tu quyết định thành Phật mới thôi, đây là lòng tin quả quyết không có gì lay chuyển. Do lòng tin sâu dày đó mà tiến lên Phật quả. Nếu niềm tin yếu đuối thì tu được vài ngày, nghe người nói tu thành Phật rất lâu, có pháp này dạy tu chừng ba tháng là biết bay, có thần thông... Nghe nói mau và hay nên thích liền chuyển hướng, đó là do lòng tin kém yếu nên không tiến đến Phật quả. Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát tuyên nói pháp ấy cho Thiện Tài được lợi ích hoan hỷ thành tựu vô số pháp môn, đầy đủ vô lượng đại trí quang minh, khiến được Bồ-tát vô biên tế đà-la-ni, vô biên tế nguyện, vô biên tế tam muội, vô biên tế thần thông, vô biên tế trí, khiến vào đạo tràng Phổ Hiền hạnh. Khi Bồ-tát Văn-thù nhắc lại, Thiện Tài liền được lợi ích lớn, thành tựu vô số pháp môn, đầy đủ vô lượng đại trí quang minh... được vào đạo tràng Phổ Hiền. Xưa, đức Phật thành Phật không phải thành vị Phật nào xa lạ, mà thành vị Phật sẵn có của mình. Đây cũng vậy, sau khi Thiện Tài vào được lầu các Di-lặc rồi trở ra thì Bồ-tát giới thiệu ai? Giới thiệu vị thiện tri thức ban đầu của mình, chỗ này không khác đức Phật thành Phật thuở xưa. Nghĩa là trải qua mấy mươi vị thiện tri thức y chỉ cuối cùng cũng trở lại vị thầy cũ của mình. Như vậy để thấy thật rõ ràng không hai. Lại để Thiện Tài ở tại chỗ cũ, Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát nhiếp thần lực chẳng hiện. Thiện Tài tư duy quán sát nhất tâm nguyện thấy Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát, và muốn thấy Đại thiên thế giới vi trần số thiện tri thức để gần gũi cung kính phụng thờ tuân hành giáo pháp không chống trái, tăng trưởng xu cầu tất cả trí tuệ, làm rộng biển đại bi, thêm mây đại từ, quán sát khắp mọi loài sanh lòng hoan hỷ, an trụ pháp môn tịch tịnh của Bồ-tát, duyên khắp tất cả cảnh giới quảng đại, học tất cả công đức quảng đại của Phật, nhập tất cả tri kiến quyết định của Phật, thêm pháp trợ đạo cho Nhất thiết trí, khéo tu thâm tâm của tất cả Bồ-tát, biết tam thế Phật thứ đệ xuất thế, vào biển nhất thiết pháp, chuyển xe nhất thiết pháp, sanh trong tất cả thế gian, nhập nơi tất cả Bồ-tát nguyện hải, trụ tất cả kiếp tu Bồ-tát hạnh, chiếu rõ tất cả cảnh giới Như Lai, trưởng dưỡng chư căn của tất cả Bồ-tát, được quang minh thanh tịnh của Nhất thiết trí, chiếu khắp mười phương, trừ hết tối tăm chướng ngại, biết khắp pháp giới, hiện thân mình khắp tất cả cõi, tất cả loài, dẹp tất cả chướng, vào khắp vô ngại, trụ nơi bậc pháp giới bình đẳng, quán sát cảnh giới giải thoát của Phổ Hiền, được nghe danh tự hạnh nguyện của Phổ Hiền đại Bồ-tát, cũng nghe trợ đạo, chánh đạo, bậc chư địa, phương tiện địa, nhập địa, thắng tấn địa, trụ địa, tu tập địa, cảnh giới địa, oai lực địa, đồng trụ khát ngưỡng. Sau khi gặp Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, Thiện Tài liền phát tâm mạnh mẽ, nguyện phụng thờ vi trần số thiện tri thức, được tất cả biển trí tuệ, được tất cả pháp môn, được nghe danh tự hạnh nguyện của Phổ Hiền... Tóm lại, là nguyện được trùm khắp, tâm trải khắp hết không còn hạn cuộc, không còn ngằn mé. Vì có tâm rộng lớn như thế mới phù hợp với hạnh nguyện Phổ Hiền. Phát tâm rộng rãi, là khi tâm thể nhập pháp thân thanh tịnh trọn vẹn liền dấy khởi Sai biệt trí, tùy căn cơ chúng sanh mà giáo hóa, không mãi an trụ nơi pháp thân thanh tịnh. Thiện Tài muốn thấy Phổ Hiền Bồ-tát, liền ở trước tòa sư tử của Tỳ-lô-giá-na Như Lai nơi Kim Cang Tạng Bồ-đề tràng. Trở lại tòa sư tử của Tỳ-lô-giá-na Như Lai nơi Kim Cang Tạng Bồ-đề Tràng, tức là trở về chỗ ban đầu nói pháp. Trên tòa Bảo liên hoa tạng, phát tâm rộng lớn như hư không giới, khởi tâm vô ngại, Bồ-tát cả cõi, rời tất cả chấp, tâm vô ngại đi trong tất cả pháp vô ngại, tâm vô ngại vào khắp tất cả thập phương, tâm thanh tịnh vào cảnh giới của Nhất thiết trí, tâm minh liễu quán sát đạo tràng trang nghiêm, tâm quảng đại nhập tất cả Phật pháp hải, tâm châu biến hóa độ tất cả chúng sanh giới, tâm vô lượng tịnh tất cả Phật độ, tâm vô tận trụ tất cả kiếp, tâm cứu cánh xu hướng Như Lai thập lực. Lúc Thiện Tài phát khởi những tâm như vậy, do sức thiện căn của mình, được sức gia hộ của tất cả Như Lai, do sức đồng thiện căn của Phổ Hiền Bồ-tát, nên Thiện Tài thấy mười thứ thoại tướng, như là: Đến đây tâm ngài đã thanh tịnh vô ngại, do thiện căn và được sức gia hộ của Như Lai, do sức đồng thiện căn của Bồ-tát Phổ Hiền, nên Thiện Tài thấy mười tướng lành. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, tất cả Như Lai thành Đẳng chánh giác. Kinh Duy-ma nói tâm tịnh thì Phật độ tịnh, khi tâm thanh tịnh, thể nhập pháp thân thanh tịnh, khởi tâm vô chướng ngại thanh tịnh, liền thấy cõi Phật thanh tịnh, liền thấy Như Lai thành Phật độ chúng sanh. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh không các ác đạo. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh nghiêm sức với những diệu liên hoa. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, tất cả chúng sanh thân tâm thanh tịnh. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, trang nghiêm với những châu bảo. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, tất cả chúng sanh tướng tốt nghiêm thân. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, những mây trang nghiêm che phía trên. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, tất cả chúng sanh mến yêu nhau, giúp ích nhau, chẳng hại nhau. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, đạo tràng trang nghiêm. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, tất cả chúng sanh tâm thường niệm Phật. Thiện Tài lại thấy mười tướng quang minh, như là: Thấy bao nhiêu vi trần của tất cả thế giới, trong mỗi mỗi vi trần xuất sanh tất cả thế giới vi trần số Phật quang minh võng vân chiếu sáng khắp nơi. Bấy giờ Thiện Tài thấy trong mỗi hạt bụi xuất sanh vi trần các cõi Phật, trong các cõi Phật ánh sáng chiếu khắp, phù hợp phẩm Như Lai Xuất Hiện, trong một hạt bụi có quyển kinh lượng trùm khắp Tam thiên đại thiên thế giới. Đây là biểu trưng ngài Thiện Tài đã thành Phật, nên thấy trong tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, như trong mỗi hạt bụi chứa vô lượng cõi nước và vô lượng cõi Phật quang minh sáng suốt. Tinh thần kinh Hoa Nghiêm hiển thị một là tất cả tất cả là một, không có sự sai biệt, tức là trần trần vô ngại. Từng hạt bụi đều thông suốt không ngại nhau, tất cả vi trần xuất sanh ra tất cả nào là quang minh võng vân, nào là quang minh luân vân, nào là sắc tượng bảo vân... thấy tất cả rõ ràng không sai biệt. Trong mỗi mỗi vi trần xuất sanh tất cả thế giới vi trần số Phật quang minh luân vân nhiều thứ sắc tướng cùng khắp pháp giới. Trong mỗi mỗi vi trần xuất sanh tất cả thế giới vi trần số Phật sắc tượng bảo vân cùng khắp pháp giới. Trong mỗi mỗi vi trần xuất sanh tất cả thế giới vi trần số Phật quang diệm luân vân cùng khắp pháp giới. Trong mỗi mỗi vi trần xuất sanh tất cả thế giới vi trần số những diệu hương vân cùng khắp mười phương khen ngợi tất cả hạnh nguyện đại công đức hải của Phổ Hiền. Trong mỗi mỗi vi trần xuất sanh tất cả thế giới vi trần số nhật nguyệt tinh tú vân, đều phóng quang minh của Phổ Hiền Bồ-tát chiếu khắp pháp giới. Trong mỗi mỗi vi trần xuất sanh tất cả thế giới vi trần số tất cả chúng sanh thân sắc tượng vân phóng Phật quang minh chiếu khắp pháp giới. Trong mỗi mỗi vi trần xuất sanh tất cả thế giới vi trần số tất cả Phật sắc tượng ma-ni vân cùng khắp pháp giới. Trong mỗi mỗi vi trần xuất sanh tất cả thế giới vi trần số Bồ-tát thân sắc tượng vân đầy khắp pháp giới, khiến tất cả chúng sanh đều được xuất ly, đều mãn sở nguyện. Trong mỗi mỗi vi trần xuất sanh tất cả thế giới vi trần số Như Lai thân sắc tượng vân, nói thệ nguyện quảng đại của tất cả Phật cùng khắp pháp giới. Thiện Tài thấy mười thứ quang minh này rồi, nghĩ rằng: Nay tôi sẽ được thấy Phổ Hiền Bồ-tát thêm lớn thiện căn. Thấy tất cả Phật, nơi tất cả Bồ-tát sanh tri giải quyết định, được Nhất thiết trí. Thiện Tài nhiếp khắp thiện căn, nhất tâm cầu thấy Phổ Hiền Bồ-tát, khởi đại tinh tấn tâm không thối chuyển, liền dùng phổ nhãn quán sát mười phương tất cả chư Phật và chúng Bồ-tát. Bao nhiêu cảnh giới đã thấy đều tưởng là được thấy Phổ Hiền Bồ-tát. Dùng trí tuệ nhãn quán sát Phổ Hiền đạo, tâm quảng đại dường như hư không, đại bi kiên cố như kim cang. Nguyện tận vị lai thường được theo Phổ Hiền, niệm niệm tùy thuận tu Phổ Hiền hạnh, thành tựu trí tuệ, nhập Như Lai cảnh, trụ Phổ Hiền địa. Đến đây Thiện Tài đã viên mãn công hạnh tu hành, bây giờ phát nguyện dùng trí tuệ xem xét căn cơ chúng sanh giáo hóa tột đời vị lai không bờ mé. Quán sát hạnh Phổ Hiền, tinh tấn dũng mãnh không lui sụt, tưởng thấy tất cả cảnh giới đều là cảnh giới của ngài Phổ Hiền, lúc đó liền thấy ngài Phổ Hiền hiện ra. Chúng ta thấy rõ rằng khi người tu hạnh Bồ-tát đến chỗ viên mãn vào Phật quả, liền vận dụng Sai biệt trí tùy duyên để giáo hóa chúng sanh. Khi vận dụng Sai biệt trí, tức là trường hợp của Thiện Tài xem thấy khắp mười phương trí tuệ viên mãn, biết tất cả từng hạt bụi trùm tất cả cõi nước, không ngại không chướng. Lúc đó ngài vận dụng hạnh nguyện Phổ Hiền để gặp Bồ-tát Phổ Hiền. Bấy giờ Thiện Tài đồng tử liền thấy Phổ Hiền Bồ-tát ở trong chúng hội trước đức Như Lai, ngồi tòa sư tử bảo liên hoa, chúng Bồ-tát vây quanh rất là tôn nghiêm, thế gian không sánh được, cảnh giới trí tuệ vô lượng vô biên khó lường khó nghĩ, đồng tam thế Phật, tất cả Bồ-tát không quán sát được. Thấy thân Phổ Hiền, mỗi mỗi lỗ lông xuất sanh tất cả thế giới vi trần số quang minh vân, khắp pháp giới hư không giới tất cả thế giới, trừ diệt tất cả chúng sanh khổ hoạn, khiến các Bồ-tát sanh đại hoan hỷ. Thấy mỗi mỗi lỗ lông xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số những sắc hương diệm vân, khắp pháp giới hư không giới tất cả chư Phật chúng hội đạo tràng, để huân tập tất cả. Thấy mỗi mỗi lỗ lông xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số tạp hoa vân, khắp pháp giới hư không giới tất cả chư Phật chúng hội đạo tràng mưa những diệu hoa. Thấy mỗi mỗi lỗ lông xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số hương thọ vân, khắp pháp giới hư không giới tất cả chư Phật chúng hội đạo tràng mưa những diệu hương. Thấy mỗi mỗi lỗ lông xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số diệu y vân, khắp pháp giới hư không giới chư Phật chúng hội đạo tràng mưa những diệu y. Thấy mỗi mỗi lỗ lông xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số bảo thọ vân, khắp pháp giới hư không giới tất cả chư Phật chúng hội đạo tràng, mưa ma-ni bảo. Thấy mỗi mỗi lỗ lông xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số sắc giới thiên thân vân sung mãn pháp giới, khen ngợi Bồ-đề tâm. Thấy mỗi mỗi lỗ lông xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số phạm thiên thân vân, khuyến thỉnh chư như lai chuyển diệu pháp luân. Thấy mỗi mỗi lỗ lông xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số Dục giới thiên vương thân vân, hộ trì pháp luân của tất cả Như Lai. Thấy mỗi mỗi lỗ lông, trong mỗi niệm xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số tam thế Phật sát vân, khắp pháp giới hư không giới vì các chúng sanh, những người không chỗ về nương mà làm chỗ về nương, những người không chỗ che chở mà làm chỗ che chở, những người không chỗ y chỉ mà làm chỗ y chỉ. Thấy mỗi mỗi lỗ lông, trong mỗi niệm xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số thanh tịnh Phật sát vân khắp pháp giới hư không giới tất cả chư Phật xuất thế trong đó, chúng hội Bồ-tát thảy đều sung mãn. Thấy mỗi mỗi lỗ lông, trong mỗi niệm xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số tịnh bất tịnh Phật sát vân khắp pháp giới hư không giới, khiến tạp nhiễm chúng sanh đều được thanh tịnh. Thấy mỗi mỗi lỗ lông, trong mỗi niệm xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số bất tịnh tịnh Phật sát vân khắp pháp giới hư không giới, khiến tạp nhiễm chúng sanh đều được thanh tịnh. Thấy mỗi mỗi lỗ lông, trong mỗi niệm xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số bất tịnh Phật sát vân khắp pháp giới hư không giới, khiến thuần nhiễm chúng sanh đều được thanh tịnh. Thấy mỗi mỗi lỗ lông, trong mỗi niệm xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số chúng sanh thân vân khắp pháp giới hư không giới, tùy sở nghi giáo hóa chúng sanh đều khiến phát tâm vô thượng Bồ-đề. Thấy mỗi mỗi lỗ lông, trong mỗi niệm xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số Bồ-tát thân vân biến pháp giới hư không giới tán dương những danh hiệu của chư Phật làm cho chúng sanh tăng trưởng thiện căn. Thấy mỗi mỗi lỗ lông, trong mỗi niệm xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số Bồ-tát thân vân khắp pháp giới hư không giới tất cả Phật sát tuyên dương tất cả chư Phật Bồ-tát, những thiện căn sanh khởi từ khi sơ phát tâm. Thấy mỗi mỗi lỗ lông, trong mỗi niệm xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số Bồ-tát thân vân khắp pháp giới hư không giới, trong mỗi Phật sát nơi tất cả Phật sát tuyên dương tất cả Bồ-tát nguyện hải và thanh tịnh diệu hạnh của Phổ Hiền Bồ-tát. Thấy mỗi mỗi lỗ lông, trong mỗi niệm xuất sanh Phổ Hiền Bồ-tát hạnh vân khiến tâm tất cả chúng sanh được mãn túc, tu tập đầy đủ đạo Nhất thiết trí. Thấy mỗi mỗi lỗ lông xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số Chánh giác thân vân, nơi tất cả Phật sát hiện thành chánh giác, khiến các Bồ-tát thêm lớn pháp Đại thừa thành Nhất thiết trí. Thiện Tài thấy cảnh giới thần thông tự tại của Phổ Hiền Bồ-tát như vậy, thân tâm hoan hỷ, hớn hở vô lượng. Lại thấy mỗi mỗi thân phần, mỗi mỗi lỗ chân lông của Phổ Hiền đều có Đại thiên thế giới phong luân, thủy luân, địa luân, hỏa luân, đại hải, giang hà và những Bảo Sơn, Tu-di, Thiết Vi, thành ấp, cung điện, viên lâm, tất cả xứ của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Diêm-la-vương, những cung điện của thiên, long, bát-bộ, nhân và phi nhân, cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc, nhật, nguyệt, tinh tú, gió, mây, sấm, chớp, ngày, đêm, tháng, giờ đến năm, kiếp, chư Phật xuất thế, chúng hội Bồ-tát, đạo tràng trang nghiêm, những sự như vậy đều thấy rõ cả. Ý chính của đoạn này, Thiện Tài thấy được Bồ-tát Phổ Hiền ở chỗ đức Tỳ-lô-giá-na Như Lai. Thấy nơi thân Bồ-tát Phổ Hiền, trong thân đó mỗi lỗ chân lông đều hiện ra tất cả thế giới: Quang Minh Vân, Hương Diệm Vân, Hương Thảo Vân… Thấy trong thân Bồ-tát Phổ Hiền mỗi lỗ chân lông đều có những thần dụng hiện ra những món đồ cúng dường Phật, hiện ra tất cả cõi nước chúng sanh nhiễm hay là tịnh… Từ trong mỗi lỗ chân lông đều hiện ra cõi Phật và đều làm Phật sự. Đó gọi là diệu dụng bất tư nghì của Phổ Hiền. Như thấy rõ tại thế giới này, tất cả thế giới ở mười phương đều thấy rõ cả. Như thấy thập phương thế giới hiện tại, tất cả thế giới tiền tế hậu tế cũng thấy như vậy, nhưng vẫn chẳng tạp loạn nhau. Thấy nơi thân của Bồ-tát Phổ Hiền đầy đủ tất cả thế giới trong mỗi lỗ chân lông, tại thế giới này cho đến mười phương thế giới đều như vậy, tuy rất nhiều mà không rối loạn. Như ở chỗ Tỳ-lô-giá-na Như Lai thị hiện sức thần thông như vậy, tại Liên Hoa Đức thế giới, chỗ của Hiền Thủ Phật, hiện sức thần thông cũng như vậy. Nhẫn đến tại tất cả thế giới mười phương, chỗ của tất cả chư Phật Như Lai, cũng hiện sức thần thông như vậy. Mười phương tất cả thế giới trong mỗi mỗi vi trần đều có pháp giới chư Phật chúng hội. Chỗ mỗi đức Phật, Phổ Hiền Bồ-tát ngồi trên tòa bảo liên hoa sư tử hiện sức thần thông cũng đều như vậy. Trong thân của mỗi mỗi Phổ Hiền đều hiện tất cả cảnh giới tam thế, tất cả cõi Phật, tất cả chúng sanh, tất cả Phật xuất hiện, tất cả Bồ-tát chúng, nghe ngôn âm của tất cả chúng sanh, ngôn âm của tất cả Phật, pháp luân của tất cả Như Lai chuyển. Lại thấy công hạnh của tất cả Bồ-tát, thần thông du hý của tất cả Như Lai. Đây là diệu dụng của Bồ-tát Phổ Hiền từ pháp thân hiện khởi, trùm hết tất cả mười phương quốc độ, không nơi nào không có, không lúc nào không thị hiện. Bởi vì pháp thân ngang trùm ba mé, dọc khắp mười phương, nên thấy ở một nơi này, các nơi kia cũng đều thấy như vậy, không riêng một thời một chỗ nào. Diệu dụng bất tư nghì này không rời pháp thân mà có. Thiện Tài thấy vô lượng đại thần thông lực bất tư nghì của Phổ Hiền Bồ-tát như vậy, liền được mười thứ trí ba-la-mật. Như là: Trí ba-la-mật trong mỗi niệm đều có thể đi khắp tất cả cõi Phật. Trí ba-la-mật trong mỗi niệm đều có thể qua đến tất cả chỗ Phật. Trí ba-la-mật trong mỗi niệm đều có thể cúng dường tất cả Như Lai. Trí ba-la-mật trong mỗi niệm ở khắp chỗ của tất cả Như Lai để nghe pháp và thọ trì. Trí ba-la-mật trong mỗi niệm tư duy pháp luân của tất cả Như Lai. Trí ba-la-mật trong mỗi niệm biết sự đại thần thông bất tư nghì của tất cả Phật. Trí ba-la-mật trong mỗi niệm nói một câu pháp tột thuở vị lai biện tài vô tận. Trí ba-la-mật trong mỗi niệm dùng thân Bát-nhã quán tất cả pháp. Trí ba-la-mật trong mỗi niệm nhập tất cả pháp giới thật tướng hải. Trí ba-la-mật trong mỗi niệm biết tâm của tất cả chúng sanh. Trí ba-la-mật trong mỗi niệm tuệ hạnh của Phổ Hiền đều hiện tiền. Thiện Tài đã được mười trí ba-la-mật này rồi, Phổ Hiền Bồ-tát liền dơ tay hữu xoa đầu Thiện Tài. Được xoa đầu, Thiện Tài liền được tất cả Phật sát vi trần số môn tam-muội, mỗi tam-muội lại dùng Phật sát vi trần số tam-muội làm quyến thuộc. Mỗi mỗi tam-muội đều thấy tất cả Phật sát vi trần số Phật đại hải mà từ xưa chưa thấy, tích tập tất cả Phật sát vi trần số Nhất thiết trí trợ đạo, sanh đủ tất cả Phật sát vi trần số Nhất thiết trí thượng diệu pháp, phát tất cả Phật sát vi trần số Nhất thiết trí đại thệ nguyện, nhập tất cả Phật sát vi trần số đại nguyện hải, trụ tất cả Phật sát vi trần số xuất yếu đạo, tu tất cả Phật sát vi trần số Bồ-tát hạnh, khởi tất cả Phật sát vi trần số Nhất thiết trí đại tinh tấn, được tất cả Phật sát vi trần số Nhất thiết trí tịnh quang minh. Như ở Ta-bà thế giới chỗ của Tỳ-lô-giá-na Phật này, Phổ Hiền Bồ-tát xoa đầu Thiện Tài đồng tử, khắp mười phương thế giới, trong mỗi vi trần nơi những thế giới ấy, tất cả thế giới, tất cả chỗ Phật, Phổ Hiền Bồ-tát cũng xoa đầu Thiện Tài như vậy, những pháp môn tam muội chứng được cũng đồng. Sau khi Thiện Tài quán sát thân và diệu dụng của Bồ-tát Phổ Hiền, liền được mười trí ba-la-mật, được Bồ-tát Phổ Hiền xoa đầu thọ ký, ấn chứng cho viên mãn công hạnh. Đến đây Thiện Tài đã được thân chứng vô số pháp môn tam-muội. Tất cả các vị Bồ-tát thiện tri thức mà Thiện Tài đi tham vấn, sau khi hiển bày thần dụng liền kể lại nhân địa tu hành của mình. Kinh luận thường nói không có Di-lặc trời sanh, Thích-ca tự nhiên là ý nghĩa này. Tất cả các bậc Bồ-tát được diệu dụng bất tư nghì, được công đức trang nghiêm đều do công phu tu tập nhiều vô lượng vô biên, không phải tự nhiên mà được. Đến đây Thiện Tài đã thấy thần thông diệu dụng của Bồ-tát Phổ Hiền rồi, liền được ngài kể lại việc tu hành của mình. Bấy giờ Phổ Hiền Bồ-tát bảo Thiện Tài rằng: Này Thiện nam tử! Ngươi thấy thần lực của ta chăng? Thiện Tài thưa: Bạch vâng! Những sự thần thông quảng đại bất tư nghì này chỉ đức Như Lai mới biết được. Phổ Hiền Bồ-tát nói: Này Thiện nam tử! Thuở quá khứ bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số kiếp, ta thật hành Bồ-tát hạnh cầu Nhất thiết trí. Trong mỗi mỗi kiếp vì muốn thanh tịnh Bồ-đề tâm, nên kính thờ bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số Phật. Trong mỗi mỗi kiếp vì tích tập Nhất thiết trí phước đức nên thiết lập bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số thí hội quảng đại, khiến tất cả thế gian đều nghe biết, phàm ai đến cầu xin thời đều làm cho họ đầy đủ cả. Trong mỗi mỗi kiếp vì cầu pháp Nhất thiết trí nên ta đem bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số tài vật bố thí. Trong mỗi mỗi kiếp vì cầu Phật trí, nên ta đem bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số thành ấp, tụ lạc, quốc độ, vương vị, thê tử, quyến thuộc, mắt tai mũi lưỡi, thân thịt tay chân đến cả mạng sống để bố thí. Trong mỗi mỗi kiếp vì cầu Nhất thiết trí thủ, nên ta đem bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số đầu để bố thí. Trong mỗi mỗi kiếp vì cầu Nhất thiết trí, nên ở chỗ bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số Như Lai, ta cung kính tôn trọng, kính thờ cúng dường, rồi xuất gia học đạo, trong Phật pháp tu hành hộ giáo. Này Thiện nam tử! Ta ở trong những số kiếp như vậy, tự nhớ chưa từng có một niệm chẳng thuận Phật giáo, chưa từng có một niệm sanh lòng sân hại, cũng chưa từng có một niệm sanh tâm ngã ngã sở, tâm mình người sai biệt, tâm xa rời Bồ-đề, tâm nhàm mỏi sanh tử, tâm lười biếng, tâm chướng ngại, tâm mê hoặc. Mà ta chỉ an trụ tâm đại Bồ-đề vô thượng chẳng thể trở hoại tích tập pháp trợ đạo Nhất thiết trí. Này Thiện nam tử! Ta trang nghiêm Phật độ, dùng tâm đại bi cứu hộ chúng sanh, giáo hóa thành tựu, cúng dường chư Phật, thờ thiện tri thức, vì cầu chánh pháp nên hoằng tuyên hộ trì, trong thân ngoài vật đều có thể xả tất cả, đến mạng sống cũng không tiếc. Nếu dùng thời gian kiếp hải để nói nhân duyên đó, kiếp hải còn có thể hết chớ nhân duyên đó không cùng tận. Này Thiện nam tử! Trong pháp hải của ta, không có một chữ không có một câu. Chẳng phải thí xả ngôi Chuyển luân vương mà cầu được. Chẳng phải thí xả tất cả sở hữu mà cầu được. Này Thiện nam tử! Pháp của ta cầu đều vì cứu hộ tất cả chúng sanh. Một lòng suy nghĩ mong cho chúng sanh được nghe pháp này. Nguyện dùng trí quang chiếu khắp thế gian. Nguyện vì chúng sanh mà khai thị trí xuất thế gian. Nguyện cho chúng sanh đều được an lạc. Nguyện khắp tán dương những công đức của chư Phật. Thuở xưa, nhân duyên của ta như vậy, trong bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số kiếp hải nói không hết được. Này Thiện nam tử! Vì thế nên ta dùng sức trợ đạo pháp như vậy, những sức thiện căn, sức đại chí nguyện, sức tu công đức, sức như thật tư duy tất cả pháp, sức trí tuệ nhãn, sức Phật oai thần, sức đại từ bi, sức tịnh thần thông, sức thiện tri thức như vậy nên ta được pháp thân thanh tịnh tam thế bình đẳng rốt ráo này. Ta lại được sắc thân thanh tịnh vô thượng siêu các thế gian, tùy sở thích của tâm chúng sanh mà hiện hình vào tất cả cõi khắp tất cả xứ, nơi các thế giới rộng hiện thần thông, làm cho người thấy đều vui mừng. Bồ-tát Phổ Hiền thuật lại sự tu nhân đời trước của ngài. Trải qua bất khả thuyết, bất khả thuyết Phật sát vi trần số kiếp, ngài đã thực hành tất cả công hạnh Bồ-tát không thể tính kể, làm lợi ích chúng sanh, cầu Nhất thiết trí chưa từng nhàm mỏi... Do các việc lành này, nên bây giờ ngài được kết quả thù thắng, không phải bỗng dưng mà có. Chúng ta thấy tường tận rằng không có quả nào mà không bắt đầu từ nhân. Cách giáo hóa của Phật Bồ-tát có những điểm đặc biệt. Khi mới dạy chúng ta tu, các ngài nói quả khổ trước, sau đó chỉ nhân khổ. Như Phật dạy ba khổ, tám khổ... nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước biển cả... nói quả khổ trước mắt để chúng sanh biết sợ, sau đó nói nguyên nhân gây ra khổ do tham dục si mê. Đó là thuật khéo léo của Phật giáo hóa chúng sanh, dạy cho biết khổ, sợ khổ mới chấm dứt nguyên nhân đau khổ. Các vị Bồ-tát giáo hóa những người phát tâm tu cũng nói hiện quả trước rồi chỉ nhân sau. Như trước nói quả công đức thần thông diệu dụng, sau nói về chỗ tu nhân để được công đức như vậy. Tùy trình độ căn cơ chúng sanh mà các ngài giáo hóa. Đối với chúng sanh chưa tu thì phải nói quả khổ trước để cho họ hoảng sợ, sau chỉ cho biết nhân khổ rồi dạy pháp tu dứt nhân khổ. Đối với người đã phát tâm tu thì trước hiển thị quả diệu dụng của Phật Bồ-tát để phát tâm hướng đến thực hành. Thực hành được viên mãn thì sẽ có kết quả thù thắng vi diệu như chư Phật Bồ-tát, các ngài đều hiện thần thông, biến hóa lạ thường. Vì thế trải qua năm mươi hai vị thiện tri thức mà Thiện Tài tham học, không phải là các vị Bồ-tát muốn lòe Thiện Tài, mà hiện cho thấy những diệu dụng để phát tâm hâm mộ. Sau khi hâm mộ rồi, các ngài mới chỉ nguyên nhân tu. Đó là nói quả trước, dạy nhân sau. Này Thiện nam tử! Ngươi quan sát sắc thân của ta như vậy. Sắc thân của ta đây đã thành tựu từ vô biên kiếp hải. Vô lượng ngàn ức na-do-tha kiếp khó thấy khó nghe. Này Thiện nam tử! Nếu có chúng sanh chưa gieo thiện căn và gieo ít thiện căn, Thanh văn, Bồ-tát thời còn chẳng được nghe danh hiệu của ta huống là thấy được thân ta. Này Thiện nam tử! Nếu có chúng sanh được nghe danh hiệu của ta thời không còn thối chuyển nơi vô thượng Bồ-đề. Nếu ai hoặc thấy, hoặc chạm, hoặc rước, hoặc đưa, hoặc tạm theo dõi, nhẫn đến trong mộng được thấy nghe ta, thời đều cũng được bất thối chuyển cả. Hoặc có chúng sanh một ngày một đêm nhớ nghĩ đến ta thời liền được thành thục. Hoặc bảy ngày bảy đêm, nửa tháng, một tháng, nửa năm, một năm, trăm năm, ngàn năm, một kiếp, trăm kiếp, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số kiếp nghĩ nhớ đến ta mà được thành thục. Hoặc một đời, hoặc trăm đời, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số đời nghĩ nhớ đến ta mà thành thục. Hoặc thấy ta phóng đại quang minh, hoặc thấy ta chấn động cõi Phật, hoặc sanh e sợ, hoặc sanh hoan hỷ thảy đều thành thục. Này Thiện nam tử! Ta dùng Phật sát vi trần số môn phương tiện như vậy, làm cho các chúng sanh chẳng thối chuyển nơi vô thượng Bồ-đề. Nếu có chúng sanh nào thấy nghe cõi thanh tịnh của ta thời tất được sanh trong cõi thanh tịnh này. Nếu có chúng sanh nào thấy nghe thân thanh tịnh của ta thời tất được sanh trong thân thanh tịnh của ta. Này Thiện nam tử! Ngươi nên quan sát thân thanh tịnh của ta đây. Đoạn này nói về phần lợi tha của ngài. Người nào thấy hình sắc, nghe tên, hoặc chạm đến thân, hoặc trong mộng thấy ngài… được tâm bất thối chuyển tức là Bồ-tát bất thối chuyển. Chúng sanh nào nghĩ nhớ đến ngài từ một ngày, bảy ngày, bảy đêm, bảy tháng… đến khi thành thục, hoặc được thấy quang minh của ngài, hoặc thấy ngài chấn động cõi nước… Tất cả điều này là phần lợi tha của Bồ-tát, giúp chúng sanh được sanh về cõi thanh tịnh, được thân thanh tịnh. Tuỳ người nào có nhân duyên đều được sức gia hộ của ngài. Đây là phương tiện thiện xảo của chư Bồ-tát khiến chúng sanh phát tâm hâm mộ. Thiện Tài quán sát tướng hảo chi tiết nơi thân Phổ Hiền Bồ-tát. Trong mỗi mỗi lỗ lông đều có bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát hải. Mội mỗi sát hải đều có chư Phật xuất thế và chúng hội Bồ-tát. Và lại thấy tất cả sát hải đó: những kiến lập, những hình trạng, những trang nghiêm, những đại sơn bao quanh, những sắc mây che trùm hư không, những Phật Như Lai xuất thế thuyết những pháp luân. Lại thấy ở trong mỗi mỗi thế giới hải, Phổ Hiền xuất hiện tất cả Phật sát vi trần số Phật hóa thân vân, cùng khắp thập phương tất cả thế giới giáo hóa chúng sanh khiến hướng về vô thượng Bồ-đề. Bấy giờ Thiện Tài lại thấy tự thân ở trong thân Phổ Hiền giáo hóa chúng sanh trong mười phương tất cả thế giới. Thiện Tài nhìn vào thân của Bồ-tát Phổ Hiền, thấy bất khả thuyết Phật sát hải rộng thênh thang không bờ mé. Mỗi lỗ chân lông đều có bao nhiêu cõi Phật. Thiện Tài quán sát như vậy được lợi ích gì? Lúc đó Thiện Tài nhập vào thân Phổ Hiền, thấy thân mình ở trong thân Bồ-tát Phổ Hiền, giáo hóa chúng sanh mười phương thế giới. Bao nhiêu thiện căn trí tuệ quang minh của Thiện Tài đã được, khi thân cận Phật sát vi trần số chư thiện tri thức, sánh với thiện căn khi thấy Phổ Hiền Bồ-tát mà được, thời không bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần trăm ngàn, một phần trăm ngàn ức, nhẫn đến không bằng một phần toán số thí dụ. Đây là so sánh, bao nhiêu thiện căn trí tuệ quang minh từ xưa khi Thiện Tài mới phát tâm tu, cho đến trải qua thân cận thưa hỏi bao nhiêu vị thiện tri thức. Sự lợi ích đó sánh với lợi ích khi được nhập trong thân của Bồ-tát Phổ Hiền thì không bằng một phần nhỏ. Như tôi lúc mới cạo tóc xuất gia vào chùa ở, ăn, học, tu hành, kể lại lợi ích một năm tu của tôi lúc đó sánh với lợi ích hiện tại thì chỉ bằng một tuần lễ. Vì đó là thời kỳ mới tu, còn ngu khờ, nhờ thầy tổ khai thị mới mở được cái ngu, lợi ích của mình chưa sâu, không có lợi ích gì cho ai. Nghĩa là tuy thời gian tu lâu xa, nhưng nhớ lại sự lợi ích đó không đáng bao nhiêu đối với chúng sanh. Đến bây giờ đã thuần thục hiểu đạo lý thì một ngày, một tháng, một tuần tôi có thể giảng bao nhiêu bài kinh, thuyết bao nhiêu thời pháp, làm lợi ích cho bao nhiêu người. Như vậy trong thời tôi mới tu và thời đã thuần thục thì thời gian ngày xưa tuy dài mà lợi ích không bằng thời gian hiện tại. Thiện Tài khi xưa đi hỏi đạo từng nơi, chỉ hỏi để mà tự tu. Đến đây nhập được hạnh nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền, dùng Sai biệt trí để giáo hóa chúng sanh, đó là hạnh lợi tha bất khả tư nghì. Vì vậy lợi ích của ngài cũng không thể nghĩ bàn hơn thuở xưa rất nhiều. Thí dụ sâu hơn về sự tu, như chúng ta tập tu thiền trong thời gian đầu, ngồi thiền ngày hai buổi hoặc bốn buổi, mỗi buổi ngồi chừng nửa giờ, ráng lắm là một giờ. Trong nửa giờ, một giờ đó cứ lo mấy chú vọng tưởng, chú này nổi lên đuổi, chú kia nổi lên dẹp, cứ như vậy nhiều khi còn cảm thấy bất lực với nó nữa. Thành ra trong mỗi giờ toàn là làm việc dẹp vọng tưởng mà chưa xong. Nếu tu năm mười năm tâm thuần thục rồi, ngồi thiền chừng năm phút thì tâm yên phăng phắc lặng lẽ như tờ. Ngày xưa ngồi bao nhiêu giờ cũng không lặng, bây giờ ngồi chỉ có nửa giờ mà tâm yên định. Công hạnh bây giờ tuy thời gian ngắn mà kết quả nhiều hơn thuở xưa, phải vậy không? So sánh lúc thuần thục và lúc mới, lúc tới tuy dụng nhiều công mà kết quả ít, lúc sau tuy dụng công ít mà kết quả nhiều. Tuy vậy, không có sự thuần thục nào mà không khởi đầu từ cái mới thô sơ ban đầu là nhân để đưa đến thuần thục sau này, không phải ngẫu nhiên mà được. Lợi ích của Thiện Tài khi thấy Bồ-tát Phổ Hiền không thể lấy gì so sánh được. Trong đây dùng những thí dụ chúng ta không thể tưởng tượng. Như nói khi Thiện Tài vào một lỗ chân lông của Bồ-tát Phổ Hiền, khi vào đó ngài bước một bước qua khỏi bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới, bước như vậy suốt tận đời vị lai, từ mé bờ bên đây qua mé bờ bên kia của lỗ chân lông mà không giáp. Theo thói thường, so sánh như vậy là rộng lắm, vào một lỗ chân lông mà chạy giỡn tự do trong đó là quá sức rồi, mà đây Thiện Tài bước một bước, qua bất khả thuyết thế giới đi tột bờ vị lai mà chưa giáp, như thế thì một lỗ chân lông quá lớn. Trong một niệm mà hiện nay Thiện Tài nhập sát hải của chư Phật ở trong một lỗ lông của Phổ Hiền, sánh với thời gian từ sơ phát tâm đến nay đã nhập sát hải, thời nhiều hơn đến số bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần. Như nơi một lỗ lông, tất cả lỗ lông cũng đều như vậy. Trong lỗ lông của Phổ Hiền Bồ-tát, Thiện Tài bước một bước qua khỏi bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần thế giới, đi mãi như vậy tột thuở vị lai vẫn còn chẳng biết được thứ đệ sát hải của trong một lỗ lông, cũng chẳng biết ngằn mé của sát hải tạng, sát hải sai biệt, sát hải phổ nhập, sát hải thành, sát hải hoại, sát hải trang nghiêm. Cũng chẳng biết được ngằn mé của Phật hải thứ đệ, Phật hải tạng, Phật hải sai biệt, Phật hải phổ nhập, Phật hải sanh, Phật hải diệt. Cũng chẳng biết được ngằn mé của Bồ-tát chúng hải thứ đệ, Bồ-tát chúng hải tạng, Bồ-tát chúng hải sai biệt, Bồ-tát chúng hải phổ nhập, Bồ-tát chúng hải tập, Bồ-tát chúng hải tán. Cũng chẳng thể biết ngằn mé của trí nhập chúng sanh giới, biết căn chúng sanh, giáo hóa điều phục chúng sanh, chỗ trụ thậm thâm tự tại của Bồ-tát những địa những đạo của Bồ-tát nhập. Nơi sát hải trong lỗ lông của Phổ Hiền Bồ-tát, Thiện Tài đi như vậy hoặc nơi một cõi trải qua một kiếp, nhẫn đến hoặc trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số kiếp mà đi như vậy. Cũng chẳng mất nơi đây mà hiện nơi kia. Mỗi niệm Thiện Tài cùng khắp vô biên sát hải giáo hóa chúng sanh khiến họ hướng về vô thượng Bồ-đề. Đương lúc đó, Thiện Tài thứ đệ được những hạnh nguyện hải của Phổ Hiền Bồ-tát, đồng với Phổ Hiền, đồng với chư Phật một thân sung mãn tất cả thế giới, đồng quốc độ, đồng hạnh, đồng Chánh giác, đồng thần thông, đồng pháp luân, đồng biện tài, đồng ngôn từ, đồng âm thanh, đồng lực vô úy, đồng Phật sở trụ, đồng đại từ bi, bất tư nghì giải thoát tự tại đều đồng. Một lỗ chân lông lớn như vậy, thì thân Bồ-tát Phổ Hiền lớn đến đâu? Để thấy rõ đây nói thân phi thân. Thân mà không phải thân, là chỉ cho pháp thân bất khả tư nghì. Khi thể nhập pháp thân bất khả tư nghì, chư Phật liền tùy đó dùng trí Sai biệt ứng hóa lợi ích chúng sanh, nên nói trong một lỗ chân lông rộng lớn, không ngằn mé, không phải là một sắc thân quá lớn. Bồ-tát thấy thân này là tạm bợ như mộng huyễn, chiêm bao thấy hình tượng Bồ-tát cũng là huyễn trong huyễn, mộng trong mộng không có gì quan trọng. Nhưng đây là chỗ Bồ-tát Phổ Hiền nói diệu dụng lợi tha của ngài. Diệu dụng lợi tha đó có hai trường hợp: Trường hợp thứ nhất là người có duyên đời trước. Bởi duyên lành thuần thục nên khi vừa nghe danh hiệu Bồ-tát Phổ Hiền liền thấy ngài. Đó là duyên lành của mình đã thuần, liền được lợi ích. Trường hợp thứ hai là quán tưởng, như có những vị tu pháp quán tưởng hình tượng Bồ-tát Phổ Hiền ngày đêm chuyên tâm quán tưởng. Vì thường quán tưởng nên tâm bớt loạn, nếu sức quán chưa thuần thì khi thức không thấy, lúc ngủ liền thấy. Khi tâm quán tưởng thuần thục, trong chiêm bao thấy Bồ-tát Phổ Hiền cưỡi voi trắng đến xoa đảnh... Điều này chứng minh công phu tiến bộ, lấy đó làm niềm vui để tinh tấn, nhưng không nên bám vào đó cho là thật. Như những vị niệm Phật, tưởng cảnh giới Cực lạc, tưởng hoa sen, khi chiêm bao thấy hoa sen hoặc thấy hào quang điềm lành… đó là chứng minh công phu đã tiến bộ, không phải hoa sen đó là thật. Biết mình tu có kết quả tốt, tâm thuần thục là điều tốt, không nên cho đó là tốt đẹp rồi khoe khoang sanh tâm ngã mạn thì đó là bệnh. Thành ra nó có lợi mà cũng có hại, nếu biết thì có lợi, không biết thì có hại. Lúc đó Phổ Hiền đại Bồ-tát liền nói kệ rằng: Các ngài phải trừ những phiền não Đây là ngài khuyên trong hội chúng Bồ-tát nên lắng nghe công đức của Phật. Xuất thế điều nhu Thắng trượng phu Đây là ngài tán thán Phật. Như Lai rất khó được thấy nghe Đây là ca ngợi Phật khó được gặp, khó được thấy. Tùy thuận việc làm của thế gian Bốn câu này nói về diệu dụng của Phật. Khi giáo hóa chúng sanh, ngài tùy thuận sở thích của họ hóa hiện như nhà ảo thuật, hiện ra những hình ảnh mà chưa từng khởi vọng tưởng phân biệt. Sau đây chư Bồ-tát đều sanh lòng khát ngưỡng, muốn nghe công đức chân thật của Phật. Chư Bồ-tát nghe lời kệ trên đây, tất cả đều khát ngưỡng mong được nghe công đức chân thật của đức Thế Tôn, đều nghĩ rằng: Phổ Hiền Bồ-tát tu đủ các hạnh, thể tánh thanh tịnh, những lời nói ra đều chẳng hư luống, tất cả Như Lai đều khen ngợi ngài. Phổ Hiền Bồ-tát công đức trí tuệ trang nghiêm đầy đủ, như hoa sen chẳng dính trần cấu tam giới. Các vị Bồ-tát khen ngợi Bồ-tát Phổ Hiền, một vị Bồ-tát được chư Phật tán thán, công đức trí tuệ trang nghiêm như hoa sen không nhiễm ô. Ngài bảo chúng Bồ-tát rằng: Các ngài lắng nghe! Nay tôi muốn nói tướng một giọt trong biển công đức của Phật. Phổ Hiền Bồ-tát liền nói kệ rằng: Phật trí rộng lớn đồng hư không Mở đầu khen ngợi trí tuệ của Phật rộng lớn cùng khắp, tâm chúng sanh có những nghĩ tưởng gì, ngài đều thấy đều biết. Tuy thấy biết tất cả mà không khởi vọng tưởng. Một niệm đều biết pháp tam thế Đây nói diệu dụng hiện thân hoá độ của chư Phật, như những thuật sĩ hoá hiện ảo thuật đúng sở thích của chúng sanh. Sở dĩ như vậy vì các ngài biết được tâm của chúng sanh. Tám câu kệ mở đầu nói về sự hoá hiện của chư Phật. Từ đây về sau một đoạn dài nói về việc chư Phật tùy theo sở nguyện, sở thích của chúng sanh, để họ được thấy được biết mà phát tâm tu hành. Tùy tâm chúng sanh hiện những hạnh Tuỳ nghiệp và nguyện của chúng sanh mà Phật hiện không đồng. Tùy hiện khác nhau mà Phật xưa nay cũng thế không lay động. Hoặc có xứ xứ thấy Phật ngồi Kết thúc đoạn này, do tâm chúng sanh sai biệt thấy Phật hiện sai biệt. Hoặc thấy ngài hiện nơi này, hoặc thấy ngài hiện nơi kia, hoặc thấy ngài hiện thân lớn, hoặc thấy ngài hiện thân nhỏ. Hoặc thấy ngài thuyết pháp độ sanh, hoặc thấy ngài tu nân, hoặc thấy ngài làm thái tử, hoặc thấy ngài tu khổ hạnh… Tất cả những hình ảnh ấy đều là tùy tâm chúng sanh mà các ngài hiển hiện. Ở trong một cõi thành Chánh giác Đây là chỉ cho pháp thân của Phật. Khi thể nhập pháp thân thì ở tất cả cõi thành Chánh giác, vì pháp thân trùm khắp nên ở tất cả cõi đều thành. Tất cả cõi vào một cõi, tùy tâm chúng sanh đều thị hiện. Để đạt đến viên mãn pháp thân, người hành Bồ-tát đạo phải đạt đến chỗ “một là tất cả, tất cả là một”, diệu dụng ứng hiện theo sở tri lượng của chúng sanh. Như Lai trụ nơi đạo Vô thượng Đoạn trên nói tùy tâm nguyện sai biệt của tất cả chúng sanh, Như Lai thị hiện có sai khác. Đoạn này nói pháp của Như Lai dạy, tùy khả năng lãnh hội của chúng sanh mà diễn nói, hoặc Tứ đế, hoặc Thập nhị nhân duyên, hoặc Thập độ… tùy theo đó giảng dạy để trừ diệt tất cả tâm phiền não của chúng sanh. Biết rõ khổ, tập và diệt, đạo Sở dĩ Phật thuyết pháp có sai biệt vì tùy sở tri lượng của chúng sanh, không phải tâm thanh tịnh của Phật có sai biệt. Vì thế nói Niết-bàn tịch tịnh chưa từng khác. Như hư không lúc nào cũng như vậy, nhưng chim bay xa thì thấy nhỏ, gần thì thấy lớn… Thấy con vật sai biệt là do vị trí sai khác, hư không không đổi khác lớn nhỏ… Phật thể âm thanh cũng duy nhất Do sự sai biệt của tâm chúng sanh mà có thấy nghe sai khác, thể Phật không khác. Do Phật quá khứ tu công hạnh Phật nói pháp có sai biệt tam thừa, tứ thừa, ngũ thừa… là tùy căn cơ người nghe. Tâm Phật không sai biệt, không tính nghĩ vì kẻ này nói cao, vì người kia nói thấp. Do công hạnh từ quá khứ mà tùy sở thích diễn nói pháp. Nơi mặt Như Lai phóng đại quang Nơi mặt Phật phóng ra tám muôn bốn ngàn quang soi sáng khắp tất cả, đó là tượng trưng cho tám muôn bốn ngàn pháp môn của Phật để trừ phiền não chúng sanh. Hào quang Phật là tượng trưng trí tuệ sáng suốt, tùy cơ giáo hoá chúng sanh nên có vô lượng ánh quang minh. Đầy đủ thanh tịnh công đức trí Phật dạy giáo pháp nhiều vô lượng vô biên, đầy đủ công đức thanh tịnh, trí tuệ thanh tịnh, đều phù hợp với lý ba đời chư Phật đã dạy, không phải theo ý riêng của ngài. Như hư không, không có nhiễm trước, vì chúng sanh nên Phật xuất hiện. Hiện có sanh lão bệnh tử khổ Phật hiện thân có sanh già bệnh chết, giống như người thế gian, nhưng thể tánh Phật lúc nào cũng thanh tịnh, đồng như hư không. Tất cả quốc độ vô lượng biên Đây là tán dương sự giáo hoá của Phật, ngài khéo thấy được tâm lượng của chúng sanh, theo đó mà chỉ dạy cho được lợi ích. Cùng khắp hư không mười phương cõi Từ câu Nơi mặt Như Lai phóng đại quang dẫn đến sau, ý diễn tả thân tướng của Phật oai nghi, ăn mặc, cử chỉ… đều tùy theo bệnh chấp của chúng sanh mà thị hiện để điều trị, chinh phục họ, vì thế có những hình sắc không đồng. Đây là nói sự thị hiện bất nhất của Phật. Tại sao? Vì căn cơ, bệnh chấp của chúng sanh nặng về tính chất nào thì ngài hiện ra như thế. Nếu ở trong đại hội Sa-môn Đôi khi ngài hiện thân Sa-môn hoặc gần gũi Bà-la-môn thân gầy ốm, chống gậy mang bình bát… để chinh phục những người tu khổ hạnh. Hoặc có khi: Nhả cũ nuốt mới tự no đủ Hiện thân khổ hạnh hớp gió uống sương, đứng hoài chẳng ngồi… đề hàng phục những ngoại đạo khổ hạnh. Hoặc trì giới cấm làm thế sư Phật hiện thân Bồ-tát thông thạo các phương minh trị thế, hoặc hiện thân nơi các cõi trời… Những thân thị hiện của Phật không thể lường. Phật trí vô ngại thấy khắp nơi Phật có trí tuệ vô ngại, thấy khắp tất cả nơi. Trong đó tất cả những chúng sanh, những hàm thức, ngài đều dùng vô lượng vô biên phương tiện để giáo hóa, khiến họ thành tựu. Ví như thuật sĩ giỏi ảo thuật Ứng hoá thân của Phật ví như vầng trăng sáng giữa hư không. Những chúng sanh dưới mặt đất hoặc thấy trăng tròn vào ngày rằm mười sáu, trăng khuyết vào ngày mười tám mười chín… Sự thật trăng không có tròn khuyết, vì chỗ đứng ở thế gian nên thấy có tròn khuyết. Như Lai trí nguyện hiện thế gian Mặt trăng trí tuệ của Như Lai hiện ở trên thế gian. Đoạn kinh này vừa pháp vừa dụ, mặt trăng là dụ, trí tuệ là pháp. Dùng phương tiện hiện ra thấy có tăng có giảm trong nước tâm của Bồ-tát. Tâm Bồ-tát như nước, trong nước thấy bóng trăng trí tuệ của Phật hiện ra. Khi trí tuệ Phật hiện thì ánh sáng của Thanh văn, Duyên giác bị che khuất. Như trong đại hải đầy châu báu Tất cả chúng sanh đều hiện bóng trong biển. Thân Phật chỉ cho pháp thân, pháp thân chẳng khác nào biển cả, tất cả chúng sanh ở mười phương đều hiện bóng trong đó. Ví như mặt nhật phóng quang minh Ánh sáng của Phật ví như mặt trời, phóng ánh sáng khắp hết không chỗ nào không sáng. Trí quang minh của Phật chiếu khắp không thấy có đi đến, mà hay trừ được si mê tối tăm của chúng sanh. Ví như long vương tuôn mưa lớn Khi long vương tuôn mưa, không phải từ trong thân cũng không phải từ trong tâm, song tất cả đều được thấm ướt, dứt hết nóng nảy được mát mẻ. Như Lai pháp vũ cũng như vậy Mưa pháp của Như Lai cũng chẳng từ nơi thân hay nơi tâm, chính vì tuỳ tâm chúng sanh mà giáo hoá, nói pháp khiến diệt trừ lửa tam độc. Như Lai thanh tịnh diệu pháp thân Diệu pháp thân thanh tịnh của Phật đối trong ba cõi không có gì sánh kịp, vì tánh đó không phải có không phải không, thoát ra ngoài đường ngôn ngữ của thế gian. Dầu không sở y mà ở khắp, Vô sở y là không có chỗ nương, nghĩa là pháp thân ấy không có chỗ nương mà trùm khắp hết. Nếu còn chỗ nương là còn có hình tướng còn sanh diệt, pháp thân không hình tướng, đến tất cả nơi mà không có tướng đi đến, nơi nào cũng có mà không có qua lại. Như vẽ không trung, cảnh trong mộng, Như lấy tay vẽ trong không trung, vẽ xong thì mất, không còn lưu lại hình dáng. Hay như cảnh trong mộng, khi đang mơ thì thấy có, thức dậy thì tìm không ra. Phải quán thân Như Lai cũng như vậy, không hình không tướng, không có tất cả chỗ nương gá. Thấy thân Phật là pháp thân bất sanh bất diệt, mới thật là thấy Phật. Những pháp có, không, trong ba cõi Tất cả pháp hữu vi trong ba cõi không gì có thể thí dụ với thân Phật. Đây nói chim muông trong núi rừng chẳng thể nương không gian mà ở được, chúng phải có chỗ nương tựa. Thí dụ này là phản đề để hiển rõ tánh vô sở y của pháp thân. Đại hải ma-ni vô lượng màu, Như hạt châu ma-ni trong biển cả hiện ra vô lượng màu, hạt châu đó có vô lượng màu hay không? Nó rất trong sáng, bên ngoài có màu sắc gì liền phản ảnh vào hạt châu nên thấy nó có vô lượng màu. Cũng vậy, thân Như Lai không phải là sắc tướng, cũng không phải là không sắc tướng. Thân Phật là pháp thân không sắc không hình, tùy căn duyên của chúng sanh mà ứng hóa có sắc có hình. Như ngọc ma-ni không có màu xanh vàng trắng đỏ, thể chất nó quá trong nên bên ngoài có màu xanh liền phản ảnh màu xanh, có màu vàng liền phản ảnh màu vàng. Hư không, chân như và thật tế, Những cái đó khả dĩ thí dụ được về hình ảnh của Phật. Sát-trần tâm niệm đếm biết được, Đưa ra những thí dụ không thể nào tính kể, để so với công đức của Phật. Sát trần tâm niệm đếm biết được, ý nói các cõi nước nghiền nát thành bụi, tâm niệm chúng sanh nhiều như bụi đó còn có thể đếm biết. Hoặc nước biển cả có thể uống khô được. Hư không có thể đo lường được, gió có thể lấy dây buộc được, công đức của Phật không thể nói hết được. Những việc khó làm như thế, giả sử có thể làm, nhưng công đức Phật nói không hết được. Nếu ai nghe biển công đức này Kết luận, để chúng ta thấu hiểu công đức của Phật vô lượng vô biên không thể tính kể. Người nào nghe rồi phát lòng thích thú vui mừng sẽ được công đức vô lượng. Nếu người nào nghe mà sanh nghi ngờ thì không tốt. Tại sao? Chúng ta tu là muốn làm Phật, khi nghe công đức của Phật mà không ham thích, làm sao tiến lên quả vị Phật. Người nghe mà sanh lòng tin hiểu thích thú là có duyên lành lớn, nghe mà nghi ngờ thì duyên lành đã kém thiếu. Đây là diễn tả công đức Phật pháp thân vô lượng, vô biên, nếu là công đức Phật hóa thân thì có thể tính kể được. Như đức Phật Thích-ca hiện thân tám mươi năm, trong thời gian đó chúng ta tính được ngài thuyết pháp hơn ba trăm hội. Đến đây hết phẩm Nhập Pháp Giới, Thiện Tài đồng tử đến gặp Bồ-tát Phổ Hiền là vị thiện tri thức thứ năm mươi ba, được viên mãn hạnh nguyện Bồ-tát, thành tựu con đường tham học, được nhập vào cảnh giới Phổ Hiền. Bài kệ của Bồ-tát Phổ Hiền nêu lên những công hạnh lợi sanh, vô lượng công đức của chư Phật, đó là khuyến khích hàng Bồ-tát tương lai, khi thành tựu hạnh nguyện rồi thì sẽ có vô lượng diệu dụng, hóa thân vô số để làm lợi ích chúng sanh. Tóm lại, mục đích tham học Bồ-tát đạo là để lợi sanh, không vì tư lợi. Mục Lục
|
Thanh Từ Toàn Tập 11 - Kinh Hoa Nghiêm Trích Giảng (Phần 2)
|