|
Thanh Từ Toàn Tập 3 - Kinh Bộ Giảng Giải 3
Lược Khảo Lịch Sử Kinh
Kinh Kim Cang cũng có người đọc là Kim Cương. Kinh này do đức Phật nói, nguyên văn bằng chữ Phạn, sau truyền sang Trung Quốc được dịch ra chữ Hán. A- Những nhà phiên dịch Phạn - Hán: 1. Ngài Cưu-ma-la-thập (Kumārajīva 344-413 Tây lịch) ở chùa Thảo Đường tại Trường An. Vào niên hiệu Hoằng Thủy năm thứ tư, tức là năm 402, thuộc đời Diêu Tần, ngài dịch tên kinh là “Kim Cang Bát-nhã ba-la-mật". Đây là bản có giá trị nhất, được gọi là định bản, vì bản dịch này được mọi người dùng để trì tụng. Bản này nằm trong bộ Tam Bảo tụng hằng ngày (Kinh nhật tụng). 2. Ngài Bồ-đề-lưu-chi (Bodhiruci) đời Bắc Ngụy (386-534) dịch tên kinh đồng với bản trên tức là “Kim Cang Bát-nhã ba-la-mật” vào năm 509. 3. Ngài Ba-la-mật-đà (Paramārtha 499-569), Trung Hoa dịch là Chân Đế, dịch năm 558 đời Trần (557-589), cũng để tên là “Kim Cang Bát-nhã ba-la-mật”. 4. Ngài Đạt-ma-cấp-đa (Dharmagupta) đời Tùy (581-618), khoảng đầu thế kỷ thứ VII dịch tên cũng đồng là "Kim Cang Bát-nhã ba-la-mật”. 5. Ngài Huyền Trang (600-664) đời Đường (618-907), dịch chung trong bộ Đại Bát-nhã, 600 quyển, gồm 16 hội, vào giữa thế kỷ thứ VII. “Kim Cang” là hội thứ 9, quyển 577 trong bộ Đại Bát-nhã. 6. Ngài Nghĩa Tịnh (635-713) đời Đường, dịch tên kinh là “Phật thuyết năng đoạn Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh” năm 703. Ngài có đi Ân Độ mang bản chữ Phạn về. Sáu nhà dịch đồng một bản kinh, nhưng về sau được chú ý nhất là bản của các ngài Cưu-ma-la-thập, ngài Huyền Trang và ngài Nghĩa Tịnh. B- Những nhà sớ giải: Kinh Kim Cang rất được các thiền sư và giảng sư Trung Hoa chú ý sớ giải, có khoảng mười nhà. 1. Ngài Trí Khải đời Tùy để tên là “Kim Cang Bát-nhã kinh sớ” gồm một quyển. 2. Ngài Cát Tạng đời Tùy để tên là “Kim Cang Bát-nhã sớ” gồm bốn quyển. 3. Ngài Khuy Cơ đời Đường để tên là “Kim Cang Bát-nhã kinh tán thuật” gồm hai quyển. 4. Ngài Tông Mật tức ngài Khuê Phong cũng ở đời Đường, để tên là “Kim Cang Bát-nhã kinh sớ luận toát yếu” gồm hai quyển. 5. Ngài Trí Nghiêm cũng thuộc đời Đường, để tên là “Kim Cang Bát-nhã ba-la-mật kinh lược sớ” gồm hai quyển. 6. Ngài Tử Tuyền đời Tống, để tên là “Kim Cang kinh toát yếu san định ký” gồm bảy quyển. 7. Ngài Tông Lặc và Như Khởi vào đời Minh, để tên là “Kim Cang Bát-nhã ba-la-mật chú giải” gồm một quyển. 8. “Kim Cang chư gia” trích lời giảng của các thiền sư. 9. Gần đây có ngài Thái Hư, để tên là “Kim Cang giảng lục”. 10. Gần đây nhất là cư sĩ Giang Vị Nông, để tên là “Kim Cang Bát-nhã ba-la-mật kinh giảng nghĩa". C- Những nhà phiên dịch Hán - Việt: 1. Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch trong bộ Tam Bảo tụng hằng ngày. 2. Hòa thượng Thích Thiện Hoa dịch trong bộ Phật Học Phổ Thông (tức là trong Mười hai nấc thang giáo lý). 3. Hòa thượng Thích Huệ Hưng dịch quyển “Kim Cang giảng lục” của ngài Thái Hư. 4. Cư sĩ Đồ Nam dịch bản của ông Giang Vị Nông. Quyển “Kim Cang chư gia” cũng được dịch. D- Sự liên hệ giữa kinh Kim Cang và Thiền tông. Dĩ nhiên ai cũng biết Lục Tổ khi gánh củi vào khách điếm bán, thấy có người đang tụng kinh Kim Cang, Lục Tổ nghe qua tâm liền khai ngộ, mới hỏi thăm và được biết là Ngũ tổ Hoàng Mai dạy đồ đệ trì tụng Kim Cang, do đó ngài tìm đến học đạo. Trong Thiền tông lúc tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma) truyền tâm ấn cho ngài Huệ Khả, Tổ trao bốn quyển kinh Lăng-già (Lanka) để làm tâm ấn. Đến đời Ngũ Tổ, thấy Kim Cang là quyển kinh tối yếu trong nhà Thiền, ngài dạy: “Chẳng những tăng ni mà cả cư sĩ đều nên trì tụng kinh Kim Cang." Ngũ Tổ chủ trương dùng kinh Kim Cang để ấn tâm, thế nên khi Lục Tổ đến học, vào đêm được truyền y bát, ngài đem kinh Kim Cang ra giảng. Khi giảng đến câu Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, Lục Tổ hoàn toàn liễu ngộ. Như vậy Lục Tổ ngộ đạo và được truyền y bát làm Tổ cũng nhân nơi kinh Kim Cang. Do đó chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của kinh này đối với Thiền tông. Vì thế kinh Kim Cang được xem như tâm ấn trong nhà Thiền. Ngài Khuê Phong cũng bảo: Kim Cang là bộ kinh quý đáng để ấn tâm. Học kinh Kim Cang là học thẳng vào phương pháp tu Thiền. Mục Lục
|
Thanh Từ Toàn Tập 3 - Kinh Bộ Giảng Giải 3
|