|
Thanh Từ Toàn Tập 15 - Thiền Học Căn Bản
Chương 1 - 4
Quyển Tọa Thiền Tam-muội này do chư tổ gom chép, biên soạn những pháp thiền căn bản thiết yếu cho người sơ cơ. Trong đó ngài Samgharaksa (Tăng-già-la-xoa) đã nói rõ pháp quán đối trị tướng dâm nhuế si của chúng sanh. Dứt trừ gốc bệnh mới có thể tiến tu, đây là cửa ban đầu vào đạo. Ngài Cưu-ma-la-thập dịch quyển này từ Phạn sang Hán tại Trường An vào năm 402 đời Dao Tần. Trong lúc nghiên cứu pháp tu thiền, tự mình tìm con đường thích hợp để ứng dụng, tôi thấy lời dạy trong đây rõ ràng, có lợi ích rất lớn nên phát tâm dịch ra tiếng Việt. Trong chương trình giảng dạy Thiền Căn Bản, tôi chọn ba quyển: Tọa Thiền Tam-muội, Pháp Yếu Tu Tập Tọa Thiền Chỉ Quán và Lục Diệu Pháp Môn để hướng dẫn đường lối tu cụ thể, giúp cho những người sơ cơ hiểu rõ thứ tự từng bước tiến tu. CHƯƠNG I TỔNG KHỞI Chánh văn: Phật nói khó được nghe, Được nghe mừng cũng khó, Điều đại nhân ưa nghe, Kẻ tiểu nhân lại chán. Chúng sanh đáng thương xót, Rơi đường hiểm lão tử, Kẻ quê mọi ân ái, Chỗ sợ, ngu không sợ. Thế giới dù lớn nhỏ, Pháp vẫn không thường còn, Tất cả không lâu bền, Tạm hiện như điển chớp. Thân này thuộc già chết, Chỗ về của các bệnh, Da mỏng che bất tịnh, Ngu muội bị nó lừa. Người thường bị giặc già Cướp mất sắc trai trẻ, Như cành hoa xàu héo Rã cánh hết quý giá. Công đức vua Đảnh Sanh Ngồi chung trời Đế-thích, Phước báo rất rộng lớn Ngày nay lại còn đâu! Vua ấy trong trời người Dục lạc đủ hơn hết, Khi chết rất đau khổ, Do đó khá nhận ý. Các dục trước vui nhỏ, Sau thảy thành khổ lớn, Như oán trước thấy tốt, Diệt tộc họa ở sau. Thân này là đồ nhơ, Chín lỗ thường chảy nhớp, Cũng như ghẻ na-lợi, Thầy thuốc khôn bề trị. Xe xương sức rất kém, Gân mạch ràng, thức chuyển, Ngươi cho là xe đẹp, Nhận thích không hổ thẹn. Người chết gom một chỗ Vất bỏ đầy gò nổng, Lúc sống cùng tiếc giữ Khi chết đều vất đi. Thường phải nghĩ như thế, Nhất tâm quán chớ loạn, Phá ngu mê đen tối Cầm đuốc rạng sáng soi. Nếu bỏ Tứ niệm chỉ, Tâm ác nào chẳng tạo, Như voi hăng không móc Trọn không theo lối khiển. Ngày nay gây nghiệp này Ngày mai tạo việc kia, Ưa thích không thấy khổ Bất ngờ giặc chết đến! Lo lắng việc của mình, Việc kẻ khác cũng tính, Giặc chết không đợi giờ Đến thì không phương thoát. Như nai khát tìm suối, Vì uống nên đến nước, Thợ săn không từ bi, Không đợi uống xong, giết. Người ngu cũng như thế, Siêng tạo các sự nghiệp, Chết đến không đợi giờ, Ai sẽ vì ngươi giữ? Người tâm mong giàu sang, Ngũ dục lòng chưa thỏa, Các vị đại quốc vương Đâu khỏi được nạn này. Chư tiên giỏi chú thuật Cũng không thoát sanh tử, Voi lớn vô thường đạp Trùng kiến đồng với đất. Cho đến tất cả người, Chư Phật bậc Chánh giác, Vượt qua dòng sanh tử Cũng vẫn không thường ở. Vì thế nên phải biết, Điều ông đáng yêu thích, Hẳn nên sớm bỏ lìa, Nhất tâm cầu Niết-bàn. Sau khi mất thân này, Ai sẽ nhận biết ta? Kẻ được gặp Pháp bảo Và người chưa được gặp, Rất lâu Phật nhật xuất Phá tối lớn vô minh. Phóng ra các ánh sáng Chỉ người đạo, phi đạo, Ta từ đâu mà đến? Đi sẽ trở về đâu? Chỗ nào được giải thoát? Nghi này ai thấu rõ? Phật Thánh nhất thế trí Lâu lắm mới ra đời. Nhất tâm chớ buông lung, Hay phá nghi của người, Kia không ưa thật lợi, Mến thích tâm tệ ác. Ngươi là chúng sanh tốt Nên cầu thật pháp tướng. Ai biết khi nào chết? Chết rồi đến ở đâu? Ví như đèn trước gió Đâu biết khi nào tắt. Pháp chí đạo không khó, Đại thánh chỉ việc nói, Nói trí và cảnh trí, Hai việc không nhờ ngoài. Ngươi nếu không buông lung Nhất tâm thường hành đạo, Không lâu được Niết-bàn Chỗ đệ nhất an lạc. Trí sáng gần người lành, Hết lòng kính Phật pháp, Nhàm chán thân bất tịnh, Lìa khổ được giải thoát. Chỗ vắng tu chí lặng, Ngồi kiết già trong rừng, Xét tâm không buông lung, Ngộ ý, biết các duyên. Nếu không chán cõi đời, Yên ngủ không tự thức, Không nghĩ đời vô thường, Đáng sợ mà chẳng sợ. Hồ phiền não không đáy, Biển sanh tử không bờ, Thuyền vượt khổ chưa đóng Đâu thể vui ngủ nghỉ! Do đây phải giác ngộ, Chớ để ngủ che tâm. Trong bốn thứ cúng dường, Biết lượng, biết vừa đủ. Sợ lớn chưa thoát được, Phải chuyên cần tinh tấn, Tất cả khổ khi đến, Hối hận không thể kịp. Mặc y ngồi cội cây, Đúng như pháp được ăn, Chớ vì tham món ngon Mà tự đến hư hỏng. Món ăn qua khỏi cổ Ngon dở đều không khác, Ưa ngon sanh buồn khổ Bởi thế chớ nên ưa. Hành nghiệp trong thế giới, Ngon dở đâu chẳng trải, Tất cả đều thọ đủ, Phải lấy đó tự ngăn. Nếu ở trong loài thú Nhai cỏ làm vị ngon, Địa ngục nuốt hoàn sắt Sắt đốt cháy hừng hực. Nếu sanh quỷ bệ-lệ, Máu mủ đồ phẩn uế, Dãi đàm, các bất tịnh, Lấy đó làm món ngon. Nếu được sanh thiên cung, Trong cung đẹp thất bảo, Ăn toàn thức tô-đà, Thiên nữ làm vui lòng. Sanh làm người hào quý Món ngon đủ các thứ, Tất cả từng trải qua Nay sao còn ưa thích? Qua lại trong thế giới, Chán trải việc khổ lạc, Chỉ chưa được Niết-bàn, Phải siêng cầu lợi này. Giảng: Phật nói khó được nghe, Được nghe mừng cũng khó, Điều đại nhân ưa nghe, Kẻ tiểu nhân lại chán. Chúng sanh đáng thương xót, Rơi đường hiểm lão tử, Kẻ quê mọi ân ái, Chỗ sợ, ngu không sợ. Phật nói khó được nghe, được nghe mừng cũng khó. Chúng ta được nghe lời Phật dạy đã là điều khó, nghe rồi vui mừng thích thú lại càng khó hơn. Tại sao? Vì chúng ta chỉ thích nghe những điều vui tai, êm ái nhẹ nhàng, còn những điều khô khan nhưng đúng lẽ thật thì không ai thích. Đức Phật không nói những chuyện đúng sở thích của chúng ta. Mọi người, ai cũng muốn được khen mình đẹp; đáng kính. Phật lại nói thân mình nhớp nhúa, tạm bợ; nghe như thế có mừng không? Lời nói thật thì khó nghe, lời nói tán tụng thì dễ chịu. Đó là bệnh của con người. Chúng sanh ít ai chịu nghe lời Phật nên nói là khó được nghe. Nghe rồi lại hoan hỷ, mừng rỡ nghe được điều chưa từng nghe, cũng rất khó. Có túc duyên nhiều đời mới được hiểu như vậy, nếu mới tu sơ sơ thì không ưa thích nghe. Điều đại nhân ưa nghe, kẻ tiểu nhân lại chán. Những điều mà người lớn, người trí thức chịu nghe thì người thường trí kém không thích. Như người không hiểu Phật pháp, nghe nói thân này là nhớp nhúa tạm bợ thì chắc chắn không thích, bịt tai bỏ đi. Chúng sanh đáng thương xót, rơi đường hiểm lão tử. Tất cả chúng sanh đều đáng thương xót, cam chịu rơi trong đường hiểm sanh già bệnh chết. Tại sao? Bởi vì họ thích nghe lời tán tụng khen ngợi không xác thực, mà không thích nghe lẽ thật, không thích nghe lời chỉ dạy thoát khổ. Kẻ quê mọi ân ái, chỗ sợ ngu không sợ. Người không hiểu biết bị Tổ quở là kẻ quê mùa thích những điều ân ái ràng buộc, thích làm tôi mọi của ái dục. Đó là chỗ người trí sợ mà kẻ ngu không sợ. Người trí sợ những tâm niệm bị cột trói trong ái dục, là nguyên nhân trầm luân, kẻ ngu lại thích bị gia đình cột trói. Qua các câu mở đầu, Tổ chỉ dạy tổng quát về chúng sanh, thế nào là đại nhân, thế nào là tiểu nhân, ai là người ngu, ai là kẻ trí. Chúng ta tự kiểm lại mình, tự xét chứ không ai phê phán được. Tự xét rồi thầm biết, thầm biết rồi ráng mà vươn lên. Thế giới dù lớn nhỏ, Pháp vẫn không thường còn, Tất cả không lâu bền, Tạm hiện như điển chớp. Nhìn lại thế giới chúng ta đang ở đang nương tựa đây, nó là thường còn hay là vô thường? Thiên tai bão lụt khắp nơi, động đất ở Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản... Mới thấy bình an, ngủ một đêm thức dậy thành tai họa, không có gì bảo đảm. Thế mà chúng ta cứ ngỡ nó là còn mãi mãi, nó là bất di bất dịch... Đó là cái hiểu sai lầm. Cho nên ở đây Tổ nhắc cho nhớ, dù thế giới lớn hay nhỏ vẫn là tướng vô thường tạm bợ không lâu bền, tạm hiện như điện chớp, mới thấy lóe sáng rồi mất. Thân này thuộc già chết, Chỗ về của các bệnh, Da mỏng che bất tịnh, Ngu muội bị nó lừa. Hai câu trên ngài nói thân chúng ta thuộc già, chết. Có người nào mang thân này mà khỏi già chết không? Đó là con đường phải đến, chỉ có người sớm kẻ muộn thôi. Thân này chẳng những thuộc già chết mà còn là ổ chứa bệnh hoạn. Có ai dám khẳng định từ bé đến giờ chưa biết bệnh là gì? Ai cũng mang đủ thứ bệnh, không bệnh này cũng bệnh khác, chưa có người không bệnh. Da mỏng che bất tịnh, ngu muội bị nó lừa. Thân chúng ta bên ngoài chỉ có lớp da mỏng tạm coi sạch sẽ một chút, bên trong lại chứa toàn đồ nhớp nhúa, chỗ nào khơi ra cũng nhờm gớm, từ đầu cho tới chân. Thân chúng ta chỉ có dáng vẻ bên ngoài, kẻ ngu bị nó lừa, nhìn dáng bề ngoài cho là đẹp là xấu... Người trí thấy biết tột cùng, bên ngoài tốt đẹp đến đâu cũng chỉ là một lớp da mỏng bao bọc, bên trong thân là bất tịnh không có gì khác, vì thế không bị lừa. Người thường bị giặc già Cướp mất sắc trai trẻ, Như cành hoa xàu héo Rã cánh hết quý giá. Ở đời, ai cũng bị giặc già cướp mất sức trai trẻ. Năm nay hai mươi tuổi, mười năm sau ba mươi, rồi đến bốn mươi, năm mươi... tất cả tuổi trẻ, vẻ đẹp, sức tinh nhanh đều không còn. Tuổi già như cành hoa xàu héo. Chúng ta thấy cành hoa nào đang tươi cũng đều dễ thương muốn hái, muốn cầm nắm, nhưng khi nó héo tàn có ai muốn cầm giữ nó không? Ở Trúc Lâm có những lúc tôi thấy buồn cười, khách đi chùa thấy vườn hoa đẹp, dù có ghi bảng yêu cầu đừng hái hoa nhưng họ cũng ngắt một cái, cầm đi chơi một hồi thấy nó héo thì quăng. Con người thời tuổi trẻ thấy là đẹp là quý, nhưng về già thì mất hết tự hào, không còn ai ngó ngàng đến. Vì vậy trong đây nói Như cành hoa xàu héo, rã cánh hết quý giá. Công đức vua Đảnh Sanh Ngồi chung trời Đế-thích, Phước báo rất rộng lớn Ngày nay lại còn đâu! Kinh A-hàm dẫn tích vua Đảnh Sanh. Vị vua này có phước đức nhiều nên cầu gì được nấy. Ông muốn cầu bảy báu thì trời mưa bảy báu đầy cả dinh thự, đầy kho lẫm. Mong cầu cuối cùng của ông là lên chơi cõi trời, liền được toại nguyện. Vua trời Đế-thích thấy ông liền mừng đón mời ông ngồi chung tòa. Quán sát cõi trời ông khởi tâm ham thích, bèn thầm nghĩ xô Đế-thích xuống để giành ngôi. Vừa khởi nghĩ thì ông bị rớt xuống lại trần gian. Như vậy, phước báo của vua Đảnh Sanh thật to lớn, cầu gì được nấy, chỉ vì lòng tham không bờ bến nên bị rớt lại thế gian chịu khổ. Tất cả phước báo dù to lớn đến đâu, sau cùng rồi cũng tan. Chúng ta thường ham thích muốn được phước nhiều để hưởng, nhưng sung túc chừng nào thì chết yểu chừng nấy. Phước báo nhiều không có lợi, không phải là cái đáng mong cầu. Vua ấy trong trời người Dục lạc đủ hơn hết, Khi chết rất đau khổ, Do đó khá nhận ý. Vua Đảnh Sanh ở trong cõi trời cõi người tất cả dục lạc đầy đủ hơn ai hết, đến giờ phút chót phải khổ rồi chịu chết, không ai ngó ngàng. Chúng ta phải hiểu ý này nên sớm lo tu hành, không nên tham đắm dục lạc thế gian. Các dục trước vui nhỏ, Sau thảy thành khổ lớn, Như oán trước thấy tốt, Diệt tộc họa ở sau. Vui dục lạc lúc đầu chỉ là cái vui nhỏ, nhưng lại thành khổ lớn. Như những đứa trẻ ngu dại hút xì-ke ma túy, lúc được hút thì vui không? Vui! Nhưng vui được bao lâu? Vui nhiều lắm là năm ba phút, đến khi nghiện thì khổ suốt đời. Như thế mà người ta lại đắm mê trong đó, thật đáng thương. Như oán trước thấy tốt, diệt tộc họa ở sau. Khi chúng ta tạo nhiều oán thù, thấy mình thắng người, hơn người rồi tưởng như vậy là tốt. Nhưng người ta ôm mối oán thù với mình có ngày họ tiêu diệt mình. Vui trong dục lạc cũng như vậy, lúc đầu tốt đẹp mà sau chịu khổ lâu dài. Thân này là đồ nhơ, Chín lỗ thường chảy nhớp, Cũng như ghẻ na-lợi, Thầy thuốc khôn bề trị. Thân chúng ta bất tịnh, bên trong chứa đồ nhơ, hở chỗ nào thì chảy ra toàn những thứ nhớp. Như con mắt, lỗ mũi xem như rất quan trọng, vậy mà thỉnh thoảng chảy ra ghèn nhớt, nước mũi... rất gớm. Đã gớm thì biết rằng những thứ đó không phải tốt đẹp sạch sẽ, quý báu. Nên ở đây nói cũng như ghẻ na-lợi. Ở Ấn Độ ghẻ na-lợi là thứ ghẻ không có thầy thuốc nào trị lành. Ai mắc bệnh này rồi thì phải suốt đời chịu lở lói, khổ sở. Tất cả chúng ta mang thân này toàn là đồ nhớp nhúa, như ghẻ lở hôi hám không ai làm cho nó sạch được. Biết như vậy thì không nên đắm mến để khỏi khổ vì nó. Xe xương sức rất kém, Gân mạch ràng, thức chuyển, Ngươi cho là xe đẹp, Nhận thích không hổ thẹn. Thân này do những lóng xương kết lại, gân mạch ràng rịt, thành như một cái xe. Trong đó thần thức chuyển biến khiến thân cử động như chiếc xe đi lại tới lui. Chỉ là một mớ xương gân da thịt ràng rịt làm thân này mà người ta cho là đẹp, thích thú yêu mến nó không biết hổ thẹn. Tổ nhắc nhở điều này để chúng ta đừng tự hào về thân mình. Người chết gom một chỗ Vất bỏ đầy gò nổng, Lúc sống cùng tiếc giữ Khi chết đều vất đi. Đây nói đến lúc cuối cùng của đời người, ai chết rồi thì cũng đều vất bỏ hết. Nhiều khi chúng ta nghĩ tủi cho thân mình, ngày nào còn sống thì anh em cha con vui vẻ thân mật. Lúc có một người chết, thân đã bầm xanh rồi thì cha con anh em không dám lại gần. Mới hôm qua là quý là thương, là thân mật, sao bữa nay lại khinh rẻ vậy? Người thân thuộc chết chúng ta gớm sợ không dám lại gần, mai kia thân chúng ta chết thì sao? Mọi người cũng gớm, không dám lại gần như vậy. Mới ngày nào thân mật, đi đâu cũng không rời mà khi tắt thở, bầm xanh rồi không ai thèm ngó tới, bảo lại gần không dám lại gần. Cho nên lối chôn cất cũng khéo léo, phải có quan tài đậy kín rồi sơn màu mè cho dễ coi, nếu để trống trơn ở ngoài chắc thiên hạ gớm không ai dám tới. Nếu thân này là quý là sạch, khi sống được mọi người mến thương thì khi chết cũng phải như vậy. Vậy thân này là đồ quý hay đồ bỏ? Ở Ấn Độ có thi lâm, là khu rừng để bỏ thây chết. Phật dạy các thầy Tỳ-kheo đến thi lâm quán bất tịnh để nhàm chán, không yêu quý thân. Thường phải nghĩ như thế, Nhất tâm quán chớ loạn. Lúc sống chúng ta quý tiếc gìn giữ thân, nhưng khi chết thì mọi người đều vất đều quăng nó đi không thương tiếc. Thường nghĩ nhớ quán sát như vậy, chúng ta không si mê lầm chấp thân, quý trọng thân. Nếu không nhất tâm quán xét sự thật, chúng ta sẽ chịu khổ, lệ thuộc vào thân không thoát ra được. Thân này là đồ bỏ, không đáng quý nhưng chúng ta có nó thì phải làm sao? Phật nói thân là vật bại hoại vô thường nhưng cũng nói thân này mất đi tìm lại được rất khó. Khó được tức là quý, mà đây thì nói thân bất tịnh đáng chê, như vậy có mâu thuẫn không? Phật dạy thân này tuy không ra gì, nhớp nhúa, tạm bợ... nhưng rất cần để tu tập, đem lại lợi ích cho mình và người. Chúng ta phải làm thế nào xứng đáng khi có mặt trên thế gian này. Không phải thấy thân gớm, nhớp quá rồi thả trôi nằm chờ chết, đó là lầm lẫn. Ví dụ chúng ta đi sông đi biển lỡ chìm thuyền, lúc đó bơi ra ngoài bỗng gặp được gốc cây mục. Biết là gốc cây mục không có gì quý, nhưng lúc mình đuối sức bơi không nổi lội không được, đeo gốc cây mục thì khỏi chìm. Bản thân gốc cây mục không quý, nhưng nhờ nó mà mình khỏi chết chìm là quý. Được gốc cây mục rồi chúng ta phải nương nó, cố gắng bơi cho tới bờ. Nếu được nó mà cứ đeo bám ràng rịt, lâu ngày nó rã mình cũng chết chìm luôn, đó là dại khờ. Đức Phật thường dạy, chúng ta có thân này, mượn nó để tu, để làm những điều công đức. Nhờ nó đưa chúng ta tới bờ bên kia, qua khỏi vòng trầm luân. Khinh rẻ nó để chờ chết đó là dại khờ; biết không đáng quý nhưng đem hết khả năng tu tiến đến giác ngộ, đó là người khôn biết dùng thân. Phá ngu mê đen tối Cầm đuốc rạng sáng soi. Nếu bỏ Tứ niệm chỉ, Tâm ác nào chẳng tạo, Như voi hăng không móc Trọn không theo lối khiển. Phá ngu mê đen tối, cầm đuốc rạng sáng soi, nghĩa là dùng đèn trí tuệ phá ngu mê, dùng đuốc trí tuệ soi sáng lại bản thân chúng ta, đừng đắm mến đừng say mê nó, mà ráng tu. Tứ niệm chỉ, chỗ khác gọi là Tứ niệm xứ, là quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã, nhớ bốn điều này theo đó tu hành. Tâm ác nào chẳng tạo, nếu không tu Tứ niệm chỉ, tâm chúng ta không chừa bất cứ điều ác nào, giống như con voi đang hăng đang mạnh mà không có móc nhọn để kéo lại thì nó không theo sự điều khiển của mình. Vì thế chúng ta tu tứ niệm xứ để dẹp trừ tâm đuổi theo dục lạc thế gian, nếu không thì tâm đắm mê dục lạc khó kìm giữ. Ngày nay gây nghiệp này Ngày mai tạo việc kia, Ưa thích không thấy khổ Bất ngờ giặc chết đến! Người đời gây tạo nghiệp khổ mà không thấy biết, nay tạo nghiệp này mai tạo nghiệp kia, cứ chạy theo nghiệp, một hôm nào cái chết đến thì sao? Chừng đó giật mình hối hận không kịp, chỉ có theo nghiệp mà đi, không sao thoát khỏi đau khổ. Lo lắng việc của mình, Việc kẻ khác cũng tính, Giặc chết không đợi giờ Đến thì không phương thoát. Chúng ta chẳng những lo lắng việc của mình, việc kẻ khác cũng tính. Việc của mình lo tính phải rồi, việc của người cũng lo không chịu dừng, tưởng như mình hay mình giỏi lắm. Chẳng ngờ việc của mình làm chưa xong, giặc chết đến không hẹn ngày, không chờ lo xong việc. Chết là kẻ giặc lớn cướp mạng sống con người, không ai thoát khỏi nó. Như nai khát tìm suối, Vì uống nên đến nước, Thợ săn không từ bi, Không đợi uống xong, giết. Con nai khát nước tìm đến suối để uống nước. Khi nó đang uống, người thợ săn nhìn thấy, chờ nó uống xong rồi mới bắn hay thấy là bắn liền? Thấy là bắn liền. Cái chết đối với chúng ta cũng thế, tính việc này việc kia chưa xong, phải chi thần chết thương tình nán cho mình năm bảy bữa xong rồi nó hãy bắt đi! Mình đang tính dang dở chưa xong mà ngã đùng ra chết. Thế gian có rất nhiều trường hợp như vậy. Biết như thế chúng ta phải khéo hiểu đừng mê lầm chấp trước mọi việc, một khi thần chết tới không biết làm sao mà giải quyết. Người ngu cũng như thế, Siêng tạo các sự nghiệp, Chết đến không đợi giờ, Ai sẽ vì ngươi giữ? Chúng ta như người si mê, lúc sống tạo sự nghiệp này sự nghiệp kia, khi cái chết đến rồi ai sẽ giữ cho mình đây? Vậy mà có nhiều người lớn tuổi, năm mươi sáu mươi đến bảy mươi cũng cứ tính làm cái này, tính làm cái kia. Cứ nỗ lực lo tính, hết sức ra công làm, làm rồi thì không biết ai giữ. Sao không để sức mình làm những việc lợi ích cho chúng sanh, dành thời giờ tu tập, lợi ích biết là bao. Cứ cố gắng tạo sự nghiệp, khi nhắm mắt không đem theo được gì, chỉ có nghiệp theo mình. Người tâm mong giàu sang, Ngũ dục lòng chưa thỏa, Các vị đại quốc vương Đâu khỏi được nạn này. Người mong cầu được giàu sang, đối với ngũ dục lòng không bao giờ thỏa mãn. Họ cứ mong hoài, được cái này đòi cái nọ. Các vị đại quốc vương thuở xưa đâu khỏi được nạn này, tức là đâu khỏi được cái chết. Dù tài giỏi giữ được ngôi báu nước nhà rồi cũng phải chết, không sống mãi để hưởng ngũ dục. Chư tiên giỏi chú thuật Cũng không thoát sanh tử, Voi lớn vô thường đạp Trùng kiến đồng với đất. Cho đến tất cả người, Chư Phật bậc Chánh giác, Vượt qua dòng sanh tử Cũng vẫn không thường ở. Thường người ta nói mấy ông tiên tu luyện được thuật trường sanh không chết. Điều đó có đúng không? Nếu không chết thì bây giờ chúng ta phải gặp, nhưng có còn vị nào không? Tiên sống lâu hơn người thường thì được một trăm năm hoặc hơn trăm năm rồi cũng chết. Dù chú thuật giỏi mấy cũng không thể giữ thân này được. Voi lớn vô thường đạp, trùng kiến đồng với đất. Vô thường giống như con voi lớn giẫm đạp tất cả, nào kiến nào trùng cũng như đất dưới chân, ý nói cái chết không tha một ai. Cho đến tất cả người, chư Phật bậc Chánh giác, vượt qua dòng sanh tử cũng vẫn không thường ở. Đây là chỗ nhiều người hay nghi ngờ. Nói rằng con voi lớn vô thường diệt hết không chừa một ai, đến như đức Phật đã qua dòng sanh tử mà bây giờ cũng không còn. Như vậy, người không tu thì bị già, bệnh, chết, còn Phật tu là để thoát khỏi sanh tử mà sao ngài cũng già, bệnh, chết? Đây là điều hệ trọng cần lưu ý. Kinh điển Đại thừa luôn nhắc nhở chúng ta đừng chấp Phật là thân có ba mươi hai tướng tốt. Nếu cho thân tướng là Phật thì thân ấy bại hoại rồi. Tu là để thoát ly sanh tử, tức là thoát quả sanh tử. Chúng ta mang thân này là kết quả sanh tử, khi tu là dừng tạo nhân sanh tử, bỏ thân này rồi không còn tiếp tục thân khác để chịu sanh tử, không phải tu rồi mình khỏi chết. Phật dạy thân là khổ, nhưng khổ đó từ đâu ra? Từ si mê tham ái nên có thân này, nếu dứt tham ái thì không bị nghiệp dẫn tái sanh, nhân diệt quả diệt, đó là giải thoát sanh tử. Theo nhà thiền hay theo giáo lý Đại thừa, trong thân sanh tử có cái không sanh tử, kinh Pháp Hoa gọi là viên ngọc sẵn có ở trong chéo áo. Chúng ta tu để nhận ra viên ngọc này, là Phật tánh chân tâm không hình không tướng mà hằng giác hằng tri. Chỗ đó vô thường không đến được, ngay đó là thoát ly sanh tử. Chúng ta tu biết rõ cái nào sanh tử, cái nào không sanh tử để sống trở về với nó. Không phải tìm kiếm ở đâu, không phải chờ đợi đến bao giờ, mà ngay đây chúng ta đã có cái không sanh tử rồi, chỉ vì bỏ quên chạy theo sanh tử, đi liên miên trong vòng luân hồi, một khi thức tỉnh trở về sống lại với tánh giác hằng hữu. Thân này có hoại nhưng tánh giác không hoại. Chỗ này nhà thiền gọi là hoa sen trong lò lửa hay là hòn ngọc trên ngọn núi cháy. Núi cháy mà ngọc vẫn tươi nhuần, hoa sen trong lửa mà vẫn tươi thắm. Ngay trong vô thường có cái thường còn bất sanh bất diệt. Nhận được cái đó mới nhận ra ông Phật thật của chính mình. Vì thế nên phải biết, Điều ông đáng yêu thích, Hẳn nên sớm bỏ lìa, Nhất tâm cầu Niết-bàn. Sau khi mất thân này, Ai sẽ nhận biết ta? Đây là lời khuyên chúng ta nên sớm bỏ lìa, đừng chấp thân sanh diệt, mà phải cầu Niết-bàn vô sanh. Bởi vì sao? Vì khi mất thân này rồi ai còn nhận biết mình là gì. Kẻ được gặp Pháp bảo Và người chưa được gặp, Rất lâu Phật nhật xuất Phá tối lớn vô minh. Đây là lời khuyên người đã gặp Phật pháp và người chưa được gặp Phật pháp. Nên nhớ, lâu lắm Phật mới ra đời một lần. Ngài ra đời để phá trừ vô minh, nó là sức mạnh lôi dẫn chúng ta đi mãi trong luân hồi sanh tử, phá được vô minh mới ra khỏi sanh tử. Phóng ra các ánh sáng Chỉ người đạo, phi đạo, Ta từ đâu mà đến? Đi sẽ trở về đâu? Chỗ nào được giải thoát? Nghi này ai thấu rõ? Phật phóng ánh sáng phá trừ vô minh, ánh sáng là trí tuệ giúp chúng ta thấy rõ đâu là con đường nên đi, đâu là con đường không nên đi. Đường nào tà, đường nào chánh, đường nào trầm luân sanh tử, đường nào giải thoát sanh tử, đức Phật chỉ dạy rành rẽ. Tất cả mối nghi ta từ đâu mà đến, khi chết sẽ về đâu, chỗ nào được giải thoát sanh tử... đều được giải quyết. Phật Thánh nhất thế trí Lâu lắm mới ra đời. Nhất tâm chớ buông lung, Hay phá nghi của người. Đức Phật là bậc Nhất thiết trí, lâu lắm mới ra đời một lần. Nếu chúng ta đối với Phật tinh tấn nhất tâm hướng về, ngài sẽ phá những mối nghi, dẫn dắt chúng ta đi trên đường giải thoát. Kia không ưa thật lợi, Mến thích tâm tệ ác. Ngươi là chúng sanh tốt Nên cầu thật pháp tướng. Người không ưa thích cái lợi chân thật, mến thích tâm tệ ác, đó là người thế gian phàm phu. Ngươi là chúng sanh tốt, người biết tu biết đến với đạo là chúng sanh tốt. Nên cầu thật pháp tướng, chúng ta nên tìm cho ra pháp tướng chân thật, đừng chạy theo những thứ tạm bợ. Ai biết khi nào chết? Chết rồi đến ở đâu? Ví như đèn trước gió Đâu biết khi nào tắt. Chúng ta không biết chừng nào mình chết, chết rồi đi đâu cũng không biết. Cuộc đời mình cũng như ngọn đèn để trước gió, lúc nào còn cháy còn sáng thì mừng lúc đó, một cơn gió mạnh thổi qua lại tắt mất. Chúng ta không biết khi nào gió thổi, khi nào đèn tắt. Vì sống trong si mê mờ tối nên cần có người dẫn đường. Pháp chí đạo không khó, Đại thánh chỉ việc nói, Nói trí và cảnh trí, Hai việc không nhờ ngoài. Pháp chí đạo là pháp chân thật. Đại thánh tức là đức Phật, ngài chỉ thẳng sự việc trước mắt để nói ra pháp chí đạo, không nói chuyện gì xa xôi bên ngoài. Nói trí và cảnh trí, Phật nói về trí soi sáng và cảnh bị trí soi sáng. Hai việc đó không thể nhờ bên ngoài mà được, phải do chính chúng ta quán sát ngay trong nội tâm của mình. Ngươi nếu không buông lung Nhất tâm thường hành đạo, Không lâu được Niết-bàn Chỗ đệ nhất an lạc. Nếu chúng ta là người ham tu, không buông lung thả trôi, chăm chỉ nhất tâm cố gắng hành đạo thì không bao lâu sẽ được Niết-bàn. Niết-bàn là chỗ an vui đệ nhất. Chúng ta cứ ngỡ cái vui đó là vui mừng theo lẽ thường, nhưng mà không phải vậy. Cái vui thông thường là vui đối với khổ, vui trong sanh diệt. Cho nên có khi vui có khi khổ, hoặc hết khổ được vui, hết vui trở lại khổ. Niết-bàn là vượt ra ngoài vui khổ đối đãi, là vui bậc nhất. Trên thế gian này, vui và khổ luôn luôn đi đôi. Thử tìm xem có cái vui nào không có khổ đi theo. Như người ngồi trong sòng bạc, họ nói là đi chơi hay đi tìm cái khổ? Đi chơi cho vui, nhưng có vui thật không? Nếu thắng thì vui, thua thì khổ. Cái vui của mình là cái khổ của người. Hoặc cái vui của mình ngày nay là cái khổ của mình ngày mai. Không bao giờ có cái vui thật mà người ta lại thích đi chơi tìm cái vui tạm đó. Tất cả các trò vui thế gian đều có cái khổ bên cạnh. Cái vui đau đớn nhất là võ sĩ lên võ đài. Khán giả ngồi ở dưới thấy phe mình hạ được bên kia thì sao? Vỗ tay khen vui. Còn bên bị hạ thì sao? Buồn! Đó là vui trong cái khổ, trong khi người ta bị đánh ngã. Vì thế, người đời tìm cái vui trong đau khổ nhiều hơn là cái vui thật. Chúng ta hiểu rõ tu là để lìa khổ được vui, để tìm cái vui chân thật không còn đối đãi tạm bợ. Niết-bàn là an vui chân thật, tuyệt đối không còn khổ. Đó không phải là cái vui cười vỗ tay, mà là vui trong thoát ly sanh tử. Trí sáng gần người lành, Hết lòng kính Phật pháp, Nhàm chán thân bất tịnh, Lìa khổ được giải thoát. Chúng ta luôn luôn phải có trí tuệ sáng suốt tìm bạn lành, tìm những người đạo đức để gần gũi. Đem hết tâm kính tin Tam bảo, nhàm chán thân bất tịnh. Như vậy mới được lìa khổ và đạt được vui giải thoát. Chỗ vắng tu chí lặng, Ngồi kiết già trong rừng, Xét tâm không buông lung, Ngộ ý, biết các duyên. Nếu không chán cõi đời, Yên ngủ không tự thức, Không nghĩ đời vô thường, Đáng sợ mà chẳng sợ. Chúng ta tu bằng cách nào? Đến chỗ vắng vẻ ngồi kiết già tọa thiền, giữ cho tâm ý lặng lẽ không buông lung. Nhận rõ tâm ý mình để không bị nó lôi kéo, biết rõ các duyên bên ngoài là hư vọng tạm bợ. Đó là khéo tu. Nếu không chán cõi đời, người mà mê thích cõi đời, người đó không bao giờ biết chán, không chán thì yên ngủ không tự thức. Đó là chấp nhận cái mê, mê trọn đời mê trọn kiếp mà không thức tỉnh. Không nghĩ đời vô thường, đáng sợ mà không sợ. Vô thường đáng sợ mà người mê không biết sợ, vì thế chạy theo dục lạc không chán, không tỉnh thức tu tập. Hồ phiền não không đáy, Biển sanh tử không bờ, Thuyền vượt khổ chưa đóng Đâu thể vui ngủ nghỉ! Những lời này thật tha thiết. Chỉ cho chúng ta thấy rõ tâm mình giống như hồ nước. Hồ nước này là hồ nước phiền não không đáy. Thử xét xem nội tâm chúng ta nghĩ suy tính toán đủ thứ, nó có giới hạn có chừng mực hay không? Tâm rong ruổi chạy tứ tung, không chỗ nào không tới, không việc gì không nghĩ. Suy nghĩ nhiều thì phiền não nhiều. Vì không có chừng mực nên nói hồ phiền não không đáy. Biển sanh tử không bờ, tức là chết nơi đây sanh nơi kia liên tục từ đời này đến kiếp nọ, sanh tử không biết tới đâu là dừng. Biển sanh tử không bờ, chưa đóng thuyền để vượt qua biển khổ thì đâu có lòng nào để vui ngủ nghỉ. Người biết tu luôn nghĩ rằng chúng ta đang chất chứa phiền não, đang luân hồi trong biển sanh tử, phải tìm cách để vượt qua, không thể an lòng vui chơi, lo ngủ nghỉ. Đây là lời nhắc nhở thống thiết của chư tổ. Do đây phải giác ngộ, Chớ để ngủ che tâm. Trong bốn thứ cúng dường, Biết lượng, biết vừa đủ. Đây là nhắc riêng cho giới tu sĩ. Ngài bảo rằng người tu phải giác ngộ, phải ý thức rằng mình đang dẫy đầy phiền não, chưa thoát khỏi sanh tử, phải cố gắng tu, cố gắng tìm cách thoát sanh tử, không nên ham ngủ. Chớ để ngủ che tâm, ngủ làm cho tâm mình mờ mịt. Lúc ngủ chúng ta không làm chủ được mình nên nói bị ngủ che tâm. Trong bốn thứ cúng dường, người xuất gia thì luôn luôn nhờ Phật tử ủng hộ ẩm thực, ngọa cụ, y phục, thuốc men. Đối với bốn thứ này phải biết độ lượng biết đủ, không tham nhiều tham đẹp, đó gọi là biết tu. Sợ lớn chưa thoát được, Phải chuyên cần tinh tấn, Tất cả khổ khi đến, Hối hận không thể kịp. Nỗi sợ hãi lớn của chúng ta là biển khổ sanh tử, phải làm sao thoát khỏi nó. Chưa thoát được thì phải cố gắng chuyên cần tinh tấn tu hành. Đừng để khi khổ đến lại hối hận là mình chưa làm được gì, chưa tu được bao nhiêu. Dù có hối hận cũng không kịp. Vì vậy cần phải tinh tấn cần mẫn tu tập, nếu vô thường đến chúng ta kịp thời tỉnh giác. Mặc y ngồi cội cây, Đúng như pháp được ăn, Chớ vì tham món ngon Mà tự đến hư hỏng. Đây nhắc người xuất gia mặc y của Phật, tọa thiền dưới cội cây. Đúng như pháp được ăn, tức là nhận thức ăn đúng pháp của thí chủ cúng dường. Chớ vì lòng tham, khi ăn đừng đòi món này ngon, đừng chê món kia dở. Còn tham ăn, khen ngon chê dở là tự mình làm hư hỏng mình. Món ăn qua khỏi cổ Ngon dở đều không khác, Ưa ngon sanh buồn khổ Bởi thế chớ nên ưa. Thức ăn của chúng ta lúc còn ở trên bàn trên mâm thì có món ngon món dở, mới để vô miệng, lưỡi nếm còn thấy ngon dở, chừng ba phút sau nhai nuốt vào một hồi thì sao? Lúc đó ngon dở hết giá trị. Thức ăn dù ngon hay dở khi vào bụng rồi cũng như nhau, không có giá trị gì. Nhiều người vì thích ăn ngon phải chịu khổ cực tìm kiếm, vì cái dở mà bực bội, đó là điều không cần thiết. Hành nghiệp trong thế giới, Ngon dở đâu chẳng trải, Tất cả đều thọ đủ, Phải lấy đó tự ngăn. Tất cả chúng ta sanh ra trong thế gian này không biết bao nhiêu lần, có khi làm quan có khi làm dân, có khi làm trưởng giả có khi làm tôi đòi... Trải qua nhiều kiếp cũng từng ăn bao nhiêu món ngon dở, bây giờ còn trông mong ngon dở làm chi nữa. Cái nào chúng ta cũng có trải qua, đều thọ đủ rồi. Phải nhớ phải nghĩ như vậy để ngăn ngừa tâm ý đừng có mê say. Nếu ở trong loài thú Nhai cỏ làm vị ngon, Địa ngục nuốt hoàn sắt Sắt đốt cháy hừng hực. Nếu sanh quỷ bệ-lệ, Máu mủ đồ phẩn uế, Dãi đàm, các bất tịnh, Lấy đó làm món ngon. Nếu được sanh thiên cung, Trong cung đẹp thất bảo, Ăn toàn thức tô-đà, Thiên nữ làm vui lòng. Sanh làm người hào quý Món ngon đủ các thứ, Tất cả từng trải qua Nay sao còn ưa thích? Ngài nhắc lại, có khi chúng ta sanh trong các loài thú, lúc đó cỏ lá cây là ngon. Như trâu bò nai hươu... thấy cỏ non cho là ngon. Có khi đọa xuống địa ngục bị bắt nuốt hoàn sắt cháy hừng hực. Có khi sanh làm loài quỷ bệ-lệ thì lấy máu mủ và đồ phẩn uế, những thứ bất tịnh làm món ăn. Có khi sanh lên thiên cung, ở cung điện trang nghiêm đẹp đẽ toàn bằng thất bảo, thức ăn toàn vị tô-đà, có thiên nữ làm cho vui lòng. Có khi sanh làm người sang cả hào quý thì món ngon đủ các thứ. Như vậy chúng ta từng trải qua rất nhiều đời kiếp, ăn uống đủ loại, tại sao không sanh lòng chán sợ, còn ưa thích đòi hỏi thêm nhiều? Đó là lời răn nhắc, nhớ lại việc trước kia không nên đắm mê ưa thích. Qua lại trong thế giới, Chán trải việc khổ lạc, Chỉ chưa được Niết-bàn, Phải siêng cầu lợi này. Chúng ta đã từng trải qua biết bao thế giới, tất cả việc khổ vui đều nếm đủ không thiếu một việc gì, chỉ chưa được Niết-bàn. Bây giờ phải cố gắng tìm cầu Niết-bàn, đó là việc quan trọng. Còn tất cả các việc kia không có gì quan trọng. Chúng ta sanh ra ở đời này, không nghĩ về những đời trước, cũng không nghĩ đến đời sau. Đó là vòng luân hồi liên miên không dừng, nhưng chúng ta không tin cũng không để ý đến. Nếu có tin là vì nghe Phật nói, chứ không tin chắc lắm. Tôi tin chắc chúng ta đã có mặt trải qua vô số đời, chỉ vì không thấy biết rõ ràng nên tưởng như mình chỉ sống một đời này thôi. Ví dụ trong gia đình, tất cả mọi người không giống nhau hoàn toàn, mỗi người có một sở thích khác. Cái không giống đó là duyên từ quá khứ, nên khi ra đời người mang ý thích này, người mang ý thích kia. Như trong lớp học, thầy cô dạy chung tất cả học trò, nhưng có người giỏi môn văn, người giỏi toán, người giỏi thủ công... Nếu bảo rằng từ thầy dạy, thầy không dạy riêng, giỏi thì phải giỏi đồng với nhau. Như vậy mới biết chúng ta ra đời đã mang sẵn cái gì của quá khứ, có sẵn cái cũ rồi nên gặp việc gợi lại thì phát ra. Có trường hợp những vị thần đồng, học một biết mười, chưa học đã biết, giỏi hơn hẳn thầy giáo. Điều đó chứng minh rằng chúng ta đã có mặt lâu xa lắm, có nhân duyên chủng tử tiềm ẩn trong vô số đời, chỉ vì quên nên không thấy biết. Kinh nghiệm bản thân tôi, tôi tin chuyện luân hồi sanh tử không nghi tí nào. Khi tôi còn nhỏ học lớp ba, được đi theo bác gái đến chùa Sơn Tiên núi Ba Thê ở Long Xuyên, làm tuần thất cho bác trai. Thấy cảnh chùa trên núi, tôi chợt cảm hứng làm bài thơ. Non đảnh là nơi thú lắm ai, Đó cảnh nhàn du của khách tài. Tiếng mõ công phu người tỉnh giấc, Chuông hồi văng vẳng quá bi ai. Lúc đó tôi chưa biết tu là gì, nhưng nhớ lại có lần đi ngang chùa Long An ở Đồng Đế, khi ấy Sư ông của tôi đang trụ trì ở đó. Nhằm ngày rằm tháng bảy, tôi đi ở ngoài đường, trong chùa tới giờ ngọ đánh chuông trống cúng, nghe tiếng chuông tôi đi không được. Hình như có cái gì làm tôi quặn thắt khó chịu lắm, nên tôi mới nói lên câu: Chuông hồi văng vẳng quá bi ai. Nghe tiếng chuông buồn lắm, mà không biết buồn cái gì. Non đảnh là nơi thú lắm ai. Trên Trúc Lâm, cái thất của tôi nằm trên ngọn núi rõ ràng. Đó là chỗ tôi thích từ thuở bé, được ở núi là vui. Bây giờ tôi được lên non đảnh, như vậy lời nói đó từ đâu mà ra? Là cái tích lũy từ xa xưa nào đó đã sẵn rồi, bây giờ gặp cảnh có hứng thú để mình nói lên. Nói mà không suy nghĩ, không tính toán gì hết, mà rồi nó lại thực hiện được. Như vậy có đời trước hay không? Nếu không có đời trước thì tôi cũng như ai, tôi đâu nói được câu nói đó. Nói được câu đó nghĩa là trước kia biết đâu tôi đã từng tu ở núi, bây giờ thấy núi là thích, là nhớ. Biết đâu ngày xưa tôi đã có ở chùa, cho nên khi nghe tiếng chuông chùa tôi chịu không nổi. Khi chúng ta ra đời dường như quên hết, không biết cái gì của quá khứ, nhưng nó vẫn chôn sâu đâu đó. Khi gặp cảnh liền gợi nhớ lại, cái gợi đó không phải là ngẫu nhiên mà là sẵn có. Kiểm điểm lại, chúng ta đều trải qua trường hợp tương tự như thế, ai cũng có sẵn mà vì quên nên coi thường. Phật thấy tường tận sanh tử của chúng sanh liên tục không dừng. Chúng sanh thì không hay biết, tưởng chỉ có đời sống mấy chục năm, không ngờ mình đã bao nhiêu lần sanh tử rồi. Bây giờ cũng chịu sanh tử nữa hay là cố gắng tìm cách thoát ly? Đó là câu hỏi mà tự chúng ta phải suy ngẫm kỹ rồi quyết định cho mình. Sanh tử không có bờ mé, vì vậy mà chúng ta phải cố gắng. Như trong đây dạy, đóng thuyền để chèo qua biển sanh tử, không nên ngồi yên chờ chết đến rồi thả trôi nữa uổng đi một đời. Chúng ta không phải chỉ tu để cho hiện tại bớt khổ mà còn chuẩn bị cho mai sau không còn tiếp tục đau khổ. Phải biết sớm thức tỉnh, nhắc nhở nhau tu tiến. CHƯƠNG II KHẢO SÁT TÂM BỆNH Chánh văn: Người học thiền lúc mới đến chỗ thầy, thầy nên hỏi rằng: “Ngươi giữ giới thanh tịnh chăng? Có phạm tội trọng, tà ác chăng?” Nếu đáp “Năm giới thanh tịnh, không phạm tội trọng, tà ác”, thứ mới dạy đạo pháp. Nếu đáp “Phạm giới”, nên hỏi lại rằng: “Ngươi phạm giới nào?” Nếu đáp “Trọng giới”, thầy bảo: “Như người bị cắt tai xẻo mũi không thể soi gương, ngươi nên trở về chuyên cần tụng kinh, khuyến hóa làm phước để gieo giống nhân duyên đạo pháp đời sau, đời này coi như đã bỏ. Ví như cây đã khô, dù gắng tưới nước cũng không sanh hoa lá và trái được.” Nếu phạm các giới khác, thầy nên dạy như pháp sám hối. Sám hối đã thanh tịnh, thầy nếu được thiên nhãn, tha tâm trí xem qua, tùy bệnh nói pháp tiến đạo. Nếu thầy chưa được thông, nên xem tướng mạo đoán bệnh, hoặc lại hỏi người ấy rằng: “Trong ba độc ngươi nặng cái nào? Dâm dục nặng ư? Nóng giận nặng ư? Ngu si nặng ư?” Thế nào là xem tướng? - Tướng người đa dâm: Người lanh lẹ; nuôi nhiều vợ hầu, nói nhiều, tin nhiều; nhan sắc vui vẻ, nói năng dễ dàng; ít giận hờn, ít ưu sầu; giỏi kỹ thuật, ưa nghe thích biết; yêu thích văn thơ, có tài đàm luận; hay xét biết tính người, nhiều chuyện kinh sợ. Người ấy ở trong phòng ưa mặc đồ mỏng, khát khao nữ sắc, màn trướng, ưa trang sức hương hoa; tâm nhỏ nhẹ khiến người thương mến; nói lời bóng bẩy, ưa làm phước nghiệp, ý thích sanh cõi trời; ở trong chúng không chống kẻ tốt xấu, tín nhiệm phụ nữ; lửa dục hừng thịnh, tâm nhiều hối hận, biến đổi; thích tự trang sức, ưa xem tranh ảnh; luyến tiếc vật của mình, ước ao đồ của người; ưa kết bạn bè, không chịu ở một mình; chỗ ở thích giống thế tục; chợt kinh chợt sợ, chí như khỉ vượn. Kẻ ấy nhìn rất thiển cận, làm việc không suy nghĩ; nhẹ dạ nên làm việc mong được thích ý; ưa kêu ưa khóc; thân thể mềm yếu không kham chịu lạnh khổ; dễ nản dễ vui, không thể nhẫn việc; được ít vui to, mất ít sầu lớn; tự bày tự giấu; mồ hôi trong thân hôi, da mỏng tóc mềm; hay cau hay nguýt, thường cắt móng tay, cạo râu; đánh răng trắng, đi ra thích mặc đồ thật sạch; học không chuyên cần, ưa dạo vườn cảnh; nhiều tình, nhiều cầu, ý chấp thường kiến; gần người có đức vồn vã thăm hỏi; ý nhận lời nói của người, gắng tỏ vẻ vui tươi; nghe việc mau hiểu lấy làm sự nghiệp; phân biệt tốt xấu, thương người khổ nạn; tự đại háo thắng, không chịu người người lấn hiếp; ưa làm việc cứu giúp, tiếp dẫn người lành; có những thức ngon chia người cùng ăn; chí thích xa lớn; mắt xem sắc dục không bao giờ chán; không lo xa, biết thế gian phương tục, xem xét nhan sắc đoán được lòng người; nói lời khôn khéo, kết bạn không bền; đầu tóc ít, thưa, ít chịu ngủ nghỉ; nằm ngồi đi đứng dung mạo đường hoàng; có tiền của liền đem cứu cấp, về sau hối tiếc; thích nghĩa muốn chóng đặng, sau lại mau quên; chấp những hành động, khó tự cải đổi, khó được ly dục; làm tội nhỏ nhẹ. Những tác phong như thế là tướng dâm dục. - Tướng người nóng giận: Người nhiều giận buồn; hấp tấp nóng nảy, thân miệng thô xẵng; hay nhẫn các thứ khổ, gặp việc không khiếp sợ; nhiều buồn ít vui, có thể làm việc đại ác không có lòng thương xót, thích sự tranh đấu kiện thưa; nhan mạo khô héo, mày nhăn mắt trợn; khó nói khó vui, khó làm việc, khó thành công; tâm mình như ghẻ lở mà ưa nói lỗi người; luận nghĩa vững chắc khó chiết phục được; khó làm khuynh động, khó thân thiện, khó ngăn trở; ôm lòng độc khó bỏ, nhận lời hứa không quên; tài giỏi khéo léo, tâm không chịu lười biếng; làm việc mau chóng, ôm kỳ vọng không nói; ý sâu sắc khó hiểu, thọ ơn liền lo đền; có tài chinh phục được chúng làm việc; không thể phá hoại, việc làm được trọn vẹn; khó ai can phạm, ít sợ khó ví như sư tử không thể khuất phục; một phen quyết định không hề thay đổi, thẳng tiến tạo tác; nhớ dai và nhiều suy nghĩ, chuyên cần học tập; hay bố thí, không màng lợi nhỏ; làm thầy thì khôn ngoan, ly dục ưa ở một mình, ít sự dâm dục; tâm thường nghiêng về đoạn kiến; nhìn ngay ngó thẳng, nói năng chân thật, trình bày rõ ràng; ít có bạn thân, làm việc hay chấp chặt; nhớ lâu không quên, ưa làm việc bằng tay chân; vai ngực nở to, trán rộng tóc bằng; tâm cứng rắn khó điều phục, mau được mà khó quên; có thể tự lìa dục mà ưa gây tội nặng. Những tướng trạng như thế là tướng người nóng giận. - Tướng người ngu si: Nhiều nghi ngờ nhiều hối hận, lười biếng không nhận thức; tự mãn không tuân theo, kiêu mạn khó dạy bảo, chuyện đáng tin không tin, không đáng tin lại tin; không biết chỗ nào đáng kính, ở đâu cũng tin theo; thường bị thầy quở không biết hổ thẹn mà cứ càn bướng; làm việc không suy nghĩ, có ai chỉ dạy lại chống đối; không biết chọn bạn, không biết trang sức; thầy lành đạo lạ cũng không phân biệt tốt xấu; căn tánh ngu độn chậm lụt, khó nhớ mà dễ quên; chê bai người làm việc bố thí, không có tâm thương xót, phá hư cây cầu chánh pháp, gặp việc không hiểu biết; con mắt lờ đờ không có trí tuệ; nhiều mong cầu nhiều trông đợi nhiều nghi ngờ ít chánh tín; ganh ghét người tốt, cho rằng không có quả báo tội phước; không phân biệt lời lành, không biết lầm lỗi; không vâng lời khuyên bảo, xa lìa kẻ thân lại sanh oán trách; không biết lễ phép, ưa nói lời ác khẩu; râu tóc móng tay dài, răng áo nhơ nhớp; bị người sai khiến, chỗ sợ lại không sợ; chỗ vui thì âu sầu, chỗ sầu lại vui; chỗ buồn thì cười, chỗ cười lại buồn; đợi lôi mới đi, hay chịu những sự khổ nhọc; không phân biệt mùi vị, khó thể lìa dục; làm tội sâu nặng. Đó là những tướng trạng của người ngu si. Giảng: Người học thiền lúc mới đến chỗ thầy, thầy nên hỏi rằng: “Ngươi giữ giới thanh tịnh chăng? Có phạm tội trọng, tà ác chăng?” Nếu đáp “Năm giới thanh tịnh, không phạm tội trọng, tà ác”, thứ mới dạy đạo pháp. Nếu đáp “Phạm giới”, nên hỏi lại rằng: “Ngươi phạm giới nào?” Nếu đáp “Trọng giới”, thầy bảo: “Như người bị cắt tai xẻo mũi không thể soi gương, ngươi nên trở về chuyên cần tụng kinh, khuyến hóa làm phước để gieo giống nhân duyên đạo pháp đời sau, đời này coi như đã bỏ. Ví như cây đã khô, dù gắng tưới nước cũng không sanh hoa lá và trái được.” Đoạn này có một vài ý nhỏ tôi muốn nêu lên cho mọi người cùng thấy. Muốn khảo sát bệnh của người tu, ở đây bảo trước phải hỏi giữ giới có thanh tịnh không. Nếu giữ giới tốt thì tu dễ tiến; nếu là phạm giới nhẹ thì dạy sám hối, tu cũng tốt; nếu phạm một trong năm giới nặng, như sát sanh hay trộm cướp... thì không thể tu được. Chỗ này hơi khắt khe một chút. Chúng ta đọc sử Phật thấy có Ương-quật-ma-la đã giết người cắt ngón tay đeo tới chín mươi chín ngón rồi, tội nặng biết bao. Nhưng khi Phật độ tu, ngay hiện đời chứng quả A-la-hán. Ở đây nói phạm giới trọng thì bỏ đi, như người bị cắt mũi, xẻo tai rồi thì không thể soi gương được. Trường hợp này chúng ta nghĩ sao? Những lời dạy trong đây chúng ta thấy điều gì chí lý thì thực hành đến nơi đến chốn, còn có những điều phải dè dặt. Thật ra không phải những người lỡ phạm giới rồi không thể tu được, tùy người có chủng duyên và có thành tâm hay không, nếu cho rằng tất cả đều không thể tu thì tội nghiệp cho họ. Nếu phạm các giới khác, thầy nên dạy như pháp sám hối. Sám hối đã thanh tịnh, thầy nếu được thiên nhãn, tha tâm trí xem qua, tùy bệnh nói pháp tiến đạo. Nếu thầy chưa được thông, nên xem tướng mạo đoán bệnh, hoặc lại hỏi người ấy rằng: “Trong ba độc ngươi nặng cái nào? Dâm dục nặng ư? Nóng giận nặng ư? Ngu si nặng ư?” Thầy muốn dạy đệ tử phải tìm hiểu trong ba độc tham sân si họ có bệnh nào nặng, tùy bệnh mà dạy pháp tu để đối trị. Trước khảo sát, sau tu đúng phương pháp thì mới có hiệu quả. Thế nào là xem tướng? Nếu người ta không nói rõ thì xem tướng, việc này cũng khá phiền. - Tướng người đa dâm: Người lanh lẹ; nuôi nhiều vợ hầu, nói nhiều, tin nhiều; nhan sắc vui vẻ, nói năng dễ dàng; ít giận hờn, ít ưu sầu; giỏi kỹ thuật, ưa nghe thích biết; yêu thích văn thơ, có tài đàm luận; hay xét biết tính người, nhiều chuyện kinh sợ. Người ấy ở trong phòng ưa mặc đồ mỏng, khát khao nữ sắc, màn trướng, ưa trang sức hương hoa; tâm nhỏ nhẹ khiến người thương mến; nói lời bóng bẩy, ưa làm phước nghiệp, ý thích sanh cõi trời; ở trong chúng không chống kẻ tốt xấu, tín nhiệm phụ nữ; lửa dục hừng thịnh, tâm nhiều hối hận, biến đổi; thích tự trang sức, ưa xem tranh ảnh; luyến tiếc vật của mình, ước ao đồ của người; ưa kết bạn bè, không chịu ở một mình; chỗ ở thích giống thế tục; chợt kinh chợt sợ, chí như khỉ vượn. Kẻ ấy nhìn rất thiển cận, làm việc không suy nghĩ; nhẹ dạ nên làm việc mong được thích ý; ưa kêu ưa khóc; thân thể mềm yếu không kham chịu lạnh khổ; dễ nản dễ vui, không thể nhẫn việc; được ít vui to, mất ít sầu lớn; tự bày tự giấu; mồ hôi trong thân hôi, da mỏng tóc mềm; hay cau hay nguýt, thường cắt móng tay, cạo râu; đánh răng trắng, đi ra thích mặc đồ thật sạch; học không chuyên cần, ưa dạo vườn cảnh; nhiều tình, nhiều cầu, ý chấp thường kiến; gần người có đức vồn vã thăm hỏi; ý nhận lời nói của người, gắng tỏ vẻ vui tươi; nghe việc mau hiểu lấy làm sự nghiệp; phân biệt tốt xấu, thương người khổ nạn; tự đại háo thắng, không chịu người người lấn hiếp; ưa làm việc cứu giúp, tiếp dẫn người lành; có những thức ngon chia người cùng ăn; chí thích xa lớn; mắt xem sắc dục không bao giờ chán; không lo xa, biết thế gian phương tục, xem xét nhan sắc đoán được lòng người; nói lời khôn khéo, kết bạn không bền; đầu tóc ít, thưa, ít chịu ngủ nghỉ; nằm ngồi đi đứng dung mạo đường hoàng; có tiền của liền đem cứu cấp, về sau hối tiếc; thích nghĩa muốn chóng đặng, sau lại mau quên; chấp những hành động, khó tự cải đổi, khó được ly dục; làm tội nhỏ nhẹ. Những tác phong như thế là tướng dâm dục. Đây nói về tướng tham dục rất chi ly khó nhớ. Có thể tóm gọn như sau: Người nặng về tham dục là những người thích trang sức, thích những cái đẹp, người đó lẹ làng dễ làm cho người ta cảm mến. Người đó cũng ưa nhìn thấy vẻ đẹp của người khác. - Tướng người nóng giận: Người nhiều giận buồn; hấp tấp nóng nảy, thân miệng thô xẵng; hay nhẫn các thứ khổ, gặp việc không khiếp sợ; nhiều buồn ít vui, có thể làm việc đại ác không có lòng thương xót, thích sự tranh đấu kiện thưa; nhan mạo khô héo, mày nhăn mắt trợn; khó nói khó vui, khó làm việc, khó thành công; tâm mình như ghẻ lở mà ưa nói lỗi người; luận nghĩa vững chắc khó chiết phục được; khó làm khuynh động, khó thân thiện, khó ngăn trở; ôm lòng độc khó bỏ, nhận lời hứa không quên; tài giỏi khéo léo, tâm không chịu lười biếng; làm việc mau chóng, ôm kỳ vọng không nói; ý sâu sắc khó hiểu, thọ ơn liền lo đền; có tài chinh phục được chúng làm việc; không thể phá hoại, việc làm được trọn vẹn; khó ai can phạm, ít sợ khó ví như sư tử không thể khuất phục; một phen quyết định không hề thay đổi, thẳng tiến tạo tác; nhớ dai và nhiều suy nghĩ, chuyên cần học tập; hay bố thí, không màng lợi nhỏ; làm thầy thì khôn ngoan, ly dục ưa ở một mình, ít sự dâm dục; tâm thường nghiêng về đoạn kiến; nhìn ngay ngó thẳng, nói năng chân thật, trình bày rõ ràng; ít có bạn thân, làm việc hay chấp chặt; nhớ lâu không quên, ưa làm việc bằng tay chân; vai ngực nở to, trán rộng tóc bằng; tâm cứng rắn khó điều phục, mau được mà khó quên; có thể tự lìa dục mà ưa gây tội nặng. Những tướng trạng như thế là tướng người nóng giận. Tướng người nóng giận, kiểm lại chúng ta có không? Có hoặc nhiều hoặc ít, kể chi tiết quá khó nhớ hết. Tôi kiểm lại một ít nét đơn giản tổng quát ở đây. Thường những người nóng giận lại có tài, vì tài giỏi nên cố chấp nhiều, ngã mạn cao. Vì ngã mạn cao nên ai làm buồn lòng trái ý thì nhớ hoài không bỏ. Những người này đã làm gì quyết làm cho thành công. Tóm lại, người hay nóng giận nặng về bản ngã, thường cố chấp cho những gì của mình đều hơn người, cho nên dễ sân dễ hận. - Tướng người ngu si: Nhiều nghi ngờ nhiều hối hận, lười biếng không nhận thức; tự mãn không tuân theo, kiêu mạn khó dạy bảo, chuyện đáng tin không tin, không đáng tin lại tin; không biết chỗ nào đáng kính, ở đâu cũng tin theo; thường bị thầy quở không biết hổ thẹn mà cứ càn bướng; làm việc không suy nghĩ, có ai chỉ dạy lại chống đối; không biết chọn bạn, không biết trang sức; thầy lành đạo lạ cũng không phân biệt tốt xấu; căn tánh ngu độn chậm lụt, khó nhớ mà dễ quên; chê bai người làm việc bố thí, không có tâm thương xót, phá hư cây cầu chánh pháp, gặp việc không hiểu biết; con mắt lờ đờ không có trí tuệ; nhiều mong cầu nhiều trông đợi nhiều nghi ngờ ít chánh tín; ganh ghét người tốt, cho rằng không có quả báo tội phước; không phân biệt lời lành, không biết lầm lỗi; không vâng lời khuyên bảo, xa lìa kẻ thân lại sanh oán trách; không biết lễ phép, ưa nói lời ác khẩu; râu tóc móng tay dài, răng áo nhơ nhớp; bị người sai khiến, chỗ sợ lại không sợ; chỗ vui thì âu sầu, chỗ sầu lại vui; chỗ buồn thì cười, chỗ cười lại buồn; đợi lôi mới đi, hay chịu những sự khổ nhọc; không phân biệt mùi vị, khó thể lìa dục; làm tội sâu nặng. Đó là những tướng trạng của người ngu si. Đây là tướng trạng của người ngu si. Có thể nhiều người mắc bệnh này, nhất là không phân biệt tà chánh, không biết điều nào phải điều nào quấy, đến chỗ nên vui lại buồn, chỗ nên buồn lại vui. Ví dụ đi đám ma mà cười, đến đám cưới lại buồn dàu dàu. Đó là những thái độ không thích hợp, bị chê cười. Tổng quát về tướng trạng người ngu si như thế, chỉ tùy trường hợp kiểm nghiệm không thể nói hết. Ba tướng của người nhiều bệnh dâm dục, nóng giận, ngu si trên đây, chư tổ chỉ dạy những điểm nổi bật dễ nhận thấy. Không phải lúc nào cũng đoán đúng tướng người vì tướng thay đổi theo tâm. Chúng ta cần phải tự xét mình, nếu thấy bệnh nào nhiều thì cố gắng tu pháp đối trị để điều phục thân tâm. CHƯƠNG III TUỲ BỆNH ĐỐI TRỊ Chánh văn: Nếu người đa dục dùng pháp môn Bất tịnh trị. Nếu người nhiều nóng giận dùng pháp môn Từ bi trị. Nếu người nhiều ngu si lấy pháp môn quán Nhân duyên trị. Nếu người nhiều lo nghĩ lấy pháp môn Niệm hơi thở trị. Nếu người đẳng phần (tham sân si đồng nhau) lấy pháp môn Niệm Phật trị. Bao nhiêu thứ bệnh có bấy nhiêu thứ pháp môn để trị. I- PHÁP MÔN TRỊ THAM DỤC Người dâm dục nhiều nên tu quán Bất tịnh. Từ chân đến đầu đầy dẫy bất tịnh: tóc, lông, móng, răng, da mỏng, da dày, máu, mủ, thịt, gân, mạch, xương, tủy, gan, phổi, tim, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, phẩn, nước tiểu, nước mũi, nước miếng, mồ hôi, nước mắt, cứt ráy, đất, óc, bong bóng, mật đàm, bầy nhầy, mỡ, mỡ sa, màng óc. Đó là ba mươi sáu vật bất tịnh trong thân. Lại quán bất tịnh có chín thứ theo thứ tự: 1- Quán thây mới chết bầm xanh, 2- Lần lần sình trương, 3- Nứt nẻ, 4- Máu chảy ra, 5- Rục rã, 6- Lầy thối, 7- Giòi, thú đục ăn, 8- Xương mục, 9- Thiêu rụi. Đó là Cửu tưởng bất tịnh. Người đa dục có bảy thứ yêu: 1- Yêu sắc đẹp, 2- Yêu dáng điệu, 3- Yêu dung mạo, 4- Yêu âm thanh, 5- Yêu láng mịn, 6- Yêu con người, 7- Tổng yêu. Nếu yêu sắc đẹp nên tập quán thây chết bầm xanh, những sắc bất tịnh vàng, đỏ... cũng như vậy. Nếu yêu dáng điệu nên tập quán thây sình trương và nứt nẻ. Nếu yêu dung mạo nên tập quán thây máu chảy và rục rã. Nếu yêu âm thanh, tập quán người khi sắp chết, nấc lên và tắt thở. Nếu yêu láng mịn nên tập quán bộ xương và người bệnh khô gầy. Nếu yêu con người nên tập quán cả sáu thứ trong chín thứ bất tịnh. Nếu tổng yêu nên quán cả chín thứ. Hoặc khi quán các thứ này, lại khi quán các thứ khác, đều gọi là quán Bất tịnh. - Nếu thân bất tịnh như thây thối lầy thì do đâu mà yêu? Nếu yêu thân trong sạch thì thân thối lầy cũng vẫn yêu? Nếu không yêu thân thối lấy thì thân trong sạch cũng không yêu, vì hai thân là một vậy. - Nếu tìm hai cái thật tịnh thì không thể có. Tâm người mê lầm bị sự điên đảo che đậy nên không phải tịnh chấp là tịnh, nếu phá dẹp tâm điên đảo thì được pháp quán thật tướng, liền biết bất tịnh là hư dối không thật. Lại nữa, thây chết không có hơi ấm, mạng sống, thần thức, và các căn bế tắc, người nhận kỹ thì tâm không sanh yêu mến. Thân sống có hơi ấm, mạng sống, thần thức, các căn sáng sủa, nên tâm điên đảo mê lầm sanh yêu mến. Khi tâm yêu sắc cho đó là tịnh, tâm yêu sắc dứt liền biết là bất tịnh. Nếu là thật tịnh thì phải thường tịnh, mà đây không phải thế. Như chó ăn phẩn cho là sạch, lấy con mắt người xem thì thấy rất dơ. Thân này toàn cả trong ngoài không có chỗ nào là sạch. Nếu yêu dáng ngoài của thân, toàn thân da mỏng bao bọc, nếu nắm cắt một miếng bằng ngón tay ta sẽ thấy bày tướng bất tịnh, huống là cả ba mươi sáu vật nhơ nhớp trong thân. Hơn nữa, xét ra nhân duyên tạo thành thân có bao nhiêu thứ bất tịnh. Trước tiên do tinh huyết cha mẹ hợp thành là bất tịnh, thành thân rồi thường chảy ra các thứ bất tịnh, cho đến quần áo, mền chiếu cũng là bất tịnh, nếu đến khi chết thì sự bất tịnh không thể kể xiết. Do đó nên biết sống, chết, trong, ngoài đều là bất tịnh. Sau khi quán Bất tịnh thành công chuyển lên quán Tịnh. Người tu Tịnh quán có ba hạng: mới tập, đang tập, tập đã lâu. - Nếu người mới tập (người trước chưa phát tâm kiên cố), phải dạy rằng: Tưởng lột toát da ra trừ dẹp hết máu, thịt v.v... các thứ bất tịnh, quán bộ xương người đỏ. Buộc ý quán tưởng không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác phải lôi trở về. - Nếu người đang tập (người tập hành vài ba năm), nên dạy: Tưởng toát da thịt quán xương đầu, không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác phải lôi trở về. - Nếu người tập hành đã lâu (người đã tập hành trải hàng chục năm), nên dạy: Tưởng dẹp hết da, thịt, buộc ý năm chỗ: đỉnh đầu, trán, giữa chân mày, chót mũi, ngay quả tim. Trụ ý năm chỗ ấy, quán xương không cho nghĩ gì ngoài, có nghĩ ngoài phải thu nhiếp trở về. Thường xem xét tâm nó chạy đi phải lôi lại. Nếu tâm mệt mỏi sẽ dừng lại chỗ buộc duyên, không chạy ra ngoài nữa, như con khỉ bị xiềng bên cây cột, nhảy nhót mệt rồi sẽ nằm lại bên cây cột. Chỗ buộc tâm duyên như cây cột, ý niệm chăm chú như sợi dây, tâm như con khỉ. Lại như bà mẹ chăm giữ đứa con còn bú, không để nó rơi té. Hành giả quán tâm cũng như thế, lần lần chế phục được tâm, bắt nó ở một chỗ. Nếu tâm trụ được lâu đó là hợp pháp thiền. Nếu được thiền định thì phát ba tướng: 1- Thân thể an hòa vui vẻ nhẹ nhàng mềm dịu. 2- Xương trắng phát ra ánh sáng trắng trong như ngọc. 3- Tâm dừng lặng. Đó là tướng Tịnh quán. Khi ấy, được tâm hợp với Sắc giới. Ấy là người mới học pháp thiền được tâm khế hợp Sắc giới. Tâm hợp với pháp thiền tức pháp Sắc giới. Tâm được pháp này mà thân còn ở Dục giới vẫn được ba tướng: 1- Tuy tứ đại thô mà được vui vẻ mềm dịu, hình chất trong sạch, tươi nhuần bóng mịn, điều hòa. Ấy gọi là tướng vui vẻ. 2- Hành giả nội quán thấy tướng xương trắng phát ánh sáng khắp chiếu, sắc nó trắng trong. 3- Tâm trụ một chỗ. Như thế gọi là Tịnh quán. Trừ thịt quán xương gọi là Tịnh quán. Ba tướng như trên đều tự biết đó, không thấy gì khác. II- PHÁP MÔN TRỊ NÓNG GIẬN Nếu người nhiều nóng giận, phải học pháp môn ba thứ Từ tâm. Hoặc người mới tập hành, hoặc đang tập hành, hoặc tập hành đã lâu. Người mới tập hành nên dạy: Tâm Từ đến những người thân mến. Thế nào tâm Từ đến những người thân, nguyện làm cho họ được vui? Hành giả nếu được các thứ thân tâm vui thích, như khi lạnh được mặc ấm, khi nóng được mát, đói khát được ăn uống, nghèo túng được của cải, làm nhọc nhằn được nghỉ ngơi v.v... những thứ vui ấy nguyện cho người thân mến cùng được hưởng. Chuyên tâm nhớ Từ không nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở lại. Người đang tập hành nên dạy: Tâm Từ đến những người không thân không sơ. Thế nào tâm Từ đến những người không thân không sơ, nguyện cho họ được vui? Hành giả nếu được các thứ thân tâm vui thích, nguyện cho những người không thân không sơ đồng cùng chung hưởng. Chuyên tâm nhớ Từ không nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Người tập hành đã lâu nên dạy: Tâm Từ đến những người thù ghét. Thế nào tâm Từ đến những người ấy, nguyện cho họ được vui? Hành giả nếu được các thứ thân tâm vui thích, nguyện những kẻ thù ghét đồng cùng chung hưởng, sự hưởng này đồng với người thân mến. Được bình đẳng nhất tâm, tâm rộng lớn thanh tịnh, người thân, người không thân không sơ, và kẻ thù ghét đều xem như nhau. Rộng đến cả thế giới vô lượng chúng sanh đều khiến được an vui, khắp cả mười phương cùng đồng một tâm bình đẳng rộng lớn thanh tịnh. Xem chúng sanh cả mười phương như xem thân mình, thấy họ rõ ràng trước mắt đồng được thọ hưởng khoái lạc. Khi ấy được Từ tam-muội. - Người thân mến và người không thân không sơ nguyện cho vui là được, còn kẻ thù ghét hung ác tại sao lại thương xót nguyện được vui? - Nên ban vui cho những người ấy. Vì sao? Người ấy còn bao nhiêu việc tốt là nhân của pháp thanh tịnh, tại sao ta nay lại do một cái thù nhỏ mà bỏ quên những cái tốt kia! Lại suy nghĩ: Người kia thời quá khứ biết đâu không phải là thân quyến của ta, nay không thể do một chút sân mà sanh thù ghét. Ta phải nhịn họ, đó là thiện lợi của ta. Hoặc nghĩ: Ta thực hành pháp nhân đức, hàm chứa hoằng truyền sức từ bi vô lượng không thể để cho nó tiêu mất. Lại nghĩ: Nếu không có kẻ thù ghét thì làm sao thành tựu nhân Sanh nhẫn. Sanh nhẫn là do kẻ oán thù ban cho, như vậy kẻ oán thù là người thân thiện của ta. Hơn nữa, quả báo của sân là tối trọng, trong các thứ ác nó là bậc trên hết, do sân mới tàn hại người vật, nó là cái độc khó kìm chế được, tuy muốn đốt người mà kỳ thật là thiêu mình. Nên tự suy nghĩ: Bên ngoài mặc chiếc áo pháp, bên trong thực hành hạnh nhẫn nhục gọi là Sa-môn, thì đâu có thể nghe tiếng nói xấu liền thay đổi sắc diện, buông lung tâm tệ ác. Lại nghĩ: Thân ngũ ấm này là cái rừng đau khổ, là mục tiêu chịu đựng những điều tai ác, thì những cái khổ não tai ác đến làm gì tránh khỏi. Như gai nhọn đâm vào thân, khổ não vô lượng, các thứ thù oán rất nhiều không thể diệt hết, phải tự bảo vệ bằng cách mang đôi giày nhẫn nhục. Như Phật dạy: Lấy sân trả sân, Sân trở hại đó, Sân mà không trả, Hay phá quân to. Hay không sân hận, Là pháp Đại nhân, Tiểu nhân sân hận, Khó động như núi. Sân là độc dữ, Tàn hại rất nhiều, Không thể hại người, Trở về tự hại. Sân là tối lớn, Có mắt không thấy, Sân là bụi nhớp, Ô uế tịnh tâm. Sân độc như thế, Phải mau trừ diệt, Rắn độc trong nhà, Không đuổi hại người. Sân hận như thế, Rất nhiều vô lượng. Thường tập Từ tâm, Trừ diệt sân hận. Như trên là môn Từ tam-muội. III- PHÁP MÔN TRỊ NGU SI Nếu người nhiều ngu si phải học pháp môn ba thứ suy nghĩ. Nếu người mới tập hành phải dạy: Sanh duyên lão tử, vô minh duyên hành. Chỉ như thế suy nghĩ không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Nếu người đang tập hành phải dạy: Hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu. Như thế suy nghĩ không cho nghĩ gì ngoài, nếu có nghĩ việc ngoài liền thu nhiếp trở về. Nếu người tập hành đã lâu nên dạy: Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử. Như thế suy nghĩ không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. - Tất cả người trí là minh, tất cả người ngu là vô minh, trong ấy thế nào là vô minh? - Vô minh là tất cả không biết. Ở trong đây vô minh hay tạo có đời sau. Cái đáng có thì không, cái đáng không lại có, bỏ các điều thiện, lấy các thứ ác, phá tướng chân thật, chấp các thứ giả dối. Như trong phẩm Vô Minh Tướng nói: Pháp mờ mịt không sáng, Không biết nghiệp đạo đức, Mà tạo nhân kiết sử, Như lửa do cọ xát. Pháp ác mà tâm thích, Xa bỏ các pháp lành, Giặc cướp sáng chúng sanh, Xưa nay thường bị cướp. Tướng thường lạc ngã tịnh Chấp trong thân ngũ ấm, Pháp khổ tập diệt đạo Cũng lại không thể biết. Đường hiểm các thứ não, Người mù đi vào trong, Phiền não nên nghiệp tập, Nghiệp nên khổ xoay vòng. Không nên lấy mà lấy, Nên lấy trở lại bỏ, Theo đuổi tối, sai lầm, Giẫm phải gốc té nhào. Có mắt mà không tuệ, Ví dụ cũng như thế, Bởi nhân duyên ấy diệt, Trí sáng như mặt trời. Như thế lược nói vô minh cho đến lão tử cũng vậy. - Trong Phật pháp lý nhân duyên rất cao sâu, tại sao người nhiều ngu si lại hay quán nhân duyên? - Có hai hạng người ngu si: Hạng người mê muội như trâu dê. Hạng người ôm các thứ tà kiến mê lầm đen tối, là người ngu si tà kiến. Phật vì hạng người sau bảo phải quán nhân duyên tập chánh định. IV- PHÁP MÔN TRỊ LO NGHĨ Người nhiều lo nghĩ phải tập pháp môn A-na-ban-na tam-muội. Nếu người mới tập hành phải dạy: Nhất tâm đếm hơi thở vào ra, hoặc dài hoặc ngắn, đếm từ một đến mười. Nếu người đang tập hành phải dạy: Đếm hơi thở từ một đến mười và theo hơi thở vào ra, niệm cùng hơi thở, đồng dừng tâm ở một chỗ. Nếu người tập hành đã lâu nên dạy: Đếm hơi thở, theo hơi thở, chỉ, quán, hoàn và tịnh. A-na-ban-na tam-muội có sáu môn, chia làm mười sáu phần. Sáu môn là: 1. Sổ tức: Hành giả nhất tâm nhớ hơi thở vào đến cùng, đếm một, hơi thở ra đến cùng, đếm hai. Nếu hơi thở chưa cùng mà đếm là sai. Nếu đếm từ hai đến chín mà quên phải đếm lại một. Ví như nhà toán học tính một với một là hai, hai với hai là bốn v.v... không sai một mảy. - Tại sao phải đếm? - Nhân đếm hơi thở quán vô thường, dễ được dứt các lo nghĩ và được nhất tâm. Thân tâm sanh diệt vô thường liên tục tương tự khó thấy, nhân thở vào ra sanh diệt vô thường mà dễ biết dễ thấy được nó. Tâm buộc tại số, dứt các lo nghĩ. Lo nghĩ gồm sáu thứ: 1- Lo nghĩ tham dục, 2- Lo nghĩ giận hờn, 3- Lo nghĩ não hại, 4- Lo nghĩ quê hương thân thuộc, 5- Lo nghĩ cõi nước, 6- Lo nghĩ không chết. Người muốn cầu tịnh tâm vào chánh đạo, trước phải diệt ba thứ lo nghĩ thô, kế trừ ba thứ tế. Trừ hết sáu cái lo nghĩ này sẽ được pháp Nhất thiết thanh tịnh. Ví như người luyện vàng, trước bỏ những đá sỏi thô, sau mới bỏ bợn cát tế, lần lượt được vàng ròng. - Thế nào là bệnh thô? Thế nào là bệnh tế? - Nghĩ tham dục, nóng giận, não hại là ba thứ bệnh thô. Nghĩ quê hương thân thuộc, cõi nước, không chết là ba thứ bệnh tế. Trừ được sáu cái lo nghĩ này sẽ được pháp tất cả thanh tịnh. - Người chưa được đạo, kiết sử chưa đoạn, sáu cái lo nghĩ này từ tâm khởi loạn, làm sao trừ được? - Tâm chán thế gian và tu chánh quán thì hay ngăn mà chưa nhổ được gốc nó, sau khi được đạo vô lậu mới nhổ hết gốc rễ của nó. - Thế nào là chánh quán? - Như bài tụng: Thấy người đa dục cầu đã khổ, Được nó giữ gìn càng thêm khổ, Mất đi buồn thảm khổ lại hơn, Khi tâm được dục không mãn khổ. Dục nhân vô thường, không, sầu thảm, Các thứ chung hợp nên bỏ đi, Ví như rắn độc vào nhà người Không gấp đuổi đi hại ắt đến. Không định, không thật, không quý trọng, Những thứ dục cầu vui điên đảo, Như A-la-hán lục thần thông Cảnh tỉnh đệ tử giác dục rằng: Ngươi không phá giới, giới thanh tịnh, Không cùng người nữ chung nhà ngủ, Rắn độc kiết dục đầy nhà tâm Ràng buộc vui ái không xa lìa. Đã biết giới thân không thể phá, Mà tâm thường cùng lửa dục chung, Ngươi vốn xuất gia cầu đạo pháp, Bởi đâu buông lung đến thế này? Cha mẹ sanh thành nuôi nấng ngươi, Bà con quyến thuộc thương yêu lắm, Thảy đều rơi lệ quyến luyến ngươi, Ngươi đành xa bỏ không đoái tưởng. Mà nay sao lại ôm lòng dục, Cùng dục vui vầy không chán nhàm, Thường cùng lửa dục chung một chỗ Vui vẻ thích thú không tạm lìa! Như thế các thứ quở trách tham dục và những thứ chánh quán trừ tâm tham dục. - Thế nào diệt tâm giận hờn? - Như bài tụng: Từ bào thai ra thường chịu khổ, Chúng sanh như thế chớ giận hại, Nóng giận khởi lên dùng Từ diệt, Từ bi nóng giận không chung cùng. Người nhờ từ bi nóng giận dứt, Ví như sáng tối không chung chỗ, Nếu giữ tịnh giới mà nóng giận, Người ấy tự phá pháp lợi mình. Ví như dẫn voi xuống nước tắm Lại lấy bùn đất trét đầy mình, Tất cả đều phải già, bệnh, chết, Mọi thứ đánh đập trăm ngàn khổ. Tại sao người lành thương chúng sanh Mà lại gia tăng giận não hại? Nếu khởi nóng giận muốn hại người, Chưa đến người kia trước đốt mình. Thế nên thường nghĩ hành từ bi, Nóng giận, nghĩ ác tâm không sanh, Nếu người thường nghĩ hành pháp lành, Thường nghĩ pháp lành tâm vui vẻ. Đời nay được vui, sau cũng thế, Được đạo thường vui, ấy Niết-bàn, Nếu tâm dồn chứa điều bất thiện Tự mất lợi mình lại hại người. Đã tự trong tâm mất thiện pháp, Người có tịnh tâm cũng trầm một, Ví như đạo nhân ở chỗ vắng Đưa tay kêu to: “Giặc cướp tôi!” Có người hỏi rằng: “Ai cướp ngươi?” Đáp rằng: “Giặc Của tôi chẳng sợ, Tôi không giữ của cầu thế lợi, Làm gì giặc Của hại được tôi. Tôi tập căn lành các pháp bảo, Giặc giác quán (xét nghĩ) phá tôi thiện lợi, Giặc Của đã lánh chỗ chứa nhiều, Giặc cướp thiện đến không thể tránh.” Như thế các thứ trách nóng giận và các thứ chánh quán trừ tâm nóng giận. - Thế nào trừ cái nghĩ não hại? - Như bài tụng: Chúng sanh luống chịu trăm ngàn thứ: Các bệnh luôn luôn đến não hại, Giặc chết rình chụp thường muốn giết, Vô lượng chúng khổ tự vây quanh. Tại sao người lành thêm não hại, Chê bai mưu hại không nhân từ? Hại người chưa được tự mang họa, Người tục mưu hại còn thể tha. Đó là nghiệp ác của thế gian, Cũng không tự nói ta tu thiện, Cầu đạo thanh tịnh người xuất gia Mà sanh nóng giận tâm tật đố. Trời tạnh trong mây xẹt lửa độc, Phải biết ác này tội rất nặng, Người ưa vắng vẻ khởi tật đố, Có bậc La-hán được tha tâm Răn dạy quở rầy: “Ngươi sao dại? Tật đố tự phá cội công đức, Muốn được cúng dường phải tự tập Bao nhiêu công đức trang nghiêm thân. Nếu không trì giới, thiền, đa văn, Dối mặc áo nhuộm hoại pháp thân, Thật kẻ ăn xin, người tệ ác, Tại sao mong lợi được cúng dường?” Đói, khát, lạnh, nóng trăm ngàn khổ, Chúng sanh thường bởi các khổ này, Thân tâm khổ ách không cùng tận, Tại sao người lành thêm não hại? Ví như ghẻ lớn dùng dao mổ, Cũng tợ tù nhân khảo chưa xong, Khổ ách quanh mình các khổ nhóm, Tại sao từ bi lại muốn tăng? Như thế các thứ quở trách cái nghĩ não hại, các thứ chánh quán để trừ nghĩ não hại. - Thế nào trừ cái nghĩ quê hương thân thuộc? - Nên nghĩ thế này: Trong thế giới sanh tử tự nghiệp duyên ràng buộc thì đâu là thân đâu là sơ? Chỉ do ngu si khởi tâm mến bừa, chấp cho là thân thuộc. Đời quá khứ đời vị lai không phải thân mà nay là thân. Đời này là thân mà quá khứ không phải thân. Ví như đàn chim chiều về chung đậu một cây, sáng ra tùy duyên mỗi con bay mỗi chỗ. Quê hương thân thuộc cũng như vậy. Sanh trong thế giới mỗi người tự có tâm khác, duyên hợp nên thân, duyên tan thành sơ, không thể có nhân duyên quả báo quyết định mãi cùng nhau thân cận. Ví như cát khô tay nắm chắc thành khối, do nắm nên hiệp, buông ra thành tan. Cha mẹ nuôi con đến khi già con đền đáp lại. Con nhờ sự bồng ẵm nuôi nấng nên phải báo đáp lại. Nếu thuận ý cha mẹ là thân, nghịch ý là sơ. Có khi thân không có ích mà trở lại hại, có khi sơ không hại mà có ích. Người do nhân duyên nên sanh ra ái, bởi nhân duyên ái nên trở lại hại người. Ví như họa sĩ họa tượng người nữ, trở lại yêu thích tượng ấy. Người yêu quê hương thân thuộc cũng thế. Tự sanh nhiễm trước, nhiễm trước những cái bên ngoài, trong đời quá khứ ngươi vẫn có quê hương thân thuộc, đời này ngươi đã làm gì? Ngươi không thể làm lợi ích cho người thân đời quá khứ, người thân đời quá khứ cũng không thể làm lợi ích cho ngươi, hai bên đều không thể làm lợi ích cho nhau. Trong cõi thế giới không định vô biên này, có nghĩ đến người thân hay không thân cũng chỉ là nghĩ suông mà thôi. Như vị A-la-hán dạy đệ tử mới xuất gia còn luyến ái người thân rằng: “Như kẻ hư hèn đã mửa ra rồi lại ăn vào, ngươi cũng như vậy. Ngươi đã được xuất gia tại sao trở lại ái trước? Cạo tóc, mặc áo hoại sắc là tướng giải thoát, ngươi còn yêu mến người thân quê hương không được giải thoát, trở lại bị cái yêu mến buộc ràng. Ba cõi vô thường lưu chuyển không định, hoặc thân không thân, tuy nay thân nhưng lâu xa cũng hết. Như thế, mười phương chúng sanh luân hồi, quê hương thân thuộc không định thì đâu không phải là quê hương thân thuộc của ta. Người khi sắp chết tâm thức không có, đứng tròng mắt tắt thở, mạng sống dứt, như rơi vào hầm tối. Khi ấy quê hương thân thuộc còn đâu? Nếu khi mới sanh, đời trước không phải thân mà nay gắng gượng hòa hợp làm thân; khi sắp chết, người thân trở lại không phải thân. Như một đứa trẻ một ngày chết ba chỗ, cha mẹ ba nơi đều khóc.” Như thế các thứ chánh quán trừ lo nghĩ quê hương thân thuộc. - Thế nào trừ cái nghĩ cõi nước? - Hành giả nếu nghĩ nước ấy giàu có vui vẻ an ổn, nhiều người tốt, thường bị sợi dây đất nước trói buộc. Phải bỏ đi cái nghĩ sai lầm như thế! Nếu người có trí không nên mến trước. Vì sao? Vì bao nhiêu cõi nước do tội lỗi thiêu đốt và thời tiết biến chuyển nên có đói khát khổ nhọc, tất cả cõi nước đều là vô thường không an ổn. Lại nữa, già bệnh chết không nước nào mà chẳng có. Từ chỗ này thân khổ đến chỗ kia thân cũng khổ, đi khắp tất cả nước không đâu chẳng khổ. Giả sử có nước an ổn giàu có vui vẻ mà còn có kiết sử tâm sanh đau khổ thì nước ấy cũng chưa phải tốt. Nếu hay dẹp được những cái xấu xa trong nước, làm tiêu mòn kiết sử cho tâm khỏi khổ, ấy là nước tốt. Tất cả chúng sanh có hai thứ khổ, thân khổ và tâm khổ. Do hai thứ khổ này mà thường khổ não. Không có nước nào mà không có hai cái khổ này. Lại có nước rất lạnh, có nước rất nóng, có nước đói khát, có nước nhiều bệnh tật, có nước nhiều giặc cướp, có nước pháp nước bất công v.v... Các nước như thế, tâm chán không nên đắm mến. Đó là chánh quán trừ nghĩ cõi nước. - Thế nào trừ cái nghĩ không chết? - Nên dạy hành giả, hoặc sanh trong nhà khá giả, hoặc con dòng quý phái, người có tài nghề thế lực..., tất cả đều không nên nghĩ nhớ. Tại sao? Vì khi chết đến không lựa già trẻ sang hèn, tài nghề thế lực... Thân này là chỗ tụ hợp của các nhân duyên sầu khổ. Nếu tự thấy mình ít tuổi còn sống lâu, được an ổn, đó là người ngu si. Vì cớ sao? Chỗ nương tựa của sầu khổ là tứ đại, tứ đại gây nên hình thể cũng như bốn con rắn độc, tuy chung mà không hợp thì làm sao được an ổn? Hơi thở ra chưa trở vào là không thể tin được. Khi ngủ chưa ắt có thức, việc ấy cũng khó tin. Từ khi vào thai cho đến lúc già, cái chết lúc nào cũng rình rập bên mình, thế mà vì mong sống lâu nói rằng không chết, làm sao tin được? Giặc chết rút đao, nắm tên tìm người giết, không có chút lòng thương xót. Người sanh trên đời cái chết là sức mạnh bậc nhất, tất cả không có cái gì thắng được sức mạnh của cái chết. Người anh hùng bậc nhất của đời quá khứ không thoát được cái chết, bậc đại trí trong đời hiện tại cũng không thắng được cái chết, không thể dùng lời nhỏ nhẹ van xin được nó, không thể dùng lời khéo léo lừa gạt được nó, cũng không thể giữ giới tinh tấn mà đuổi được nó. Do đó nên biết, mạng người tạm bợ không thể trông cậy. Chớ có tin chắc rằng ta sẽ sống lâu. Bọn giặc chết thường dẫn người đi, không đợi già rồi mới giết. Như A-la-hán dạy đệ tử bị cái nghĩ không chết não hại rằng: “Ngươi đã biết chán đời vào đạo, sao lại khởi nghĩ như thế? Này! Có người chưa sanh đã chết, có người chết trong khi sanh, có người chết trong lúc còn bú, có người chết sau khi dứt sữa, có người chết lúc còn bé, có người chết trong thời trai tráng, có người chết lúc tuổi già. Trong tất cả thời đều là cảnh của chết. Ví như cây trổ hoa liền rụng hoặc thành trái mới rụng, có khi chưa chín lại rụng. Thế nên, phải gắng sức tinh tấn cầu đạo an ổn; chung ở với bọn giặc dữ không thể tin được, bọn giặc này như cọp khéo giấu hình khó thấy. Giặc chết thường tìm giết người, mọi vật trên thế giới không thật như bọt nước, tại sao đợi già mới lo tu? Ai có thể bảo chứng rằng người già ắt được hành đạo? Ví như cây to đứng dựa vực thẳm, trên bị gió lớn, dưới bị nước xoi bày rễ, ai có thể tin được cây này lâu bền? Mạng người cũng vậy, tuy tuổi nhỏ vẫn khó tin. Cha như hạt giống, mẹ như khoảnh ruộng, nhân duyên tội phước đời trước như mưa sương, con người như cây lúa, chết sống như cắt gặt. Những vị thiên tử nhân vương trí đức hưởng những thứ vui sướng cao sang, nhưng sau rồi lại rơi vào chỗ tối tăm. Bởi thế nên chớ tin mạng sống mà nói rằng: Ta ngày nay làm việc này, ngày mai cũng làm việc này.” Các thứ chánh quán như thế trừ quan niệm không chết. Trước trừ lo nghĩ thô, sau trừ lo nghĩ tế, tâm thanh tịnh liền được chánh đạo, tất cả kiết sử dứt, từ đây được chỗ an ổn, ấy là quả của người xuất gia. Tâm tự tại, ba nghiệp hoàn toàn thanh tịnh, không phải trở lại thọ sanh, học rộng, đọc nhiều kinh, khi ấy được quả báo tốt. Khi được như vậy, không nhọc công phá quân ma vương mà được khen ngợi là người dũng sĩ bậc nhất, bọn giặc phiền não tự lui; tuy không gọi là mạnh mà hay trừ giặc phiền não, diệt được lửa tam độc, mát mẻ vui vẻ trong sạch, gối tay nằm an ổn trong rừng Niết-bàn. Ngọn gió mát thiền định, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi bốn phía thổi đến, đoái nhìn thương xót chúng sanh đang chìm đắm trong biển tam độc. Cái diệu lực như thế mới gọi là kiện toàn. Thế nên, những người tán tâm phải niệm A-na-ban-na, học sáu pháp đoạn các thứ lo nghĩ. Do đó trước phải học Sổ tức. - Nếu trong bốn pháp - quán bất tịnh, niệm Phật v.v... - cũng trừ được lo nghĩ, vì sao chỉ nói riêng Sổ tức? - Vì các pháp quán kia chậm rãi nên khó mất, pháp Sổ tức mau chóng nên dễ chuyển. Ví như người thả trâu, do trâu khó mất nên sự coi giữ lơ là, nếu thả vượn khỉ, do khỉ dễ mất nên sự coi giữ khít khao. Pháp này cũng như thế. Sổ tức chăm chú tâm và số, không được một chốc nghĩ việc khác, nếu có một chốc nghĩ việc khác là số đã lộn mất. Bởi thế nên, lúc ban đầu muốn đoạn sự lo nghĩ phải Sổ tức. Được pháp Sổ tức rồi phải thực hành pháp Tùy tức để đoạn các lo nghĩ. 2. Tùy tức: Hít hơi vào tới cùng, tâm chỉ duyên theo không đếm một, thở hơi ra đến cùng, tâm duyên theo chớ đếm hai. Ví như người thiếu nợ, chủ nợ đến đòi theo mãi bên lưng không rời. Như thế, suy xét hơi thở vào, trở ra có khác, hơi thở ra, trở vào có khác. Khi ấy biết hơi thở vào khác hơi thở ra. Vì hơi thở ra ấm, hơi thở vào lạnh. - Hơi thở vào, ra chỉ là một. Vì sao? Vì ra rồi trở lại vào. Ví như nước ngậm vào miệng thì ấm, nhổ ra thì lạnh, lạnh trở ra ấm, ấm trở lại lạnh cũng chỉ là một. - Không phải như vậy. Do nội tâm động nên có thở ra, ra rồi liền mất, mũi và miệng hít bên ngoài thì có hơi thở vào, vào rồi diệt, cũng không có sắp ra, không có sắp vào. Lại nữa, trẻ nhỏ hơi thở vào dài, người tráng niên hơi thở vào ra bằng nhau, người già hơi thở ra dài, thế nên chẳng phải một loại hơi thở. Nơi rốn phát ra hơi thở hình như liên tục, thở ra đến mũi và miệng, ra rồi liền diệt. Ví như hơi trong quả bóng khi mở dây cột ra liền xẹp, nếu dùng nhân duyên mũi miệng thổi hơi thở vào, ấy là nhân duyên mới mà sanh. Ví như cái quạt, do các duyên hợp lại nên có gió. Khi ấy, biết do nhân duyên nên có hơi thở ra vào, nó hư dối không thật, sanh diệt vô thường. Suy xét do nhân duyên mũi miệng hít có hơi thở vào, do nhân duyên tâm động có hơi thở ra, mà mê lầm không biết, chấp là hơi thở của ta. Hơi thở là gió, cùng với gió bên ngoài không khác. Đất, nước, lửa, không, cũng như thế. Bởi nhân duyên ngũ đại hợp nên có thức sanh. Thức cũng như vậy, không phải là của ta. Ngũ ấm, thập nhị nhập, thập bát giới cũng như thế. Biết như vậy, theo hơi thở ra vào gọi là Tùy tức. Đã được pháp Tùy tức phải thực hành pháp Chỉ. 3. Pháp Chỉ: Sổ, Tùy tâm rất an trụ, ý dừng bên cửa hơi thở để xem nó ra vào. Vì sao phải Chỉ? Vì dứt các lo nghĩ, dừng tâm tán động. Khi Sổ tức, Tùy tức tâm không định vì rất nhiều việc. Chỉ thì tâm nhàn rỗi ít việc, tâm trụ một chỗ xem hơi thở ra vào. Ví như người gác cửa đứng bên cửa xem người ra vào. Tâm Chỉ cũng như vậy, biết hơi thở khi ra từ rốn đến hông, ngực, cổ, miệng, mũi, khi vào từ miệng, mũi đến cổ, ngực, hông, rốn. Như vậy, buộc tâm một chỗ gọi là Chỉ. 4. Pháp Quán: Trong pháp Chỉ, tâm dừng lại để quan sát, khi hơi thở vào ngũ ấm sanh diệt khác, khi hơi thở ra ngũ ấm sanh diệt khác. Như thế, trừ dẹp loạn tâm, nhất tâm suy xét cho pháp quán được tăng trưởng gọi là Quán. 5. Pháp Hoàn: Bỏ chỗ đứng bên cửa, rời pháp quán thô. Rời pháp quán thô là nhận biết hơi thở vô thường, ấy gọi là chuyển quán. Quán ngũ ấm vô thường cũng niệm sự vô thường ra vào, sanh diệt của hơi thở. Thấy hơi thở vào không từ đâu đến, xem hơi thở ra không biết về đâu, do nhân duyên hòa hợp nên có, nhân duyên ly tán nên không, đó là chuyển quán. 6. Pháp Tịnh: Trừ diệt ngũ cái và các phiền não, tuy trước được Chỉ, Quán mà phiền não chưa sạch, tâm còn tạp loạn, nay pháp Tịnh là tâm được thanh tịnh. Pháp quán trước là dị học, tương tự hành đạo niệm hơi thở ra vào, nay là vô lậu đạo, tương tự hành thiện hữu lậu đạo, nên gọi Thanh tịnh. Pháp quán trước là một phần thân niệm Chỉ, dần dần toàn thân niệm Chỉ, kế thọ và tâm niệm Chỉ, trong đó chưa phải thanh tịnh còn xa đạo vô lậu. Ở đây, trong pháp niệm Chỉ, quán mười sáu phần niệm hơi thở ra vào, được pháp noãn, đảnh, nhẫn, thế đệ nhất, khổ pháp nhẫn cho đến vô học tận trí nên gọi là thanh tịnh. Trong mười sáu phần là: 1/ Phần hơi thở vào có sáu hạnh A-na-ban-na. 2/ Phần hơi thở ra cũng có sáu hạnh A-na-ban-na. 3/ Hơi thở dài ngắn: Nhất tâm niệm hơi thở vào ra hoặc dài hoặc ngắn. Ví như người có việc kinh sợ, mang đồ nặng leo núi thì hơi thở lên, là hơi thở ngắn. Như người khi làm nhọc được nghỉ thì vui vẻ và như người bị giam trong khám được thả ra, thế đều là hơi thở dài. Tất cả hơi thở đều nằm hai nơi dài ngắn, thế nên nói hơi thở dài ngắn. Trong phần hơi thở dài ngắn cũng niệm sáu hạnh A-na-ban-na. 4/ Hơi thở khắp thân: Tưởng hơi thở khắp thân cũng nương hơi thở vào ra. Phải quán hơi thở vào, hơi thở ra khắp các lỗ chân lông trong thân cho đến ngón tay ngón chân đều thở, ví như nước đổ xuống cát. Hơi thở ra cảm biết từ chân đến tóc đều thở ra, như nước đổ xuống cát. Như quả bóng hơi vô hoặc ra đều khắp, mũi miệng hít hơi vào cũng như thế. 5/ Trừ các thân hành: Quán hơi thở khắp thân không ngại, như cọng sen dẫn nước, như lưới đánh cá. Lại không riêng mũi, miệng quán hơi thở ra vào mà tất cả lỗ chân lông và trong chín lỗ (hai lỗ tai, hai lỗ mũi, hai mắt, miệng, tiểu, đại) cũng thấy hơi thở ra vào. Thế nên, biết hơi thở khắp thân trừ các thân hành cũng niệm hơi thở ra vào. 6/ Tâm thọ Hỷ: Người mới học quán hơi thở, nếu thân nặng nề lười biếng ưa ngủ phải dẹp bỏ đi. Dùng pháp quán hơi thở ra vào thân nhẹ nhàng hòa dịu, được thiền định tâm thọ hỷ và trừ tâm nặng nề lười biếng ưa ngủ, được tâm nhẹ nhàng hòa dịu tùy thiền định tâm thọ hỷ. Hơi thở vào thân niệm Chỉ xong, hơi thở lưu hành thọ niệm Chỉ rồi, là được thân niệm Chỉ. Thật nay lại được thọ niệm Chỉ thật thọ Hỷ. 7/ Tâm thọ Lạc: Đã biết thật tướng của thân, muốn biết thật tướng của tâm và tâm số. Thế nên thọ hỷ niệm hơi thở ra vào, thọ lạc cũng niệm hơi thở ra vào, vì cái hỷ được tăng trưởng gọi là lạc Tâm mới sanh mừng gọi là hỷ, toàn thân đều mừng là lạc. Lại nữa, cái thọ lạc của Sơ thiền Nhị thiền gọi là Hỷ, cái thọ lạc của Tam thiền gọi là Lạc. 8/ Thọ các tâm hành: Thọ các tâm hành cũng niệm hơi thở ra vào. Các tâm pháp sanh diệt, tâm nhiễm, tâm không nhiễm, tâm tán loạn, tâm thu nhiếp, tâm chánh, tâm tà, các tâm tướng như thế gọi là tâm hành. 9/ Tâm khởi mừng: Tâm khởi mừng cũng niệm hơi thở ra vào. Cái thọ hỷ trước là tự sanh không phải do cố tâm phát khởi, cái này là cố tâm khởi mừng. Vì sao cố tâm khởi mừng? Vì muốn trị hai thứ tâm - tán động và thu nhiếp - nên khởi tâm mới được ra khỏi phiền não. Thế nên niệm pháp cho tâm khởi mừng. Nếu tâm không mừng gắng kích động cho nó mừng. 10/ Tâm khởi nhiếp: Tâm khởi nhiếp cũng niệm hơi thở ra vào. Nếu tâm không định gắng nhiếp phục cho nó định. Như trong kinh nói “Tâm định là đạo, tâm tán loạn không phải đạo”. 11/ Tâm khởi giải thoát: Tâm khởi giải thoát cũng niệm hơi thở ra vào. Nếu ý không giải thoát gắng huân tập cho nó giải thoát. Ví như con dê vào lùm cỏ gai bị gai móc, người vì nó gỡ lần lần, tâm khởi giải thoát các phiền não cột trói cũng như thế. Ấy gọi là tâm niệm Chỉ khởi giải thoát. 12/ Quán vô thường: Quán vô thường cũng niệm hơi thở ra vào. Quán sự sanh diệt vô thường của các pháp rỗng không, không có người và ta. Khi sanh các pháp giả sanh, khi diệt các pháp tạm diệt. Trong ấy không thật có nam nữ, người, kẻ tạo, người thọ... ấy gọi là pháp quán Tùy vô thường. 13/ Quán tan hoại: Quán pháp hữu vi tan hoại cũng niệm hơi thở ra vào. Các pháp hữu vi có trong hiện tại là do nhân duyên của quá khứ, nhân duyên hòa hợp thì tụ, nhân duyên tan hoại thì tán. Tùy quán như thế gọi là quán tan hoại. 14/ Quán ly dục: Quán ly dục cũng niệm hơi thở ra vào. Tâm rời các thứ ràng buộc của tham dục, đó là pháp đệ nhất. Quán như thế gọi là Tùy quán ly dục. 15/ Quán diệt tận: Quán diệt tận cũng niệm hơi thở ra vào. Các khổ kiết sử nơi nơi đều dứt, chỗ này được an ổn, ấy là Tùy quán diệt tận. 16/ Quán buông bỏ: Quán buông bỏ cũng niệm hơi thở ra vào. Các thứ nhiễm ái, phiền não, thân, tâm, ngũ ấm, các pháp hữu vi đều buông bỏ, chỗ này là an ổn bậc nhất. Quán như thế gọi là Tùy quán buông bỏ. V- PHÁP MÔN TRỊ ĐẲNG PHẦN Phần thứ năm này là pháp môn trị bệnh đẳng phần và người phạm tội trọng mong cầu làm Phật. Những người như thế phải dạy họ nhất tâm niệm Phật tam-muội. 1. Quán tượng Phật: Nếu người mới tập hành nên dẫn đến trước tượng Phật, hoặc dạy họ tự đến trước tượng Phật xem cho kỹ những tướng tốt, mỗi tướng rõ ràng, nhất tâm nhớ giữ trở về chỗ yên tịnh, tâm nhãn quán tượng Phật không cho ý chuyển động, buộc niệm tại tượng Phật không nghĩ gì khác, có nghĩ phải thu nhiếp về tượng Phật. Nếu hành giả tâm không trụ, thầy phải dạy rằng: “Ông phải tự trách tâm: Do ngươi mà ta mang tội không thể tính kể, chết sống không cùng bao nhiêu sự khổ não đều trải qua. Hoặc ở địa ngục uống nước đồng sôi, nuốt hoàn sắt nóng; hoặc trong súc sanh ăn cỏ, phẩn, đồ nhơ nhớp; hoặc sanh ngạ quỷ chịu khổ đói khát; hoặc được làm người nghèo cùng nguy khốn; hoặc sanh lên cõi trời mất ngũ dục sầu khổ. Bởi theo ngươi, ta chịu bao nhiêu sự đau đớn nơi thân tâm và vô lượng khổ não. Nay quyết kìm ngươi, ngươi phải theo ta, ta buộc ngươi một chỗ. Ta quyết định không bị ngươi làm khổ mà trở lại chịu mọi sự khổ độc. Xưa ngươi làm khổ ta, nay ta phải làm khổ lại ngươi.” Quở trách như vậy mãi thì tâm không tán loạn. Khi ấy liền được tâm nhãn thấy tượng Phật sáng suốt, như hiện mắt thấy không khác. Như thế tâm được trụ, ấy gọi là hành giả mới tập tư duy. 2. Quán sanh thân Phật: Người đang tập hành, sau khi quán tượng Phật thành công, lại phải nghĩ rằng: Tướng tượng này là ai? Là tướng tượng Phật Thích-ca-mâu-ni thời quá khứ. Như ta nay thấy hình tượng Phật, tượng không lại, ta cũng không đến, Tâm tưởng như thế liền thấy đức Phật thời quá khứ, khi mới giáng thần rung động trời đất, có ba mươi hai tướng đại nhân: 1- Lòng bàn chân bằng phẳng. 2- Dưới bàn chân có một ngàn khu ốc. 3- Ngón chân dài. 4- Gót chân rộng. 5- Kẽ ngón tay, kẽ chân đều có màng lưới mỏng. 6- Mu bàn chân cao, bằng, đẹp. 7- Đùi tròn vót như đùi nai quý. 8- Đứng thẳng hai tay quá gối. 9- Tướng mã âm tàng. 10- Thân tròn thẳng như cây Ni-câu-lô-đà. 11- Mỗi lỗ chân lông đều có một sợi lông. 12- Lông hướng lên và xoay bên phải. 13- Sắc thân hơn vàng ròng. 14- Hào quang tỏa chung quanh thân một trượng. 15- Da mỏng đẹp. 16- Bảy chỗ no đầy. 17- Dưới hai nách bằng đẹp. 18- Phần trên của thân như hình sư tử. 19- Thân rất đẹp ngay thẳng. 20- Vai tròn đẹp. 21- Bốn mươi cái răng. 22- Răng trắng, bằng khít và chân sâu. 23- Bốn răng cửa trắng và lớn. 24- Má vuông như má sư tử. 25- Trong cổ có vị rất ngọt. 26- Lưỡi lớn, rộng, dài và mỏng. 27- Giọng trong, ấm, nghe rất xa. 28- Tiếng thanh như tiếng chim Ca-lăng-tần-già. 29- Con mắt trong xanh. 30- Lông mi cứng xanh như lông mi trâu quý. 31- Trên đảnh có nhục kế. 32- Giữa chặng mày có lông trắng đẹp xoay bên phải. Lại có tám mươi tướng đẹp: 1- Vô kiến đảnh. 2- Mũi cao, thẳng, đẹp, lỗ mũi không bày ra. 3- Chân mày như trăng lưỡi liềm, xanh như sắc lưu ly. 4- Lỗ tai đẹp. 5- Thân dẻo chắc như Na-la-diên. 6- Xương mắc nhau như dây xích. 7- Thân khi xoay như tượng vương. 8- Khi đi chân cách đất bốn tấc mà vẫn có dấu. 9- Móng tay như sắc đồng đỏ, mỏng và bóng. 10- Đầu gối tròn đẹp. 11- Thân thanh tịnh. 12- Thân mềm dịu. 13- Thân không cong. 14- Ngón tay dài, tròn, vót. 15- Những nét răn của bàn tay đẹp như bức họa nhiều màu. 16- Mạch sâu không bày. 17- Mắt cá chân sâu không lồi. 18- Thân bóng mịn. 19- Thân tự giữ không xiêu vẹo. 20- Thân đầy đủ. 21- Dung nghi đầy đủ. 22- Khi đứng vững vàng. 23- Uy dũng khắp cả. 24- Tất cả thích xem. 25- Mặt không dài. 26- Dung mạo một mực không có sắc xen tạp. 27- Môi đỏ như quả Tần-bà. 28- Mặt tròn đầy. 29- Giọng nói hùng hậu. 30- Rốn tròn sâu. 31- Lông mọi chỗ đều xoay bên phải. 32- Tay chân đều no tròn. 33- Tay chân được như ý. 34- Những nét vân của tay và chân đều sáng và thẳng. 35- Chỉ tay dài. 36- Chỉ tay liên tục. 37- Tất cả chúng sanh có ác tâm trông thấy đều lộ vẻ hòa vui. 38- Mặt rộng, đặc biệt. 39- Mặt tròn đầy như trăng rằm. 40- Chúng sanh thấy không kinh sợ. 41- Lỗ chân lông bay mùi thơm. 42- Miệng bay mùi thơm. 43- Dung nghi như sư tử. 44- Tiến hay dừng như tượng vương. 45- Pháp đi như ngỗng chúa. 46- Đầu không tròn không dài giống trái Ma-đà-la. 47- Phần của tiếng đầy đủ (tiếng có sáu chục thứ, Phật đầy đủ). 48- Răng trắng bén. 49- Lông mềm và sạch. 50- Lưỡi lớn và đỏ. 51- Lưỡi mỏng. 52- Lông toàn màu hồng. 53- Con mắt rộng dài. 54- Các lỗ đầy đủ. 55- Tay chân trắng hồng như sắc hoa sen. 56- Bụng không bày ra. 57- Bụng không lồi lên. 58- Thân không động. 59- Thân nặng. 60- Thân lớn. 61- Thân cao, 62- Tay chân mềm bóng láng. 63- Khi đi chung quanh hào quang sáng ra một trượng. 64- Bình đẳng xem chúng sanh. 65- Không vì sự giáo hóa, không ham đệ tử. 66- Tùy thuận tiếng của chúng sanh không kém thiếu. 67- Tùy tiếng nói của chúng sanh vì thuyết pháp. 68- Ngôn ngữ không ngăn ngại. 69- Phát ra lời thích hợp chúng sanh. 70- Thuyết pháp thứ tự liên tục. 71- Tất cả chúng sanh mắt nhìn kỹ cũng không thể biết hết tướng tốt. 72- Xem không biết nhàm. 73- Tóc dài đẹp. 74- Tóc xoăn đẹp. 75- Tóc không rối. 76- Tóc không trổ. 77- Tóc mềm mại. 78- Tóc xanh như sắc lưu ly. 79- Tóc không ít. 80- Ngực có chữ Vạn, tay chân có chữ Cát. Hào quang của Phật sáng suốt chiếu soi vô lượng thế giới, từ khi mới sanh bước đi bảy bước thốt ra một câu quan trọng. Khi ngài xuất gia siêng năng khổ hạnh, ngồi dưới cội bồ-đề hàng phục ma quân, đến gần sáng thành bậc Đẳng chánh giác, tướng sáng khắp soi cả mười phương, chư thiên trên không đàn ca, tán hoa, mưa hương cúng dường, tất cả chúng sanh đều cung kính không cùng. Ngài riêng đi trong tam giới chuyển mình nhìn lại như tượng vương xoay, xem xét cây Đạo, lần chuyển bánh xe pháp ban đầu, trời người đều ngộ, lấy đạo tự chứng tiến đến Niết-bàn. Thân Phật như thế cảm phát vô lượng. Chuyên tâm niệm Phật không nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Như thế, tâm không loạn động. Khi ấy, được thấy sắc thân một đức Phật, hai đức Phật cho đến vô lượng thế giới chư Phật ở mười phương. Do tâm tưởng nên được thấy Phật. Đã thấy Phật cần được nghe thuyết pháp, hoặc tự thưa hỏi. Phật vì thuyết pháp, giải quyết các nghi vấn. 3. Quán pháp thân Phật: Người tập hành đã lâu, đã được Phật nghĩ tưởng, lại phải tưởng nghĩ công đức pháp thân của Phật. Tuệ không lường sâu thẳm, trí rộng không bờ mé, công đức không thể tính kể. Như Lai, bậc đáng cho nhân thiên cúng dường, khắp biết tất cả, đầy đủ tam minh, khéo vượt qua, thấu hiểu tất cả thế gian, bậc vô thượng, đại trượng phu điều phục tất cả, thầy của trời người, đấng hoàn toàn giác ngộ. Khi ấy lại niệm thần đức của hai đức Phật, ba bốn năm cho đến vô lượng cùng tận cả hư không chư Phật. Trở lại thấy một đức Phật, hay thấy một đức Phật hóa mười phương chư Phật, mười phương chư Phật hiện thành một đức Phật. Hay thấy một sắc biến thành các sắc - vàng, bạc, thủy tinh, lưu ly... tùy ý người thích thảy được thấy. Bấy giờ chỉ quán hai việc, thân Phật trong hư không và công đức của Phật, không cho nghĩ gì khác. Tâm được tự tại, ý không lăng xăng, đó là thành tựu niệm Phật tam-muội. Hành giả nếu tâm chạy theo ngũ trần, hoặc nhớ sáu việc lo nghĩ thì phải cố gắng kìm hãm điều phục nó. Phải suy nghĩ thế này: “Thân người khó được, Phật pháp khó gặp, cho nên nói: Các thứ sáng, mặt trời là bậc nhất; các bậc trí tuệ, Phật là bậc nhất. Vì sao? Phật thường vì tất cả khởi lòng đại bi, hy sinh đầu mắt tủy não... để cứu chúng sanh. Tại sao ta lại phóng tâm không chuyên niệm Phật mà cô phụ ơn nặng của ngài? Nếu Phật không ra đời thì ai mở lối đến cõi người, cõi trời và Niết-bàn? Nếu có người đem hương hoa cúng dường, hoặc lấy xương thịt máu tủy... xây tháp cúng dường, cũng không bằng người tu hành dùng chánh pháp cúng dường được đến Niết-bàn. Tuy nhiên, người cô phụ ơn Phật dù có niệm Phật cũng không được gì. Bởi vậy, ta phải chuyên tâm niệm Phật không quên để báo ơn Phật. Huống nữa, niệm Phật sẽ được các thứ tam-muội, trí tuệ và thành Phật mà không chuyên tâm niệm Phật sao?” Thế nên, hành giả thường phải chuyên tâm giữ ý không cho tán loạn. Đã được thấy Phật, thưa hỏi giải nghi, ấy gọi là “Niệm Phật tam-muội trừ diệt đẳng phần và các tội trọng”. Giảng: Nếu người đa dục dùng pháp môn Bất tịnh trị. Nếu người nhiều nóng giận dùng pháp môn Từ bi trị. Nếu người nhiều ngu si lấy pháp môn quán Nhân duyên trị. Nếu người nhiều lo nghĩ lấy pháp môn Niệm hơi thở trị. Nếu người đẳng phần (tham sân si đồng nhau) lấy pháp môn Niệm Phật trị. Bao nhiêu thứ bệnh có bấy nhiêu thứ pháp môn để trị. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ nói: “Phật dạy tất cả pháp để trị tất cả tâm, ta không tất cả tâm đâu cần tất cả pháp.” Mỗi pháp của Phật dạy là để trị một tâm bệnh cho chúng sanh, chúng ta có bệnh nào thì dùng pháp đó để trị, khi bệnh lành thì không cần dùng pháp nào để trị. Pháp Phật dạy như chiếc bè qua sông, qua sông rồi bước lên bờ chúng ta có vác chiếc bè theo không? Kinh Kim Cang nói “Pháp thượng ưng xả hà huống phi pháp”. Pháp chánh khi không cần cũng phải xả, huống chi những pháp tà. Chúng ta phải học Phật pháp để biết đúng bệnh đúng thuốc, nếu không học không biết làm sao trị lành bệnh cho mình? Người tu Phật không chịu học hiểu kinh như người bệnh không hiểu thuốc, tu không có hiệu quả. Phải hiểu rõ rằng chúng ta tu là trị những tâm bệnh xấu dở của mình để trở thành thanh tịnh sáng suốt. Nắm cho vững pháp trị bệnh để ứng dụng tu. Người đời nếu có thân bệnh, bác sĩ dùng thuốc trị lành. Phương pháp trị của bác sĩ là một pháp thực tế, khoa học. Pháp Phật dạy cũng vậy, bệnh tham, sân, si... của chúng ta dùng đúng pháp, trị đúng bệnh thì lành. Pháp ấy rất thực tế, rất khoa học không có gì huyền bí. Phật dạy pháp để trị bệnh mà đệ tử Phật lại làm biếng không dùng pháp trị, cứ lạy lục cầu xin, đó là điều sai lầm, không hiểu đạo Phật. Phiền não do tham sân si mà không chịu tìm bệnh của mình, không chịu tìm pháp tu, cứ xin Phật cho con được nhẹ nhàng mát mẻ, hết phiền não. Như vậy có trung thành với lời Phật dạy không? Chúng ta nên hiểu thật chín chắn để ứng dụng tu cho có kết quả. Hiểu sai lầm thì dù có tu mười năm, hai mươi năm vẫn không có kết quả gì, rồi buồn trách nói Phật không cứu mình, mình vẫn khổ. I- PHÁP MÔN TRỊ THAM DỤC Người dâm dục nhiều nên tu quán Bất tịnh. Từ chân đến đầu đầy dẫy bất tịnh: tóc, lông, móng, răng, da mỏng, da dày, máu, mủ, thịt, gân, mạch, xương, tủy, gan, phổi, tim, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, phẩn, nước tiểu, nước mũi, nước miếng, mồ hôi, nước mắt, cứt ráy, đất, óc, bong bóng, mật đàm, bầy nhầy, mỡ, mỡ sa, màng óc. Đó là ba mươi sáu vật bất tịnh trong thân. Người nặng về ái dục, đầu tiên là thích sắc đẹp. Phải thức tỉnh họ, cho biết thân này không có gì đẹp đẽ, quán bất tịnh là thuốc trị bệnh này. Nhiều người không hiểu, quán đối tượng mình đem lòng thương mến, quán họ bất tịnh, quán tới quán lui thành tịnh. Như thế là sai lầm. Quán bất tịnh là quán ngay thân mình có ba mươi sáu vật nhơ nhớp. Thấy thân mình nhơ nhớp rồi thì biết thân người khác cũng nhơ nhớp. Tự chán thân mình sẽ chán thân người. Chán thân mình, chán thân người thì ái dục không còn. Khi ngồi thiền chúng ta suy xét ngay trong thân mình từ đầu cho tới chân, các thứ lông, móng, răng, da dày, da mỏng... tất cả những thứ này đều không sạch. Tóc trên đầu được xem như quý báu, ai cũng chải chuốt trang điểm, nhưng khi thấy sợi tóc trong tô canh có gớm không? Nếu nó sạch thì không ai gớm, mà gớm thì hết sạch rồi. Quán sát lông, móng tay, móng chân, răng, da mỏng, da dày... có cái nào sạch không? Kiểm tới đâu thì thấy nhớp tới đó. Bình thường chúng ta không nhổ răng thì thấy răng mình cũng dễ coi, khi nhổ răng ra, quý vị cầm răng ngửi xem có dễ chịu không? Như vậy thân này có gì sạch? Chỉ vì mình lầm tưởng nó là sạch nên sanh tâm quý mến, quý mến rồi mới có bệnh ái dục. Quán tất cả đều nhơ nhớp hết, thấy thân mình là một cái bô đậy kỹ. Mang cái bô đậy kỹ này đã là mệt là gớm rồi, có thêm cái bô nào khác để gần mình chịu nổi không? Tự bản thân đã nhớp rồi mà còn kiếm một cái nhớp vào nữa thì càng gớm hơn. Xét kỹ như vậy, mình tự gớm mình, rồi sẽ gớm người, lúc đó tự nhiên hết bệnh ái dục. Ngày xưa lúc Phật dạy các thầy Tỳ-kheo trẻ quán bất tịnh. Quán đến mức các thầy thấy nhớp quá chịu hết nổi, năn nỉ huynh đệ làm ơn cắt cổ giùm. Khi Phật nhóm chúng thấy vắng mặt nhiều quá, hỏi lý do. Biết nguyên nhân, Phật quở trách, ta dạy các ông quán bất tịnh để trị bệnh tham dục, khi quán thành tựu rồi phải ngừng, trở qua quán tịnh. Thuốc là để trị bệnh, lành bệnh rồi phải bỏ thuốc, bệnh lành rồi mà còn dùng thuốc hoài thì chết. Trên đây là một lối quán bất tịnh về thân mình có ba mươi sáu vật, còn lối quán khác mạnh hơn. Xưa ở Ấn Độ có thi lâm, khi có người chết đem thây bỏ vào đó khỏi chôn cất. Phật dạy các thầy Tỳ-kheo đến thi lâm quán thây chết để dứt trừ tâm ái dục. Lại quán bất tịnh có chín thứ theo thứ tự: 1- Quán thây mới chết bầm xanh, 2- Lần lần sình trương, 3- Nứt nẻ, 4- Máu chảy ra, 5- Rục rã, 6- Lầy thối, 7- Giòi, thú đục ăn, 8- Xương mục, 9- Thiêu rụi. Đó là Cửu tưởng bất tịnh. Lối quán này rất mạnh, không quán thân sống mà quán thân chết. Thân chúng ta khi sống còn hơi ấm, còn thở còn hoạt động, mềm mại thấy dễ thương. Đến khi chết, nếu không để vô quan tài liệm kỹ, một hai ngày sau nó bầm xanh, nhìn thấy rất ngán. Nếu để hai ba ngày nữa bụng trương sình lên, thây chết nứt ra, máu chảy, thịt da rục rã lầy thối, giòi tửa đục, chim kên kên, quạ, chuột, chó sói... đến moi móc. Lâu ngày xương mục, lượm xương đem đốt thiêu rụi hết trơn. Thân thể như vậy quý chỗ nào? Không quý gì hết. Thân mình không quý, lẽ thật là như vậy nhưng ai xúc phạm tới nó thì biết! Chúng ta sống trong tưởng tượng nên cho là thân này đẹp đẽ đáng yêu, luôn chấp chặt bản ngã. Thử so sánh một người có phước, thường ngày ăn món ngon vật lạ, mặc đồ sang trọng, muốn gì có nấy. Tất cả đều đúng như ý muốn, thỏa mãn hết, nhưng người đó có khỏi chết không? Khi chết rồi, một người ăn mày nằm chết và một người sung túc nằm chết, hai cái thây đó cái nào dễ gớm hơn? Thân người ăn mày khô cằn ít máu mủ, ít sình ít thối; còn thân người sung túc bổ dưỡng quá nên sình thối nhiều, ghê gớm nhiều hơn. Như vậy chúng ta nuôi dưỡng cái thân rồi đến cuối cùng là đống thây thối, không có gì quý báu. Biết quán sát thì không chấp thân, không đam mê ngũ dục, ăn vừa đủ sống để tu tập, cố gắng làm điều lợi ích cho xã hội, cho chúng sanh. Pháp quán cửu tưởng này trị bệnh đa dục. Người có bệnh nhìn cái thây chết một lúc liền chán gớm. Phương thuốc này hiện giờ không có phương tiện quán được, vì tất cả người chết đều được gói kín, tẩm liệm cẩn thận nên khó thấy. Phép quán ba mươi sáu vật bất tịnh dễ thấy hơn, chúng ta có thể tập tu được. Người đa dục có bảy thứ yêu: 1- Yêu sắc đẹp, 2- Yêu dáng điệu, 3- Yêu dung mạo, 4- Yêu âm thanh, 5- Yêu láng mịn, 6- Yêu con người, 7- Tổng yêu. Nếu yêu sắc đẹp nên tập quán thây chết bầm xanh, những sắc bất tịnh vàng, đỏ... cũng như vậy. Nếu người yêu sắc đẹp thì quán ngay thây chết để hai ba ngày nó bầm xanh, riết rồi gớm hết ưa sắc đẹp. Nếu yêu dáng điệu nên tập quán thây sình trương và nứt nẻ. Người yêu thích dáng đi yểu điệu dễ thương thì nên quán thây chết sình trướng, nứt nẻ. Đó là một lối trị. Nếu yêu dung mạo nên tập quán thây máu chảy và rục rã. Người yêu dung mạo khả ái tập quán tử thi mới chết, máu trong thân chảy ra, xương cốt rệu rã, không còn gì đáng yêu. Nếu yêu âm thanh, tập quán người khi sắp chết, nấc lên và tắt thở. Nếu yêu âm thanh của người nào đó mà mình thương, thì tập quán khi họ sắp chết có tiếng nấc lên rồi tắt thở. Nếu yêu láng mịn nên tập quán bộ xương và người bệnh khô gầy. Nếu yêu sự bóng bẩy láng mịn của người thì tập quán xương khô và người bệnh khô gầy trơ xương, rất đáng sợ. Nếu yêu con người nên tập quán cả sáu thứ trong chín thứ bất tịnh. Nếu tổng yêu nên quán cả chín thứ. Hoặc khi quán các thứ này, lại khi quán các thứ khác, đều gọi là quán Bất tịnh. Nếu người đa dục yêu thích tất cả thì quán cả chín đề mục bất tịnh. Chúng ta có thể quán đề mục này một lúc rồi quán đề mục kia trong chín thứ, dời đổi để quán. Đó là quán chung. Pháp tu ở đây Phật dạy chúng ta quán ba mươi sáu vật bất tịnh trong bản thân mình để chán gớm thân, chán gớm thân thì không yêu thích thân người khác. Đề mục mạnh hơn là quán thây chết, thấy rõ thân mình không tốt đẹp gì cả. Người quán có kết quả liền thấy chán, thấy gớm thấy sợ. Hai pháp quán này đối trị bệnh tham dục. - Nếu thân bất tịnh như thây thối lầy thì do đâu mà yêu? Nếu yêu thân trong sạch thì thân thối lầy cũng vẫn yêu? Nếu không yêu thân thối lấy thì thân trong sạch cũng không yêu, vì hai thân là một vậy. Như chúng ta thấy người có dáng vẻ mạnh khỏe dễ thương, đến khi chết thân họ thối lầy mình còn thương hay không? Chắc là không. Khi người ta còn trẻ trung mạnh khỏe thì thương, khi chết rồi thì gớm. Chúng ta ai cũng bội bạc như vậy. Cuộc sống này hết sức tạm bợ, kể cả tình thương cũng tạm bợ. Đúng với sở thích của mình thì ưa mến, khi không còn gì thích thú thì hết thương. Đừng nói đợi tới chết, giả sử hai vợ chồng thương nhau, rất thành thật nhưng nửa chừng người chồng hoặc người vợ đi khám bác sĩ nói bệnh lao phổi nặng, khi ấy tự nhiên không còn thân thiết như xưa vì sợ lây. Vì cái ngã, mình sợ lây cho mình. Như thế chúng ta thương người ta qua mình nhiều hơn chứ không phải thương thật. Ở đây nói Nếu thân bất tịnh như thây thối lầy thì do đâu mà yêu. Thân bất tịnh đáng nhờm gớm, sự yêu thương của chúng ta tùy thời, không phải thủy chung. Tâm trạng của con người luôn đổi thay, tham dục cũng đổi thay. Biết như vậy có thể tự sửa mình. - Nếu tìm hai cái thật tịnh thì không thể có. Tâm người mê lầm bị sự điên đảo che đậy nên không phải tịnh chấp là tịnh, nếu phá dẹp tâm điên đảo thì được pháp quán thật tướng, liền biết bất tịnh là hư dối không thật. Thân trong sạch thân thối lầy, cả hai đều không thật sự là tịnh. Gốc của thân là nhớp, ai cũng biết rõ như vậy. Thời văn minh khá một chút, biết miệng mình hôi thì sáng có kem đánh răng cho đỡ hôi, thân mình ra nhiều mồ hôi khó chịu, khi mặc áo xức chút dầu thơm cho bớt mùi hôi. Nếu trong người chúng ta toàn là mùi hoa sen thì chắc khỏi xài những thứ dầu thơm! Biết mình không sạch, khéo che đậy để đánh lừa thiên hạ, tỏ ra mình là tốt là sạch là đàng hoàng; thân chỉ là cái bô đậy kín, không có gì tốt đẹp. Xét mình rồi xét người, ngẫm tới ngẫm lui thì tự nhiên tâm chạy theo ái dục cạn hết. Nếu không quán xét, bị bóng dáng bên ngoài che khuất, chúng ta không thấy được lẽ thật. Như vậy tất cả những gì chúng ta cho là sạch, là đẹp đều không thật. Cái sạch đẹp không thật thì cái không sạch không đẹp cũng không thật. Cả hai tịnh và bất tịnh đều không chấp, lúc đó chúng ta mới thấy biết chân thật. Lại nữa, thây chết không có hơi ấm, mạng sống, thần thức, và các căn bế tắc, người nhận kỹ thì tâm không sanh yêu mến. Thân sống có hơi ấm, mạng sống, thần thức, các căn sáng sủa, nên tâm điên đảo mê lầm sanh yêu mến. Xét kỹ thân chúng ta, ngày nay thấy nó còn tốt đẹp, vì có hơi ấm có mạng sống. Khi thân còn thần thức, có các căn sáng sủa, chúng ta sanh điên đảo mê lầm yêu mến, nếu những phần đó mất đi thì không có gì để đáng yêu. Khi tâm yêu sắc cho đó là tịnh, tâm yêu sắc dứt liền biết là bất tịnh. Nếu là thật tịnh thì phải thường tịnh, mà đây không phải thế. Như chó ăn phẩn cho là sạch, lấy con mắt người xem thì thấy rất dơ. Thân này toàn cả trong ngoài không có chỗ nào là sạch. Nếu yêu dáng ngoài của thân, toàn thân da mỏng bao bọc, nếu nắm cắt một miếng bằng ngón tay ta sẽ thấy bày tướng bất tịnh, huống là cả ba mươi sáu vật nhơ nhớp trong thân. Đoạn này răn nhắc chúng ta biết rõ thân không sạch. Khi có tâm yêu mến thì dù bất tịnh cũng cho là tịnh, tâm yêu mến dứt mới thấy bất tịnh. Dùng các pháp quán, xét kỹ nơi thân để dứt tâm yêu mến. Hơn nữa, xét ra nhân duyên tạo thành thân có bao nhiêu thứ bất tịnh. Trước tiên do tinh huyết cha mẹ hợp thành là bất tịnh, thành thân rồi thường chảy ra các thứ bất tịnh, cho đến quần áo, mền chiếu cũng là bất tịnh, nếu đến khi chết thì sự bất tịnh không thể kể xiết. Do đó nên biết sống, chết, trong, ngoài đều là bất tịnh. Sau khi quán Bất tịnh thành công chuyển lên quán Tịnh. Pháp quán thân bất tịnh hoặc quán thây chết... khi ngồi thiền chỉ xét tới xét lui những vấn đề đó thôi. Ví dụ ngồi quán tóc không sạch, quán da, máu mủ... mỗi cái đều thấy không sạch. Đến khi nhìn lại thân mình thấy ghê gớm không chịu nổi, sợ rởn óc, không muốn thấy thân nữa, đó là hiện tượng quán bất tịnh thành công. Lúc này phải nhanh chóng chuyển qua quán tịnh, không nên để gớm quá rồi muốn tự tử, đó là dùng thuốc trị bệnh mà để thuốc trở thành bệnh, không có lợi. Người tu Tịnh quán có ba hạng: mới tập, đang tập, tập đã lâu. Nếu người mới tập (người trước chưa phát tâm kiên cố), phải dạy rằng: Tưởng lột toát da ra trừ dẹp hết máu, thịt v.v... các thứ bất tịnh, quán bộ xương người đỏ. Buộc ý quán tưởng không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác phải lôi trở về. Đây là quán tịnh, nếu là người mới tập thì dạy quán tưởng trừ bỏ da, máu thịt... các thứ bất tịnh, quán bộ xương người màu đỏ. Trừ bỏ da là ý chỉ nhớ bộ xương màu đỏ, không nghĩ tới da thịt. Buộc ý quán tưởng không cho nghĩ gì khác, vừa có nghĩ khác thì phải kéo về một điểm bộ xương đỏ. Nếu người đang tập (người tập hành vài ba năm), nên dạy: Tưởng toát da thịt quán xương đầu, không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác phải lôi trở về. Với người đã tập đôi ba năm, dạy bảo quán xương trên đầu, thấy xương của mình rõ ràng, chỉ nhớ xương đầu thôi, không nghĩ nhớ gì khác. Nếu người tập hành đã lâu (người đã tập hành trải hàng chục năm), nên dạy: Tưởng dẹp hết da, thịt, buộc ý năm chỗ: đỉnh đầu, trán, giữa chân mày, chót mũi, ngay quả tim. Trụ ý năm chỗ ấy, quán xương không cho nghĩ gì ngoài, có nghĩ ngoài phải thu nhiếp trở về. Thường xem xét tâm nó chạy đi phải lôi lại. Nếu tâm mệt mỏi sẽ dừng lại chỗ buộc duyên, không chạy ra ngoài nữa, như con khỉ bị xiềng bên cây cột, nhảy nhót mệt rồi sẽ nằm lại bên cây cột. Chỗ buộc tâm duyên như cây cột, ý niệm chăm chú như sợi dây, tâm như con khỉ. Lại như bà mẹ chăm giữ đứa con còn bú, không để nó rơi té. Hành giả quán tâm cũng như thế, lần lần chế phục được tâm, bắt nó ở một chỗ. Nếu tâm trụ được lâu đó là hợp pháp thiền. Nếu được thiền định thì phát ba tướng: 1- Thân thể an hòa vui vẻ nhẹ nhàng mềm dịu. 2- Xương trắng phát ra ánh sáng trắng trong như ngọc. 3- Tâm dừng lặng. Đó là tướng Tịnh quán. Phật dạy chúng ta tu quán để trị bệnh. Nhờ quán bất tịnh thấy chán gớm thân này, thu nhiếp tâm không cho rong chạy. Lâu ngày sức quán thuần thục, trụ được thiền định sẽ có ba tướng. Một là cảm giác thân thể an ổn vui vẻ, nhẹ nhàng mềm mại, đó là tướng tốt. Hai là thấy những xương trắng phát ra ánh sáng trong như ngọc. Ba là tâm dừng lặng không còn nghĩ nhớ lăng xăng. Đây là tướng quán tịnh thành tựu. Khi ấy, được tâm hợp với Sắc giới. Ấy là người mới học pháp thiền được tâm khế hợp Sắc giới. Tâm hợp với pháp thiền tức pháp Sắc giới. Tâm được pháp này mà thân còn ở Dục giới vẫn được ba tướng. Người mới học pháp thiền, tâm trụ thiền định được tâm hợp Sắc giới. Cõi trời Sắc giới là nơi của các vị chứng bốn tầng thiền: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Người có được ba tướng tốt đẹp này, buổi ban đầu là tâm hợp với cõi trời Sắc giới, thân chưa đến Sắc giới, vẫn còn ở Dục giới. Tuy vậy, do dứt tham dục nên cảm giác rất hoan hỷ. 1- Tuy tứ đại thô mà được vui vẻ mềm dịu, hình chất trong sạch, tươi nhuần bóng mịn, điều hòa. Ấy gọi là tướng vui vẻ. 2- Hành giả nội quán thấy tướng xương trắng phát ánh sáng khắp chiếu, sắc nó trắng trong. 3- Tâm trụ một chỗ. Như thế gọi là Tịnh quán. Trừ thịt quán xương gọi là Tịnh quán. Ba tướng như trên đều tự biết đó, không thấy gì khác. Như vậy, do quán thành tựu nên tâm được định Sơ thiền là Ly sanh hỷ lạc, tức là lìa ngũ dục được vui vẻ. Từ Sơ thiền tiến dần lên được Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Đây là pháp tu theo thứ bậc, kết quả dễ dàng dễ hiểu. II- PHÁP MÔN TRỊ NÓNG GIẬN Nếu người nhiều nóng giận, phải học pháp môn ba thứ Từ tâm. Hoặc người mới tập hành, hoặc đang tập hành, hoặc tập hành đã lâu. Người mới tập hành nên dạy: Tâm Từ đến những người thân mến. Thế nào tâm Từ đến những người thân, nguyện làm cho họ được vui? Hành giả nếu được các thứ thân tâm vui thích, như khi lạnh được mặc ấm, khi nóng được mát, đói khát được ăn uống, nghèo túng được của cải, làm nhọc nhằn được nghỉ ngơi v.v... những thứ vui ấy nguyện cho người thân mến cùng được hưởng. Chuyên tâm nhớ Từ không nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở lại. Muốn trị bệnh nóng giận, dùng pháp từ bi. Từ bi là thương người, đem niềm vui của mình chia cho người khác. Trước tiên đem những điều vui thích ban phát cho những người thân, đó là từ bi. Ở đây dạy quán chứ không phải hành. Quán là tập tưởng nhớ việc từ bi bằng tâm tưởng, tâm tưởng thành công rồi thì hành động sẽ đến. Bắt đầu tu quán từ bi là quán với người thân. Khi chúng ta thương ai nhiều, dù họ sai lầm cũng không giận, nếu ghét ai nhiều thì cử chỉ nào của họ cũng đáng giận. Muốn không nóng giận hay bớt nóng giận, phải tập thương người. Thương bằng cách nào? Cái gì mình cho là an vui là sung sướng đều đem chia sớt cho người. Từ bi là ban vui để người hết khổ. Ví dụ mùa đông trời lạnh, mình có cái áo ấm mặc vào rất khỏe. Thực hành tâm từ như thế nào? Nhớ lại cha mẹ anh em hoặc những người thân, mùa đông không có áo lạnh, quán tưởng đem cái ấm áp đến cho những người thân. Đây là khởi tâm quán tưởng, đem niềm vui sự an lạc cho người thân trước nhất. Tâm khởi trước rồi hành động theo sau, không khởi tâm từ bi thương người thì chưa có hành động. Đây là giai đoạn thứ nhất mới tập quán từ bi, nghĩ tưởng đến người thân dễ hơn, nên tập dần để tâm khởi niệm lành. Người đang tập hành nên dạy: Tâm Từ đến những người không thân không sơ. Thế nào tâm Từ đến những người không thân không sơ, nguyện cho họ được vui? Hành giả nếu được các thứ thân tâm vui thích, nguyện cho những người không thân không sơ đồng cùng chung hưởng. Chuyên tâm nhớ Từ không nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Giai đoạn thứ hai, nghĩ nhớ quán tưởng đem tình thương đến người thân đã thành tựu rồi, nghĩ nhớ quán tưởng đến những người bình thường không phải thân quyến. Ví dụ láng giềng không phải bà con thân thuộc, nhưng mình được điều gì vui thích cũng nguyện cho những người đó cùng được vui thích như mình. Chuyên tâm nghĩ nhớ những người chung quanh, khởi lòng từ đến họ, luôn mong mọi người hoan hỷ an ổn. Chỉ nghĩ như thế không khởi niệm khác, lâu dần thì tâm sân của mình không phát khởi. Người tập hành đã lâu nên dạy: Tâm Từ đến những người thù ghét. Thế nào tâm Từ đến những người ấy, nguyện cho họ được vui? Hành giả nếu được các thứ thân tâm vui thích, nguyện những kẻ thù ghét đồng cùng chung hưởng, sự hưởng này đồng với người thân mến. Được bình đẳng nhất tâm, tâm rộng lớn thanh tịnh, người thân, người không thân không sơ, và kẻ thù ghét đều xem như nhau. Rộng đến cả thế giới vô lượng chúng sanh đều khiến được an vui, khắp cả mười phương cùng đồng một tâm bình đẳng rộng lớn thanh tịnh. Xem chúng sanh cả mười phương như xem thân mình, thấy họ rõ ràng trước mắt đồng được thọ hưởng khoái lạc. Khi ấy được Từ tam-muội. Từ tam-muội tức là lòng từ thành tựu, được chánh định. Pháp quán này chia ra ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất, hướng tâm từ đến người thân. Giai đoạn thứ hai, hướng tâm từ tất cả người không quen không thân. Giai đoạn thứ ba, hướng tâm từ đến những người oán ghét. Với những người này cũng nguyện mong được an vui như mình. Tu như vậy dễ hay khó? Thường chúng ta thù ghét ai, khi nghe họ khổ thì mình cho là đáng kiếp, không bao giờ tội nghiệp họ. Ở đây dạy chúng ta phải ban rải tâm từ đến những người thù nghịch, mình có điều gì vui cũng nghĩ đến họ, muốn họ hưởng như mình, đó là lòng từ bủa khắp. Quán được như vậy tâm từ mới được bình đẳng, nếu không thì tâm chúng ta thiên lệch, thường nghiêng nhiều về người thân, tốt hơn một chút là nhớ nghĩ những người không thân không sơ; với người thù oán thì để qua một bên không nghĩ tới. Tu tập lòng từ không cho phép chúng ta có tâm riêng tư, ngay cả với kẻ thù cũng phải khởi tâm chia sẻ như với người thân. Đó là tâm từ rộng lớn, là tâm Phật. Giai đoạn thứ ba rất khó quán. Với người thân hay người bình thường, dù sao cũng dễ khởi niệm chia sẻ an lạc. Với kẻ thù, chúng ta không bao giờ muốn cho họ vui. Nhưng phải tu tập như vậy, tất cả sự nóng giận mới dẹp sạch, không còn oán hờn. Tu tập rất khó, như người bệnh nặng phải uống thuốc đắng, chúng ta đã quen thói ích kỷ, muốn mở rộng lòng từ thật là gian nan. Nhưng đã tu thì không nên giới hạn, phải để tâm từ bủa khắp. Khi quán sát tất cả chúng sanh mười phương như thân mình, thấy họ rõ ràng đồng hưởng niềm vui, đó là được Từ tâm tam-muội. - Người thân mến và người không thân không sơ nguyện cho vui là được, còn kẻ thù ghét hung ác tại sao lại thương xót nguyện được vui? - Nên ban vui cho những người ấy. Vì sao? Người ấy còn bao nhiêu việc tốt là nhân của pháp thanh tịnh, tại sao ta nay lại do một cái thù nhỏ mà bỏ quên những cái tốt kia! Lại suy nghĩ: Người kia thời quá khứ biết đâu không phải là thân quyến của ta, nay không thể do một chút sân mà sanh thù ghét. Ta phải nhịn họ, đó là thiện lợi của ta. Hoặc nghĩ: Ta thực hành pháp nhân đức, hàm chứa hoằng truyền sức từ bi vô lượng không thể để cho nó tiêu mất. Lại nghĩ: Nếu không có kẻ thù ghét thì làm sao thành tựu nhân Sanh nhẫn. Sanh nhẫn là do kẻ oán thù ban cho, như vậy kẻ oán thù là người thân thiện của ta. Muốn ban vui cho kẻ thù oán cần khởi nghĩ những điều như sau: Thứ nhất, mình thù oán người vì họ làm điều gì trái ý, gây thiệt thòi cho mình nên phát sanh oán giận, nhưng có thể họ còn những đức tính tốt khác mà mình không thấy, cũng như mình chỉ thấy cái tốt của mình mà quên những điều xấu dở. Người xấu đến đâu cũng có cái tốt, chúng ta dù tốt nhưng cũng có những cái xấu. Khi thù ghét ai phải nghĩ rằng họ còn có những cái tốt, không nên chấp lỗi lầm họ đối với mình mà sanh oán thù. Thứ hai, người oán thù đó biết đâu đời trước là cha mẹ, anh em quyến thuộc của mình. Thù ghét người đó cũng là thù ghét thân nhân mình. Đời trước là bà con với nhau, bây giờ gặp lại có khi vui có khi buồn, tất cả đều tha thứ, đều thương yêu không giận hờn. Thứ ba, chúng ta đang làm việc nhân đức và nguyện từ bi vô lượng thì không có oán thù. Còn oán thù người này người nọ thì chưa phải nhân đức, chưa phải từ bi. Vô tình chúng ta ôm lòng oán thù làm tiêu mất lòng từ bi và nhân đức của mình, vì vậy nên bỏ qua đừng giận ghét bất cứ ai. Thứ tư, nếu không có kẻ thù ghét thì làm sao chúng ta được thành tựu nhân Sanh nhẫn. Nếu không nhẫn nhịn thì không thành tựu pháp nhẫn nhục. Bị người chửi mắng hành hạ, chúng ta đều nhẫn nhịn được, lúc đó thành tựu đức Sanh nhẫn. Nhờ người oán ghét như thế mà mình tiến lên, vậy phải mang ơn họ không nên sân giận. Người thật tu phải nhớ điều này. Đừng nghĩ rằng người hại mình là kẻ thù của mình, suốt đời không thèm ngó đến họ. Nếu suy nghĩ theo cách thường tình thì không bao giờ dứt được sân hận. Nhẫn nhục là một trong sáu pháp ba-la-mật của Bồ-tát, thành tựu một pháp nhẫn nhục thì các pháp kia cũng thành tựu dễ dàng. Nhẫn nhục rốt ráo thì không thấy có người nhẫn, người gây oán... Như thế đối với lời chửi mắng, thái độ mạ nhục độc hại của người, chúng ta càng thấy đây là cơ hội tốt để tập tu. Muốn tu có kết quả phải trải qua những cảnh bị chửi mắng, đánh đập, khinh bỉ, biết đâu đó là Bồ-tát thử mình. Nhờ người thử mà mình thành tựu đức nhẫn nhục thì người đó đáng cho mình kính phục, thương quý chứ không giận. Pháp tu này thực hành được không? Phải được, tu mà không được thì đó là giậm chân tại chỗ. Phải vươn lên để vượt qua, để thành tựu Sanh nhẫn. Hơn nữa, quả báo của sân là tối trọng, trong các thứ ác nó là bậc trên hết, do sân mới tàn hại người vật, nó là cái độc khó kìm chế được, tuy muốn đốt người mà kỳ thật là thiêu mình. Nên tự suy nghĩ: Bên ngoài mặc chiếc áo pháp, bên trong thực hành hạnh nhẫn nhục gọi là Sa-môn, thì đâu có thể nghe tiếng nói xấu liền thay đổi sắc diện, buông lung tâm tệ ác. Đoạn này dạy rất chí lý. Chúng ta tu mà ôm ấp nóng giận thì không thể kìm chế được lỗi lầm. Đem nóng giận hại người, đó chính là hại mình. Ví dụ một Phật tử đi chùa mười năm, hai mươi năm, ăn chay trường, tu cũng kha khá, lại bị người hàng xóm hung dữ chửi mắng nhục mạ, nói xấu đủ thứ. Người đó nhịn không nổi, chửi mắng lại, rốt cuộc ra sao? Chửi mắng người thì sẽ bị đánh giá, ăn chay mười năm, hai mươi năm mà cũng nóng giận không kém người không tu. Bao nhiêu công đức của mình tiêu hết. Nhẫn nhịn tha thứ cho người là tốt nhất. Phải biết cư xử trên một bậc, đừng đứng ngang với họ, vậy mới là sáng suốt. Đây nhắc nhở người tu, bên ngoài mặc pháp phục, bên trong thực hành hạnh nhẫn nhục được gọi là Sa-môn. Đã là Sa-môn thì không thể nghe người nói xấu liền thay đổi sắc diện, buông lung tâm tệ ác. Chúng ta tu nên tập kìm chế tập khí sân si nóng giận, kiên nhẫn thực hành lòng từ, thương tất cả chúng sanh. Càng thương người nhiều thì càng bớt đi tật xấu, tăng trưởng đạo đức, xứng đáng công hạnh Sa-môn. Lại nghĩ: Thân ngũ ấm này là cái rừng đau khổ, là mục tiêu chịu đựng những điều tai ác, thì những cái khổ não tai ác đến làm gì tránh khỏi. Như gai nhọn đâm vào thân, khổ não vô lượng, các thứ thù oán rất nhiều không thể diệt hết, phải tự bảo vệ bằng cách mang đôi giày nhẫn nhục. Chung quanh chúng ta biết bao điều khổ não châm chỉa vào mình, bệnh tật, tai nạn, ngôn luận thị phi... vì có thân nên phải gánh chịu. Muốn thắng lướt vượt qua những khổ nạn này chỉ có cách là đi đôi giày nhẫn nhục. Đi giày nhẫn nhục thì gai không đâm được, nhẫn nhục là cách tự bảo vệ mình tốt nhất. Như Phật dạy: Lấy sân trả sân, Sân trở hại đó, Sân mà không trả, Hay phá quân to. Người ta sân giận chửi mắng mình, mình cũng sân hận chửi mắng lại họ, đó là sân trả sân, không có ai hơn ai. Nếu lấy không sân trả sân, đó là phá được quân giặc lớn. Hay không sân hận, Là pháp Đại nhân, Tiểu nhân sân hận, Khó động như núi. Người không sân hận là người tu pháp đại nhân, còn người nào hay sân hận không dẹp bỏ được, chấp chặt kiên cố như núi, đó là hạng tiểu nhân. Sân là độc dữ, Tàn hại rất nhiều, Không thể hại người, Trở về tự hại. Sân là thứ độc dữ như rắn độc. Nọc của rắn độc hại chết nhiều người, nhưng nọc độc sân hận không thể hại được người, chính nó trở lại hại mình trước hết. Người bị sân đốt cháy, cơ thể họ bức bách khó chịu, đó gọi là tự hại mình. Sân là tối lớn, Có mắt không thấy, Sân là bụi nhớp, Ô uế tịnh tâm. Sân là tối lớn, khi người nổi sân thì không biết phải quấy gì hết nên có mắt mà không thấy như bị mù tối. Sân là bụi nhớp, sân như lớp bụi nhơ, làm tâm chúng ta bị ô uế. Sân độc như thế, Phải mau trừ diệt, Rắn độc trong nhà, Không đuổi hại người. Sân là thứ độc nguy hiểm, chúng ta phải diệt trừ cho mau. Như có rắn độc ở trong nhà, chúng ta phải đuổi nó ra, nếu không nó sẽ cắn mình không nghi ngờ. Sân hận như thế, Rất nhiều vô lượng. Thường tập Từ tâm, Trừ diệt sân hận. Như trên là môn Từ tam-muội. Sân hận nhiều vô lượng nên chúng ta phải tu tập tâm từ bi, thương tất cả mọi người để trừ diệt nó. Quán sát môn Từ tam-muội như trên được chánh định từ bi. Đây là lối tu cụ thể tập cho tâm mình hòa dịu mát mẻ, không còn ôm lòng thù ghét ai. Nếu còn ôm lòng thù ghét người nào, khi đi ngủ lại sực nhớ đến người đó thì có ngủ ngon không? Cứ lăn qua trở lại ôn tới ôn lui những gì người ta đã làm khổ mình, ôm lòng thù ghét người, chưa hại được người mà mình đã bị hại rồi. Chúng ta tu, quán tâm từ mở rộng lòng thương đến tất cả mọi người, bản thân mình trừ diệt sân hận không bị khổ đau, cũng được mọi người thương mến. Đó là lợi ích lớn. III- PHÁP MÔN TRỊ NGU SI Nếu người nhiều ngu si phải học pháp môn ba thứ suy nghĩ. Nếu người mới tập hành phải dạy: Sanh duyên lão tử, vô minh duyên hành. Chỉ như thế suy nghĩ không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Người nhiều ngu si phải học pháp môn quán chiếu mười hai nhân duyên. Phật thương chúng ta vì không thấy biết đúng như thật nên gọi là ngu si, muốn phá ngu si phải dùng trí tuệ quán chiếu thấy đúng như thật, ngu si từ từ dứt hết. Trong đây chia ra ba hạng người, hạng người mới tập tu, hạng người đang tập tu và hạng người đã tu tập lâu. Hạng người mới tập tu, dạy quán sanh duyên lão tử, vô minh duyên hành, chỉ suy nghĩ như thế không cho suy nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Tức là dạy chúng ta trong khi ngồi thiền quán xét thân này có sanh ra thì có già chết. Có người nào sanh ra mà không bao giờ già chết? Đó là một lẽ thật, chỉ vì chúng ta không nghĩ đến hay lãng quên. Vì thế Phật dạy chúng ta quán xét, biết rõ có thân này là sanh, sanh là duyên cho già chết. Quán chiếu tường tận như vậy là có một phần trí tuệ. Kế đến là quán vô minh duyên hành. Vô minh là mê lầm, từ mê lầm chúng ta tạo nghiệp, nghiệp là hành. Nghiệp dẫn chúng ta đi trong sanh tử. Trong mười hai nhân duyên, người mới tập tu nên quán sanh duyên lão tử và vô minh duyên hành. Điều quan trọng trong mười hai nhân duyên là vô minh, nguyên nhân đầu tiên của sanh tử. Vô minh là không sáng, vì vô minh nên chúng ta làm việc không suy nghĩ, không có trí tuệ. Như vừa nghe người nói một câu trái tai, chúng ta liền nổi giận, lúc đó tâm trí mờ mịt không còn bình tĩnh sáng suốt. Vì bị vô minh che lấp nên hành động sân si, miệng chửi tay đánh người. Miệng chửi tay đánh đó là hành, từ chỗ thô ác lại dẫn theo bao nhiêu thứ tiếp nối. Như vậy, khi nào còn vô minh thì còn tạo nghiệp sanh tử. Vô minh là gốc của luân hồi sanh tử. Quán chiếu sâu để dứt trừ dần dần gốc vô minh, trí tuệ tỉnh sáng, gọi là tu thiền trị bệnh si mê. Nếu người đang tập hành phải dạy: Hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu. Như thế suy nghĩ không cho nghĩ gì ngoài, nếu có nghĩ việc ngoài liền thu nhiếp trở về. Hạng người đang tập tu, dạy quán hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu. Đó là một mạch trong cuộc sống hiện tại. Nhân nơi hành tức là nghiệp dẫn thần thức đi thọ sanh. Thức đi thọ sanh có đầy đủ hai mặt: danh và sắc, danh là tinh thần, sắc là sắc chất, còn gọi là tâm và sắc. Hai phần này không rời nhau. Trong bào thai có đủ danh và sắc làm duyên sanh lục nhập, tức là thân người có sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Từ lục nhập duyên xúc, tức sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Xúc duyên thọ, khi căn tiếp xúc với trần phát sanh cảm nhận khổ, vui, không khổ không vui. Thọ duyên ái, khi có cảm nhận khổ vui liền có ái phát sanh. Ái duyên thủ, vì có ái nên bảo vệ gìn giữ, đó là thủ. Thủ duyên hữu, từ chấp giữ nên luôn mong muốn có thêm. Hữu duyên sanh, vì muốn có nên khi mất đi lại tiếp tục tìm kiếm, mất thân này tìm thân sau, sanh tử tiếp nối. Pháp quán này dành cho người đang tu tập, sau khi quán phần đầu gồm có bốn chi, phần này có tám chi. Quán sát dòng sanh tử của thân này từ nguyên nhân ban đầu là vô minh, vô minh ngay đời này và vô minh từ những đời trước lâu xa. Do vô minh nên tạo hành nghiệp rồi nối tiếp các chi sau. Cứ quán sát sâu như thế, vừa có khởi nghĩ khác liền kéo trở về không cho suy nghĩ gì ngoài mười hai nhân duyên. Nhờ quán chiếu như vậy lâu ngày chúng ta được trí tuệ sáng suốt thấy biết đúng như thật. Nếu người tập hành đã lâu nên dạy: Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử. Như thế suy nghĩ không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Hạng người tu tập đã lâu nên dạy quán vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập... quán đủ mười hai nhân duyên. Khi quán hết mười hai nhân duyên thì trí tuệ chúng ta đầy đủ. Người tu quán sát rõ cuộc sống của mình từ đời này đến đời sau, những nhân duyên ràng buộc liên hệ với nhau dẫn dắt sanh tử tiếp nối. Sanh tử không phải do ngẫu nhiên mà có hay do một vị thần nào tạo ra. Vì vậy, xét kỹ từ mê lầm ban đầu là vô minh rồi tạo nghiệp là hành, nghiệp dẫn thức đi thọ sanh. Khi thọ sanh vào thai mẹ có đủ hai phần, thức là tinh thần, sắc chất là máu huyết của cha mẹ. Từ danh có sắc nên có sáu căn. Từ sáu căn có xúc chạm sáu trần. Từ xúc chạm sáu trần có cảm thọ. Từ cảm thọ có yêu thích. Từ yêu thích có bảo thủ gìn giữ. Từ bảo thủ gìn giữ nên có tái sanh đời sau. Có thân tái sanh đời sau nên có sanh già bệnh chết. Cứ như thế, suy nghĩ quán chiếu kỹ càng không cho nghĩ cái gì khác trong giờ ngồi tu của mình. Đó gọi là quán mười hai nhân duyên. Nếu quán mười hai nhân duyên thấu đáo thì bệnh si mê sẽ hết. - Tất cả người trí là minh, tất cả người ngu là vô minh, trong ấy thế nào là vô minh? - Vô minh là tất cả không biết. Ở trong đây vô minh hay tạo có đời sau. Cái đáng có thì không, cái đáng không lại có, bỏ các điều thiện, lấy các thứ ác, phá tướng chân thật, chấp các thứ giả dối. Vô minh là tất cả không biết, vì không biết đúng như thật nên tạo nghiệp dẫn đi thọ sanh các đời sau. Cái đáng có thì không, cái đáng không lại có. Cái gì đáng có lại không, cái gì đáng không lại có? Như hiện giờ, chúng ta đối với thân tạm bợ này, duyên hợp rồi tan, có đó rồi hoại diệt, lại cho nó là thật, đối với tâm chân thật sáng suốt không sanh không diệt, lại bỏ quên không biết. Cái đáng có là tâm chân thật thì không nhận không biết, thân tạm bợ không đáng có thì lại cho nó là thật, như vậy là vô minh. Bỏ các điều thiện lấy các thứ ác, các điều lành không làm, các việc ác cứ gây tạo, đó là hiện tượng vô minh. Phá tướng chân thật, chấp các thứ giả dối, cái thật thì không nghe không làm, cái giả dối lại bảo vệ gìn giữ, đó là hiện tượng vô minh. Như trong phẩm Vô Minh Tướng nói: Pháp mờ mịt không sáng, Không biết nghiệp đạo đức, Mà tạo nhân kiết sử, Như lửa do cọ xát. Vô minh là pháp mờ mịt không sáng, không biết nghiệp đạo đức, không biết nghiệp lành nghiệp dữ, gây tạo các kiết sử tức là tạo các nghiệp ác, giống như lửa do cọ xát mới có. Chúng ta bị lôi dẫn đi trong đường khổ là do vô minh. Pháp ác mà tâm thích, Xa bỏ các pháp lành, Giặc cướp sáng chúng sanh, Xưa nay thường bị cướp. Đối với pháp ác tâm lại ưa thích, còn pháp lành thì xa bỏ. Đó là giặc cướp ánh sáng của chúng ta. Người thích điều ác bỏ điều lành, người đó bị vô minh che mờ. Làm như thế là tạo đau khổ nguy khốn cho chính bản thân mình, chẳng khác nào bị cướp hết ánh sáng trí tuệ. Xưa nay chúng sanh luôn bị cướp như vậy mà lại không biết. Tướng thường lạc ngã tịnh Chấp trong thân ngũ ấm, Pháp khổ tập diệt đạo Cũng lại không thể biết. Thân chúng ta vốn vô thường nhưng không ai dám nói nó là vô thường. Nghe ai nói anh hay chị không sống lâu, chúng ta cảm thấy giận. Tại sao? Nói mình không sống lâu tức là trù rủa mình mau chết. Như đức Phật nói mạng sống trong hơi thở, ngài có trù rủa mình không? Chúng ta không chấp nhận những lời nói ấy vì cứ nghĩ mình sống hoài, sống lâu, nghe ai nói tới cái chết thì sợ lắm, không muốn nghe. Vì vô thường cho là thường nên chúng ta bị các thầy coi tay coi tướng đánh lừa. Họ chỉ nói những điều có lợi, nói những điều mọi người ưa thích, như thế mới được trả tiền. Chúng ta muốn xem để tìm cái tốt, ngay thân vô thường cứ muốn là thường còn nên bị gạt mà không hay biết. Thân này là vui hay khổ? Con người sanh ra lớn lên không ai nghĩ cuộc đời mình đau khổ, chỉ nghĩ đến mai kia mình hạnh phúc. Lúc nào cũng mơ ước sự vui sướng hạnh phúc chờ chực mình. Nhưng kiểm điểm lại, mấy mươi năm sống khổ nhiều hơn vui, đôi khi cái vui của người này là cái khổ của người kia. Chúng ta bị cái tưởng vui đánh lừa nên không thấy được sự thật. Phật gọi đó là vô minh. Chúng ta có làm chủ thân này được không? Như khi ăn uống, chúng ta chỉ làm chủ lựa chọn thức ăn bên ngoài, nuốt vào trong bụng rồi những món không tiêu sanh ra đau bệnh. Nếu làm chủ được thì cái gì mình đem vô phải tiêu hóa đàng hoàng, nhưng có cái không tiêu, rồi có khi thân đau bệnh mình không tìm ra nguyên nhân, không trị được bệnh. Như vậy ai làm chủ ai? Xa hơn, ai có thân cũng muốn vui, muốn an lạc, nhưng không phải muốn là được. Thân này không có chủ thể nhất định, nó là tướng duyên hợp, theo nghiệp lôi dẫn nên có thọ mạng dài hay ngắn, sống khổ hay sống vui. Nếu nghiệp lành thì thân tốt, nghiệp dữ thì thân xấu, không ai muốn, không ai chọn lựa được. Vì thế nói thân này vô ngã. Vô ngã mà cho là có ngã, có cái ta làm chủ thể thật, đó là vô minh mê lầm. Ai cũng nghĩ thân mình là sạch, thân mình là đẹp, tức là chấp tịnh. Xét cho kỹ từ đầu tới chân không có gì gọi là sạch là quý. Máu huyết trong người là quý đối với sự sống, nhưng khi đem nó ra khỏi thân thể chúng ta cũng rất nhờm gớm. Không sạch mà tưởng sạch, đó là mê lầm. Vì vô minh nên chúng ta chấp thân năm ấm này là thường lạc ngã tịnh. Ngay trong thân này có chân tâm tánh giác là thường lạc ngã tịnh thì chúng ta bỏ quên. Chính tánh giác không sanh diệt nên là thường. Tánh giác đó không bị duyên bên ngoài áp bức làm cho khổ sở, luôn an ổn vui tươi nên là lạc. Nó mới thật là chủ, nên là ngã. Nó không bị nhiễm nhơ, nên là tịnh. Vì không nhận được tánh chân thật nên chúng ta chấp thân giả dối cho nó là thường lạc ngã tịnh. Đây là vô minh căn bản. Pháp khổ tập diệt đạo cũng lại như thế, Phật dạy khổ tập diệt đạo là chân lý là lẽ thật, chúng ta cũng si mê không hiểu, không nhận biết. Đường hiểm các thứ não, Người mù đi vào trong, Phiền não nên nghiệp tập, Nghiệp nên khổ xoay vòng. Đường hiểm là chỗ khổ, chỗ xấu xa, mà người mù tức là người vô minh cứ chấp nhận đi vào con đường đó. Phiền não nên nghiệp tập, từ phiền não buồn thương giận ghét nên tạo các thứ nghiệp rồi phải bị xoay vòng trong đường khổ sanh tử không dừng được. Không nên lấy mà lấy, Nên lấy trở lại bỏ, Theo đuổi tối, sai lầm, Giẫm phải gốc té nhào. Những thứ tạm bợ của thế gian không có gì quan trọng, chúng ta lại tìm kiếm, cho là quý là trên hết, đó là không nên lấy mà lấy. Nên lấy trở lại bỏ, với điều chân chánh lương thiện là điều tốt mà không chịu giữ, bỏ nó để tạo những cái xấu xa. Như vậy, theo đuổi tối tăm si mê sai lầm, giống như người mù vấp phải gốc cây té nhào không biết hướng đi. Người vô minh là người làm những điều không đáng làm, điều đáng làm lại không làm, vì thế bị khổ não dồn dập. Đó là việc đáng trách. Có mắt mà không tuệ, Ví dụ cũng như thế, Bởi nhân duyên ấy diệt, Trí sáng như mặt trời. Như thế lược nói vô minh cho đến lão tử cũng vậy. Người có mắt mà không có trí tuệ thì cũng giống như kẻ mù ở trên. Nếu các nhân duyên mê lầm đó diệt hết, chúng ta được trí sáng như mặt trời, soi tỏ tâm ý hành động theo nẻo chân chánh. - Trong Phật pháp lý nhân duyên rất cao sâu, tại sao người nhiều ngu si lại hay quán nhân duyên? Đây là câu hỏi, lý nhân duyên của Phật dạy rất sâu xa siêu thoát, tại sao người ngu si phải quán pháp này? - Có hai hạng người ngu si: Hạng người mê muội như trâu dê. Hạng người ôm các thứ tà kiến mê lầm đen tối, là người ngu si tà kiến. Phật vì hạng người sau bảo phải quán nhân duyên tập chánh định. Có hai hạng người ngu si, một là hạng người không biết phải quấy, không biết tốt xấu, nên nói mê muội như trâu dê. Hạng người này khó mà dạy tu được. Còn một hạng người ôm ấp tà kiến mê lầm đen tối. Hạng người này cũng biết suy nghĩ xét nét nhưng hiểu lầm biết sai. Với hạng người này Phật dạy quán nhân duyên để được trí tuệ. Quán nhân duyên là phương thuốc trị bệnh ngu si tà kiến. Như vậy, người cố chấp sai lầm thì nên quán mười hai nhân duyên. IV- PHÁP MÔN TRỊ LO NGHĨ Người nhiều lo nghĩ phải tập pháp môn A-na-ban-na tam-muội. Nếu người mới tập hành phải dạy: Nhất tâm đếm hơi thở vào ra, hoặc dài hoặc ngắn, đếm từ một đến mười. Nếu người đang tập hành phải dạy: Đếm hơi thở từ một đến mười và theo hơi thở vào ra, niệm cùng hơi thở, đồng dừng tâm ở một chỗ. Nếu người tập hành đã lâu nên dạy: Đếm hơi thở, theo hơi thở, chỉ, quán, hoàn và tịnh. A-na-ban-na là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là sổ tức quán, pháp môn quán hơi thở. Quán hơi thở là pháp môn thông dụng để trị bệnh nhiều lo nghĩ. Người mới tập tu theo pháp môn này phải nhất tâm đếm hơi thở vào ra hoặc dài hoặc ngắn, từ một tới mười. Lúc ngồi thiền hít hơi vô thật sâu rồi thở ra, hít vô đầy đếm một, thở ra sạch đếm hai. Đếm tới mười bỏ đếm lại từ một đến mười. Tâm duyên theo hơi thở vô tới đâu thì biết, hơi thở ra tới đâu cũng biết. Nếu đang đếm, đến bảy, tám chợt quên thì đếm lại từ đầu. Vì tâm chúng ta quen lo nghĩ việc này việc kia lăng xăng, bảo dừng lo nghĩ rất khó, nên bắt nó làm hai việc. Một là theo hơi thở, thở vô biết đến tận cùng đếm một, thở ra nghe hết đếm hai. Nhớ hơi thở vô, hơi thở ra là một việc, rồi nhớ số từ một đến mười là hai việc, đồng thời làm hai việc nhớ hơi thở, nhớ số thì không còn nghĩ nhớ gì khác. Như vậy, cứ ngồi thiền đếm hơi thở từ một tới mười không lộn không quên là được. Có nhiều người lại thêm một việc nữa là đếm xuôi rồi đếm ngược, phiền phức không cần thiết. Chỉ cần hơi thở vô ra và nhớ số đếm, tất cả các việc khác không nhớ là đủ quá rồi, nếu mình còn đếm thêm ngược xuôi nữa thì nó rối, không có lợi. Khi tu sổ tức thuần thục đếm từ một tới mười trong lúc ngồi thiền không lộn không nhớ chuyện gì khác, đó là tiến bộ, thành công. Bước qua giai đoạn thứ hai, với người đang tập hành, dạy bỏ số đếm chỉ nhớ theo hơi thở. Hít vô cùng, thở ra sạch theo dõi sát không quên, không bao giờ rời. Chú tâm nhớ hơi thở vô, hơi thở ra, nhớ luôn như vậy không nhớ chuyện gì khác. Vừa nhớ nghĩ chuyện gì khác thì kéo lại nhớ hơi thở. Đây là phương tiện tùy tức. Nếu người tập hành đã lâu nên dạy đếm hơi thở, theo hơi thở, tập chỉ, quán, hoàn, tịnh. Nghĩa là người đã lâu thì từ đếm hơi thở, theo hơi thở rồi tập chỉ, tập quán, tập hoàn, tập tịnh. Phần sau sẽ chỉ dạy rõ ràng hơn. A-na-ban-na tam-muội có sáu môn, chia làm mười sáu phần. Sáu môn là: 1. Sổ tức: Hành giả nhất tâm nhớ hơi thở vào đến cùng, đếm một, hơi thở ra đến cùng, đếm hai. Nếu hơi thở chưa cùng mà đếm là sai. Nếu đếm từ hai đến chín mà quên phải đếm lại một. Ví như nhà toán học tính một với một là hai, hai với hai là bốn v.v... không sai một mảy. Nhớ rõ hơi thở không nghi ngờ, không quên, không đếm lộn, đó là pháp đếm hơi thở. - Tại sao phải đếm? - Nhân đếm hơi thở quán vô thường, dễ được dứt các lo nghĩ và được nhất tâm. Khi chúng ta quán hơi thở, hít vô thở ra đều đều như vậy, chú tâm vào hơi thở, chú tâm vào số mà quên tất cả những cái nghĩ ở ngoài. Nhờ quên tất cả những cái nghĩ ở ngoài rồi chúng ta thuần thục. Thấy hơi thở vô thở ra luôn luôn, hơi thở là mạng sống của chúng ta. Thở ra mà không hít vào là chết, như lời Phật dạy, mạng sống chỉ trong hơi thở. Mạng sống rất ngắn, biết rõ như vậy, nhờ quán hơi thở sau này chúng ta quán vô thường rất dễ. Thân tâm sanh diệt vô thường liên tục tương tự khó thấy, nhân thở vào ra sanh diệt vô thường mà dễ biết dễ thấy được nó. Con người chúng ta là một dòng sanh diệt, lúc nào cũng sanh diệt, chỉ vì mình không thấy không biết. Tu tập pháp quán sổ tức, theo dõi đếm hơi thở hít vô thở ra, biết rõ nó luôn luôn là dòng sanh diệt vào ra vào ra không dừng. Hơi thở là mạng sống, mạng sống này là một dòng vô thường sanh diệt không có thật, không lâu dài. Tâm buộc tại số, dứt các lo nghĩ. Lo nghĩ gồm sáu thứ: 1- Lo nghĩ tham dục, 2- Lo nghĩ giận hờn, 3- Lo nghĩ não hại, 4- Lo nghĩ quê hương thân thuộc, 5- Lo nghĩ cõi nước, 6- Lo nghĩ không chết. Người muốn cầu tịnh tâm vào chánh đạo, trước phải diệt ba thứ lo nghĩ thô, kế trừ ba thứ tế. Trừ hết sáu cái lo nghĩ này sẽ được pháp Nhất thiết thanh tịnh. Ví như người luyện vàng, trước bỏ những đá sỏi thô, sau mới bỏ bợn cát tế, lần lượt được vàng ròng. Chú tâm vào số đếm một hơi thở, không còn lo nghĩ gì khác. Chúng ta lo nghĩ những gì? Những lo nghĩ này chia ra làm hai phần thô và tế. Thô là lo nghĩ tham dục, lo nghĩ giận hờn, lo nghĩ não hại. Kế là lo nghĩ về thân quyến, quê hương đất nước, lo nghĩ mong làm sao cho đừng chết. Đây giải thích những cái thô trước. - Thế nào là bệnh thô? Thế nào là bệnh tế? - Nghĩ tham dục, nóng giận, não hại là ba thứ bệnh thô. Nghĩ quê hương thân thuộc, cõi nước, không chết là ba thứ bệnh tế. Trừ được sáu cái lo nghĩ này sẽ được pháp tất cả thanh tịnh. - Người chưa được đạo, kiết sử chưa đoạn, sáu cái lo nghĩ này từ tâm khởi loạn, làm sao trừ được? - Tâm chán thế gian và tu chánh quán thì hay ngăn mà chưa nhổ được gốc nó, sau khi được đạo vô lậu mới nhổ hết gốc rễ của nó. - Thế nào là chánh quán? - Như bài tụng: Thấy người đa dục cầu đã khổ, Được nó giữ gìn càng thêm khổ, Mất đi buồn thảm khổ lại hơn, Khi tâm được dục không mãn khổ. Người nhiều tham dục thì khổ, khổ chia ra nhiều giai đoạn. Thấy người đa dục cầu đã khổ, khi tham muốn chưa được, mong cầu cho được đã khổ, là giai đoạn bắt đầu. Được nó gìn giữ càng thêm khổ, mong cầu được rồi lại bận tâm gìn giữ nó cũng khổ, là giai đoạn thứ hai. Mất đi buồn thảm khổ lại hơn, có rồi bị mất càng khổ hơn, là giai đoạn thứ ba. Khi tâm được dục không mãn khổ, đây là nói tổng kết, khi có tham dục đầy đủ rồi, cái khổ cũng chưa chấm dứt, lúc nào cũng bị khổ đeo đuổi. Chưa được là tham dục vị lai, nó là khổ. Được tham dục hiện tại, gìn giữ càng khổ. Mất đi là tham dục thuộc quá khứ càng khổ hơn. Ví như có người thấy người khác mang chiếc đồng hồ vàng rất đẹp. Muốn được đồng hồ vàng mà không có tiền thì ước mơ tìm cách này cách nọ, xin người này cầu người kia, lúc đó khổ không? Trong khi đang mong cầu thì hết sức khổ, mất ăn mất ngủ. Khi đủ điều kiện mua được chiếc đồng hồ đẹp quý giá lại sợ mất, giữ gìn không dám để hở. Được rồi cũng khổ. Hôm nào bỏ quên bị người ta lượm mất thì sao? Lại càng khổ nữa. Nên Phật dạy chúng sanh, do tham ái mà sanh khổ, khổ suốt kiếp này sang kiếp khác. Dục nhân vô thường, không, sầu thảm, Các thứ chung hợp nên bỏ đi, Ví như rắn độc vào nhà người Không gấp đuổi đi hại ắt đến. Dục là vô thường, trống không, là gốc của lo sợ sầu thảm. Khi các thứ tạm bợ chung hợp như thế chúng ta không nên quý tiếc chiều chuộng nhiều, phải bỏ đi. Giống như rắn độc vào nhà, nếu không gấp đuổi nó đi thì ắt hại đến thân. Tham dục là nhân đau khổ, người ôm lòng tham giống nuôi rắn độc trong nhà. Phải gấp đuổi tham dục ra, đừng lưu giữ nó. Không định, không thật, không quý trọng, Những thứ dục cầu vui điên đảo, Như A-la-hán lục thần thông Cảnh tỉnh đệ tử giác dục rằng: Ngươi không phá giới, giới thanh tịnh, Không cùng người nữ chung nhà ngủ, Rắn độc kiết dục đầy nhà tâm Ràng buộc vui ái không xa lìa. Tham dục không nhất định, không chân thật, không đáng quý trọng. Càng cầu tìm tham dục nhiều càng thêm điên đảo. Các vị A-la-hán đầy đủ lục thông cảnh tỉnh đệ tử tránh xa tham dục. Người đệ tử xuất gia không phá giới thì được thanh tịnh. Muốn được thanh tịnh trọn vẹn thì cẩn thận không cùng người nữ ngủ chung nhà. Rắn độc kiết sử tham ái đầy dẫy trong tâm ông, ràng buộc tâm trong cái vui ái dục không bỏ được. Đã biết giới thân không thể phá, Mà tâm thường cùng lửa dục chung, Ngươi vốn xuất gia cầu đạo pháp, Bởi đâu buông lung đến thế này? Giới thân tuệ mạng là giá trị quý báu của người tu, không thể phá bỏ. Biết vậy mà trong tâm thường cùng lửa dục ở chung thì như ở chung với rắn độc. Đã là người xuất gia cầu đạo giải thoát, tại sao còn nuôi dưỡng tâm ái dục phóng túng buông lung? Như thế không xứng đáng là người tu. Cha mẹ sanh thành nuôi nấng ngươi, Bà con quyến thuộc thương yêu lắm, Thảy đều rơi lệ quyến luyến ngươi, Ngươi đành xa bỏ không đoái tưởng. Đây là quở rầy những người xuất gia. Khi phát tâm xin đi tu, cha mẹ thương không nỡ cho, chẳng những cha mẹ mà bà con anh em cũng không muốn cho mình ra khỏi nhà. Khi ra đi ai nấy đều rơi lệ thương xót. Vậy mà đành bỏ cha mẹ anh em một cách mạnh mẽ cương quyết, tại sao vào trong đạo lại cột trói với người khác? Đó là tai họa, làm việc trái đạo lý. Mà nay sao lại ôm lòng dục, Cùng dục vui vầy không chán nhàm, Thường cùng lửa dục chung một chỗ Vui vẻ thích thú không tạm lìa! Người đã xả bỏ sự ràng buộc của gia đình, xả ly tình thương mến của cha mẹ anh em, tại sao vào đạo rồi lại còn ôm ấp lòng dục? Thật là không biết tu, không có đạo đức chút nào hết. Như thế các thứ quở trách tham dục và những thứ chánh quán trừ tâm tham dục. Phải quán xét như vậy để dẹp trừ tâm nghĩ về tham dục. - Thế nào diệt tâm giận hờn? - Như bài tụng: Từ bào thai ra thường chịu khổ, Chúng sanh như thế chớ giận hại, Nóng giận khởi lên dùng Từ diệt, Từ bi nóng giận không chung cùng. Nếu chúng ta hay nóng giận, giận người này giận người kia thì nên quán xét con người đã khổ từ khi lọt lòng mẹ. Chúng sanh vừa sanh ra là khóc rồi, từ lúc đó cho đến lớn còn chịu biết bao nhiêu điều khổ. Vậy thì mình nên thương yêu bảo bọc họ, chớ ghét giận chi nữa. Vừa khởi tâm nóng giận, chúng ta nên dùng lòng từ bi mà diệt nó. Nên biết khi nóng giận thì không có thương, có thương yêu thì không nóng giận. Vì thế Phật dạy dùng tâm từ bi để trừ diệt sân hận. Khi có ai làm gì trái ý, chúng ta vừa nổi giận lên thì phải nghĩ thương xót họ. Như khi người trong gia đình khờ dại làm những điều không đáng làm, nói những câu không đáng nói. Nghe thấy điều sai trái chúng ta nổi giận ghét, lúc đó nên nghĩ rằng vì người ấy khù khờ nên nói bậy, nếu sáng suốt thì không làm như thế. Người đó đáng thương không nên giận. Vừa nghĩ nó ngu khờ đáng thương thì cơn giận bớt liền, khỏi cần uống nước lạnh. Người ta thường bảo khi nào giận nhiều, nên uống ly nước lạnh cho mát hết giận. Nhưng không chắc gì lắm, uống nước rồi lát sau nhớ lại liền nổi giận. Chẳng lẽ ngày uống mấy chục ly sao? Tốt nhất là khởi lòng từ quán xét, thương xót sự ngu dại của người. Xét rồi thấy đáng thương thì hết giận. Đó là dùng từ bi diệt nóng giận, chứ còn mình dùng cái gì cũng không diệt được hết. Hiện nay nhiều người ghiền á phiện, xì-ke ma túy. Những người đó là dại hay khôn? Nên nghĩ người dại khờ phải giáo dục cho họ sáng suốt. Nếu khôn ngoan không ai tự làm hại mình như vậy. Hại đủ trăm phần mà vẫn làm, tức là người dại, kể cả sinh viên cũng dại như thường. Hiểu thấu sự ngu khờ đáng thương, chúng ta không giận mà tìm đủ cách cứu người. Từ bi là phương pháp trừ nóng giận rất tốt. Bồ-tát Quan Âm tay cầm tịnh bình, tay cầm nhành dương, nếu có chúng sanh đau khổ kêu cầu, ngài rưới nước cam lồ thì phiền não tiêu trừ. Đó là tượng trưng lòng từ bi dập tắt lửa nóng giận. Phiền não là nóng giận, khổ sở. Bồ-tát Quan Âm tu hạnh từ bi cứu khổ, chỉ có từ bi mới diệt được nóng giận. Người nào hay nóng giận ráng tập quán từ bi, thấy mọi người đều đáng thương như nhau. Mới tập thì thương người thân trước rồi người sơ sau, không thấy có người nào đáng ghét. Vì thế nói Nóng giận khởi lên dùng Từ diệt, từ bi nóng giận không chung cùng. Người nhờ từ bi nóng giận dứt, Ví như sáng tối không chung chỗ, Nếu giữ tịnh giới mà nóng giận, Người ấy tự phá pháp lợi mình. Lòng từ bi và tính nóng giận không cùng chung nhau, có từ bi thì hết nóng giận. Ví như sáng và tối, có sáng thì không tối, có tối thì không sáng. Nếu người tu biết giữ giới trong sạch mà còn nóng giận, đó là tự phá pháp lợi, tức là tự phá pháp lành giới luật mà mình đã thọ. Vì vậy người tu phải tập tâm từ bi. Ví như dẫn voi xuống nước tắm Lại lấy bùn đất trét đầy mình, Tất cả đều phải già, bệnh, chết, Mọi thứ đánh đập trăm ngàn khổ. Đây dùng ví dụ dẫn con voi, con ngựa, con bò con trâu... xuống sông tắm, dùng nước tắm sạch, chẳng lẽ lấy bùn đất đắp cho nó dơ thêm? Người tu là tập hạnh từ bi mà nổi nóng giận thì cũng như người dẫn con bò con ngựa tới bờ hồ bờ ao để tắm, không dội nước tắm mà lấy đất bùn trét lên mình nó. Người tu giữ tâm thanh tịnh, từ chỗ thanh tịnh khởi lòng thương xót thì sẽ dập tắt nóng giận. Tất cả người sanh ra trên đời đều phải già, bệnh, chết. Không ai còn sống mãi để giận hờn. Giận hờn đánh đập người lại gây thêm muôn ngàn cái khổ. Vì thế không nên nóng giận, không nên đánh đập người. Tại sao người lành thương chúng sanh Mà lại gia tăng giận não hại? Tất cả người biết tu đều gọi là người lành. Người lành là người biết thương chúng sanh sao lại nổi giận, muốn hại, muốn đánh đập người? Nếu khởi nóng giận muốn hại người, Chưa đến người kia trước đốt mình. Khi khởi nóng giận muốn hại người, chưa hại được thì sự nóng giận đã hại mình trước. Người xưa có câu “Hàm huyết phún nhân tiên ô tự khẩu” nghĩa là ngậm máu phun người trước nhơ miệng mình. Hình ảnh rất rõ ràng. Khi chúng ta nổi giận muốn hại người thì chính mình đã bị hại trước, như người bị bệnh huyết áp cao mỗi khi giận tức muốn đánh muốn chửi người khác, lúc đó đã bị nhức đầu trước rồi, nhiều khi giận quá đứt gân máu chết luôn. Người bệnh tim thì sân giận làm tim đập mạnh, nghẹt thở... Sân giận có hại như thế, nên chúng ta phải tập tự kìm chế và tập hạnh từ bi đem an lạc cho mình cho người. Thế nên thường nghĩ hành từ bi, Nóng giận, nghĩ ác tâm không sanh, Nếu người thường nghĩ hành pháp lành, Thường nghĩ pháp lành tâm vui vẻ. Đây là lời dạy thật chí thiết, khuyên chúng ta nên tập hạnh từ bi, phát khởi tâm từ bi, không nên phát khởi tâm nóng giận, nghĩ ác. Người luôn luôn nghĩ pháp lành tức là từ bi đó. Thường nghĩ pháp lành thì tâm vui vẻ, khi nghĩ giúp người này, nâng đỡ người kia, khi nghĩ dạy bảo khuyên răn người làm việc tốt. Ngay lúc đó lòng đã an vui, còn nghĩ điều xấu ác hại người thì trong lòng đã nóng nảy bực bội rồi. Đời nay được vui, sau cũng thế, Được đạo thường vui, ấy Niết-bàn, Nếu tâm dồn chứa điều bất thiện Tự mất lợi mình lại hại người. Người nghĩ lành nghĩ phải, nghĩ đạo đức thì tâm vui. Hiện tại tạo nhân vui, vị lai được quả vui. Đời nay được vui, sau cũng thế, được đạo thường vui, ấy Niết-bàn. Sống trong đạo mà tâm hằng vui, hằng tươi sáng, đó là hiện tượng của Niết-bàn. Ngược lại, nếu tâm mình chứa điều bất thiện thì tự mất lợi mình mà lại hại người. Đã tự trong tâm mất thiện pháp, Người có tịnh tâm cũng trầm một. Nếu trong tâm chúng ta mất pháp lành thì dù ngồi thiền muốn cho tâm an tịnh cũng không thể an tịnh. Như hôm nào chúng ta giận tức ai, khi ngồi thiền chỉ nhớ giận tức, suốt một giờ thiền toàn sự bực bội không an ổn. Còn ôm lòng tức giận thì tu không có kết quả. Nếu ngồi thiền với lòng từ bi, với tâm yên ổn vui tươi thì suốt giờ thiền rất thanh tịnh. Sân vừa hại mình vừa hại sự tu hành, người tu cần quán xét kỹ. Ví như đạo nhân ở chỗ vắng Đưa tay kêu to: “Giặc cướp tôi!” Có người hỏi rằng: “Ai cướp ngươi?” Đáp rằng: “Giặc Của tôi chẳng sợ, Tôi không giữ của cầu thế lợi, Làm gì giặc Của hại được tôi. Tôi tập căn lành các pháp bảo, Giặc giác quán (xét nghĩ) phá tôi thiện lợi, Giặc Của đã lánh chỗ chứa nhiều, Giặc cướp thiện đến không thể tránh.” Như có đạo nhân đang tu mà chợt la lên: “Giặc cướp nó hại tôi!” Có người hỏi: “Ai hại ngươi?” Ông đáp rằng: “Giặc tiền của tôi không sợ, vì tôi không giữ tiền của cầu thế lợi. Nhưng tôi tập tu các căn lành, các pháp bảo, giặc suy nghĩ tính toán đến cướp phá lợi lành của tôi.” Giặc suy nghĩ đây là suy tính nóng giận não hại người, phá hỏng tâm lành của đạo nhân. Giặc cướp tiền của đến có thể tránh được, cứ để nó lấy tiền thì mình được yên tâm. Giặc cướp điều lành là tâm nóng giận là suy nghĩ lăng xăng, giặc này khó tránh. Như thế các thứ trách nóng giận và các thứ chánh quán trừ tâm nóng giận. Chúng ta tu phải biết điều gì lợi điều gì hại, muốn trừ diệt nóng giận phải dùng pháp gì, muốn trừ diệt tham lam phải dùng pháp gì. Biết rõ, thấy tường tận thì vượt qua chướng ngại dễ dàng. - Thế nào trừ cái nghĩ não hại? - Như bài tụng: Chúng sanh luống chịu trăm ngàn thứ: Các bệnh luôn luôn đến não hại, Giặc chết rình chụp thường muốn giết, Vô lượng chúng khổ tự vây quanh. Muốn diệt tâm não hại người, chúng ta phải nghĩ rằng, chúng sanh ở trên cõi đời này chịu trăm ngàn thứ khổ, nào là bệnh tật cướp đi sức khỏe, nào là cái chết rình rập giết người, vô lượng thứ khổ vây quanh. Tại sao người lành thêm não hại, Chê bai mưu hại không nhân từ? Hại người chưa được tự mang họa, Người tục mưu hại còn thể tha. Đó là nghiệp ác của thế gian, Cũng không tự nói ta tu thiện. Người ta đã chịu bao nhiêu khổ sở cay đắng trong cuộc đời rồi, tại sao mình lại muốn hại họ nữa? Người hay chê bai hay mưu đồ hại kẻ khác là người không nhân từ. Hại người chưa được mà mình đã mang họa trước. Người thế tục não hại nhau còn có thể tha thứ, vì họ chưa phải là người tu, vì đó là nghiệp của thế gian. Cầu đạo thanh tịnh người xuất gia Mà sanh nóng giận tâm tật đố. Trời tạnh trong mây xẹt lửa độc, Phải biết ác này tội rất nặng. Người thế gian, người chưa biết tu, ác tâm mưu hại nhau, sanh tâm giận hờn tật đố thì còn tha thứ được. Người xuất gia, hoặc tại gia đã biết tu rồi mà tâm còn nóng giận còn tật đố thì giống như giữa trời quang mây tạnh mà lại xẹt ra sấm chớp. Người đời vì lòng tham muốn nhiều, tích lũy gom góp mọi thứ về mình, khi không đạt được chỗ mong cầu thì nổi giận tức tối. Người biết tu đã dẹp bớt lòng tham, không có gì đòi hỏi mong cầu, dứt sự toan tính, như một bầu trời trong. Trời trong mà có sấm là phi lý. Người biết tu mà có tâm tham, não hại người cũng là điều vô lý. Người ưa vắng vẻ khởi tật đố, Có bậc La-hán được tha tâm Răn dạy quở rầy: “Ngươi sao dại? Tật đố tự phá cội công đức, Muốn được cúng dường phải tự tập Bao nhiêu công đức trang nghiêm thân. Người tu ở chỗ yên tịnh vắng vẻ mà khởi tâm tật đố nên bị bậc A-la-hán có tha tâm thông biết được quở trách: Người tu mà còn tật đố là người dại. Tật đố phá hoại các cội gốc công đức của mình. Muốn được cúng dường phải tự trang nghiêm công đức nơi thân. Nếu không trì giới, thiền, đa văn, Dối mặc áo nhuộm hoại pháp thân, Thật kẻ ăn xin, người tệ ác, Tại sao mong lợi được cúng dường? Công đức của người tu là trì giới, thiền định, học rộng hiểu nhiều. Nếu không như thế thì chỉ là người dối mặc áo nhuộm tự phá hoại pháp thân, thật là kẻ ăn xin, là người tệ ác. Như vậy người tu không có tâm từ bi thương người mà muốn hại người, đó là kẻ ăn xin mà có tâm tệ ác. Mình đã xấu ác mà muốn được cúng dường, thật là đáng hổ thẹn. Đói, khát, lạnh, nóng trăm ngàn khổ, Chúng sanh thường bởi các khổ này, Thân tâm khổ ách không cùng tận, Tại sao người lành thêm não hại? Người thế gian đã chịu bao nhiêu thứ khổ, đói khát lạnh nóng... thân tâm đều nhọc nhằn đau đớn. Chúng ta là người tu, người hiền lành, phải thương xót tìm cách cứu giúp. Ví như ghẻ lớn dùng dao mổ, Cũng tợ tù nhân khảo chưa xong, Khổ ách quanh mình các khổ nhóm, Tại sao từ bi lại muốn tăng? Những khổ sở của thế gian như mụt ghẻ lớn bị mổ xẻ, như tù nhân bị tra khảo. Đối với các thứ khổ nhóm họp, nếu chúng ta lại tăng thêm giận hờn phiền hà, khiến họ khổ càng thêm khổ. Như vậy đạo đức tu hành ở chỗ nào? Tất cả chúng ta dù xuất gia tại gia đều là đệ tử Phật. Đạo Phật là đạo trí tuệ, đạo từ bi, nên Phật dạy chúng ta tu để phá si mê, tham lam, nóng giận. Si mê dứt là trí tuệ, tham lam nóng giận dứt là đầy đủ từ bi. Như vậy chúng ta tu theo Phật dù ít dù nhiều cũng phải lóe sáng trí tuệ nơi mình, mở tâm rộng để phát khởi lòng từ bi thương người thương vật. Trí tuệ tăng trưởng, từ bi tăng trưởng đó là sự tu tiến của chúng ta, chẳng phải có thần thông, biết bay, biết quá khứ, vị lai... là tu tiến. Mong cầu những gì lạ lùng huyền bí không phải là tu theo Phật. Phật dạy chúng ta có trí tuệ thấy đúng như thật, thương tất cả mọi người như thương chính thân mình. Tình thương đó bủa khắp không hạn hẹp. Có tăng trưởng từ bi mới là đệ tử Phật. Vì thế ở đây nói người từ bi thì không làm tăng khổ não cho người khác. Như thế các thứ quở trách cái nghĩ não hại, các thứ chánh quán để trừ nghĩ não hại. - Thế nào trừ cái nghĩ quê hương thân thuộc? - Nên nghĩ thế này: Trong thế giới sanh tử tự nghiệp duyên ràng buộc thì đâu là thân đâu là sơ? Chỉ do ngu si khởi tâm mến bừa, chấp cho là thân thuộc. Đời quá khứ đời vị lai không phải thân mà nay là thân. Đời này là thân mà quá khứ không phải thân. Ví như đàn chim chiều về chung đậu một cây, sáng ra tùy duyên mỗi con bay mỗi chỗ. Quê hương thân thuộc cũng như vậy. Người xuất gia nên có quan niệm rõ ràng về quê hương về thân thuộc không nên lầm lẫn. Đã xuất gia rồi mà còn nặng tình quê hương, nặng tình thân thuộc thì sự tu hành khó đến nơi đến chốn. Phải thấy tất cả nơi chốn đều là quê hương, tất cả chúng sanh đều là thân quyến của mình. Trong đây có ví dụ đàn chim chiều về chung đậu một cây, sáng ra tùy duyên mỗi con bay mỗi chỗ. Điều này hết sức rõ ràng. Như chùa Ấn Quang những năm về trước chúng tôi quy tụ về đông đảo, ba mươi bốn mươi tăng sinh ở học. Nhưng bây giờ về Ấn Quang tìm lại những người cùng ở với chúng tôi ngày xưa thì không còn mấy người. Như thế, nơi chốn chúng ta ăn ở chỉ là chỗ tạm, mỗi người phải đi mỗi nơi sinh sống, hoặc làm Phật sự. Chư tổ nhắc thêm, tất cả người thân của chúng ta đời này thấy là thân, nhưng ở đời trước chưa chắc là thân, đến đời sau thì cái thân thuộc hiện nay cũng không còn. Sanh trong thế giới mỗi người tự có tâm khác, duyên hợp nên thân, duyên tan thành sơ, không thể có nhân duyên quả báo quyết định mãi cùng nhau thân cận. Ví như cát khô tay nắm chắc thành khối, do nắm nên hiệp, buông ra thành tan. Cha mẹ nuôi con đến khi già con đền đáp lại. Con nhờ sự bồng ẵm nuôi nấng nên phải báo đáp lại. Nếu thuận ý cha mẹ là thân, nghịch ý là sơ. Có khi thân không có ích mà trở lại hại, có khi sơ không hại mà có ích. Tại sao trong đây nói có khi thân không có ích mà trở lại hại, có khi sơ không hại mà có ích? Thông thường tình thân giữa con cái đối với cha mẹ hoặc cha mẹ đối với con cái rất nặng. Nếu cha mẹ biết đạo đức, con sống hòa hợp tùy thuận theo đạo đức của cha mẹ thì đồng có lợi. Ngược lại nếu cha mẹ thiếu đạo đức, con cũng bắt chước làm theo thì mai sau nó sẽ tổn thương, sẽ đau khổ. Ví dụ một ông cha không biết tu nên mỗi ngày uống rượu hết chai này qua chai khác. Nếu con mua đủ rượu mỗi ngày, làm cha vui lòng gọi là thân. Nếu ông cha tới cữ mà không có rượu thì chửi mắng, chửi thì thành sơ. Có rượu thì ông vui, càng nhiều thì càng vui. Nhưng uống nhiều ông sẽ mang bệnh chai gan, chính cái vui đó trở thành bệnh. Vì vậy có khi thân mà trở thành tai hại. Nếu thấy cha uống rượu nhiều con không dám mua, mua chút chút thôi thì sẽ bị rầy là con bất hiếu. Chịu bị rầy để cha uống ít, uống ít thì không bệnh, không bị say sưa. Như vậy có lợi hay có hại? Sơ mà có lợi. Người do nhân duyên nên sanh ra ái, bởi nhân duyên ái nên trở lại hại người. Ví như họa sĩ họa tượng người nữ, trở lại yêu thích tượng ấy. Người yêu quê hương thân thuộc cũng thế. Dây ái ràng buộc mọi người, vì nó làm cho vòng tái sanh luân hồi không dứt. Tình thân quyến tưởng như tốt đẹp nhưng khiến chúng ta không thể giải thoát. Tâm ái, tâm mến thương sâu đậm sẽ làm hại chúng ta. Ví dụ một họa sĩ vẽ người con gái đẹp, khi vẽ xong thấy cô gái trong tranh đẹp quá, ông lại yêu thích cô gái đó. Chính mình tạo ra rồi mình lại yêu thương nó, không có nghĩa lý gì hết. Đối với người thân chúng ta thương quý cũng rất tốt, nhưng đừng để bị trói buộc bởi tình thương đó, như vậy mới hay. Tự sanh nhiễm trước, nhiễm trước những cái bên ngoài, trong đời quá khứ ngươi vẫn có quê hương thân thuộc, đời này ngươi đã làm gì? Ngươi không thể làm lợi ích cho người thân đời quá khứ, người thân đời quá khứ cũng không thể làm lợi ích cho ngươi, hai bên đều không thể làm lợi ích cho nhau. Trong cõi thế giới không định vô biên này, có nghĩ đến người thân hay không thân cũng chỉ là nghĩ suông mà thôi. Đạo Phật quan niệm con người không chỉ có một đời hiện tại, không phải chỉ một lần này mà đã trải qua vô số kiếp. Mỗi đời đều có cha mẹ, anh em. Trải qua vô số kiếp thì số lượng cha mẹ anh em nhiều không thể tính kể. Lý nhân quả luân hồi dạy chúng ta phải mở rộng tâm mình tiếp nhận mọi người trên thế gian đều xem như thân thuộc. Kinh Báo Hiếu nói, khi đức Phật đi trên đường thấy một núi xương khô, ngài bèn quỳ xuống đảnh lễ. Lúc ấy A-nan hỏi vì sao Phật lạy xương khô, Phật nói: “Trong đống xương khô này có xương của ông bà, cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp, có thể là thân của ta, hoặc thân của người do ta sanh ra. Ta đảnh lễ vì kính trọng những người thân thuộc ở vô số kiếp quá khứ...” Qua lời Phật dạy chúng ta thấy tất cả chúng sanh đều có liên hệ với nhau. Mọi người trên thế gian nếu không phải là thân thuộc gần gũi thì cũng bà con nhiều đời, không ai là người chưa từng quen biết. Nếu chúng ta chỉ ràng buộc trong cha mẹ, anh em, quyến thuộc của mình, còn người ngoài ai đau khổ mặc ai, mình không nghĩ đến cứu giúp, đó là tình thương hạn cuộc. Chúng ta có thể nghiệm thấy tất cả mọi người đều đã từng gặp nhau. Ví dụ có những người chúng ta chưa từng quen biết nhưng vừa thấy mặt họ là có cảm tình liền. Ngược lại có những người chưa từng quen biết, chưa từng làm mình khổ đau trong đời này, nhưng vừa thấy mặt, chúng ta đã không ưa. Hai trường hợp này cho thấy, có những người thân thuộc của mình từ nhiều đời trước nên vừa gặp tự nhiên có cảm tình; lại có người xưa kia làm hại làm khổ mình, bây giờ ra đời quên rồi, nhưng gặp lại tự nhiên không có cảm tình. Nhiều khi chúng ta oán trách xã hội bất công, có người đi tới đâu xin cái gì cũng được cho, nhờ cái gì cũng được giúp đỡ, còn mình vô duyên xấu số đi đâu ai cũng ghét. Trách như vậy đúng hay sai? Sở dĩ, người ta thấy mình không muốn ngó là vì không phải mới đời này mà đời trước mình đã tung hoành làm cho người ta khổ lắm rồi, bây giờ gặp lại quá ngán nên muốn cái gì, nhờ cái gì họ cũng lánh xa không muốn giúp. Với người khác họ vui lòng giúp, vui lòng lo lắng cho, đó là đời trước người đó đã tạo duyên tốt có cảm tình rồi, nên cần là giúp. Đó là ý nghĩa vay trả trong luân hồi. Mỗi lần trở lại chúng ta quên mà không quên hẳn, còn có cái gì thầm ở bên trong. Biết rõ trong luân hồi mình đã có mặt nhiều kiếp nhiều đời thì mọi người trên thế gian này đều là thân thuộc của mình. Ai cũng là người đáng thương, ai cũng là người đáng quý, không buồn không giận, không ghét bỏ ai, nhờ đó đạo đức tăng trưởng. Chúng ta nhớ ơn nhiều người trong nhiều kiếp đã giúp đỡ mình, ai cũng là ân nhân. Hiểu như vậy sự tu hành của chúng ta dần dần mở rộng, đạo đức và từ bi lan tỏa khắp chúng sanh, không bị hạn chế trong phạm vi riêng tư. Như vị A-la-hán dạy đệ tử mới xuất gia còn luyến ái người thân rằng: Như kẻ hư hèn đã mửa ra rồi lại ăn vào, ngươi cũng như vậy. Ngươi đã được xuất gia tại sao trở lại ái trước? Cạo tóc, mặc áo hoại sắc là tướng giải thoát, ngươi còn yêu mến người thân quê hương không được giải thoát, trở lại bị cái yêu mến buộc ràng. Vị A-la-hán rầy đệ tử, lời quở rất nặng nề: Như kẻ hèn đã mửa ra rồi lại ăn vào, ngươi cũng như vậy, đã xuất gia tại sao lại ái trước? Nói như vậy để nhắc nhở bổn phận người xuất gia. Xuất gia là ra khỏi nhà thế tục, đi vào nhà thánh hiền. Đã vào nhà chư Phật thì phải mở rộng lòng thương tất cả chúng sanh, nếu chỉ biết thương cha mẹ anh em ở nhà, đó là bị cột trói trong gia đình. Chúng ta tu là để làm lợi ích chúng sanh, không chỉ hạn cuộc trong phạm vi gia đình, như vậy mới đúng ý nghĩa xuất gia. Đã đi tu mà còn ái trước gia đình, như người đã mửa ra rồi mà ăn trở lại, rất gớm ghê. Đó là lời quở của bậc A-la-hán. Người tu cạo tóc, mặc áo nhuộm là hình tướng giải thoát, thế mà lại yêu mến gia đình, thân thuộc của mình, không lo tu để cứu độ chúng sanh. Lẽ ra được giải thoát lại bị ràng buộc, không xứng đáng với chí nguyện ban đầu Ba cõi vô thường lưu chuyển không định, hoặc thân không thân, tuy nay thân nhưng lâu xa cũng hết. Như thế, mười phương chúng sanh luân hồi, quê hương thân thuộc không định thì đâu không phải là quê hương thân thuộc của ta. Người khi sắp chết tâm thức không có, đứng tròng mắt tắt thở, mạng sống dứt, như rơi vào hầm tối. Khi ấy quê hương thân thuộc còn đâu? Nếu khi mới sanh, đời trước không phải thân mà nay gắng gượng hòa hợp làm thân; khi sắp chết, người thân trở lại không phải thân. Như một đứa trẻ một ngày chết ba chỗ, cha mẹ ba nơi đều khóc. Lời dạy này chúng ta phải nhìn trên thực tế mới thấy rõ giá trị của nó, không phải là lời nói gượng, nói tạm để cho dễ nghe. Khi chúng ta mới sanh, đời trước không phải là người thân mà nay gắng gượng hòa hợp làm thân. Trước khi đứa con sanh ra, cha mẹ không biết nó ở đâu. Khi nó ra khỏi lòng mẹ rồi thì nhận làm con, rồi cưng, rồi thương. Như vậy, trước không biết ở đâu mà bây giờ có mặt là thương, anh chị em đều dồn tình thương cho nó. Đó là khi mới sanh, không thân trở thành thân. Đến khi chết, người thân trở lại không thân. Như cha mẹ hết sức thân, nhưng chết rồi chưa tẩn liệm, chúng ta có dám nằm gần bên cạnh không? Không dám. Thêm một điều nữa, nếu người thân chết êm ái thì ít sợ, còn chết bất đắc kỳ tử thì sợ quá chừng. Như vậy là trước thân sau thành sơ. Lẽ thật của tình đời không có thân sơ thật, chỉ tùy trường hợp, thậm chí còn có lỗi lớn. Nếu cha mẹ chết gặp ngày trùng, con cái thân quyến tìm thầy giỏi ếm không cho về, như thế thành kẻ thù mất rồi. Chúng ta thật có tình thương thân quyến không? Nếu thật thì khi sống thương, khi chết cũng thương. Còn sống thì thương mà chết rồi lại nghĩ những chuyện tàn nhẫn, như thế không đúng đạo lý. Người xuất gia lìa bỏ gia đình thân quyến xem như vô tình, nhưng thật ra vì muốn mở rộng tâm từ bi thương tất cả mọi người nên hy sinh tình thương nhỏ hẹp. Vì thấy rõ lẽ luân hồi sanh tử không phải một lần mà vô số kiếp, ai cũng là thân, không phải chỉ có người thân đời này. Tình nghĩa lâu xa vô số kiếp nên người xuất gia phát tâm rộng lớn lo cho tất cả chúng sanh, không bị hạn cuộc bởi tâm nhỏ hẹp. Phật, A-la-hán dạy chúng ta đi tu thì phải thương tất cả chúng sanh, không phải chỉ thương một hai người. Cũng không nên cột trói trong tình thầy trò, chỉ thương quý thầy mình xem thường các vị thầy khác. Bỏ sự ràng buộc ở gia đình, vào đạo rốt cuộc cũng bị ràng buộc. Người xuất gia phải xem mình là người của tất cả chúng sanh, không phải là người của riêng ai. Cũng có người nghĩ rằng, mình đi tu thì phải trung thành với thầy tổ của mình, nếu lơ là quá e rằng có tội. Trong kinh A-hàm Phật dạy, người xuất gia ở chỗ nào dù thiếu ăn thiếu mặc mà có Pháp, tức là có Thầy dạy đạo đức, tu hành đầy đủ thì khó nhọc mấy cũng phải ở. Ngược lại, nếu ở chỗ nào Thầy lo sung túc, ăn mặc thừa thãi nhưng không có Pháp thì cũng phải từ giã ra đi. Chúng ta trung thành với thầy, chết sống với thầy là hợp đạo hay trung thành với pháp, chết sống với pháp là hợp đạo? Đừng nghĩ thầy của mình không dạy không tu nhưng thầy nuôi mình cực khổ nên phải ráng chết sống với thầy. Như vậy, rốt cuộc là một gia đình, không có gì khác. Người tu phải quý trọng Phật pháp, vì Phật pháp mà tu, không phải vì tình cảm mà tu. Đó là ý nghĩa hết sức rõ ràng. Đây dẫn câu chuyện như một đứa trẻ một ngày chết ba chỗ, cha mẹ ba nơi đều khóc. Một vị trời ở Dục giới hết phước, đi chơi với các tiên nữ, trèo lên cây hái hoa, sẩy tay rớt chết, liền đó sanh ở Long cung. Rồng con sanh ra rồi chết, rồng mẹ rồng cha bu nhau khóc. Khi đó rồng con trở lại sanh trên nhân gian làm con trưởng giả. Trưởng giả sanh được đứa con trai rất mừng nhưng nó lại chết, ông đang buồn khóc, thần thức nó lại sanh ra chỗ khác. Ba nơi đều khóc mà chú đó còn lang thang đi kiếm chỗ sanh. Khi một người sanh ra chúng ta thấy có mặt liền thương, rồi hết duyên người ta đi chỗ khác mà ngồi đó khóc hoài. Người ta sanh ra ở đâu, làm gì mình không biết nhưng cứ ôm lòng nghĩ nhớ tiếc thương. Thế gian là như vậy, không sáng suốt. Như thế các thứ chánh quán trừ lo nghĩ quê hương thân thuộc. Tất cả các quán tưởng như thế để trị bệnh lo nghĩ cột trói trong tình quê hương thân thuộc. Người xuất gia có cái nhìn rộng rãi, nơi nào cũng là nhà, người nào cũng là thân thuộc, như vậy mới hợp đạo lý. - Thế nào trừ cái nghĩ cõi nước? - Hành giả nếu nghĩ nước ấy giàu có vui vẻ an ổn, nhiều người tốt, thường bị sợi dây đất nước trói buộc. Phải bỏ đi cái nghĩ sai lầm như thế! Nếu người có trí không nên mến trước. Vì sao? Vì bao nhiêu cõi nước do tội lỗi thiêu đốt và thời tiết biến chuyển nên có đói khát khổ nhọc, tất cả cõi nước đều là vô thường không an ổn. Lại nữa, già bệnh chết không nước nào mà chẳng có. Từ chỗ này thân khổ đến chỗ kia thân cũng khổ, đi khắp tất cả nước không đâu chẳng khổ. Giả sử có nước an ổn giàu có vui vẻ mà còn có kiết sử tâm sanh đau khổ thì nước ấy cũng chưa phải tốt. Nếu hay dẹp được những cái xấu xa trong nước, làm tiêu mòn kiết sử cho tâm khỏi khổ, ấy là nước tốt. Chúng ta thường có bệnh nghĩ chỗ này sung sướng, chỗ kia nghèo khổ... Chỗ nào sung sướng thì quý trọng, chỗ nào nghèo khổ thì cho là tầm thường, không ưa. Người tu nếu kiết sử trong tâm chưa dẹp thì không nơi nào là không khổ. Như người nhiều tham, nhiều nóng giận, nhiều si mê ở chỗ nào cũng khổ cũng phiền não. Chỉ có người dẹp được tâm tham lam nóng giận si mê, người ấy ở đâu cũng là chỗ tốt. Cảnh tùy theo tâm, tâm tốt thì chuyển cảnh xấu thành tốt, nếu tâm xấu còn đầy thì cảnh tốt cũng thành xấu. Vì thế chư tổ dạy chúng ta phải làm tiêu mòn tâm kiết sử, chuyển hết những cái hư dở thì cõi nước trở nên tốt đẹp. Tất cả chúng sanh có hai thứ khổ, thân khổ và tâm khổ. Do hai thứ khổ này mà thường khổ não. Không có nước nào mà không có hai cái khổ này. Lại có nước rất lạnh, có nước rất nóng, có nước đói khát, có nước nhiều bệnh tật, có nước nhiều giặc cướp, có nước pháp nước bất công v.v... Các nước như thế, tâm chán không nên đắm mến. Đó là chánh quán trừ nghĩ cõi nước. Chúng sanh có hai thứ khổ là thân khổ và tâm khổ. Chúng ta có mặt ở đây không ai hoàn toàn không bệnh. Không bệnh này thì bệnh nọ, không bệnh nặng thì bệnh nhẹ. Có bệnh là có khổ. Đó là nói về thân. Trong tâm chúng ta luôn có buồn thương giận ghét, đó là tâm khổ. Thân khổ, tâm khổ, không có gì an ổn. Chúng ta thường quan niệm nước này nghèo, nước kia giàu, nước này lạc hậu, nước kia văn minh. Ai cũng thích ở chỗ nước giàu, văn minh, không thích ở nước nghèo, lạc hậu. Nhưng có những nơi tưởng là giàu đẹp, khi chưa đến thì khao khát ước mơ, khi đến rồi thì quá chán. Năm tôi sang Canada gặp một Phật tử được con cháu bảo lãnh, lúc nói chuyện bà than rằng: “Không biết con mắc cái tội gì mà bị đày về địa ngục hàn băng này. Không đi đâu được hết, cứ ở lẩn quẩn trong nhà hoài, khổ quá!” Xét kỹ thì ở đâu cũng có cái khổ riêng của nó, không nơi nào hoàn toàn vui, vừa ý, thích thú. Chúng ta thường cho rằng ở các nước Âu Mỹ văn minh, tiện nghi, nhưng có đi rồi mới biết. Ở các nước đó khi thì quá nóng khi thì quá lạnh, phải có đủ điều kiện mới ở được. Thấy như rất sung sướng nhưng cũng như ở trong cái hộp, không tự do ra vào thong thả như ở nước mình. Người dân xứ đó phải làm việc gắt gao, không được bê trễ, lúc nào cũng vội vã. Nhiều người già cả con cháu không có thời giờ săn sóc, sáng sớm đi làm tối mịt mới về, ở nhà một mình buồn và lạnh lẽo. Vì thế nói trên đời không có chỗ nào đáng cho mình mơ ước, ở đâu cũng có hai cái khổ về thân và tâm. Chỉ làm sao cho tâm bớt tham lam, nóng giận, si mê, ở nơi nào cũng được. Đây là dạy các pháp quán về cõi nước, kể đủ những tai nạn bất an để chúng ta không đắm mến, trừ lo nghĩ trói buộc về cõi nước. - Thế nào trừ cái nghĩ không chết? - Nên dạy hành giả, hoặc sanh trong nhà khá giả, hoặc con dòng quý phái, người có tài nghề thế lực..., tất cả đều không nên nghĩ nhớ. Tại sao? Vì khi chết đến không lựa già trẻ sang hèn, tài nghề thế lực... Thân này là chỗ tụ hợp của các nhân duyên sầu khổ. Nếu tự thấy mình ít tuổi còn sống lâu, được an ổn, đó là người ngu si. Vì cớ sao? Chỗ nương tựa của sầu khổ là tứ đại, tứ đại gây nên hình thể cũng như bốn con rắn độc, tuy chung mà không hợp thì làm sao được an ổn? Hơi thở ra chưa trở vào là không thể tin được. Khi ngủ chưa ắt có thức, việc ấy cũng khó tin. Từ khi vào thai cho đến lúc già, cái chết lúc nào cũng rình rập bên mình, thế mà vì mong sống lâu nói rằng không chết, làm sao tin được? Chúng ta lúc nào cũng bị cái chết rình rập. Không ai bảo đảm mình sẽ sống bao lâu, không ai bảo đảm được đời mình đến tuổi nào mới chết. Thân này rất mong manh tạm bợ, dù sanh trong nhà giàu có quý phái thế lực đều không bảo đảm được thân này khỏi chết. Nếu cho rằng mình còn trẻ chắc sống lâu, đó là người ngu. Thân là gốc của khổ, do bốn con rắn độc tụ họp mà thành, bốn con rắn này không thuận nhau nên thân chúng ta không có gì bảo đảm bền chắc. Chỗ nào cũng có cái chết chực sẵn, trong thân thì tim gân mạch máu... bị tắc nghẽn, bên ngoài thì tai nạn do đi lại di chuyển, do chiến tranh hoặc thời tiết khí hậu bất hòa... Người ngủ yên trên giường có khi sáng mai không thấy trở dậy, từ khi thành hình đến khi già, cái chết luôn luôn theo đuổi chúng ta. Vì thế không thể mong sống lâu ở đời. Giặc chết rút đao, nắm tên tìm người giết, không có chút lòng thương xót. Người sanh trên đời cái chết là sức mạnh bậc nhất, tất cả không có cái gì thắng được sức mạnh của cái chết. Người anh hùng bậc nhất của đời quá khứ không thoát được cái chết, bậc đại trí trong đời hiện tại cũng không thắng được cái chết, không thể dùng lời nhỏ nhẹ van xin được nó, không thể dùng lời khéo léo lừa gạt được nó, cũng không thể giữ giới tinh tấn mà đuổi được nó. Do đó nên biết, mạng người tạm bợ không thể trông cậy. Chớ có tin chắc rằng ta sẽ sống lâu. Bọn giặc chết thường dẫn người đi, không đợi già rồi mới giết. Kinh A-hàm nói, một hôm vua Ba-tư-nặc đi dẹp loạn thắng trận trở về ngang qua Tinh xá, ông vào đảnh lễ Phật. Phật hỏi: “Đại vương đi đâu về mà thấy nhọc nhằn vậy?” Ông thưa: “Đi dẹp loạn thắng trận trở về.” Đức Phật nói: “Như có người đến báo với Đại vương, phương đông có một quả núi từ xa lăn đến, lăn tới đâu thì nhà cửa sập, người bị chết. Phương nam, phương tây, phương bắc cũng như thế. Nếu nhà vua nghe bốn phía núi lăn dồn lại, tới đâu người chết nhà cửa hư sập, thì lúc đó lấy gì để chống cự với nó?” Nhà vua lắc đầu nói: “Nếu là giặc thì con còn đánh dẹp được, chứ núi lăn thì chịu thua, không làm gì được.” Phật nói: “Cũng vậy, bốn quả núi đó là sanh già bệnh chết. Sanh già bệnh chết đến ép ngặt thân ta, lấy sức mạnh nào để ngừa đón, để chặn nó lại?” Dù có sức mạnh đến đâu cũng không ngăn đón được, phải chấp nhận bốn núi đó. Chỉ có Phật thấy được chỗ thoát khỏi bốn núi đó, nên chỉ dạy chúng ta tu để giải thoát sanh tử. Như vậy, bốn núi sanh già bệnh chết là sức mạnh, chúng ta không thể coi thường. Cái chết đến bất cứ lúc nào, đừng lầm tưởng rằng mình sẽ sống dai; ngày nay còn sống chưa chắc ngày mai còn. Ngày nay phải lo tu, lo làm lợi ích chúng sanh, không thể nói chờ đến ngày mai. Vì thấy cái chết đuổi gấp nên chúng ta cố gắng làm được gì thì làm. Như lúc ngồi thiền mà tâm nhớ nghĩ chuyện hơn thua phải quấy, làm sao trị nó? Nên tự hỏi ngồi thiền đây là để tính chuyện hơn thua phải quấy, để chờ chết phải không? Nếu muốn chờ chết thì ngồi chờ, nếu muốn giải quyết vấn đề sanh tử thì ngồi đây không có quyền nghĩ tưởng một việc gì hết. Chỉ cốt làm sao làm chủ được mình, tâm thanh tịnh, trí sáng suốt để vượt khỏi cái chết, đó mới là tu. Biết rõ cái chết không tha không chừa một ai, chúng ta phải cố gắng giờ nào ráng tu giờ đó, làm việc gì thì ráng làm cho tròn, không chần chừ không lôi thôi. Như A-la-hán dạy đệ tử bị cái nghĩ không chết não hại rằng: “Ngươi đã biết chán đời vào đạo, sao lại khởi nghĩ như thế? Này! Có người chưa sanh đã chết, có người chết trong khi sanh, có người chết trong lúc còn bú, có người chết sau khi dứt sữa, có người chết lúc còn bé, có người chết trong thời trai tráng, có người chết lúc tuổi già. Trong tất cả thời đều là cảnh của chết. Ví như cây trổ hoa liền rụng hoặc thành trái mới rụng, có khi chưa chín lại rụng. Thế nên, phải gắng sức tinh tấn cầu đạo an ổn; chung ở với bọn giặc dữ không thể tin được, bọn giặc này như cọp khéo giấu hình khó thấy. Giặc chết thường tìm giết người, mọi vật trên thế giới không thật như bọt nước, tại sao đợi già mới lo tu? Ai có thể bảo chứng rằng người già ắt được hành đạo? Ví như cây to đứng dựa vực thẳm, trên bị gió lớn, dưới bị nước xoi bày rễ, ai có thể tin được cây này lâu bền? Mạng người cũng vậy, tuy tuổi nhỏ vẫn khó tin. Cha như hạt giống, mẹ như khoảnh ruộng, nhân duyên tội phước đời trước như mưa sương, con người như cây lúa, chết sống như cắt gặt. Những vị thiên tử nhân vương trí đức hưởng những thứ vui sướng cao sang, nhưng sau rồi lại rơi vào chỗ tối tăm. Bởi thế nên chớ tin mạng sống mà nói rằng: Ta ngày nay làm việc này, ngày mai cũng làm việc này.” Các thứ chánh quán như thế trừ quan niệm không chết. Đây là lời răn dạy của vị A-la-hán quở trách đệ tử cần mau chóng tỉnh giác tu tập. Bởi cái chết không chọn người, không hẹn giờ phút chết. Trong tất cả thời đều là cảnh của chết. Có một thiền sư viết câu chúc cho đệ tử tại gia: “Cha chết, con chết, cháu chết.” Đệ tử sợ hãi lo lắng trước câu chúc không tốt đẹp này. Nhưng thật ra thầy chúc rất có lý. Trong gia đình, người giả lớn chết trước rồi đến con cháu. Chết thứ tự như vậy là có phước. Có những cái chết bất thường là vô phước. Người già còn mà người nhỏ chết trước, tre già khóc măng rất khổ đau. Chết là một sự thật không thể tránh, không thể tin cậy vào vô thường, nên vị A-la-hán cảnh giác đệ tử: Giặc chết thường tìm giết người, mọi vật trên thế giới không thật như bọt nước, tại sao đợi già mới lo tu? Chúng ta thường mắc phải một lỗi là hay hẹn. Người tu mà đến giờ tụng kinh hay tọa thiền thấy hơi nhọc một chút thì nói, nay mệt rồi ngủ để ngày mai tu. Mai mốt mệt rồi cũng hẹn nữa, rốt cuộc việc tu bê trễ không tới nơi tới chốn. Hẹn được một lần, lần khác cũng hẹn nữa, hẹn hoài, mất bao nhiêu công phu. Phật tử cư sĩ thì hôm nay lỡ đi đâu về mệt, ngủ một bữa cho khỏe để ngày mai tu. Năm nay bận bịu công việc quá thì hẹn năm tới sắp đặt tu tốt hơn. Việc tu còn hẹn được, cái chết có hẹn được không? Những bậc giàu sang phước đức cũng phải chết, lại rơi vào chỗ tối tăm. Vì thế khi còn khỏe, còn sống ngày nào phải cố gắng tu, để chết đến tu không kịp. Một cái không hẹn được mà mình vẫn phải chịu, thì cái hẹn được mà hẹn đó, chắc gì có làm. Vì vậy lúc nào thực hành được thì cố gắng thực hành, đừng để chết rồi hối hận. Trước trừ lo nghĩ thô, sau trừ lo nghĩ tế, tâm thanh tịnh liền được chánh đạo, tất cả kiết sử dứt, từ đây được chỗ an ổn, ấy là quả của người xuất gia. Đây là pháp quán để trừ các thứ lo nghĩ ràng buộc. Chúng ta quán chân chánh, áp dụng các pháp tu đạt kết quả, nếu không thì công phu cứ lẩn quẩn trong các thứ trói buộc, tu không ra gì. Tâm tự tại, ba nghiệp hoàn toàn thanh tịnh, không phải trở lại thọ sanh, học rộng, đọc nhiều kinh, khi ấy được quả báo tốt. Khi được như vậy, không nhọc công phá quân ma vương mà được khen ngợi là người dũng sĩ bậc nhất, bọn giặc phiền não tự lui; tuy không gọi là mạnh mà hay trừ giặc phiền não, diệt được lửa tam độc, mát mẻ vui vẻ trong sạch, gối tay nằm an ổn trong rừng Niết-bàn. Ngọn gió mát thiền định, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi bốn phía thổi đến, đoái nhìn thương xót chúng sanh đang chìm đắm trong biển tam độc. Cái diệu lực như thế mới gọi là kiện toàn. Thế nên, những người tán tâm phải niệm A-na-ban-na, học sáu pháp đoạn các thứ lo nghĩ. Do đó trước phải học Sổ tức. Sau khi nhắc nhở người tu nỗ lực dùng các pháp quán, ngài kết luận nếu khéo tu, khéo trừ những lo nghĩ sai lầm thì trên đường tu chúng ta sẽ có kết quả tốt. Tâm tự tại, ba nghiệp thanh tịnh, có sức mạnh dẹp sạch phiền não, an vui ở trong rừng Niết-bàn. Các pháp ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi... pháp nào cũng mát mẻ từ bốn phía thổi đến. Từ bi thương xót chúng sanh còn đắm chìm trong biển khổ, phát tâm cứu giúp. Được vậy, người tu phải đạt kết quả vẹn toàn tốt đẹp, không phải tu lơ mơ, tu cho có chừng. Cuối cùng, muốn tâm bớt tán loạn thì nên quán hơi thở tức là niệm A-na-ban-na, dùng hơi thở quán chiếu để dẹp trừ tất cả loạn tưởng. Giáo lý nhà Phật mới nghe dường như bi quan, chỉ nói về những cái khổ của cuộc đời, của bản thân. Nhưng nói như thế không phải để chúng ta chấp nhận cam chịu mãi mãi. Chỉ dạy khổ để khéo tu vươn lên, chuyển hóa khổ thành vui. Như ba độc tham sân si nếu chúng ta khéo chuyển đổi thì tham trở thành vô tham, sân trở thành từ bi, si trở thành trí tuệ. Đó là lợi ích của việc tu. Khi chúng ta biết tu, mỗi năm nhìn lại thấy tham sân si tiêu mòn, tu năm năm thì tiêu mòn năm mươi phần trăm, tu mười năm thì phải tiêu mòn hết, tu hai mươi năm thì biến tham sân si thành từ bi trí tuệ, chúng ta và chúng sanh đều được an lành. Nếu tu lâu mà tham sân si không giảm bớt thì khi nhắm mắt chắc rằng sẽ bị nghiệp lôi dẫn. Không làm chủ được nghiệp của mình thật đáng buồn đáng lo. Người biết tu phải luôn dẹp bỏ các phiền não tai hại, chuyển hóa nó thành phương tiện lợi ích, không nên giậm chân tại chỗ. - Nếu trong bốn pháp - quán bất tịnh, niệm Phật v.v... - cũng trừ được lo nghĩ, vì sao chỉ nói riêng Sổ tức? - Vì các pháp quán kia chậm rãi nên khó mất, pháp Sổ tức mau chóng nên dễ chuyển. Ví như người thả trâu, do trâu khó mất nên sự coi giữ lơ là, nếu thả vượn khỉ, do khỉ dễ mất nên sự coi giữ khít khao. Pháp này cũng như thế. Sổ tức chăm chú tâm và số, không được một chốc nghĩ việc khác, nếu có một chốc nghĩ việc khác là số đã lộn mất. Bởi thế nên, lúc ban đầu muốn đoạn sự lo nghĩ phải Sổ tức. Có nhiều pháp quán trừ lo nghĩ, vì sao ở đây chỉ đặt nặng A-na-ban-na? Vì pháp sổ tức rất khít khao cẩn mật nên mau có kết quả, các pháp kia chậm rãi nhẹ nhàng hơn nên lâu có kết quả. Ví dụ thả trâu ra đồng ăn cỏ, vì trâu hiền không chạy nhảy nên không cần kìm giữ, nếu thả khỉ thì nó nhảy nhót lăng xăng nên phải nhìn chừng chăm chăm. Cũng vậy, tâm lăng xăng của chúng ta dùng pháp quán sổ tức kìm giữ hiệu quả hơn các pháp khác. Sổ tức là đếm hơi thở. Hít vô cùng đếm một, thở ra sạch đếm hai; hít vô cùng đếm ba, thở ra sạch đếm bốn; đến mười thì ngưng bắt đầu đếm lại. Cứ như vậy, vừa theo hơi thở, vừa đếm số. Chú ý vào hơi thở, chú ý vào số đếm, nên sự kìm chế mạnh, không cho tư tưởng chen lẫn việc khác. Vừa nghĩ khác quên số đếm thì phải đếm lại. Tâm được kìm chế trong hơi thở, trong số, nhắc tới nhắc lui nên pháp tu rất mạnh, dễ trụ tâm một chỗ. Được pháp Sổ tức rồi phải thực hành pháp Tùy tức để đoạn các lo nghĩ. 2. Tùy tức: Hít hơi vào tới cùng, tâm chỉ duyên theo không đếm một, thở hơi ra đến cùng, tâm duyên theo chớ đếm hai. Ví như người thiếu nợ, chủ nợ đến đòi theo mãi bên lưng không rời. Như thế, suy xét hơi thở vào, trở ra có khác, hơi thở ra, trở vào có khác. Khi ấy biết hơi thở vào khác hơi thở ra. Vì hơi thở ra ấm, hơi thở vào lạnh. Người tu thiền, tu tập dần từ thô đến tế, không dừng ở một mực cố định. Ban đầu quán sổ tức đếm hơi thở, nhớ hơi thở vô ra, nhớ số đếm từ một tới mười. Nhờ chú tâm, kìm tâm vào hai việc nên không nghĩ lăng xăng, dần dần tâm thuần thục yên định. Khi nào trong nửa tiếng, một tiếng ngồi thiền đếm không lầm lộn, lúc đó quán sổ tức thành tựu, nên bỏ sổ tức chuyển qua tùy tức. Tùy tức là duyên theo hơi thở, hít vô tâm theo vô, thở ra tâm theo ra. Theo sát hơi thở, hơi thở đến đâu biết đến đó, vô tới đâu thì biết, ra tới đâu cũng biết. Như gặp kẻ thiếu nợ mình, muốn đòi cho được nợ thì phải lôi áo họ, không lôi áo thì phải đi theo sát họ về tới nhà, không lơ mơ. Cũng vậy, chúng ta chú ý theo sát hơi thở, vô ra đều đặn, từ chỗ đó đến tế nhị hơn biết hơi thở vô lạnh, hơi thở ra ấm. Hơi thở vô nghe lạnh vì không khí ở ngoài mát, thở ra ấm vì không khí ở trong người ấm. Sở dĩ đây nói ấm mát để thấy tâm chúng ta lúc này rất tế nhị, chỉ theo dõi hơi thở biết rõ ràng những cảm giác nhỏ, nếu tâm thô thì không phân biệt được sự khác nhau giữa hơi thở ra vô. - Hơi thở vào, ra chỉ là một. Vì sao? Vì ra rồi trở lại vào. Ví như nước ngậm vào miệng thì ấm, nhổ ra thì lạnh, lạnh trở ra ấm, ấm trở lại lạnh cũng chỉ là một. - Không phải như vậy. Do nội tâm động nên có thở ra, ra rồi liền mất, mũi và miệng hít bên ngoài thì có hơi thở vào, vào rồi diệt, cũng không có sắp ra, không có sắp vào. Lại nữa, trẻ nhỏ hơi thở vào dài, người tráng niên hơi thở vào ra bằng nhau, người già hơi thở ra dài, thế nên chẳng phải một loại hơi thở. Nơi rốn phát ra hơi thở hình như liên tục, thở ra đến mũi và miệng, ra rồi liền diệt. Ví như hơi trong quả bóng khi mở dây cột ra liền xẹp, nếu dùng nhân duyên mũi miệng thổi hơi thở vào, ấy là nhân duyên mới mà sanh. Ví như cái quạt, do các duyên hợp lại nên có gió. Khi ấy, biết do nhân duyên nên có hơi thở ra vào, nó hư dối không thật, sanh diệt vô thường. Pháp quán tùy tức này tế nhị hơn sổ tức. Chỉ theo hơi thở vô ra, biết rõ hơi thở đến đâu, biết hít vào mát thở ra ấm, trong ngoài như vậy. Khi chúng ta quán xét hơi thở vi tế rồi thì tâm an định rất lâu không còn nghĩ việc gì khác. Khi hiểu được hơi thở ra vô đến nơi đến chốn rồi chúng ta liền thấy thêm một việc: Mạng sống của chúng ta là do hơi thở. Thở ra mà không hít vào thì chết. Do hơi thở nên chúng ta thấy thân này vô thường, không có gì chắc thật. Người tu quán sát hơi thở lâu ngày thuần thục, sẽ thấy hơi thở hít vô thở ra mất, hít hơi khác vào thở ra mất. Hơi thở do nhân duyên mũi, miệng, từ rốn tủa ra, ra ngoài rồi mất. Nhân quán hơi thở thấu rõ lý nhân duyên, đủ duyên thì sanh, thiếu duyên thì diệt. Nhân duyên sanh diệt hòa hợp tạo nên hơi thở, hơi thở sanh diệt vô thường vì thế mạng sống cũng sanh diệt vô thường. Tâm chú ý suy xét như vậy thì đâu còn bị tham dục phiền não chi phối. Suy xét do nhân duyên mũi miệng hít có hơi thở vào, do nhân duyên tâm động có hơi thở ra, mà mê lầm không biết, chấp là hơi thở của ta. Hơi thở là gió, cùng với gió bên ngoài không khác. Đất, nước, lửa, không, cũng như thế. Bởi nhân duyên ngũ đại hợp nên có thức sanh. Thức cũng như vậy, không phải là của ta. Ngũ ấm, thập nhị nhập, thập bát giới cũng như thế. Biết như vậy, theo hơi thở ra vào gọi là Tùy tức. Chúng ta nhờ theo hơi thở mà xét biết tất cả pháp nhân duyên sanh không một pháp nào là thật. Lâu nay chúng ta mê lầm chấp hơi thở hít vô trả ra, khi trả ra nói hơi thở của mình nhưng thật không cái gì là của ta. Đây nói hơi thở là gió, cùng gió bên ngoài không khác. Khi ta hít vô là mượn gió và không khí vô rồi trả ra, có gì thật của ta đâu? Thân chúng ta do tứ đại đất nước gió lửa hợp thành. Thêm không đại cũng rất quan trọng, trong thân chúng ta có cái trống không nhưng ít ai để ý. Như lỗ mũi hít thở được là nhờ trống không, nếu nó bít ngay thì khỏi hít thở. Lỗ tai mình nghe được cũng nhờ trống không. Cổ họng nuốt đồ ăn thức uống được cũng nhờ trống không. Như vậy, thân này gồm đất nước lửa gió không, là ngũ đại, thêm thức đại luôn ẩn bên trong là lục đại. Tất cả đều là duyên hợp không thật, lâu nay chúng ta lầm chấp cho thân này là thật. Suy gẫm kỹ quán xét rộng, chúng ta thấy thân năm ấm này là duyên hợp tạm bợ. Từ năm ấm có sáu căn, từ sáu căn tiếp xúc sáu trần gọi là thập nhị nhập. Lỗ tai nghe tiếng, lỗ mũi ngửi mùi, con mắt thấy cảnh... Trong là căn, ngoài là cảnh, tất cả đều tạm bợ giả dối. Căn cảnh duyên hợp tiếp xúc sanh ra sáu thứ phân biệt, cộng chung căn trần thức là thập bát giới cũng tướng duyên hợp không thật. Do tu tùy tức theo hơi thở, biết hơi thở không thật thì biết đất nước lửa gió cũng không thật. Đất nước lửa gió không thật thì hư không trong người mình, thức trong người mình cũng không thật. Thấy rõ như vậy chúng ta phá được lầm chấp lục căn, lục trần, thập nhị nhập, thập bát giới, biết nó là không thật. Thấy thân mình thật là mê, biết thân không thật là giác. Mê và giác ngay nơi thân này, nhờ tu pháp theo dõi hơi thở ra vô, theo dõi đều đặn mà chúng ta giác ngộ biết thân này giả tạm không còn tranh giành hơn thua tốt xấu. Từ trí tuệ thấy lẽ thật này chúng ta dẹp hết các phiền não, sức tu càng tăng trưởng. Đã được pháp Tùy tức phải thực hành pháp Chỉ. Sáu pháp đoạn lo nghĩ, tu tập dần từ thô đến tế. Trước hết là Sổ tức, thứ hai là Tùy tức, thứ ba là Chỉ, thứ tư là Quán, thứ năm là Hoàn, thứ sáu là Tịnh. Tu tập Sổ tức, ban đầu vừa hít hơi thở vô ra, vừa đếm từ một đến mười, như thế rất thô. Thô về hơi thở, thô về số đếm. Đến tùy tức, bỏ việc đếm số chỉ còn theo dõi hơi thở, chúng ta thấy rõ thân này tế nhị hơn. Biết rõ tướng duyên hợp của nó để chúng ta không còn chấp nữa. Đến phần thứ ba là Chỉ lại khác hơn. 3. Pháp Chỉ: Sổ, Tùy tâm rất an trụ, ý dừng bên cửa hơi thở để xem nó ra vào. Vì sao phải Chỉ? Vì dứt các lo nghĩ, dừng tâm tán động. Khi Sổ tức, Tùy tức tâm không định vì rất nhiều việc. Chỉ thì tâm nhàn rỗi ít việc, tâm trụ một chỗ xem hơi thở ra vào. Ví như người gác cửa đứng bên cửa xem người ra vào. Tâm Chỉ cũng như vậy, biết hơi thở khi ra từ rốn đến hông, ngực, cổ, miệng, mũi, khi vào từ miệng, mũi đến cổ, ngực, hông, rốn. Như vậy, buộc tâm một chỗ gọi là Chỉ. Chỉ là dừng, tâm không còn theo dõi hơi thở, dừng trụ một chỗ để nhìn hơi thở, như khi ngồi thiền tâm tạm ổn, chúng ta chỉ nhìn thấy hơi thở vô hơi thở ra đều đặn mà không theo nó. Pháp Sổ tức và Tùy tức thì khi hít vô tâm chúng ta theo hơi thở từ mũi đến rún, khi thở ra cũng theo ra từ rốn đến mũi. Tâm cứ chạy tới chạy lui nên còn động. Đến pháp Chỉ, tâm nhàn rỗi ít việc, không theo hơi thở, không nghĩ gì khác. Như người gác cửa thấy người đi vô đi ra, đó là bớt cái động chỉ dừng một chỗ. Pháp tu thứ tự khiến chúng ta dễ biết, dễ tiến từ thô đến tế, từ tâm xao động đến chỗ yên định. 4. Pháp Quán: Trong pháp Chỉ, tâm dừng lại để quan sát, khi hơi thở vào ngũ ấm sanh diệt khác, khi hơi thở ra ngũ ấm sanh diệt khác. Như thế, trừ dẹp loạn tâm, nhất tâm suy xét cho pháp quán được tăng trưởng gọi là Quán. Khi tu pháp Chỉ tâm dừng một chỗ, thấy hơi thở vô hơi thở ra, thấy rõ biết rõ là định. Nhưng nếu giữ tâm định mãi thì trở thành si định, vì vậy tu tiến đến pháp Quán. Quán bằng cách nào? Khi hơi thở hít vào quán biết thân năm ấm của mình, nhờ hơi thở vào nên có tăng trưởng, khi hơi thở ra thì có sanh diệt. Năm ấm nương hơi thở ra vào mà sanh trưởng hoặc tiêu diệt, chính hơi thở nuôi dưỡng năm ấm. Nương hơi thở mà quán thấy thân năm ấm luôn luôn sanh diệt không dừng, vì sanh diệt không dừng nên thân này là tạm bợ hư dối. Như vậy nương hơi thở tu tập từ thô đến tế, đến đây cũng do hơi thở mà quán thân không thật, dẹp trừ chấp thân. Người tu khi dùng phương tiện để tâm yên định, tâm yên định rồi thấy nhẹ nhàng rất khỏe, nhưng định lâu thì trở thành si nên phải dùng pháp quán để nhận rõ sự thật về thân người. Người tu thiền không để tâm dừng lặng ở một chỗ, được định rồi phát sanh trí tuệ, thấy đúng như thật về thân tâm mình. Tu như thế mới có kết quả, nếu không thì cứ một bề tu yên lặng rồi trở thành ngơ ngơ không biết gì, như thế không tốt. 5. Pháp Hoàn: Bỏ chỗ đứng bên cửa, rời pháp quán thô. Rời pháp quán thô là nhận biết hơi thở vô thường, ấy gọi là chuyển quán. Quán ngũ ấm vô thường cũng niệm sự vô thường ra vào, sanh diệt của hơi thở. Thấy hơi thở vào không từ đâu đến, xem hơi thở ra không biết về đâu, do nhân duyên hòa hợp nên có, nhân duyên ly tán nên không, đó là chuyển quán. Hoàn là xoay lại. Phần trên quán hơi thở vào ra, ngũ ấm sanh diệt, đến đây phải biết rõ hơi thở cũng vô thường không thật. Rời pháp quán thô, nhận biết hơi thở là pháp vô thường, ấy là chuyển quán. Từ ban đầu nương hơi thở quán thân ngũ ấm, thấy thân ngũ ấm sanh diệt vô thường rồi trở lại quán thấy ngay hơi thở này hư dối. Như vậy, trước nhờ hơi thở thấy rõ thân mình, như chúng ta vào trong nhà tối, không biết có gì trong nhà nên phải đốt đèn. Nhờ có đèn soi sáng biết rõ sự vật xung quanh là tướng vô thường sanh diệt. Lúc đó chúng ta tưởng cây đèn là thường, phải quay lại không quán những vật xung quanh mà nhìn thẳng cây đèn, thấy nó cũng vô thường. Trước nhờ hơi thở mình quán thấy thân năm uẩn, cho đến thập nhị nhập, thập bát giới đều là vô thường không thật. Nhờ hơi thở mà biết thì hơi thở tưởng như thật. Cho nên ở đây phải quay lại nhìn vào hơi thở, gọi là chuyển quán. Quán ngũ ấm vô thường cũng niệm sự vô thường ra vào sanh diệt của hơi thở. Thấy hơi thở vào không từ đâu đến, xem hơi thở ra không biết về đâu. Hơi thở mà chúng ta đang hít vô từ đâu mà vô và khi thở ra nó đi về đâu? Nó không có nơi chốn. Cái vào ra không có chỗ nơi, cái đó không có thật. Phá hết các pháp nương vào hơi thở để tu buổi đầu, không còn cố chấp nó. Các pháp do nhân duyên, hơi thở cũng do nhân duyên. Do nhân duyên hòa hợp nên có, nhân duyên ly tán nên không. Tóm lại phần thứ năm, pháp Hoàn là xoay lại chỗ trọng tâm, chỗ để nương. Ở trước thì mình nương hơi thở để quán các pháp khác, khi biết các pháp khác đều duyên hợp hư giả thì xoay lại quán chỗ mình nương xem nó có thật không. Xoay lại rồi biết nó cũng không thật luôn, đến chỗ này tâm không còn nương tựa dính mắc, buông tất cả mới được thanh tịnh hoàn toàn. 6. Pháp Tịnh: Trừ diệt ngũ cái và các phiền não, tuy trước được Chỉ, Quán mà phiền não chưa sạch, tâm còn tạp loạn, nay pháp Tịnh là tâm được thanh tịnh. Pháp quán trước là dị học, tương tự hành đạo niệm hơi thở ra vào, nay là vô lậu đạo, tương tự hành thiện hữu lậu đạo, nên gọi Thanh tịnh. Chúng ta tu từ thô động đến tế tịnh. Các pháp trước đếm hơi thở, theo hơi thở, Chỉ, Quán, Hoàn, đến đây là Tịnh. Tinh là lặng dứt ngũ cái. Ngũ cái là năm món che đậy tâm. Một là tham, hai là sân, ba là si (hay là mê ngủ), bốn là dao động, năm là nghi ngờ. Muốn tâm trong sáng thì phải dẹp sạch năm món ngăn che này. Hai thứ tham sân nếu chưa dẹp được thì si cũng không dẹp được. Si không dẹp được thì lăng xăng lo nghĩ không dẹp được, lăng xăng lo nghĩ không dẹp được thì nghi ngờ nổi lên. Vì thế phải tuần tự tu tập để dẹp năm món ngăn che đó. Các pháp sổ tức, tùy tức cho đến chỉ, quán tuy dần dần vi tế, nhưng vẫn còn nằm trong tạp loạn, chưa dứt hết phiền não. Đến pháp cuối là Tịnh mới trừ diệt ngũ cái. Pháp quán trước là dị học, tương tự hành đạo, niệm hơi thở ra vào, nay là vô lậu đạo, tương tự hành thiện hữu lậu đạo, nên gọi thanh tịnh. Các pháp trước như các pháp quán sổ tức, tùy tức... là dị học, nghĩa là các pháp này chưa đến chỗ chân thật, chỉ là phương tiện để tâm tạm yên ổn, nên gọi là dị học. Tương tự hành đạo, tức là hành đạo gần giống, chưa phải chân thật, chưa phải là chánh. Mượn hơi thở ra vào để tâm an định, để trí tuệ sáng biết thân này giả hợp như huyễn, đó là lối hành đạo tương tự. Hơi thở là động, mượn cái động của hơi thở để cho tâm tịnh nên gọi đó là dị học. Muốn tâm yên định mà mượn pháp động thì học tu và kết quả khác nhau. Đến pháp Tịnh này là đạo vô lậu, tức là đạo giải thoát. Tương tự hành thiện hữu lậu, tức là mượn thiện tương tự hữu lậu để thực hành, thực hành rồi đưa đến kết quả thanh tịnh. Đó là chỗ kết quả hợp với đạo giải thoát, đạo vô lậu. Pháp quán trước là một phần thân niệm Chỉ, dần dần toàn thân niệm Chỉ, kế thọ và tâm niệm Chỉ, trong đó chưa phải thanh tịnh còn xa đạo vô lậu. Các pháp trước từ Sổ tức... đến Quán và Hoàn là một phần thân niệm chỉ, tức là nhờ nương các pháp này mà thân được dừng. Nhờ nhớ hơi thở mà vọng tưởng lặng dừng gọi là thân niệm chỉ. Dần dần toàn thân niệm chỉ, nhờ pháp quán xét theo hơi thở mà dần dần toàn thân dừng lặng. Kế thọ và tâm niệm chỉ, khi động của thân dừng rồi, kế đó thọ tức là cảm giác cũng được lặng, thân thọ dừng rồi, tâm niệm đến chỗ yên tịnh nên gọi là tâm niệm chỉ. Những phương tiện đi thứ tự như vậy nhưng chưa phải là pháp thanh tịnh, còn xa với đạo vô lậu, đạo giải thoát. Ở đây, trong pháp niệm Chỉ, quán mười sáu phần niệm hơi thở ra vào, được pháp noãn, đảnh, nhẫn, thế đệ nhất, khổ pháp nhẫn cho đến vô học tận trí nên gọi là thanh tịnh. Trong pháp chỉ, tu tập mười sáu pháp quán hơi thở ra vào được kết quả thù thắng. Mười sáu pháp này từ chuyên môn trong chữ Hán là “thập lục đặc thắng”, là mười sáu pháp đặc biệt thù thắng đưa đến thanh tịnh hoàn toàn, giúp người tu tập được kết quả đến vô học tận trí. Vô học tận trí là trí tột cùng dứt các hữu học. Trong mười sáu phần là: 1/ Phần hơi thở vào có sáu hạnh A-na-ban-na. 2/ Phần hơi thở ra cũng có sáu hạnh A-na-ban-na. A-na-ban-na là quán hơi thở, gồm đủ cả sổ, tùy, chỉ, quán, hoàn, tịnh, vì thế nói hơi thở vào có sáu hạnh A-na-ban-na, hơi thở ra cũng có sáu hạnh. Ngay hơi thở vào ra hợp nhất các phương tiện từ sổ tức cho đến tịnh thành một khối, không quán riêng từng phần. Như thế, thứ nhất và thứ hai nói về hơi thở có đầy đủ sáu hạnh. 3/ Hơi thở dài ngắn: Nhất tâm niệm hơi thở vào ra hoặc dài hoặc ngắn. Ví như người có việc kinh sợ, mang đồ nặng leo núi thì hơi thở lên, là hơi thở ngắn. Như người khi làm nhọc được nghỉ thì vui vẻ và như người bị giam trong khám được thả ra, thế đều là hơi thở dài. Tất cả hơi thở đều nằm hai nơi dài ngắn, thế nên nói hơi thở dài ngắn. Trong phần hơi thở dài ngắn cũng niệm sáu hạnh A-na-ban-na. Thứ ba, chúng ta nhớ hơi thở dài hơi thở ngắn có đủ sáu hạnh. Tại sao có hơi thở dài, hơi thở ngắn? Khi có việc hoảng sợ hoặc khi leo núi, leo dốc từ thấp lên cao, hơi thở chúng ta dồn dập liên tục, thở mau và ngắn. Khi đi trên đất bằng, khi được nghỉ ngơi thì hơi thở dài và nhẹ. Hơi thở dài hay ngắn là do hoạt động của thân và tâm. Trong hơi thở dài ngắn chúng ta đều nhớ đủ sáu hạnh là sổ tức, tùy tức, chỉ, quán, hoàn, tịnh. 4/ Hơi thở khắp thân: Tưởng hơi thở khắp thân cũng nương hơi thở vào ra. Phải quán hơi thở vào, hơi thở ra khắp các lỗ chân lông trong thân cho đến ngón tay ngón chân đều thở, ví như nước đổ xuống cát. Hơi thở ra cảm biết từ chân đến tóc đều thở ra, như nước đổ xuống cát. Như quả bóng hơi vô hoặc ra đều khắp, mũi miệng hít hơi vào cũng như thế. Thứ tư, chúng ta theo hơi thở thấy được hơi thở vô, hơi thở ra không phải ở nơi mũi mà khắp lỗ chân lông đều thở. Bình thường chúng ta chỉ thấy hơi thở có khi nặng, có khi nhẹ, chưa thấy toàn thân đều thở. Người ngồi thiền lâu quán hơi thở khắp hết các lỗ chân lông, toàn thân đều thở. Lúc ấy, dường như lỗ mũi không thở, thân tâm rất nhẹ nhàng thanh tịnh. Nhất là những người nhập Diệt tận định, như không còn hơi thở, chỉ còn hơi ấm, không thở ở mũi mà thở toàn thân. Chúng ta thì chỉ thở nơi lỗ mũi nên khi lỗ mũi nghẹt thì khổ lắm, lúng túng không biết làm sao. Vì thế khi ứng dụng được hơi thở khắp tất cả chỗ thì sẽ khỏe nhẹ. Đây nói khi thở khắp lỗ chân lông thì giống như nước đổ xuống cát. Hơi thở chúng ta cũng vậy, đi khắp các lỗ chân lông. Vì chúng ta không biết, chỉ chú ý hơi thở ở lỗ mũi, nếu ngồi thiền lâu tâm yên định thì có cảm giác hơi thở không còn ở lỗ mũi mà ở khắp lỗ chân lông. Hiểu vậy mới không lấy làm lạ, không sợ khi tại sao không thấy mình thở. Đó là cái đặc thắng thứ tư của mười sáu pháp đặc thắng. 5/ Trừ các thân hành: Quán hơi thở khắp thân không ngại, như cọng sen dẫn nước, như lưới đánh cá. Lại không riêng mũi, miệng quán hơi thở ra vào mà tất cả lỗ chân lông và trong chín lỗ (hai lỗ tai, hai lỗ mũi, hai mắt, miệng, tiểu, đại) cũng thấy hơi thở ra vào. Thế nên, biết hơi thở khắp thân trừ các thân hành cũng niệm hơi thở ra vào. Thứ năm, trừ các thân hành. Thân hành tức là những hành động của thân. Đến đây thân hành không bị trở ngại, toàn thân đều mang hơi thở khắp hết, không chỉ có ở mũi. Đây ví dụ như cọng sen dẫn nước, cọng sen có rất nhiều khoảng trống dẫn nước khắp từ dưới lên trên. Như lưới đánh cá, thả xuống nước thì chỗ nào nước cũng tràn đầy, không phải một chỗ. Chúng ta tu đến giai đoạn thứ năm này thì tất cả lỗ chân lông và tai mũi mắt miệng đều thở, ở đâu cũng thở. Hơi thở vào ra một cách tự tại không còn bị hạn chế, không còn bị bắt buộc. Gọi là trừ các thân hành tức là các hành động của thân không còn chướng ngại. 6/ Tâm thọ Hỷ: Người mới học quán hơi thở, nếu thân nặng nề lười biếng ưa ngủ phải dẹp bỏ đi. Dùng pháp quán hơi thở ra vào thân nhẹ nhàng hòa dịu, được thiền định tâm thọ hỷ và trừ tâm nặng nề lười biếng ưa ngủ, được tâm nhẹ nhàng hòa dịu tùy thiền định tâm thọ hỷ. Hơi thở vào thân niệm Chỉ xong, hơi thở lưu hành thọ niệm Chỉ rồi, là được thân niệm Chỉ. Thật nay lại được thọ niệm Chỉ thật thọ Hỷ. Thứ sáu, tâm thọ Hỷ. Thọ hỷ là nhận được sự vui vẻ trong thân. Chỗ này nếu có tu tập sẽ thấy rõ ràng. Khi chúng ta ngồi thiền hơi thở đều và nhẹ, tâm tỉnh sáng yên ổn, lúc đó thân không thấy nặng nề, lười biếng, buồn ngủ. Hôm nào ngồi thiền mà hơi thở không ổn, thân đau nhức chỗ này chỗ kia muốn xả hoặc buồn ngủ ngáp dài, thân nặng nề không khỏe. Còn chúng ta khi ngồi an ổn thì thân nhẹ nhàng, hơi thở như có như không, không còn dính bận gì hết, lúc đó tự nhiên tâm vui gọi là tâm thọ hỷ. 7/ Tâm thọ Lạc: Đã biết thật tướng của thân, muốn biết thật tướng của tâm và tâm số. Thế nên thọ hỷ niệm hơi thở ra vào, thọ lạc cũng niệm hơi thở ra vào, vì cái hỷ được tăng trưởng gọi là lạc Tâm mới sanh mừng gọi là hỷ, toàn thân đều mừng là lạc. Lại nữa, cái thọ lạc của Sơ thiền Nhị thiền gọi là Hỷ, cái thọ lạc của Tam thiền gọi là Lạc. Thứ bảy, tâm thọ Lạc. Đã biết thật tướng của thân nghĩa là biết thân tạm bợ duyên hợp hư dối, nay lại muốn biết thật tướng của tâm vương và tâm sở, là phần sâu bên trong của mình. Thế nên thọ hỷ niệm hơi thở ra vào, thọ lạc cũng niệm hơi thở ra vào, vì cái hỷ được tăng trưởng gọi là lạc. Trạng thái tâm chúng ta đi dần từ thô đến tế, hiện tượng này thấy rõ. Ai có người thân đi đâu xa về gặp mừng rỡ, vỗ tay vui cười, đó là hỷ. Về nhà nghỉ ngơi xong hàn huyên bàn chuyện này chuyện kia, cứ vui nhẹ nhẹ đó là lạc. Người tu thiền Nhị thừa hay thiền Nguyên thủy đều qua những trạng thái này. Khi tu, lúc đầu thấy tâm mình an ổn thanh tịnh, có niềm vui hết sức mạnh, vui này là hỷ. Người chứng Sơ thiền và Nhị thiền được chỗ này. Sơ thiền gọi là Ly sanh hỷ lạc, do tu lìa được tất cả bệnh tham sân si nên tâm sanh vui mừng. Nói cách khác là đối với ngũ dục, ngay đó không còn bị lôi kéo nữa, nhớ tới đó mừng quá vui quá. Vui mừng do ly dục gọi là hỷ chưa phải lạc. Nhị thiền Định sanh hỷ lạc, từ chỗ vui đó dần dần tâm mình thanh tịnh yên ổn, không dấy động, lúc đó được niềm vui nhẹ nhàng hơn. Vui mừng do tâm an định, đó là định của Nhị thiền, hỷ và lạc là niềm vui còn thô. Đến Tam thiền Ly hỷ diệu lạc, lìa hai cái vui thô trước được cái vui tế nhị thâm trầm ở trong, gọi là ly hỷ diệu lạc. Diệu lạc là cái vui nhẹ nhàng, thanh thản, vi tế của Tam thiền. Người tu khi trải qua những hiện tượng hỷ lạc, diệu lạc thì biết mình đã được tầng thiền nào. Biết và tin tưởng mình đi đúng đường để tiến thêm. 8/ Thọ các tâm hành: Thọ các tâm hành cũng niệm hơi thở ra vào. Các tâm pháp sanh diệt, tâm nhiễm, tâm không nhiễm, tâm tán loạn, tâm thu nhiếp, tâm chánh, tâm tà, các tâm tướng như thế gọi là tâm hành. Pháp thứ tám này khác với pháp thứ năm ở trước. Thứ năm là trừ các thân hành, đây là thọ các tâm hành. Thân hành là mọi hoạt động của thân, tâm hành là mọi suy nghĩ của tâm. Khi tu tập đến chỗ này, thọ các tâm hành cũng niệm hơi thở ra vào. Tất cả tâm sanh, diệt, nhiễm, không nhiễm... đều thu nhiếp an ổn, đó là thọ tâm hành. Nương hơi thở mà tâm chúng ta hoàn toàn dừng được nhơ nhiễm, dừng sanh diệt, dừng tán loạn lăng xăng. Đây là đặc biệt thù thắng thứ tám. 9/ Tâm khởi mừng: Tâm khởi mừng cũng niệm hơi thở ra vào. Cái thọ hỷ trước là tự sanh không phải do cố tâm phát khởi, cái này là cố tâm khởi mừng. Vì sao cố tâm khởi mừng? Vì muốn trị hai thứ tâm - tán động và thu nhiếp - nên khởi tâm mới được ra khỏi phiền não. Thế nên niệm pháp cho tâm khởi mừng. Nếu tâm không mừng gắng kích động cho nó mừng. Thứ chín, tâm khởi mừng. Đây là điều cần phải hiểu rõ. Lẽ ra ở trước đã có mừng vui rồi, tại sao ở đây lại khởi tâm mừng nữa? Tâm thọ hỷ ở trước là tự sanh, đây là cố tâm khởi mừng vì muốn tránh hai thứ bệnh, tâm tán động và tâm thu nhiếp. Có khi chúng ta để tâm lăng xăng, hoặc có khi kìm giữ một cách khắt khe, hai cái đó đều là bệnh. Khởi tâm mừng không kìm cũng không tán động, chỉ là vui nhè nhẹ. Chỗ này cũng vui mà là vui trị bệnh, không phải vui tự có như đoạn trước. 10/ Tâm khởi nhiếp: Tâm khởi nhiếp cũng niệm hơi thở ra vào. Nếu tâm không định gắng nhiếp phục cho nó định. Như trong kinh nói “Tâm định là đạo, tâm tán loạn không phải đạo”. Thứ mười, tâm khởi nhiếp. Nếu tâm không định phải gắng nhiếp phục cho định. Nhiếp phục một cách nhẹ nhàng, theo hơi thở ra vào không để tâm lăng xăng. Tôi dạy tăng ni tu, khi vọng tưởng dấy lên, biết vọng không theo là đủ, không đè nén cũng không kìm giữ. Nhiều người không biết, thấy vọng tưởng dấy lên nhiều quá nên kìm sanh ra đau đầu, nói tu thiền nhức đầu quá muốn điên. Chúng ta thấy biết niệm khởi là vọng tưởng hư dối không thật. Cái hư dối không thật thì đè nó làm gì? Như chúng ta thấy một cụm khói đen, khói trắng ở trước làm mờ đoạn đường đi của mình, phải làm sao đối với cụm khói đó? Nếu có người vác gậy đập khói thì gọi người đó là gì? Người điên. Biết nó là khói thì tránh đi, nó không thật dùng sức đánh nó chỉ thêm uổng phí vô ích. Cũng vậy, vọng tâm là cái bóng không thật, mình ra sức đè nén nó chẳng khác nào vác cây đập khói, khói không hết mà trở lại thành bệnh. Khi vọng dấy lên, chúng ta thấy biết rồi nhẹ nhàng buông đi không tiếp tục theo, từ từ rồi nó sẽ yên. Nếu cố đập cố đánh, cố dẹp thì càng loạn thêm. Phải thấy rõ chỗ này. 11/ Tâm khởi giải thoát: Tâm khởi giải thoát cũng niệm hơi thở ra vào. Nếu ý không giải thoát gắng huân tập cho nó giải thoát. Ví như con dê vào lùm cỏ gai bị gai móc, người vì nó gỡ lần lần, tâm khởi giải thoát các phiền não cột trói cũng như thế. Ấy gọi là tâm niệm Chỉ khởi giải thoát. Thứ mười một tâm khởi giải thoát. Đây là điều rất quan trọng, khi chúng ta tu, tâm được an định liền thấy những tập khí của mình. Như trước kia tham tài tham sắc..., bây giờ thấy rõ những tâm niệm xấu dở như vậy liền gỡ bỏ, không nuôi dưỡng nữa đó gọi là giải thoát. Đây dùng ví dụ như con dê vào lùm cỏ gai bị quào móc, người chủ chỉ gỡ dần dần mấy cái móc gai đâm vào nó, gỡ hết thì thoát khỏi bụi gai, không làm gì khác hơn. Chúng ta cũng vậy, khi tu ít không có sức định nên không thấy được những tập khí dở xấu lâu đời. Khi tu thuần thục tâm lặng sáng rồi, nhìn lại thấy những cái xấu dở có từ thuở nào, bây giờ mình gỡ bỏ sạch hết thì gọi đó là giải thoát. Khởi tâm buông xả những cái hư xấu của mình lâu nay, dần dần chúng ta được an ổn, thảnh thơi. 12/ Quán vô thường: Quán vô thường cũng niệm hơi thở ra vào. Quán sự sanh diệt vô thường của các pháp rỗng không, không có người và ta. Khi sanh các pháp giả sanh, khi diệt các pháp tạm diệt. Trong ấy không thật có nam nữ, người, kẻ tạo, người thọ... ấy gọi là pháp quán Tùy vô thường. Thứ mười hai, quán vô thường này không phải lối quán vô thường của người mới tu. Quán các pháp sanh diệt vô thường rỗng không, không có gì là ta, không có gì là người, không có gì là người tạo tác, không có gì là người thọ. Thấy tường tận các pháp hư giả không thật như vậy, dần dần chúng ta sẽ không chấp ngã, không còn tình chấp nặng nề nữa. 13/ Quán tan hoại: Quán pháp hữu vi tan hoại cũng niệm hơi thở ra vào. Các pháp hữu vi có trong hiện tại là do nhân duyên của quá khứ, nhân duyên hòa hợp thì tụ, nhân duyên tan hoại thì tán. Tùy quán như thế gọi là quán tan hoại. Thứ mười ba, quán tan hoại. Cũng nương hơi thở mà chúng ta thấy các pháp do nhân duyên hợp cũng do nhân duyên tan. Các pháp tu tan là chuyện của nhân duyên, không có cái gì thật. Khi quán các pháp tan hoại, tâm chúng ta không vướng bận, không khởi tâm tham tiếc phiền não. 14/ Quán ly dục: Quán ly dục cũng niệm hơi thở ra vào. Tâm rời các thứ ràng buộc của tham dục, đó là pháp đệ nhất. Quán như thế gọi là Tùy quán ly dục. Thứ mười bốn, quán ly dục. Cũng do niệm hơi thở ra vào, chúng ta quán tất cả những gì tham đắm, những gì ái trước đều không thật, đều tạm bợ, giả dối. Nhờ quán ly dục lâu ngày, bệnh tham dục sẽ khô cạn. 15/ Quán diệt tận: Quán diệt tận cũng niệm hơi thở ra vào. Các khổ kiết sử nơi nơi đều dứt, chỗ này được an ổn, ấy là Tùy quán diệt tận. Thứ mười lăm, quán diệt tận. Đây không phải quán các pháp bên ngoài diệt hết, mà nương hơi thở ra vào thấy rõ các kiết sử, phiền não ràng buộc, nghiệp hoặc kết tập kéo lôi chúng ta đi trong sanh tử, tất cả những cái đó đều là không thật, như trò chơi, như ảo mộng. Nhờ quán rõ như vậy thân tâm an ổn, ràng buộc dứt sạch. Đó gọi là tùy quán diệt tận. 16/ Quán buông bỏ: Quán buông bỏ cũng niệm hơi thở ra vào. Các thứ nhiễm ái, phiền não, thân, tâm, ngũ ấm, các pháp hữu vi đều buông bỏ, chỗ này là an ổn bậc nhất. Quán như thế gọi là Tùy quán buông bỏ. Pháp đặc thắng thứ mười sáu là quán buông bỏ. Nương hơi thở ra vào chúng ta thấy rõ tất cả nhiễm ái, phiền não nơi thân nơi tâm. Chúng đều là pháp hữu vi sanh diệt không thật, người có trí phải biết buông bỏ không cố chấp. Được như vậy là đến chỗ an ổn bậc nhất. Quán như thế gọi là tùy quán buông bỏ. Tùy là theo những gì nơi tâm mình còn vướng mắc, đều buông bỏ hết, đều xả hết. Chỗ xả hết này tương tự Tứ thiền. Người tu thiền theo thứ bậc đạt được từ Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Sơ thiền là Ly sanh hỷ lạc, được vui mừng do lìa dục. Nhị thiền là Định sanh hỷ lạc. Tam thiền là Ly hỷ diệu lạc. Tứ thiền là Xả niệm thanh tịnh, tất cả niệm trói buộc đều buông hết, được an ổn thanh tịnh. Người tu pháp niệm hơi thở ra vào, đến giai đoạn cuối này, được chỗ buông bỏ tất cả nhiễm trước phiền não..., đạt đến an ổn bậc nhất, cũng như người tu thiền đạt được Xả niệm thanh tịnh của Tứ thiền. Trên đây là mười sáu pháp đặc thắng nhiệm mầu, ứng dụng từ hơi thở để đi đến kết quả. V- PHÁP MÔN TRỊ ĐẲNG PHẦN Phần trên đã nói rõ, người tham dục nhiều phải quán bất tịnh, người nóng giận nhiều phải quán từ bi, người loạn tưởng nhiều phải quán sổ tức. Với người có bệnh tham sân si bằng nhau gọi là bệnh đẳng phần, người như thế tu pháp gì? Phần thứ năm này là pháp môn trị bệnh đẳng phần và người phạm tội trọng mong cầu làm Phật. Những người như thế phải dạy họ nhất tâm niệm Phật tam-muội. Đây là pháp môn trị bệnh đẳng phần và người phạm tội trọng, những người này muốn tu có kết quả phải quán niệm Phật tam-muội. Niệm Phật tam-muội có ba: 1. Quán tượng Phật: Nếu người mới tập hành nên dẫn đến trước tượng Phật, hoặc dạy họ tự đến trước tượng Phật xem cho kỹ những tướng tốt, mỗi tướng rõ ràng, nhất tâm nhớ giữ trở về chỗ yên tịnh, tâm nhãn quán tượng Phật không cho ý chuyển động, buộc niệm tại tượng Phật không nghĩ gì khác, có nghĩ phải thu nhiếp về tượng Phật. Nếu hành giả tâm không trụ, thầy phải dạy rằng: “Ông phải tự trách tâm: Do ngươi mà ta mang tội không thể tính kể, chết sống không cùng bao nhiêu sự khổ não đều trải qua. Hoặc ở địa ngục uống nước đồng sôi, nuốt hoàn sắt nóng; hoặc trong súc sanh ăn cỏ, phẩn, đồ nhơ nhớp; hoặc sanh ngạ quỷ chịu khổ đói khát; hoặc được làm người nghèo cùng nguy khốn; hoặc sanh lên cõi trời mất ngũ dục sầu khổ. Bởi theo ngươi, ta chịu bao nhiêu sự đau đớn nơi thân tâm và vô lượng khổ não. Nay quyết kìm ngươi, ngươi phải theo ta, ta buộc ngươi một chỗ. Ta quyết định không bị ngươi làm khổ mà trở lại chịu mọi sự khổ độc. Xưa ngươi làm khổ ta, nay ta phải làm khổ lại ngươi.” Quở trách như vậy mãi thì tâm không tán loạn. Khi ấy liền được tâm nhãn thấy tượng Phật sáng suốt, như hiện mắt thấy không khác. Như thế tâm được trụ, ấy gọi là hành giả mới tập tư duy. Thứ nhất Quán tượng Phật. Người mới tập tu bắt đầu đến trước tượng Phật, nhìn kỹ từng phần tướng hảo của ngài, rồi về phòng quán tưởng nhớ lại từng tướng tốt, nhớ một cách rõ ràng không sai chạy để tâm yên trụ, buộc niệm nơi tượng Phật. Nếu tâm tán loạn lăng xăng kìm không nổi, phải tự rầy trách: “Ngươi đã hại ta khiến phải đi lên đi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh không biết bao nhiêu lần, chịu bao nhiêu đau đớn khổ sở. Bây giờ ta quyết làm chủ không để ngươi lôi kéo dẫn dắt nữa.” Nói như vậy trong tâm để nhắc rầy nó, rồi dần dần làm chủ được. Khi tâm không tán loạn, trong tâm thấy tượng Phật sáng rỡ như hiện trước mắt, đó là thành tựu pháp quán tượng Phật. 2. Quán sanh thân Phật: Người đang tập hành, sau khi quán tượng Phật thành công, lại phải nghĩ rằng: Tướng tượng này là ai? Là tướng tượng Phật Thích-ca-mâu-ni thời quá khứ. Như ta nay thấy hình tượng Phật, tượng không lại, ta cũng không đến, Tâm tưởng như thế liền thấy đức Phật thời quá khứ, khi mới giáng thần rung động trời đất, có ba mươi hai tướng đại nhân: 1- Lòng bàn chân bằng phẳng. 2- Dưới bàn chân có một ngàn khu ốc. 3- Ngón chân dài. 4- Gót chân rộng. 5- Kẽ ngón tay, kẽ chân đều có màng lưới mỏng. 6- Mu bàn chân cao, bằng, đẹp. 7- Đùi tròn vót như đùi nai quý. 8- Đứng thẳng hai tay quá gối. 9- Tướng mã âm tàng. 10- Thân tròn thẳng như cây Ni-câu-lô-đà. 11- Mỗi lỗ chân lông đều có một sợi lông. 12- Lông hướng lên và xoay bên phải. 13- Sắc thân hơn vàng ròng. 14- Hào quang tỏa chung quanh thân một trượng. 15- Da mỏng đẹp. 16- Bảy chỗ no đầy. 17- Dưới hai nách bằng đẹp. 18- Phần trên của thân như hình sư tử. 19- Thân rất đẹp ngay thẳng. 20- Vai tròn đẹp. 21- Bốn mươi cái răng. 22- Răng trắng, bằng khít và chân sâu. 23- Bốn răng cửa trắng và lớn. 24- Má vuông như má sư tử. 25- Trong cổ có vị rất ngọt. 26- Lưỡi lớn, rộng, dài và mỏng. 27- Giọng trong, ấm, nghe rất xa. 28- Tiếng thanh như tiếng chim Ca-lăng-tần-già. 29- Con mắt trong xanh. 30- Lông mi cứng xanh như lông mi trâu quý. 31- Trên đảnh có nhục kế. 32- Giữa chặng mày có lông trắng đẹp xoay bên phải. Lại có tám mươi tướng đẹp: 1- Vô kiến đảnh. 2- Mũi cao, thẳng, đẹp, lỗ mũi không bày ra. 3- Chân mày như trăng lưỡi liềm, xanh như sắc lưu ly. 4- Lỗ tai đẹp. 5- Thân dẻo chắc như Na-la-diên. 6- Xương mắc nhau như dây xích. 7- Thân khi xoay như tượng vương. 8- Khi đi chân cách đất bốn tấc mà vẫn có dấu. 9- Móng tay như sắc đồng đỏ, mỏng và bóng. 10- Đầu gối tròn đẹp. 11- Thân thanh tịnh. 12- Thân mềm dịu. 13- Thân không cong. 14- Ngón tay dài, tròn, vót. 15- Những nét răn của bàn tay đẹp như bức họa nhiều màu. 16- Mạch sâu không bày. 17- Mắt cá chân sâu không lồi. 18- Thân bóng mịn. 19- Thân tự giữ không xiêu vẹo. 20- Thân đầy đủ. 21- Dung nghi đầy đủ. 22- Khi đứng vững vàng. 23- Uy dũng khắp cả. 24- Tất cả thích xem. 25- Mặt không dài. 26- Dung mạo một mực không có sắc xen tạp. 27- Môi đỏ như quả Tần-bà. 28- Mặt tròn đầy. 29- Giọng nói hùng hậu. 30- Rốn tròn sâu. 31- Lông mọi chỗ đều xoay bên phải. 32- Tay chân đều no tròn. 33- Tay chân được như ý. 34- Những nét vân của tay và chân đều sáng và thẳng. 35- Chỉ tay dài. 36- Chỉ tay liên tục. 37- Tất cả chúng sanh có ác tâm trông thấy đều lộ vẻ hòa vui. 38- Mặt rộng, đặc biệt. 39- Mặt tròn đầy như trăng rằm. 40- Chúng sanh thấy không kinh sợ. 41- Lỗ chân lông bay mùi thơm. 42- Miệng bay mùi thơm. 43- Dung nghi như sư tử. 44- Tiến hay dừng như tượng vương. 45- Pháp đi như ngỗng chúa. 46- Đầu không tròn không dài giống trái Ma-đà-la. 47- Phần của tiếng đầy đủ (tiếng có sáu chục thứ, Phật đầy đủ). 48- Răng trắng bén. 49- Lông mềm và sạch. 50- Lưỡi lớn và đỏ. 51- Lưỡi mỏng. 52- Lông toàn màu hồng. 53- Con mắt rộng dài. 54- Các lỗ đầy đủ. 55- Tay chân trắng hồng như sắc hoa sen. 56- Bụng không bày ra. 57- Bụng không lồi lên. 58- Thân không động. 59- Thân nặng. 60- Thân lớn. 61- Thân cao, 62- Tay chân mềm bóng láng. 63- Khi đi chung quanh hào quang sáng ra một trượng. 64- Bình đẳng xem chúng sanh. 65- Không vì sự giáo hóa, không ham đệ tử. 66- Tùy thuận tiếng của chúng sanh không kém thiếu. 67- Tùy tiếng nói của chúng sanh vì thuyết pháp. 68- Ngôn ngữ không ngăn ngại. 69- Phát ra lời thích hợp chúng sanh. 70- Thuyết pháp thứ tự liên tục. 71- Tất cả chúng sanh mắt nhìn kỹ cũng không thể biết hết tướng tốt. 72- Xem không biết nhàm. 73- Tóc dài đẹp. 74- Tóc xoăn đẹp. 75- Tóc không rối. 76- Tóc không trổ. 77- Tóc mềm mại. 78- Tóc xanh như sắc lưu ly. 79- Tóc không ít. 80- Ngực có chữ Vạn, tay chân có chữ Cát. Hào quang của Phật sáng suốt chiếu soi vô lượng thế giới, từ khi mới sanh bước đi bảy bước thốt ra một câu quan trọng. Khi ngài xuất gia siêng năng khổ hạnh, ngồi dưới cội bồ-đề hàng phục ma quân, đến gần sáng thành bậc Đẳng chánh giác, tướng sáng khắp soi cả mười phương, chư thiên trên không đàn ca, tán hoa, mưa hương cúng dường, tất cả chúng sanh đều cung kính không cùng. Ngài riêng đi trong tam giới chuyển mình nhìn lại như tượng vương xoay, xem xét cây Đạo (cây Đạo tức là cây bồ-đề), lần chuyển bánh xe pháp ban đầu, trời người đều ngộ, lấy đạo tự chứng tiến đến Niết-bàn. Thân Phật như thế cảm phát vô lượng. Chuyên tâm niệm Phật không nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Như thế, tâm không loạn động. Khi ấy, được thấy sắc thân một đức Phật, hai đức Phật cho đến vô lượng thế giới chư Phật ở mười phương. Do tâm tưởng nên được thấy Phật. Đã thấy Phật cần được nghe thuyết pháp, hoặc tự thưa hỏi. Phật vì thuyết pháp, giải quyết các nghi vấn. Thứ hai Quán sanh thân Phật. Người đã tập thực hành quán tượng Phật thành tựu rồi, kế đến quán thân Phật khi còn tại thế. Nghĩ nhớ đến đức Bổn sư Thích-ca, thân có ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp. Tu pháp này phải thuộc kỹ các tướng đó. Ngồi quán cho thuần thục, Phật đản sanh đến xuất gia, tu khổ hạnh, thành đạo, chuyển pháp luân... những hình ảnh cuộc đời ngài như sống động trước mắt. Tưởng như mình gặp Phật thưa hỏi, được Phật giải quyết chỗ nghi. Tâm niệm chuyên nhất thấy sắc thân của chư Phật không nghĩ gì khác, đó là thành tựu pháp thứ hai. 3. Quán pháp thân Phật: Người tập hành đã lâu, đã được Phật nghĩ tưởng, lại phải tưởng nghĩ công đức pháp thân của Phật. Tuệ không lường sâu thẳm, trí rộng không bờ mé, công đức không thể tính kể. Như Lai, bậc đáng cho nhân thiên cúng dường, khắp biết tất cả, đầy đủ tam minh, khéo vượt qua, thấu hiểu tất cả thế gian, bậc vô thượng, đại trượng phu điều phục tất cả, thầy của trời người, đấng hoàn toàn giác ngộ. Thứ ba Quán pháp thân Phật. Người thực hành pháp niệm Phật tam-muội đã lâu, đến đây nghĩ tưởng về công đức pháp thân của Phật, quán mười hiệu của Phật. Khi ấy lại niệm thần đức của hai đức Phật, ba bốn năm cho đến vô lượng cùng tận cả hư không chư Phật. Trở lại thấy một đức Phật, hay thấy một đức Phật hóa mười phương chư Phật, mười phương chư Phật hiện thành một đức Phật. Hay thấy một sắc biến thành các sắc - vàng, bạc, thủy tinh, lưu ly... tùy ý người thích thảy được thấy. Bấy giờ chỉ quán hai việc, thân Phật trong hư không và công đức của Phật, không cho nghĩ gì khác. Tâm được tự tại, ý không lăng xăng, đó là thành tựu niệm Phật tam-muội. Hành giả nếu tâm chạy theo ngũ trần, hoặc nhớ sáu việc lo nghĩ thì phải cố gắng kìm hãm điều phục nó. Phải suy nghĩ thế này: “Thân người khó được, Phật pháp khó gặp, cho nên nói: Các thứ sáng, mặt trời là bậc nhất; các bậc trí tuệ, Phật là bậc nhất. Vì sao? Phật thường vì tất cả khởi lòng đại bi, hy sinh đầu mắt tủy não... để cứu chúng sanh. Tại sao ta lại phóng tâm không chuyên niệm Phật mà cô phụ ơn nặng của ngài? Nếu Phật không ra đời thì ai mở lối đến cõi người, cõi trời và Niết-bàn? Nếu có người đem hương hoa cúng dường, hoặc lấy xương thịt máu tủy... xây tháp cúng dường, cũng không bằng người tu hành dùng chánh pháp cúng dường được đến Niết-bàn. Tuy nhiên, người cô phụ ơn Phật dù có niệm Phật cũng không được gì. Bởi vậy, ta phải chuyên tâm niệm Phật không quên để báo ơn Phật. Huống nữa, niệm Phật sẽ được các thứ tam-muội, trí tuệ và thành Phật mà không chuyên tâm niệm Phật sao?” Thế nên, hành giả thường phải chuyên tâm giữ ý không cho tán loạn. Đã được thấy Phật, thưa hỏi giải nghi, ấy gọi là “Niệm Phật tam-muội trừ diệt đẳng phần và các tội trọng”. Pháp niệm Phật tam-muội này, thành tựu đến nhất tâm, chỉ thấy thân Phật và công đức của Phật. Chỉ nhớ tưởng Phật không nghĩ gì khác, kìm hãm loạn tâm và trừ được ba độc. Pháp này không đơn giản, nếu không phải căn lành thuần thục rất khó thực hành. Như vậy phần đầu dạy tu, trước tiên chư tổ dạy cách đối trị bệnh, như người lành bệnh mới có thể đi đứng hoạt động thảnh thơi. Chúng ta nên luôn cố gắng tu, tự nhớ vô thường, nhớ thân mình giả dối để thúc đẩy mình làm hai việc. Một là tu cho bản thân, hai là làm lợi ích cho mọi người. Được như vậy thì hiện tại tăng trưởng phước điền, làm chủ được thân tâm phần nào không bị nghiệp lôi. Ai sống trên đời cũng phải lo nghĩ đến ngày sau, khi mọi người nhớ đến mình thì mình chỉ là cái bóng, không còn lợi ích gì nữa. Hiện tại nỗ lực tu, điều phục ba nghiệp để khi vô thường đến cũng có cách chống cự. Nhân cái chết của một vị thầy quen, tôi cảm niệm sự vô thường, tự cảnh tỉnh mình và cảnh tỉnh đại chúng. Chúng ta phải cùng nhau hết sức cố gắng tu tập, đừng chần chừ để trễ nãi, uổng đi một đời. CHƯƠNG IV TƯỚNG TU CHỨNG Chánh văn: I- TỨ THIỀN 1. Sơ thiền Hành giả tuy được nhất tâm mà định lực chưa thành, còn bị phiền não ở Dục giới làm não loạn, phải tạo phương tiện tiến lên học Sơ thiền, trách bỏ ái dục. Thế nào là trách bỏ ái dục? - Hành giả quán cái lỗi ái dục ở Dục giới là tội ác, bất tịnh, các thứ pháp bất thiện, nghĩ tưởng Sơ thiền là an ổn khoái lạc. Quán lỗi ái dục thế nào? Biết ái dục là vô thường, oán thù, không thật như huyễn như hóa. Khi nghĩ đến ái dục là tâm si mê nổi loạn, huống là đã bị dâm dục cột trói. Cái vui trên cõi trời còn chưa phải thường an ổn, huống chi cái vui trong cõi người. Lòng người mê đắm ái dục không chán nhàm, như lửa gặp củi, như bể hứng các dòng sông, như vua Đảnh Sanh tuy được trời mưa bảy báu, làm vua bốn châu thiên hạ, trời Đế-thích chia nửa tòa cho ngồi vẫn thấy chưa đủ; như vua Chuyển kim luân Na-hầu-sa, bị ái dục thúc bách đến phải đọa làm thân con mãng xà. Lại như những vị tiên ăn trái cây mặc áo cỏ, ở trong núi sâu khổ hạnh cầu đạo vẫn chưa khỏi bọn giặc ái dục phá hoại. Cái vui của ái dục rất ít mà sự thù oán, ác độc quá nhiều. Người đắm mê ái dục thường gần bạn ác, bạn lành lánh xa. Ái dục là thứ rượu độc làm người ngu mê say sưa đến chết. Ái dục là thứ xảo quyệt sai sử người ngu muôn ngàn nhọc nhằn không chút tự do. Chỉ có lìa ái dục thì thân tâm an ổn khoái lạc không cùng tận. Ái dục không thể được, như chó gặm xương khô. Tìm cầu ái dục khó nhọc khổ sở mới được, được thì rất khó mà mất lại quá dễ. Nó tạm bợ chốc lát như mộng vừa thấy, tỉnh giấc đã mất. Ái dục là tai họa, tìm cầu đã khổ, được nó cũng khổ, được nhiều khổ nhiều, như lửa gặp củi càng nhiều càng cháy mạnh. Dục như thịt thối bầy quạ giành nhau. Tóm lại, người mê ái dục như con thiêu thân nhảy vào lửa, như cá nuốt câu, như nai theo tiếng, như khát uống nước muối. Tất cả chúng sanh bị cái hoạn ái dục đến nỗi không chỗ khổ nào mà chẳng đến. Thế nên, phải biết ái dục là độc hại, phải cầu Sơ thiền tiêu diệt lửa ái dục. Hành giả nhất tâm chuyên cần tin vui khiến tâm tăng tiến, ý không tán loạn, quán ái dục tâm nhàm chán, trừ các kiết sử phiền não che đậy, được định Sơ thiền, lìa ngọn lửa dữ ái dục, được định mát mẻ, như khi nắng gặp bóng mát, như kẻ nghèo được của báu. Khi ấy được cái vui mừng của Sơ thiền, suy nghiệm trong thiền định bao nhiêu thứ công đức, xem xét phân biệt cái nào tốt cái nào xấu liền được nhất tâm. Người tu thiền được tướng nhất tâm thế nào? - Người ấy vẻ mặt vui tươi, đi từ từ êm ái, ngay thẳng không mất nhất tâm, mắt không đắm sắc, do thần đức thiền định nên không tham danh lợi, phá dẹp kiêu mạn, tánh nết nhu hòa, không ôm lòng độc hại, không có xan tham tật đố, tâm trong sạch tin chân chánh, bàn luận không tranh hơn thua, thân không lừa dối, nói năng dễ dãi, hòa nhã, biết hổ thẹn, tâm thường nhớ giáo pháp, siêng năng tinh tấn giữ giới trọn vẹn, tụng kinh nhớ suy nghĩ y pháp thực hành, ý thường vui vẻ, việc đáng giận không giận, trong bốn thứ cúng dường nếu không thanh tịnh không thọ, nếu cúng dường thanh tịnh thì thọ mà biết lượng sức nhận vừa đủ, bàn luận không tự thỏa mãn, nói năng rất ít, khiêm nhường cung kính những bậc thượng trung hạ tọa, thầy lành bạn tốt thì thường gần gũi vâng lời chỉ dạy, ăn uống có chừng mực không mê mùi vị, ưa ở chỗ vắng vẻ, dù khổ dù vui tâm không xao động, không oán thù cạnh tranh, không ưa thưa kiện. Có những tướng như thế là biết người được tướng nhất tâm. 2. Nhị thiền Bởi hai thứ giác, quán nên loạn tâm thiền định, như nước lóng trong sóng dậy liền đục. Hành giả bên trong đã được nhất tâm mà còn bị giác, quán làm não loạn, như làm nhọc muốn nghỉ, như ngủ muốn yên. Khi ấy phải học không giác, không quán cho định thanh tịnh phát sinh. Bên trong thanh tịnh vui vẻ được vào Nhị thiền, tâm rất lặng lẽ xưa chưa từng có, nay mới được trạng thái này nên rất mừng. 3. Tam thiền Khi ấy tâm quán cái mừng cũng là họa hoạn, như giác quán ở trước, tập hành pháp không mừng. Rời bỏ cái mừng liền được cái vui của các bậc hiền thánh. Biết chắc chắn nhất tâm, hằng bảo vệ vào Tam thiền. Đã bỏ cái mừng, biết chắc nhớ nghĩ bảo vệ cái vui. Thánh nhân nói bảo vệ vui, vì người thường khó bỏ được, bởi lui về quá khứ chưa bao giờ có cái vui này, nên nó là bậc nhất. Thế nên tất cả Thánh nhân nói: “Trong tất cả tịnh địa, Từ là vui bậc nhất.” 4. Tứ thiền Vui cũng là họa hoạn. Vì sao? Vì trong cái thiền bậc nhất, tâm không có động chuyển, bởi nó là vô sự. Nếu có động thì có chuyển, có chuyển là có khổ. Thế nên Tam thiền cho vui là hoạn, muốn dùng cái thiện diệu bỏ cái khổ vui này. Trước bỏ ý lo mừng, trừ khổ vui, gìn giữ tâm niệm thanh tịnh được vào Tứ thiền nhất tâm thanh tịnh không khổ không vui. Cho nên Phật nói: “Gìn giữ rất thanh tịnh gọi là đệ tứ thiền.” Bởi vì đệ tam thiền bị cái vui làm xao động nên gọi là khổ. Đệ tứ thiền diệt trừ khổ vui gọi là chỗ không xao động. II- TỨ KHÔNG 1. Không vô biên xứ Quán Không xứ phá cái tưởng hữu sắc trong và ngoài. Diệt cái tưởng hữu đối, không nghĩ tưởng các thứ hình sắc. Quán Không vô biên xứ là xét hình sắc là lỗi lầm, nghĩ tưởng cái định Không xứ là công đức thượng diệu. Tập nghĩ tưởng pháp này dần dần được định Không xứ. 2. Thức vô biên xứ Quán Thức xứ là xét cái Không xứ là lỗi lầm, nghĩ tưởng công đức vô lượng của Thức xứ. Tập nghĩ tưởng pháp này dần dần được định Thức xứ. 3. Vô sở hữu xứ Quán Vô sở hữu xứ, xét Thức xứ là lỗi lầm, nghĩ tưởng công đức của Vô sở hữu xứ. Tập nghĩ tưởng pháp này liền được định Vô sở hữu xứ. 4. Phi tưởng phi phi tưởng xứ Quán Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, xét tất cả tưởng là hoạn họa rất nhiều, như bệnh, như ghẻ, còn vô tưởng là chỗ ngu si. Thế nên Phi hữu tưởng phi vô tưởng là chỗ tốt an ổn bậc nhất. Xét lỗi lầm của Vô sở hữu xứ, nghĩ công đức Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Tập nghĩ pháp này liền được định Phi hữu tưởng phi vô tưởng. III- TỨ VÔ LƯỢNG TÂM 1. Từ vô lượng tâm Hoặc có hành giả trước tiến từ sơ địa dần dần đến thượng địa. Lại ở thượng địa tập hành Từ tâm để trước tự vui và phá cái độc nóng giận, sau Từ tâm lan dần đến mười phương vô lượng chúng sanh. Khi ấy liền được Từ tâm tam-muội. 2. Bi vô lượng tâm Bi tâm là thương xót nỗi khổ của chúng sanh, hay tự phá các thứ não hại, rộng đến vô lượng chúng sanh. Khi ấy liền được Bi tâm tam-muội. 3. Hỷ vô lượng tâm Hay phá những cái không vui khiến vô lượng chúng sanh đều được vui mừng. Bấy giờ liền được Hỷ tâm tam-muội. 4. Xả vô lượng tâm Hay phá những cái khổ vui, thẳng quán mười phương vô lượng chúng sanh. Khi ấy liền được Xả tâm tam-muội. Nhị thiền thì quán phá khổ vui của Từ và Bi, Tam thiền Tứ thiền thì trừ Hỷ. IV- NGŨ THÔNG Kế đến học ngũ thông, thân bay đi biến hóa tự tại. Hành giả chuyên tâm phát khởi bốn món định như ý túc: Dục định, Tinh tấn định, Nhất tâm định và Tuệ định. Chuyên tâm quán thân tưởng nhẹ nhàng muốn bay đi. Hoặc thấy lớn hoặc thấy nhỏ cả hai đều là hoạn, phải tinh tấn chuyên cần thường nhất tâm quán nhẹ nhàng. Người xuống nước nổi là do tâm lực mạnh, khỉ vượn do tâm lực mạnh nên từ trên cao rơi xuống mà không đau nhức. Hành giả cũng như thế, do sức của dục, tinh tấn, nhất tâm, tuệ quá mạnh, mà thân nhỏ nên vận hành được. Lại quán phần không trong thân, thường tập quán không, do sức của dục, tinh tấn, nhất tâm, tuệ quá mạnh nên cất mình lên được. Ví như gió to hay cất vật nặng bay đi xa. Hành giả cũng như vậy, ban đầu thử tập bay khỏi đất chừng một hai thước, dần dần bay cao đến mười thước, trở về chỗ cũ như thường. Như chim con tập bay, hài đồng tập đi. Suy nghĩ tự xét biết, nếu tâm lực mạnh thì bay được xa. Phải học quán tứ đại, bỏ địa đại chỉ quán thủy, hỏa, phong, tâm niệm không tán loạn liền được tự tại, thân nhẹ nhàng bay đi như chim. Lại phải học tập, xa khởi tưởng gần, thế là chỗ gần diệt đến chỗ xa. Lại hay khiến các vật biến hóa. Như cây chỉ quán địa đại, bỏ ba đại kia thì cây biến thành đất. Vì sao? Bởi vì trong cây đã có phần địa đại. Cây biến thành nước, lửa, gió, không, vàng, bạc v.v... đều như vậy cả. Tại sao? Vì trong cây có các phần kia vậy. Đó là thần thông căn bản ban đầu. Tứ thiền có mười bốn thứ tâm biến hóa: Sơ thiền có hai: 1- Sơ thiền, 2- Dục giới. Nhị thiền có ba: 1- Nhị thiền, 2- Sơ thiền, 3- Dục giới. Tam thiền có bốn: 1- Tam thiền, 2- Nhị thiền, 3- Sơ thiền, 4- Dục giới. Tứ thiền có năm: 1- Tứ thiền, 2- Tam thiền, 3- Nhị thiền, 4- Sơ thiền, 5- Dục giới. Còn các thứ thần thông khác như trong luận Ma-ha-diễn có nói rõ. V- TỨ NIỆM CHỈ Đệ tử đức Thế Tôn học năm pháp môn, chí chỉ mong đạt được Niết-bàn. Có hai hạng người: Người ưa định nhiều, vì thích khoái lạc. Người ưa trí nhiều, vì sợ khổ hoạn. Người ưa định nhiều trước học pháp thiền, sau học Niết-bàn. Người ưa trí nhiều đi thẳng đến Niết-bàn. Người đi thẳng đến Niết-bàn là chưa đoạn được phiền não cũng chưa đắc thiền, chỉ chuyên tâm không tán loạn thẳng cầu Niết-bàn, vượt qua các thứ phiền não, ái v.v... ấy gọi là Niết-bàn. 1. Thân niệm chỉ Thân thật vô thường, khổ, bất tịnh, vô ngã mà điên đảo chấp thân là thường, lạc, tịnh, ngã. Do đó cho nên mọi việc đều đắm mến thân, ấy là hạng chúng sanh thấp tột. Hành giả vì muốn phá điên đảo nên tập Tứ niệm chỉ quán. Quán thân có rất nhiều thứ khổ hoạn từ nhân duyên sanh nên vô thường, các thứ não hại nên khổ, thân có ba mươi sáu vật nên bất tịnh, bởi không tự tại nên vô ngã. Tập quán như thế, quán trong thân, quán ngoài thân, quán cả trong và ngoài thân, ấy gọi là Thân niệm chỉ. 2. Thọ niệm chỉ Thật tướng của thân là thế, tại sao lại khởi điên đảo đắm mến thân này? Chín chắn suy xét cái thọ vui là do yêu thích quá mạnh khởi chấp, thật sự không có gì là vui. Tại sao không vui? Vì nhân ăn mặc nên vui, nhưng vui qua thì khổ đến, không phải thật là vui. Như bị ghẻ hành đau nhức là khổ, lấy thuốc xoa hết đau là vui. Do cái khổ lớn qua còn cái khổ nhỏ là vui, không phải thật vui. Lại nữa cái khổ cũ là khổ, cái khổ mới là vui, như người gánh vai này nặng đổi qua vai khác mới vừa nặng là vui, không phải thật thường vui. Như tánh lửa là nóng không có khi tạm lạnh, nếu là thật vui chẳng nên có không vui. - Khi thấy việc ấy là nhân duyên vui mà chưa hẳn là vui. Vì có khi là nhân vui, có khi là nhân khổ. Nếu thích hợp với tâm yêu thích là vui, nếu hợp với tâm giận tức là khổ, nếu hợp với tâm mê muội thì không khổ không vui. Lấy đó mà suy thì biết chắc có vui và không vui? - Không phải thế. Như dâm dục cũng không phải là vui. Tại sao? Vì nếu dâm dục tự thành thì không cần tìm nữ sắc, đã tìm nữ sắc tất nhiên là khổ. Nếu dâm là vui thì phải không có khi chán, mà đã có lúc chán tức không phải là vui. Bởi trong cái khổ lớn được cái khổ nhỏ cho là vui. Như người bị tội tử hình, được ân xá tử hình chỉ phạt đòn cho là vui. Lửa dục tâm thiêu đốt quá khổ nên hành dâm cho là vui. Nhưng khi tuổi già chán dục, thì biết dục không phải là vui. Nếu thật vui lẽ ra không có khi chán. Các nhân duyên như thế, biết thật tướng của dục lạc không thể được, khi hết vui thì sẽ khổ, Phật dạy: “Cái vui tột nên quán là khổ, cái khổ tột nên quán là vui, như tên bắn vào thân, cái không khổ không vui nên quán sanh diệt vô thường.” 3. Tâm niệm chỉ Phải biết tâm thọ khổ lạc, thọ không khổ không lạc. Thế nào là tâm? Tâm ấy vô thường từ nhân duyên sanh, sanh diệt không dừng tương tự như có, bởi vì điên đảo cho nó là một, kỳ thật xưa không nay có, đã có trở lại không, thế nên vô thường. Quán biết tâm là không. Thế nào là không? Từ nhân duyên sanh nên có mắt, có cảnh thấy biết được. Do sự muốn thấy hòa hợp với các nhân duyên ấy, sanh ra cái biết của mắt. Như hạt châu Nhật Ái, có châu, có mặt trời và bổi, các duyên hòa hợp sanh ra lửa. Tìm từng nhân duyên một không thể thấy lửa, nhưng hợp các duyên lại thì có lửa. Cái biết của mắt cũng thế, không phải ở trong con mắt, không phải ở ngoài cảnh, cũng không phải ở giữa chừng con mắt và cảnh, không có chỗ ở mà cũng không phải là không. Thế nên Phật dạy: “Tâm như huyễn như hóa, tâm hiện tại quán tâm quá khứ hoặc khổ hoặc vui hoặc không khổ không vui, mỗi tâm đều khác, mỗi tâm tự diệt. Tâm có dục, tâm không dục cũng như thế, mỗi tâm đều khác, mỗi tâm tự diệt. Quán nội tâm, ngoại tâm, cả nội ngoại tâm cũng như thế, ấy gọi là Tâm niệm chỉ.” 4. Pháp niệm chỉ Quán tâm thuộc về cái gì. Quán tưởng tượng suy xét, nhớ nghĩ, mong muốn v.v... các thứ tâm sở tương ưng và không tương ưng, tìm thật kỹ coi cái gì là chủ. Cùng tột không thể có chủ. Tại sao? Vì từ nhân duyên sanh nên vô thường, vô thường nên khổ, khổ nên không tự tại, không tự tại nên không chủ, không chủ nên không. Trước quán riêng thân thọ tâm pháp không có. Đoạn này quán trong Tứ niệm chỉ không có chủ, rời nó tìm chủ cũng không thể có. Nếu nói thường không được, vô thường cũng không được. Nếu là thường phải thường khổ hoặc thường lạc. Nếu nói thần ngã là thường thì giết hại người không có tội và Niết-bàn cũng không. Nếu thân là thần ngã, khi thân diệt thì thần ngã cũng phải diệt, thế thì không có đời sau, không có tội phước. Khắp quán như thế, thấy hoàn toàn không có chủ. Các pháp vốn là không, không có tự tại, do nhân duyên hòa hợp nên sanh, nhân duyên tan hoại nên diệt. Quán nhân duyên hợp thành pháp gọi là Pháp niệm chỉ. Nếu hành giả được Pháp niệm chỉ, nhàm chán thế gian là không, già, bệnh, chết, thật không có một chút thường lạc ngã tịnh. Ta đối với pháp không này, còn mong cầu cái gì? Chi bằng vào Niết-bàn trụ trong pháp tối thiện. Do sức cố gắng tinh tấn được thâm Xá-ma-đà (trụ tâm một chỗ). Khi được Xá-ma-đà trụ trong Pháp niệm chỉ thứ tư, quán các pháp đều khổ không vui, không vui là sự thật nếu nói khác tức là vọng ngữ. Khổ là nhân các thứ phiền não ái v.v... và nghiệp mà sanh, không phải trời, thời, ma v.v... các thứ dối gạt ấy gây ra. Phiền não và nghiệp ấy tạo ra cái khổ này. Khi nhập Niết-bàn tất cả khổ này đều dứt sạch. Không phải Sắc giới, Vô sắc giới và thế giới thủy (ngoại đạo cho cái ban đầu tạo ra tất cả sự vật là thế giới thủy) v.v... các thứ dối gạt ấy hay diệt được khổ. Bát chánh đạo, chánh kiến v.v... là lối vào Niết-bàn; không phải chúng ngoại đạo tu các thứ khổ hạnh, không trì giới, không thiền định, không trí tuệ mà vào được Niết-bàn. Vì sao? Vì trong Phật pháp đồng tu ba pháp giới định tuệ mới được vào Niết-bàn. Ví như người đứng chỗ đất bằng, có cung, tên tốt mới bắn chết bọn giặc thù. Giới dụ chỗ đất bằng, thiền định dụ cung tốt, trí tuệ dụ tên nhọn, ba việc đầy đủ hay giết được bọn giặc phiền não. Bởi thế nên chúng ngoại đạo không thể được Niết-bàn. VI- TỨ ĐẾ Hành giả bấy giờ khởi quán Tứ đế duyên, như tên bắn suốt. 1. Khổ Quán khổ có bốn thứ: Bởi nhân duyên sanh nên Vô thường, thân tâm não loạn nên Khổ, không có một pháp thật nên Không, không thật có người tạo tác và lãnh thọ nên Vô ngã. 2. Tập Quán tập có bốn: Do phiền não, nghiệp hữu lậu hòa hợp là Tập, quả tương tự được sanh là Nhân, trong ấy khởi tất cả hạnh là Sanh, không phải quả tương tự ấy liên tục là Duyên. 3. Diệt Quán diệt có bốn: Tất cả phiền não che đậy là Bế, trừ hết lửa phiền não là Diệt, trong tất cả pháp là bậc nhất nên Diệu, đã vượt qua thế gian nên Xuất. 4. Đạo Quán đạo có bốn: Hay đến Niết-bàn là Đạo, không điên đảo là Chánh, là lối đi của tất cả thánh nhân là Tích, được thoát khỏi sầu thảm là Ly. VII- TỨ GIA HẠNH 1. Noãn Quán như trên sẽ đắc pháp vô lậu tương tự gọi là Noãn pháp. Thế nào là noãn? Thường chuyên cần tinh tấn gọi là noãn. Các thứ phiền não là củi, trí vô lậu là lửa, lửa gần phát cháy hơi ấm ban đầu gọi là noãn. Ví như dùi lửa, lúc mới dùi nó ra khói, ấy là noãn. Nó là tướng ban đầu của đường đến Niết-bàn, Đệ tử Phật có hai hạng người: Hạng người phần nhiều ưa nhất tâm cầu thiền định là người theo lối hữu lậu. Hạng người ưa trí tuệ chân thật để trừ diệt các thứ đắm mến, là người thẳng đến Niết-bàn vào trong noãn pháp. Có noãn tướng là thâm đắc nhất tâm, được tương tự thật pháp, đến bên ranh vô lậu. Hành giả khi ấy được đại an ổn, tự nghĩ: Ta quyết định sẽ được Niết-bàn, vì thấy được tướng này. Như người đào giếng được thấy đất ướt, biết sẽ đến nước không lâu. Như người đánh giặc, giặc lui tan hết, tự biết đắc thắng, trong ý an ổn. Như người kinh hãi chết giấc, muốn biết họ sống chăng, hoặc lấy kim chích vào thân, hoặc chẩn mạch xem còn nhảy không, nếu biết họ còn ấm tức là sẽ sống. Như người nghe pháp suy nghĩ trong tâm thích thú, khi ấy tâm nóng. Hành giả có noãn pháp như thế gọi là có noãn, cũng gọi là được phần thiện căn đến Niết-bàn. Pháp thiện căn này có mười sáu hạnh, Tứ đế duyên là một trong sáu địa, là nền tảng của trí tuệ và tất cả pháp vô lậu. Người được bước đầu vô lậu hay đi an ổn, ấy gọi là noãn pháp. 2. Đảnh Tăng tiến chuyển lên gọi là Đảnh pháp, như sữa biến thành tô lạc. Hành giả quán thật tướng các pháp, tự nghĩ: Ta sẽ lìa khổ được giải thoát. Tâm thích pháp chân thật này hay trừ các thứ khổ hoạn và già, bệnh, chết. Khi ấy suy nghĩ: Pháp này ai nói? Là Phật Thế Tôn. Từ đây được tín tâm thanh tịnh đại hoan hỷ trong Phật bảo. Nếu không có pháp này thì tất cả phiền não ai có thể ngăn được. Ta phải làm thế nào được một chút ít sáng suốt của trí tuệ chân thật. Từ đây được tín tâm thanh tịnh đại hoan hỷ trong Pháp bảo. Nếu ta không được bạn lành là đệ tử của Phật, làm sao được chút ít sáng suốt của trí tuệ chân thật. Từ đây được tín tâm thanh tịnh đại hoan hỷ trong Tăng bảo. Trong Tam bảo được nhất tâm thanh tịnh hợp với trí tuệ chân thật. Đó là được đảnh thiện căn cũng gọi là đảnh pháp, cũng gọi là được phần thiện căn đến Niết-bàn. Như trong kinh Ba-la-diên nói: Phật, Pháp và Tăng bảo, Ai có ít tịnh tín, Đó là căn lành Đảnh, Các ngươi nhất tâm giữ. Thế nào là ít tịnh tín? Với bậc Phật, Bồ-tát, Bích-chi Phật, La-hán là ít, còn hàng được bước đầu vô lậu là nhiều. Lại nữa pháp này có thể phá, có thể mất gọi là ít. Như kinh Pháp Cú nói: Chuối trổ buồng rồi chết, Tre ra bông cũng chết, La mang thai thì chết, Tiểu nhân được nuôi chết. Phá mất không phải lợi, Tiểu nhân cho danh dự, Phần bạch tịnh mất hết, Đến Đảnh pháp cũng rơi. Chưa đoạn kiết sử, chưa được vô lậu và vô lượng tâm, gọi là ít. 3. Nhẫn Chuyên cần tinh tấn nhất tâm vào trong Niết-bàn, lại quán rành rõ pháp ngũ ấm, Tứ đế, mười sáu hạnh. Khi ấy tâm không sụt, không hối hận, không thối lui, ưa thích vào nhẫn, gọi là Nhẫn thiện căn. Nhẫn những gì? Tùy thuận hành Tứ đế gọi là Nhẫn. Cái thiện căn này có ba bậc thượng trung hạ và ba thời. Thế nào gọi là Nhẫn? Quán ngũ ấm vô thường khổ không vô ngã, tâm nhẫn không thối chuyển gọi là Nhẫn. Quán các pháp thế gian thảy đều là khổ, không, không vui. Cái khổ này do các thứ phiền não, ái v.v... tập hợp. Cái tập ấy bị trí tuệ diệt sạch, đó là thượng pháp không có pháp nào hơn, Bát chánh đạo hay khiến người tu hành được Niết-bàn không có lối nào bằng. Tín tâm như thế không hối hận không nghi ngờ, ấy gọi là Nhẫn. Trong tâm có sức nhẫn nên các kiết sử, các thứ phiền não nghi ngờ không thể chen vào phá hoại tâm được, ví như núi đá, các thứ gió nước không thể làm trôi giạt, lay động được, ấy gọi là Nhẫn. Người được như vậy gọi là người được bước đầu vô lậu chân thật tốt đẹp. Như Phật nói trong kinh Pháp Cú: Chánh kiến trên thế giới, Ai có thể được nhiều, Cho đến ngàn muôn năm Trọn không rơi ác đạo. Người chánh kiến trên thế giới là người được Nhẫn thiện căn. 4. Thế đệ nhất Người này tăng tiến nhất tâm rất nhàm chán thế giới, muốn biết rành rõ tướng tứ đế để tiến đến Niết-bàn. Trong nhất tâm như thế gọi là pháp thế gian đệ nhất. Một thời trụ tứ hạnh vô thường khổ không vô ngã, quán một đế khổ pháp nhẫn và các khổ duyên. Thế nào là quán ngũ ấm trong Dục giới là vô thường khổ không vô ngã? Trong đây tâm nhẫn vào trí tuệ, cũng là tâm vương và tâm sở tương ưng, gọi là khổ pháp nhẫn. Thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp và các hạnh không tương ưng với tâm, đời hiện tại, đời vị lai tất cả pháp vô lậu ban đầu, gọi là khổ pháp nhẫn. Thứ lớp sanh khổ pháp trí, khổ pháp nhẫn, trí đoạn kiết sử khổ pháp được chứng đạo. Ví như hai người đối địch, một người cầm đao bén một người cầm dây trói thì người cầm đao giết được người cầm dây. Cũng như dao bén chẻ tre qua mắt dễ dàng. Do công phu của nhẫn trí hay đoạn được kiến chấp ràng buộc trong Dục giới và mười món kiết sử. Bấy giờ được cái dị đẳng trí, chưa được vô lậu trí, chỉ được vô lậu tuệ, khi ấy thành tựu một trí. Trong tâm thứ hai thành tựu pháp trí, khổ trí, đẳng trí. Qua tâm thứ ba và thứ tư thành tựu tứ trí; khổ trí, pháp trí, tỷ trí, đẳng trí. Trong đạo pháp diệt đế mỗi trí được tăng, người ly dục thành tựu tăng trưởng tha tâm trí. VIII- TỨ QUẢ THANH VĂN 1. Tu-đà-hoàn Khổ pháp nhẫn, khổ pháp trí, khổ tỷ nhẫn, khổ tỷ trí đoạn mười tám thứ Kiết, bốn tâm ấy đạt được nơi khổ đế. Tập pháp nhẫn, tập pháp trí đoạn được bảy thứ Kiết trong Dục giới. Tập tỷ nhẫn, tập tỷ trí đoạn mười ba món Kiết cõi Sắc và Vô sắc. Diệt pháp nhẫn, diệt pháp trí đoạn bảy món Kiết ở Dục giới. Diệt tỷ nhẫn, diệt tỷ trí đoạn mười hai món Kiết ở cõi Sắc và Vô sắc. Đạo pháp nhẫn, đạo pháp trí đoạn tám món Kiết ở Dục giới. Đạo tỷ nhẫn, đạo tỷ trí đoạn mười bốn món Kiết cõi Sắc và Vô sắc. Đạo tỷ trí là đắc quả Tu-đà-hoàn, thật biết các pháp tướng. Trong mười sáu tâm (khổ pháp nhẫn, khổ pháp trí v.v... ) được mười lăm, người lợi căn gọi là Tùy pháp hạnh, người độn căn gọi là Tùy tín hạnh. Hai người này chưa hẳn ly dục nên chỉ được Sơ quả. Trước chưa đoạn kiết sử mà được mười sáu thứ tâm là Tu-đà-hoàn. Nếu trước đoạn sáu phẩm Kiết được mười sáu thứ tâm gọi là Tư-đà-hàm. Nếu trước đoạn chín phẩm Kiết được mười sáu thứ tâm gọi là A-na-hàm. Bởi chưa ly dục đoạn tám mươi tám món Kiết sử nên gọi Tu-đà-hoàn. Lại nữa, được thiện căn vô lậu quả nên gọi Tu-đà-hoàn. Người lợi căn gọi Kiến đắc, người độn căn gọi là Tín ái. Chưa đoạn tư hoặc nên phải bảy lần sanh nhân gian, nếu đoạn ba món tư hoặc chỉ còn sanh ba lần. Thấu đạt ba mươi bảy phẩm trợ đạo gọi là Lưu hướng Niết-bàn. Tùy thuận trôi vào biển thánh gọi là Tu-đà-hoàn. Đó là đứa con công đức ban đầu của Phật. 2. Tư-đà-hàm Được thoát khỏi ác đạo, đoạn tam kiết, làm mỏng tam độc gọi là Tư-đà-hàm. Lại nữa, chín phẩm Hoặc ở Dục giới do kiến đế đoạn và tư duy đoạn. Nếu người phàm phu trước dùng hữu lậu đạo đoạn sáu thứ Hoặc ở Dục giới, vào kiến đế đạo, được mười sáu thứ tâm gọi là Tư-đà-hàm. Nếu đoạn được tám thứ Hoặc nhập kiến đế đạo đủ mười sáu thứ tâm gọi là quả Tư-đà-hàm hướng A-na-hàm. Nếu đệ tử Phật chứng Tu-đà-hoàn rồi riêng đoạn ba món Kiết dục, chứng Tư-đà-hàm. Hoặc tư duy trong chín món Hoặc ở Dục giới, đoạn được sáu món gọi là Tư-đà-hàm; đoạn tám món gọi là quả Tư-đà-hàm hướng A-na-hàm. 3. A-na-hàm Nếu phàm phu trước đoạn chín món Hoặc ở Dục giới vào kiến đạo, được mười sáu thứ tâm gọi là A-na-hàm. Hoặc được Tu-đà-hoàn tiến lên đoạn ba món tư hoặc, chứng đạo giải thoát thứ chín gọi là A-na-hàm. A-na-hàm có chín thứ: 1/ A-na-hàm hiện đời vào Niết-bàn. 2/ A-na-hàm thân trung ấm vào Niết-bàn. 3/ A-na-hàm đời sau sanh ra nhập Niết-bàn. 4/ A-na-hàm chuyên cần mong cầu nhập Niết-bàn. 5/ A-na-hàm không cầu mong nhập Niết-bàn. 6/ A-na-hàm tiến lên các cõi trên nhập Niết-bàn. 7/ A-na-hàm lên cõi trời Ca-ni-tra nhập Niết-bàn. 8/ A-na-hàm đến định Vô sắc nhập Niết-bàn. 9/ A-na-hàm thân ở vị A-na-hàm mà hạnh hướng A-la-hán. 4. A-la-hán Dùng vô ngại đạo Kim cương tam-muội thứ chín phá chín món Hoặc cõi Sắc, Vô sắc và tất cả Hoặc, được tận trí giải thoát đạo thứ chín, tu tất cả thiện căn gọi là quả A-la-hán. A-la-hán có chín thứ: 1/ Thối pháp. 2/ Bất thối pháp. 3/ Tử pháp. 4/ Thủ pháp. 5/ Trụ pháp. 6/ Tất tri pháp. 7/ Bất hoại pháp. 8/ Tuệ thoát. 9/ Cộng thoát. Trí kém, tinh tấn yếu, thực hành ngũ pháp mà lui sụt gọi là A-la-hán Thối pháp. Trí tuệ sắc bén, siêng năng hành ngũ pháp không lùi, gọi là A-la-hán Bất thối pháp. Trí kém, tinh tấn yếu mà nhàm chán mạnh suy nghĩ muốn tự sát, gọi là A-la-hán Tử pháp. Trí kém, tinh tấn mạnh tự bảo vệ thân, gọi là A-la-hán Thủ pháp. Trí bậc trung, tinh tấn bậc trung không tăng không giảm, trụ vào bậc trung gọi là A-la-hán Trụ pháp. Trí có phần sắc bén, chuyên cần tinh tấn được bất hoại tâm giải thoát gọi là A-la-hán Tất tri pháp. Trí sắc bén, tinh tấn mãnh liệt mới được bất hoại tâm giải thoát gọi là A-la-hán Bất hoại pháp. Không nhập trong các thiền định vị đáo địa mà các lậu đã sạch, gọi là A-la-hán Tuệ giải thoát. Được các thiền cũng được Diệt tận định, các lậu dứt sạch, gọi là A-la-hán Cộng giải thoát. Có vị A-la-hán đối với pháp hữu vi rất nhàm chán tự mãn, không muốn làm các việc công đức, chỉ đợi thời nhập Niết-bàn. Có vị A-la-hán mong cầu Tứ thiền, Tứ định Vô sắc, Tứ đẳng tâm, Bát giải thoát, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ nhập, Cửu thứ đệ định, tu Lục thần thông, Nguyện trí, Vô tránh tam-muội, Siêu việt tam-muội, huân thiền, tam giải thoát môn và Phóng xả. Lại y cứ trí sắc bén chuyên cần tinh tấn nhập các thiền công đức, gọi là A-la-hán đắc Bất thối pháp, Bất hoại pháp. IX- QUẢ BÍCH-CHI PHẬT Nếu khi không có Phật ra đời, không có giáo pháp và các đệ tử Phật, khi ấy có những vị ly dục Bích-chi Phật ra đời. Bích-chi Phật có ba bậc: thượng, trung, hạ. 1. Bích-chi Phật bậc hạ Vị đã chứng Tu-đà-hoàn hoặc Tư-đà-hàm. Tu-đà-hoàn phải sanh trong nhân gian bảy lần, đến lần thứ bảy nếu không gặp Phật pháp, không được làm đệ tử Phật, cũng không sanh đến lần thứ tám, khi ấy chứng Bích-chi Phật. Tư-đà-hàm còn sanh lại nhân gian một lần, nếu không gặp Phật pháp, không được làm đệ tử Phật cũng không sanh đến lần thứ hai, khi ấy chứng Bích-chi Phật. 2. Bích-chi Phật bậc trung Có người nguyện làm Bích-chi Phật, khi gieo căn lành Bích-chi Phật, căn lành thuần thục đối với Phật pháp không có, chán đời đi xuất gia đắc đạo, đây là Bích-chi Phật. Như vua nước Ba-la-nại mùa hạ nóng bức ở trên lầu cao, ngồi sàng thất bảo, sai thể nữ tán hương ngưu đầu chiên-đàn xoa vào thân. Thể nữ tay đeo rất nhiều xuyến, khi xoa vào mình vua xuyến khua vang tai. Vua rất ghét bảo thứ lớp cởi bớt xuyến, xuyến còn ít thì tiếng khua cũng ít, khi chỉ còn một chiếc thì im lặng không khua. Khi ấy vua tự giác ngộ: “Quốc gia, quan dân, cung nhân thể nữ, nhiều việc thì nhiều não cũng giống như thế.” Tức thì lìa dục riêng ở một chỗ suy gẫm chứng Bích-chi Phật, râu tóc tự rụng, mặc y tự nhiên, rời cung điện dùng sức thần túc vào núi xuất gia. Nhân duyên như thế, là Bích-chi Phật bậc trung. 3. Bích-chi Phật bậc thượng Có người cầu Phật đạo, sức trí tuệ và tinh tấn kém do gặp nhân duyên lui sụt, đến khi không có Phật ra đời, không Phật pháp và đệ tử Phật, mà hành thiện căn được thuần thục thành Bích-chi Phật, có tướng hảo hoặc ít hoặc nhiều, nhàm chán thế tục đi xuất gia đắc đạo là Bích-chi Phật bậc thượng. Đối trong các pháp, trí tuệ cạn được vào gọi là A-la-hán, trí tuệ bậc trung là Bích-chi Phật, trí tuệ bậc sâu là Phật. Như ở xa nhìn cây, chỉ thấy cây không phân biệt được cành; lại gần hơn phân biệt được cành, không phân biệt hoa lá; đến dưới cội cây nhìn lên mới phân biệt rành rõ cành lá hoa quả. Thanh văn biết tất cả hạnh vô thường, tất cả pháp vô ngã, chỉ Niết-bàn là hoàn toàn an ổn. Thanh văn hay quán như thế, mà không thể phân biệt biết sâu và vào sâu. Bích-chi Phật có phân biệt mà cũng không thể phân biệt biết sâu và vào sâu. Phật biết các pháp phân biệt cứu xét rõ ràng, biết tận cùng và vào tận cùng. Giảng: Giảng: I- TỨ THIỀN 1. Sơ thiền Hành giả tuy được nhất tâm mà định lực chưa thành, còn bị phiền não ở Dục giới làm não loạn, phải tạo phương tiện tiến lên học Sơ thiền, trách bỏ ái dục. Sau phần chỉ dạy cách tu, đến đây là nói về sự tu chứng. Đầu tiên nói về Sơ thiền. Người tu các pháp quán tuy được nhất tâm, nhưng chưa có định lực, còn bị ái dục làm não loạn. Phải nỗ lực quán xét lỗi của nó tiến đến sơ thiền. Ái dục là cội gốc của Dục giới này, người tu nào cũng bị nó làm phiền hà bực bội khó thoát ra khỏi. Khi tu chứng được Sơ thiền liền dứt ái dục, lúc ấy có niệm vui mừng vô kể, vì mình đã vượt qua một cái khó qua. Vì thế gọi là Sơ thiền Ly sanh hỷ lạc. Thế nào là trách bỏ ái dục? - Hành giả quán cái lỗi ái dục ở Dục giới là tội ác, bất tịnh, các thứ pháp bất thiện, nghĩ tưởng Sơ thiền là an ổn khoái lạc. Hành giả quán lỗi ái dục ở Dục giới là tội ác, là bất tịnh. Cõi này gọi là Dục giới, là thế giới do ái dục sanh. Chúng ta cũng như tất cả chúng sanh có mặt trên cõi này, đều gốc từ ái dục mà ra. Bỏ được ái dục là trút được gánh nặng, không bị nó sai sử kìm chế. Muốn bỏ được ái dục chúng ta phải quán chiếu thấy nó là tội ác, là bất tịnh nhơ nhớp, cố gắng tiến tu vượt qua, lìa bỏ ái dục để được an vui. Quán lỗi ái dục thế nào? Biết ái dục là vô thường, oán thù, không thật như huyễn như hóa. Khi nghĩ đến ái dục là tâm si mê nổi loạn, huống là đã bị dâm dục cột trói. Cái vui trên cõi trời còn chưa phải thường an ổn, huống chi cái vui trong cõi người. Lòng người mê đắm ái dục không chán nhàm, như lửa gặp củi, như bể hứng các dòng sông, như vua Đảnh Sanh tuy được trời mưa bảy báu, làm vua bốn châu thiên hạ, trời Đế-thích chia nửa tòa cho ngồi vẫn thấy chưa đủ; như vua Chuyển kim luân Na-hầu-sa, bị ái dục thúc bách đến phải đọa làm thân con mãng xà. Lại như những vị tiên ăn trái cây mặc áo cỏ, ở trong núi sâu khổ hạnh cầu đạo vẫn chưa khỏi bọn giặc ái dục phá hoại. Cái vui của ái dục rất ít mà sự thù oán, ác độc quá nhiều. Người đắm mê ái dục thường gần bạn ác, bạn lành lánh xa. Ái dục là thứ rượu độc làm người ngu mê say sưa đến chết. Ái dục là thứ xảo quyệt sai sử người ngu muôn ngàn nhọc nhằn không chút tự do. Chỉ có lìa ái dục thì thân tâm an ổn khoái lạc không cùng tận. Các ngài dạy chúng ta tu muốn rời ái dục, buông bỏ được ái dục, phải tập tu quán. Một là quán ái dục vô thường có rồi qua mất, không thường còn mãi mãi. Đã là tướng vô thường thì có gì mà đắm nhiễm? Thứ hai quán ái dục là oán thù. Tại sao? Những người đắm mê ái dục, trước cứ tưởng là hạnh phúc là vui nhưng sau nó kéo theo đau khổ, vì thế nói ái dục là oán thù. Ái dục không thật, tạm bợ như huyễn hóa, không có gì đáng yêu thích. Vừa nghĩ đến ái dục thì tâm si mê đã nổi loạn rồi, huống là bị ái dục cột trói. Tạo nghiệp ái dục là si mê là khổ đau. Phải luôn quán xét như vậy. Cái vui trong cõi trời còn chưa an ổn huống chi ở cõi người. Trong kinh Phật thường dạy: Dù ở cõi trời có vui hơn thế gian nhưng cái vui đó rồi cũng mất. Khi hết phước, thân sanh ra các thứ hôi hám, phải bị đọa trở lại. Cái vui ở cõi trời không xứng đáng để chúng ta mong cầu, huống nữa là cái vui của ái dục, vui ít khổ nhiều. Lòng người mê đắm ái dục không chán nhàm, như lửa gặp củi, như bể hứng các dòng sông. Thế gian bao nhiêu người vì không dừng được ái dục nên bị lôi kéo khổ sở mãi mãi. Thuở xưa vua Đảnh Sanh nhờ có tạo được một phần công đức, cho nên ước nguyện gì đều được như ý. Thấy dân chúng nghèo, nhà vua ước trời mưa bảy báu, vừa ước nguyện xong liền có mưa bảy báu. Làm vua một nước nhỏ không đủ, ông ước mình làm chủ hết bốn châu thiên hạ. Vừa ước vậy thì được nắm hết bốn châu thiên hạ, được nhiều của cải, được nhiều thê thiếp, nhiều đất đai. Ông lại ước được lên cõi trời Đế-thích để hưởng vui, ước xong cũng được thần thông lên cõi trời. Lúc ấy, Đế-thích nhường nửa tòa cho ông ngồi, rất thích thú. Những ước muốn đều có đủ, nhưng ông chưa chịu dừng, còn muốn hất vua trời Đế-thích xuống để cướp ngôi. Vừa khởi niệm ác liền bị rớt xuống trần gian. Thật là lòng tham của con người không cùng, được cái này muốn cái kia, được rồi lại muốn nữa, đến khi bị đày đọa ngược lại mới thức tỉnh. Khi rớt xuống cõi trần ông đau nặng gần chết, lúc đó bá quan mới hỏi: “Bệ hạ có lời gì căn dặn những kẻ hạ thần để sống cho tốt đẹp?” Ông bảo triệu tập hết quần thần sẽ dạy cho một câu. Tất cả quần thần tề tựu đầy đủ, gần tắt thở ông nói: “Các khanh phải nhớ câu này, lòng tham muốn của con người không bao giờ biết đủ, như vua Đảnh Sanh được bảy báu, được bốn châu thiên hạ, được nửa tòa trời Đế-thích mà vẫn còn tham, nên ngày nay bị tàn tạ. Khi thức tỉnh thì đã muộn.” Câu chuyện đó nhắc tất cả chúng ta, tham muốn nhiều sẽ bị đau khổ. Kế đến vua Chuyển kim luân Na-hầu-sa vì nặng ái dục nên đến khi chết đọa làm thân mãng xà. Lại như những vị tiên ăn trái cây mặc áo cỏ ở trong núi sâu khổ hạnh cầu đạo, vẫn chưa khỏi bọn giặc ái dục phá hoại. Chúng ta thấy tuy lý tưởng tu tập rất cao siêu nhưng đôi lúc cũng bị giặc ái dục phá hoại. Cái vui của ái dục thì rất ít mà sự thù oán ác độc quá nhiều. Nghĩ tới cái vui ít mà sự thù oán ác độc của ái dục phá hại nhiều, chúng ta phải tự kìm chế, tự thắng mình để đừng say mê ái dục. Người đắm mê ái dục thường gần bạn ác, bạn lành lánh xa. Người ái dục thường tìm người cùng bệnh với mình, gần người buông lung không gần bạn lành. Ái dục là rượu độc, là thứ xảo quyệt làm người say mê ngu si đến chết. Ái dục sai khiến người chịu muôn ngàn nhọc nhằn không chút tự do. Chúng ta phải thấy đúng sự nguy hiểm của ái dục để tìm cách chữa trị. Các pháp quán vô thường, bất tịnh, quán ái dục ác độc, là oán thù... giúp người tu xa lìa, chán bỏ. Người lìa được ái dục thì thân tâm được an ổn, vui vẻ không cùng. Ái dục không thể được, như chó gặm xương khô. Tìm cầu ái dục khó nhọc khổ sở mới được, được thì rất khó mà mất lại quá dễ. Nó tạm bợ chốc lát như mộng vừa thấy, tỉnh giấc đã mất. Ái dục là tai họa, tìm cầu đã khổ, được nó cũng khổ, được nhiều khổ nhiều, như lửa gặp củi càng nhiều càng cháy mạnh. Chư tổ quở trách ái dục nặng nề, nói ái dục như chó gặm xương khô. Xương khô chẳng có gì lợi ích, mấy cục xương quăng ngoài đường, chó gặm đứt miệng chảy máu mà không được bổ ích gì. Chúng tranh giành nhau khúc xương khô khó nhọc khổ sở, được thì rất khó mà mất lại quá dễ. Ái dục tạm bợ như giấc mộng, tìm cầu là tai họa, được nhiều khổ nhiều, như đống lửa cháy hừng. Nói như thế để thấy ái dục là họa lớn không phải thường. Người tu phải biết tránh biết sợ nó mới có thể được an ổn. Dục như thịt thối bầy quạ giành nhau. Ái dục giống như cục thịt thối, mấy con chim quạ tranh giành nhau, nếu là người đàng hoàng thấy như thế chỉ tội nghiệp, thương chúng không đáng gì mà chịu khổ sở. Tóm lại, người mê ái dục như con thiêu thân nhảy vào lửa, như cá nuốt câu, như nai theo tiếng, như khát uống nước muối. Tất cả chúng sanh bị cái hoạn ái dục đến nỗi không chỗ khổ nào mà chẳng đến. Thế nên, phải biết ái dục là độc hại, phải cầu Sơ thiền tiêu diệt lửa ái dục. Người đắm mê ái dục giống như con thiêu thân bay thẳng vào ngọn đèn, vào đống lửa, vừa vào là bị cháy. Như cá thấy mồi ngon vừa nuốt vào là bị người bắt. Như nai theo tiếng của đàn nai khác, chạy theo là bị khổ. Như khát uống nước muối, càng uống càng khát không tới đâu hết. Vì biết ái dục là tai họa lớn lao, là điều độc hại nên chúng ta phải ráng tu, chứng được Sơ thiền thì tiêu diệt được lửa ái dục, gọi là Ly sanh hỷ lạc. Tâm ái dục không còn trói buộc khổ sở lúc đó được vui an ổn. Hành giả nhất tâm chuyên cần tin vui khiến tâm tăng tiến, ý không tán loạn, quán ái dục tâm nhàm chán, trừ các kiết sử phiền não che đậy, được định Sơ thiền, lìa ngọn lửa dữ ái dục, được định mát mẻ, như khi nắng gặp bóng mát, như kẻ nghèo được của báu. Khi ấy được cái vui mừng của Sơ thiền, suy nghiệm trong thiền định bao nhiêu thứ công đức, xem xét phân biệt cái nào tốt cái nào xấu liền được nhất tâm. Nhờ quán chiếu, quở trách sự nguy hiểm của ái dục, hành giả chuyên cần tin tưởng mình sẽ lìa ái dục, tâm an định, được cái vui vô hạn. Lúc ấy thân tâm mát mẻ, định lực tăng tiến, xem xét những điều xấu tốt rõ ràng nên tâm không đắm nhiễm phiền não. Người tu thiền được tướng nhất tâm thế nào? - Người ấy vẻ mặt vui tươi, đi từ từ êm ái, ngay thẳng không mất nhất tâm, mắt không đắm sắc, do thần đức thiền định nên không tham danh lợi, phá dẹp kiêu mạn, tánh nết nhu hòa, không ôm lòng độc hại, không có xan tham tật đố, tâm trong sạch tin chân chánh, bàn luận không tranh hơn thua, thân không lừa dối, nói năng dễ dãi, hòa nhã, biết hổ thẹn, tâm thường nhớ giáo pháp, siêng năng tinh tấn giữ giới trọn vẹn, tụng kinh nhớ suy nghĩ y pháp thực hành, ý thường vui vẻ, việc đáng giận không giận, trong bốn thứ cúng dường nếu không thanh tịnh không thọ, nếu cúng dường thanh tịnh thì thọ mà biết lượng sức nhận vừa đủ, bàn luận không tự thỏa mãn, nói năng rất ít, khiêm nhường cung kính những bậc thượng trung hạ tọa, thầy lành bạn tốt thì thường gần gũi vâng lời chỉ dạy, ăn uống có chừng mực không mê mùi vị, ưa ở chỗ vắng vẻ, dù khổ dù vui tâm không xao động, không oán thù cạnh tranh, không ưa thưa kiện. Có những tướng như thế là biết người được tướng nhất tâm. Đây là tướng nhất tâm. Vẻ mặt vui tươi, không buồn không quạu. Ai có buồn có quạu thì đã nhất tâm chưa? Đi từ từ êm ái, chậm rãi ngay thẳng không mất nhất tâm. Mắt không đắm sắc, thấy sắc đẹp không để ý, không dính dáng. Do thần đức thiền định nên không tham danh lợi, phá dẹp kiêu mạn, tánh nết nhu hòa, không ôm lòng độc hại, không tham sân tật đố. Ai có hơn điều gì mình cũng không ganh ghét... Tâm trong sạch, tin chân chánh, bàn luận không tranh hơn thua, thường nhớ giáo pháp, siêng năng tinh tấn giữ giới trọn vẹn, tụng kinh nhớ suy nghĩ y pháp thực hành, ý thường vui vẻ. Chúng ta nhớ vài nét chánh của người được tướng nhất tâm: ý thường vui vẻ, việc đáng giận không giận, bao nhiêu đó thấy cũng là quá đủ. Cộng thêm vẻ mặt vui tươi, không có tính kiêu mạn. Được những điều này là rất quý. Người được nhất tâm không khoe khoang sở đắc của mình. Có nhiều người tu chưa tới đâu mà ngỡ rằng mình chứng được pháp này pháp nọ, rồi khoe khoang tự mãn, nhưng khi gặp cảnh đến vẫn sân si. Người tu chân chánh đạt được thiền định, cuộc sống nội tâm lúc nào cũng trong sạch sáng suốt, không cầu danh cầu lợi. Người mà tu càng sâu, đạo lực càng mạnh thì phiền não càng giảm. Nếu một người tuy nói tu hay, nói đạo cao mà còn phiền não thì chúng ta không thể tin. Như vậy học đây để hiểu, hiểu rồi mới đánh giá được người thật và người không thật. 2. Nhị thiền Bởi hai thứ giác, quán nên loạn tâm thiền định, như nước lóng trong sóng dậy liền đục. Hành giả bên trong đã được nhất tâm mà còn bị giác, quán làm não loạn, như làm nhọc muốn nghỉ, như ngủ muốn yên. Khi ấy phải học không giác, không quán cho định thanh tịnh phát sinh. Bên trong thanh tịnh vui vẻ được vào Nhị thiền, tâm rất lặng lẽ xưa chưa từng có, nay mới được trạng thái này nên rất mừng. Nhị thiền là Định sanh hỷ lạc, do được định nên tâm sanh ra vui mừng. Người được Sơ thiền là dùng giác quán tức là nhận định, xem xét lỗi quấy của ái dục để chừa bỏ. Nhờ quán sát xem xét đúng nên tâm không còn đắm mê ái dục. Như thế vượt qua ái dục nhân giác quán. Qua ái dục rồi được cái vui lìa ái dục, nhưng tâm chưa định vì còn dùng giác quán. Đến giai đoạn thứ hai, thấy tâm mình vẫn còn loạn chưa an, như nước bị sóng quậy làm đục, nên bỏ luôn giác quán để cho tâm được thuần thanh tịnh. Đó là định phát sanh, được định này thì có sự vui mừng vô kể. Vui thế gian là tạm bợ vô nghĩa, chính cái vui trong đạo mới siêu thoát đáng quý trọng. 3. Tam thiền Khi ấy tâm quán cái mừng cũng là họa hoạn, như giác quán ở trước, tập hành pháp không mừng. Rời bỏ cái mừng liền được cái vui của các bậc hiền thánh. Biết chắc chắn nhất tâm, hằng bảo vệ vào Tam thiền. Đã bỏ cái mừng, biết chắc nhớ nghĩ bảo vệ cái vui. Thánh nhân nói bảo vệ vui, vì người thường khó bỏ được, bởi lui về quá khứ chưa bao giờ có cái vui này, nên nó là bậc nhất. Thế nên tất cả Thánh nhân nói: “Trong tất cả tịnh địa, Từ là vui bậc nhất.” Tam thiền là Ly hỷ diệu lạc, lìa bỏ cái vui mừng trước, vì còn vui mừng là còn loạn động. Khi chúng ta ngồi thiền thấy được yên, vui mừng cho như thế là tốt, nhưng cứ vui mừng hoài thì tâm không định, nên phải bỏ vui mừng thô đó. Tâm an định rồi mới có cái vui nhè nhẹ rất vi diệu thầm lặng. Như vậy chúng ta càng tu thì kết quả càng sâu. Giai đoạn đầu được lìa dục, được định nên vui mừng vì đã bước qua một chặng đường, nhưng đó cũng còn trở ngại, là bệnh. Giai đoạn này bỏ được vui thô, được cái vui tế nhị trong định, gọi đó là cái vui của hàng thánh nhân. 4. Tứ thiền Vui cũng là họa hoạn. Vì sao? Vì trong cái thiền bậc nhất, tâm không có động chuyển, bởi nó là vô sự. Nếu có động thì có chuyển, có chuyển là có khổ. Thế nên Tam thiền cho vui là hoạn, muốn dùng cái thiện diệu bỏ cái khổ vui này. Trước bỏ ý lo mừng, trừ khổ vui, gìn giữ tâm niệm thanh tịnh được vào Tứ thiền nhất tâm thanh tịnh không khổ không vui. Cho nên Phật nói: “Gìn giữ rất thanh tịnh gọi là đệ tứ thiền.” Bởi vì đệ tam thiền bị cái vui làm xao động nên gọi là khổ. Đệ tứ thiền diệt trừ khổ vui gọi là chỗ không xao động. Chúng ta thấy từng bước tu tiến trong thiền định. Bỏ hết ba tầng thiền trên, đến Tứ thiền, danh từ chuyên môn gọi là Xả niệm thanh tịnh. Xả niệm tức là bỏ hết những niệm vui vi diệu trước. Còn vui là còn động, vui là đối với khổ, vẫn còn xao động vi tế. Tứ thiền bỏ tất cả vui, không còn khổ vui đối đãi, tâm được thanh tịnh. Chúng ta có tu mới thấy rõ điều này. Trên phương diện đối đãi ai cũng sợ khổ cầu vui, ai cũng mong hết khổ được vui. Nhưng còn vui thì còn khổ. Như khi mình nghèo túng được người cho một hai triệu đồng, được số tiền lớn nên rất vui. Qua thời gian xài hết tiền trở lại nghèo túng thì sao? Khổ như cũ. Bởi có vui nên có khổ, nếu không có vui thì không có khổ. Người tu đến chỗ cứu cánh Tứ thiền không còn vui khổ đối đãi, gọi là Xả niệm thanh tịnh. Phật dạy, từ Sơ thiền đến Tứ thiền vẫn còn trong phàm phu thiền chưa giải thoát sanh tử, vì tất cả ngoại đạo cũng tu chứng được. Nếu hài lòng cho rằng tu đến Tứ thiền là giải thoát, đó là sai lầm. Điểm đặc biệt trong đường lối tu của chúng ta, như tôi dạy tăng ni Phật tử vừa dấy niệm nghĩ gì liền buông bỏ, đó gọi là xả niệm, đi thẳng vào bậc thứ tư. Tất cả những niệm khởi, dù vui buồn đều bỏ hết để tâm thanh tịnh. Đến chỗ này vẫn còn là phàm phu chưa phải cứu cánh; phải nhận được chỗ chưa bao giờ sanh chưa bao giờ diệt mới bước vào đường thánh. Hiểu được chỗ này mới thấy lối tu của chúng ta rất sâu, rất vi diệu, không đơn giản. II- TỨ KHÔNG Pháp tọa thiền theo thứ bậc từ thấp đến cao có chia ra Tứ thiền, Tứ định, cộng chung lại là Tứ thiền bát định. Tứ không này thuộc về Tứ định. 1. Không vô biên xứ Quán Không xứ phá cái tưởng hữu sắc trong và ngoài. Diệt cái tưởng hữu đối, không nghĩ tưởng các thứ hình sắc. Quán Không vô biên xứ là xét hình sắc là lỗi lầm, nghĩ tưởng cái định Không xứ là công đức thượng diệu. Tập nghĩ tưởng pháp này dần dần được định Không xứ. Quán Không xứ này, đây chỉ nói tổng quát, trong chỗ tu dạy rất kỹ. Tất cả những gì có hình sắc đều là tướng duyên hợp vô thường, nếu bám vào hình sắc để tu cũng là vô thường sanh diệt. Vì thế quán Không để bỏ hết hình tướng, tâm rộng lớn thênh thang. Quán Không có hai cách: Một, quán Không trong thân. Hai, quán Không ở bên ngoài. Quán Không trong thân: Trong cơ thể chúng ta có những khoảng không. Như lỗ mũi có khoảng trống để hít thở, cổ họng có khoảng trống để nuốt thức ăn, da thịt gân xương cũng có hư không để bài tiết mồ hôi, để máu huyết lưu thông... Quán tưởng khoảng không trong cơ thể để thấy hoàn toàn trống không. Quán Không bên ngoài: Từ cái không nhỏ trong cơ thể dần dần quán đến cái không lớn như hư không bằng cái nhà, rồi hư không rộng lớn ra một vùng... đến khi quán hư không trùm hết không còn giới hạn, lúc đó được định Không vô biên xứ. Không vô biên xứ là cái Không không có giới hạn. Đó là định thứ nhất. 2. Thức vô biên xứ Quán Thức xứ là xét cái Không xứ là lỗi lầm, nghĩ tưởng công đức vô lượng của Thức xứ. Tập nghĩ tưởng pháp này dần dần được định Thức xứ. Sự phân biệt tốt xấu hay dở là thức, thức phân biệt đó có sẵn trong người mình, quán thức ấy rộng lớn, lớn dần dần từ một thân này, đầy cả thân này, đầy cả nhà, đầy cả khu vực, đầy cả thế giới, thức trùm hết. Lúc đó thành tựu Thức vô biên xứ. Quán hư không trống rỗng thì không có gì hết, thế nên quán thức trùm khắp. 3. Vô sở hữu xứ Quán Vô sở hữu xứ, xét Thức xứ là lỗi lầm, nghĩ tưởng công đức của Vô sở hữu xứ. Tập nghĩ tưởng pháp này liền được định Vô sở hữu xứ. Nếu còn thấy có thức là còn có phân biệt, nên đến đây sức quán rỗng suốt trùm khắp hết không có giới hạn không nơi chốn, gọi là Vô sở hữu xứ. 4. Phi tưởng phi phi tưởng xứ Quán Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, xét tất cả tưởng là hoạn họa rất nhiều, như bệnh, như ghẻ, còn vô tưởng là chỗ ngu si. Thế nên Phi hữu tưởng phi vô tưởng là chỗ tốt an ổn bậc nhất. Xét lỗi lầm của Vô sở hữu xứ, nghĩ công đức Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Tập nghĩ pháp này liền được định Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Quán phi tưởng phi phi tưởng xứ này là quán không có tưởng, cũng không có không tưởng. Xét tất cả tưởng là họa hoạn, vì tưởng là sanh diệt nên là bệnh, là ghẻ; nếu không tưởng thì không biết, không biết thì ngu si. Ở đây quán không phải có tưởng mà cũng không phải không tưởng, tức là cái tưởng vi tế, là chỗ an ổn bậc nhất. Xét được như vậy, quán được như vậy thành công gọi là định Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Chúng ta thấy rằng tu từ Sơ thiền đến Tứ thiền đã là cao rồi, đến Tứ không này càng cao sâu hơn nữa. Phật nói người tu thiền nếu chỉ tu năm giới và các điều lành chút ít thì chết được sanh về cõi người. Nếu tu thập thiện trọn vẹn khi chết được sanh về cõi trời Dục giới. Ở đó thỏa mãn những gì người ta ham muốn, muốn ăn có ăn muốn mặc có mặc, muốn gì có nấy đều như ý. Như vậy ở thế gian tu ngũ giới được trở về thế gian, tức là trên hành tinh này; nếu tốt hơn tu thập thiện thì được sanh cõi cao hơn, có thể là hành tinh nào đẹp hơn hành tinh này. Ngày xưa tôi không thể hiểu khi nghe kinh nói ở cõi trời Dục giới một ngày một đêm bằng mấy trăm năm của cõi này. Bây giờ hiểu rằng trong vũ trụ có rất nhiều hành tinh lớn nhỏ khác nhau, hành tinh nhỏ thì quay nhanh, một ngày đêm qua mau, hành tinh lớn bằng mười lần, hai chục lần, trăm lần thì quay chậm hơn. Hành tinh càng lớn thì ngày đêm càng xa, càng dài. Nên nói cõi trời Đao-lợi một ngày đêm bằng trăm năm của chúng ta. Hiểu như vậy không có gì nghi. Người tu thiền sanh nơi đâu? Nếu từ Sơ thiền, Nhị thiền... sanh về cõi trời Sắc giới, tuổi thọ cao hơn bao nhiêu lần cõi Dục giới. Được định Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì sanh về cõi Vô sắc giới. Những cõi này không có hình tướng, rất tế nhị, chúng sanh chỉ có tâm thức sống lâu vô hạn. Như hiện nay các nhà khoa học tìm hiểu, thấy thế giới chúng ta có loài người sống phù hợp với điều kiện loài người, còn có những thế giới chúng sanh ở đó sống theo điều kiện ở đó. Trong kinh cũng nói có những cõi trời tự hóa sanh, không có ái dục như thế gian. Tứ thiền bát định đã ra khỏi ái dục, tâm thức càng lúc càng lắng sâu trong định nên cảnh giới càng tế nhị không giống cõi người. Nhưng các cõi Sắc và Vô sắc tuy thâm sâu vi diệu vẫn chưa ra khỏi luân hồi. Tứ thiền bát định đối với nhà Phật còn thuộc về phàm phu ngoại đạo. Đức Phật của chúng ta thời còn học đạo, ngài đã đắc định Phi tưởng phi phi tưởng mà vẫn chưa hài lòng, vì thấy chưa đến giác ngộ giải thoát. Vì thế ngài bỏ đi, tự tu một mình. Người tu thiền theo Phật có áp dụng Tứ thiền nhưng không áp dụng Tứ không. Nếu sanh về Không vô biên xứ hay Thức vô biên xứ... chỉ còn cái mờ mịt rỗng không, không thức tỉnh để tu tiến, cứ chìm đắm trong đó vô ích. Ai cũng muốn sống lâu nhưng sống lâu mà không lợi ích gì cũng đâm chán. Như sanh lên các cõi trời, hưởng dục lạc một mạch, hết tuổi thọ rồi rơi xuống, thời gian dài ở cõi trời cũng vô ích. Các cõi khác ở lâu vô số càng vô ích hơn. Phật không khuyến khích chúng ta tu để hưởng phước cõi trời, ngài dạy chúng ta tu làm sao ngay đời này tỉnh đừng mê, nếu có tái sanh thì cũng ở cõi người dễ tu. Gia đình luôn hạnh phúc toại nguyện, muốn gì được nấy thì dễ tu hay khó? Chỉ có gia đình nào gặp nhiều tai ương hoạn nạn mới dễ thức tỉnh, lo tu để thoát khổ. Chúng ta không nên sợ cõi Ta-bà nhiều tai nạn khó khăn, chính đây là cơ hội để tu, cơ hội để phát khởi tâm Từ làm lợi ích chúng sanh. Phải hiểu hạnh phúc đích thực không nằm ở chỗ thỏa mãn vật chất thế gian, hạnh phúc chỉ có khi tâm chúng ta an lành tự tại. Phật dạy tu là để đi đến chỗ giải thoát sanh tử, đạt được chân lý cứu cánh, không phải tu để cầu sanh ở những cõi trời sung sướng tuổi thọ lâu dài. Đó là nói về Tứ thiền, Tứ không. III- TỨ VÔ LƯỢNG TÂM 1. Từ vô lượng tâm Hoặc có hành giả trước tiến từ sơ địa dần dần đến thượng địa. Lại ở thượng địa tập hành Từ tâm để trước tự vui và phá cái độc nóng giận, sau Từ tâm lan dần đến mười phương vô lượng chúng sanh. Khi ấy liền được Từ tâm tam-muội. Khi tu tiến từ Sơ thiền đến Tứ thiền, tâm an định lặng lẽ rồi, phải tập quán lòng Từ để làm lợi ích chúng sanh, lòng Từ trùm khắp không tính kể gọi là Từ vô lượng tâm. Thực hành pháp quán này, trước nghĩ đến người thân gần gũi nhất, dần dần đến người chung quanh rồi đến tất cả chúng sanh. Bắt đầu khi tự mình có niềm vui, liền quán tưởng niềm vui này đến cha mẹ anh em..., nghĩ tưởng sự an lạc chia sớt cho người thân. Quán luôn như vậy, thuần thục hoàn toàn là tâm mình đã mở rộng một chút. Dần dần quán tưởng lòng từ bi an vui đến bà con xa, chú bác cô dì... những người này cũng hưởng sự từ bi mát mẻ như mình. Xa hơn nữa, quán đến những chúng sanh không thân, rồi đến những người thù ghét mình. Luôn luôn bủa lòng từ bình đẳng không tức giận đố kỵ ganh ghét bất cứ ai. Quán chúng sanh trong một cõi nước này cũng được thấm nhuần từ bi mát mẻ an vui, rồi quán khắp thế giới, khắp cả muôn loài cùng được an vui. Luôn luôn an định trong tâm từ, không một chút nào khởi sân giận, lòng từ bủa khắp mênh mông, đó là được thành tựu Từ vô lượng tâm. Như hôm nào chúng ta tọa thiền được an lạc nhẹ nhàng, lúc ấy tưởng nhớ tất cả chúng sanh đều được an lạc nhẹ nhàng như mình. Quán tưởng cái vui chan rải khắp hết, không có người nào mình giận ghét. Không có ghét mà chỉ có thương tất cả, thương tất cả thì có gì giận hờn, có gì phiền não. Từ chỗ thương tất cả đó tâm chúng ta được định trùm khắp, đó là Từ tam-muội. 2. Bi vô lượng tâm Bi tâm là thương xót nỗi khổ của chúng sanh, hay tự phá các thứ não hại, rộng đến vô lượng chúng sanh. Khi ấy liền được Bi tâm tam-muội. Lòng từ là ban vui, lòng bi là cứu khổ. Quán từ là đem cái vui của mình chia sớt cho mọi người, quán bi là nhớ những nỗi khổ của thân nhân mình, của người xa lạ, cho đến tất cả chúng sanh, ai có cái khổ gì mình cũng muốn cho họ đều được qua, được hết khổ. Quán Bi tam-muội cũng bắt đầu từ người gần đến người xa, từ một số ít đến trùm khắp vô lượng. Khi tâm yên định, chúng ta nghĩ tới nỗi khổ của chúng sanh, mong ước cho họ qua hết những cái khổ đó. Lâu dần thuần thục, tâm bi trải rộng khắp nơi, không bỏ sót một chúng sanh nào. Tâm đầy đủ sức bi vô lượng, đó gọi là được Bi tâm tam-muội. 3. Hỷ vô lượng tâm Hay phá những cái không vui khiến vô lượng chúng sanh đều được vui mừng. Bấy giờ liền được Hỷ tâm tam-muội. Hỷ tâm tam-muội này là nhớ tất cả chúng sanh mong cho họ đều được vui, phá tan những điều buồn rầu bi thảm. Quán tưởng từ người thân đến sơ, từ số ít đến số nhiều, khiến đều được vui mừng vô lượng, đó là thành tựu Hỷ tâm tam-muội. 4. Xả vô lượng tâm Hay phá những cái khổ vui, thẳng quán mười phương vô lượng chúng sanh. Khi ấy liền được Xả tâm tam-muội. Nhị thiền thì quán phá khổ vui của Từ và Bi, Tam thiền Tứ thiền thì trừ Hỷ. Xả tức là dẹp bỏ, phá hết những khổ vui của tất cả chúng sanh. Chúng sanh dù chẳng bị khổ, chỉ có vui hoàn toàn thì cũng là tâm không thanh tịnh. Vì thế quán Xả vô lượng tâm để dẹp bỏ tất cả khổ vui, tâm thênh thang trùm khắp, không còn dính kẹt bất cứ điều gì. Khi ấy liền được Xả tâm tam-muội, tức là được thiền định. Như vậy, Xả vô lượng tâm trong Tứ vô lượng tâm này phá bỏ tất cả những gì đạt được qua Tứ thiền. Xả đến tận cùng, vô lượng thế giới không còn một mảy may vướng kẹt, đó là thành tựu Xả tâm tam-muội. IV- NGŨ THÔNG Kế đến học ngũ thông, thân bay đi biến hóa tự tại. Hành giả chuyên tâm phát khởi bốn món định như ý túc: Dục định, Tinh tấn định, Nhất tâm định và Tuệ định. Chuyên tâm quán thân tưởng nhẹ nhàng muốn bay đi. Hoặc thấy lớn hoặc thấy nhỏ cả hai đều là hoạn, phải tinh tấn chuyên cần thường nhất tâm quán nhẹ nhàng. Người xuống nước nổi là do tâm lực mạnh, khỉ vượn do tâm lực mạnh nên từ trên cao rơi xuống mà không đau nhức. Hành giả cũng như thế, do sức của dục, tinh tấn, nhất tâm, tuệ quá mạnh, mà thân nhỏ nên vận hành được. Lại quán phần không trong thân, thường tập quán không, do sức của dục, tinh tấn, nhất tâm, tuệ quá mạnh nên cất mình lên được. Ví như gió to hay cất vật nặng bay đi xa. Hành giả cũng như vậy, ban đầu thử tập bay khỏi đất chừng một hai thước, dần dần bay cao đến mười thước, trở về chỗ cũ như thường. Như chim con tập bay, hài đồng tập đi. Suy nghĩ tự xét biết, nếu tâm lực mạnh thì bay được xa. Phải học quán tứ đại, bỏ địa đại chỉ quán thủy, hỏa, phong, tâm niệm không tán loạn liền được tự tại, thân nhẹ nhàng bay đi như chim. Lại phải học tập, xa khởi tưởng gần, thế là chỗ gần diệt đến chỗ xa. Lại hay khiến các vật biến hóa. Như cây chỉ quán địa đại, bỏ ba đại kia thì cây biến thành đất. Vì sao? Bởi vì trong cây đã có phần địa đại. Cây biến thành nước, lửa, gió, không, vàng, bạc v.v... đều như vậy cả. Tại sao? Vì trong cây có các phần kia vậy. Đó là thần thông căn bản ban đầu. Đây muốn nói về ý nghĩa mạnh mẽ của tâm. Danh từ nhà Phật gọi Tứ như ý túc là Dục như ý túc, Tinh tấn như ý túc, Nhất tâm như ý túc, Tuệ như ý túc. Khi chuyên tâm phát khởi vào bốn thứ này được đầy đủ như ý mình, gọi là được bốn món định như ý. Người tu Phật phải diệt dục, tại sao trong Tứ như ý túc, thứ nhất là Dục như ý túc? Chúng ta phải hiểu ý nghĩa này. Chữ diệt dục là diệt tham dục, còn Dục như ý túc là làm việc gì phải có tâm mong muốn làm bước đầu để đạt được thành công. Mong muốn được thành công như ý gọi là Dục như ý túc, kế đó phải nỗ lực cố gắng tức là Tinh tấn như ý túc. Cố gắng mà phải chuyên nhất tức là Nhất tâm như ý túc. Được chuyên nhất rồi thì được trí tuệ sáng rực đó là Tuệ như ý túc. Pháp quán ở đây là do chúng ta dùng tâm tưởng. Như trong thân chúng ta do các đại hòa hợp. Người tu thiền này áp dụng pháp quán nỗ lực chuyên cần để được thần thông tự tại. Muốn vận dụng một phần nhẹ của thân thì quán về không đại, bỏ tất cả tưởng về đất, nước, gió, lửa. Hoặc quán về gió mà không quán về lửa, nước, đất... Tâm mình tưởng cái gì thì cái đó hiện ra mạnh mẽ. Tâm lực mạnh nên có thể điều khiển thân nhẹ nhàng bay như chim. Cũng có thể khiến các vật biến hóa, như ngày xưa mấy ông tiên tu biến đất thành vàng. Tại sao? Vì các ông có cái tưởng đặc biệt. Trong đất có chất vàng, khi tưởng bỏ tất cả các chất khác, chỉ tưởng chất vàng riết nó thành vàng. Như ở đây nói, có thể tưởng cây biến thành nước, lửa, gió hay là hư không hoặc vàng hoặc bạc... vì trong cây có đủ các chất. Người tu tập chỉ quán tưởng chất này, bỏ các chất kia thì lâu dần chất này hiện tiền. Như vậy dùng sức tưởng để tập thần thông chứ không có gì lạ. Hiện nay người ta không cần tưởng cũng có thể bay đi được. Ngồi ở đây mà có thể nói chuyện cách nửa vòng trái đất, ngồi đây mà thấy bên kia có đá banh. Chúng ta có nhiều thần thông không cần tập. Chỉ cần tu tập cho tâm an định, trí tuệ sáng suốt, đó là điều cần thiết. Tứ thiền có mười bốn thứ tâm biến hóa: Sơ thiền có hai: 1- Sơ thiền, 2- Dục giới. Nhị thiền có ba: 1- Nhị thiền, 2- Sơ thiền, 3- Dục giới. Tam thiền có bốn: 1- Tam thiền, 2- Nhị thiền, 3- Sơ thiền, 4- Dục giới. Tứ thiền có năm: 1- Tứ thiền, 2- Tam thiền, 3- Nhị thiền, 4- Sơ thiền, 5- Dục giới. Còn các thứ thần thông khác như trong luận Ma-ha-diễn có nói rõ. Những người tu đạt được từ Sơ thiền đến Tứ thiển đều có thần thông biến hóa. Chúng ta thấy rằng, khi tu nếu vận dụng tâm chuyên nghĩ tưởng đến điều gì, thật nhiều thật kỹ, tâm sẽ có sức mạnh vô lượng biến hóa như ý mình. Bình thường chúng ta đặt nặng về thân, thân đòi cái này thân thích cái kia. Thân là cái bị sai sử, bị lệ thuộc vào tâm, chúng ta lại quên, cho nó là chủ. Người khéo tu phải nhận được tâm là chủ tạo tội tạo phước. Hành động của thân, lời nói của miệng đều từ tâm phát ra. Chúng ta phải tu ngay từ gốc, ứng dụng được gốc, ngọn sẽ tốt; nếu chỉ lo tu phần ngọn, kết quả không được như ý. Nhân vấn đề này, tôi giải nghi cho một số Phật tử. Nhiều người cho rằng tu theo Phật là phải ăn chay, nhưng thấy các sư Nguyên thủy không ăn chay, vậy là sao? Chúng ta có cái lầm lẫn hơi cực đoan nên đâm ra cố chấp. Có những người ăn chay được thời gian rất lâu, đến nhà bạn bè đãi cơm thì tỏ vẻ khó chịu, cầm chén đũa ngửi chê tanh không ăn được. Như vậy cũng còn chấp hình tướng mùi vị. Mục đích ăn chay là để tránh tội sát sanh, không phải để chúng ta cho đó là việc đáng tự hào. Thời Phật tại thế, ngài và chúng tăng đi khất thực, gặp người cúng thức ăn gì thì ăn thức đó, không thể chọn lựa. Nếu cho rằng Phật dạy cố định ăn chay hay ăn mặn, đều là chủ quan. Dùng thức ăn để tạm nuôi thân giả dối tạm bợ mấy chục năm này, điều quan trọng là trí tuệ giác ngộ. Trí tuệ là tâm, là gốc của tu tập. Trong khi tu, tâm chúng ta còn tham sân si hay không? Có sửa đổi được những tập khí xấu dở không? Có nuôi dưỡng và tăng thêm điều lành, tâm dần thuần thục thanh tịnh không? Đó là chủ yếu, là trọng tâm của người tu. Ăn chay hay ăn mặn không phải là cốt yếu. Sở dĩ chư tăng Bắc tông ăn chay vì khi Phật giáo truyền sang Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Đại Hàn..., các nước này không có truyền thống khất thực. Người xuất gia ở chùa phải tự nấu ăn, như thế ăn chay là hợp lẽ. Nhận xét chín chắn rồi chúng ta không bị lệ thuộc vào hình thức chay mặn mà sanh nghi. Kinh Pháp Cú Phật dạy Tâm dẫn đầu các pháp, tâm có sức mạnh điều khiển cả con người và ngoại cảnh. Khi tu khéo định được tâm mình, chuyên nhất tâm mình thì tất cả khó khăn trở ngại chúng ta đều vượt qua. Ví dụ khi chúng ta quán ái dục là bệnh, ái dục là bất tịnh, là vô thường..., quán thuần thục rồi thì mình tự chán sợ ái dục, không bị nó chi phối. Tất cả tật xấu nhờ tu tập chuyên nhất mà dần dần dẹp trừ. Chúng ta có bệnh lười biếng, thích cầu xin lạy Phật cho con qua khổ nạn; sợ mình xin không linh lại nhờ thầy cô xin phụ tiếp. Thầy trò rủ nhau xin Phật mà không chịu tu. Nên nhớ chúng ta là người tu không phải là người xin. Phật giáo là trí tuệ, trí tuệ không thể xin được. Chính người tu Phật phải tự chỉnh sửa mình, chuyển đổi vô minh thành trí tuệ. Vì vô minh nên gây tạo nghiệp dữ, đưa đến kết quả khổ đau. Muốn hết khổ đau thì tu sửa từ gốc. Không chịu tu sửa tâm tánh, cứ tha hồ tạo tội rồi lạy lục cầu xin Phật cho con hết khổ, đó là mê tín không phải trí tuệ. Phật tử rất quý kính Phật, trước khi đi đâu đều đến trước bàn Phật thắp nhang nguyện gia hộ cho đi đường bình an. Nhưng ra ngoài gặp việc lại nổi nóng gây sự với mọi người, như vậy có bình an không? Phật cho bình an được không? Tại sao không nguyện ráng chừa bỏ nóng giận, chừa bỏ nóng giận thì bình an hiện tiền, lẽ thật là như thế. Học chỗ này, nhìn lại lời dạy của chư Phật chư tổ đều muốn chúng ta tu tập, thực hành các pháp thiền quán để cho tâm an định. Tâm an định mạnh mẽ có diệu dụng rộng lớn, không cần cầu xin nơi đâu. V- TỨ NIỆM CHỈ Đệ tử đức Thế Tôn học năm pháp môn, chí chỉ mong đạt được Niết-bàn. Có hai hạng người: Người ưa định nhiều, vì thích khoái lạc. Người ưa trí nhiều, vì sợ khổ hoạn. Người ưa định nhiều trước học pháp thiền, sau học Niết-bàn. Người ưa trí nhiều đi thẳng đến Niết-bàn. Người đi thẳng đến Niết-bàn là chưa đoạn được phiền não cũng chưa đắc thiền, chỉ chuyên tâm không tán loạn thẳng cầu Niết-bàn, vượt qua các thứ phiền não, ái v.v... ấy gọi là Niết-bàn. Đây là mở đầu phần Tứ niệm chỉ. Năm pháp môn trước dạy người lập chí đạt Niết-bàn. Có hai hạng người cầu Niết-bàn: người ưa định nhiều vì thích khoái lạc, người ưa trí nhiều vì sợ khổ hoạn. Tại sao người ưa định nhiều lại thích khoái lạc, người ưa trí nhiều lại sợ khổ hoạn? Vì người tu chuyên tâm để được an định, khi an định rồi có nhiều niềm vui. Như Sơ thiền ly sanh hỷ lạc, Nhị thiền định sanh hỷ lạc, Tam thiền ly hỷ diệu lạc... Vì thế nói người chọn thiền định là mong có niềm vui. Người ưa về trí, tức là dùng trí quán chiếu các pháp đúng như lời Phật dạy. Vì sợ mê lầm rơi vào cảnh khổ, nên dùng trí chiếu phá mê lầm để hết khổ. Bên đây sợ khổ nên dùng trí quán, bên kia giữ tâm an định để được vui. Người ưa định nhiều trước học pháp thiền sau học Niết-bàn. Pháp thiền là để định tâm, như dùng hơi thở tu tập sổ tức, tùy tức, chỉ, quán, hoàn, tịnh... lâu dài thuần thục tâm được an tịnh, sau mới học Niết-bàn. Niết-bàn là buông xả tất cả, không dính mắc các pháp hữu vi, pháp thế tục, tâm không khởi niệm thẳng đến vô sanh. Đó là định được Niết-bàn. Người ưa trí nhiều đi thẳng đến Niết-bàn, tức là người trí thấy rõ các pháp giả dối tạm bợ nên không chấp giữ, không chạy theo, ngay đó được Niết-bàn. Người đi thẳng đến Niết-bàn là chưa đoạn được phiền não cũng chưa đắc thiền, chỉ chuyên tâm không tán loạn thẳng cầu Niết-bàn, vượt qua các thứ phiền não, ái v.v... ấy gọi là Niết-bàn. Người trí đi thẳng đến Niết-bàn, tuy chưa đoạn phiền não, chưa đắc thiền nhưng chuyên tâm không tán loạn, tự nhiên vượt qua phiền não. Đó cũng là Niết-bàn. Chúng ta thấy rõ hai lối tu. Có người tu định sâu, tâm thanh tịnh có những niềm vui, cũng đạt được kết quả mong muốn gần với Niết-bàn. Có người tu tuy tâm chưa định nhưng nhờ trí tuệ quán chiếu, thấy rõ tất cả pháp là hư giả, là bất tịnh..., tự mình xả ly không đa mang, không dính mắc, tự họ thẳng tới Niết-bàn. Tuy chưa sạch phiền não nhưng tâm không tham đắm thế gian, vì thế nói được Niết-bàn. Nói tổng quát như thế, sau đây nói từng phần. 1. Thân niệm chỉ Thân thật vô thường, khổ, bất tịnh, vô ngã mà điên đảo chấp thân là thường, lạc, tịnh, ngã. Do đó cho nên mọi việc đều đắm mến thân, ấy là hạng chúng sanh thấp tột. Hành giả vì muốn phá điên đảo nên tập Tứ niệm chỉ quán. Quán thân có rất nhiều thứ khổ hoạn từ nhân duyên sanh nên vô thường, các thứ não hại nên khổ, thân có ba mươi sáu vật nên bất tịnh, bởi không tự tại nên vô ngã. Tập quán như thế, quán trong thân, quán ngoài thân, quán cả trong và ngoài thân, ấy gọi là Thân niệm chỉ. Phần đầu dạy quán Thân niệm chỉ. Nói chung thân thật vô thường, khổ, bất tịnh, vô ngã mà điên đảo chấp thân là thường lạc tịnh ngã, đó là hạng người thấp nhất. Chúng ta thử xét mình là hạng nào, hạng thấp tột hay thấp vừa? Nếu thấy thân mình sống lâu thường còn, thấy thân mình vui, thấy thân mình sạch sẽ, thấy thân mình thật thì đó là hạng chúng sanh thấp tột. Người nào thấy thân này là thật, cho rằng mang thân này là vui? Giả sử gặp điều buồn không vừa lòng, nhưng nghĩ mai mốt sẽ vui, mong mỏi chờ cái vui, tưởng mình sẽ vui không nói sẽ khổ. Thân này là nhơ nhớp, nhưng có ai dám nói đừng đi gần tôi, tôi nhơ nhớp lắm? Không nói vậy mà khi bị người chê mình hôi dơ còn nổi giận, không ngó mặt người đó. Chúng ta luôn cho mình vui khỏe, sạch sẽ tốt đẹp, không bao giờ chịu thấy mình khổ, dở xấu nhơ nhớp. Thân này không có cái ta thật, chúng ta có chịu nhận không? Nếu bị ai chọc tới thì vỗ ngực xưng tôi xưng ta liền. Người có đủ bốn điều này là chúng sanh thấp nhất. Kiểm tra lại, chúng ta sẽ biết mình thuộc hạng nào. Phải tu thế nào để được làm chúng sanh hạng cao? Trong đây nói, hành giả vì muốn phá điên đảo nên tập Tứ niệm chỉ. Điên đảo là thân vô thường chấp thường, thân nhớp nhúa chấp là tịnh, thân khổ chấp là vui, thân không có ta thật chấp là ta. Phá được bốn thứ chấp lầm này chúng ta là người cao thượng tỉnh giác. Phần thứ nhất nói, quán thân có rất nhiều khổ hoạn. Từ nhân duyên sanh nên vô thường, các thứ não hại nên khổ, thân có ba mươi sáu vật nên bất tịnh, bởi không tự tại nên vô ngã. Người biết tu phải quán chiếu như thế để trừ điên đảo. Điên đảo là lộn ngược, không đúng lẽ thật, như vật gì đúng mà cho là sai, sai mà cho là đúng. Thân này có đủ bốn tính chất vô thường, bất tịnh, khổ, vô ngã, chúng ta đảo ngược lại cho nó là thường tịnh lạc ngã. Đó là hạng chúng sanh thấp nhất, nên tất cả suy nghĩ chấp trước điên đảo. Gốc đã điên đảo rồi, tất cả cái khác đều điên đảo theo. Phải hiểu cho thấu đáo lẽ thật này để không lầm mê. Trước tiên quán thân vô thường. Phật chỉ dạy chúng ta nhận chân được lẽ thật vô thường của thân để trở thành người giác ngộ. Phật giác ngộ viên mãn, chúng ta là đệ tử Phật ít ra cũng phải giác được phần nào. Biết thân này là vô thường không lâu dài, là đã bớt mê lầm, là thấy đúng lẽ thật. Có ai bảo đảm được mạng sống của mình tới đâu không? Ngày nay còn sống, ngày mai chưa chắc. Đức Phật nói mạng người trong hơi thở. Thở ra không hít vào thời gian bao lâu? Thật là quá vô thường. Thấy được như thế là thấy đạo, thấy đúng lẽ thật. Chúng ta quán xét tường tận lẽ thật này gọi là biết tu. Người thấy thân mình vô thường, mạng sống trong hơi thở thì có còn tranh giành hơn thua phải quấy không? Có còn tham danh lợi không? Thân mình mỏng manh quá tham danh lợi làm gì? Không tham thì không sân, không phiền não. Nhờ tỉnh giác nên bớt khổ, bớt chấp đắm vào thân, không suy tính kế lâu dài, sắp đặt đời sống trường thọ, sự nghiệp miên viễn. Quán xét đúng về thân, thấy con người vô thường, thế giới vô thường không phải khiến chúng ta bi quan. Người biết quán xét đúng lẽ thật, có trí tuệ tỉnh giác luôn quán chiếu bản thân mình, không bị tham sân phiền não lôi kéo, luôn nỗ lực tu để thoát khổ, lợi ích rất lớn. Quán thân này là khổ. Tất cả những cảm giác chúng ta lãnh thọ là khổ hay là vui? Phần sau tôi sẽ giải thích kỹ. Đến quán thân bất tịnh. Kinh Phật dạy thân này có ba mươi sáu vật bất tịnh, kể ra gồm các thứ tóc, lông, răng, móng, da, thịt, gân, xương... cái nào cũng hôi dơ. Gần nhất như cái răng, khi còn trong hàm có sạch không? Mỗi ngày đều phải súc miệng đánh răng để không đóng bợn dơ. Khi nhổ răng ra, chúng ta có cầm ngắm hay liệng bỏ? Răng của mình mà đem ra khỏi miệng đã thấy gớm rồi. Mỗi thứ xem xét kỹ không có thứ nào sạch. Da thịt còn lành lặn thì tương đối được, nếu có ghẻ lở ung nhọt máu mủ thì ai cũng gớm. Như thế rõ ràng thân này là túi chứa đựng đồ bất tịnh. Thân nhớp nhúa mà cho là sạch, đó là tưởng tượng sai lầm, vì thế nói là điên đảo. Chúng ta tu phải thấy cái thật ngay bản thân mình, thấy cho tường tận là khéo tu. Thấy tường tận rồi thì mọi tham đắm về thân mình thân người đều không còn. Đức Phật lúc sắp thành đạo, ma vương cho đám mỹ nữ hiện ra trêu ghẹo, ngài bảo: “Đi! Đãy da hôi thối.” Nói theo hiện đại thì thân này như cái bô đậy kín chứa toàn vật dơ, dù bên ngoài sơn vẽ đủ màu cũng không cho là quý được. Biết thân này như cái bô dơ, như đãy da hôi, tất cả niệm tham đắm sắc dục đều không còn. Như trong phòng mình có một cái bô đã thấy gớm rồi, nếu có thêm hai ba cái nữa thì chịu hết nổi. Như vậy còn gì mà tham đắm. Quán xét theo lời Phật dạy không phải trên trí tưởng tượng mà là xét đúng như thật. Lẽ thật đó lâu nay chúng ta không thấy, nó sẵn có như vậy nhưng vì điên đảo mê muội nên lầm chấp quý trọng thân. Thấy được lẽ thật này thì hết điên đảo mê muội, chúng ta đã giác, giác ít hay nhiều mới là người tu Phật. Phật không dạy chúng ta cầu xin, ỷ lại nơi thần quyền. Phật dạy tu là tự tin mình để chuyển đổi. Nếu chúng ta không biết áp dụng lời Phật dạy để tự trị bệnh của mình, cứ mang tâm ỷ lại trông cậy vào Phật, như thế là không hiểu đạo Phật, dù đi chùa nhiều năm cũng không giác ngộ, không dứt trừ phiền não. Điều tôi rất lo cho Phật giáo ngày mai là tăng ni Phật tử không đặt nặng vấn đề tu tập, mà đặt nặng vấn đề cầu xin. Phật giáo là giáo pháp dạy người giác ngộ, tu tập trí tuệ để thấy đúng lẽ thật, sống đúng lẽ thật. Chúng ta không làm đúng lời Phật dạy, không quán sát lẽ thật nơi thân mình, một bề hướng bên ngoài cầu Phật ban phước. Nếu ngài ban phước giáng họa thì chúng sanh đều bình đẳng, giàu thì giàu hết, nghèo thì nghèo hết. Nhưng Phật không tự nhận mình là thần linh có quyền cho người đời cầu xin toại ý. Chúng ta mang danh con Phật mà không hiểu ý Phật, không tự tin, không chuyển sửa được nghiệp của mình. Đây là tai họa lớn, tôi nhắc nhở để tăng ni Phật tử cẩn thận. Tóm lại, người nặng về bệnh ái dục luôn quán thân bất tịnh, chia chẻ từng phần từ đầu đến chân, thấy nó nhơ nhớp rồi tự mình hết bệnh. Đây nói quán trong thân, quán ngoài thân, quán trong và ngoài thân, nghĩa là quán trong thân mình có ba mươi sáu vật nhơ nhớp, quán thân người cũng có ba mươi sáu vật nhơ nhớp, biết thân mình tột cùng như vậy, thân người cũng vậy, xét tới xét lui tâm nhiễm ái không còn, đó là đặc biệt tự trị. Tu Phật là dùng thuốc để trị tâm bệnh sai lầm, không luyến ái thân mình thân người. Pháp quán thân này nên tin hiểu tường tận và tu tập lâu bền, dứt được nhiều gốc khổ. 2. Thọ niệm chỉ Phần thứ nhất quán thân đã xong, dứt trừ sự đắm mến thân, đến phần thứ hai quán thọ để dứt trừ sự đắm mến về cảm thọ. Thọ là những cảm giác của chúng ta đối với sáu trần bên ngoài, cảm giác vui, cảm giác khổ, cảm giác không vui không khổ. Thật tướng của thân là thế, tại sao lại khởi điên đảo đắm mến thân này? Chín chắn suy xét cái thọ vui là do yêu thích quá mạnh khởi chấp, thật sự không có gì là vui. Tại sao không vui? Vì nhân ăn mặc nên vui, nhưng vui qua thì khổ đến, không phải thật là vui. Cảm thọ của thân không có gì thật là vui, chỉ vì thỏa mãn sự bức bách đòi hỏi của nó mà vui. Như chúng ta đi đâu xa không đem theo lương thực, khi bao tử trống đói, lúc đó là vui hay khổ? Vì đói quá nên khó chịu. Nếu được cho một chén cơm, một khúc bánh mỳ, chúng ta nhai ngấu nghiến rồi khỏe lên. Như vậy có phải là cái vui thật không? Bình thường lúc bụng no, có bánh mì, cơm ăn... chúng ta không thấy vui như lúc đói được ăn. Vui qua rồi thì sao? Vui rồi cũng hết. Giả sử ai đó được người mời đến tửu lầu dự tiệc tùng no nê, lúc ăn tiệc thì vui, nhưng hôm sau không đi tiêu được thì vui hay khổ? Khi đem vô thì vui, cho ra không được thì khổ, không có gì thật vui hết. Khổ và vui đắp đổi nhau mà chúng ta cho đó là vui. Nên đây nói: Tại sao không vui? Vì nhân ăn mặc nên vui, nhưng khi vui qua thì khổ đến, không phải thật là vui. Xét kỹ chúng ta thấy cảm thọ là giả tạm. Như bị ghẻ hành đau nhức là khổ, lấy thuốc xoa hết đau là vui. Chúng ta có thân bị ghẻ hành đau nhức thì khổ, khi có thuốc xoa vào hết nhức gọi đó là vui. Như vậy cái vui có thật không? Chỉ là bớt khổ tạm vui không có gì quan trọng. Do cái khổ lớn qua còn cái khổ nhỏ là vui, không phải thật vui. Lại nữa cái khổ cũ là khổ, cái khổ mới là vui, như người gánh vai này nặng đổi qua vai khác mới vừa nặng là vui, không phải thật thường vui. Như tánh lửa là nóng không có khi tạm lạnh, nếu là thật vui chẳng nên có không vui. Cái khổ lớn qua còn cái khổ nhỏ, lúc đó mình cho là vui. Ví dụ người bệnh đang đau bụng nhào lăn, có thuốc cho uống vào hết hành, hết nhào lăn nhưng còn đau âm ỷ ở trong. Tuy còn đau nhưng không hành nặng như ban đầu, lúc đó gọi là vui. Cũng như người gánh nặng đi đường, vai này nặng quá trĩu xệ xuống, đổi qua vai khác vừa chớm nặng thì thấy còn vui. Cũng là gánh nặng đó nhưng đổi vai này qua vai kia. Khi mới đổi thấy dễ chịu là vui, mình tưởng có cái vui thật, nhưng rốt cuộc không có. Như lửa nóng thì cứ nóng hoài, nếu vui có thật thì không có khi nào không vui. - Khi thấy việc ấy là nhân duyên vui mà chưa hẳn là vui. Vì có khi là nhân vui, có khi là nhân khổ. Nếu thích hợp với tâm yêu thích là vui, nếu hợp với tâm giận tức là khổ, nếu hợp với tâm mê muội thì không khổ không vui. Lấy đó mà suy thì biết chắc có vui và không vui? Đây đặt câu hỏi: Ông nói rằng không có cái vui thật, nhưng tôi cho rằng cái gì thích hợp với tâm mình thì vui, cái gì ngược với tâm mình thì khổ. Giờ đây có cái thích hợp thì phải nói là vui thật, có cái trái ngược hẳn thì phải có khổ thật. Lập luận như vậy để chứng tỏ thật có lạc thọ, khổ thọ. - Không phải thế. Như dâm dục cũng không phải là vui. Tại sao? Vì nếu dâm dục tự thành thì không cần tìm nữ sắc, đã tìm nữ sắc tất nhiên là khổ. Nếu dâm là vui thì phải không có khi chán, mà đã có lúc chán tức không phải là vui. Bởi trong cái khổ lớn được cái khổ nhỏ cho là vui. Như người bị tội tử hình, được ân xá tử hình chỉ phạt đòn cho là vui. Lửa dục tâm thiêu đốt quá khổ nên hành dâm cho là vui. Nhưng khi tuổi già chán dục, thì biết dục không phải là vui. Nếu thật vui lẽ ra không có khi chán. Các nhân duyên như thế, biết thật tướng của dục lạc không thể được, khi hết vui thì sẽ khổ, Phật dạy: “Cái vui tột nên quán là khổ, cái khổ tột nên quán là vui, như tên bắn vào thân, cái không khổ không vui nên quán sanh diệt vô thường.” Dẫn lời Phật dạy để giải thích rõ, Cái vui tột nên quán là khổ, cái khổ tột nên quán là vui... Tại sao? Gần nhất, như trong khi bụng đói thèm ăn mà được đãi một bữa cơm thịnh soạn đủ cao lương mỹ vị, vì đói nên ăn quá no, khi ăn rất vui, càng ăn càng thấy vui, nhưng lỡ ăn quá no thì sau đó khổ. Bụng ấm ách, đi đứng không được. Như vậy cái vui tột là khổ, không có vui thật. Chưa được là khổ, được nhiều quá cũng khổ. Cái khổ tột nên quán là vui. Khi bị cảnh khổ sở cùng cực thì nên biết rõ, cái khổ sở cùng cực đó rồi sẽ qua. Qua hết là vui, không còn hoài còn mãi. Như lúc bị mũi tên bắn vào thân, đó là khổ tột. Nhưng chưa cùng tột, lúc được mổ lấy mũi tên ra là khổ tột. Mũi tên lấy ra được rồi thì nhẹ nhàng hết khổ. Phật dạy nên quán cái khổ tột là vui, hết khổ được vui, còn cái vui tột cũng là khổ. Như vậy thì có nên ham vui sợ khổ không? Vui không thật có gì mà ham, khổ không thật rồi cũng qua có gì mà phải sợ. Tâm lý chúng sanh thích vui sợ khổ nên Phật dạy pháp đối trị. Đối với thọ khổ thọ vui nên quán như thế, còn đối với cảm thọ bình thường không khổ không vui nên quán tất cả đều sanh diệt biến đổi vô thường. Như vậy khổ vui đều không thật, không khổ không vui cũng thay đổi vô thường không thật, sống trên đời này chúng ta còn tìm kiếm gì? Tìm vui mà vui không thật, gặp khổ cũng không thật, không khổ không vui cũng không thật. Ba cảm thọ này rốt cuộc không quan trọng, không đáng để bận tâm tìm cầu thích thú hay chán ghét. Ba trường hợp này chúng ta đều quán xét thật kỹ, không bị cảm thọ chi phối, không lầm lẫn cho nó thật có, không chạy theo cảm thọ sanh yêu ghét. 3. Tâm niệm chỉ Phải biết tâm thọ khổ lạc, thọ không khổ không lạc. Thế nào là tâm? Tâm ấy vô thường từ nhân duyên sanh, sanh diệt không dừng tương tự như có, bởi vì điên đảo cho nó là một, kỳ thật xưa không nay có, đã có trở lại không, thế nên vô thường. Quán biết tâm là không. Thế nào là không? Từ nhân duyên sanh nên có mắt, có cảnh thấy biết được. Do sự muốn thấy hòa hợp với các nhân duyên ấy, sanh ra cái biết của mắt. Như hạt châu Nhật Ái, có châu, có mặt trời và bổi, các duyên hòa hợp sanh ra lửa. Tìm từng nhân duyên một không thể thấy lửa, nhưng hợp các duyên lại thì có lửa. Cái biết của mắt cũng thế, không phải ở trong con mắt, không phải ở ngoài cảnh, cũng không phải ở giữa chừng con mắt và cảnh, không có chỗ ở mà cũng không phải là không. Phần thứ ba, tu tập Tâm niệm chỉ, tức là quán tâm vô thường, tâm là không. Tâm là cái biết cảm thọ vui, cảm thọ khổ, cảm thọ không khổ không vui. Tất cả cái biết ấy là tâm, tâm ấy vô thường từ nhân duyên sanh, sanh diệt không dừng tương tự như có, vì điên đảo nên chúng ta lầm cho nó là tâm duy nhất, kỳ thật xưa không nay có, đã có trở lại không, thế nên vô thường. Chúng ta tưởng rằng cảm giác của mình là thật, khổ thật khổ, vui thật vui, vì thế ai cũng sợ khổ, thích vui. Nhưng cái vui cái khổ có thật không? Nếu cảm giác khổ là thật thì chắc khổ suốt đời, cảm giác vui là thật thì chắc vui suốt đời. Đây Phật dạy tâm biết khổ vui ấy là vô thường tùy duyên. Khi gặp việc xúc chạm ta thấy nó là vui, hoặc thấy nó là khổ. Cái vui cái khổ đó khi duyên hợp thì có, duyên ly tán thì không, có thật đâu. Vui khổ không thật, tâm biết vui khổ không thật tùy duyên mà có, tùy duyên mà mất, tâm này vô thường tạm bợ không chắc thật lâu bền. Như người thích đi xem hát, khi được tới rạp hát lúc đó rất vui. Nhưng lúc mãn hát đi về còn vui không? Hết duyên thì hết vui. Quán xét cái vui như thế, cái khổ cũng vậy. Từ mắt tai mũi lưỡi thân của chúng ta xúc chạm sanh ra vui khổ chút thôi rồi qua, qua là hết. Vui khổ không thật, tâm biết vui khổ cũng vô thường. Người không biết, tham đắm đến say ghiền vì cứ ngỡ nó là thật. Chúng ta phải quán tất cả tâm vui khổ chỉ là tạm bợ vô thường, tạm có điên đảo theo duyên. Pháp quán này gần với pháp môn tri vọng. Kế đến quán tâm khổ vui là không. Thế nào là không? Từ nhân duyên sanh nên có mắt có cảnh thấy biết được. Như khi nhìn bình hoa, cảnh ở ngoài có bình hoa, nơi thân có con mắt. Mắt đối chiếu với cảnh từ đó sanh phân biệt đẹp xấu. Đẹp thì vui, xấu thì ghét. Ghét thì khổ. Cái vui khi nhìn thấy bình hoa không phải tự có mà phải đợi ba điều kiện. Một là có bình hoa, hai là có con mắt, ba là bình hoa đẹp. Cái vui này không có thật, đủ duyên thì vui, hết duyên thì mất. Quán xét rõ ràng như thế biết rằng tâm cảnh đối nhau mới có cảm thọ, tâm cảm thọ ấy vốn là không, nếu thật có thì không đợi nhân duyên. Biết rõ cảm thọ từ nhân duyên sanh không thật nên không lầm chấp đắm mến. Trong đây dùng ví dụ như có hạt châu Nhật Ái, hay là kính lấy lửa, kế đó có bổi, ánh nắng mặt trời, ba cái hòa hợp, bổi sẽ cháy. Xưa người ta lấy lửa như vậy. Lửa đó có thật không? Tìm trong mặt trời, trong kính, trong bổi không có lửa. Đợi duyên mới có thì đâu có thật. Cũng như vậy, cái vui cái khổ đến với chúng ta là đủ duyên mới có, không duyên không có. Tâm biết vui biết khổ là thật có hay không thật có? Tâm duyên theo cảnh, cảnh vô thường, khổ vui vô thường, tâm cũng vô thường. Chủ yếu pháp quán thứ ba dạy chúng ta biết tâm vô thường để không lầm chấp, không quan trọng tâm cảm thọ. Thế nên Phật dạy: “Tâm như huyễn như hóa, tâm hiện tại quán tâm quá khứ hoặc khổ hoặc vui hoặc không khổ không vui, mỗi tâm đều khác, mỗi tâm tự diệt. Tâm có dục, tâm không dục cũng như thế, mỗi tâm đều khác, mỗi tâm tự diệt. Quán nội tâm, ngoại tâm, cả nội ngoại tâm cũng như thế, ấy gọi là Tâm niệm chỉ.” Phật dạy chúng ta tâm khổ tâm vui đó như huyễn như hóa không có thật. Bởi sao? Tâm hiện tại quán tâm quá khứ hoặc khổ hoặc vui hoặc không khổ không vui, mỗi tâm đều khác mỗi tâm tự diệt. Như buổi sáng chúng ta gặp cảnh vui hoặc khổ, khi ngồi xét lại, tâm nhận vui biết khổ đó bây giờ đã qua rồi. Tâm vui khi sáng mất, tâm khổ khi sáng cũng mất, nếu còn chỉ là dư âm thôi, thực tế không còn tâm như buổi sáng đã nghĩ. Tâm trước tâm sau luôn luôn đổi thay, luôn luôn khác. Tâm tham muốn hay tâm không tham muốn…, mỗi tâm mỗi khác. Quán tâm mình tự sanh tự diệt, quán tâm người tự sanh tự diệt không có thật, như vậy chúng ta không chấp tâm. Người lầm chấp tâm thật có thì dễ bị gạt. Khi gặp người làm mình vui, cho người đó là dễ thương nên nhớ hoài. Gặp người làm mình khổ, cho là dễ ghét nên thù giận. Cái vui cái khổ đã qua mất rồi mà cứ ôm tâm nhớ, ôm tâm thù ghét có đúng chân lý không? Người biết tu, biết quán xét thì cái gì qua cứ cho qua, mọi việc qua rồi tốt hết, không có gì phải bận lòng. Nếu cho rằng người dễ thương hay dễ ghét là thật, tâm ôm giữ tìm cầu hoặc giận tức, đó là chúng ta đang ôm giữ những cái bóng thừa trong tâm. Vì giữ quá nhiều hình ảnh nên kết thành nghiệp, thương người nào nhiều kết lại thành nghiệp ái, ghét giận người nào nhiều kết thành nghiệp oán. Có ái có oán nên sau khi chết nghiệp dẫn đi tìm ai? Tìm người mình thương đến kết thân, tìm người ghét trả thù, sanh tử không dừng. Biết đó là giả, không bận tâm không chất chứa thương ghét trong lòng, dù không tu mà suốt ngày thảnh thơi, tự nhiên hết khổ. Hiểu được như vậy rất dễ tu. Quán tâm vui tâm khổ đều vô thường hư giả không thật, chúng ta không chấp giữ nên an lạc tự tại. Người nào cố giữ cố chấp tâm hư giả thì khổ suốt đời, trầm luân sanh tử không biết chừng nào dứt. Người tu phải làm sao? Phải loại bỏ những bóng dáng tích lũy kết nghiệp ấy. Ai có lỡ chửi mình hôm qua, nhớ chửi cũng giả dối không quan trọng, mình bỏ qua, sau gặp lại người đó vẫn cười. Hiện tại chúng ta không tích chứa thành nghiệp oán thù, như vậy hết sức nhẹ nhàng. Hiểu lời Phật dạy, áp dụng pháp quán tâm niệm chỉ, chúng ta giải tỏa những nghiệp khổ đời này và những đời sau. 4. Pháp niệm chỉ Quán tâm thuộc về cái gì. Quán tưởng tượng suy xét, nhớ nghĩ, mong muốn v.v... các thứ tâm sở tương ưng và không tương ưng, tìm thật kỹ coi cái gì là chủ. Cùng tột không thể có chủ. Tại sao? Vì từ nhân duyên sanh nên vô thường, vô thường nên khổ, khổ nên không tự tại, không tự tại nên không chủ, không chủ nên không. Phần thứ tư là quán Pháp niệm chỉ, theo danh từ ngày xưa gọi là quán pháp vô ngã. Pháp có hai phần, tâm pháp và sắc pháp. Quán pháp vô ngã là quán tâm pháp vô ngã, quán sắc pháp hay sắc thân này vô ngã. Vô ngã tức là không có chủ. Đây dạy rõ, chúng ta quán xét tất cả các tưởng tượng, suy tư, nhớ nghĩ, mong muốn... các thứ tâm sở tương ưng và không tương ưng, tìm thật kỹ trong đó cái gì là chủ, tìm cho cùng tột không thể có chủ. Đó là quán về tâm pháp. Các thứ tâm buồn thương giận ghét... có chủ không? Nó dấy lên rồi mất, không có thật thể. Đang buồn rồi giận, đang giận rồi ghét, đang ghét rồi thương, đổi thay luôn luôn. Từ sáng tới chiều chúng ta có một tâm duy nhất hay nhiều tâm? Nếu đổi thay luôn luôn thì tâm nào là chủ? Tâm vui là chủ hay tâm buồn là chủ, tâm giận ghét là chủ hay tâm thương yêu là chủ? Xét kỹ, không tâm nào thật có, chỉ theo duyên, gặp duyên thuận thì vui, duyên nghịch thì buồn... Đã tùy duyên thì không thật, không có chủ thể. Tâm đã không thật tại sao lại cho nó là mình? Chúng ta nói “nay tôi giận quá”, “hôm nay tôi vui quá”... tự xưng như vậy là tự nhận vui buồn... là tôi. Tôi tức là chủ, có khi nào nói tôi là cái bên ngoài không? Nếu mỗi tâm vui buồn giận ghét... đều là chủ, thì chúng ta có rất nhiều ông chủ, chủ nào là thật? Xét kỹ cuối cùng chủ không có. Tất cả tâm niệm chỉ tạm bợ tùy duyên không thật, không quan trọng, chúng ta không theo nó, tâm khởi lên liền bỏ, bỏ qua liền hết. Tu thiền là để dẹp hết những tâm vọng tưởng này, chúng là những cái bóng của quá khứ còn sẵn bên trong, gặp duyên liền trồi lên. Mỗi khi trồi lên chúng ta dẹp bỏ, bỏ dần cho tới khi không lăng xăng khởi vọng chạy theo bóng, là được định. Hết vọng thì hết nghiệp, khi nhắm mắt không còn gì kéo lôi, được tự tại giải thoát. Chúng ta tu theo Phật, biết rõ giải thoát không phải do ai cứu giúp đón rước mình, mà do chính mình không còn tạo nghiệp. Muốn hết nghiệp thì phải xả tất cả tâm buồn thương giận ghét, không chấp giữ dính mắc bất cứ tâm vọng nào. Vì thế, Phật cố nhắc nhở chúng ta biết tất cả những tâm đó đều là vô thường. Bởi vô thường nên nếu mình theo đuổi chấp giữ nó là khổ, khổ thì không được tự tại, không tự tại nên không có chủ. Quán sát kỹ cả thân tâm đều hư giả, không có thật thể, không chủ nên vô ngã. Thấy vô ngã là thấy Niết-bàn. Trước quán riêng thân thọ tâm pháp không có. Đoạn này quán trong Tứ niệm chỉ không có chủ, rời nó tìm chủ cũng không thể có. Nếu nói thường không được, vô thường cũng không được. Nếu là thường phải thường khổ hoặc thường lạc. Nếu nói thần ngã là thường thì giết hại người không có tội và Niết-bàn cũng không. Ngoại đạo Ấn Độ chấp trong thân chúng ta có thần ngã thường hằng bất biến. Như quan niệm thông thường chấp có linh hồn bất tử, nếu thân này hoại, linh hồn đi thọ thân khác, thân khác hoại linh hồn đi thọ thân khác nữa. Nếu linh hồn là bất tử, thì khi người ta giết thân này có tội không? Chết thân này là đồ bỏ, linh hồn còn nguyên đi đầu thai chỗ khác, không giết được linh hồn. Vì thế nói có thần ngã thì giết người không có tội. Lối chấp này không đúng lẽ thật. Phật không chấp nhận có linh hồn hay có thần ngã, chỉ nói rằng tâm chúng ta do mê lầm nên theo duyên. Duyên là cảnh bên ngoài, cảnh có tốt xấu nên tâm có vui buồn... Tâm vui buồn này không thật, chỉ là những cái biết do duyên hợp thì có, duyên tan thì không. Đã không thật thì không nên chấp. Nếu cho rằng có linh hồn, có thần ngã là A, khi chết thân này rồi thì linh hồn A sanh nơi khác, cứ tiếp tục từ đời này tới đời kia. Chấp như vậy rất sai lầm. Tại sao? Nếu linh hồn không đổi thay thì tu hay không tu nó cũng y nguyên không mất, không đổi thay. Nên đây nói, nếu là thường phải thường khổ hoặc thường lạc, nếu thần ngã là thường thì giết người không có tội và không cần tu tiến đến Niết-bàn. Tâm thức của chúng ta là một dòng sanh diệt luôn thay đổi. Như trẻ con gần những đứa côn đồ, chơi và tập nhiễm những thói xấu, về sau nó cũng trở thành côn đồ. Ngược lại, nếu nó ở trong xóm toàn những đứa trẻ ham học hiền lành, nó có bắt chước ham học hiền lành không? Nếu là linh hồn nguyên vẹn thì không đổi thay, như vậy là như vậy. Còn trước nó chưa có tâm ác mà gần người ác nó biến thành ác, trước chưa có tâm hiếu học mà gần người hiếu học thì nó bắt chước hiếu học, như vậy là đổi thay. Đổi thay thì không phải là nguyên vẹn duy nhất. Nói thần ngã, linh hồn là nói đến cái nguyên vẹn duy nhất. Ví dụ người đó đời này thông minh thì đời sau cũng thông minh, người đó đời này ngu tối thì đời sau cũng ngu tối. Chấp có thần ngã hay linh hồn là do người xưa tưởng tượng không đúng sự thật. Phật chỉ cho chúng ta thấy rõ đó là cái chấp lầm mê. Dòng tâm thức chuyển biến luôn luôn nên chúng ta cần huân tập những cái hay, tránh những cái dở. Đó là ý nghĩa của chữ tu. Tâm có sức huân tập nên chúng ta tu, huân những đức tánh tốt, trừ bỏ những cái xấu. Dần dần chúng ta trở thành tốt, được nhẹ nhàng thảnh thơi, đi theo con đường chư Phật chư Bồ-tát. Nếu huân tập những cái xấu dở, chúng ta bị nặng nề khổ đau đi tới chỗ dở xấu. Khổ vui đều có sự huân tập của chúng ta. Cũng như có người biết sinh ngữ, có người không biết. Tại sao? Đâu phải khi cha mẹ sanh ra là biết sinh ngữ, do học rồi biết, còn người nào không học thì không biết, đó là lẽ thật. Do mình chứ không phải trời định sẵn, không phải linh hồn chứa đủ trong đó. Nhà Phật gọi là tâm thức, nó đổi thay luôn luôn, vì vậy mà chúng ta phải tu. Tu để huân điều tốt, loại điều xấu, nếu không như vậy thì tu làm gì? Nếu thân là thần ngã, khi thân diệt thì thần ngã cũng phải diệt, thế thì không có đời sau, không có tội phước. Khắp quán như thế, thấy hoàn toàn không có chủ. Các pháp vốn là không, không có tự tại, do nhân duyên hòa hợp nên sanh, nhân duyên tan hoại nên diệt. Quán nhân duyên hợp thành pháp gọi là Pháp niệm chỉ. Trước là lý luận thần ngã khác thân, thân diệt thần ngã không diệt. Đây lý luận nếu thần ngã là thân, thân diệt thần ngã cũng diệt. Đây là chấp đoạn, cho rằng chết là hết cũng không cần tu tập. Như vậy quán xét tột cùng các pháp không cố định, không có chủ. Các pháp tùy theo duyên, không thật, quán nhân duyên hợp thành các pháp, biết hết thảy đều vô ngã, không chấp có chấp không, thân và cảnh đều không dính mắc. Đây là thực hành quán Pháp niệm chỉ. Nếu hành giả được Pháp niệm chỉ, nhàm chán thế gian là không, già, bệnh, chết, thật không có một chút thường lạc ngã tịnh. Ta đối với pháp không này, còn mong cầu cái gì? Chúng ta tu Pháp niệm chỉ này, quán nội tâm không thật, quán thân mình tứ đại hòa hợp không thật. Quán thành tựu rồi khởi tâm nhàm chán thế gian là rỗng không, không có chút gì thường lạc ngã tịnh. Như vậy đối với pháp không thật này có gì mà mong cầu. Chi bằng vào Niết-bàn trụ trong pháp tối thiện. Do sức cố gắng tinh tấn được thâm Xá-ma-đà (trụ tâm một chỗ). Khi được Xá-ma-đà trụ trong Pháp niệm chỉ thứ tư, quán các pháp đều khổ không vui, không vui là sự thật nếu nói khác tức là vọng ngữ. Khổ là nhân các thứ phiền não ái v.v... và nghiệp mà sanh, không phải trời, thời, ma v.v... các thứ dối gạt ấy gây ra. Đây là chỗ chúng ta phải nhận xét cho chín chắn. Khổ vui là do duyên hợp mà có. Tất cả đều do mình, nếu tạo duyên nghiệp ác thì khổ đến, tạo nghiệp duyên lành thì vui đến, không phải do ai làm ra. Tự mình làm chủ cuộc đời mình, không phải do trời định, không phải là thời, không phải là ma... làm ra. Thấy rõ rằng nếu tạo nghiệp lành thì chúng ta được sanh trong cảnh giàu sang sung sướng. Tạo nghiệp dữ thì sanh trong cảnh khổ đau, bệnh hoạn tật nguyền. Ở Ấn Độ có giáo phái chủ trương Phạm thiên tức là Trời, là cái ban đầu sanh ra tất cả. Hoặc có chủ trương do Thời sanh, do Ma vương sanh, khiến chúng sanh bị phiền não khổ vui... Những lời nói ấy đều dối gạt không thật. Phiền não và nghiệp ấy tạo ra cái khổ này. Khi nhập Niết-bàn tất cả khổ này đều dứt sạch. Không phải Sắc giới, Vô sắc giới và thế giới thủy (ngoại đạo cho cái ban đầu tạo ra tất cả sự vật là thế giới thủy) v.v... các thứ dối gạt ấy hay diệt được khổ. Do phiền não và nghiệp tạo ra khổ, nếu giải tỏa hết nghiệp, hết phiền não thì nhập Niết-bàn, tất cả khổ dứt sạch. Chính mình tạo nghiệp chịu khổ thì cũng chính mình dứt phiền não dứt nghiệp, hết khổ được vui. Không phải sanh lên cõi trời Sắc giới hay Vô sắc giới... mà được diệt khổ. Các thứ dối gạt như thế không diệt được hết khổ. Như chúng ta tu thập thiện thì được sanh lên cõi trời Dục giới. Có người mơ ước được sanh lên cõi trời muốn ăn có ăn, muốn mặc có mặc rất sung sướng, lên trời hết khổ. Phật dạy chúng ta tu thập thiện chỉ để diệt nghiệp ác, không cầu sanh lên trời. Tại sao? Vì thế gian này tuy là chỗ khổ nhưng là nhân để chúng ta thức tỉnh biết tu. Còn sanh về cõi trời thì được sung sướng đủ hết mà khó tu. Cứ thụ hưởng hết cái vui này đến cái vui kia, luôn luôn ăn uống ca nhạc suốt ngày đêm, không có chút buồn khổ nên quên tu. Thụ hưởng đến cuối cùng hết phước thì bị đọa cũng còn luân hồi. Có hai thái cực, chúng sanh tạo nghiệp ác phải đọa xuống địa ngục khổ quá cũng không tu được, chúng sanh làm phước được sanh lên cõi trời sướng quá cũng không tu được. Ở trong cảnh quá khổ đã là khổ rồi, cảnh vui mà không thoát ra được cũng là khổ. Vì vậy chúng ta không mong muốn sanh ở bất cứ nơi nào, chỉ phải tự mình tìm nguyên nhân thoát khổ. Bát chánh đạo, chánh kiến v.v... là lối vào Niết-bàn; không phải chúng ngoại đạo tu các thứ khổ hạnh, không trì giới, không thiền định, không trí tuệ mà vào được Niết-bàn. Vì sao? Vì trong Phật pháp đồng tu ba pháp giới định tuệ mới được vào Niết-bàn. Ví như người đứng chỗ đất bằng, có cung, tên tốt mới bắn chết bọn giặc thù. Giới dụ chỗ đất bằng, thiền định dụ cung tốt, trí tuệ dụ tên nhọn, ba việc đầy đủ hay giết được bọn giặc phiền não. Bởi thế nên chúng ngoại đạo không thể được Niết-bàn. Muốn được Niết-bàn, chúng ta phải tu ba pháp giới định tuệ. Không như ngoại đạo chủ trương tu khổ hạnh, không có giới định tuệ mà được Niết-bàn. Còn ở trong sanh tử, dù ở cõi trời cũng là khổ. Như những người nhà giàu, hưởng dục lạc mà thấy có vui không? Họ cũng chán, cũng tự tử như bao nhiêu người khác. Để thấy lối lập luận khổ hạnh cầu sanh cõi trời của ngoại đạo là vô lý. Tóm lại, tu bốn pháp quán này gọi là Tứ niệm xứ. Một là quán thân bất tịnh là thân nhơ nhớp. Hai là quán cảm thọ là đau khổ, vì nó là vô thường. Ba là quán tâm vô thường như huyễn như hóa. Bốn là quán pháp vô ngã. Pháp là thân sắc pháp và tâm pháp. Quán chung thân và tâm đều không có chủ. Đó là Tứ niệm chỉ hay Tứ niệm xứ. Trong kinh, Phật dạy người khéo tu Tứ niệm xứ, nếu cột tâm trong Tứ niệm xứ không đổi dời đến bảy ngày, người đó sẽ chứng quả A-la-hán. Người nào chỉ có sáu ngày hoặc năm ngày, ba ngày bốn ngày cột tâm trong Tứ niệm xứ không đổi dời, cũng sẽ chứng từ Sơ quả đến Tứ quả. Kinh Đại Niệm Xứ, Phật dạy rõ như vậy. Kinh Di-đà, Phật cũng dạy người niệm Phật một ngày hai ngày, ba ngày bốn ngày, năm ngày sáu ngày, bảy ngày được nhất tâm bất loạn thì sẽ được sanh về Cực lạc. Như vậy muốn đến Cực lạc phải nhất tâm bất loạn, muốn được quả Niết-bàn phải trụ Tứ niệm xứ không đổi dời, hai bên không khác nhau. Điểm cần thiết là phải có tâm tha thiết không đổi dời, tu pháp nào cũng được kết quả. VI- TỨ ĐẾ Hành giả bấy giờ khởi quán Tứ đế duyên, như tên bắn suốt. 1. Khổ Quán khổ có bốn thứ: Bởi nhân duyên sanh nên Vô thường, thân tâm não loạn nên Khổ, không có một pháp thật nên Không, không thật có người tạo tác và lãnh thọ nên Vô ngã. 2. Tập Quán tập có bốn: Do phiền não, nghiệp hữu lậu hòa hợp là Tập, quả tương tự được sanh là Nhân, trong ấy khởi tất cả hạnh là Sanh, không phải quả tương tự ấy liên tục là Duyên. 3. Diệt Quán diệt có bốn: Tất cả phiền não che đậy là Bế, trừ hết lửa phiền não là Diệt, trong tất cả pháp là bậc nhất nên Diệu, đã vượt qua thế gian nên Xuất. 4. Đạo Quán đạo có bốn: Hay đến Niết-bàn là Đạo, không điên đảo là Chánh, là lối đi của tất cả thánh nhân là Tích, được thoát khỏi sầu thảm là Ly. Trong Phật pháp, Tứ đế là pháp căn bản. Khi đức Phật ngồi dưới cội bồ-đề, đến phút cuối cùng ngài chứng được Lậu tận minh, lúc đó ngài nhận thấy rõ tột cùng ý nghĩa giải thoát sanh tử. Thấy biết tường tận cái gì là nhân, cái gì là quả của sanh tử, chính vì thế ngài đem lý cứu cánh của Tứ đế chỉ dạy cho năm anh em Kiều-trần-như. Pháp Tứ đế chính là nguyên nhân của sanh tử cũng chính là pháp diệt tận sanh tử. Pháp Tứ đế hết sức hệ trọng vì nó chỉ dạy chúng ta được quả giải thoát rõ ràng. Trong đây chỉ nói đơn giản nhân tu để đạt được quả, không nói rõ từng chi tiết. Như thế chúng ta cũng khó nắm vững đường lối tu, nên tôi giảng rộng chỗ này. Đạo Phật rất cụ thể khoa học, nói lý thật không nghi ngờ. Pháp Tứ đế của đức Phật dạy là chân lý thực tế, gồm bốn điều chắc thật: khổ, tập, diệt, đạo. Khổ đế là gì? Khổ là điều đau khổ hiện tại của con người, đế là lẽ thật, là chân lý không chối cãi được. Lẽ thật đầu tiên của con người là đau khổ. Sanh ra ở thế gian ai cũng có bốn thứ khổ: sanh, già, bệnh, chết. Có thân này thì có khổ. Trong cuộc sống lại thêm bốn khổ nữa, đó là: ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, oán tắng hội khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Ái biệt ly khổ là nỗi khổ phải xa lìa những người thân yêu. Oán tắng hội khổ là cái khổ phải gặp những gì mình oán ghét. Cầu bất đắc khổ là cái khổ mong cầu việc này việc nọ mà không được. Ngũ ấm xí thạnh khổ là thân năm ấm này là chỗ tụ hội và biến hoại, vì thế phải chịu cái khổ chung. Tám khổ này dù thường dân hay vua chúa sang giàu đều có đủ. Thừa nhận nó là lẽ thật, chúng ta phải làm sao? Có người cho đạo Phật là bi quan vì nói khổ đế đầu tiên. Nhưng đức Phật nói về khổ mà không phải dừng ngang đó, ngài chỉ cho chúng ta thấy khổ là cái quả hiện tại, tìm hiểu vì sao có khổ là phăng tìm nguyên nhân, biết được nhân để chuyển hết, diệt sạch tức thì quả khổ hết. Như các bác sĩ thấy người bị bệnh đang đau khổ rên rỉ, đầu tiên phải chẩn bệnh để biết nó phát nguyên từ cái gì, là bệnh gì, có vi trùng gì?... Tìm được nguyên nhân thì cho uống thuốc hết bệnh, hết khổ. Chân lý thứ hai của đạo Phật là Tập đế, là nguyên nhân gây ra đau khổ, nguyên nhân này là chân lý chắc thật. Khi Phật nói thân này khổ, đó là nói về quả. Quả ấy không phải ngẫu nhiên mà có, nguyên nhân của nó là nghiệp tập tham, sân, si, mạn, nghi... Từ những phiền não đó kết tụ gây tạo ra quả khổ này. Biết được nguyên nhân là biết cách diệt khổ. Đây là một phương pháp rất khoa học, rất hợp lý. Cũng như bác sĩ phăng tìm nguyên nhân bệnh sốt rét, tìm được ký sinh trùng sốt rét là tìm ra nguyên nhân, sử dụng thuốc để tiêu diệt ký sinh trùng thì quả bệnh được lành. Phật cũng vậy, biết được nhân đau khổ là tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến..., ngài dạy những nhân đó có thể diệt được, gọi là Diệt đế. Diệt đế là chân lý chắc thật không còn khổ đau. Phật dạy khổ đế không phải là bi quan, mà để đưa đến sự diệt khổ, như bác sĩ chẩn đoán bệnh là để tìm thuốc trị bệnh. Bác sĩ cho toa thuốc diệt được vi trùng, bệnh lành thì dễ thấy. Phật chỉ cho chúng ta nguyên nhân của khổ đau là tham, sân, mạn, nghi, ác kiến... Ngài cho thuốc gì để diệt mấy thứ đó? Thân này khổ không phải bỗng dưng có, mà do nguyên nhân đã kể trên, nguyên nhân hết thì khổ hết. Làm sao hết? Phải dùng phương pháp tu là ba mươi bảy phẩm trợ đạo, là pháp môn diệt khổ. Hết khổ sanh già bệnh chết... gọi là Niết-bàn. Đạo đế là đường đưa đến Niết-bàn. Lý đạo này sâu xa nhiệm mầu, chúng sanh thực hành theo đạo đế cũng phải kiên trì không dễ dàng dễ thấy như người bệnh uống thuốc mạnh liền. Nếu người bệnh không chịu uống thuốc mà cầu xin bác sĩ cho mình lành bệnh có được không? Chúng sanh cũng vậy, Phật chỉ dạy gốc khổ và pháp trừ khổ mà không chịu thực hành, chỉ thắp hương cầu xin Phật cho con hết khổ, thật là vô lý. Như người nóng giận, biết mình có bệnh sân làm phiền gia đình, mỗi đêm cầu Phật cho mình hết sân thì có được không? Trị bệnh sân có thang thuốc nhẫn nhục, uống thuốc nhẫn nhục chưa hết gốc thì uống thêm thang từ bi. Nói nhẫn mà chưa biết nhẫn làm sao thì đó là chưa biết uống thuốc. Mỗi khi gặp người nói lời trái ý hoặc có hành động khinh miệt mình thì tự nhắc thầm “nhịn là khôn, nói là dại.” Cứ nhớ đọc hoài câu đó là uống thuốc. Vì khi nổi nóng thì nói bậy, gây sự không tốt nên phải nhịn, im lặng một lúc không nói gì, lâu dần cơn nóng giận sẽ qua. Bớt giận rồi khởi tâm từ bi, quán xét thương người, họ cũng khổ, họ không sáng suốt, người đó đáng thương hơn đáng giận... Khởi lòng từ bi thì tâm mình mát mẻ dễ chịu, khởi giận tức thì tâm nóng nảy bực bội. Từ gốc nơi tâm, chúng ta kiên nhẫn tu đúng pháp Phật dạy thì trừ được bệnh sân. Đó là do tu không phải do cầu xin. Người bệnh tham, uống thuốc gì? Tham có hai, một là tham tiền của, hai là tham sống lâu. Tham tiền của nên uống thang thuốc bố thí. Người bệnh tham có bao nhiêu cũng không thấy đủ, cứ muốn có thêm, như có một triệu muốn được hai triệu... thêm hoài không dừng. Bệnh này nên uống thuốc xả bớt, cho ra không đem thêm vào. Như có một triệu đủ sống rồi, có thêm triệu nữa thì giúp người nghèo, người đói hơn mình. Cứ cho ra, không tích lũy giữ nhiều, đó là hết tham. Bệnh này trị rất dễ, chỉ vì chúng ta không dám làm, không dám cho, có bệnh mà không chịu uống thuốc. Bệnh tham sống lâu, ai cũng có. Chúng ta thường chúc nhau khỏe mạnh sống lâu, nghe nói chết thì sợ hãi. Như đầu năm có ai đến nhà mình chúc ông bà cuối năm chết hết, thì sao? Lúc đó mình vác gậy đuổi ra liền. Xét kỹ, Phật dạy mạng người sống trong hơi thở, người ta chúc mình sống một năm là dài lắm. Dùng thang thuốc vô thường để quán sát, thấy rõ thở ra không hít vào là chết, có gì lâu dài. Thang thuốc này uống để giải quyết cấp thời, không tận gốc. Một thang nữa trị dứt bệnh là quán thấy thân này tạm bợ hư giả. Cái gì tạm bợ duyên hợp thì sẽ tan, không chóng thì chày, biết rõ thân sống đây không có gì bảo đảm. Khi chết đến thì nói tôi biết chú rồi, chú không bền, nó tan ra thì cười với nó. Như vậy vừa quán vô thường, vừa quán thân này duyên hợp giả dối, dùng hai thang thuốc đó là trị hết bệnh tham tiếc thân muốn sống lâu. Đạo Phật rất thực tế, dùng phương pháp tu để trị tâm bệnh chúng sanh. Pháp quán Tứ đế trị dứt khổ đau, như mũi tên bắn trúng đích. Trong đây trước tiên nói quán khổ có bốn thứ. Một là do nhân duyên sanh nên vô thường, vì tùy duyên nên không cố định không chắc thật, cái gì vô thường thì khổ. Hai là thân tâm não loạn nên khổ, mang thân tâm này lúc nào cũng rối loạn, khó khăn. Ba là xét kỹ từ thân, tâm đến ngoại cảnh không có một pháp thật cho nên không. Bốn là không có người tạo tác và lãnh thọ nên vô ngã. Thân tâm đều do năm uẩn tứ đại hợp lại mà thành, trong đó tìm không thấy có gì là chủ thể, nên nói không có người lãnh thọ và tạo tác. Xét kỹ thân này vô thường, là thân chịu khổ, thân rỗng không, thân không chủ. Phật dạy quán như vậy để thấy rõ lý khổ nơi thân. Thứ hai, quán tập đế cũng có bốn. Cái đau khổ đó không phải ngẫu nhiên, mà có nguyên nhân, vì thế Phật dạy tập đế là nhân của khổ đế. Một, do phiền não, nghiệp hữu lậu hòa hợp là tập, hữu lậu là tướng sanh diệt. Hai, từ nghiệp sanh quả tương tự, tập đế có khả năng làm phát sanh quả, thân này là quả một cách tương tự chứ không thật có. Ba, trong khi có thân thì khởi lên các hạnh nghiệp nên lại tiếp tục làm nhân sanh, thế là từ tập thành nhân, nhân thành sanh, sanh tử tiếp nối. Bốn, không phải quả tương tự ấy tiếp nối là duyên, nghĩa là từ nhân sanh quả cần có những điều kiện trợ giúp liên tục, những điều kiện này chỉ làm duyên phụ nên gọi là không phải quả tương tự. Chúng ta biết từ gốc nghiệp phiền não mà có thân này, phải quán sát thân này là giả dối, là khổ đau. Biết vậy nên không luyến ái thân, khi nhắm mắt rồi không tìm kiếm thân khác. Không tìm kiếm thân là không ái thân, không ái thân thì không có quả sanh tử. Chúng ta muốn giải thoát sanh tử, phải thấy rõ cái tập nhân này, từ tham sân si mà tạo bao thứ nghiệp liên tục đưa đến quả khổ. Thứ ba, quán diệt đế cũng có bốn. Một, tất cả phiền não che đậy trong tâm của mình gọi là bế. Bế tức là ngăn che đóng bít. Hai, trừ hết phiền não gọi là diệt. Ba, trong tất cả pháp, pháp diệt hết phiền não là nhiệm mầu nhất nên gọi là diệu. Bốn, đã vượt qua thế gian nên gọi là xuất. Không còn phiền não tạo nghiệp lôi kéo thì ra khỏi tam giới, ra khỏi sanh tử. Diệt đế là mục đích quan trọng của sự tu hành, là Niết-bàn. Muốn được diệt đế phải tu đạo đế. Quán đạo đế có bốn. Một, hay đến Niết-bàn là đạo. Phật dạy chúng ta pháp tu đưa đến Niết-bàn cho nên gọi là đạo đế. Không điên đảo là chánh, vì nó là pháp đúng, không sai lầm nên gọi là chánh. Ba, là lối đi của tất cả thánh nhân, nên gọi là tích. Tích là dấu vết người xưa đã đi, các bậc thánh đã đi. Bốn, được thoát khỏi sầu thảm là ly, con đường này đưa chúng sanh lìa tất cả phiền não sanh tử khổ đau. Đạo đế là phương pháp rốt ráo đưa đến kết quả như lòng mong muốn. Như toa thuốc bác sĩ cho rất hay, nếu uống thì sẽ lành bệnh. Muốn lành bệnh phải đủ bốn điều kiện, thứ nhất là biết bệnh khổ, thứ hai là chẩn đoán biết vi trùng nào sanh ra bệnh gì, thứ ba là biết bệnh này trị sẽ hết, thứ tư là cho toa mua thuốc về uống. Điều thứ tư rất quan trọng, nếu bệnh nhân không chịu uống thuốc thì bác sĩ tài giỏi mấy cũng không trị được. Ở đây Phật dạy cũng vậy. Chúng ta tu biết thân này là khổ, biết cái khổ đó không phải ngẫu nhiên, mà nó có nguyên nhân. Nguyên nhân là Tập đế. Hiểu nguyên nhân gây ra khổ thì tìm cách tiêu diệt nó là Diệt đế. Muốn tiêu diệt nó phải có phương pháp là Đạo đế. Phật chỉ dạy không có gì mơ hồ, thực tế một trăm phần trăm, mà vô tình chúng ta lại đưa đạo Phật tới chỗ huyền hoặc. Cứ dạy con cháu thắp hương có phước, xem như là biết tu, không nghĩ tu là phải trị bệnh phiền não của mình. Mình bệnh gì phải biết cho rõ, áp dụng thuốc Phật cho thích hợp thì hết bệnh ngay. Đó gọi là hiểu Phật pháp. Pháp Tứ đế là chân lý đức Phật đã chứng ngộ và chỉ dạy cho chúng ta. Cần khéo hiểu rõ, ứng dụng quán chiếu tu tập để thoát khổ sanh tử. VII- TỨ GIA HẠNH Tứ gia hạnh là bốn hạnh tăng trưởng trong sự tu hành của chúng ta khiến từ phàm chuyển dần lên thánh. Tứ gia hạnh gồm có Noãn, Đảnh, Nhẫn, Thế đệ nhất. 1. Noãn Quán như trên sẽ đắc pháp vô lậu tương tự gọi là Noãn pháp. Thế nào là noãn? Thường chuyên cần tinh tấn gọi là noãn. Các thứ phiền não là củi, trí vô lậu là lửa, lửa gần phát cháy hơi ấm ban đầu gọi là noãn. Ví như dùi lửa, lúc mới dùi nó ra khói, ấy là noãn. Nó là tướng ban đầu của đường đến Niết-bàn. Khi tu quán, chúng ta biết bệnh của mình, nên áp dụng thuốc nào của Phật để trị, lúc đó nhiệt tình tu tập dần dần được pháp noãn là hơi ấm. Đó là hiện tượng được pháp vô lậu tương tự, tức là được gần gần giống pháp vô lậu. Đây nói, thường chuyên cần tinh tấn gọi là noãn. Các thứ phiền não là củi, trí vô lậu là lửa. Khi lửa gần phát cháy, hơi ấm ban đầu gọi là noãn. Chúng ta tu Phật là tu bằng trí tuệ, như khi quán vô thường, quán thân hư giả có phải là trí tuệ không? Thân này sự thật là vô thường, là tạm bợ hư giả, cho thân này thật thường còn là kẻ mê, biết rõ nó hư giả là người trí. Dùng trí quán sát cuối cùng thấy rõ nó là tạm bợ hư giả, gọi đó là trí vô lậu quán chiếu. Nhờ sức quán chiếu nên phá được phiền não si mê, chúng ta hết khổ. Như vậy khi quán chiếu dần dần thuần thục, như lửa gần cháy có hơi ấm, nên gọi là noãn. Đây là giai đoạn từ phàm bắt đầu chuyển qua thánh, trí quán chiếu đã có một chút sức mạnh, chúng ta bắt đầu đến Niết-bàn. Đệ tử Phật có hai hạng người: Hạng người phần nhiều ưa nhất tâm cầu thiền định là người theo lối hữu lậu. Hạng người ưa trí tuệ chân thật để trừ diệt các thứ đắm mến, là người thẳng đến Niết-bàn vào trong noãn pháp. Trong đây nói rõ có hai hạng người tu Phật, hạng thứ nhất phần nhiều ưa chuyên tâm cầu thiền định là tu theo lối hữu lậu. Tức là thích tu định, kìm giữ tâm cho yên, quên hết những tiếng động, quên tất cả những đau nhức, không còn nhớ đến thân. Đây gọi là theo lối hữu lậu, vì khi buông ra thì phiền não vẫn còn. Hạng thứ hai ưa trí tuệ chân thật để trừ diệt các thứ đắm mến, là người thẳng đến Niết-bàn vào noãn pháp. Hạng người này dùng trí quán, như quán hơi thở ra vô, xem xét theo dõi nó, tự thấy mạng sống mình do hơi thở. Quán sát thuần thục biết mạng sống vô thường tạm bợ không có gì thật, biết thân tạm bợ nên không tham lam đắm mến chạy theo trần cảnh bên ngoài. Bởi không tham nên không sân, bởi không sân nên không đau khổ. Nhờ trí tuệ dứt hết tâm tham luyến thế tục, đi thẳng vào Niết-bàn. Có noãn tướng là thâm đắc nhất tâm, được tương tự thật pháp, đến bên ranh vô lậu. Hành giả khi ấy được đại an ổn, tự nghĩ: Ta quyết định sẽ được Niết-bàn, vì thấy được tướng này. Như người đào giếng được thấy đất ướt, biết sẽ đến nước không lâu. Như người đánh giặc, giặc lui tan hết, tự biết đắc thắng, trong ý an ổn. Như người kinh hãi chết giấc, muốn biết họ sống chăng, hoặc lấy kim chích vào thân, hoặc chẩn mạch xem còn nhảy không, nếu biết họ còn ấm tức là sẽ sống. Như người nghe pháp suy nghĩ trong tâm thích thú, khi ấy tâm nóng. Hành giả có noãn pháp như thế gọi là có noãn, cũng gọi là được phần thiện căn đến Niết-bàn. Pháp thiện căn này có mười sáu hạnh, Tứ đế duyên là một trong sáu địa, là nền tảng của trí tuệ và tất cả pháp vô lậu. Người được bước đầu vô lậu hay đi an ổn, ấy gọi là noãn pháp. Noãn pháp này là pháp của người tu bắt đầu từ phàm chuyển lên thánh. Như chúng ta dùng hai thanh gỗ cọ với nhau để lấy lửa, khi cọ chưa ra lửa mà nghe hơi ấm, biết gần ra lửa, đó gọi là noãn. Trong đây nói pháp thiện căn này có mười sáu hạnh thù thắng, đoạn trước có kể. Tứ đế duyên là một trong sáu bậc của mười sáu hạnh ấy, là nền tảng của trí tuệ và tất cả pháp vô lậu. Đến đây bắt đầu bước vào giải thoát nên gọi là pháp vô lậu. Người tu được tâm an ổn, vui mừng biết mình được gần đạo. 2. Đảnh Tăng tiến chuyển lên gọi là Đảnh pháp, như sữa biến thành tô lạc. Hành giả quán thật tướng các pháp, tự nghĩ: Ta sẽ lìa khổ được giải thoát. Tâm thích pháp chân thật này hay trừ các thứ khổ hoạn và già, bệnh, chết. Khi ấy suy nghĩ: Pháp này ai nói? Là Phật Thế Tôn. Từ đây được tín tâm thanh tịnh đại hoan hỷ trong Phật bảo. Nếu không có pháp này thì tất cả phiền não ai có thể ngăn được. Ta phải làm thế nào được một chút ít sáng suốt của trí tuệ chân thật. Từ đây được tín tâm thanh tịnh đại hoan hỷ trong Pháp bảo. Nếu ta không được bạn lành là đệ tử của Phật, làm sao được chút ít sáng suốt của trí tuệ chân thật. Từ đây được tín tâm thanh tịnh đại hoan hỷ trong Tăng bảo. Trong Tam bảo được nhất tâm thanh tịnh hợp với trí tuệ chân thật. Đó là được đảnh thiện căn cũng gọi là đảnh pháp, cũng gọi là được phần thiện căn đến Niết-bàn. Đây là bước tiến thứ hai, như sữa biến thành tô lạc. Người tu đến tướng này tin chắc rằng mình sẽ lìa khổ được giải thoát, tâm thích pháp chân thật trừ được khổ hoạn già bệnh chết. Tôi giải thích rõ chỗ này. Chúng ta tu có già bệnh chết không? Nhiều người tưởng là tu thành tiên không bị già bệnh chết. Không phải như vậy. Ai cũng bị luật vô thường chi phối, có thân này thì có già bệnh chết. Người biết tu thấy già không lo buồn, không tiếc nuối, thuận theo lẽ thường của thân này. Già không buồn nên không khổ, đó là trừ được cái hoạn tuổi già. Bệnh là khổ, chúng ta làm sao để bệnh mà không khổ? Khi đau thì quán sát thấy rõ thân này mỗi bộ phận riêng biệt, chỗ nào hư chỗ nào bị chạm thì chỗ đó đau, cái biết đau thì không đau. Như chân hay tay chúng ta bị một vết thương, dây thần kinh và thớ thịt chỗ đó đau nhức. Chúng ta nhìn thấy nó bị run bị giật, nhìn như vậy mà không la hoảng là tôi đau thì cái đau không làm chủ mình. Thử can đảm như vậy, khi đau chỗ nào mình nhìn chỗ đó, thấy cái đau không phải là mình, chúng ta không bị lệ thuộc vào các bộ phận trong cơ thể. Không lệ thuộc thì cười với nó: À! Thân này tại chỗ đó hư nên nhức, chỗ đó nhức đau chứ có liên hệ gì với mình đâu. Mình là chủ, không phải là bộ phận nhỏ của thân. Quán sát được như vậy thì trừ được cái khổ về bệnh. Chết là gì? Thân tứ đại hết duyên tắt thở thì chết. Nhiều người kể lại, khi chết thấy mình đứng bên ngoài nhìn lại thân mình rõ ràng, khi đó không có cảm giác sợ hay khổ. Thân chết không phải là ta chết, thân chỉ là bộ phận để ta tạm gá vào đó. Biết được điều này chúng ta không sợ chết. Già bệnh chết đều không sợ, chúng ta đã tự tại được một phần. Vì thế đây nói, hành giả quán thật tướng các pháp, tự nghĩ ta sẽ lìa khổ được giải thoát. Như vậy chúng ta phải làm thế nào để có chút ít sáng suốt của trí tuệ chân thật. Khi có trí tuệ chúng ta sẽ được tín tâm thanh tịnh đại hoan hỷ đối với Tam bảo. Được nhất tâm thanh tịnh hợp với trí tuệ chân thật, tâm sẽ vững vàng vượt qua mọi trở ngại, như người đã lên đỉnh núi cao. Đó là được đảnh thiện căn, cũng gọi là đảnh pháp, cũng gọi là được phần thiện căn đến Niết-bàn. Như trong kinh Ba-la-diên nói: Phật, Pháp và Tăng bảo, Ai có ít tịnh tín, Đó là căn lành Đảnh, Các ngươi nhất tâm giữ. Đối với Tam bảo nếu ai có lòng tin chân thành trong sạch, đó là người được đảnh pháp. Các ngươi phải nhất tâm giữ, tức là gìn giữ một cách chân chánh, nhất tâm. Thế nào là ít tịnh tín? Với bậc Phật, Bồ-tát, Bích-chi Phật, La-hán là ít, còn hàng được bước đầu vô lậu là nhiều. Lại nữa pháp này có thể phá, có thể mất gọi là ít. Như kinh Pháp Cú nói: Chuối trổ buồng rồi chết, Tre ra bông cũng chết, La mang thai thì chết, Tiểu nhân được nuôi chết. Phá mất không phải lợi, Tiểu nhân cho danh dự, Phần bạch tịnh mất hết, Đến Đảnh pháp cũng rơi. Chưa đoạn kiết sử, chưa được vô lậu và vô lượng tâm, gọi là ít. Người bước vào pháp đảnh được một ít tịnh tín đối với Tam bảo. Tại sao gọi là được ít? Đối với chư Phật, Bồ-tát, Bích-chi Phật, La-hán, được như thế gọi là ít, còn đối với hàng mới bước đầu vô lậu được như thế cho là nhiều. Pháp đảnh này có thể bị phá, có thể mất, nên gọi là ít. Kinh Pháp Cú nói: Chuối trổ buồng rồi chết, tre ra bông cũng chết, la mang thai thì chết, tiểu nhân được nuôi chết. Tất cả việc này tuy thành công nhưng rồi cũng phải chết. Vì thế người tu được pháp đảnh này rồi cũng phải vượt qua nó, không giữ mãi. Như người tu được Sơ thiền cũng phải bỏ để tiến lên Nhị thiền. Phá mất không phải lợi, tiểu nhân cho danh dự, phần bạch tịnh mất hết, đến Đảnh pháp cũng rơi. Cuối cùng bỏ pháp Đảnh để chuyển lên pháp thứ ba là Nhẫn. 3. Nhẫn Chuyên cần tinh tấn nhất tâm vào trong Niết-bàn, lại quán rành rõ pháp ngũ ấm, Tứ đế, mười sáu hạnh. Khi ấy tâm không sụt, không hối hận, không thối lui, ưa thích vào nhẫn, gọi là Nhẫn thiện căn. Nhẫn là an trụ, chuyên ở một nơi, an định một chỗ. Người tu tinh tấn nhất tâm vào Niết-bàn quán rành rõ pháp ngũ ấm, Tứ đế, mười sáu hạnh không sai không thiếu, đó gọi là an trụ được nơi nhẫn. Khi ấy tâm không lui sụt, không hối hận, ưa vào nhẫn, gọi đó là Nhẫn thiện căn. Nhẫn những gì? Tùy thuận hành Tứ đế gọi là Nhẫn. Cái thiện căn này có ba bậc thượng trung hạ và ba thời. Thế nào gọi là Nhẫn? Quán ngũ ấm vô thường khổ không vô ngã, tâm nhẫn không thối chuyển gọi là Nhẫn. Quán các pháp thế gian thảy đều là khổ, không, không vui. Cái khổ này do các thứ phiền não, ái v.v... tập hợp. Cái tập ấy bị trí tuệ diệt sạch, đó là thượng pháp không có pháp nào hơn, Bát chánh đạo hay khiến người tu hành được Niết-bàn không có lối nào bằng. Tín tâm như thế không hối hận không nghi ngờ, ấy gọi là Nhẫn. Pháp Nhẫn này chia ra ba bậc, hạ trung thượng và ba thời quá khứ hiện tại vị lai. Tu pháp này phải vượt từ bậc hạ lên bậc trung, bậc trung lên bậc thượng rồi vượt qua luôn. Pháp Nhẫn là gì? Là quán ngũ ấm vô thường, thân này là vô thường khổ không vô ngã, tâm quán như thế không thối chuyển gọi là nhẫn. Quán thấy năm ấm không thật có, không bền chắc mà không bao giờ có niệm thay đổi. Đối các pháp thế gian cũng thấy đều là khổ, không có cái vui thật, khổ này do các thứ phiền não ái... tập hợp lại. Muốn hết khổ thì phải cố diệt sự nhóm họp của các phiền não, dùng trí tuệ diệt sạch phiền não, đó là thượng pháp, không có pháp nào hơn. Hết phiền não là nhờ trí tuệ, xét kỹ xem có phiền não nào muốn diệt nó mà không dùng trí tuệ? Từ trí tuệ nên được định, từ trí tuệ nên qua khỏi các phiền não. Quán thân vô thường, giả dối..., dùng trí tuệ chiếu phá vô minh lầm chấp mới dẹp được khổ đau. Đối tất cả pháp đều nhờ trí tuệ nên thấy được lẽ thật, an trú trong trí tuệ, gọi là nhẫn. Trong tâm có sức nhẫn nên các kiết sử, các thứ phiền não nghi ngờ không thể chen vào phá hoại tâm được, ví như núi đá, các thứ gió nước không thể làm trôi giạt, lay động được, ấy gọi là Nhẫn. Người được như vậy gọi là người được bước đầu vô lậu chân thật tốt đẹp. Tại sao gọi là an nhẫn? Vì chúng ta đã tiến lên đứng vững trong trí tuệ, không bị các thứ kiết sử, phiền não, nghi ngờ... chen vô được. Như núi đá không bị gió nước làm trôi giạt. Người tu đến chỗ an trú không lay động là vào được pháp nhẫn, là người gần Niết-bàn. Như Phật nói trong kinh Pháp Cú: Chánh kiến trên thế giới, Ai có thể được nhiều, Cho đến ngàn muôn năm Trọn không rơi ác đạo. Người chánh kiến trên thế giới là người được Nhẫn thiện căn. Trên thế giới này, rất ít người có chánh kiến. Khi được chánh kiến rồi thì dầu trải qua ngàn muôn năm cũng không rơi vào đường ác. Người được chánh kiến gọi là được Nhẫn thiện căn. Trên đường tu, chúng ta muốn an trú trong chỗ thanh tịnh sáng suốt, phải dùng trí tuệ dẹp hết những phiền não khiến cho mình lui sụt thối chuyển. Dẹp được những thứ đó được chánh kiến, gọi là được Nhẫn thiện căn. Đến pháp thứ tư là Thế đệ nhất. 4. Thế đệ nhất Người này tăng tiến nhất tâm rất nhàm chán thế giới, muốn biết rành rõ tướng tứ đế để tiến đến Niết-bàn. Trong nhất tâm như thế gọi là pháp thế gian đệ nhất. Một thời trụ tứ hạnh vô thường khổ không vô ngã, quán một đế khổ pháp nhẫn và các khổ duyên. Thế nào là quán ngũ ấm trong Dục giới là vô thường khổ không vô ngã? Trong đây tâm nhẫn vào trí tuệ, cũng là tâm vương và tâm sở tương ưng, gọi là khổ pháp nhẫn. Thế đệ nhất là bậc thứ nhất trên thế gian. Người tiến tới chỗ này là người đệ nhất trong đời. Người này tăng tiến, nhất tâm, rất nhàm chán thế giới, muốn biết rành rõ tướng tứ đế để tiến đến Niết-bàn. Khi người tu đã trải qua ba giai đoạn trước, đến giai đoạn này không còn luyến ái thế giới, chỉ một lòng cầu Niết-bàn. Một lòng như thế là pháp đệ nhất ở thế gian. Một thời trụ tứ hạnh, tức là một thời trụ hay quán đủ bốn hạnh. Một là vô thường, hai là khổ, ba là không, bốn là vô ngã. Đối với thân này quán xét nó là vô thường, là khổ; đã vô thường, khổ thì nó là không; nó không có chủ thể nên là vô ngã. Quán xét thấy tường tận rõ ràng như vậy là do quán một đế khổ pháp nhẫn và các khổ duyên, tức là các duyên liên hệ với khổ, chúng ta đều thấy rõ hết. Quán ngũ ấm trong Dục giới là vô thường khổ không vô ngã, trong đây tâm nhẫn vào trí tuệ, cũng là tâm vương tâm sở tương ưng nên gọi là khổ pháp nhẫn. Dùng trí tuệ thấy thân ngũ ấm này không quý không thật, an trú trong đó gọi là khổ pháp nhẫn. Thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp và các hạnh không tương ưng với tâm, đời hiện tại, đời vị lai tất cả pháp vô lậu ban đầu, gọi là khổ pháp nhẫn. Quán thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp và các hạnh không tương ưng với tâm, nghĩa là các hạnh đó không thích hợp với tâm, trong đời hiện tại và đời vị lai. Tất cả pháp vô lậu ban đầu được hiện ra gọi là khổ pháp nhẫn, nhìn thấy các khổ của ba nghiệp mà tâm không dính mắc. Nhờ thấy pháp khổ, tâm an trụ được chỗ chân thật. Thứ lớp sanh khổ pháp trí, khổ pháp nhẫn, trí đoạn kiết sử khổ pháp được chứng đạo. Từ đây tu tiến lên theo thứ tự sanh khổ pháp trí, tức là trí thấy được pháp khổ. Kế đến sanh khổ pháp nhẫn, tức là được chỗ an nhẫn pháp khổ. Đến trí đoạn kiết sử khổ pháp được chứng đạo, tức là trí dứt trừ những trói buộc của kiết sử được chứng đạo. Ví như hai người đối địch, một người cầm đao bén một người cầm dây trói thì người cầm đao giết được người cầm dây. Cũng như dao bén chẻ tre qua mắt dễ dàng. Do công phu của nhẫn trí hay đoạn được kiến chấp ràng buộc trong Dục giới và mười món kiết sử. Đây giải thích lý do chúng ta tu đạt được kết quả đúng như nguyện của mình, vì biết khéo dùng trí tuệ quán chiếu dẹp bỏ những kiết sử phiền não. Như hai người đối địch giao chiến nhau, một người cầm dao bén, một người cầm dây trói thì người cầm dao giết được người cầm dây. Phiền não ràng buộc như sợi dây, trí tuệ cắt đứt phiền não như kiếm bén. Chúng ta tu mà cầu xin Phật cho hết phiền não thì không phải là cầm kiếm. Phải quán chiếu thấy rõ tường tận cái khổ của thân, thấy rõ tường tận phiền não để tiêu diệt nó, như vậy kiếm nhất định cắt được dây, chứ dây không trói được kiếm. Đó là ví dụ một. Ví dụ hai, cũng như chẻ tre, tuy cây tre có mắt cứng nhưng có dao bén chẻ nó cũng qua được dễ dàng. Trí tuệ nhạy bén có thể tiêu trừ được những chướng ngại khó khăn trên đường tu. Tu mà không có trí tuệ mạnh mẽ thì không bao giờ dẹp được chướng nạn. Chúng ta nên nhớ, tu theo Phật mà không dùng trí tuệ thì thiệt thòi lắm. Do công phu của nhẫn trí hay đoạn được kiến chấp ràng buộc trong Dục giới và mười món kiết sử. Càng tu càng diệt trừ được các thứ trói buộc, không còn bị lôi dẫn vào trong Dục giới. Bị ràng buộc là mất tự do, cắt đứt các ràng buộc thì được tự do giải thoát. Cái gì ràng buộc? Chính là phiền não kiết sử của mình. Tu là một sự tranh đấu mãnh liệt, tranh đấu với chính mình chứ không phải tranh đấu với ai cả. Người biết tu thì đi đứng nằm ngồi đều tranh đấu, người không biết tu thì thả trôi, để cho thói hư tật xấu xúi giục dẫn đi. Vừa có một niệm không tốt là dẹp liền, vừa có một ý nghĩ sai lầm là chặn đứng lại. Tranh đấu với mình mà thắng được thì như chúng ta thường nghe nói, thắng vạn quân không bằng thắng mình, thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất. Thắng được mình là nhờ an nhẫn trong trí tuệ thanh tịnh, quay lại quán chiếu dẹp phiền não. Đây là sức mạnh phi thường, phải can đảm mạnh mẽ, không phải lơ là trôi xuôi mà có kết quả. Bấy giờ được cái dị đẳng trí, chưa được vô lậu trí, chỉ được vô lậu tuệ, khi ấy thành tựu một trí. Dị đẳng trí là trí chưa được bình đẳng, chưa được vô lậu trí, chỉ được vô lậu tuệ. Tuệ và trí khác nhau chỗ nào? Trí là nhận xét chín chắn đúng đắn, tuệ là sáng một cách tự nhiên không phải do nhận xét tinh vi. Nhận xét tinh vi là trí, còn tuệ là sáng. Như người đi học, có người nhận định chín chắn, phân tích rành rẽ, nhớ hiểu bài một cách thấu đáo đó là trí. Còn có người không nhận định như vậy nhưng học bài rất mau thuộc, đó là tuệ. Trí là đi sâu moi tìm, còn tuệ thì phẳng lặng sáng sẵn. Như vậy, tuệ dễ nhận được hơn trí, nên đây nói, chưa được vô lậu trí chỉ được vô lậu tuệ. Trong tâm thứ hai thành tựu pháp trí, khổ trí, đẳng trí. Qua tâm thứ ba và thứ tư thành tựu tứ trí; khổ trí, pháp trí, tỷ trí, đẳng trí. Trong đạo pháp diệt đế mỗi trí được tăng, người ly dục thành tựu tăng trưởng tha tâm trí. Đây chỉ cho công năng người tu. Người sắp vượt qua khỏi Dục giới là người bậc nhất, nên gọi là thế đệ nhất. Qua đến bậc này phải có khổ trí, pháp trí, tỷ trí, đẳng trí. Khổ trí, là trí thấy tất cả pháp sanh diệt là khổ đau, thấy rõ ràng thân năm ấm là sanh diệt, là khổ, không nghi ngờ. Pháp trí, là trí thấy được tất cả pháp, gồm cả những sự vật bên ngoài và pháp trong tâm của mình. Trí này rất rộng, thấy cả sắc pháp, tâm pháp rõ ràng. Tỷ trí, là trí so sánh, nhận định bên nào khổ bên nào vui, bên nào trầm luân bên nào giải thoát. Đẳng trí, là trí bình đẳng nhìn tất cả sự vật đúng như nhau không sai biệt, nhìn các pháp rõ ràng, biết pháp nào cũng là duyên hợp hư giả. Như vậy trong đạo pháp diệt đế mỗi mỗi trí được tăng trưởng. Nhờ mỗi trí tăng trưởng nên người tu lìa tất cả tham dục ái của thế gian, tăng trưởng tha tâm trí. Đây là dấu hiệu sắp bước lên bậc thánh, thành tựu Tứ gia hạnh. VIII- TỨ QUẢ THANH VĂN 1. Tu-đà-hoàn Khổ pháp nhẫn, khổ pháp trí, khổ tỷ nhẫn, khổ tỷ trí đoạn mười tám thứ Kiết, bốn tâm ấy đạt được nơi khổ đế. Tập pháp nhẫn, tập pháp trí đoạn được bảy thứ Kiết trong Dục giới. Tập tỷ nhẫn, tập tỷ trí đoạn mười ba món Kiết cõi Sắc và Vô sắc. Diệt pháp nhẫn, diệt pháp trí đoạn bảy món Kiết ở Dục giới. Diệt tỷ nhẫn, diệt tỷ trí đoạn mười hai món Kiết ở cõi Sắc và Vô sắc. Đạo pháp nhẫn, đạo pháp trí đoạn tám món Kiết ở Dục giới. Đạo tỷ nhẫn, đạo tỷ trí đoạn mười bốn món Kiết cõi Sắc và Vô sắc. Đạo tỷ trí là đắc quả Tu-đà-hoàn, thật biết các pháp tướng. Trong mười sáu tâm (khổ pháp nhẫn, khổ pháp trí v.v... ) được mười lăm, người lợi căn gọi là Tùy pháp hạnh, người độn căn gọi là Tùy tín hạnh. Hai người này chưa hẳn ly dục nên chỉ được Sơ quả. Trước chưa đoạn kiết sử mà được mười sáu thứ tâm là Tu-đà-hoàn. Tu-đà-hoàn, dịch âm tiếng Phạn, Trung Hoa dịch nghĩa là Nhập lưu, bước vào dòng thánh. Người tu thiền định qua Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền đến đây đi thẳng vào phần chánh pháp của Phật là quán pháp Tứ đế. Do quán chiếu pháp Tứ đế mà được trí tuệ. Nơi khổ đế được bốn thứ tâm, nơi tập đế được bốn thứ tâm, diệt đế được bốn thứ tâm, đạo đế được bốn thứ tâm. Cộng chung lại là mười sáu thứ tâm. Mười sáu tâm này đều gọi là trí, như là khổ pháp nhẫn, nói đủ là khổ pháp trí nhẫn. Khổ pháp trí là trí của khổ pháp, khổ tỷ trí nhẫn, khổ tỷ trí đoạn... Đây dùng nhiều danh từ khó hiểu, tôi giải thích tổng quát. Người tu thiền khi được Sơ thiền Ly sanh hỷ lạc nghĩa là lìa dục được vui, Nhị thiền Định sanh hỷ lạc nghĩa là nhờ an định được vui... đến Tứ thiền Xả niệm thanh tịnh. Bốn thiền này vẫn là phàm phu thiền, tuy có thiền định nhưng chưa có trí. Qua Tứ thiền rồi phải quán pháp Tứ đế. Tứ đế là bài pháp đầu tiên của đức Phật, nhắm thẳng vào chỗ thấy của ngài sau khi chứng quả. Đó là trí tuệ thấy đúng chân lý, đúng lẽ thật. Chúng ta tu không thấy biết được chỗ chân thật đó là si mê, dù có được thiền định cũng là định của phàm phu. Muốn thành quả thánh phải tu trí tuệ, muốn có trí tuệ phải lấy pháp Tứ để làm nền tảng. Quán pháp khổ được trí tuệ nên gọi là khổ pháp trí nhẫn, chữ nhẫn ở đây là an trụ, nghĩa là do quán pháp khổ tâm được an trụ. Do quán khổ mà được trí tuệ nên gọi là khổ pháp trí... Xét kỹ xem chúng ta có nhận chân được lẽ thật của khổ đế như lời Phật dạy hay không? Nếu không biết lẽ thật của khổ, đó là không có trí. Người biết tu, đầu tiên bước vào đường giác ngộ, phải giác ngộ ngay khổ đế. Quán xét thân mình thân người thấy ai cũng chịu chung bốn khổ sanh già bệnh chết, đây là lẽ thật không ai thoát khỏi, dù giàu sang quyền quý như đế vương. Về nội tâm thì có cái khổ xa lìa những gì mình yêu mến, khổ vì mong cầu không được, khổ vì chung hội kẻ oán ghét. Đó là bảy cái khổ, kể chung thân và tâm thì chịu khổ ngũ ấm xí thạnh, nghĩa là thân chung hợp này gây nhiều xáo trộn bất an. Phật dạy khổ đế không phải để chúng ta bi quan, mà thức tỉnh chúng ta nhìn cuộc đời một cách đúng như thật. Do trí quán chiếu khổ, rồi phăn tìm nguyên nhân của khổ, biết cội gốc của nó từ phiền não kiết sử, chúng ta tu để đoạn trừ, tiến dần đến quả giải thoát. Con đường đoạn trừ gốc khổ chia ra nhiều giai đoạn, đi từ cạn đến sâu. Nguyên nhân chính là sự mê lầm, danh từ nhà Phật gọi là hoặc, chia ra làm hai: kiến hoặc và tư hoặc. Kiến hoặc là mê lầm về nhận định, là cái thấy sai, có năm thứ: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ. Mê lầm về tư tưởng gọi là tư hoặc, có năm thứ: tham, sân, si, mạn, nghi. Gốc rễ tư hoặc rất sâu, tiềm ẩn trong chúng ta từ lúc mới sanh, không phải do nhận định sau này. Vì khó trừ nên người tu phải chịu khó rèn luyện mài giũa rất lâu mới trừ được. Kiến hoặc thì dễ trị hơn, khi chúng ta được chỉ dạy, thấy biết lẽ thật, nó liền tan biến. Danh từ pháp số chia các hoặc trong ba cõi theo Tứ đế. Dục giới, khổ đế có đủ mười thứ hoặc, tập đế và diệt đế mỗi đế có bảy thứ, đạo đế có tám thứ, cộng chung là ba mươi hai hoặc hay kiết sử trong cõi Dục. Kiết sử là những phiền não ràng buộc lôi kéo chúng sanh, cõi Dục nhiều lôi kéo ràng buộc nên mê lầm nhiều. Cõi Sắc có hai mươi tám hoặc, Vô sắc có hai mươi tám hoặc. Muốn ra khỏi ba cõi phải diệt trừ hết các thứ hoặc này. Dùng trí quán khổ đế ở Dục giới, được khổ pháp trí, khổ pháp nhẫn; quán khổ đế ở Sắc giới và Vô sắc giới được khổ tỷ nhẫn, khổ tỷ trí. Bốn trí hay bốn tâm này do quán mà được. Quán tập đế ở Dục giới được tập pháp nhẫn, tập pháp trí; quán tập đế ở Sắc giới và Vô sắc giới được tập tỷ nhẫn, tập tỷ trí... Như thế quán Tứ đế trong ba cõi thì được mười sáu trí. Do công năng của các trí này nên diệt trừ xong tám mươi tám hoặc của ba cõi, bước vào dòng thánh gọi là Nhập lưu hay Tu-đà-hoàn. Như vậy người tuy đạt Tứ thiền mà không dùng trí quán Tứ đế thì vẫn chưa ra khỏi ba cõi, chưa giải thoát sanh tử. Vì thế pháp Tứ đế là con đường quan trọng, nên chúng ta mới hiểu tại sao đức Phật lặp đi lặp lại rất nhiều lần pháp Tứ đế cho các thầy Tỳ-kheo. Chuyển từ phàm lên thánh là bắt đầu có trí tuệ thấy đúng như thật, thấy lẽ thật rồi thì tất cả mê lầm bị tiêu diệt mau. Người tu mà không chịu tu tập trí tuệ, cứ tin tưởng vào những điều huyễn hoặc thì không bao giờ dẹp được phiền não. Ở đây phân tích chi ly để chúng ta biết tổng quát các vị tu chứng Tu-đà-hoàn đều phải tiến lên diệt các phiền não kiết sử này. Trong Tu-đà-hoàn lại chia ra làm hai hạng. Hạng lanh lợi gọi là Tùy pháp hạnh, hạng độn căn là Tùy tín hạnh. Tu-đà-hoàn còn gọi là Thất lai, nghĩa là còn phải bảy lần sanh trở lại thế gian rồi mới chứng A-la-hán. Nhiều người cho rằng nếu chúng ta tu thiền trong đời này dù có đạt được quả vị như Tu-đà-hoàn, trở lại sanh đời khác e mê lầm rồi quên, không nhớ gốc mình tu. Nếu quên thì Tu-đà-hoàn bảy lần tái sanh trở lại thế gian không thể tiếp tục tiến tu, vì không quên nên khi trở lại thì gốc cũ vẫn còn. Khi đã thấm nhuần sữa chánh pháp rồi thì nhất định không lui sụt, chỉ có tiến lên mà thôi. Nếu trước đoạn sáu phẩm Kiết được mười sáu thứ tâm gọi là Tư-đà-hàm. Nếu trước đoạn chín phẩm Kiết được mười sáu thứ tâm gọi là A-na-hàm. Bởi chưa ly dục đoạn tám mươi tám món Kiết sử nên gọi Tu-đà-hoàn. Lại nữa, được thiện căn vô lậu quả nên gọi Tu-đà-hoàn. Người lợi căn gọi Kiết đắc, người độn căn gọi là Tín ái. Tu-đà-hoàn tuy đoạn phiền não nhưng chưa ly dục, vì thế còn tái sanh trong nhân gian. Phân biệt với Tư-đà-hàm chỉ còn tái sanh một lần và A-na-hàm không trở lại cõi Dục. Tu-đà-hoàn lợi căn là người thông minh dẹp hết các kiết sử được quả Tu-đà-hoàn, người độn căn là tín ái, tức là tuy dẹp kiết sử nhưng còn yêu mến thân. Chưa đoạn tư hoặc nên phải bảy lần sanh nhân gian, nếu đoạn ba món tư hoặc chỉ còn sanh ba lần. Thấu đạt ba mươi bảy phẩm trợ đạo gọi là Lưu hướng Niết-bàn. Tùy thuận trôi vào biển thánh gọi là Tu-đà-hoàn. Đó là đứa con công đức ban đầu của Phật. Tu-đà-hoàn là đứa con công đức ban đầu của đức Phật, được trôi vào biển thánh. Tôi nhắc lại quả đầu của tứ quả Thanh văn là Tu-đà-hoàn phải còn bảy lần sanh tử mới chứng A-la-hán giải thoát. Nếu chúng ta tu ở đây diệt được phiền não, tuy chưa giải thoát nhưng đã bước vào dòng thánh. Bước vào dòng thánh tức là bất thối chuyển, nhất định bảy lần sanh là đi tới Niết-bàn. 2. Tư-đà-hàm Được thoát khỏi ác đạo, đoạn tam kiết, làm mỏng tam độc gọi là Tư-đà-hàm. Lại nữa, chín phẩm Hoặc ở Dục giới do kiến đế đoạn và tư duy đoạn. Nếu người phàm phu trước dùng hữu lậu đạo đoạn sáu thứ Hoặc ở Dục giới, vào kiến đế đạo, được mười sáu thứ tâm gọi là Tư-đà-hàm. Nếu đoạn được tám thứ Hoặc nhập kiến đế đạo đủ mười sáu thứ tâm gọi là quả Tư-đà-hàm hướng A-na-hàm. Nếu đệ tử Phật chứng Tu-đà-hoàn rồi riêng đoạn ba món Kiết dục, chứng Tư-đà-hàm. Hoặc tư duy trong chín món Hoặc ở Dục giới, đoạn được sáu món gọi là Tư-đà-hàm; đoạn tám món gọi là quả Tư-đà-hàm hướng A-na-hàm. Đây là quả thứ hai trong tứ quả Thanh văn. Tu-đà-hoàn gọi là Thất lai, còn Tư-đà-hàm gọi là Nhất lai, tức là chỉ còn trở lại một lần hoặc ở thế gian hoặc ở cõi trời rồi chứng quả A-la-hán nhập Niết-bàn. Người thoát khỏi ác đạo đoạn được tam kiết, làm mỏng tam độc, gọi là Tư-đà-hàm. Chúng ta muốn biết mình tu khá đến đâu thì nhìn lại tam độc mỏng hay chưa? Nếu tham sân si mỏng rồi thì đó là chuẩn bị vào dòng thánh, nếu tham sân si hết sạch thì tuy thân phàm phu nhưng tâm đã chuyển thành thánh. Phiền não kiết sử tuy nhiều nhưng nói gọn chỉ có ba độc tham sân si. Pháp tu tuy nhiều tên nhiều cách đối trị, nhiều danh từ tu chứng, đều không ngoài việc diệt trừ phiền não. Chúng ta dụng tâm bao lâu diệt được tham? Chừng bao lâu diệt được sân, si? Rõ ràng đó là chuyện của mình, chỉ cần ra công gọt giũa. Ai tu cũng muốn thành thánh, chỉ có ba đứa rối loạn mà không chịu đuổi ra. Đuổi dẹp được nó thì quả thánh tự nhiên đến, không đâu xa. Đôi khi chúng ta càng tu lòng tham càng nhiều, bản ngã càng lớn. Chuyện này dường như vô lý, nhưng nếu tu để dứt phiền não sạch nghiệp tham sân si thì đó là tu tốt, còn tu mà cầu Phật gia hộ, nghĩ đến chuyện mình được phát tài, sống lâu, muốn gì được nấy thì đó là càng tu càng thêm tham. Trên thế gian có nhiều người lợi dụng đạo lý, dùng thuật linh thiêng để rủ chúng ta đi chùa. Đến chùa sẽ được cái này cái kia, toàn là được không thôi, nghe thế rất ham. Vì thế, tu quyết tâm cầu giải thoát thì ít, tu tiếp tục luân hồi thì hơi nhiều. Ở đây các ngài dạy chúng ta tu để diệt mê lầm, để bước dần lên đường thánh, nghe hơi xa lạ với mình. Đừng nói diệt các hoặc nghiệp tế nhị, chỉ nói diệt tham sân si còn thấy khó khăn. Phải nhận thức rõ ràng, hiểu rõ pháp Tứ đế và các phương tiện diệt trừ phiền não. Cố gắng bào mòn, chăm chỉ quán sát để tập khí thưa dần, bớt tham bớt sân bớt si, mỗi ngày tăng trưởng trí tuệ thì tự nhiên các mê lầm ràng buộc chóng dứt, càng tu càng tiến. Như thế mới là an vui. 3. A-na-hàm Nếu phàm phu trước đoạn chín món Hoặc ở Dục giới vào kiến đạo, được mười sáu thứ tâm gọi là A-na-hàm. Hoặc được Tu-đà-hoàn tiến lên đoạn ba món tư hoặc, chứng đạo giải thoát thứ chín gọi là A-na-hàm. A-na-hàm có chín thứ: 1/ A-na-hàm hiện đời vào Niết-bàn. 2/ A-na-hàm thân trung ấm vào Niết-bàn. 3/ A-na-hàm đời sau sanh ra nhập Niết-bàn. 4/ A-na-hàm chuyên cần mong cầu nhập Niết-bàn. 5/ A-na-hàm không cầu mong nhập Niết-bàn. 6/ A-na-hàm tiến lên các cõi trên nhập Niết-bàn. 7/ A-na-hàm lên cõi trời Ca-ni-tra nhập Niết-bàn. 8/ A-na-hàm đến định Vô sắc nhập Niết-bàn. 9/ A-na-hàm thân ở vị A-na-hàm mà hạnh hướng A-la-hán. Đây nói về các bậc A-na-hàm, ngay đời này hoặc đời sau vào Niết-bàn. 4. A-la-hán Dùng vô ngại đạo Kim cương tam-muội thứ chín phá chín món Hoặc cõi Sắc, Vô sắc và tất cả Hoặc, được tận trí giải thoát đạo thứ chín, tu tất cả thiện căn gọi là quả A-la-hán. A-la-hán có chín thứ: 1/ Thối pháp. 2/ Bất thối pháp. 3/ Tử pháp. 4/ Thủ pháp. 5/ Trụ pháp. 6/ Tất tri pháp. 7/ Bất hoại pháp. 8/ Tuệ thoát. 9/ Cộng thoát. Trí kém, tinh tấn yếu, thực hành ngũ pháp mà lui sụt gọi là A-la-hán Thối pháp. Trí tuệ sắc bén, siêng năng hành ngũ pháp không lùi, gọi là A-la-hán Bất thối pháp. Trí kém, tinh tấn yếu mà nhàm chán mạnh suy nghĩ muốn tự sát, gọi là A-la-hán Tử pháp. Trí kém, tinh tấn mạnh tự bảo vệ thân, gọi là A-la-hán Thủ pháp. Trí bậc trung, tinh tấn bậc trung không tăng không giảm, trụ vào bậc trung gọi là A-la-hán Trụ pháp. Trí có phần sắc bén, chuyên cần tinh tấn được bất hoại tâm giải thoát gọi là A-la-hán Tất tri pháp. Trí sắc bén, tinh tấn mãnh liệt mới được bất hoại tâm giải thoát gọi là A-la-hán Bất hoại pháp. Không nhập trong các thiền định vị đáo địa mà các lậu đã sạch, gọi là A-la-hán Tuệ giải thoát. Được các thiền cũng được Diệt tận định, các lậu dứt sạch, gọi là A-la-hán Cộng giải thoát. A-la-hán dịch nghĩa là Vô sanh, không còn trở lại sanh tử. Người tu theo hạnh Thanh văn đến quả A-la-hán là tột cùng. Trong đây chia ra chín hạng. Hạng thứ nhất là thối pháp. Do trí kém, tinh tấn yếu, thực hành ngũ pháp mà lui sụt nên gọi thối pháp. Thứ hai, người trí tuệ sắc bén siêng năng tu hành ngũ pháp không lùi gọi là A-la-hán bất thối pháp. Ngũ pháp tức là các tư hoặc: tham, sân, si, mạn, nghi. Đối năm pháp này tinh tấn đối trị không lùi gọi là bất thối. Thứ ba, người trí kém, tinh tấn yếu suy nghĩ muốn tự sát gọi là A-la-hán tử pháp. Đó là những vị A-la-hán quán bất tịnh... thấy thân này chán quá, gớm quá nên muốn tự sát. Thứ tư, người tuy trí kém nhưng tinh tấn mạnh, muốn giữ thân này khỏe mạnh để tu hành gọi là A-la-hán thủ pháp. Thứ năm, vị này tu hành tinh tấn và trí tuệ đều vừa chừng, gọi là A-la-hán trụ pháp. Thứ sáu, người trí sắc bén, chuyên cần tinh tấn có thể được tâm bất hoại gọi là A-la-hán tất tri pháp. Thứ bảy, người trí sắc bén tinh tấn mãnh liệt hơn người trước, bắt đầu được tâm bất hoại, gọi là A-la-hán bất hoại pháp. Thứ tám, người không nhập các thiền định, chưa đến địa vị mà các lậu đã sạch gọi là A-la-hán Tuệ giải thoát. Đây là trường hợp vị A-la-hán tu không chứng Sơ thiền Nhị thiền Tam thiền Tứ thiền, do trí tuệ thấy rõ được pháp Tứ đế không nghi ngờ không lầm lẫn, những vị đó hiện đời do trí tuệ mà được giải thoát. Thứ chín, các vị tu chứng các thiền, được Diệt tận định, các lậu dứt sạch, gọi là A-la-hán cộng giải thoát. Cộng tức là trí tuệ và thiền định. Như vậy trong cách tu giải thoát có hai hạng người. Hạng người trí tuệ mạnh, có khi không nhập định mà vẫn được giải thoát. Tại sao? Tuy không nhập định mà biết rõ cội nguồn của khổ, biết rõ cội nguồn của dính mắc trói buộc, cắt gỡ hết những trói buộc đó thì tự nhiên giải thoát. Còn có những vị vừa tu tập thiền định tăng trưởng sức mạnh vừa dùng trí bén để gỡ bỏ những trói buộc, mau đến kết quả giải thoát. Hiện giờ chúng ta tu vừa thiền định vừa dùng trí tuệ quán, đó là cộng giải thoát. Đệ tử Phật có hai vị gọi là hàng tướng quân trong chánh pháp, ngài Xá-lợi-phất trí tuệ đệ nhất và ngài Mục-kiền-liên thần thông đệ nhất, do sức thiền định nên được thiền định đệ nhất. Như vậy, người tu không nhất thiết phải giống hệt nhau. Có người tu trí nhiều, có người tu định nhiều. Định nhiều trí ít đưa đến sức mạnh phi thường là thần thông, trí nhiều định ít không đặt nặng thần thông nhưng nhờ trí tuệ thấu suốt, dứt sạch phiền não nhập Niết-bàn. Có vị A-la-hán đối với pháp hữu vi rất nhàm chán tự mãn, không muốn làm các việc công đức, chỉ đợi thời nhập Niết-bàn. Có vị A-la-hán mong cầu Tứ thiền, Tứ định Vô sắc, Tứ đẳng tâm, Bát giải thoát, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ nhập, Cửu thứ đệ định, tu Lục thần thông, Nguyện trí, Vô tránh tam-muội, Siêu việt tam-muội, huân thiền, tam giải thoát môn và Phóng xả. Lại y cứ trí sắc bén chuyên cần tinh tấn nhập các thiền công đức, gọi là A-la-hán đắc Bất thối pháp, Bất hoại pháp. Phân biệt về thái độ của các vị A-la-hán, có A-la-hán hơi bi quan, hơi tự mãn, chỉ chờ nhập Niết-bàn. Còn những vị A-la-hán hăng hái tu tất cả pháp, pháp nào của Phật dạy đều đem ra ứng dụng. Các vị thành tựu Cửu thứ đệ định, đắc lục thông, tu Nguyện trí... được tất cả rồi sau mới nhập Niết-bàn. Như vậy các vị này tích cực hơn. Tóm lại, người tu tứ quả Thanh văn dứt được phiền não, đến Niết-bàn có gần xa khác nhau. Tất cả đều lấy Tứ đế làm nền tảng, làm gốc để phát triển trí tuệ. Pháp Tứ đế rất quan trọng, ngay khi chúng ta tu tập đây cũng lần lượt áp dụng. Trước tiên xét thấy cái khổ sanh tử, biết nó là do tập nghiệp phiền não gây ra, dứt nghiệp là diệt đế, muốn dứt nghiệp phải làm chủ lấy mình, không theo vọng tưởng, đó là tu tập đạo đế. Từ xưa đến nay đệ tử Phật không rời xa Tứ đế này. IX- QUẢ BÍCH-CHI PHẬT Nếu khi không có Phật ra đời, không có giáo pháp và các đệ tử Phật, khi ấy có những vị ly dục Bích-chi Phật ra đời. Bích-chi Phật có ba bậc: thượng, trung, hạ. Có một quả khác không do pháp Tứ đế của Phật, lại do công phu riêng, đó là Bích-chi Phật. Bích-chi Phật, Trung Quốc dịch nghĩa là Phật Độc giác. Độc là riêng, giác là giác ngộ, nghĩa là chỉ riêng mình quán chiếu rồi được giác ngộ chứ không phải do nghe pháp của Phật. Thanh văn là được nghe lời Phật dạy, thấu suốt lý Tứ đế mà được giải thoát, còn các vị này ra đời không gặp Phật, không được gặp kinh điển, không được gặp đệ tử Phật, chỉ do quán lẽ thật của cuộc đời mà được giác ngộ. Người thành tựu quả Độc giác gọi là Bích-chi Phật. Như ở Trung Quốc xưa có đạo Khổng, đạo Lão, những vị này không gặp Phật pháp. Nhưng Lão Tử cũng là người thức tỉnh, người có đôi phần giác do tự nghiệm tự chứng, không do học hỏi. Đây cũng là trường hợp Độc giác. Giác ngộ thức tỉnh không phải chỉ riêng có trong đạo Phật, nhưng theo giáo lý thì phân chia cho dễ hiểu. 1. Bích-chi Phật bậc hạ Vị đã chứng Tu-đà-hoàn hoặc Tư-đà-hàm. Tu-đà-hoàn phải sanh trong nhân gian bảy lần, đến lần thứ bảy nếu không gặp Phật pháp, không được làm đệ tử Phật, cũng không sanh đến lần thứ tám, khi ấy chứng Bích-chi Phật. Tư-đà-hàm còn sanh lại nhân gian một lần, nếu không gặp Phật pháp, không được làm đệ tử Phật cũng không sanh đến lần thứ hai, khi ấy chứng Bích-chi Phật. Trường hợp Bích-chi Phật bậc hạ là các vị Tu-đà-hoàn tái sanh đến lần thứ bảy, không gặp Phật pháp, cũng tự giác ngộ; các vị Tư-đà-hàm tái sanh một lần không gặp Phật pháp, tự giác ngộ, được quả Bích-chi Phật. Như thế chúng ta càng tin mạnh hơn về nhân duyên tu tập. Đời trước gặp Phật, được quả Tu-đà-hoàn tức là được vào dòng thánh, đời sau chót không gặp Phật, không gặp giáo pháp, chúng ta cũng không lui sụt. Đã có trí tuệ tỉnh giác, tự quán sát sự vật chung quanh thấy nó sanh rồi diệt, quán rõ thấy rõ liền được giác ngộ chứng quả Bích-chi Phật. Như vậy đã có hạt giống mạnh mẽ thì không bao giờ mất. Nhiều người e sợ đời này tu chưa ra gì, lỡ đời sau không gặp được Phật pháp mất hết chủng tử tu tập. Đừng lo mất, chỉ lo mình không gieo trồng; đã có gieo trồng rồi thì không mất. Đời này tu được bao nhiêu tích lũy đó, đời sau tùy duyên gặp Phật pháp thì tiến nhanh, không gặp Phật pháp thì cũng có cơ hội giác ngộ. 2. Bích-chi Phật bậc trung Có người nguyện làm Bích-chi Phật, khi gieo căn lành Bích-chi Phật, căn lành thuần thục đối với Phật pháp không có, chán đời đi xuất gia đắc đạo, đây là Bích-chi Phật. Như vua nước Ba-la-nại mùa hạ nóng bức ở trên lầu cao, ngồi sàng thất bảo, sai thể nữ tán hương ngưu đầu chiên-đàn xoa vào thân. Thể nữ tay đeo rất nhiều xuyến, khi xoa vào mình vua xuyến khua vang tai. Vua rất ghét bảo thứ lớp cởi bớt xuyến, xuyến còn ít thì tiếng khua cũng ít, khi chỉ còn một chiếc thì im lặng không khua. Khi ấy vua tự giác ngộ: “Quốc gia, quan dân, cung nhân thể nữ, nhiều việc thì nhiều não cũng giống như thế.” Tức thì lìa dục riêng ở một chỗ suy gẫm chứng Bích-chi Phật, râu tóc tự rụng, mặc y tự nhiên, rời cung điện dùng sức thần túc vào núi xuất gia. Nhân duyên như thế, là Bích-chi Phật bậc trung. Các vị này cũng gặp thời không có Phật nhưng có gieo căn lành Bích-chi Phật, chán đời đi xuất gia rồi đắc đạo. Như vua nước Ba-la-nại trong câu chuyện này, tuy không học câu kinh nào, không gặp thầy chỉ dạy, nhưng tự nghiệm lấy chính mình. Khi cung nữ xoa hương phấn vào mình, tay mang xuyến nhiều nên khua vang, vua khó chịu bảo cởi bỏ bớt, cởi bỏ một chiếc thì thấy nó kêu ít một chút, bỏ chiếc nữa thì nó kêu ít chút nữa, bỏ riết còn một chiếc thì hết kêu. Vua nghiệm mình nhiều việc, nhiều việc thì rối loạn, cũng như thế bỏ hết mọi việc ngồi một mình tu thì hết rối loạn. Do đó thức tỉnh lìa dục, riêng ở một chỗ suy gẫm chứng Bích-chi Phật. Đây là Độc giác bậc trung. 3. Bích-chi Phật bậc thượng Có người cầu Phật đạo, sức trí tuệ và tinh tấn kém do gặp nhân duyên lui sụt, đến khi không có Phật ra đời, không Phật pháp và đệ tử Phật, mà hành thiện căn được thuần thục thành Bích-chi Phật, có tướng hảo hoặc ít hoặc nhiều, nhàm chán thế tục đi xuất gia đắc đạo là Bích-chi Phật bậc thượng. Bích-chi Phật bậc thượng, do tự mình xưa đã có gieo trồng căn lành nơi Phật pháp, nhưng sức trí tuệ tinh tấn còn kém nên chưa đắc quả. Đến thời sanh ra không gặp Phật và đệ tử Phật, thiện căn chín muồi liền phát tâm đi tu ngộ đạo, chứng quả Bích-chi Phật. Như thế mới thấy, chúng ta tu Phật không có gì thiệt thòi mất mát. Nhiều vị tu ở chùa năm năm mười năm rồi không biết lý do gì lui sụt, trở lại thế gian. Người đời thấy vậy chê cười, cho rằng ông thầy đó tu không ra gì. Sự thật không có gì mất, tu được một chặng, tích chứa chủng tử lành, hết thời gian phàm tục thì hướng tới tu nữa, mau đắc đạo. Trong kinh có kể, Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc tu chứng quả A-la-hán, gặp các thiếu nữ mười lăm mười sáu tuổi, bà bảo mấy cô phát tâm xuất gia làm Tỳ-kheo-ni. Các cô thưa sợ tu không được, phạm giới đọa địa ngục. Bà nói, không sao đâu, đọa địa ngục rồi lên tu lại. Tại sao bà nói như thế? Người tu dù chưa đi đến nơi, dù có phạm tội đọa địa ngục, nhưng khi hết nghiệp địa ngục có cơ hội trở lên họ nhớ chủng tử trước lại tu mau tiến. Còn hơn người không có chủng tử, bị đọa địa ngục rồi lên không biết gì hết, lại lăng xăng phạm tội đọa nữa. Nhiều khi chúng ta hiểu lầm “đời này tu lôi thôi, đời sau mất chủng tử đó rồi không gặp đạo.” Hiện tại đã có gieo chủng tử, về sau có cơ hội sẽ nhớ thì cũng tu lại, không mất. Hiểu chỗ này chúng ta yên lòng tu, ngày nào có công phu là ngày đó có chủng tử lành, có chủng tử lành rồi không sớm thì chầy cũng tiến. Đó là ý nghĩa rất rõ ràng. Đối trong các pháp, trí tuệ cạn được vào gọi là A-la-hán, trí tuệ bậc trung là Bích-chi Phật, trí tuệ bậc sâu là Phật. Như ở xa nhìn cây, chỉ thấy cây không phân biệt được cành; lại gần hơn phân biệt được cành, không phân biệt hoa lá; đến dưới cội cây nhìn lên mới phân biệt rành rõ cành lá hoa quả. Đây giản trạch thế nào là Phật, thế nào là A-la-hán, thế nào là Bích-chi Phật. A-la-hán là trí tuệ cạn, Bích-chi Phật là trí tuệ bậc trung, Phật là trí tuệ sâu thẳm. Như người đứng xa nhìn cái cây, thấy tổng quát không phân biệt cành lá rõ ràng, dụ cho trí tuệ của A-la-hán. Người đứng gần hơn nhìn thấy cây, có thể phân biệt được cành lá, nhưng chưa phân biệt hoa quả, dụ cho trí tuệ Bích-chi Phật. Người đứng sát cội cây nhìn lên thấy rõ ràng cành lá hoa quả, từng chi tiết không nghi ngờ, dụ cho trí tuệ sâu của Phật. Cùng một sự vật, tùy theo trí tuệ cạn sâu mà chỗ thấy hiểu phân biệt khác nhau. Đức Phật do sức tu chứng thâm sâu và công hạnh độ sanh dài lâu nên trí tuệ của ngài vượt hơn hẳn các bậc A-la-hán và Bích-chi Phật. Thanh văn biết tất cả hạnh vô thường, tất cả pháp vô ngã, chỉ Niết-bàn là hoàn toàn an ổn. Thanh văn hay quán như thế, mà không thể phân biệt biết sâu và vào sâu. Bích-chi Phật có phân biệt mà cũng không thể phân biệt biết sâu và vào sâu. Phật biết các pháp phân biệt cứu xét rõ ràng, biết tận cùng và vào tận cùng. Trí tuệ của Thanh văn, biết tất cả hạnh vô thường, tất cả pháp vô ngã, biết Niết-bàn là hoàn toàn an ổn. Chỉ quán biết như thế nhưng không thể phân biệt vào sâu. Bích-chi Phật cũng quán biết, có thể phân biệt nhưng không phân biệt vào sâu. Chỉ có Phật biết tận cùng các pháp, phân biệt cứu xét rõ ràng, vào tận cùng. Các hạnh vô thường, các pháp vô ngã, Niết-bàn tịch tịnh là tam pháp ấn. Ấn là in, như con dấu in trên tờ giấy trắng, con dấu có chữ gì thì hiện ra chữ ấy không sai chạy. Ba pháp vô thường, vô ngã, Niết-bàn tịch tịnh là con dấu chắc thật, đóng trên các pháp không sai chạy. Hàng đệ tử Phật và các bậc thánh đều biết và quán sát lẽ thật này. Giáo lý của các kinh A-hàm lấy ba pháp này làm chỗ chân thật chứng minh, ai nói pháp Phật mà rời ba pháp này đều không phải. Chúng ta xét thấy tất cả các hành động, các hiện tượng thế gian đều là tướng vô thường sanh diệt, đó là một lẽ thật. Chư pháp vô ngã là các pháp duyên sanh, duyên tụ họp không có chủ thể cố định, đó cũng là lẽ thật. Thấy các hạnh vô thường, các pháp vô ngã, đến đó không phải là dứt hết; phải đến chỗ không sanh không diệt, đó là Niết-bàn an lạc. Các hàng Thanh văn quán biết ba pháp này nhưng còn cạn cợt ở ngoài. Đến hàng Duyên giác Bích-chi Phật cũng quán ba pháp đó nhưng có thể biết sâu hơn. Phật thì biết tột cùng, biết rành rõ không còn tý nào nghi ngờ. Tu Phật là đến chỗ hoàn toàn giác ngộ, không phải tu lưng chừng lôi thôi một chút ít mà xong việc. Nhân đây tôi giải thích chữ truyền tâm ấn, danh từ này chỉ có trong Thiền tông. Truyền tâm ấn là sự ấn chứng thân truyền giữa thầy trò, thầy thấy biết thế nào thì đệ tử cũng thấy biết đúng như vậy, thầy ấn tâm cho trò là chấp nhận người đệ tử này hiểu đúng đạo lý như thật. Như tổ Huệ Khả khi được Sơ tổ Đạt-ma chỉ cho lối vào, ngài nhận được và tiến tu. Một hôm ngài Huệ Khả thưa: Tâm con bặt hết các duyên. Tổ Đạt-ma bảo: Coi chừng rơi vào không. Ngài thưa: Rõ ràng thường biết làm sao không được. Tổ bảo: Ngươi được như thế, ta cũng được như thế, chư Phật cũng như thế, nên khéo giữ gìn. Đây là truyền tâm ấn. Chỗ này không có gì mầu nhiệm, khi nào đệ tử trình bày chỗ tu của mình đúng như cái thấy biết của thầy, thì thầy nói là đúng, là được. Ngang đó đệ tử hết nghi, thầy cũng hoàn toàn chấp nhận đệ tử. Lẽ thật của đạo là như thế, không phải như mọi người hiểu lầm, cứ nói truyền tâm ấn là phải làm sao cho có vẻ la lùng huyền bí. Cái gì có tính cách lạ thường đều không phải của đạo Phật. Mục Lục
|
Thanh Từ Toàn Tập 15 - Thiền Học Căn Bản
|