|
Thanh Từ Toàn Tập 15 - Thiền Học Căn Bản
Chương 5 - 6
CHƯƠNG V BỒ-TÁT TU NGŨ PHÁP Chánh văn: I- BỒ-TÁT NIỆM PHẬT TAM-MUỘI 1. Niệm sanh thân Phật Nếu hành giả muốn cầu Phật đạo, nhập thiền trước hệ tâm chuyên niệm thân sống của chư Phật khắp mười phương ba đời, chớ niệm đất, nước, gió, lửa, núi, sông, cây, cỏ... những loại hữu hình trong trời đất và các pháp khác, chỉ niệm thân sống của chư Phật ở tại hư không. Ví như biển cả nước trong xuất hiện bóng núi Tu-di kim sơn vương, như trong đêm tối đốt ngọn lửa lớn, như trong miếu đại thí có tràng thất bảo. Thân Phật như thế, có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, thường phóng ra vô lượng ánh sáng thanh tịnh ở trong bầu trời xanh. Thường niệm tướng thân Phật như thế, hành giả liền được chư Phật khắp mười phương ba đời hiện trước tâm nhãn, được chánh định thấy tất cả. Nếu tâm duyên các chỗ khác liền thu nhiếp trở về trụ niệm tại thân Phật. Khi ấy liền được thấy phương đông ba trăm ngàn muôn ức chư Phật; phương nam, phương tây, phương bắc, tứ duy, thượng hạ cũng như thế. Tùy phương mình niệm được thấy tất cả chư Phật, như người ban đêm ra đứng xem sao, trăm ngàn vô lượng ngôi sao đều được thấy. Bồ-tát được tam-muội này, trừ những tội dày từ vô lượng kiếp được mỏng, tội mỏng liền tiêu diệt. 2. Niệm pháp thân Phật Được tam-muội trên rồi, phải niệm vô lượng công đức của Phật: Trí biết tất cả, giải thoát tất cả, thấy khắp tất cả, có tất cả công đức, được đại từ đại bi, tự tại, từ khi mới thoát khỏi vô minh, được tứ vô úy, ngũ nhãn, thập lực, thập bát bất cộng pháp, hay trừ vô lượng khổ, cứu khỏi cái khiếp sợ già chết, cho Niết-bàn thường lạc. Phật có những thứ công đức vô lượng như thế, khởi niệm ấy rồi tự phát nguyện rằng: “Ta khi nào sẽ được thân Phật và công đức cao quý như Phật.” Lại phát thệ lớn: “Tất cả phước đời quá khứ, tất cả phước đời hiện tại đem hết cầu Phật đạo, không mong quả nào khác.” Lại phát thệ: “Tất cả chúng sanh rất đáng thương xót, thân và công đức chư Phật cao quý như vậy, tại sao chúng sanh lại cầu mong quả khác, mà không cầu làm Phật? Ví như người mù con nhà phú hộ rơi xuống hầm sâu, đói khát khổ sở, ăn phẩn ăn đất, cha rất thương xót tìm phương tiện cứu giúp, trao xuống hầm những thức ăn ngon.” Lại phát thệ: “Hai thứ thân của Phật công đức cam lồ như vậy, mà chúng sanh rơi trong hầm sâu sanh tử, ăn toàn đồ bất tịnh, dùng tâm đại bi ta sẽ cứu giúp tất cả chúng sanh cho được Phật đạo, qua bờ sanh tử, lấy các thứ công đức pháp vị của Phật cho ăn thảy đều no đủ. Tất cả Phật pháp nguyện chúng sanh thảy đều đạt được. Nghe, tụng, gìn giữ, thưa hỏi, suy xét, thực hành, đắc quả là thềm thang vào đạo. Lập thệ trọng đại, mặc giáp Tam nguyện, ngoài phá chúng ma, trong giết giặc kiết sử, thẳng tiến không lùi.” Tam thệ nguyện như thế so với vô lượng thệ nguyện cùng đồng một phát điểm, vì độ chúng sanh được thành Phật đạo. Niệm như thế, thệ nguyện như thế là Bồ-tát niệm Phật tam-muội. II- BỒ-TÁT QUÁN BẤT TỊNH TAM-MUỘI Hành giả Bồ-tát đối trong tam độc nếu thấy tham dâm nhiều nên trước tự quán thân ba mươi sáu vật: xương, thịt, da, gân, mạch, máu, gan, phổi, bao tử, ruột v.v... và quán Cửu tưởng, các thứ bất tịnh. Chuyên tâm quán bên trong, không cho nghĩ các việc ngoài, có nghĩ các việc ngoài liền thu nhiếp trở về. Như người cầm đuốc vào kho chứa ngũ cốc, mỗi mỗi phân biệt rành rõ nào đậu, mè, lúa, bắp đều biết rõ ràng. Quán thân có sáu phần, cứng thuộc về đất, ướt thuộc về nước, nóng thuộc về lửa, động thuộc về gió, lỗ trống thuộc về không, hiểu biết thuộc về thức. Như người mổ bò chia sáu phần: đầu, mình và tứ chi, mỗi phần tự khác. Thân có chín lỗ thường chảy bất tịnh, túi da đựng đầy phẩn uế. Thường quán như thế không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Nếu được nhất tâm, ý sanh nhàm chán mong rời khỏi thân này, muốn nó mau diệt để vào Niết-bàn. Khi ấy, phải phát đại từ đại bi, dùng đại công đức cứu vớt chúng sanh làm sống dậy ba thệ nguyện trước. Bởi các chúng sanh không biết thân này là bất tịnh gây các tội cấu, ta phải vớt họ lên bờ cam lồ. Chúng sanh ở Dục giới mê đắm bất tịnh, như chó ăn phẩn, ta phải độ họ đến đạo thanh tịnh. Lại ta phải học và cầu thật tướng của các pháp, không phải hữu thường, không phải vô thường, không phải tịnh, không phải bất tịnh, tại sao ta lại chấp cái bất tịnh này? Trí quán bất tịnh này là từ nhân duyên sanh, như ngã và pháp, phải cầu tướng chân thật của nó, tại sao nhàm chán trong thân bất tịnh mà chấp lấy Niết-bàn? Phải như voi lớn qua suối, chân giẫm tận đáy nguồn, được thật tướng của các pháp diệt sự nhập Niết-bàn, đâu phải như khỉ, thỏ v.v... kinh sợ dòng suối chỉ mong một mình lội qua. Ta nay phải học pháp Bồ-tát thực hành pháp quán bất tịnh để rộng hóa độ chúng sanh khiến lìa khỏi hoạn dâm dục, không bị quán bất tịnh làm chìm đắm. Đã quán bất tịnh thì nhàm chán sanh tử phải quán tịnh môn để bổ cứu lại. Quán tịnh là buộc tâm ba chỗ: sống mũi, giữa chặng mày và trên trán. Tưởng chính ngay nơi đó xẻ một tấc da, dẹp sạch máu thịt, buộc tâm tưởng xương trắng không nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Buộc tâm một trong ba chỗ hằng cùng vọng niệm tranh đấu, như hai người đánh nhau. Hành giả nếu thắng được vọng tâm không bằng bắt nó trụ một chỗ, trụ một chỗ gọi là nhất tâm. Hoặc nhàm chán, liền phát tâm đại bi thương xót chúng sanh, do quán xương rồng này xa lìa Niết-bàn vào trong ba đường ác. Ta phải nỗ lực chuyên cần làm các thứ công đức, giáo hóa chúng sanh khiến thấu rõ tướng thân rỗng không, chỉ một lớp da mỏng che đậy bộ xương, toàn là một khối bất tịnh, tạm gọi là chúng sanh. Thứ tự phân biệt các pháp tướng, có một ít tướng tịnh tâm sanh ái trước, tướng bất tịnh nhiều tâm sanh nhàm chán, có tướng vượt ra nên sanh thật pháp. Trong tướng chân thật của các pháp không có tướng tịnh, bất tịnh, bít lấp, vượt ra. Quán các pháp bình đẳng không thể phá hoại, không thể biến động, đó gọi là thật tướng của các pháp. III- BỒ-TÁT QUÁN TỪ TAM-MUỘI Người thực hành đạo Bồ-tát, nếu thấy nóng giận nhiều nên hành tâm Từ. Hành giả nghĩ tưởng chúng sanh ở phương đông, tâm Từ thanh tịnh thênh thang vô lượng, không có thù không có giận, thấy các chúng sanh ấy thảy đều ở trước mắt. Phương nam, tây, bắc, tứ duy, thượng hạ cũng như vậy. Kìm tâm hành Từ không cho nghĩ gì khác, nếu có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về, giữ tâm mục quán tất cả chúng sanh đều thấy rõ ràng ở trước. Nếu được nhất tâm phải phát nguyện rằng: “Ta lấy pháp Niết-bàn chân thật thanh tịnh độ thoát chúng sanh khiến được vui chân thật.” Hành Từ tam-muội tâm được như thế là đạo Bồ-tát. Trụ Từ tam-muội quán thật tướng các pháp thanh tịnh, không hoại, không động, nguyện cho chúng sanh đều được pháp lợi này. Lấy Từ tam-muội này nghĩ tưởng tất cả chúng sanh ở phương đông khiến được vui như Phật. Khắp mười phương đều như thế, tâm không chuyển loạn, ấy gọi là môn Từ tam-muội của Bồ-tát. - Tại sao không một thời chung niệm cả mười phương chúng sanh? - Trước niệm một phương để được nhất tâm, nhiên hậu thứ lớp niệm khắp các phương. - Người có kẻ thù hằn muốn hại nhau, thế nào hành Từ muốn cho người thù vui được? - Từ là tâm pháp, xuất sanh nơi tâm, trước nên nghĩ đến người thân, kế người không thân không sơ, sau chuyển lên kẻ thù, như ngọn lửa mạnh thì đốt khô các thứ ướt. - Khi chúng sanh gặp các thứ nạn khổ hoặc ở trong loài người, hoặc trong địa ngục, Bồ-tát tuy có lòng từ mà chúng sanh kia làm sao được vui? - Trước bắt nguồn nơi người vui, nhận tướng vui ấy khiến người khổ này được vui như người kia. Ví như quân tướng bại trận sợ khiếp đảm, xem quân địch thắng trận là dũng sĩ. - Hành Từ tam-muội có thiện lợi gì? - Hành giả tự nghĩ: Người xuất gia lìa tục phải thực hành tâm Từ. Lại suy nghĩ: Ta ăn của tín thí phải làm gì cho có ích lợi, như Phật dạy: “Trong chốc lát hành Từ, ấy là tuân theo lời Phật dạy là người vào đạo không uổng của tín thí.” Thân mặc chiếc áo hoại sắc, tâm không nên nhiễm thế tục, sức Từ tam-muội khiến người không nhiễm. Ta tâm hành Từ, ở trong đời phi pháp ta là người có pháp, trong chúng phi pháp ta là người có pháp. Do sức định của Từ khiến người hành đúng pháp, đúng pháp thì không khổ não. Bồ-tát hành đạo là tiến đến cửa cam lồ, các thứ nhiệt não do sức Từ làm mát mẻ vui vẻ. Như Phật nói: “Người khi nóng bức quá lắm vào hồ nước trong mát thì vui.” Mặc chiếc giáp đại từ ngăn các mũi tên phiền não. Từ là thuốc pháp làm tiêu các thứ độc thù hận, phiền não đốt tâm. Từ hay trừ diệt, Từ là cái thang lên đài giải thoát, Từ là thuyền pháp đưa người qua biển sanh tử. Cầu của báu thiện pháp, Từ là món báu tối thượng. Người tìm Niết-bàn, Từ là lương thực đi đường, Từ là cặp chân mạnh tiến đến Niết-bàn. Từ là mãnh tướng vượt khỏi ba đường ác. Người hay thực hành Từ tiêu diệt các thứ ác, chư thiên, thiện thần thường ủng hộ. - Nếu khi hành giả được Từ tam-muội làm thế nào sẽ không mất mà lại tăng trưởng? - Học giới thanh tịnh, tin vui học các thứ thiền định, nhất tâm, trí tuệ, ưa ở chỗ vắng vẻ, thường không buông lung, ít muốn biết đủ, việc làm đúng lời Phật dạy, tiết chế thân ít ăn bớt ngủ, đầu hôm và khuya tư duy không bê trễ, giảm sự nói năng, lặng lẽ giữ an tịnh, đi đứng nằm ngồi biết thời chừng mực, không quá sức đến phải nhọc nhằn khổ sở, điều hòa sự nóng lạnh không để não loạn, đó là tăng ích cho Từ. Lấy cái vui Phật đạo, cái vui Niết-bàn cho tất cả người, ấy gọi là đại từ. Hành giả suy nghĩ: Hiện tại, vị lai những vị đại nhân hành Từ làm lợi ích tất cả, ta cũng là một chúng sanh được cứu giúp, các ngài là vị thần lành ủng hộ ta, ta phải hành từ để đền lại ơn ấy. Lại nghĩ rằng: Các vị đại đức tâm thương tưởng tất cả lấy đó làm vui, ta cũng phải như vậy, niệm tất cả chúng sanh nguyện họ được cái vui như Phật, cái vui Niết-bàn, ấy là đền ơn các ngài. Sức Từ hay khiến tất cả tâm được khoái lạc, thân lìa nhiệt não được cái vui thanh lương, gìn giữ thực hành phước Từ nghĩ tưởng làm an ổn tất cả để đền ơn các ngài. Từ có những thứ thiện lợi: Từ đoạn sự nóng giận. Từ mở cửa tiếng tốt. Từ là thí chủ. Từ là ruộng tốt. Từ là nhân sanh Phạm thiên. Từ ưa ở chỗ ly dục. Từ trừ hết gốc thù nghịch và tranh đấu. Từ được chư Phật khen ngợi. Từ thì người trí yêu mến. Từ hay giữ giới thanh tịnh. Từ sanh trí tuệ, sáng suốt. Từ hay nghe pháp lợi. Từ là công đức đề hồ. Từ quyết định người tốt. Từ là sức mạnh của người xuất gia. Từ tiêu diệt các thứ ác. Kẻ ác mắng chửi, dùng Từ đáp lại hay điều phục được. Từ là chỗ nhóm họp của các thứ khoái lạc. Từ là pháp sanh tinh tấn. Từ là mầm gốc của sự giàu sang. Từ là tạng phủ của trí tuệ và biện tài. Từ là kho tàng thành tín. Từ là cửa của các thiện. Từ là pháp đem đến danh dự. Từ là cội gốc được kính yêu. Từ là đạo chân chánh của Phật. Nếu người gây sự ác trở lại tự chịu tai họa, có năm thứ lời nói ác: 1- Nói phi thời, 2- Nói không thật, 3- Nói không lợi, 4- Nói không từ, 5- Nói không nhu hòa, không thể khuynh động được Từ. Tất cả độc hại cũng không xâm phạm được Từ, ví như một đóm lửa không thể đốt biển cả. Như trong kinh Tỳ-la, Phẩm Ưu-điền vương A-bà-na nói: “Có hai vị phu nhân, một tên Vô Tỷ, một tên Xá-mê-bà-đế. Vô Tỷ phỉ báng Xá-mê-bà-đế, Xá-mê-bà-đế có năm trăm người hộ vệ, vua lấy năm trăm mũi tên muốn bắn chết hết. Xá-mê-bà-đế bảo những người hộ vệ: “Lại đứng sau ta!” Khi ấy Xá-mê-bà-đế nhập Từ tam-muội, vua giương cung bắn bà. Mũi tên thứ nhất rớt dưới chân bà, mũi tên thứ hai trở lại rơi dưới chân vua. Vua kinh hãi, lại muốn phóng tên. Xá-mê-bà-đế bảo vua: “Dừng! Dừng lại! Vì nghĩa vợ chồng nên phải nói cho nhau, nếu phóng mũi tên này sẽ ghim thẳng vào tim ông.” Vua khi ấy kinh khủng, buông cung bỏ tên hỏi: “Ngươi có pháp thuật gì?” Đáp: “Không có pháp thuật gì lạ, tôi là đệ tử Phật nhập Từ tam-muội được như thế.” Từ tam-muội lược nói có ba duyên: sanh duyên, pháp duyên và vô duyên. Những vị chưa đắc đạo là sanh duyên. A-la-hán, Bích-chi Phật là pháp duyên. Chư Phật Thế Tôn là vô duyên. Đó là đã lược nói môn Từ tam-muội. IV- BỒ-TÁT QUÁN NHÂN DUYÊN TAM-MUỘI Người thực hành đạo Bồ-tát, đối trong ba độc, nếu thấy ngu si nhiều, phải quán mười hai nhân duyên phá hai thứ si. Trong phá si tự thân, ngoài phá si của chúng sanh. Suy nghĩ rằng: “Ta và chúng sanh đồng ở trong cảnh ách nạn, thường chịu sanh lão bệnh tử, thường tiêu diệt và thường vượt ra. Chúng sanh không biết lối ra thì làm sao được thoát, thật đáng thương xót!” Nhất tâm suy nghĩ sanh lão bệnh tử là do nhân duyên sanh. Lại phải suy nghĩ do nhân nào duyên sanh? Nhất tâm suy nghĩ nhân Sanh duyên Hữu, nhân Hữu duyên Thủ, nhân Thủ duyên Ái, nhân Ái duyên Thọ, nhân Thọ duyên Xúc, nhân Xúc duyên Lục nhập, nhân Lục nhập duyên Danh sắc, nhân Danh sắc duyên Thức, nhân Thức duyên Hành, nhân Hành duyên Vô minh. Lại suy nghĩ: Phải dùng nhân duyên nào diệt Sanh, Lão tử? Nhất tâm suy nghĩ vì Sanh diệt nên Lão tử diệt, Hữu diệt nên Sanh diệt, Thủ diệt nên Hữu diệt, Ái diệt nên Thủ diệt, Thọ diệt nên Ái diệt, Xúc diệt nên Thọ diệt, Lục nhập diệt nên Xúc diệt, Danh sắc diệt nên Lục nhập diệt, Thức diệt nên Danh sắc diệt, Hành diệt nên Thức diệt, Vô minh diệt nên Hành diệt. - Trong mười hai phần này, thế nào là Vô minh? - Không biết trước, không biết sau, không biết cả trước sau; không biết trong, không biết ngoài, không biết cả trong ngoài; không biết Phật, không biết Pháp, không biết Tăng; không biết Khổ, không biết Tập, không biết Diệt, không biết Đạo; không biết nghiệp, không biết quả, không biết cả nghiệp quả; không biết nhân, không biết duyên, không biết cả nhân duyên; không biết tội, không biết phước, không biết cả tội phước; không biết thiện, không biết ác, không biết cả thiện ác; không biết việc có tội, không biết việc không tội; không biết việc nên gần, không biết việc nên xa; không biết pháp hữu lậu, không biết pháp vô lậu; không biết pháp thế gian, không biết pháp xuất thế gian; không biết pháp quá khứ, không biết pháp vị lai, không biết pháp hiện tại; không biết pháp hắc, không biết pháp bạch; không biết phân biệt pháp nhân duyên, không biết pháp lục xúc, không biết pháp thật chứng. Các thứ như thế, không biết, không tuệ, không thấy, mờ mịt tối tăm, ấy gọi là Vô minh. - Vô minh duyên Hành, thế nào là Hành? - Hành có ba thứ: thân hành, khẩu hành và ý hành. Hơi thở vào ra là pháp thân hành. Vì pháp ấy thuộc về thân, nên gọi thân hành. Có giác có quán là khẩu hành. Có suy nghĩ thuộc về khẩu hành. Vì khởi giác, quán rồi sau mới nói năng, nếu không giác, quán thì không có nói năng, ấy gọi là khẩu hành. Thọ nhận là ý pháp, vì hệ buộc ý nên gọi ý hành. Lại có Dục giới hệ hành, Sắc giới hệ hành, Vô sắc giới hệ hành; tam giới đều thuộc về hành. Lại có thiện hành, bất thiện hành, bất động hành. Thế nào là thiện hành? Tất cả thiện hành ở Dục giới và ba địa ở Sắc giới là thiện hành. Thế nào là bất thiện hành? Các pháp bất thiện gọi là bất thiện hành. Thế nào là bất động hành? Thiện hành hữu lậu đệ tứ thiền và cái hành thiện hữu lậu Vô sắc định. - Nhân Hành duyên Thức, thế nào là Thức? - Có sáu thức, Nhãn thức cho đến Ý thức. - Nhân thức duyên Danh sắc, thế nào là Danh sắc? - Bốn phần không có hình sắc: thọ, tưởng, hành, thức gọi là Danh; tất cả tứ đại và hình tướng do tứ đại hợp thành là Sắc. Thế nào là tứ đại? Đất, nước, lửa, gió. Thế nào là đất v.v...? Tướng cứng chắc nặng nề là đất. Tướng ẩm ướt là nước. Tướng ấm nóng là lửa. Tướng nhẹ động là gió. Các hình tướng thấy được, có đối hoặc không đối là hình tướng do tứ đại hợp thành. Danh và Sắc hòa hợp nên gọi là Danh sắc. - Nhân Danh sắc duyên Lục nhập, thế nào là Lục nhập? - Bên trong có sáu nhập, Nhãn nhập cho đến Ý nhập, gọi là Lục nhập. - Nhân Lục nhập duyên Xúc, thế nào là Xúc? - Xúc có sáu thứ, Nhãn xúc cho đến Ý xúc. Con mắt duyên sắc sanh Nhãn thức, ba pháp hòa hợp gọi là Nhãn xúc. Cho đến Ý xúc cũng như thế. - Nhân Xúc duyên Thọ, thế nào là Thọ? - Thọ có ba thứ, lạc thọ, khổ thọ và không khổ không lạc thọ. Những cái nhận chịu do yêu thích sai khiến là lạc thọ, do giận tức sai khiến là khổ thọ, do si mê sai khiến là không khổ không lạc thọ. Lại nữa, lạc thọ sanh khổ, vì lạc trụ và lạc diệt; khổ thọ sanh lạc, vì khổ trụ và khổ diệt; không khổ không lạc thọ, vì không biết khổ không biết lạc. - Nhân Thọ duyên Ái, thế nào là Ái? - Mắt tiếp xúc sắc sanh ái, cho đến ý tiếp xúc pháp sanh ái. - Nhân Ái duyên Thủ, thế nào là Thủ? - Thủ có bốn thứ, dục thủ, kiến thủ, giới thủ, ngã ngữ thủ. - Nhân Thủ duyên Hữu, thế nào là Hữu? - Hữu có ba thứ, Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu. Dưới từ đại địa ngục A-tỳ lên đến cõi trời Hóa Tự Tại là Dục hữu. Chúng sanh ở đây hay sanh nghiệp. Dưới từ cõi trời Phạm Thế lên đến cõi trời A-ca-ni-tra là Sắc hữu. Từ hư không cho đến Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ là Vô sắc hữu. - Nhân Hữu duyên Sanh, thế nào là Sanh? - Các loài chúng sanh mỗi chỗ sanh ra có thọ ấm, được gìn giữ, thụ nhân và mạng sống, gọi là Sanh. - Nhân Sanh duyên Lão tử, thế nào là Lão tử? - Da nhăn, tóc bạc, răng lay, các bộ phận kém yếu hư hỏng, hơi thở hay ngăn nghẹn, thân khòm đi phải chống gậy, thân ngũ ấm khô gầy, ấy gọi là Lão. Tất cả chúng sanh nơi nào cũng đều đến chỗ tiêu diệt, dứt mạng sống gọi là Tử. Trước già sau chết nên nói Lão tử. Tất cả thế gian đều nương mười hai nhân duyên này xuất hiện, không phải trời, người, các thứ tà duyên sanh ra. Bồ-tát quán mười hai nhân duyên kìm tâm không động, không nghĩ gì khác, nếu có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Quán mười hai nhân duyên sanh trong ba đời, quá khứ hiện tại và vị lai. Bồ-tát nếu được tâm trụ, phải quán mười hai nhân duyên là không, không có chủ. Do si mê nên không biết ta tác hành, không biết ta từ si mê có, chỉ duyên Vô minh Hành sanh. Như cỏ cây đều từ hạt giống mầm mộng mà ra, hạt giống không biết ta có mầm, mầm không biết ta từ hạt giống ra. Cho đến Lão tử cũng như thế. Trong mười hai nhân duyên mỗi mỗi quán biết không chủ, như cây cỏ bên ngoài không chủ, chỉ do kiến chấp điên đảo mà có tôi ta. - Nếu không có tôi ta thì không chủ không tạo, vì sao nói rằng chết đây sanh kia? - Tuy không có tôi ta, nhưng sáu tình làm nhân, sáu trần làm duyên sanh ra sáu thức, do ba việc hòa hợp nên sanh xúc chạm, nghĩ biết các nghiệp phát sanh, bởi thế xưa nay nói từ đây mà có sống chết. Ví như hòn châu Nhật Ái, mặt trời, bổi hòa hợp liền có lửa xuất hiện, ngũ ấm cũng như thế. Nhân ngũ ấm đời này, sanh ngũ ấm đời sau, không phải ngũ ấm này tiếp tục đến đời sau, cũng không phải lìa ngũ ấm này có ngũ ấm đời sau. Ngũ ấm do nhân duyên xuất hiện, như hạt giống sanh mầm, hạt giống không phải mầm, cũng không phải do các mầm khác sanh mầm này, không phải khác, không phải một. Thân đời sau cũng như vậy. Ví như cây khi chưa có thân, cành lá, hoa quả, thời tiết nhân duyên đến hoa lá trổ đầy đủ, quả báo của hành động thiện ác cũng như thế. Hạt giống hư hoại nên không phải thường, không phải một; thân, cành, lá v.v... sanh trưởng nên không phải đoạn, không phải khác. Sự chết sống liên tục cũng như thế. Hành giả biết các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã, tự sanh tự diệt, biết nhân ái v.v... mà có, biết nhân diệt thì hết, biết hết ấy là đạo. Dùng bốn món trí biết mười hai nhân duyên là chánh kiến đạo. Chúng sanh bị trói buộc trong cuồng loạn, như người có hạt châu vô giá mà không nhận biết giá trị chân thật của nó, bị người khác lừa bịp. Khi ấy, Bồ-tát phát tâm đại bi: Ta sẽ thành Phật lấy giáo pháp chân chánh hóa độ chúng sanh khiến thấy được chánh đạo. - Như trong Ma-ha-diễn Bát-nhã ba-la-mật nói: “Các pháp không sanh, không diệt, không có thật, nhất tướng vô tướng, ấy gọi là chánh kiến.” Tại sao ở đây nói quán vô thường v.v... gọi là chánh kiến? - Nếu trong Ma-ha-diễn nói “các pháp không, vô tướng” thì tại sao cho vô thường, khổ, không v.v... là không thật? Nếu nói “không sanh, không diệt, không thật có” là thật tướng thì không nên nói vô tướng? Ông nói trước sau không hợp nhau. Phật nói bốn món điên đảo, cái điên đảo thường trong vô thường cũng có đạo lý. Tất cả pháp hữu vi là vô thường. Vì sao? Vì nhân duyên sanh. Nhân vô thường, duyên vô thường sanh quả thì làm sao thường được? Trước không nay có, đã có trở lại không. Tất cả chúng sanh đều thấy vô thường, nơi thân thì già bệnh chết, ngoài cảnh thì vạn vật úa tàn rơi rụng, tại sao nói vô thường không phải là chân thật? - Tôi không nói hữu thường là thật, vô thường không thật, chỉ nói hữu thường vô thường đều không thật. Vì sao? Như Phật nói trong Không, hữu thường vô thường hai việc không thể có. Nếu chấp hai việc này thì đồng điên đảo. - Lời nói của ông cùng pháp không hợp. Vì sao? Đã nói không thể có, tại sao lại nói hai việc đều điên đảo? Tất cả pháp là không, không thật có là thật không điên đảo. Nếu tôi phá cái chấp hữu thường thì phải nắm pháp vô thường, khi ngã pháp đều phá chỉ còn không thật ngã. Vì phá cái chấp hữu thường nên phải quán vô thường. Vì sao? Vì sức vô thường hay phá hữu thường như thứ độc này hay phá các thứ độc khác. Như thuốc trị bệnh, bệnh lành thuốc cũng phải bỏ. Phải biết thuốc hay trị lành bệnh, nếu bệnh lành không bỏ thuốc, thuốc sẽ trở làm bệnh. Pháp quán vô thường trừ chấp hữu thường cũng như thế. Nếu còn chấp pháp vô thường cũng phải phá, vì nó không thật. - Tôi không chấp pháp vô thường thì tại sao lại phá? Phật nói: “Trong Tứ chân đế, khổ là thật khổ, không ai có thể làm cho nó vui được. Nhân khổ là thật nhân, không ai có thể đổi nhân nào khác được. Diệt khổ là thật diệt, không ai có thể khiến không diệt được. Đạo diệt là thật đạo, không ai có thể làm cho nó phi đạo được. Giả sử mặt trời đổi thành lạnh, mặt trăng thành nóng, gió khiến không động, Tứ chân đế trọn không thể đổi dời được.” - Ông đối trong Ma-ha-diễn không thấu rõ chỉ chấp ngôn thanh. Trong Ma-ha-diễn nói thật tướng của các pháp, thật tướng thì không thể phá, không có tạo tác, nếu có thể phá, có thể tạo tác, thì đó không phải là Ma-ha-diễn (Đại thừa) rồi. Như mặt trăng trong những ngày đầu tháng rất mờ, có người sáng mắt trông thấy, lấy tay chỉ cho người không thấy, người kia chỉ nhìn ngón tay mà không thấy mặt trăng. Người sáng mắt trách: “Anh ngu! Tại sao chỉ nhìn ngón tay tôi? Ngón tay là để chỉ mặt trăng, ngón tay không phải là mặt trăng.” Ông cũng như thế, nói năng không phải là tướng chân thật, chỉ mượn lời nói phô diễn thật lý, ông lại chấp lời nói là thật tướng. Hành giả chánh kiến như thế phải quán mười hai nhân duyên hòa hợp làm hai phần, nhân và quả. Khi quả, mười hai nhân duyên là Khổ đế. Khi nhân, mười hai nhân duyên là Tập đế. Nhân diệt là Diệt đế. Thấy nhân quả diệt là Đạo đế. Bốn thứ quán quả: vô thường, khổ, không, vô ngã. Bốn thứ quán nhân: tập, nhân, duyên, sanh. - Quả có bốn thứ tại sao chỉ gọi khổ là Khổ đế, còn ba thứ kia không được tên đế? - Nếu đã nghi thì dù nói vô thường đế, khổ đế, vô ngã đế v.v... cũng vẫn nghi, đó chẳng qua là một lối nạn vấn thôi. Lại nữa, nếu nói vô thường đế không lỗi, không, vô ngã đế cũng không lỗi; nếu nói vô thường, khổ, không, vô ngã đế, lời nói nặng nề nên chỉ nói một trong bốn thứ. - Khổ có tướng gì đặc biệt nên trong bốn thứ chỉ riêng gọi nó? - Khổ là cái mà tất cả chúng sanh đều chán ngán, đều kinh sợ; vô thường không như thế. Hoặc có người bị khổ ép ngặt, suy nghĩ muốn được vô thường, chứ không có ai muốn được khổ. - Có người dám cầm dao tự sát, hoặc dùng mũi nhọn đâm vào thân, hoặc uống thuốc độc, hoặc vào chỗ binh đao, các thứ như thế đâu không phải họ tìm khổ? - Không phải họ muốn được khổ, mà chính vì muốn được vui bởi quá sợ khổ, họ mới tìm đến cái chết. Khổ là hoạn họa đệ nhất, vui là cái lợi đệ nhất. Do lìa cái thật khổ thì được khoái lạc. Bởi thế, Phật đứng về mặt quả nên riêng nói là khổ đế, không phải vô thường, không, vô ngã đế. Đối trong Tứ đế có trí tuệ chân thật, hiểu biết rành rõ không nghi ngờ, ấy gọi là Chánh kiến. Suy xét việc ấy mỗi mỗi đều được tăng ích, gọi là Chánh giác. Trừ tà mạng, nhiếp thu bốn món tà ngữ, lìa bốn món tà ngữ thực hành bốn món Chánh ngữ. Trừ tà mạng, nhiếp thu ba nghiệp nơi thân. Trừ ba món tà nghiệp nơi thân, gọi là Chánh nghiệp. Lìa các thứ tà mạng, gọi là Chánh mạng. Khi quán như thế tinh tấn tu hành, gọi là Chánh phương tiện. Nghĩ nhớ việc ấy không tán loạn là Chánh niệm. Suy xét việc ấy tâm không xao động, gọi là Chánh định. Chánh kiến như vua có bảy việc theo bên mình, gọi là Đạo đế. Đối Tứ đế, nhất tâm tin thật không khuynh động là Tín căn, nhất tâm chuyên cần cầu đạo là Tinh tấn căn, nhất tâm nghĩ nhớ không quên mất là Niệm căn, tâm trụ một chỗ không giong ruổi lăng xăng là Định căn, suy xét phân biệt giác ngộ lý vô thường v.v... là Tuệ căn. Căn này tăng trưởng có sức mạnh gọi là Ngũ lực. - Trong Bát chánh đạo đã nói Tuệ, Niệm, Định v.v... tại sao trong Ngũ căn còn lặp lại? - Tùy khi vào tu tập, lúc đầu được lợi nhỏ, gọi là Căn; năm việc này tăng trưởng có sức mạnh gọi là Lực; mới vào vô lậu thấy Đế, Trung đạo, công đức gọi là Bát chánh đạo; khi vào tư duy gọi là Thất giác ý; khi mới vào đạo quán niệm Thân, Thọ, Tâm, Pháp, thường nhất tâm nghĩ nhớ gọi là Tứ niệm chỉ; niệm như thế được pháp vị thiện bốn món chuyên cần gọi là Tứ chánh cần; sự mong muốn tinh tấn như thế là môn ban đầu của định tuệ, chuyên cần cầu được tự tại như ý gọi là Tứ thần túc. Tuy gọi Tứ niệm chỉ, Tứ chánh cần, Tứ thần túc, Ngũ căn v.v... đều nhiếp nhau, tùy khi thực hành trước, sau, ít, nhiều theo mỗi hạnh, địa mà đặt tên. Ví như tứ đại, mỗi mỗi đều có tứ đại, chỉ cái nào nhiều thì đặt tên cái ấy. Nếu chỗ địa chủng nhiều, thủy, hỏa, phong ít, gọi là địa đại. Thủy, hỏa, phong cũng như thế. Cũng như vậy, ba mươi bảy phẩm trợ đạo mỗi mỗi đều có các phẩm khác. Như trong Tứ niệm chỉ có Tứ chánh cần, Tứ thần túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát chánh đạo... Như thế, quán mười hai nhân duyên, Tứ đế; hành Tứ niệm chỉ, Tứ chánh cần, Tứ thần túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát chánh đạo tâm được an lạc. Lấy pháp này độ chúng sanh giải thoát, nhất tâm thệ nguyện tinh tấn cầu Phật đạo. Khi ấy, trong tâm suy nghĩ quán niệm: Ta quán biết rõ ràng đạo này, không nên nhận chứng quả, bởi sức của hai việc chưa vào Niết-bàn. Một là sức đại bi không bỏ chúng sanh. Hai là sức biết rõ thật tướng của các pháp. Các tâm vương tâm sở đều từ nhân duyên sanh, tại sao ta nay tùy cái không thật này? Phải tự suy xét phải vào thâm quán mười hai nhân duyên, biết nhân duyên là pháp gì. Suy nghĩ bốn thứ duyên: Nhân duyên, Thứ đệ duyên, Duyên duyên, Tăng thượng duyên. Năm nhân là nhân duyên. Trừ những vị tối hậu tâm A-la-hán ở quá khứ, hiện tại, ngoài ra tâm vương tâm sở quá khứ hiện tại đều thuộc Thứ đệ duyên. Duyên duyên và Tăng thượng duyên là duyên tất cả pháp. Tự suy nghĩ: Nếu pháp có trước nhân duyên thì không nên nói pháp ấy do nhân duyên sanh. Nếu pháp không có nhân duyên cũng không nên nói trong nhân duyên sanh. Nửa có nửa không sanh cũng không nên nói nhân duyên sanh. Như vậy làm sao có nhân duyên? Nếu pháp chưa sanh, nếu quá khứ tâm vương tâm sở mất thì làm sao tạo thành Thứ đệ duyên? Nếu trong Phật pháp, diệu pháp và Niết-bàn không duyên thì làm gì có Duyên duyên? Nếu các pháp thật không tánh thì không thể có pháp. Nếu nói nhân duyên sanh quả, nhân đây có kia cũng không thể được. Nếu trong nhân duyên mỗi cái ở riêng, hoặc hòa hợp một chỗ, quả ấy cũng không thể được. Tại sao nói nhân duyên sanh quả? Vì trong nhân duyên không có quả. Nếu trong nhân duyên trước không có quả mà sau sanh quả thì đâu không phải phi nhân duyên sanh quả? Vì cả hai nhân duyên và phi nhân duyên đều không. Quả thuộc nhân duyên bên nhân duyên sanh, nhân duyên ấy không tự tại, vì còn thuộc các nhân duyên khác, quả ấy cũng thuộc các nhân duyên khác. Do đó, quả không từ nhân duyên mà có, cũng không từ phi nhân duyên mà có, thế là phi quả. Quả đã không, cho nên duyên cùng phi duyên cũng không. - Phật nói mười hai nhân duyên, vô minh duyên các hành, tại sao ông nói không nhân quả? - Trước đã nói đủ không nên nạn lại. Nếu nạn lại sẽ đáp. Phật nói con mắt nhân nơi sắc duyên với si sanh nghĩ nhớ tà. Si tức là vô minh. Trong ấy vô minh nương tại chỗ nào? Nương con mắt chăng? Nương sắc chăng? Nương thức chăng? Không thể nương con mắt. nếu nương con mắt lý ưng thường si mê không cần đợi sắc đến. Nếu nương sắc thì không cần mắt thấy, đã ở tại sắc thì si mê thuộc bên ngoài đâu can dự đến ta. Nếu nương nơi thức, thức không hình thể, không đối đãi, không xúc chạm, không phần không chỗ, vô minh cũng như vậy thì làm sao thành nương? Thế nên vô minh không phải trong không phải ngoài, không phải giữa trong và ngoài, không phải đời trước đến không phải đời sau lại, không phải đông tây nam bắc tứ duy thượng hạ đến, không có thật pháp, tánh vô minh là vậy. Rõ được tánh vô minh thì trở thành minh. Mỗi mỗi tìm xét cái si mê không thể có thì làm gì có vô minh duyên hành. Như hư không bản tánh thanh tịnh không sanh không diệt, không có không mất. Vô minh cũng như vậy, không sanh không diệt, không có không mất, bản tánh thanh tịnh. Cho đến Sanh duyên Lão tử cũng như vậy. Bồ-tát quán mười hai nhân duyên như thế, biết chúng sanh hư dối bị ràng buộc tại khổ hoạn nên dễ độ thoát, nếu các pháp có tướng chân thật thì không thể độ được. Suy nghĩ như thế thì phá được ngu si. V- BỒ TÁT QUÁN A-NA-BAN-NA Nếu Bồ-tát tự thấy tâm nhiều lo nghĩ nên thường niệm pháp A-na-ban-na. Khi hơi thở vào, ra đếm một, cứ thế đến mười, mỗi mỗi không cho tâm giong ruổi tán loạn. Bồ-tát từ pháp môn này được nhất tâm trừ ngũ cái. Bồ-tát thấy đạo nên thực hành ba thứ nhẫn: Sanh nhẫn, Nhu thuận pháp nhẫn, Vô sanh pháp nhẫn. 1. Thế nào là Sanh nhẫn? Tất cả chúng sanh hoặc chửi, hoặc đánh, hoặc giết, mọi việc ác mà tâm không động chuyển, không giận không ghét. Chẳng những nhẫn chịu sự đau khổ đó, mà lại khởi lòng thương xót các chúng sanh này, cầu việc tốt, mong cho họ được tất cả, tâm không bỏ họ. Khi ấy dần dần được hiểu rõ thật tướng của các pháp, như hơi xông thấm. Ví như mẹ hiền thương con đỏ, cho bú sú nuôi nấng, mọi sự nhơ nhớp không nhờm gớm, càng thêm thương xót muốn cho con được vui vẻ. Hành giả cũng như vậy, tất cả chúng sanh làm mọi việc ác, làm tịnh làm bất tịnh, tâm cũng không chán ghét, không thối không chuyển. Lại nữa, chúng sanh khắp mười phương một mình ta phải độ hết khiến cả thảy đều được Phật đạo. Tâm nhẫn không thối, không hối, không bỏ, không lười, không chán, không sợ, không thấy khó. Trong pháp Sanh nhẫn này nhất tâm buộc niệm suy nghĩ ba việc trên, không cho tâm nghĩ gì khác, có nghĩ các việc khác liền thu nhiếp trở về, đó gọi là Sanh nhẫn. 2. Thế nào là Nhu thuận pháp nhẫn? Bồ-tát đã được Sanh nhẫn công đức vô lượng, biết công đức phước báo ấy là vô thường. Khi ấy, chán cái phước vô thường, cầu cái phước thường, cũng vì chúng sanh cầu pháp thường trụ. Tất cả pháp có hình sắc, không hình sắc, pháp thấy được, pháp không thấy được, pháp có đối, pháp không đối, pháp hữu lậu vô lậu, hữu vi vô vi, thượng trung hạ, tìm thấu thật tướng của nó. Thế nào là thật tướng? Không phải hữu thường, không phải vô thường, không phải lạc, không phải không lạc, không phải không, không phải chẳng không, không phải hữu ngã, không phải vô ngã. Vì sao không phải hữu thường? Vì nhân duyên sanh vậy. Trước không nay có, đã có trở lại không, thế nên không phải hữu thường. Vì sao không phải vô thường? Vì nghiệp báo không mất, vì nhận trần cảnh bên ngoài, vì nhân duyên tăng trưởng, nên không phải vô thường. Vì sao không phải lạc? Vì trong cái khổ mới sanh tưởng là lạc, vì tất cả tánh là vô thường, vì nương nơi dục sanh, nên không phải lạc. Vì sao không phải không lạc? Vì có thọ lạc, vì dục nhiễm sanh, vì cầu lạc không tiếc thân mạng, nên không phải không lạc. Vì sao không phải không? Vì pháp trong ngoài mỗi mỗi thọ nhận rõ ràng, vì có quả báo tội phước, vì tất cả chúng sanh đều tin, nên không phải không. Vì sao không phải chẳng không? Vì hòa hợp v.v... sanh, vì phân biệt tìm không thể được, vì sức tâm chuyển, nên không phải chẳng không. Vì sao không phải hữu ngã? Vì không tự tại, vì giới hạn bảy thức không có, vì tướng ngã không thể thành, nên không phải hữu ngã. Vì sao không phải vô ngã? Vì có đời sau, vì được giải thoát, vì mỗi tâm của ta sanh khởi không thể tính chỗ nơi, nên không phải vô ngã. Như thế, không sanh không diệt, không phải không sanh không phải không diệt, không phải có không phải không, không thọ không trước, bặt sự nói năng, dứt đường tâm nghĩ, như pháp Niết-bàn là pháp thật tướng. Ở trong pháp này tín tâm thanh tịnh không ngăn không ngại, hiểu biết mềm dẻo, lòng tin mềm dẻo, tinh tấn mềm dẻo, ấy gọi là Nhu thuận pháp nhẫn. 3. Thế nào là Vô sanh pháp nhẫn? Như trong pháp thật tướng ở trên, người lợi căn trí tuệ, tín tâm, tinh tấn được tăng trưởng, gọi là Vô sanh pháp nhẫn. Ví như trong pháp Thanh văn Noãn pháp, Đảnh pháp trí tuệ, tín tâm, tinh tấn tăng trưởng được Nhẫn pháp. Nhẫn là nhẫn Niết-bàn, nhẫn pháp vô lậu nên gọi là Nhẫn. Mới được mới thấy gọi là Nhẫn. Những vị Thời giải thoát A-la-hán (độn căn A-la-hán) không được Vô sanh trí, tăng tiến rộng làm lợi ích chuyển thành Bất thời giải thoát A-la-hán (lợi căn A-la-hán) được Vô sanh trí. Vô sanh pháp nhẫn cũng như thế, những vị chưa được quả Bồ-tát mà được Vô sanh pháp nhẫn liền được chân hạnh quả Bồ-tát, ấy gọi là đạo quả Bồ-tát. Khi ấy được Ban châu tam-muội, đối trong chúng sanh được đại bi, vào cửa Bát-nhã ba-la-mật. Khi đó chư Phật thọ ký pháp hiệu, tùy sanh trong cõi Phật, được chư Phật niệm tưởng, tất cả tội nặng được nhẹ, tội nhẹ liền tiêu diệt, dứt ba đường ác, thường sanh cõi người cõi trời, gọi là bất thối chuyển đến chỗ Bất động; nhục thân rốt sau được nhập trong pháp thân, hay tạo các thứ biến hóa độ thoát tất cả chúng sanh, đầy đủ lục độ để cúng dường chư Phật, giáo hóa chúng sanh làm thanh tịnh cõi Phật, thành tựu Thập địa công đức, lần lượt được quả Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Ấy là Sơ môn trong pháp thiền của Bồ-tát. Giảng: I- BỒ-TÁT NIỆM PHẬT TAM-MUỘI 1. Niệm sanh thân Phật Nếu hành giả muốn cầu Phật đạo, nhập thiền trước hệ tâm chuyên niệm thân sống của chư Phật khắp mười phương ba đời, chớ niệm đất, nước, gió, lửa, núi, sông, cây, cỏ... những loại hữu hình trong trời đất và các pháp khác, chỉ niệm thân sống của chư Phật ở tại hư không. Ví như biển cả nước trong xuất hiện bóng núi Tu-di kim sơn vương, như trong đêm tối đốt ngọn lửa lớn, như trong miếu đại thí có tràng thất bảo. Thân Phật như thế, có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, thường phóng ra vô lượng ánh sáng thanh tịnh ở trong bầu trời xanh. Thường niệm tướng thân Phật như thế, hành giả liền được chư Phật khắp mười phương ba đời hiện trước tâm nhãn, được chánh định thấy tất cả. Nếu tâm duyên các chỗ khác liền thu nhiếp trở về trụ niệm tại thân Phật. Khi ấy liền được thấy phương đông ba trăm ngàn muôn ức chư Phật; phương nam, phương tây, phương bắc, tứ duy, thượng hạ cũng như thế. Tùy phương mình niệm được thấy tất cả chư Phật, như người ban đêm ra đứng xem sao, trăm ngàn vô lượng ngôi sao đều được thấy. Bồ-tát được tam-muội này, trừ những tội dày từ vô lượng kiếp được mỏng, tội mỏng liền tiêu diệt. Đây nói về pháp niệm Phật tam-muội. Niệm Phật có nhiều cách, như trì danh hiệu Phật mà hiện giờ các nơi tu, cũng có pháp niệm sanh thân Phật, niệm pháp thân Phật. Mỗi pháp niệm có khác nhau, tôi sẽ từ từ giải thích. Đây nói niệm sanh thân Phật, không phải miệng niệm mà dùng tâm tưởng. Trước hết, người tu nhập thiền hệ tâm chuyên niệm thân sống của chư Phật khắp mười phương ba đời. Nghĩa là muốn quán tưởng hay niệm thân Phật, chúng ta đến trước bàn Phật nhìn hình tượng Phật đầy đủ các tướng tốt, nhìn nhớ kỹ rồi khi ngồi thiền nhắm mắt, tưởng thân Phật ở trong hư không. Chỉ chuyên tâm tưởng nhớ thân Phật, không nghĩ nhớ gì khác. Đây dùng ví dụ tâm lắng trong như biển cả, xuất hiện bóng núi Tu-di. Thân Phật có vẻ đẹp thanh tịnh phóng vô lượng ánh sáng. Niệm tướng thân Phật như thế đến khi thân Phật hiện trước tâm nhãn của mình. Tâm nhãn là con mắt tâm, không phải con mắt phàm bình thường. Đức Phật hiện ở trong hư không có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp rõ ràng như trên bầu trời xanh có ngôi sao hay mặt trăng hiện ra. Niệm như vậy, nhớ như vậy thì từ thấy một thân Phật như đức Phật Thích-ca đứng trong hư không, đến thấy chư Phật ở các phương đều hiện ra. Được như vậy là thành tựu tam-muội. Pháp này không dễ thực hành, bởi vì từ trong hư không mà tưởng thành thân Phật hiện đủ tướng tốt vẻ đẹp, nếu không phải là người nhất tâm chuyên niệm thì không thành công. Đôi khi tâm chúng ta tưởng Phật mà lại hiện thành ma quái không phải Phật, chừng đó phải làm sao? Sau này lối trì danh niệm Phật phổ thông hơn, chúng ta chỉ chuyên niệm danh hiệu Phật không thấy có gì lạ, còn niệm tưởng thân Phật, nếu gặp hình ảnh lạ rất nguy hiểm. Vì vậy phương pháp này gần đây ít ai sử dụng. 2. Niệm pháp thân Phật Được tam-muội trên rồi, phải niệm vô lượng công đức của Phật: Trí biết tất cả, giải thoát tất cả, thấy khắp tất cả, có tất cả công đức, được đại từ đại bi, tự tại, từ khi mới thoát khỏi vô minh, được tứ vô úy, ngũ nhãn, thập lực, thập bát bất cộng pháp, hay trừ vô lượng khổ, cứu khỏi cái khiếp sợ già chết, cho Niết-bàn thường lạc. Phật có những thứ công đức vô lượng như thế, khởi niệm ấy rồi tự phát nguyện rằng: “Ta khi nào sẽ được thân Phật và công đức cao quý như Phật.” Lại phát thệ lớn: “Tất cả phước đời quá khứ, tất cả phước đời hiện tại đem hết cầu Phật đạo, không mong quả nào khác.” Lại phát thệ: “Tất cả chúng sanh rất đáng thương xót, thân và công đức chư Phật cao quý như vậy, tại sao chúng sanh lại cầu mong quả khác, mà không cầu làm Phật? Ví như người mù con nhà phú hộ rơi xuống hầm sâu, đói khát khổ sở, ăn phẩn ăn đất, cha rất thương xót tìm phương tiện cứu giúp, trao xuống hầm những thức ăn ngon.” Lại phát thệ: “Hai thứ thân của Phật công đức cam lồ như vậy, mà chúng sanh rơi trong hầm sâu sanh tử, ăn toàn đồ bất tịnh, dùng tâm đại bi ta sẽ cứu giúp tất cả chúng sanh cho được Phật đạo, qua bờ sanh tử, lấy các thứ công đức pháp vị của Phật cho ăn thảy đều no đủ. Tất cả Phật pháp nguyện chúng sanh thảy đều đạt được. Nghe, tụng, gìn giữ, thưa hỏi, suy xét, thực hành, đắc quả là thềm thang vào đạo. Lập thệ trọng đại, mặc giáp Tam nguyện, ngoài phá chúng ma, trong giết giặc kiết sử, thẳng tiến không lùi.” Tam thệ nguyện như thế so với vô lượng thệ nguyện cùng đồng một phát điểm, vì độ chúng sanh được thành Phật đạo. Niệm như thế, thệ nguyện như thế là Bồ-tát niệm Phật tam-muội. Trong phần tu năm pháp quán của Bồ-tát, phần thứ nhất tu Niệm Phật tam-muội có chia ra niệm sanh thân Phật đã giảng xong, đến đây là niệm pháp thân Phật. Pháp thân Phật không có hình tướng, nên đây nói niệm pháp thân Phật là nhớ vô lượng công đức của Phật. Trí Phật biết tất cả, giải thoát tất cả, thấy khắp tất cả, có tất cả công đức, được đại từ đại bi, đại tự tại... Tất cả công đức của Phật chúng ta đều nghĩ nhớ. Khi niệm thấy có tướng tốt rồi, phải phát thệ nguyện. Ước nguyện mình sẽ thành Phật, có tướng tốt, được tất cả công đức như Phật. Kế đó chúng ta phải phát ba thệ nguyện lớn. Thứ nhất là tất cả phước đời quá khứ, tất cả phước đời hiện tại đem hết cầu Phật đạo không mong quả nào khác. Hằng ngày chúng ta có phát thệ như vậy không? Hay là chỉ nguyện tu đời này, đời sau sanh ra được phước đức hơn, tu hành sớm hơn? Nguyện như thế ít quá. Ở đây nguyện tất cả công đức của mình chỉ hướng về thành Phật, không đi lối nào khác. Tuy trong kinh có nói ngũ thừa là Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa, nhưng Phật không khuyến khích chúng ta tu để sanh lên cõi trời hoặc mong cầu quả vị Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, mà khuyến khích chúng ta tu để được làm Phật. Nếu chưa được làm Phật thì trở lại làm người để tiếp tục tu nữa. Cõi người có khổ vui lẫn lộn, đang thấy vui thích rồi có việc gì đó xảy ra buồn, nhờ vậy mình thức tỉnh cuộc đời không phải trọn vui, có thức tỉnh mới đi tu, nếu không tỉnh thì khó tu lắm. Vì vậy chúng ta phát nguyện đời này tu được bao nhiêu nguyện đời sau tiếp tục, tu cho đến thành Phật. Thứ hai là tất cả chúng sanh rất đáng thương xót, thân và công đức chư Phật cao quý như vậy, tại sao chúng sanh lại cầu mong quả khác, mà không cầu làm Phật? Vì sao chúng sanh đáng thương? Vì họ không biết thân Phật có đầy đủ vẻ đẹp trang nghiêm, Phật có vô lượng công đức cứu giúp ba đường khổ. Chúng sanh đều là con Phật, như con nhà giàu nay lại rơi vào hầm sâu đói khát khổ sở khiến ông cha phải trao phương tiện cứu giúp. Chúng sanh không cầu thành Phật cũng lại như thế. Chúng ta khởi tâm thương xót khiến họ trở về nguyện thành Phật. Thứ ba là nguyện dùng tâm đại bi cứu giúp chúng sanh qua bờ sanh tử. Tóm lại ba nguyện lớn này, dù chúng ta không tu niệm sanh thân Phật, niệm pháp thân Phật, mà tu những pháp khác, thấy có lợi ích thì chúng ta nên phát nguyện. Nguyện thứ nhất là nguyện tất cả công đức đều hướng về thành Phật chứ không đi đường nào khác. Nguyện thứ hai là thương xót tất cả chúng sanh vì không hiểu được Phật pháp nên đi trong đường sai lầm, chúng ta nguyện tìm phương tiện đánh thức giúp đỡ họ đi đúng đường hướng về Phật đạo. Nguyện thứ ba là chúng sanh không có duyên, không gặp được Phật pháp, nên không nếm được vị giải thoát, chúng ta nguyện đem hết khả năng mình, đem chánh pháp giáo hóa chúng sanh, giúp họ biết được pháp vị mà tiến tu. Người tu chúng ta phải có đủ ba nguyện lớn đó mới không sai. Nhiều người nghĩ rằng đời này mình nghèo khổ, mong đời sau có phước nhiều để dễ tu. Sự thật phước nhiều không phải là dễ tu, có khi nó dẫn mình đi con đường khác. Chư tổ hay răn dạy phước nhiều mà thiếu trí tuệ thì bị dẫn đến chỗ thụ hưởng rồi quên tu. Vì vậy không nên nguyện hưởng phước nhiều, phải nguyện đời này đời sau, bao nhiêu đời nữa chỉ một đường tu từ chúng sanh tiến đến Phật quả, rồi nguyện chúng sanh được Phật quả như mình. Ý nghĩa các thệ nguyện trong đây rõ ràng như vậy. II- BỒ-TÁT QUÁN BẤT TỊNH TAM-MUỘI Hành giả Bồ-tát đối trong tam độc nếu thấy tham dâm nhiều nên trước tự quán thân ba mươi sáu vật: xương, thịt, da, gân, mạch, máu, gan, phổi, bao tử, ruột v.v... và quán Cửu tưởng, các thứ bất tịnh. Chuyên tâm quán bên trong, không cho nghĩ các việc ngoài, có nghĩ các việc ngoài liền thu nhiếp trở về. Như người cầm đuốc vào kho chứa ngũ cốc, mỗi mỗi phân biệt rành rõ nào đậu, mè, lúa, bắp đều biết rõ ràng. Quán thân có sáu phần, cứng thuộc về đất, ướt thuộc về nước, nóng thuộc về lửa, động thuộc về gió, lỗ trống thuộc về không, hiểu biết thuộc về thức. Như người mổ bò chia sáu phần: đầu, mình và tứ chi, mỗi phần tự khác. Thân có chín lỗ thường chảy bất tịnh, túi da đựng đầy phẩn uế. Thường quán như thế không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Nếu được nhất tâm, ý sanh nhàm chán mong rời khỏi thân này, muốn nó mau diệt để vào Niết-bàn. Khi ấy, phải phát đại từ đại bi, dùng đại công đức cứu vớt chúng sanh làm sống dậy ba thệ nguyện trước. Bởi các chúng sanh không biết thân này là bất tịnh gây các tội cấu, ta phải vớt họ lên bờ cam lồ. Chúng sanh ở Dục giới mê đắm bất tịnh, như chó ăn phẩn, ta phải độ họ đến đạo thanh tịnh. Pháp quán thứ hai, Bồ-tát quán Bất tịnh tam-muội. Đối với người bệnh tham dâm nhiều, Phật dạy phải quán bất tịnh, không chỉ riêng hàng Thanh văn, Bồ-tát cũng tu quán pháp này. Quán bất tịnh có nhiều cách, hoặc quán ba mươi sáu vật trong thân, hoặc quán thây chết v.v... Quán ba mươi sáu vật trong thân, trước phải thuộc lòng từ tóc, lông, răng, móng, da, thịt, gân, xương..., quán sát toàn thân, từ đầu đến chân, có gì quý không? Đem mỗi vật trong thân mình để ra ngoài thấy có gớm không? Tại sao còn ở trong thân thì quý, mà đem bỏ ra ngoài thì gớm? Vì chúng ta bị mê lầm nhiều kiếp, nên khi mang thân này cứ nghĩ nó là duy nhất, không có gì bằng. Sự thật toàn thân này là một thứ nhơ nhớp, kiểm điểm lại không có gì là quý là sạch. Chúng ta không thấy lẽ thật nơi thân nên tham ái và kiêu mạn. Phật dạy quán bất tịnh để trừ bệnh tham ái, chúng ta tưởng lầm, thương ai thì quán người đó bất tịnh, nhưng quán không thành nên không hết bệnh. Đây Phật dạy phải xoay lại quán thân mình nhớp nhúa từ đầu đến cuối, thấy tường tận không nghi ngờ, ngồi lại phân tích, cuối cùng thấy nó chỉ là một đãy da hôi thối. Thấy tường tận như vậy rồi nhàm chán thân mình, nhàm chán thân người là quán bất tịnh thành công. Ngoài cách quán thân bất tịnh còn cách quán thây chết. Xưa ở Ấn Độ khi có người chết, người ta đem bỏ vô rừng để cho chim quạ, chó rừng... đến ăn, gọi là thi lâm. Các Tỳ-kheo trẻ bệnh ái dục nhiều thì Phật thường dạy vào thi lâm quán bất tịnh, gọi là cửu tưởng quán, nhìn sự biến hoại của thây chết, tự quán sát thân mình cũng như thế. Thứ nhất, quán thân người mới chết sình trướng. Thứ hai, quán thây chết sau vài giờ xanh tái rất khó coi. Thứ ba, quán da thịt bắt đầu nứt nẻ, chảy nước vàng hôi dơ. Thứ tư, quán máu mủ trong thân người tuôn chảy. Thứ năm, quán thân thể bắt đầu rã nát, da thịt tiêu hoại. Thứ sáu, quán các loài trùng kiến giòi bọ bu tới, chó sói dã can tìm đến cắn xé thi thể. Thứ bảy, quán chim quạ kên kên tha xương vụn rải rác khắp nơi. Thứ tám, quán bộ xương còn sót lại màu trắng đục. Thứ chín, quán sau khi thiêu chỉ còn tro xám. Đây là thứ lớp quán chín giai đoạn của thây chết, tất cả đều không có giá trị, không có gì đáng yêu đáng quý. Quán như vậy thì các niệm ái dục, yêu mến bản ngã lặng hết không còn. Chúng ta không có thi lâm thì lâu lâu vào trong bệnh viện, nhất là bệnh viện ung bướu, để thấy bệnh nhân mang mấy cục bướu, rồi người ta mổ xẻ, cắt bỏ chỗ này chỗ kia. Sự thật nếu thân này là quý thì không đến nỗi tồi tệ như vậy. Cho đến muốn che đậy cho dễ coi, khi gần tắt thở người ta sửa soạn lại, chết rồi để vô quan tài liệm kín mít không ai thấy gì. Chỉ để một cái hình thờ ở ngoài, chứ nếu phơi trần ba bốn ngày chắc không ai dám đến gần. Bản chất thân này là như vậy, chỉ vì chúng ta sống bằng tưởng tượng nhiều hơn sự thật nên luôn yêu mến cưng chiều thân. Thân không có giá trị mà mình tin cậy nó, hài lòng với nó, đó là si mê. Nếu dùng trí tuệ quán sát, tự biết thân mình không có giá trị gì, tự nhiên bao nhiêu bệnh ái ngã, ái chúng sanh, tự kiêu ngã mạn đều bớt. Đối trị tham dục, cần yếu là chuyên tâm quán, luôn nghĩ nhớ đề mục, nếu tâm nghĩ nhớ việc ngoài liền thu nhiếp trở về. Ngoài pháp quán ba mươi sáu vật bất tịnh, quán cửu tưởng, đây còn dạy thêm pháp quán thân này có sáu phần. Chất cứng là địa đại, ướt là thủy đại, động là phong đại, ấm là hỏa đại, trống là hư không, như lỗ mũi có chỗ trống để thở, da thịt có chỗ trống để mồ hôi ra được, trong thân có những chỗ trống là có không đại. Thứ sáu là thức đại là tính hiểu biết phân biệt. Khi ngồi thiền nếu tâm lăng xăng quá, chúng ta quán nơi thân có sáu phần, cái gì cứng thuộc về đất, ướt thuộc về nước... quán sát phân biệt rõ như người vào trong kho chứa ngũ cốc, thấy bắp, đậu, mè... cái nào rõ cái ấy không nghi ngờ, đó là quán được thành công. Nhất tâm không sanh luyến ái, sanh nhàm chán thân, muốn mau vào Niết-bàn. Vì thấy thân sống mà ghê gớm quá, không có gì quý nên muốn diệt độ sớm. Lúc đó, phải khởi tâm đại từ đại bi và đại công đức để cứu vớt chúng sanh, làm sống lại ba thệ nguyện trước. Chúng ta quán thấy rõ ràng, phân chia thân từng phần không thật. Thân này rõ ràng không thật, chúng sanh mê lầm tưởng là thật, nên giành nhau từng lời nói hơn thua, giành nhau từng miếng ăn ngon, giành nhau từng tấm áo mặc... Đã tự mình mê lầm khổ, rồi giành giật nhau làm khổ lây mọi người, như vậy chúng sanh rất đáng thương. Vì thương họ nên chúng ta phát thệ nguyện thành Phật, đem chánh pháp giáo hóa mọi người, đưa tất cả đến chỗ an lạc thanh tịnh. Đó là tâm Bồ-tát quán bất tịnh thành tựu. Nếu quán bất tịnh rồi sanh chán thân, muốn diệt độ vào Niết-bàn, đó là tâm Thanh văn. Quán như thế không được lợi ích lớn, nên khởi lòng thương chúng sanh mê lầm, sống trong chỗ giả dối mà không biết, cứ tạo nghiệp rồi chịu khổ mãi mãi không cùng, chúng ta phải phát nguyện rộng lớn cứu vớt mọi người, đó là tâm Bồ-tát. Lại ta phải học và cầu thật tướng của các pháp, không phải hữu thường, không phải vô thường, không phải tịnh, không phải bất tịnh, tại sao ta lại chấp cái bất tịnh này? Trí quán bất tịnh này là từ nhân duyên sanh, như ngã và pháp, phải cầu tướng chân thật của nó, tại sao nhàm chán trong thân bất tịnh mà chấp lấy Niết-bàn? Phải như voi lớn qua suối, chân giẫm tận đáy nguồn, được thật tướng của các pháp diệt sự nhập Niết-bàn, đâu phải như khỉ, thỏ v.v... kinh sợ dòng suối chỉ mong một mình lội qua. Ta nay phải học pháp Bồ-tát thực hành pháp quán bất tịnh để rộng hóa độ chúng sanh khiến lìa khỏi hoạn dâm dục, không bị quán bất tịnh làm chìm đắm. Đây là dạy chuyển tâm Thanh văn thành tâm Bồ-tát. Muốn thành tựu tâm Bồ-tát chúng ta đừng kẹt hai bên tịnh hay bất tịnh, cũng đừng kẹt hai bên hữu thường hay vô thường. Phải nhân pháp quán bất tịnh này thấy thân tuy không quý nhưng phát nguyện độ tất cả chúng sanh để được quả rộng lớn, không phải không quý mà mong nhập Niết-bàn một mình. Chúng sanh mê muội đắm chìm trong khổ đau, chiều theo thân giả dối, chúng ta thấy được lẽ thật rồi thì phát khởi lòng thương muốn độ họ. Biết thân mình không quý, chúng ta không mến tiếc thân, chỉ vì độ chúng sanh nên phải có nó để làm phương tiện. Biết thân không quý thì không ngại khổ nhọc, nỗ lực tiến tu để thành đạo quả rồi trở lại độ sanh không mỏi mệt, đó là tâm Bồ-tát. Nếu thấy thân này nhớp nhúa rồi muốn nhập Niết-bàn không trở lại, đó là tâm Thanh văn. Như vậy cũng một pháp quán mà Bồ-tát thấy khác, Thanh văn thấy khác. Đã quán bất tịnh thì nhàm chán sanh tử phải quán tịnh môn để bổ cứu lại. Quán tịnh là buộc tâm ba chỗ: sống mũi, giữa chặng mày và trên trán. Tưởng chính ngay nơi đó xẻ một tấc da, dẹp sạch máu thịt, buộc tâm tưởng xương trắng không nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Buộc tâm một trong ba chỗ hằng cùng vọng niệm tranh đấu, như hai người đánh nhau. Hành giả nếu thắng được vọng tâm không bằng bắt nó trụ một chỗ, trụ một chỗ gọi là nhất tâm. Hoặc nhàm chán, liền phát tâm đại bi thương xót chúng sanh, do quán xương rồng này xa lìa Niết-bàn vào trong ba đường ác. Ta phải nỗ lực chuyên cần làm các thứ công đức, giáo hóa chúng sanh khiến thấu rõ tướng thân rỗng không, chỉ một lớp da mỏng che đậy bộ xương, toàn là một khối bất tịnh, tạm gọi là chúng sanh. Thứ tự phân biệt các pháp tướng, có một ít tướng tịnh tâm sanh ái trước, tướng bất tịnh nhiều tâm sanh nhàm chán, có tướng vượt ra nên sanh thật pháp. Trong tướng chân thật của các pháp không có tướng tịnh, bất tịnh, bít lấp, vượt ra. Quán các pháp bình đẳng không thể phá hoại, không thể biến động, đó gọi là thật tướng của các pháp. Đây là Bồ-tát chuyển quán từ bất tịnh sang tịnh. Các Tỳ-kheo khi quán bất tịnh thành tựu rất nhờm gớm thân, không thể chịu được. Trong A-hàm có đoạn kể rằng các thầy nhàm chán thân thể đến nỗi không muốn sống, nhờ người giết giùm, có bao nhiêu y bát cúng dường hết cho họ. Đến ngày bố-tát thấy chúng tăng thưa thớt, Phật hỏi lý do, sau khi biết các thầy vì quán bất tịnh mà tự tử, Phật quở rầy và dạy quán tịnh. Pháp tu là thuốc trị bệnh, khi bệnh lành phải bỏ thuốc; bệnh lành rồi uống mãi thì thành bệnh khác. Biết thuốc biết bệnh, biết chừng mực giới hạn của nó là điều cần yếu của người tu. Những năm tôi mới cất Pháp Lạc thất ở Vũng Tàu để tu, tôi đối chiếu áp dụng nhiều cách tu mà không có kết quả. Tôi dùng pháp quán bất tịnh, quán cho đến một hôm cảm thấy rởn óc, nhớ đến thân này gớm không thể chịu nổi. Tôi biết triệu chứng đó là quán bất tịnh thành công, nếu tiếp tục nữa chắc đi đến tự tử, nên tôi chuyển qua quán tịnh. Theo đây dạy quán tịnh là buộc tâm ba chỗ, sống mũi, giữa chặng mày và trên trán, tôi ngồi thiền buộc tâm ở sống mũi, nghĩ mình xẻ một miếng thịt ở ngay đó bày ra cái xương trắng, quán từ trắng ngà ngà cho đến trắng tinh, rồi đến trắng trong, đến phát sáng là thành công. Ngồi quán một lúc nhức lỗ mũi quá chịu không nổi, tôi đổi qua quán xương chỗ chặng mày, rồi cũng đau ở chặng mày chịu không nổi, quán xẻ một chỗ ở trên trán để quán, quán riết rồi cũng nhức đầu chịu không nổi, thôi đành bó tay. Tôi chỉ còn biết khóc với Phật, không biết làm sao. Các pháp quán nghe nói thì dễ mà ứng dụng mới thấy khó, vì có kèm theo những chứng bệnh trong khi tu. Chúng ta phải sáng suốt, khéo léo vượt qua, hoặc thay đổi pháp tu cho thích hợp, nếu cứ y theo chỉ dạy trong kinh tu riết thấy sắp bệnh cũng cứ cố gắng thì sẽ thành bệnh thật, điều này không tốt. Trong đây dạy, Bồ-tát quán bất tịnh rồi phải thấy rõ tướng chân thật của các pháp không có tịnh, bất tịnh, bình đẳng không thể phá hoại, không thể biến động. Như vậy quán tận cùng rồi cũng trở về thể vô phân biệt, không còn khởi tâm đắm trước hay xa lìa. Thật tướng các pháp xưa nay như thật bình đẳng, không kẹt hai bên. Tu quán theo thứ tự này, đến chỗ cứu cánh cũng gặp lại pháp đốn ngộ, thấy mọi việc không còn hai bên đối đãi, chúng ta khả dĩ dứt được tâm lăng xăng si mê, được an trụ trong Phật pháp. III- BỒ-TÁT QUÁN TỪ TAM-MUỘI Người thực hành đạo Bồ-tát, nếu thấy nóng giận nhiều nên hành tâm Từ. Hành giả nghĩ tưởng chúng sanh ở phương đông, tâm Từ thanh tịnh thênh thang vô lượng, không có thù không có giận, thấy các chúng sanh ấy thảy đều ở trước mắt. Phương nam, tây, bắc, tứ duy, thượng hạ cũng như vậy. Kìm tâm hành Từ không cho nghĩ gì khác, nếu có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về, giữ tâm mục quán tất cả chúng sanh đều thấy rõ ràng ở trước. Nếu được nhất tâm phải phát nguyện rằng: “Ta lấy pháp Niết-bàn chân thật thanh tịnh độ thoát chúng sanh khiến được vui chân thật.” Pháp quán thứ ba, Bồ-tát quán Từ tam-muội. Người nhiều nóng giận, Phật dạy quán lòng từ trải khắp mọi nơi. Bồ-tát nghĩ tưởng chúng sanh ở khắp các phương, tâm từ thênh thang vô lượng, thấy các chúng sanh rõ ràng, dùng lòng thương phát nguyện độ thoát chúng sanh khiến họ được an vui. Do lòng thương trải khắp mọi nơi, nên trừ được tâm nóng giận, trừ tâm nóng giận rồi được Từ tam-muội. Tam-muội là dịch âm tiếng Phạn, Trung Hoa dịch nghĩa là chánh định. Chúng ta quán từ bi, tâm an định trong từ bi không nghĩ gì khác, đó gọi là Từ tam-muội. Trong đây ban đầu dạy tổng quát, sau dạy thứ tự sâu hơn. Hành Từ tam-muội tâm được như thế là đạo Bồ-tát. Trụ Từ tam-muội quán thật tướng các pháp thanh tịnh, không hoại, không động, nguyện cho chúng sanh đều được pháp lợi này. Lấy Từ tam-muội này nghĩ tưởng tất cả chúng sanh ở phương đông khiến được vui như Phật. Khắp mười phương đều như thế, tâm không chuyển loạn, ấy gọi là môn Từ tam-muội của Bồ-tát. Ban đầu, quán Từ tam-muội thấy thật tướng các pháp thanh tịnh, nguyện cho chúng sanh đều được lợi này. Dùng tam-muội này hướng về phương đông có tất cả chúng sanh chúng ta đều thương, muốn cho họ được vui, được an ổn, không một chút nghĩ buồn giận. Mong muốn chúng sanh được an vui ở trong Phật pháp tức là ở trong chỗ chân thật. Như vậy, từ một phương đến phương khác, cho đến mười phương có chúng sanh nào chúng ta cũng đều ban rải niềm thương yêu. - Tại sao không một thời chung niệm cả mười phương chúng sanh? - Trước niệm một phương để được nhất tâm, nhiên hậu thứ lớp niệm khắp các phương. Đây đặt câu hỏi tại sao không quán tất cả chúng sanh chung một lần. Trả lời, vì muốn dễ nhiếp tâm nên trước hướng về một phương, phương này xong rồi đến phương khác, thứ lớp cũng được khắp hết. - Người có kẻ thù hằn muốn hại nhau, thế nào hành Từ muốn cho người thù vui được? Ở đời có những người mình thương, có những người mình ghét, có những người gọi là thù địch, làm sao có thể đem lòng từ thương hết những người thù? Rất khó bao trùm lòng thương đến người oán hại mình. Như khi giữ giới không sát sanh, cả về thân, khẩu, ý. Ý không sát tức là thấy người bị giết, chúng ta không tùy hỷ. Nhưng thấy người thân bị giết thì mình buồn, nếu thấy người thù bị giết thì chúng ta có ý vui, đó là ý sát sanh. Chỗ này rất tế nhị, người tu phải khéo quán, khéo nhận xét. Đối với người đã làm khổ mình nhiều lần, làm mình phải điêu đứng, nên khởi lòng từ hướng họ nhớ đến chánh pháp. Quán sát tội phước nhân quả, người nào làm điều lành biết họ sẽ được quả lành, người làm điều ác biết họ sẽ có quả ác. Mình không gây oán thù với người mà người thù hại mình, đó là họ tạo nhân ác. Hiện giờ thấy vui, mai kia quả ác đến thì họ sẽ khổ. Xét thấy người sẽ bị khổ mà mình thương. Nếu không quán xét mà cứ nhớ oán thù dai dẳng thì không thể khởi tâm thương được. Thương đó là thương cái khổ mai sau do mê lầm. Nếu quán người thân mình thương, người sơ mình thương, người thù mình thương nữa thì ở thế gian này chúng ta không còn ghét ai hại ai cả. Quán được như thế là tâm từ trải khắp, lợi ích cho vô số người, không bao giờ có niệm xấu niệm ác khởi lên. Pháp quán này khiến chúng ta tu an ổn. Thật ra người tu thì không có kẻ thù, thấy có kẻ thù thì không phải tu, cho rằng đó là người thù thì đã muốn trả lại cái oán mà họ đã gây ra. Muốn trả thù thì tâm không yên, vì thế đừng bao giờ thấy có kẻ thù, đó là điều hết sức quan trọng. Quán từ bi là phương pháp đưa chúng ta đến chỗ mát mẻ an vui, như trong cơn nóng bức được đám mưa gội nhuần, tâm nhẹ nhàng thơ thới. - Từ là tâm pháp, xuất sanh nơi tâm, trước nên nghĩ đến người thân, kế người không thân không sơ, sau chuyển lên kẻ thù, như ngọn lửa mạnh thì đốt khô các thứ ướt. Chúng ta chuyển tâm từ, bắt đầu nơi người thân đến người sơ rồi đến người thù, dần dần rải khắp hết, thương mọi người bình đẳng như nhau. - Khi chúng sanh gặp các thứ nạn khổ hoặc ở trong loài người, hoặc trong địa ngục, Bồ-tát tuy có lòng từ mà chúng sanh kia làm sao được vui? Trường hợp chúng sanh gặp nạn khổ ở trong địa ngục hoặc ở trong các loài khác, tuy Bồ-tát có lòng từ, nhưng các chúng sanh kia làm sao được vui? - Trước bắt nguồn nơi người vui, nhận tướng vui ấy khiến người khổ này được vui như người kia. Ví như quân tướng bại trận sợ khiếp đảm, xem quân địch thắng trận là dũng sĩ. Muốn chúng sanh đang chịu khổ được vui, trước nhân nơi người có niềm vui, tưởng cái vui của người này trùm khắp người khổ. Khi rải tâm như vậy, tuy người kia không thấy không biết nhưng cũng có chiêu cảm, khiến cho họ có được một chút vui, hay có nhiều niềm vui. Tâm chúng ta bủa tới đâu thì người ta có cảm nhận đến đó, không phải là không có lợi ích. - Hành Từ tam-muội có thiện lợi gì? - Hành giả tự nghĩ: Người xuất gia lìa tục phải thực hành tâm Từ. Lại suy nghĩ: Ta ăn của tín thí phải làm gì cho có ích lợi, như Phật dạy: “Trong chốc lát hành Từ, ấy là tuân theo lời Phật dạy là người vào đạo không uổng của tín thí.” Thân mặc chiếc áo hoại sắc, tâm không nên nhiễm thế tục, sức Từ tam-muội khiến người không nhiễm. Ta tâm hành Từ, ở trong đời phi pháp ta là người có pháp, trong chúng phi pháp ta là người có pháp. Do sức định của Từ khiến người hành đúng pháp, đúng pháp thì không khổ não. Bồ-tát hành đạo là tiến đến cửa cam lồ, các thứ nhiệt não do sức Từ làm mát mẻ vui vẻ. Như Phật nói: “Người khi nóng bức quá lắm vào hồ nước trong mát thì vui.” Mặc chiếc giáp đại từ ngăn các mũi tên phiền não. Từ là thuốc pháp làm tiêu các thứ độc thù hận, phiền não đốt tâm. Từ hay trừ diệt, Từ là cái thang lên đài giải thoát, Từ là thuyền pháp đưa người qua biển sanh tử. Cầu của báu thiện pháp, Từ là món báu tối thượng. Người tìm Niết-bàn, Từ là lương thực đi đường, Từ là cặp chân mạnh tiến đến Niết-bàn. Từ là mãnh tướng vượt khỏi ba đường ác. Người hay thực hành Từ tiêu diệt các thứ ác, chư thiên, thiện thần thường ủng hộ. Ở đây giải thích lợi ích của Từ tam-muội. Trước tiên đặt nặng về người xuất gia. Người xuất gia mà không có lòng từ thì không đền đáp được sự cúng dường của đàn-na thí chủ. Đã có từ bi thì không có sân hận, tức là thương thì không giận, mà giận thì hết thương. Như ở trong nhà anh em ruột thương biết mấy, khi nổi giận muốn đánh đập là hết thương rồi. Hai cái đó khác nhau. Nóng giận là lửa đốt cháy thiên hạ, từ bi là nước rưới mát thiên hạ. Người nào nóng giận nhiều thì nên tự hào hay tự tủi hổ? Có nhiều người vỗ ngực nói tánh tôi nóng lắm, để cho người ta nể. Thật ra nóng là một cái bệnh, vì nóng nên chúng ta làm những điều sai lầm, điều quấy. Người tu lúc nào cũng phải dừng bớt nóng giận, để cho tâm được mát mẻ. Tâm mình mát mẻ rồi mới bủa trùm mát mẻ đến mọi người, đó là lợi ích lớn. Đây nói, Bồ-tát hành đạo là tiến đến cửa cam lồ. Cam lồ là nước giọt sương buổi sớm, vừa trong sạch vừa ngọt ngào. Nước cam lồ tưới đến đâu thì nhiệt não tiêu tan đến đó, mọi người đều được mát mẻ vui tươi. Phật nói, người khi nóng bức quá lắm vào hồ nước trong mát thì vui. Người đang sân giận, gặp người có lòng từ bủa đến thì bớt sân giận, giống như người nóng bức gặp hồ nước trong mát. Mặc chiếc giáp đại từ ngăn các mũi tên phiền não. Người có lòng từ bi lớn như có áo giáp ngăn ngừa những mũi tên phiền não. Khi chúng ta có lòng từ bi thương hết mọi người, gặp người đang bực bội đến nói nặng nói nhẹ gì đó, mình bỏ qua hết. Nếu không có lòng từ bi, bị người nói nặng nói nhẹ thì sao? Nổi sân giận phiền não. Từ bi như áo giáp che ngăn những mũi tên phiền não chỉa vào mình. Nhìn lại người chung quanh, chúng ta thấy người nào nóng nảy thì nay giận mai hờn phiền não liên miên, còn người mát mẻ không giận hờn ai, do đó ít phiền não. Lòng từ giúp chúng ta khỏi bị phiền não khổ sở, lợi ích rất lớn. Từ hay trừ diệt, từ là cái thang lên đài giải thoát. Lòng từ hay trừ diệt những khổ ách nguy hiểm, là cái thang đưa mình lên đài giải thoát. Tại sao? Vì nhờ lòng từ mà chúng ta không thù giận, không hại người, bỏ qua những việc làm mình thương tổn. Như vậy mọi oan gia đều tiêu mất, mình được giải thoát. Nếu không có lòng từ thì dễ đưa xuống địa ngục. Khi nổi sân thì bất cứ việc gì cũng dám nói, dám làm đó là con đường đưa mình đi xuống. Người xuất gia cũng như Phật tử nếu thiếu lòng từ thì tu rất khó, bị chính cái nóng giận của mình ngăn trở không an ổn. Từ là thuyền pháp đưa người qua biển sanh tử. Trong biển sanh tử chúng ta bị sân giận phủ che nên phải chịu khổ, nhờ từ bi làm thuyên pháp đưa qua khỏi sanh tử. Cầu của báu thiện pháp, chúng ta muốn có phước đức, muốn bòn phước đức, tức là bòn của báu. Nếu hay nóng giận thì sao? Bòn mót lâu lâu để được chừng một kho, nổi sân lên châm lửa cháy tiêu hết. Người xưa nói một đốm lửa sân cháy tiêu hết cả rừng công đức là vậy. Ai hay nóng giận phải nghĩ rằng đây là một tật xấu, là bệnh nguy hiểm, phải ráng sửa trị, ráng dẹp, không nên nuôi dưỡng. Người có tâm từ bi thường làm việc lành, thương yêu chúng sanh, dần dần chứa nhiều công đức lớn. Nên nói Từ là món báu tối thượng. Người tìm Niết-bàn, từ là lương thực đi đường, Từ là cặp chân mạnh tiến đến Niết-bàn. Ai muốn đi đến thành Niết-bàn phải nhớ lương thực là từ bi, đi mới đến nơi. Từ bi là cặp chân mạnh đưa mình đến Niết-bàn. Từ là mãnh tướng vượt khỏi ba đường ác. Từ bi là viên tướng mạnh đưa chúng ta vượt khỏi ba đường ác, còn nóng giận cũng là viên tướng mạnh đưa mình lao đầu xuống địa ngục. Nhớ kỹ điều này để khi cơn giận nổi lên, thấy mình thiếu từ bi thì chặn đứng nó lại. Người hay thực hành từ, tiêu diệt các thứ ác, chư thiên, thiện thần thường ủng hộ. Ngược lại người hay nóng giận thì sẽ bị ác ma ủng hộ. - Nếu khi hành giả được Từ tam-muội làm thế nào sẽ không mất mà lại tăng trưởng? - Học giới thanh tịnh, tin vui học các thứ thiền định, nhất tâm, trí tuệ, ưa ở chỗ vắng vẻ, thường không buông lung, ít muốn biết đủ, việc làm đúng lời Phật dạy, tiết chế thân ít ăn bớt ngủ, đầu hôm và khuya tư duy không bê trễ, giảm sự nói năng, lặng lẽ giữ an tịnh, đi đứng nằm ngồi biết thời chừng mực, không quá sức đến phải nhọc nhằn khổ sở, điều hòa sự nóng lạnh không để não loạn, đó là tăng ích cho Từ. Khi được Từ tam-muội rồi, muốn tăng trưởng không mất thì chúng ta phải có những điều kiện: Một là thiền định, hai là nhất tâm, ba là trí tuệ, bốn là ưa ở chỗ vắng vẻ, năm là không buông lung v.v... Những điều kiện này giữ cho thân tâm an ổn không bị não loạn, chúng ta phải khéo giữ để tăng trưởng, nếu không khéo thì bị suy giảm. Lấy cái vui Phật đạo, cái vui Niết-bàn cho tất cả người, ấy gọi là đại từ. Hành giả suy nghĩ: Hiện tại, vị lai những vị đại nhân hành Từ làm lợi ích tất cả, ta cũng là một chúng sanh được cứu giúp, các ngài là vị thần lành ủng hộ ta, ta phải hành từ để đền lại ơn ấy. Lại nghĩ rằng: Các vị đại đức tâm thương tưởng tất cả lấy đó làm vui, ta cũng phải như vậy, niệm tất cả chúng sanh nguyện họ được cái vui như Phật, cái vui Niết-bàn, ấy là đền ơn các ngài. Sức Từ hay khiến tất cả tâm được khoái lạc, thân lìa nhiệt não được cái vui thanh lương, gìn giữ thực hành phước Từ nghĩ tưởng làm an ổn tất cả để đền ơn các ngài. Lòng từ bi rộng lớn là đem cái vui Niết-bàn an lạc đến cho mọi người. Nhớ đến gương người trước, sở dĩ ngày nay chúng ta được học đạo được hiểu đạo là nhờ người trước đã dày công chịu khó tu hành, giáo hóa chúng ta. Muốn đền ơn những vị ấy phải làm sao? Chúng ta phải khởi lòng thương mọi người, muốn mọi người đều được tiến đến Phật quả, đều được Niết-bàn an vui. Mình được hiểu Phật pháp, biết tu tập xa lìa đường khổ, tiến dần đến đạo quả vô thượng, nay cố gắng thương mọi người, giúp tất cả chúng sanh tu hành được như mình. Không nên nghĩ rằng chúng ta tu được phần mình còn ai sao thì mặc, như thế không có lợi ích lớn. Từ có những thứ thiện lợi: Từ đoạn sự nóng giận. Từ mở cửa tiếng tốt. Từ là thí chủ. Từ là ruộng tốt. Từ là nhân sanh Phạm thiên. Từ ưa ở chỗ ly dục. Từ trừ hết gốc thù nghịch và tranh đấu. Từ được chư Phật khen ngợi. Từ thì người trí yêu mến. Từ hay giữ giới thanh tịnh. Từ sanh trí tuệ, sáng suốt. Từ hay nghe pháp lợi. Từ là công đức đề hồ. Từ quyết định người tốt. Từ là sức mạnh của người xuất gia. Từ tiêu diệt các thứ ác. Kẻ ác mắng chửi, dùng Từ đáp lại hay điều phục được. Từ là chỗ nhóm họp của các thứ khoái lạc. Từ là pháp sanh tinh tấn. Từ là mầm gốc của sự giàu sang. Từ là tạng phủ của trí tuệ và biện tài. Từ là kho tàng thành tín. Từ là cửa của các thiện. Từ là pháp đem đến danh dự. Từ là cội gốc được kính yêu. Từ là đạo chân chánh của Phật. Nếu người gây sự ác trở lại tự chịu tai họa, có năm thứ lời nói ác: 1- Nói phi thời, 2- Nói không thật, 3- Nói không lợi, 4- Nói không từ, 5- Nói không nhu hòa, không thể khuynh động được Từ. Tất cả độc hại cũng không xâm phạm được Từ, ví như một đóm lửa không thể đốt biển cả. Như trong kinh Tỳ-la, Phẩm Ưu-điền vương A-bà-na nói: “Có hai vị phu nhân, một tên Vô Tỷ, một tên Xá-mê-bà-đế. Vô Tỷ phỉ báng Xá-mê-bà-đế, Xá-mê-bà-đế có năm trăm người hộ vệ, vua lấy năm trăm mũi tên muốn bắn chết hết. Xá-mê-bà-đế bảo những người hộ vệ: “Lại đứng sau ta!” Khi ấy Xá-mê-bà-đế nhập Từ tam-muội, vua giương cung bắn bà. Mũi tên thứ nhất rớt dưới chân bà, mũi tên thứ hai trở lại rơi dưới chân vua. Vua kinh hãi, lại muốn phóng tên. Xá-mê-bà-đế bảo vua: “Dừng! Dừng lại! Vì nghĩa vợ chồng nên phải nói cho nhau, nếu phóng mũi tên này sẽ ghim thẳng vào tim ông.” Vua khi ấy kinh khủng, buông cung bỏ tên hỏi: “Ngươi có pháp thuật gì?” Đáp: “Không có pháp thuật gì lạ, tôi là đệ tử Phật nhập Từ tam-muội được như thế.” Từ tam-muội lược nói có ba duyên: sanh duyên, pháp duyên và vô duyên. Những vị chưa đắc đạo là sanh duyên. A-la-hán, Bích-chi Phật là pháp duyên. Chư Phật Thế Tôn là vô duyên. Đó là đã lược nói môn Từ tam-muội. Từ tam-muội này có công dụng rất lớn. Từ đoạn sự nóng giận. Điều này có đúng không? Nếu mình khởi lòng thương thì hết nóng giận, khi nóng giận thì hết thương. Từ mở cửa tiếng tốt. Người mà đối với ai cũng thương cũng quý, mọi người không ai thù ghét mình, luôn nghĩ tốt về mình. Từ là thí chủ. Từ là ruộng tốt. Khi có lòng từ bi mới làm được, giúp được kẻ này người kia, cho nên Từ là thí chủ. Từ là ruộng tốt, vì làm nảy sanh bao nhiêu hạt giống lành. Từ là nhân sanh Phạm thiên. Từ ưa ở chỗ ly dục. Từ trừ hết gốc thù nghịch và tranh đấu. Nếu chúng ta khởi lòng thương mọi người thì không còn thù nghịch, không còn tranh đấu nữa. Từ được chư Phật khen ngợi. Từ thì người trí yêu mến. Người có lòng từ bi được Phật khen ngợi, được người trí quý mến. Từ hay giữ giới thanh tịnh. Bởi vì có lòng từ nên chúng ta giữ giới được trong sạch, không phạm lỗi sát hại đánh đập chửi mắng ai. Lòng từ cũng giúp chúng ta nhẫn chịu được tất cả khó khăn. Từ sanh trí tuệ, sáng suốt. Từ hay nghe pháp lợi. Từ là công đức đề hồ. Từ quyết định người tốt. Từ là sức mạnh của người xuất gia. Từ tiêu diệt các thứ ác. Kẻ ác mắng chửi, dùng Từ đáp lại hay điều phục được. Khi bị người ác mắng chửi, nếu chúng ta cũng dùng mắng chửi đáp lại thì có thể trị họ được không? Hai cái mắng chửi đối đầu nhau càng tăng thù oán. Muốn điều phục người, chúng ta chỉ dùng lòng từ và lời lẽ thương mến hòa nhã thuyết phục, tự nhiên hai bên đều không tổn thương. Từ là pháp sanh tinh tấn. Từ là mầm gốc của sự giàu sang. Có lòng từ thì ai thiếu ai khổ mình giúp hết, giúp hết thì mình nghèo, nhưng đây nói là gốc của sự giàu sang. Giàu sang có hai hạng, hạng người nhiều tiền của và hạng người nhiều công đức nhiều pháp lành. Tiền của có ngày mất chứ công đức pháp lành không mất. Vì thế lòng từ hay bố thí là gốc của giàu có công đức pháp lành. Từ là tạng phủ của trí tuệ và biện tài. Người có lòng từ là có một kho tàng trí tuệ và biện tài. Vì sao? Khi chúng ta nổi nóng thì nói bậy làm bậy, tức là ngu xuẩn. Ngược lại, nếu bị người chọc giận mà chúng ta vẫn thương họ, không nóng giận, lời nói việc làm của mình sáng suốt, hành động đạo đức của mình khiến người mến phục. Như vậy lòng từ giúp chúng ta được tăng trí tuệ, giỏi biện tài, đầy đủ khôn ngoan sáng suốt. Từ là kho tàng thành tín. Từ là cửa của các thiện. Từ là pháp đem đến danh dự. Từ là cội gốc được kính yêu. Lòng từ là cội gốc được mọi người thương mến. Theo lẽ công bằng, khi chúng ta thương tất cả mọi người thì được tất cả mọi người thương mình. Đó là lẽ thật. Từ là đạo chân chánh của Phật. Người nói tu theo đạo Phật mà thiếu lòng từ bi, đạo đó không phải đạo chân chánh. Tất cả độc hại cũng không xâm phạm được Từ, ví như một đốm lửa không thể đốt biển cả. Người có lòng từ thì những kẻ độc hại không xâm phạm được. Trong kinh kể chuyện vua Ưu-điền có hai bà phi, một bà tên Vô Tỷ, một bà tên Xá-mê-bà-đế. Xá-mê-bà-đế là đệ tử Phật, tập tu quán từ bi rất có kết quả, Vô Tỷ ganh ghét muốn giành quyền, muốn giết hại Xá-mê-bà-đế. Một hôm Xá-mê-bà-đế đang thọ bát quan trai tại cung điện, vua Ưu-điền sửa soạn đi chơi, có Vô Tỷ đi theo. Nhà vua muốn Xá-mê-bà-đế cùng đi theo cho vui, Vô Tỷ cho người đi mời. Xá-mê-bà-đế bận tu tập nên không đi, nhân đó Vô Tỷ chen vô gièm pha, nói Xá-mê-bà-đế khinh khi nhà vua. Vua Ưu-điền tức giận muốn giết hại. Chuyện tiếp theo như trên đã kể, để chứng tỏ nhờ quán từ bi nên trị được tất cả các sân hận. Từ tam-muội lược nói có ba duyên: sanh duyên, pháp duyên và vô duyên. Còn gọi là chúng sanh duyên từ, pháp duyên từ, vô duyên từ. Thế nào là sanh duyên từ? Tức là chúng ta thấy người khổ, người đói, người bị tai nạn, khởi lòng thương xót giúp đỡ. Khi cứu giúp vẫn còn thấy có người có ta, còn nghĩ đến ơn nghĩa nên thuộc về lòng từ của phàm phu. Thế nào là pháp duyên từ? Tức là đối với các pháp thấy rõ lợi ích, đem pháp đó gieo rắc giáo hóa cho người, để người hết khổ. Lòng từ này thuộc về của các vị A-la-hán, Bích-chi Phật, các vị tuy không còn chấp ngã nhưng vẫn còn thấy pháp là thật. Thế nào là vô duyên từ? Đây là lòng từ không đợi nhân duyên, thấy người khổ liền cứu giúp không khởi niệm, không tính toán, không thấy có người làm và người nhận, tùy thuận tự nhiên. Đây là lòng từ của chư Phật. Ví dụ về Vô duyên từ, tiền thân đức Phật có thời ngài làm hoàng tử thứ ba, cùng hai anh đi dạo chơi trong rừng. Hoàng tử thấy dưới hố sâu có cọp mẹ và bầy cọp con, cọp mẹ đói khát kêu rống, hoàng tử bảo hai anh đi trước, còn mình trở lại, nhảy xuống hố cho cọp đói ăn. Như vậy là thấy chúng sanh khổ thì cứu liền, không suy nghĩ, không phân biệt con cọp này mà sống nó sẽ ăn thịt những con thú khác, cứu cọp không ích lợi gì... Cái khổ trước mắt chạm đến lòng từ nên liền hy sinh, luôn luôn làm tất cả vì chúng sanh không mỏi nhọc. Chỉ có chư Phật mới được như vậy. Chúng ta làm ơn cho ai đều suy xét so đo, cho người ăn xin cũng phải tính xem là xin thật hay xin giả, họ có lường gạt mình không v.v... Lòng từ của chúng sanh là lòng từ có điều kiện. Lòng từ của chư Phật là vô điều kiện. IV- BỒ-TÁT QUÁN NHÂN DUYÊN TAM-MUỘI Người thực hành đạo Bồ-tát, đối trong ba độc, nếu thấy ngu si nhiều, phải quán mười hai nhân duyên phá hai thứ si. Trong phá si tự thân, ngoài phá si của chúng sanh. Suy nghĩ rằng: “Ta và chúng sanh đồng ở trong cảnh ách nạn, thường chịu sanh lão bệnh tử, thường tiêu diệt và thường vượt ra. Chúng sanh không biết lối ra thì làm sao được thoát, thật đáng thương xót!” Nhất tâm suy nghĩ sanh lão bệnh tử là do nhân duyên sanh. Lại phải suy nghĩ do nhân nào duyên sanh? Nhất tâm suy nghĩ nhân Sanh duyên Hữu, nhân Hữu duyên Thủ, nhân Thủ duyên Ái, nhân Ái duyên Thọ, nhân Thọ duyên Xúc, nhân Xúc duyên Lục nhập, nhân Lục nhập duyên Danh sắc, nhân Danh sắc duyên Thức, nhân Thức duyên Hành, nhân Hành duyên Vô minh. Lại suy nghĩ: Phải dùng nhân duyên nào diệt Sanh, Lão tử? Nhất tâm suy nghĩ vì Sanh diệt nên Lão tử diệt, Hữu diệt nên Sanh diệt, Thủ diệt nên Hữu diệt, Ái diệt nên Thủ diệt, Thọ diệt nên Ái diệt, Xúc diệt nên Thọ diệt, Lục nhập diệt nên Xúc diệt, Danh sắc diệt nên Lục nhập diệt, Thức diệt nên Danh sắc diệt, Hành diệt nên Thức diệt, Vô minh diệt nên Hành diệt. Pháp quán thứ tư, Bồ-tát quán Nhân duyên tam-muội. Chúng ta tu phải biết bệnh của mình là gì. Nóng giận nhiều, tham lam nhiều hoặc si mê nhiều. Bệnh si mê chỉ có quán nhân duyên mới hết. Đây nói trong phá si tự thân, ngoài phá si của chúng sanh. Mọi người ai cũng lầm mê như mình, vì vậy khi phá được si mê của mình thì phải cố gắng phá si mê cho người, đó là gốc của sự tu. Phá si mê bằng cách quán mười hai nhân duyên. Trong mười hai nhân duyên, đi từ cái dễ thấy nhất là sanh già bệnh chết. Chúng ta quán từ sự sống của hiện tại, quán dần trở lại để tìm nguyên nhân sanh ra thân này, nguyên nhân mình có mặt ở đây. Lại quán Sanh này từ đâu có? Là do Hữu. Hữu từ đâu có? Do Thủ. Thủ từ đâu có? Do Ái. Ái từ đâu có? Do Thọ. Thọ từ đâu có? Do Xúc. Xúc từ đâu có? Do Lục nhập. Lục nhập từ đâu có? Do Danh sắc. Danh sắc từ đâu có? Do Thức. Thức từ đâu có? Do Hành. Hành từ đâu có? Do Vô minh. Từ ngọn phăng lần tới gốc, đầu mối của mười hai nhân duyên là Vô minh. Hiện tại chúng ta sanh ra, rồi phải bị già bệnh chết, ưu bi khổ não... Những đau khổ này từ Sanh mà có. Có Sanh vì có Hữu. Hữu là chỉ cho cái có nơi chốn, có hoàn cảnh theo nghiệp mà thọ nhận. Sanh đây là do nghiệp cũ quá khứ tạo ra, không phải bỗng dưng có Sanh, nghiệp quá khứ đó là Hữu. Hữu duyên nơi Thủ. Có nghiệp thọ sanh là do Thủ, Thủ là chấp giữ những gì mình có. Chữ Thủ này rất hệ trọng, chúng ta do bám giữ chặt nên thành thói quen khó dứt bỏ. Như chúng ta quý tiếc thân, giữ chặt thân, khi thân tan rã thì tâm bám chặt đó thành nghiệp để thọ thân sau. Vì vậy nói Hữu là do Thủ. Vì sức bám chặt, giữ gìn quý tiếc nên phải có thân kế tiếp. Cái chấp chặt này nhân đâu mà có? Thủ duyên nơi Ái. Sở dĩ chấp chặt là do yêu thích. Chúng ta yêu thích thân mình, gọi là ái ngã. Vì yêu thích nên bám chặt không rời, có rồi muốn giữ mãi. Vì thế nói do Ái mới bảo thủ gìn giữ, chấp chặt rồi đi tới Hữu để thành nghiệp thọ sanh nơi khác. Trong mười hai nhân duyên Thủ và Ái rất hệ trọng. Nhưng tại sao có Ái? Ái duyên nơi Thọ. Thọ tức là cảm nhận, chia ra làm ba, thọ lạc, thọ khổ, thọ không lạc không khổ. Thọ mà chúng ta vui thích để thành Ái là thọ lạc. Những gì mình cho là vui thích là hạnh phúc, được nó thì yêu thích, gìn giữ bảo vệ. Như vậy Ái không phải ngẫu nhiên mà do Thọ. Thọ duyên nơi Xúc. Xúc là sự tiếp xúc của giác quan với trần cảnh. Như mắt xúc chạm với sắc, tai xúc chạm với thanh, mũi xúc chạm với hương, lưỡi xúc chạm với vị. Thân chúng ta xúc chạm với năm trần, từ đó sanh ra cảm thọ, từ cảm thọ có yêu thích, từ yêu thích nên bảo thủ, từ bảo thủ nên tạo thành nghiệp, từ nghiệp nên mới sanh ra đời sau. Quán sát một dòng liên hệ như vậy, chúng ta mới tháo gỡ được. Xúc duyên nơi Lục nhập. Tại sao có xúc chạm? Vì ngoài có sáu trần, trong có sáu căn, căn trần tiếp xúc với nhau. Lục nhập chỉ cho sáu căn là chỗ để sáu trần chui vào. Lục nhập duyên nơi Danh sắc. Tại sao lại có sáu căn? Sáu căn nguyên nhân từ bào thai, chia hai phần, danh là tinh thần, sắc là thể xác tức là vật chất. Tinh thần vật chất hòa hợp tượng hình thành thân này. Khi có thân thì có sáu nơi tiếp xúc, nên nói Lục nhập duyên nơi Danh sắc. Danh sắc duyên nơi Thức. Thức này là Thức có sẵn của quá khứ, khi chúng ta tạo thành nghiệp thì Thức dẫn đến cảnh thọ sanh. Cha mẹ cho sắc thân nhưng phải có Thức, thai mới thành tựu. Khi danh sắc chung hợp lại để thành con người, nó bắt nguồn từ thức. Thức duyên nơi Hành. Thức làm sao đi tới nơi để thọ sanh? Do Hành, Hành là hành động tạo nghiệp. Hành động này không phải là hành động thô thiển có thân có tướng, mà là sự biến chuyển tạo thành sức mạnh của nghiệp quá khứ. Hành duyên nơi Vô minh. Sở dĩ có Hành nghiệp là do bởi Vô minh. Quán xét đến chỗ tận cùng này, chúng ta thấy đầu mối sanh tử là Vô minh. Vô minh là không sáng suốt, vì không sáng nên chúng ta tạo nghiệp đi trong sanh tử luân hồi, muốn hết tạo nghiệp luân hồi thì phải sáng. Ví dụ hiện tại có người bị bệnh ghiền ma túy hành hạ khổ sở, hỏi nó tại sao bị ghiền, thì tại bạn bè rủ hoặc thích chơi thích hút thứ đó. Tại sao thích hút chích? Tại mê lầm không sáng suốt mới bị người ta rủ, mới thích chơi thứ ác độc đó, để bị khổ sở, tốn tiền, thân tiều tụy. Từ mê lầm ban đầu không hiểu biết đưa tới chỗ hư hại thân mạng. Cũng vậy, từ vô minh mê lầm ban đầu thúc giục chúng ta đi, thúc giục đi đó là Hành, đi để rồi chịu sanh tử trong lục đạo luân hồi. Gốc của sanh tử là Vô minh, muốn hết Vô minh phải tu tập trí tuệ giác ngộ phá tan mê lầm. Đạo Phật là đạo giác ngộ. Ví như căn nhà tối một ngàn năm, muốn hết tối phải thắp đèn, thắp đèn lên thì bóng tối liền tan nhanh. Chúng ta sanh tử vô số kiếp, nhưng khi giác ngộ thì vô minh liền tan, ngay đó giải thoát sanh tử. Không thể tính rằng tôi đã sanh tử một triệu kiếp, phải tu một triệu kiếp nữa mới hết sanh tử. Ngay khi tu dứt được mê lầm thì cội gốc sanh tử liền tan. Có nhiều vị tu ngay trong đời này được giải thoát, không phải đợi đủ số, mê lầm bao lâu thì tu cũng phải bao lâu đó mới hết mê. Trọng tâm của người tu là tỉnh giác không cho mê, mê thì tu muôn đời cũng không dứt được vô minh. Dứt được vô minh hay không là do sự quyết tâm của mình, không phải do cầu xin bên ngoài. Như người bệnh ghiền, dù thân nhân, xã hội thương muốn giúp đỡ người đó hết bệnh, nếu họ không có ý chí, không quyết tâm cai nghiện thì không bao giờ hết bệnh. Dù cho áp lực bên ngoài, cha mẹ anh em ép buộc gửi vô trại, cai hết bệnh ghiền nhưng ra gặp bạn bè rủ rê thì hút lại, bệnh lại. Rõ ràng trọng tâm dứt bệnh là phải có ý thức tự giác, thấy con đường đó là con đường nguy hiểm tai họa, can đảm dứt trừ thì mới có kết quả. Chúng ta thấy mê lầm là gốc dẫn đi trong sanh tử, phải thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ để phá tan mê lầm. Thắp sáng trí tuệ với chánh pháp, tự mình thắp đuốc lên mà đi. Ngọn đuốc của đức Phật để lại còn cháy rực, chúng ta mồi cây đuốc của mình vào đó cho sáng lên, tự mình thức tỉnh để phá trừ vô minh. Bài kinh Bát-nhã chúng ta tụng hằng ngày chính là đuốc trí tuệ siêu việt giúp chúng ta thoát khổ đau đời này và những đời kế tiếp. Chỉ cần một câu đầu là thấy hết khổ ngay. Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Trọng tâm của câu này ở chỗ quán chiếu hay soi thấy năm uẩn đều không. Dùng trí tuệ quán chiếu chứ không phải chỉ tụng suông mà hết khổ ách được. Vì vô minh lầm chấp thân này là thật là bền chắc nên gây nghiệp rồi lãnh thọ quả báo theo nghiệp. Chỉ có trí tuệ mới phá được cái vô minh sâu dày này. Tất cả chúng ta đều yêu quý thân, không ai nói tôi không ưa thân dù nó bệnh hay xấu xí. Vì yêu quý thân nên bảo vệ tối đa, luôn giữ gìn chấp chặt. Nhưng xét kỹ thân này có thật đáng yêu quý không? Mình chết chưa kịp liệm thì không ai dám đến gần, tại sao lúc sống hoạt động thì ai cũng thân thiết mà bây giờ cũng thân này nằm đó mà ai cũng sợ? Nếu để lâu một chút thì ai cũng gớm. Như vậy thân này thật quý hay không thật quý? Cái không thật quý mà quý, phải vô minh không? Vì chúng ta ngầm chứa vô minh ở trong nên phải chấp nhận luân hồi sanh tử. Tinh thần Bát-nhã là phản chiếu soi sáng lại bản chất của thân này, tức là hành sâu Bát-nhã ba-la-mật đa, thấy rõ nó không thật, giả hợp như huyễn mới qua hết khổ nạn. Xét kỹ thân này do năm uẩn tụ họp, ngay từ buổi đầu mới thọ thai phải gồm đủ hai phần Danh và Sắc; Danh là thọ, tưởng hành, thức; Sắc là tứ đại gồm chung. Mỗi uẩn cũng không thật có, đủ duyên hợp mới có. Sắc uẩn nhờ tứ đại bên ngoài bồi bổ, thọ tưởng hành thức cũng phải đợi đủ duyên mới có. Cái gì do duyên hợp thì không nguyên vẹn thật có, cái không thật mà chấp là thật, đó là vô minh. Như thân này, quả là không có gì thật nguyên vẹn từ buổi đầu, chúng ta cứ nghĩ nó là mình là ta, thật có thường còn, đáng yêu đáng quý. Do vô minh tưởng lầm nên theo đó tạo nghiệp, mất thân này tìm thân khác. Nếu biết nó chỉ là duyên hợp tạm thời hư giả, đủ duyên thì còn, duyên tan thì mất, có đẹp xấu cũng là thường không quan trọng, chúng ta không chấp đắm, không quá quý tiếc thân, dừng các nghiệp tham sân si. Nghiệp dừng thì luân hồi sanh tử dừng, đó là lẽ thật. Bát-nhã có chia làm ba: văn tự Bát-nhã, quán chiếu Bát-nhã, thật tướng Bát-nhã. Lời kinh chúng ta đọc tụng là văn tự, đọc rồi phải quán chiếu đó là chặng thứ hai, chặng thứ ba mới đạt đến thật tướng. Nếu chỉ hài lòng với văn tự, ngang đó dừng thì làm sao có kết quả? Ngài Thái Hư dùng ví dụ, như có người muốn qua sông, tới bờ sông thấy có chiếc thuyền, xuống thuyền ngồi chờ qua sông. Ngồi trên thuyền mà không chèo bơi thì làm sao đến bờ kia? Con thuyền đưa qua sông ví như văn tự Bát-nhã, chèo bơi là quán chiếu, từ quán chiếu thấy rõ thân năm uẩn không thật thì hết khổ, đó là qua bờ kia. Thấy thân năm uẩn không thật là đạt được thật tướng Bát-nhã. Chúng ta tu chỉ có chặng đầu, đem kinh ra đọc tụng mà không quán chiếu, không thấy thật tướng nên không bao giờ hết khổ, tu hoài mà cứ đứng một chỗ, rồi than không qua khỏi khổ ách. Nếu chịu ứng dụng lời Phật dạy, quán chiếu thân này duyên hợp hư giả, biết thân này tạm thời không phải thật quý trọng, giả sử có ai chửi mình ít câu, ai có lấn lướt mình thì thân giả này có giá trị gì mà buồn giận, tự nhiên khổ qua hết. Nhờ có trí tuệ mà chúng ta phá được si mê, thảnh thơi giải thoát. Quán sát nhân duyên theo chiều sanh khởi, thấy rõ đầu mối vô minh. Lại quán sát nhân duyên theo chiều trừ diệt, nhất tâm suy nghĩ làm sao để diệt Sanh, Lão tử. Vì Sanh diệt nên Lão tử diệt, không có Sanh thì không có Lão tử. Làm sao diệt được Sanh? Hữu diệt thì Sanh diệt, dứt nghiệp thì Sanh không còn. Làm sao diệt Hữu? Thủ diệt thì Hữu diệt, dứt bỏ sự chấp giữ thì nghiệp liền hết. Ái diệt nên Thủ diệt, Ái là yêu thích mà Thủ là bảo vệ gìn giữ, không còn yêu thích thì không còn nắm giữ. Thọ diệt nên Ái diệt, từ những cảm thọ vui khổ nên sanh ra Ái, không phân biệt yêu thích, thương hay không thương thì Ái diệt. Làm sao diệt Thọ? Xúc diệt nên Thọ diệt, căn trần không tiếp xúc nhau thì Thọ diệt. Chỗ này liên hệ Lục nhập, nên nói Lục nhập diệt thì Xúc diệt. Tới đây chúng ta sẽ hoảng hốt không biết tu ra sao. Lục nhập là cửa sáu căn để tiếp sáu trần, diệt sáu căn có phải là chọc cho đui mắt, hoặc bịt lỗ tai lại...? Thiền sư thường nói thấy như mù, nghe như điếc, không phải là không thấy nghe gì cả; thấy nghe cứ thấy nghe mà không sanh tâm, không dính mắc, ngang đó là dứt Lục nhập. Như đức Phật đi khất thực bị Bà-la-môn theo chửi mắng, ngài không một lời đáp lại. Ông Bà-la-môn hỏi: - Cù-đàm có điếc không? - Không, ta không điếc. - Sao tôi chửi mà ông không trả lời. - Ngươi đem quà tặng mà ta không nhận thì quà đó về ai? Chính câu này chỉ chỗ tu sáu căn, thấy nghe mà không dính mắc. Thiền sư Tam Bình Nghĩa Trung nói: Tức thử kiến văn phi kiến văn Vô dư thanh sắc khả trình quân Cá trung nhược liễu toàn vô sự Thể dụng hà phòng phân bất phân. Tạm dịch: Chính nơi thấy nghe chẳng thấy nghe, Đâu còn thanh sắc để trình anh, Trong kia nếu rõ toàn vô sự, Thể dụng ngại gì phân chẳng phân. Thấy nghe mà không dính mắc nên ngay đó vô sự, ngay chỗ sáu cửa tiếp xúc, dụng tức là thể không khác. Thiền sư chỉ dạy mười hai nhân duyên rất khéo. Danh sắc diệt thì Lục nhập diệt. Đây quán sát do Danh sắc sanh Lục nhập. Thân này được tạo thành bởi Danh sắc, tức là sắc thân và tinh thần, nếu không có bào thai thì không có Danh sắc. Các vị A-la-hán không muốn thọ thân sau nên diệt Danh sắc. Thức diệt nên Danh sắc diệt, Thức là nguồn gốc kết nghiệp thọ sanh, Thức không còn thì Danh sắc cũng hết. Hành diệt nên Thức diệt. Hành là động cơ lôi Thức đi thọ sanh. Muốn cho Hành diệt thì làm sao? Vô minh diệt thì Hành diệt. Vô minh là cái cuối cùng chấm dứt mười một duyên trước. Vô minh diệt thì tất cả đều diệt. Quán sát đến tận cùng, thấy rõ chỉ có trí tuệ chân thật mới diệt được Vô minh. Chúng ta tu để dứt vô minh là thực hành đúng lời Phật dạy, có trí tuệ sáng suốt thì bớt khổ. Như Phật tử tin Phật rất sâu, khi gặp tai nạn thì cầu Phật cho qua tai nạn, nếu tai nạn không qua có hết khổ không? Nếu có trí tuệ thấy thân này không thật, tai nạn có đến thì quán thân như huyễn, tất cả đều không thật, chỉ cười thôi, không có gì quan trọng. Như thế là được qua tai nạn bằng trí tuệ, không bằng cầu cứu. Chúng ta có bệnh bình thường không chịu tu, khi gặp việc mới lạy Phật cầu Phật cứu. Mình đã tạo nghiệp nguy hiểm, tai nạn đến với mình rồi mới kêu cứu, làm sao cứu được? Như con không nghe lời cha mẹ, hút thuốc uống rượu, kết bạn với du đãng. Khi nó đi chơi gặp đứa hung dữ gây sự đánh lộn, bị đánh lỗ đầu chảy máu mới kêu cha mẹ cầu cứu. Cha mẹ thương lắm cũng không chạy tới cứu kịp. Như thế chúng ta tu không phải tin nơi Phật rồi sanh tâm ỷ lại. Chúng ta tin Phật qua lời dạy của ngài đúng với lẽ thật, đúng với chân lý, dùng đó để quán chiếu xem xét. Còn tin Phật mà chờ tai nạn mới cầu xin thì không đúng. Phật dạy pháp quán mười hai nhân duyên là soi thấu tường tận nhân luân hồi sanh tử, dứt nhân thì quả giải thoát hiện tiền, đạo lý đó là con đường chân thật. - Trong mười hai phần này, thế nào là Vô minh? - Không biết trước, không biết sau, không biết cả trước sau; không biết trong, không biết ngoài, không biết cả trong ngoài; không biết Phật, không biết Pháp, không biết Tăng; không biết Khổ, không biết Tập, không biết Diệt, không biết Đạo; không biết nghiệp, không biết quả, không biết cả nghiệp quả; không biết nhân, không biết duyên, không biết cả nhân duyên; không biết tội, không biết phước, không biết cả tội phước; không biết thiện, không biết ác, không biết cả thiện ác; không biết việc có tội, không biết việc không tội; không biết việc nên gần, không biết việc nên xa; không biết pháp hữu lậu, không biết pháp vô lậu; không biết pháp thế gian, không biết pháp xuất thế gian; không biết pháp quá khứ, không biết pháp vị lai, không biết pháp hiện tại; không biết pháp hắc, không biết pháp bạch; không biết phân biệt pháp nhân duyên, không biết pháp lục xúc, không biết pháp thật chứng. Các thứ như thế, không biết, không tuệ, không thấy, mờ mịt tối tăm, ấy gọi là Vô minh. Vô minh là không biết đúng như thật các sự vật trong cõi đời này, nơi mình và nơi người bên ngoài. - Vô minh duyên Hành, thế nào là Hành? - Hành có ba thứ: thân hành, khẩu hành và ý hành. Hành tức là nghiệp, thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Hơi thở vào ra là pháp thân hành. Vì pháp ấy thuộc về thân, nên gọi thân hành. Tức là nghiệp của thân. Có giác có quán là khẩu hành. Có suy nghĩ thuộc về khẩu hành. Vì khởi giác, quán rồi sau mới nói năng, nếu không giác, quán thì không có nói năng, ấy gọi là khẩu hành. Nghiệp của miệng là gì? Khởi nghĩ thiện, nghĩ ác rồi mới nói lành nói dữ, gọi là có giác quán mới có khẩu hành. Thế nào là ý hành? Thọ nhận là ý pháp, vì hệ buộc ý nên gọi ý hành. Lại có Dục giới hệ hành, Sắc giới hệ hành, Vô sắc giới hệ hành; tam giới đều thuộc về hành. Ý hành là sự thọ nhận, có thọ nhận mới khởi lên tư tưởng hành động. Ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới đều thuộc về Hành, nếu không có Hành tức không sức lôi kéo thì không có ba cõi. Lại có thiện hành, bất thiện hành, bất động hành. Thế nào là thiện hành? Tất cả thiện hành ở Dục giới và ba địa ở Sắc giới là thiện hành. Ba địa ở Sắc giới tức là ba quả vị Sơ thiền thiên, Nhị thiền thiên, Tam thiền thiên gọi là ba địa ở Sắc giới. Nói cho đủ là Sơ thiền tam thiên, Nhị thiền tam thiên, Tam thiền tam thiên; mỗi quả vị có ba cõi trời nên gọi là tam thiên. Tất cả thiện hành ở Dục giới và ba địa ở Sắc giới đều tạo lợi ích hành. Thế nào là bất thiện hành? Các pháp bất thiện gọi là bất thiện hành. Thế nào là bất động hành? Thiện hành hữu lậu đệ tứ thiền và cái hành thiện hữu lậu Vô sắc định. Thiện hành thuộc về hữu lậu gọi là bất động hành, tức là Tứ thiền ở Vô sắc định, cũng là hành thiện nhưng không tạo tác. - Nhân Hành duyên Thức, thế nào là Thức? - Có sáu thức, Nhãn thức cho đến Ý thức. - Nhân thức duyên Danh sắc, thế nào là Danh sắc? - Bốn phần không có hình sắc: thọ, tưởng, hành, thức gọi là Danh; tất cả tứ đại và hình tướng do tứ đại hợp thành là Sắc. Thế nào là tứ đại? Đất, nước, lửa, gió. Thế nào là đất v.v...? Tướng cứng chắc nặng nề là đất. Tướng ẩm ướt là nước. Tướng ấm nóng là lửa. Tướng nhẹ động là gió. Các hình tướng thấy được, có đối hoặc không đối là hình tướng do tứ đại hợp thành. Danh và Sắc hòa hợp nên gọi là Danh sắc. - Nhân Danh sắc duyên Lục nhập, thế nào là Lục nhập? - Bên trong có sáu nhập, Nhãn nhập cho đến Ý nhập, gọi là Lục nhập. - Nhân Lục nhập duyên Xúc, thế nào là Xúc? - Xúc có sáu thứ, Nhãn xúc cho đến Ý xúc. Con mắt duyên sắc sanh Nhãn thức, ba pháp hòa hợp gọi là Nhãn xúc. Cho đến Ý xúc cũng như thế. - Nhân Xúc duyên Thọ, thế nào là Thọ? - Thọ có ba thứ, lạc thọ, khổ thọ và không khổ không lạc thọ. Những cái nhận chịu do yêu thích sai khiến là lạc thọ, do giận tức sai khiến là khổ thọ, do si mê sai khiến là không khổ không lạc thọ. Lại nữa, lạc thọ sanh khổ, vì lạc trụ và lạc diệt; khổ thọ sanh lạc, vì khổ trụ và khổ diệt; không khổ không lạc thọ, vì không biết khổ không biết lạc. Lạc thọ sanh khổ, vì lạc trụ và lạc diệt. Chúng ta thọ những điều yêu thích gọi là lạc thọ, nhưng lạc thọ sanh khổ. Trong Tứ niệm xứ, quán thọ là khổ. Tại sao? Vì thọ lạc có trụ rồi có mất đi. Những gì ưa thích mà mất đi thì khổ. Khổ thọ sanh lạc, vì khổ trụ và khổ diệt, khổ thọ sanh ra vui vì khổ trụ và khổ diệt. Như chúng ta bị u nhọt, khi u nhọt hành thì đau đớn, đó là khổ thọ; khi xức thuốc, từ từ chỗ u nhọt lành tức là khổ diệt, khổ diệt thì vui. Khổ thọ hay lạc thọ đều vô thường. Vui sau khi hết khổ, khổ sau khi hết vui. Như vậy thọ lạc là gốc khổ. Chúng ta ai cũng thích vui mà không thích khổ. Nhưng niềm vui đó không thường còn, được đó rồi mất đó, vì thế nên khổ. Như người ưa thích âm nhạc, có những người đánh nhạc tài tình đến biểu diễn trong nhà hát, lúc đó người thích nhạc được đi nghe rất vui. Hết giờ nghe nhạc ra về, ngáp dài ngáp vắn, còn vui không? Nhất là đi đường đủ thứ chuyện phiền hà, đó là qua cái vui rồi đến cái khổ. - Nhân Thọ duyên Ái, thế nào là Ái? - Mắt tiếp xúc sắc sanh ái, cho đến ý tiếp xúc pháp sanh ái. - Nhân Ái duyên Thủ, thế nào là Thủ? - Thủ có bốn thứ, dục thủ, kiến thủ, giới thủ, ngã ngữ thủ. Thủ là bảo thủ, trong đây chia ra bốn thứ: dục thủ, kiến thủ, giới thủ, ngã ngữ thủ. Dục thủ là bảo vệ giữ gìn những gì mình muốn mình ưa thích. Kiến thủ là bảo vệ kiến chấp của mình. Như tôi thấy bình hoa này đẹp, nếu có người nào nói bình hoa này xấu tôi không chịu, cãi liền, không chấp nhận ý của người khác, dù có khi người ta đúng hơn mình. Đôi khi mình lỡ quyết định việc đó là tốt là hay, có người vạch ra chỗ không tốt không hay, họ phản đối lại mình. Lúc đó, nổi giận hay là nghe? Nổi giận để bảo thủ kiến chấp của mình, dù kiến chấp của mình không đúng mình cũng cứ cãi. Kiến thủ là như vậy. Giới thủ là giữ chặt những điều răn cấm không đúng với chân lý, không đúng với lẽ thật. Ngã ngữ thủ là bảo vệ lời nói chấp trước của mình, cho nó là đúng là đáng tôn trọng. Trong bốn thủ này, chúng ta đều có hoặc ít hoặc nhiều, ai có đủ cả bốn là bệnh nặng. - Nhân Thủ duyên Hữu, thế nào là Hữu? - Hữu có ba thứ, Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu. Dưới từ đại địa ngục A-tỳ lên đến cõi trời Hóa Tự Tại là Dục hữu. Chúng sanh ở đây hay sanh nghiệp. Dưới từ cõi trời Phạm Thế lên đến cõi trời A-ca-ni-tra là Sắc hữu. Từ hư không cho đến Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ là Vô sắc hữu. Chữ hữu ở đây là chỉ cho tam giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. - Nhân Hữu duyên Sanh, thế nào là Sanh? - Các loài chúng sanh mỗi chỗ sanh ra có thọ ấm, được gìn giữ, thụ nhân và mạng sống, gọi là Sanh. - Nhân Sanh duyên Lão tử, thế nào là Lão tử? - Da nhăn, tóc bạc, răng lay, các bộ phận kém yếu hư hỏng, hơi thở hay ngăn nghẹn, thân khòm đi phải chống gậy, thân ngũ ấm khô gầy, ấy gọi là Lão. Tất cả chúng sanh nơi nào cũng đều đến chỗ tiêu diệt, dứt mạng sống gọi là Tử. Trước già sau chết nên nói Lão tử. Tất cả thế gian đều nương mười hai nhân duyên này xuất hiện, không phải trời, người, các thứ tà duyên sanh ra. Bồ-tát quán mười hai nhân duyên kìm tâm không động, không nghĩ gì khác, nếu có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Quán mười hai nhân duyên sanh trong ba đời, quá khứ hiện tại và vị lai. Bồ-tát nếu được tâm trụ, phải quán mười hai nhân duyên là không, không có chủ. Do si mê nên không biết ta tác hành, không biết ta từ si mê có, chỉ duyên Vô minh Hành sanh. Như cỏ cây đều từ hạt giống mầm mộng mà ra, hạt giống không biết ta có mầm, mầm không biết ta từ hạt giống ra. Cho đến Lão tử cũng như thế. Trong mười hai nhân duyên mỗi mỗi quán biết không chủ, như cây cỏ bên ngoài không chủ, chỉ do kiến chấp điên đảo mà có tôi ta. Chúng ta quán mười hai nhân duyên đều không có chủ, không thật, do si mê chấp tôi chấp ta mà ra. Ngoài mười hai nhân duyên không có duyên nào khác, quán tới quán lui như thế dứt sạch kiến chấp điên đảo. - Nếu không có tôi ta thì không chủ không tạo, vì sao nói rằng chết đây sanh kia? - Tuy không có tôi ta, nhưng sáu tình làm nhân, sáu trần làm duyên sanh ra sáu thức, do ba việc hòa hợp nên sanh xúc chạm, nghĩ biết các nghiệp phát sanh, bởi thế xưa nay nói từ đây mà có sống chết. Ví như hòn châu Nhật Ái, mặt trời, bổi hòa hợp liền có lửa xuất hiện, ngũ ấm cũng như thế. Nhân ngũ ấm đời này, sanh ngũ ấm đời sau, không phải ngũ ấm này tiếp tục đến đời sau, cũng không phải lìa ngũ ấm này có ngũ ấm đời sau. Ngũ ấm do nhân duyên xuất hiện, như hạt giống sanh mầm, hạt giống không phải mầm, cũng không phải do các mầm khác sanh mầm này, không phải khác, không phải một. Thân đời sau cũng như vậy. Ví như cây khi chưa có thân, cành lá, hoa quả, thời tiết nhân duyên đến hoa lá trổ đầy đủ, quả báo của hành động thiện ác cũng như thế. Hạt giống hư hoại nên không phải thường, không phải một; thân, cành, lá v.v... sanh trưởng nên không phải đoạn, không phải khác. Sự chết sống liên tục cũng như thế. Trong mười hai nhân duyên, sự chết sống của chúng ta cứ tiếp tục liên miên không dứt, đời này qua đến đời nọ đời kia... Vì vô minh che phủ nên đời đời tiếp tục đi trong sanh tử. Không phải do ai tạo ra sanh tử, cũng không phải lý do riêng biệt nào mà chúng ta có mặt; đều là do nhân duyên tụ hội mà thành. Hành giả biết các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã, tự sanh tự diệt, biết nhân ái v.v... mà có, biết nhân diệt thì hết, biết hết ấy là đạo. Nếu chúng ta thâm nhập được lý vô thường, khổ, không, vô ngã thì các pháp là tự sanh tự diệt, từ nguyên nhân ái... mà có, biết nhân diệt thì hết, biết hết ấy là đạo. Nghĩa là biết được chỗ dứt vô minh là biết đạo. Đạo là chân lý bất sanh bất diệt, đưa chúng ta đến giải thoát sanh tử. Dùng bốn món trí biết mười hai nhân duyên là chánh kiến đạo. Chúng sanh bị trói buộc trong cuồng loạn, như người có hạt châu vô giá mà không nhận biết giá trị chân thật của nó, bị người khác lừa bịp. Khi ấy, Bồ-tát phát tâm đại bi: Ta sẽ thành Phật lấy giáo pháp chân chánh hóa độ chúng sanh khiến thấy được chánh đạo. - Như trong Ma-ha-diễn Bát-nhã ba-la-mật nói: “Các pháp không sanh, không diệt, không có thật, nhất tướng vô tướng, ấy gọi là chánh kiến.” Tại sao ở đây nói quán vô thường v.v... gọi là chánh kiến? Kinh Bát-nhã nói các pháp không sanh không diệt, không có thật, nhất tướng vô tướng, biết như thế gọi là chánh kiến. Ví dụ chúng ta thấy một đống cát người ta đổ đó. Khi có nhiều xe cát thì đống cát to, ít xe cát thì đống cát nhỏ. Đống cát to, đống cát nhỏ hình tướng khác nhau, nhưng bản chất của chúng do từ hạt cát nhỏ kết tụ lại. Nếu tách rời riêng từng hạt cát thì đống cát còn không? Không còn. Tụ lại thì có, phân tán ra thì không, nhân duyên là như vậy. Nhiều duyên hợp lại thành thân, nhiều duyên hợp lại thành sự vật, đã là duyên hợp thì phải có duyên tan, không thể nào giữ được. Cái hợp tan đó không có bản chất thật, nếu thấy thật có là vô minh. Đi sâu thêm trong lý nhân duyên, Phật nói các pháp không sanh. Như đống cát mới đổ thì nói sanh, phân tán ra thì nói diệt, nhưng nó không sanh diệt, chỉ tụ rồi tan ra thôi. Nếu nói chúng ta chết là mất hết, quý vị chịu không? Tôi thấy không mất gì cả. Gần nhất là hơi thở, khi sống mượn bao nhiêu rồi trả bấy nhiêu, gần chết thở khì ra trả lại cho không khí hết. Nước trong người mình được mấy lít cũng từ từ rỉ chảy ra, thân mình được mấy mươi ký đất rồi cũng trả về đất, hơi ấm của mình cũng tan trả về tánh nóng. Đất nước gió lửa trả về đất nước gió lửa, không mất gì hết, nên nói không sanh không diệt. Tứ đại trả về sắc chất, còn danh trả về đâu? Thân người có sắc là thể chất, danh là tinh thần, thường thường thế gian hay nói linh hồn. Nhà Phật không chấp nhận có linh hồn, chỉ nói thần thức theo nghiệp thọ sanh, gọi là hành rồi đến thức. Nếu là linh hồn, linh hồn người chết cũng là người, linh hồn thú chết cũng là thú, chẳng lẽ linh hồn người lại chạy đi làm thú. Ở đây Phật nói thức bị nghiệp chi phối, nghiệp lành dẫn thức đi đến chỗ lành, nghiệp ác dẫn thức đi tới chỗ ác. Nếu linh hồn đã là linh thì dại gì đi bậy như vậy? Quán các pháp không có thật tướng cố định, nhất tướng vô tướng, ấy là chánh kiến. Nếu thấy các pháp thật có cố định, thường hằng, đó là thường kiến. Nếu thấy các pháp không ngơ, chết là hết, đó là đoạn kiến. Các pháp chỉ là dời đổi, hình tướng nơi chốn sự vật đều dời đổi, không thường không đoạn. Thấy như vậy là đúng chân lý. - Nếu trong Ma-ha-diễn nói “các pháp không, vô tướng” thì tại sao cho vô thường, khổ, không v.v... là không thật? Nếu nói “không sanh, không diệt, không thật có” là thật tướng thì không nên nói vô tướng? Ông nói trước sau không hợp nhau. Phật nói bốn món điên đảo, cái điên đảo thường trong vô thường cũng có đạo lý. Tất cả pháp hữu vi là vô thường. Vì sao? Vì nhân duyên sanh. Nhân vô thường, duyên vô thường sanh quả thì làm sao thường được? Trước không nay có, đã có trở lại không. Tất cả chúng sanh đều thấy vô thường, nơi thân thì già bệnh chết, ngoài cảnh thì vạn vật úa tàn rơi rụng, tại sao nói vô thường không phải là chân thật? Đây nói trong tánh Không không có hữu thường cũng không có vô thường. Hữu thường, vô thường là hai bên. Như tôi nói bình hoa này tánh Không, đủ rồi. Nếu nói bình hoa này đẹp, mai mốt nó héo khô... đó là nói về tướng giả tạm của nó. Nói tánh Không là đi thẳng vào thể tánh không hai, còn tướng có tươi có khô là hai bên. Vì vậy đây nói trong tánh Không không có hai. - Tôi không nói hữu thường là thật, vô thường không thật, chỉ nói hữu thường vô thường đều không thật. Vì sao? Như Phật nói trong Không, hữu thường vô thường hai việc không thể có. Nếu chấp hai việc này thì đồng điên đảo. - Lời nói của ông cùng pháp không hợp. Vì sao? Đã nói không thể có, tại sao lại nói hai việc đều điên đảo? Tất cả pháp là không, không thật có là thật không điên đảo. Nếu tôi phá cái chấp hữu thường thì phải nắm pháp vô thường, khi ngã pháp đều phá chỉ còn không thật ngã. Vì phá cái chấp hữu thường nên phải quán vô thường. Vì sao? Vì sức vô thường hay phá hữu thường như thứ độc này hay phá các thứ độc khác. Như thuốc trị bệnh, bệnh lành thuốc cũng phải bỏ. Phải biết thuốc hay trị lành bệnh, nếu bệnh lành không bỏ thuốc, thuốc sẽ trở làm bệnh. Pháp quán vô thường trừ chấp hữu thường cũng như thế. Nếu còn chấp pháp vô thường cũng phải phá, vì nó không thật. Quán nhân duyên là quán tột cùng lý chân thật, thấy rõ do nhân duyên sanh nên các pháp không có thật tánh, chỉ có trên giả tướng. Vì là giả tướng nên chúng ta không thể nói là thật hay không thật, vô thường hay không vô thường, chỉ thấy các pháp tánh Không là đầy đủ. - Tôi không chấp pháp vô thường thì tại sao lại phá? Phật nói: “Trong Tứ chân đế, khổ là thật khổ, không ai có thể làm cho nó vui được. Nhân khổ là thật nhân, không ai có thể đổi nhân nào khác được. Diệt khổ là thật diệt, không ai có thể khiến không diệt được. Đạo diệt là thật đạo, không ai có thể làm cho nó phi đạo được. Giả sử mặt trời đổi thành lạnh, mặt trăng thành nóng, gió khiến không động, Tứ chân đế trọn không thể đổi dời được.” - Ông đối trong Ma-ha-diễn không thấu rõ chỉ chấp ngôn thanh. Trong Ma-ha-diễn nói thật tướng của các pháp, thật tướng thì không thể phá, không có tạo tác, nếu có thể phá, có thể tạo tác, thì đó không phải là Ma-ha-diễn (Đại thừa) rồi. Như mặt trăng trong những ngày đầu tháng rất mờ, có người sáng mắt trông thấy, lấy tay chỉ cho người không thấy, người kia chỉ nhìn ngón tay mà không thấy mặt trăng. Người sáng mắt trách: “Anh ngu! Tại sao chỉ nhìn ngón tay tôi? Ngón tay là để chỉ mặt trăng, ngón tay không phải là mặt trăng.” Ông cũng như thế, nói năng không phải là tướng chân thật, chỉ mượn lời nói phô diễn thật lý, ông lại chấp lời nói là thật tướng. Đoạn này giải thích rõ ý nghĩa không nên chấp pháp của Phật dạy cho là cứu cánh mãi mãi. Như dùng pháp vô thường để phá chấp thường, dùng pháp vô ngã để phá chấp ngã v.v... Pháp Phật dạy như thuốc để trị bệnh. Ai có bệnh chấp gì thì Phật dạy một pháp để phá trừ chấp đó. Chấp là bệnh, phá trừ chấp là thuốc. Hết bệnh thì thuốc cũng phải bỏ. Đây dụ cho ngón tay chỉ mặt trăng, nhìn theo ngón tay chỉ để thấy mặt trăng, không nên nhìn chăm chăm vào đầu ngón tay. Nhìn ngón tay không những không thấy mặt trăng mà cũng không biết ngón tay. Chúng ta nương nơi pháp của Phật để đạt đến chân lý, để phá mê lầm, không nên bám vào lời Phật, lấy đó làm tiêu chuẩn sống. Như nghe Phật nói thân này vô thường rồi bám vào câu đó, chán nản buồn rầu không muốn làm gì hết, như vậy trở thành bệnh. Phật nói vô thường để chúng ta đừng lầm chấp thân này là thường, nhất là biết thân này vô thường rồi thì phải lợi dụng nó, ngày nay sống là biết ngày nay, ráng làm gì cho xứng đáng, chớ để chết vô ích. Lợi dụng vô thường để cố gắng tinh tấn tu hành, đó là đúng đạo lý, còn chấp vô thường mà buông xuôi là lầm lẫn. Hành giả chánh kiến như thế phải quán mười hai nhân duyên hòa hợp làm hai phần, nhân và quả. Khi quả, mười hai nhân duyên là Khổ đế. Khi nhân, mười hai nhân duyên là Tập đế. Nhân diệt là Diệt đế. Thấy nhân quả diệt là Đạo đế. Bốn thứ quán quả: vô thường, khổ, không, vô ngã. Bốn thứ quán nhân: tập, nhân, duyên, sanh. Quán mười hai nhân duyên có hai phần nhân và quả. Nói về quả thì mười hai nhân duyên là Khổ đế, nói về nhân thì mười hai nhân duyên là Tập đế. Từ lão tử quán ngược lên thì mỗi nhân duyên đều là quả khổ, như lão tử là quả khổ của sanh, sanh là quả khổ của hữu... nên nói về quả thì mười hai nhân duyên là Khổ đế. Từ vô minh quán xuôi dòng thì mỗi nhân duyên là nhân, như vô minh là nhân của hành... nên nói về nhân thì mười hai nhân duyên là Tập đế, vì nó đưa chúng ta đi trong vòng sanh tử. Diệt hết vô minh... đó là Diệt đế. Nhận chân được lối tu để tiêu diệt hết các nhân và quả, đó là Đạo đế. Đạo đế là con đường tu tập để diệt khổ từ mười hai nhân duyên. Như vậy chỉ mười hai nhân duyên mà phân chia có quả có nhân. Tứ đế là khổ tập diệt đạo cũng căn cứ mười hai nhân duyên đó mà quán. - Quả có bốn thứ tại sao chỉ gọi khổ là Khổ đế, còn ba thứ kia không được tên đế? - Nếu đã nghi thì dù nói vô thường đế, khổ đế, vô ngã đế v.v... cũng vẫn nghi, đó chẳng qua là một lối nạn vấn thôi. Lại nữa, nếu nói vô thường đế không lỗi, không, vô ngã đế cũng không lỗi; nếu nói vô thường, khổ, không, vô ngã đế, lời nói nặng nề nên chỉ nói một trong bốn thứ. Đây đặt câu hỏi, về quả có bốn thứ là vô thường, khổ, không, vô ngã, tại sao trong đây chỉ nói khổ là Khổ đế. Đúng ra ba thứ kia cũng gọi là đế. Giải thích rằng, dù nói vô thường đế hay vô ngã đế cũng không có lỗi, nói chung hết bốn thứ thì nặng nề nên chọn một thứ để nói là Khổ đế. - Khổ có tướng gì đặc biệt nên trong bốn thứ chỉ riêng gọi nó? - Khổ là cái mà tất cả chúng sanh đều chán ngán, đều kinh sợ; vô thường không như thế. Hoặc có người bị khổ ép ngặt, suy nghĩ muốn được vô thường, chứ không có ai muốn được khổ. Đây là một câu hỏi mà chúng ta phải lưu tâm nhiều. Khổ có tướng gì đặc biệt, nên trong bốn thứ chỉ riêng gọi nó? Giải thích, khổ là cái mà tất cả chúng sanh đều chán ngán, kinh sợ, còn vô thường không như thế. Ở đây nói hoặc có người bị khổ ép ngặt, suy nghĩ muốn được vô thường, chứ không có ai muốn được khổ. Thử nghiệm lại sẽ thấy, những người dám liều mạng tự tử là gan dạ hay yếu đuối? Yếu đuối làm sao dám treo cổ, dám nhảy xuống sông? Mới nghe tưởng như người đó rất gan dạ, nhưng sự thật không phải như vậy. Vì họ không can đảm chịu cái khổ trong hoàn cảnh của mình nên mới đi tự tử. Tự tử là vô thường, người ta sợ khổ mà tìm đến vô thường, không ai sợ vô thường mà tìm khổ. Nên nói khổ là cái đáng sợ nhất. - Có người dám cầm dao tự sát, hoặc dùng mũi nhọn đâm vào thân, hoặc uống thuốc độc, hoặc vào chỗ binh đao, các thứ như thế đâu không phải họ tìm khổ? - Không phải họ muốn được khổ, mà chính vì muốn được vui bởi quá sợ khổ, họ mới tìm đến cái chết. Khổ là hoạn họa đệ nhất, vui là cái lợi đệ nhất. Do lìa cái thật khổ thì được khoái lạc. Bởi thế, Phật đứng về mặt quả nên riêng nói là khổ đế, không phải vô thường, không, vô ngã đế. Khổ là cái mà cả thế gian ai cũng sợ, cũng muốn tránh. Những người uống thuốc độc, hoặc là tự tử bằng cách này cách nọ, không có nghĩa là họ tìm khổ, mà họ muốn tìm vui, muốn chết cho nhẹ nhàng, chết cho yên. Đối trong Tứ đế có trí tuệ chân thật, hiểu biết rành rõ không nghi ngờ, ấy gọi là Chánh kiến. Suy xét việc ấy mỗi mỗi đều được tăng ích, gọi là Chánh giác. Trừ tà mạng, nhiếp thu bốn món tà ngữ, lìa bốn món tà ngữ thực hành bốn món Chánh ngữ. Trừ tà mạng, nhiếp thu ba nghiệp nơi thân. Trừ ba món tà nghiệp nơi thân, gọi là Chánh nghiệp. Lìa các thứ tà mạng, gọi là Chánh mạng. Khi quán như thế tinh tấn tu hành, gọi là Chánh phương tiện. Nghĩ nhớ việc ấy không tán loạn là Chánh niệm. Suy xét việc ấy tâm không xao động, gọi là Chánh định. Chánh kiến như vua có bảy việc theo bên mình, gọi là Đạo đế. Từ quán nhân duyên mà nhận rõ pháp Bát chánh đạo. Đạo Phật đặt trí tuệ lên trên, bước vào tám chánh đạo thì chánh kiến đi đầu. Chánh kiến là thấy đúng lẽ thật, thấy đúng đạo lý. Có chánh kiến rồi mới đến chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp... Nếu nhận định ban đầu sai lệch thì những cái sau cũng bị lệch. Suy xét việc ấy mỗi mỗi đều được tăng ích, gọi là Chánh giác. Có chánh kiến thấy đúng rành rõ rồi mới suy nghĩ, suy nghĩ theo cái nhìn đúng thì gọi là chánh giác hay chánh tư duy. Trừ tà mạng, nhiếp thu bốn món tà ngữ, lìa bốn món tà ngữ, thực hành bốn món Chánh ngữ. Đây là thứ tự Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp. Từ cái nhìn đúng suy nghĩ đúng nên trừ được tà mạng. Tà mạng là cuộc sống không hợp chánh pháp. Nhiếp thu bốn thứ tà ngữ là nói dối, nói hai lưỡi, nói ác độc, nói thêu dệt. Lìa bốn tà ngữ, thực hành bốn chánh ngữ, chúng ta không nói dối mà nói chân thật, không nói hai lưỡi mà nói lời hòa hợp. Hai bên chưa mích lòng nhau mình dùng lời đâm thọc ly gián cho họ giận nhau, đó là nói hai lưỡi. Mình nói lời hòa hợp, nói làm sao cho người ta thương mến nhau không chia rẽ, đó là chánh ngữ. Trước nói những lời dữ lời ác thì bây giờ nói những lời hiền hòa, trước nói những lời không đúng lẽ thật, tô điểm việc xấu một thành hai thành ba, đó là nói thêu dệt, bây giờ nói những lời đúng lẽ thật, không tô điểm thêm bớt. Tóm lại, tất cả ngôn ngữ hành động, trừ bỏ điều tà, ứng dụng những điều chánh, đó là biết thu nhiếp ba nghiệp nơi thân miệng ý. Trong ngũ giới, tà nghiệp nơi thân có ba: sát sanh, trộm cướp, tà dâm. Trừ bỏ tà nghiệp của thân thi hành chánh nghiệp, thay vì sát sanh thì phóng sanh, thay vì trộm cướp thì bố thí, thay vì tà dâm thì dạy mọi người trinh bạch. Nơi ý có ba nghiệp tham sân si, chúng ta tu tập trừ bỏ để được tâm chân chánh trong sạch. Đi dần từ thô đến tế, khẩu nghiệp chân chánh, thân nghiệp chân chánh, ý nghiệp vi tế bên trong cũng chân chánh. Lìa các thứ tà mạng gọi là Chánh mạng, đối với người tu, nếu làm những việc gì để có tiền bạc nhiều, để có sự sống sung túc, đó là tà mạng. Khi quán như thế tinh tấn tu hành, gọi là Chánh phương tiện. Nghĩ nhớ việc ấy không tán loạn là Chánh niệm. Suy xét việc ấy tâm không xao động, gọi là Chánh định. Chánh kiến như vua có bảy việc theo bên mình, gọi là Đạo đế. Bát chánh đạo gọi là Đạo đế, mở đầu là Chánh kiến, thêm bảy pháp chánh luôn kèm theo một bên như vua có tùy tùng. Đối Tứ đế, nhất tâm tin thật không khuynh động là Tín căn, nhất tâm chuyên cần cầu đạo là Tinh tấn căn, nhất tâm nghĩ nhớ không quên mất là Niệm căn, tâm trụ một chỗ không giong ruổi lăng xăng là Định căn, suy xét phân biệt giác ngộ lý vô thường v.v... là Tuệ căn. Căn này tăng trưởng có sức mạnh gọi là Ngũ lực. Từ pháp Tứ để nhận được ngũ căn ngũ lực. Ngũ căn là năm căn: tín, tấn, niệm, định, tuệ. Tín căn là tin thấu triệt lý Tứ đế. Tại sao chúng ta tin? Vì thấy nó là một lẽ thật, khổ là thật khổ, tập là thật tập. Không khổ nào ngẫu nhiên đến, tất cả đều có nguyên nhân, cho nên gọi là tập đế. Khi diệt hết tập đế, đó gọi là diệt. Muốn diệt sạch phải có phương pháp, đó gọi là đạo. Đối với pháp Tứ đế suy gẫm cho đúng, tin sâu gọi là được tín căn. Y theo pháp Tứ đế mà tinh tấn tu, gọi là tinh tấn căn. Nhất tâm nghĩ nhớ lý Tứ đế không quên, gọi là niệm căn. Tâm trụ một chỗ không lăng xăng là định căn. Suy xét giác ngộ lý vô thường, khổ, không, vô ngã là tuệ căn. Khi năm căn này tăng trưởng có sức mạnh gọi là ngũ lực. Ngũ căn ngũ lực kể ra có mười, nhưng năm căn là cội gốc, gốc tăng trưởng vững mạnh thì gọi là lực. - Trong Bát chánh đạo đã nói Tuệ, Niệm, Định v.v... tại sao trong Ngũ căn còn lặp lại? - Tùy khi vào tu tập, lúc đầu được lợi nhỏ, gọi là Căn; năm việc này tăng trưởng có sức mạnh gọi là Lực; mới vào vô lậu thấy Đế, Trung đạo, công đức gọi là Bát chánh đạo; khi vào tư duy gọi là Thất giác ý; khi mới vào đạo quán niệm Thân, Thọ, Tâm, Pháp, thường nhất tâm nghĩ nhớ gọi là Tứ niệm chỉ; niệm như thế được pháp vị thiện bốn món chuyên cần gọi là Tứ chánh cần; sự mong muốn tinh tấn như thế là môn ban đầu của định tuệ, chuyên cần cầu được tự tại như ý gọi là Tứ thần túc. Tuy gọi Tứ niệm chỉ, Tứ chánh cần, Tứ thần túc, Ngũ căn v.v... đều nhiếp nhau, tùy khi thực hành trước, sau, ít, nhiều theo mỗi hạnh, địa mà đặt tên. Ví như tứ đại, mỗi mỗi đều có tứ đại, chỉ cái nào nhiều thì đặt tên cái ấy. Nếu chỗ địa chủng nhiều, thủy, hỏa, phong ít, gọi là địa đại. Thủy, hỏa, phong cũng như thế. Cũng như vậy, ba mươi bảy phẩm trợ đạo mỗi mỗi đều có các phẩm khác. Như trong Tứ niệm chỉ có Tứ chánh cần, Tứ thần túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát chánh đạo... Như thế, quán mười hai nhân duyên, Tứ đế; hành Tứ niệm chỉ, Tứ chánh cần, Tứ thần túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát chánh đạo tâm được an lạc. Pháp của Phật đặt ra tuy có nhiều tên, như trong phần Đạo đế chia ra ba mươi bảy phẩm trợ đạo, từ Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Bồ-đề phần, Bát chánh đạo phần... thấy nhiều nhưng thực hành một pháp thì liên hệ đến những pháp khác, không tách rời. Như khi chúng ta phát tâm tu, suy gẫm giáo lý Phật đúng như thật, lòng tin mạnh mẽ thì gọi đó là tín căn. Từ suy gẫm tin được chúng ta nỗ lực tu tức là tinh tấn căn. Như vậy một pháp mình ứng dụng tu đến nơi đến chốn thì các pháp kia đều có nhiếp thọ trong đó. Đoạn này giải thích sự liên hệ giữa các pháp, trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, tùy theo lúc thực hành trước sau, ít nhiều, theo mỗi hạnh mỗi địa mà đặt tên. Lấy pháp này độ chúng sanh giải thoát, nhất tâm thệ nguyện tinh tấn cầu Phật đạo. Khi ấy, trong tâm suy nghĩ quán niệm: Ta quán biết rõ ràng đạo này, không nên nhận chứng quả, bởi sức của hai việc chưa vào Niết-bàn. Một là sức đại bi không bỏ chúng sanh. Hai là sức biết rõ thật tướng của các pháp. Các tâm vương tâm sở đều từ nhân duyên sanh, tại sao ta nay tùy cái không thật này? Phải tự suy xét phải vào thâm quán mười hai nhân duyên, biết nhân duyên là pháp gì. Phân biệt kết quả khi quán thành tựu giữa Thanh văn và Bồ-tát. Thanh văn tu pháp Tứ đế..., Bồ-tát cũng tu Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc... nhưng các ngài khác một chút. Thanh văn tu thì mong dứt hết phiền não để nhập Niết-bàn, còn Bồ-tát cũng tu pháp đó hết phiền não mà các ngài không nhập Niết-bàn. Tại sao? Vì sức từ bi không bỏ chúng sanh và sức biết rõ thật tướng các pháp. Thứ nhất, sức đại bi không bỏ chúng sanh. Nếu nhập Niết-bàn là ở luôn trong tịch diệt an lạc không trở lại độ người. Như hiện tại chúng ta tu, sự sống, ăn mặc, tứ sự cúng dường đều do Phật tử ủng hộ, khi tu được giảm nhẹ phiền não, hoặc sạch hết phiền não rồi muốn nhập Niết-bàn giải thoát sanh tử, không muốn trở lại nữa, đó là thiếu lòng từ bi. Bồ-tát không thể bỏ chúng sanh như vậy. Khi tu được đạo rồi, lý đáng các ngài nhập Niết-bàn mà không nhập, nguyện trở lại độ chúng sanh. Chừng nào còn chúng sanh thì các ngài cứ tiếp tục độ không dừng. Vì tâm đại bi của Bồ-tát không cho phép các ngài nhập Niết-bàn, nên nói vì sức đại bi không bỏ chúng sanh. Thứ hai, sức biết rõ thật tướng các pháp. Thấy rõ các pháp duyên sanh không thật có, như huyễn như hóa, đối các pháp không sợ hãi. Chúng ta có bệnh, thấy cuộc đời này là khổ thật, muốn tu cho hết nghiệp rồi nhập Niết-bàn hết khổ, nếu lỡ sanh trở lại thì buồn lắm. Bồ-tát thấy các pháp không thật có nên thái độ an nhiên. Thiền sư Từ Minh nói “sanh như đắp chăn đông, tử như cởi áo hạ.” Mùa đông lạnh mà được cái mền ấm, vui hay buồn? Vui quá. Rồi mùa hè nóng nực mà cho cởi bớt áo, khỏe không? Chết là cởi áo, sanh là đắp chăn, không có gì gọi là khổ. Bồ-tát thấy cuộc đời là một trò hư ảo, làm sao đánh thức chúng sanh giúp họ tỉnh giác thấy cuộc đời không thật, chừng đó mới hết bổn phận. Nhờ hai sức mạnh này, Bồ-tát không nhận chứng quả, không vội vào Niết-bàn. Tất cả chúng sanh còn mê còn thấy cuộc đời là thật nên Bồ-tát không có ngày rảnh rang, phải dạy phải nói cho họ tỉnh. Xét tận cùng thì cuộc đời là thật hay không thật, thân này là thật hay không thật? Nếu thật thì không biến đổi hư hoại. Thân này sớm còn tối mất, thế gian thay đổi không bền chắc, nếu cuộc đời là thật thì xưa nay nguyên vẹn. Chúng ta nhìn lại từ gia đình mình, ông bà tổ tiên cho đến cha mẹ đều lần lượt mất hết, ngay cả thân chúng ta cũng không có gì bảo đảm, không có gì chắc thật. Thật thì không mất, mất thì không thật. Chúng ta chỉ có mặt một chặng một khoảng nào đó, vậy mà cứ ngỡ mình là thật, tranh giành hơn thua giết hại nhau. Nếu biết cuộc đời tạm bợ thì ráng thương nhau, giúp đỡ nhau cho bớt khổ. Vì thế Bồ-tát lăn xả vào đời để chỉ dạy cho chúng sanh bớt lầm mê đắm nhiễm. Khi có trí tuệ giác ngộ lẽ thật của các pháp là tướng không, duyên hợp như huyễn, lúc đó tâm đại bi càng mạnh mẽ, càng quên thân mình chỉ mong mọi người được an vui. Chúng ta tu thiền để định tâm, tức là dừng tâm nghĩ tưởng lăng xăng. Khi nào ngồi thiền nửa giờ một giờ được phút giây nào đó dừng hết nghĩ tưởng, không còn ý niệm gì, lúc đó có còn nhận biết hay không? Vẫn còn tánh biết rỗng rang không dính mắc, đó là tâm chân thật hiện tiền. Lâu nay vì quên, nhận tâm hư dối lăng xăng là mình, tâm sanh diệt mà mình chạy theo nó nên cũng bị sanh diệt. Dừng hết tâm đó rồi mới biết quả là mình có tâm chưa từng sanh diệt. Tâm không sanh diệt là Niết-bàn ngay đó. Nghe nói tu tập được Niết-bàn vĩnh viễn chúng ta không thể nào tin. Nhưng tôi nói chúng ta có thể được Niết-bàn năm ba phút. Năm ba phút ngồi thiền lặng lẽ không dấy niệm, vẫn thấy vẫn nghe vẫn biết, đó là giây phút Niết-bàn. Đây là niềm tin để chúng ta quyết định tiến tu. Chúng ta trôi lăn trong sanh tử vì bị thân sanh diệt, tâm sanh diệt làm chủ. Thân tâm hư giả này là một dòng chuyển biến bại hoại, nhưng trong đó vẫn có cái không chuyển biến. Ngồi thiền lâu lâu hé thấy được một chút tâm này, rồi tâm sanh diệt nổi lên, chạy theo vọng nên quên. Quên rồi lâu lâu dừng lại, thấy hé một chút ánh sáng. Phải kiên trì tu tập, quán được thân giả dối tạm bợ, qua được tâm phân biệt vô thường, thấy mục tiêu nhắm đến để giải thoát sanh tử. Niết-bàn có hai, hữu dư y Niết-bàn và vô dư y Niết-bàn. Hữu dư y là Niết-bàn còn thân, ngay khi sống giờ phút nào chúng ta không chấp thân, không chấp tâm lăng xăng, đó cũng là tâm Niết-bàn. Vô dư y Niết-bàn là sau khi chết không còn thân tái sanh, như các vị A-la-hán khi chết, thân tâm như củi hết lửa tắt. Nhiều người nói khi tu đợi chết rồi nhập vào cõi Niết-bàn, như thế là sai. Còn có cõi là có hình tướng nơi chốn, còn có hình tướng là còn sanh diệt, đợi chết rồi nhập Niết-bàn thì khi sống không có Niết-bàn. Đức Phật thành đạo chứng quả rồi ngài có Niết-bàn chưa? Hiện sống ngài cũng đang Niết-bàn, không bao giờ lìa tâm thể thanh tịnh. Vì thế khi tâm chúng ta qua hết mọi vọng tưởng điên đảo, chỉ còn thể thanh tịnh sáng suốt lặng lẽ, chúng ta đã có Niết-bàn ngay hiện đời. Biết rõ ràng như vậy mới ham tu. Tu mà không có gì hết thì tu làm gì? Bồ-tát thấy thật tướng các pháp không mê lầm, các ngài có sẵn Niết-bàn hiện tiền nên không gấp gì phải nhập Niết-bàn. Ngay nơi đây không dính không kẹt, tâm rỗng rang an nhàn rồi khởi lòng từ độ chúng sanh, độ đến vô tận. Đây là do sức quán mười hai nhân duyên mà được tam-muội, phá hết vô minh trí tuệ sáng ngời nên lực dụng vô ngại. Hiểu như vậy chúng ta thấy rõ trên đường tu, pháp nào cũng đưa đến Niết-bàn. Suy nghĩ bốn thứ duyên: Nhân duyên, Thứ đệ duyên, Duyên duyên, Tăng thượng duyên. Năm nhân là nhân duyên. Trừ những vị tối hậu tâm A-la-hán ở quá khứ, hiện tại, ngoài ra tâm vương tâm sở quá khứ hiện tại đều thuộc Thứ đệ duyên. Duyên duyên và Tăng thượng duyên là duyên tất cả pháp. Duyên có bốn thứ: Nhân duyên, Thứ đệ duyên, Duyên duyên, Tăng thượng duyên. Năm nhân là sanh nhân, y nhân, lập nhân, trì nhân, dưỡng nhân. Có đủ nhân đủ duyên mới có sự sống, mới có những hoạt động bình thường. Trừ những vị tối hậu tâm A-la-hán ở quá khứ, hiện tại, ngoài ra tâm vương tâm sở quá khứ hiện tại đều thuộc Thứ đệ duyên. Nghĩa là đến quả vị A-la-hán rồi thì không còn bị lệ thuộc vào thứ đệ duyên. Thứ đệ duyên thuộc về thời gian thứ lớp trước sau mà tâm A-la-hán thì không còn sanh diệt trước sau. Tất cả tâm vương tâm sở chúng ta đều nằm trong hiện tại sanh diệt nên thuộc về thứ đệ duyên. Duyên duyên và tăng thượng duyên là chỉ cho tất cả pháp, cái này nương cái kia mà sanh gọi là duyên duyên, hoặc cái này giúp cái kia tăng trưởng gọi là tăng thượng duyên. Tự suy nghĩ: Nếu pháp có trước nhân duyên thì không nên nói pháp ấy do nhân duyên sanh. Nếu pháp không có nhân duyên cũng không nên nói trong nhân duyên sanh. Nửa có nửa không sanh cũng không nên nói nhân duyên sanh. Như vậy làm sao có nhân duyên? Nếu pháp chưa sanh, nếu quá khứ tâm vương tâm sở mất thì làm sao tạo thành Thứ đệ duyên? Nếu trong Phật pháp, diệu pháp và Niết-bàn không duyên thì làm gì có Duyên duyên? Nếu các pháp thật không tánh thì không thể có pháp. Nếu nói nhân duyên sanh quả, nhân đây có kia cũng không thể được. Nếu trong nhân duyên mỗi cái ở riêng, hoặc hòa hợp một chỗ, quả ấy cũng không thể được. Tại sao nói nhân duyên sanh quả? Vì trong nhân duyên không có quả. Nếu trong nhân duyên trước không có quả mà sau sanh quả thì đâu không phải phi nhân duyên sanh quả? Vì cả hai nhân duyên và phi nhân duyên đều không. Quả thuộc nhân duyên bên nhân duyên sanh, nhân duyên ấy không tự tại, vì còn thuộc các nhân duyên khác, quả ấy cũng thuộc các nhân duyên khác. Do đó, quả không từ nhân duyên mà có, cũng không từ phi nhân duyên mà có, thế là phi quả. Quả đã không, cho nên duyên cùng phi duyên cũng không. Đây đặt vấn đề để cho thấy pháp nhân duyên không thật. Bởi nó không thật nên nói do nhân duyên sanh hay phi nhân duyên sanh đều không được. Ví dụ cái đồng hồ khi mở ra để riêng từng bộ phận, lúc đó không có đồng hồ, nhưng khi ráp lại thì thành cái đồng hồ. Những bộ phận của đồng hồ là nhân duyên, cái này cái kia họp lại thành đồng hồ là quả, trong quả có nhân, do nhân họp lại thành quả. Xét kỹ từng bộ phận đó có thể tạo thành quả được không? Mỗi nhân chỉ tụ lại thành ra một giả tướng, chúng ta thấy có đó chứ nó không thật, mở ra từng phần thì hết trơn. Quả đã giả, nhân cũng không thật. Chúng ta thường nói nhân sanh ra quả, sự thật quả này không phải do từ cái chốt, từ cây kim... mà thành đồng hồ. Đã do nhiều bộ phận thì bộ phận nào làm thành đồng hồ? Không có cái nào sanh ra đồng hồ được, khi chúng ráp lại tạm nói là đồng hồ thôi. Tạm gọi là quả thì nó không thật. Phật dạy lý nhân duyên để chỉ rõ tất cả pháp do duyên tụ họp lại thành, tạm bợ hư giả không thật. Đồng hồ do nhân duyên tụ họp lại thành, con người mình có phải do nhân duyên họp lại không? Là nhân duyên họp mà không chịu giả nghĩa là sao? Biết các pháp duyên họp giả có mà không chấp nhận thân mình duyên họp giả có là chạy trốn sự thật. Lẽ thật là trí tuệ, chạy trốn lẽ thật là tìm đến si mê. Trí tuệ là sáng, chạy trốn ánh sáng là đi tìm cái tối. Xét kỹ thấy có vô lý không? Nếu chúng ta tu có trí tuệ nhìn thấy rõ ràng thân mình duyên hợp tạm bợ, rồi thân người khác cũng như vậy, lúc đó phát tâm gì? Ghét hay thương? Tại sao cái giả mà tưởng là thật rồi giành nhau từng miếng ăn, từng lời nói...! Thật đáng thương. Thấu suốt lý đạo rồi, chúng ta phát tâm từ bi. Không phải thương cái nghèo đói khổ sở của chúng sanh, mà thương vì lầm nhận cái giả cho là thật. Nếu biết thân này là giả thì có ai nói nặng nói nhẹ gì cũng cười thôi, thân tôi giả mà huống nữa là lời nói nặng nhẹ, có giá trị gì. Khi nhận định đúng thì việc tu rất dễ dàng, vì nhận định sai nên tu hết sức cay đắng. Trọng tâm ở chỗ mê lầm chấp cho thân này là thật, từ mê lầm này kéo theo những mê lầm khác, tu hoài mà không hết phiền não. Biết thân giả cảnh giả không phải để bi quan ngồi chờ chết. Biết giả mà vẫn làm tất cả việc. Chúng sanh còn mê còn đắm nhiễm ở trong cảnh giả không thoát ra được, chúng ta ở trong cảnh giả mà không đắm nhiễm, vì thế hết sức giúp đỡ mọi người. Như có người đói khát khổ sở, chúng ta biết giả nhưng phải có chút gì giúp họ ăn cho khỏe, rồi sau nhắc nhở đạo lý, may ra họ mới tỉnh. Tất cả việc làm là để giúp mình giúp người, tạo phương tiện sống rồi đánh thức họ thấy được lẽ thật. Lý nhân duyên của Phật nói để chúng ta thấy rõ rằng cái gì là nhân duyên sanh thì cái đó không thật, đã không thật thì không quả quyết là nhân thật là quả thật. Tất cả pháp đều là phương tiện nương nhau mà lập, nương nhau mà nói để dẫn đạo chúng sanh. - Phật nói mười hai nhân duyên, vô minh duyên các hành, tại sao ông nói không nhân quả? - Trước đã nói đủ không nên nạn lại. Nếu nạn lại sẽ đáp. Phật nói con mắt nhân nơi sắc duyên với si sanh nghĩ nhớ tà. Si tức là vô minh. Trong ấy vô minh nương tại chỗ nào? Nương con mắt chăng? Nương sắc chăng? Nương thức chăng? Không thể nương con mắt. nếu nương con mắt lý ưng thường si mê không cần đợi sắc đến. Nếu nương sắc thì không cần mắt thấy, đã ở tại sắc thì si mê thuộc bên ngoài đâu can dự đến ta. Nếu nương nơi thức, thức không hình thể, không đối đãi, không xúc chạm, không phần không chỗ, vô minh cũng như vậy thì làm sao thành nương? Thế nên vô minh không phải trong không phải ngoài, không phải giữa trong và ngoài, không phải đời trước đến không phải đời sau lại, không phải đông tây nam bắc tứ duy thượng hạ đến, không có thật pháp, tánh vô minh là vậy. Rõ được tánh vô minh thì trở thành minh. Mỗi mỗi tìm xét cái si mê không thể có thì làm gì có vô minh duyên hành. Như hư không bản tánh thanh tịnh không sanh không diệt, không có không mất. Vô minh cũng như vậy, không sanh không diệt, không có không mất, bản tánh thanh tịnh. Cho đến Sanh duyên Lão tử cũng như vậy. Khởi đầu mười hai nhân duyên là vô minh. Vô minh là si mê không thấy không biết đúng sự thật. Thân hư giả mà tưởng là thật nên chết rồi tìm thân khác, tiếp tục trôi lăn trong sanh tử, đều gốc từ vô minh. Vô minh duyên hành, hành là sức nghiệp lôi dẫn chúng ta đi liên tục, liên tục không dừng. Bây giờ ngay nơi thân này thấy rõ nó là giả dối thì hết vô minh, gọi đó là minh. Vô minh và minh cái nào thật? Chấp thân này thật là vô minh, biết thân giả thì vô minh tan mất. Vô minh có thật không? Nếu thật thì phải thấy suốt đời như vậy; mà mình có quyền thay đổi, có quyền phán xét rồi nhận định. Ngày xưa mê lầm nên chấp thân là thật, bây giờ có trí tuệ nhận xét thấy nó không thật, vô minh mê lầm tan biến. Cái gì có tan biến hoại mất thì không thật. Vô minh không thật, khi trí tuệ sanh thì vô minh hết. Trí tuệ sáng suốt thì không bao giờ tan mất, chỉ vì chúng ta mê lầm nên nó không hiển lộ. Khi hết mê lầm tức nhiên trí tuệ hiện tiền. Vì thế trong đây nói: Rõ được tánh vô minh thì trở thành minh. Vô minh có đáng sợ không? Nếu biết nó không thật, chỉ cần chúng ta tỉnh giác, biết rõ thân này duyên hợp hư giả thì đó là minh. Ngày xưa tôi cứ tự cười thầm, tại sao mình ngu si quá đỗi, biết thân này là tứ đại duyên hợp mà cứ chấp nó là mình. Tứ đại là bốn phần căn bản bên trong, cần phải có bốn đại bên ngoài trợ lực thì nó mới còn. Thử hỏi cả ngày chúng ta làm gì? Hít vô trả ra, mượn trả cả ngày, liên tục mấy mươi năm mượn trả. Đến chừng trả ra không mượn lại thì sao? Thì chết, có cái gì thật đâu! Rồi cơm cháo, nước uống, ấm lạnh trong thân v.v... cũng là mượn trả. Mượn được đồ tốt, trả ra êm ái đó là hạnh phúc, mượn trả mà trục trặc là bất hạnh. Hạnh phúc hay bất hạnh chỉ là chuyện mượn trả thôi, không có gì quan trọng. Bởi chúng ta cho là quan trọng nên phải chịu khổ, tìm kiếm cầu kỳ cho đến tốn hao rồi than thở. Cứ trong vòng lẩn quẩn như vậy, rốt cuộc không có gì bền thật. Nếu thân này là thật thì không cần mượn trả. Xét cho cùng, vì mê muội lấy giả cho là thật, cái mê muội đó là vô minh dẫn chúng ta liên tục đi trong vòng sanh tử. Vì thấy thân thật nên khi mất thân phải tìm thân khác, tốt xấu gì cũng được, có thân khác rồi cũng cho là thật. Chúng ta chỉ phá cái vô minh, biết nó không thật tức hết vô minh, ngay đó không còn tạo nghiệp, thoát khỏi vòng nghiệp dẫn. Khi tỉnh chúng ta làm chủ vô minh, làm chủ nghiệp của mình. Can đảm thấy đúng như thật thì không còn bị vô minh chi phối, nghĩa là khi nào thấy thân này thật thì đó là vô minh, trở lại thấy thân là giả thì hết vô minh. Ai cũng sợ vô minh nhưng chỉ một cái lật ngược là tan hoang đám vô minh. Trên đường tu tất cả những gì chúng ta tưởng là quan trọng, sự thật không quan trọng. Chỉ cần thấy biết nhận định đúng thì hết, nên Phật nói chánh kiến đứng đầu. Nhận định đúng rồi mấy cái kia đều theo đó mà đúng hết. Còn nhận định lầm một cái thì tất cả các cái kia đều lầm theo. Đó là ý nghĩa vô minh không thật, bởi không thật nên không quan trọng. Trong mười hai nhân duyên vô minh đứng đầu, chỉ cần chuyển một cái là mười hai cái rã rời. Bồ-tát quán mười hai nhân duyên như thế, biết chúng sanh hư dối bị ràng buộc tại khổ hoạn nên dễ độ thoát, nếu các pháp có tướng chân thật thì không thể độ được. Suy nghĩ như thế thì phá được ngu si. Biết các tướng là hư dối, biết rồi dạy chúng sanh để chuyển đổi được vô minh, vì vậy Bồ-tát luôn sẵn sàng giáo hóa, chỉ dạy để cho người ta tỉnh. Nếu Vô minh là cố định thì chịu thua, không biết làm sao. Vì Vô minh hư dối, chúng sanh bị ràng buộc không thật nên dễ độ thoát, có minh thì hết vô minh. Nếu các pháp có tướng chân thật thì không dễ gì độ được. Đó là chỗ Bồ-tát tu hành để giáo hóa chúng sanh. V- BỒ TÁT QUÁN A-NA-BAN-NA Nếu Bồ-tát tự thấy tâm nhiều lo nghĩ nên thường niệm pháp A-na-ban-na. Khi hơi thở vào, ra đếm một, cứ thế đến mười, mỗi mỗi không cho tâm giong ruổi tán loạn. Bồ-tát từ pháp môn này được nhất tâm trừ ngũ cái. Bồ-tát thấy đạo nên thực hành ba thứ nhẫn: Sanh nhẫn, Nhu thuận pháp nhẫn, Vô sanh pháp nhẫn. Pháp thứ năm, Bồ-tát quán A-na-ban-na. A-na-ban-na là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Sổ tức, là pháp quán hơi thở. Người tâm nhiều lo nghĩ lăng xăng Phật dạy tu quán Sổ tức. Sổ là đếm số, tức là hơi thở, hít vào thở ra đếm một, đếm từ một đến mười bỏ, đếm lại từ đầu. Chú tâm theo hơi thở, mỗi mỗi không cho tâm giong ruổi tán loạn. Đếm số cũng có hai cách, nếu đếm nhặt thì hít vô cùng đếm một, thở ra sạch đếm hai; còn nếu đếm khoan, hít vô cùng thở ra sạch đếm một, hít vô cùng thở ra sạch đếm hai. Nhớ hơi thở vô hơi thở ra, rồi nhớ số một hai tới mười, nhờ nhớ hai việc đó cột tâm một chỗ không cho nghĩ việc khác. Lần lần tâm yên, tâm yên thì trừ được ngũ cái, tham, sân, si, thùy miên, trạo cử và nghi. Như vậy Bồ-tát do quán hơi thở nên được yên, trừ xong năm thứ che đậy, được thấy đạo, thực hành ba pháp nhẫn: Sanh nhẫn, Nhu thuận pháp nhẫn và Vô sanh pháp nhẫn. 1. Thế nào là Sanh nhẫn? Tất cả chúng sanh hoặc chửi, hoặc đánh, hoặc giết, mọi việc ác mà tâm không động chuyển, không giận không ghét. Chẳng những nhẫn chịu sự đau khổ đó, mà lại khởi lòng thương xót các chúng sanh này, cầu việc tốt, mong cho họ được tất cả, tâm không bỏ họ. Khi ấy dần dần được hiểu rõ thật tướng của các pháp, như hơi xông thấm. Ví như mẹ hiền thương con đỏ, cho bú sú nuôi nấng, mọi sự nhơ nhớp không nhờm gớm, càng thêm thương xót muốn cho con được vui vẻ. Hành giả cũng như vậy, tất cả chúng sanh làm mọi việc ác, làm tịnh làm bất tịnh, tâm cũng không chán ghét, không thối không chuyển. Lại nữa, chúng sanh khắp mười phương một mình ta phải độ hết khiến cả thảy đều được Phật đạo. Tâm nhẫn không thối, không hối, không bỏ, không lười, không chán, không sợ, không thấy khó. Trong pháp Sanh nhẫn này nhất tâm buộc niệm suy nghĩ ba việc trên, không cho tâm nghĩ gì khác, có nghĩ các việc khác liền thu nhiếp trở về, đó gọi là Sanh nhẫn. Sanh nhẫn là nhẫn với mọi người, với chúng sanh. Khi Bồ-tát được tâm thanh tịnh, biết được thân tạm bợ giả dối rồi, thì khi bị người ta chửi hoặc bị đánh bị giết... bị tất cả việc tổn hại mà không buồn giận, trái lại còn thương xót. Điều này dễ làm hay khó? Thử nghĩ, nếu người kia như mình thì đáng giận, còn mình tỉnh mà người kia mê thì giận làm gì? Ví dụ chúng ta là người bình thường, gặp người điên đi qua đường, họ nổi cơn chửi mắng mình, lúc đó giận hay là thương họ? Vì thấy họ bất thường nên mình thương xót. Bồ-tát cũng vậy, khi ngài tỉnh rồi, thấy thân tạm bợ hư giả mà chúng sanh cứ tưởng thật, thấy thật rồi giành giật nhau, làm khổ lụy đến mình. Bồ-tát thương cái mê của chúng không nỡ bỏ. Còn chúng ta khi bị người ta qua mặt mình thì cho rằng họ khôn, họ lấn mình nên không chịu nhịn. Nếu biết những thái độ sai lầm làm phiền lụy mình đó là vì họ mê, mình tỉnh thì phải thương người mê. Vì vậy Bồ-tát thương chúng sanh, dù làm gì phiền hà các ngài cũng nhịn được hết. Còn chúng ta bây giờ thì cùng một đám mê với nhau cho nên không ai nhịn ai, phải không? Nếu có người tỉnh chắc nhịn được. Bồ-tát đã được giác rồi, nên các ngài giác cho hữu tình, chúng ta chưa giác, nên chưa dám giác cho ai hết. Muốn giác là khó hay dễ? Dễ quá chừng đâu có khó, chỉ thấy thật và thấy giả, thấy thật là mê thấy giả là giác, có gì đâu. Đổi một cái thấy thì từ mê chuyển thành giác, đổi cái đó không tốn tiền không tốn công, chỉ cần xét kỹ thân này là giả. Thấy mình giả rồi cười thôi, tất cả là tỉnh chứ không mê. Ăn uống không giành ngon về mình, trong tất cả các mặt không giành cái gì hơn về mình. Đồ giả này mà có gì hơn? Đẹp cũng giả, xấu cũng giả, giành nhau để làm chi? Còn mượn thì nước lã cũng mượn, nước cam cũng mượn, mượn rồi trả chứ có giữ được đâu. Xét kỹ như vậy, ai giành cái gì giành, tất cả mình nhường nhịn nhau được hết dễ dàng. Đó là tâm Bồ-tát, thấy rõ lẽ thật rồi thì các ngài nhẫn được, chúng ta vì chưa thấy lẽ thật nên không nhẫn nổi. 2. Thế nào là Nhu thuận pháp nhẫn? Bồ-tát đã được Sanh nhẫn công đức vô lượng, biết công đức phước báo ấy là vô thường. Khi ấy, chán cái phước vô thường, cầu cái phước thường, cũng vì chúng sanh cầu pháp thường trụ. Tất cả pháp có hình sắc, không hình sắc, pháp thấy được, pháp không thấy được, pháp có đối, pháp không đối, pháp hữu lậu vô lậu, hữu vi vô vi, thượng trung hạ, tìm thấu thật tướng của nó. Nhu thuận pháp nhẫn là biết mình làm việc lành, cứu giúp người thì có phước, nhưng phước đức đó thuộc về vô thường sanh diệt. Bồ-tát tìm pháp chân thật, không bị kẹt vào phước đức hữu lậu, chỉ dạy chúng ta thấy được cái chân thật, gọi là Nhu thuận pháp nhẫn. Thế nào là thật tướng? Không phải hữu thường, không phải vô thường, không phải lạc, không phải không lạc, không phải không, không phải chẳng không, không phải hữu ngã, không phải vô ngã. Vì sao không phải hữu thường? Vì nhân duyên sanh vậy. Trước không nay có, đã có trở lại không, thế nên không phải hữu thường. Vì sao không phải vô thường? Vì nghiệp báo không mất, vì nhận trần cảnh bên ngoài, vì nhân duyên tăng trưởng, nên không phải vô thường. Vì sao không phải lạc? Vì trong cái khổ mới sanh tưởng là lạc, vì tất cả tánh là vô thường, vì nương nơi dục sanh, nên không phải lạc. Vì sao không phải không lạc? Vì có thọ lạc, vì dục nhiễm sanh, vì cầu lạc không tiếc thân mạng, nên không phải không lạc. Vì sao không phải không? Vì pháp trong ngoài mỗi mỗi thọ nhận rõ ràng, vì có quả báo tội phước, vì tất cả chúng sanh đều tin, nên không phải không. Vì sao không phải chẳng không? Vì hòa hợp v.v... sanh, vì phân biệt tìm không thể được, vì sức tâm chuyển, nên không phải chẳng không. Vì sao không phải hữu ngã? Vì không tự tại, vì giới hạn bảy thức không có, vì tướng ngã không thể thành, nên không phải hữu ngã. Vì sao không phải vô ngã? Vì có đời sau, vì được giải thoát, vì mỗi tâm của ta sanh khởi không thể tính chỗ nơi, nên không phải vô ngã. Như thế, không sanh không diệt, không phải không sanh không phải không diệt, không phải có không phải không, không thọ không trước, bặt sự nói năng, dứt đường tâm nghĩ, như pháp Niết-bàn là pháp thật tướng. Ở trong pháp này tín tâm thanh tịnh không ngăn không ngại, hiểu biết mềm dẻo, lòng tin mềm dẻo, tinh tấn mềm dẻo, ấy gọi là Nhu thuận pháp nhẫn. Giải thích rõ thêm, Nhu thuận pháp nhẫn này đưa chúng ta đến lòng tin thanh tịnh mềm dẻo, sự tinh tấn mềm dẻo. Muốn được hạnh Nhu thuận phải tìm thấu thật tướng các pháp. Thế nào là thật tướng? Không phải hữu thường, không phải vô thường, không phải lạc, không phải không lạc, không phải không, không phải chẳng không, không phải hữu ngã, không phải vô ngã. Một mạch phủ nhận tất cả, mới nghe rất khó hiểu nhưng đây là chỗ đặc biệt. Lâu nay chúng ta cứ nhìn hai bên hoặc là có hoặc là không, hoặc là thật hoặc là giả v.v... Xét kỹ tất cả pháp trên thế gian, tìm cái thật có hay thật không đều chẳng được, duyên hợp thì không thật có, duyên hợp thì không thể thật không. Gọi là phi hữu phi vô, không phải có không phải không. Không phải có tức là không, không phải không tức là có, cả hai đều không phải. Trên lý chân thật không thể khẳng định một chiều. Nhà thiền thường nói “bóng trúc quét thềm không dấy bụi.” Chúng ta thấy bụi tre ở trước nhà, gió đưa qua đưa lại bóng tre trước thềm thấy dường như động nhưng không có bụi. Có bóng trúc, có gió thổi, nhưng vì bóng không thật nên không thể xác định có quét thềm hay không quét thềm. Bóng trúc không thể nói có, không thể nói không; xác định một bề là trật. Chúng ta quen quan niệm dứt khoát hoặc có hoặc không mới chịu. Các pháp là nhân duyên sanh, không cái nào thật có hoặc thật không cả. Quán sát nhân duyên sanh như bóng trúc quét thềm, có mà có trong giả tưởng, thấy thì thấy biết vậy mà không kẹt một bên nào. Thấy được chỗ này là thấy lý trung đạo, cũng là thấy chân lý. Vì sao không phải hữu thường? Vì nhân duyên sanh, đủ duyên thì có, hết duyên thì hoại nên không thường còn. Vì sao không phải vô thường? Vì nghiệp báo không mất. Vì sao không phải vui? Vì trong cái khổ sanh tưởng là vui, không phải vui thật. Vì sao không phải không lạc? Vì có thọ lạc, vì dục nhiễm sanh, vì dục nhiễm nên thấy là vui, sự thật thì không vui. Vì sao không phải không? Vì có quả báo tội phước. Vì sao không phải chẳng không? Vì hòa hợp sanh... nên không phải chẳng không. Vì sao không phải hữu ngã? Vì không tự tại, vì giới hạn bảy thức không có... Hữu ngã là có chủ thể tự tại, nay tìm trong thân không có chủ thể nên không phải hữu ngã. Vì sao không phải vô ngã? Vì có đời sau, không phải chết rồi hết, vì được giải thoát. Ngã chân thật chính là tự tánh Niết-bàn. Như thế, không sanh không diệt, không phải không sanh không phải không diệt... Tất cả đều dùng lối phủ nhận, không cố định cái nào thật có. Các pháp không có tướng thật, thế gian cứ cho là thật, cố định nó là thật nên đây phủ nhận để phá tất cả kiến chấp. 3. Thế nào là Vô sanh pháp nhẫn? Như trong pháp thật tướng ở trên, người lợi căn trí tuệ, tín tâm, tinh tấn được tăng trưởng, gọi là Vô sanh pháp nhẫn. Ví như trong pháp Thanh văn Noãn pháp, Đảnh pháp trí tuệ, tín tâm, tinh tấn tăng trưởng được Nhẫn pháp. Nhẫn là nhẫn Niết-bàn, nhẫn pháp vô lậu nên gọi là Nhẫn. Mới được mới thấy gọi là Nhẫn. Những vị Thời giải thoát A-la-hán (độn căn A-la-hán) không được Vô sanh trí, tăng tiến rộng làm lợi ích chuyển thành Bất thời giải thoát A-la-hán (lợi căn A-la-hán) được Vô sanh trí. Vô sanh pháp nhẫn cũng như thế, những vị chưa được quả Bồ-tát mà được Vô sanh pháp nhẫn liền được chân hạnh quả Bồ-tát, ấy gọi là đạo quả Bồ-tát. Khi ấy được Ban châu tam-muội, đối trong chúng sanh được đại bi, vào cửa Bát-nhã ba-la-mật. Khi đó chư Phật thọ ký pháp hiệu, tùy sanh trong cõi Phật, được chư Phật niệm tưởng, tất cả tội nặng được nhẹ, tội nhẹ liền tiêu diệt, dứt ba đường ác, thường sanh cõi người cõi trời, gọi là bất thối chuyển đến chỗ Bất động; nhục thân rốt sau được nhập trong pháp thân, hay tạo các thứ biến hóa độ thoát tất cả chúng sanh, đầy đủ lục độ để cúng dường chư Phật, giáo hóa chúng sanh làm thanh tịnh cõi Phật, thành tựu Thập địa công đức, lần lượt được quả Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Ấy là Sơ môn trong pháp thiền của Bồ-tát. Bồ-tát sau khi thành tựu Sanh nhẫn, Nhu thuận pháp nhẫn, thấy thật tướng các pháp, trí tuệ tinh tấn tăng trưởng liền được Vô sanh pháp nhẫn. Nhẫn là an trú, người an trú pháp vô sanh gọi là Vô sanh pháp nhẫn. Nhẫn còn gọi là Niết-bàn, pháp vô lậu. Nhẫn có hai bậc, nhẫn của phàm phu và nhẫn của Bồ-tát. Phàm phu nhẫn là nhịn, có thể còn bị lay động khi quá sức không nhẫn được; Bồ-tát nhẫn là an trú vững vàng không lay động, vì thấy không một pháp nào thật có, tâm không khởi niệm sanh diệt dính mắc nơi pháp. Bồ-tát được Vô sanh pháp nhẫn là được hạnh quả Bồ-tát chân thật, được bất thối chuyển. Khi ấy được Ban châu tam-muội. Tam-muội tức là chánh định, chánh định này từ pháp quán hơi thở mà được. Được Ban châu tam-muội rồi, đối với chúng sanh được đại bi, vào cửa Bát-nhã ba-la-mật. Khi đó chư Phật thọ ký... Tất cả Bồ-tát tu cũng y cứ các pháp chúng ta thường tu hiện giờ như quán hơi thở, đếm hơi thở, an trú trong hơi thở... Bắt đầu từ pháp tu thấp của phàm phu, khéo tu rồi tiến lên thành Bồ-tát. Tuy tu những pháp như phàm phu nhưng mục đích khác, phàm phu tu để được thọ hưởng, còn Bồ-tát tu vì thương xót chúng sanh, muốn đưa chúng sanh cùng đến chỗ an lạc như mình. Đó là chỗ đặc biệt. CHƯƠNG VI TỔNG KẾT Chánh văn: Hành giả khi định tâm cầu đạo Thường phải xét xem thời, phương tiện, Nếu không hợp thời, không phương tiện, Như thế là thất, không có lợi. Như trâu chưa sanh con không sữa Vì sữa không thể có phi thời, Nếu trâu đã sanh, tìm nơi sừng Sữa không thể có, ấy kẻ ngu. Như dùi cây ướt mong ra lửa Vì lửa không thể có phi thời, Nếu chẻ cây khô để tìm lửa Lửa không thể có, ấy kẻ ngu. Phải chỗ, biết thời, lượng sức mình, Quán tâm phương tiện sức nhiều ít, Đáng nên tinh tấn và không nên, Tướng đạo hợp thời và không hợp. Nếu tâm diêu động không dụng quá, Dụng quá tất nhiên không thể định, Ví như củi nhiều lửa cháy mạnh Gió to thổi đến không thể diệt. Nếu khéo dùng định tự điều tâm Như thế động hết tâm được định, Ví như lửa mạnh gặp gió lớn, Mưa to tưới xuống ắt phải tắt. Nếu người tâm yếu và lười biếng, Như thế, chán bỏ không thể hành, Ví như củi ít, chỉ đóm lửa Không gặp gió thổi liền tiêu diệt. Nếu người tinh tấn tâm mạnh mẽ, Như thế càng mạnh, chóng được đạo, Ví như lửa ít, rất nhiều củi Gặp gió thổi đến càng cháy mạnh. Nếu hành phóng xả, Chỉ điều phục Mà lại bỏ bê mất pháp lợi, Ví như người bệnh nên nuôi dưỡng Mà lại bỏ đi không thể sống. Nếu có tưởng xả, tâm chân chánh, Hợp thời, siêng hành mau đắc đạo, Ví như người nài cưỡi mình voi Tùy ý sai sử không trở ngại. Nếu người nhiều dâm tâm rối loạn, Khi ấy không nên hành pháp Từ, Nhiều dâm hành Từ thêm mê muội, Như người bệnh lạnh uống thuốc mát. Người dâm dục nhiều quán bất tịnh, Chuyên quán bất tịnh tâm được định, Hành pháp như thế mới thích hợp, Như người bệnh lạnh uống thuốc nóng. Nếu nóng giận nhiều tâm rối loạn, Khi ấy không nên quán bất tịnh, Người sân quán thế, thêm tức giận, Như người bệnh nóng uống thuốc nóng. Người nhiều nóng giận hành Từ tâm, Hành Từ chẳng bỏ, sân tâm diệt, Hành pháp như thế mới tương ưng, Như người bệnh nóng uống thuốc mát. Nếu nhiều mê muội tâm mờ mịt, Không nên hành Từ và Bất tịnh, Hai pháp tăng si không lợi ích, Như người bệnh cảm uống thuốc bổ. Người tâm mê muội quán Nhân duyên, Phân biệt quán kỹ, si tâm diệt, Hành pháp như thế mới thích hợp, Như người bệnh cảm uống thuốc cảm. Ví như thợ bạc thổi lò lửa, Dụng công phi thời, thổi sai pháp, Lăng xăng gấp thổi không biết thời, Hoặc khi nhúng nước, hoặc lấy ra. Vàng chảy thổi nhiều ắt chảy tiêu, Chưa chảy bèn dừng thì không chảy, Nhúng nước phi thời vàng vẫn sống, Phi thời dừng nghỉ vàng không chín. Tinh tấn nhiếp tâm và phóng xả, Phải nên xem xét pháp hành đạo, Phi thời, phương tiện mất pháp lợi, Nếu không pháp lợi thì không lợi. Ví như thầy thuốc ba thứ bệnh: Lạnh, nóng, phong phải nên trừ diệt, Hợp bệnh cho thuốc là pháp Phật, Bệnh tham, sân, si tùy thuốc diệt. Giảng: Hành giả khi định tâm cầu đạo Thường phải xét xem thời, phương tiện, Nếu không hợp thời, không phương tiện, Như thế là thất, không có lợi. Như trâu chưa sanh con không sữa Vì sữa không thể có phi thời, Nếu trâu đã sanh, tìm nơi sừng Sữa không thể có, ấy kẻ ngu. Như dùi cây ướt mong ra lửa Vì lửa không thể có phi thời, Nếu chẻ cây khô để tìm lửa Lửa không thể có, ấy kẻ ngu. Người biết tu phải nắm vững thời và phương tiện, nếu đúng thời, hợp phương tiện thì việc làm có kết quả. Nếu hợp thời mà không phương tiện cũng không có kết quả. Đây dùng những ví dụ như trâu chưa sanh con mà mong có sữa. Trâu hay bò chưa sanh con làm sao vắt ra sữa, vì sữa không thể có phi thời. Bò đã sanh con thì đương nhiên có sữa, không vắt sữa ở vú của nó mà vắt ở trên sừng thì cũng không có sữa, đó là hiện tượng của người ngu. Đây là ví dụ thứ nhất. Ví dụ thứ hai, như dùi cây ướt mong ra lửa không bao giờ có, chẻ cây khô để tìm lửa, lửa cũng không thể có vì không đúng phương tiện. Việc làm vừa phi thời vừa không biết phương tiện thì không bao giờ thành tựu. Trước dùng ví dụ rồi sau hợp pháp. Phải chỗ, biết thời, lượng sức mình, Quán tâm phương tiện sức nhiều ít, Đáng nên tinh tấn và không nên, Tướng đạo hợp thời và không hợp. Người tu phải biết quán tâm, tùy theo phương tiện cần nhiều thì nhiều, cần ít thì ít, biết khi nào nên tinh tấn, khi nào không nên. Vì tướng đạo hợp thời mới có, không hợp thời thì không có. Kinh nói, một thầy Tỳ-kheo tinh tấn tu đến bỏ ăn bỏ ngủ mà không đạt đạo. Thầy chán nản muốn thối tâm, đến bạch Phật, Phật dùng ví dụ lên dây đàn. Nếu dây chùng quá thì đàn không có tiếng, dây căng quá thì tiếng nghe không hay. Muốn tiếng đàn được vi diệu phải điều hòa, đừng quá căng đừng quá chùng. Chúng ta tu nên tránh hai bệnh này, khi thì thả trôi làm biếng, khi thì hăng hái tu quên ăn quên ngủ. Nên giữ mức vừa chừng, biết đúng thời đúng lúc, khi nào cần mình phải ráng. Như đến giờ ngồi tu mà cứ gục lên gục xuống thì lúc đó làm sao, nên tinh tấn hay nên bỏ cuộc? Nên tinh tấn, lấy hết sức phấn chấn để vượt qua. Nếu khi ngồi kìm quá nhức đầu khó chịu, lúc này mới nhẹ nhàng thư giãn, buông tâm nghỉ ngơi. Nhức đầu mà cứ ráng riết rồi đứt gân máu thì nguy. Đó là tu biết đúng thời đúng lúc. Nếu tâm diêu động không dụng quá, Dụng quá tất nhiên không thể định, Ví như củi nhiều lửa cháy mạnh Gió to thổi đến không thể diệt. Khi tâm chúng ta dao động, lăng xăng lộn xộn thì đừng quá dụng công kìm giữ, lúc đó không thể được định; phải nhè nhẹ, vừa chừng để tâm lắng xuống. Ví dụ như củi nhiều, lửa cháy mạnh, lại thêm gió thổi mạnh vô nữa thì sao? Nó cháy rần rần, không thể chữa trị được. Vì vậy, Phật tử tu thiền, vào buổi chiều mới gặp chuyện bất bình tranh cãi với nhau, đến tối ngồi thiền lại nhớ chuyện hơn thua, lúc đó tâm rất lăng xăng lộn xộn. Ngồi như vậy, dụng công thật nhiều thì đó là bệnh. Nhớ lời dạy ở đây, lửa cháy củi nhiều, thêm gió mạnh nữa thì không tốt. Chúng ta tu đúng đường hướng Phật dạy, không nên đi quá đà. Nếu khéo dùng định tự điều tâm Như thế động hết tâm được định, Ví như lửa mạnh gặp gió lớn, Mưa to tưới xuống ắt phải tắt. Trên đây nói dụng quá tất nhiên không thể định, như khi tâm đang dao động mà dùng quán tưởng, quán tưởng quá thì sanh ra bệnh. Khi đó phải dùng phương tiện định, vì đã loạn rồi mà quán nữa thì khó, cho nên phải định, định tức là chỉ, dừng lại một nơi. Đầu đang rối quá phải định tâm dưới đan điền, đừng cho nghĩ nhiều, như vậy mới yên. Đây dùng ví dụ lửa mạnh gặp gió lớn, có mưa to tưới xuống mới tắt lửa. Nếu người tâm yếu và lười biếng, Như thế, chán bỏ không thể hành, Ví như củi ít, chỉ đóm lửa Không gặp gió thổi liền tiêu diệt. Nếu người nào tâm đã yếu lại thêm bệnh lười biếng, lúc đó chán nản hết muốn tu. Ví như củi ít, chỉ có một đóm lửa, không gặp gió thổi giúp liền tiêu diệt. Nếu người tinh tấn tâm mạnh mẽ, Như thế càng mạnh, chóng được đạo, Ví như lửa ít, rất nhiều củi Gặp gió thổi đến càng cháy mạnh. Nếu khi tu mà thấy tâm mình yếu đuối, thấy mình hơi lười nhác, muốn nằm ngủ cho ngon, không muốn gì nữa, lúc đó phải dụng tâm thế nào? Tức là phải tinh tấn mạnh mẽ lên. Tôi thường nói, chúng ta dùng cây roi tinh tấn đuổi con quỷ giải đãi. Nếu mạnh mẽ thì chóng được đạo. Đây ví như lửa ít, rất nhiều củi, gió đến càng cháy mạnh, vì gió giúp lửa bắt sang các cây khác cháy to lên. Đây chỉ dạy cách dụng công tu tùy theo trường hợp. Nếu bệnh tâm dao động nhiều, khi ngồi thiền phải chú tâm dùng định để lắng, không dùng quán, quán nhiều thì thêm bệnh. Nếu bệnh tâm giải đãi lười biếng, ngồi thiền phải vận dụng sức tinh tấn cho mạnh để vượt qua nó. Hướng dẫn kỹ để chúng ta không bị chướng ngại trong lúc tu. Nếu hành phóng xả, Chỉ điều phục Mà lại bỏ bê mất pháp lợi, Ví như người bệnh nên nuôi dưỡng Mà lại bỏ đi không thể sống. Người hành phóng xả tức là tu buông bỏ, dừng tâm, thu nhiếp tâm. Nếu tu phóng xả là buông bỏ việc thế gian, chỉ chuyên quay về với chính mình điều phục mình thì tốt, hợp đạo. Nếu nói phóng xả rồi lại quên hết kinh điển, quên hết lời Phật dạy, đó là mất pháp lợi. Ví như người bệnh cần được nuôi dưỡng mà lại bỏ bê không chăm sóc nên không thể sống. Bệnh lẽ ra cần thuốc, cần nuôi dưỡng kỹ, bây giờ không thuốc, không nuôi dưỡng thì người bệnh phải chết. Nói tu phóng xả rồi không còn gì, bỏ việc thế tục mà cũng bỏ luôn đạo đức, bỏ Phật pháp, như vậy là bệnh mà không được nuôi. Có biết Phật pháp mới có nuôi dưỡng được. Nếu có tưởng xả, tâm chân chánh, Hợp thời, siêng hành mau đắc đạo, Ví như người nài cưỡi mình voi Tùy ý sai sử không trở ngại. Nếu tu phóng xả tất cả mà tâm chân chánh, hợp thời, siêng thực hành công phu thì sớm đắc đạo. Tuy tâm buông bỏ tất cả nhưng còn có tâm biết đạo, thấy đạo, chỉ xả vọng tưởng, xả buồn thương giận ghét thế gian, tâm đạo không lùi, không quên, như thế cố gắng thực hành sẽ đắc đạo. Tu buông xả bị thất bại là do xả mà không thấy đạo, không nhận ra pháp tu của mình, để tâm trống không như ngu si, lâu ngày thành bệnh. Còn tu xả, bỏ tâm lăng xăng để được thể thanh tịnh lặng lẽ, đó là hợp đạo lý. Ví dụ như người nài cưỡi trên mình voi, tùy ý sai sử không trở ngại. Chúng ta đã học qua mấy thứ bệnh. Thứ nhất là bệnh dao động, thứ hai là bệnh giải đãi, thứ ba là bệnh buông hết, bỏ hết. Đến bệnh thứ tư. Nếu người nhiều dâm tâm rối loạn, Khi ấy không nên hành pháp Từ, Nhiều dâm hành Từ thêm mê muội, Như người bệnh lạnh uống thuốc mát. Người dâm dục nhiều quán bất tịnh, Chuyên quán bất tịnh tâm được định, Hành pháp như thế mới thích hợp, Như người bệnh lạnh uống thuốc nóng. Nếu người tu tại gia hoặc xuất gia mà nặng về dâm dục, tâm cứ rối loạn nghĩ tưởng đến dâm dục, không nên hành pháp quán từ bi. Bệnh nặng về ái mà quán từ bi thì thương lại thêm thương, tâm không tỉnh sáng, thêm mê muội. Giống như người bệnh lạnh lại uống thuốc mát, bệnh tăng chứ không giảm. Quán từ bi là phương pháp tốt, nhưng với người nặng về bệnh ái dục thì không nên quán. Đúng bệnh nào uống thuốc ấy, dùng sai thì càng thêm bệnh. Chỗ này Phật tử nhiều khi bị lầm. Tâm mình thường ái nhiễm mà lại quán từ bi mãi rồi không ra khỏi vòng lẩn quẩn. Ái nhiễm nặng thì phải quán bất tịnh. Quán tâm mình đầy chất nhơ bẩn đáng chán, thân mình hôi dơ thân người hôi dơ, lâu ngày không khởi niệm ái dục. Đó là bị bệnh lạnh thì phải uống thuốc nóng trị nó mới lành. Nếu nóng giận nhiều tâm rối loạn, Khi ấy không nên quán bất tịnh, Người sân quán thế, thêm tức giận, Như người bệnh nóng uống thuốc nóng. Người nhiều nóng giận hành Từ tâm, Hành Từ chẳng bỏ, sân tâm diệt, Hành pháp như thế mới tương ưng, Như người bệnh nóng uống thuốc mát. Bệnh thứ năm, người nhiều sân hay nóng giận. Người này không nên quán bất tịnh, vì đang giận ghét người, quán bất tịnh thì quá khô khan, thấy ai mình cũng ghê gớm, thành ra càng ghét người ta nhiều. Càng quán bất tịnh càng thêm giận tức, như người bệnh nóng lại uống thuốc nóng. Ở trên đối trị bệnh tham dục Phật dạy quán bất tịnh, đến đây thì quán bất tịnh không phải là thuốc trị bệnh sân. Người nóng giận nhiều thì phải quán từ bi mới trừ được bệnh sân. Cho nên nói: hành Từ chẳng bỏ, sân tâm diệt, hành pháp như thế mới tương ưng, như người bệnh nóng uống thuốc mát. Mình nóng thì phải uống thuốc mát trị, nóng mà uống thuốc nóng nữa không được. Quán bất tịnh là một thứ thuốc nóng, không phải thuốc lạnh, thuốc mát. Chúng ta phải khéo nhận định thật kỹ, biết bệnh mình và biết thuốc trị, chớ dùng lầm. Nếu nhiều mê muội tâm mờ mịt, Không nên hành Từ và Bất tịnh, Hai pháp tăng si không lợi ích, Như người bệnh cảm uống thuốc bổ. Người tâm mê muội quán Nhân duyên, Phân biệt quán kỹ, si tâm diệt, Hành pháp như thế mới thích hợp, Như người bệnh cảm uống thuốc cảm. Như người bệnh cảm mà uống thuốc bổ, đây là bệnh si mê. Người nào nhiều si mê thì không được hành hai pháp quán từ bi và bất tịnh. Tại sao? Nếu hành pháp quán từ bi và bất tịnh thì thêm tăng trưởng si mê, không có lợi ích. Dùng trí tuệ quán xét thấy rõ các pháp do nhân duyên hợp, các pháp rõ ràng không tự sanh, không có thật thể, chỉ mượn duyên hợp mà có. Phân tích như vậy là trí tuệ, trí tuệ mới trừ si mê, còn từ bi và bất tịnh không trừ si mê được, cho nên đây nói như người bệnh cảm mà uống thuốc bổ. Tuy từ bi là tốt, nhưng bệnh cảm cho uống thuốc bổ bệnh nặng thêm. Người si mê áp dụng lối tu trí tuệ mới có kết quả, như bệnh cảm phải uống thuốc cảm mới thích hợp. Ví như thợ bạc thổi lò lửa, Dụng công phi thời, thổi sai pháp, Lăng xăng gấp thổi không biết thời, Hoặc khi nhúng nước, hoặc lấy ra. Vàng chảy thổi nhiều ắt chảy tiêu, Chưa chảy bèn dừng thì không chảy, Nhúng nước phi thời vàng vẫn sống, Phi thời dừng nghỉ vàng không chín. Đoạn này kết luận chung tất cả pháp tu, phải biết ứng dụng đúng thời đúng phương tiện. Ví dụ chỗ khéo léo như thợ luyện vàng. Nấu vàng phải biết đúng thời lấy ra, lấy sớm hay trễ đều hư hỏng. Thổi lửa cũng phải biết khi nào cần nhiều lửa, khi nào cần ngưng, như vậy không phí công lực mà vàng được thành. Người tu tế nhị xem xét tâm mình, khi nào cần gấp tinh tấn, khi nào cần nghỉ ngơi. Mình bệnh gì nhiều, cần uống thuốc gì, dùng cho trúng thuốc. Uống thuốc đúng bệnh thì kết quả trăm phần trăm, uống thuốc sai bệnh thì tai họa. Nhiều người nói tu thiền lâu ngày phát khùng, vì không biết đúng thời đúng thuốc. Ví dụ người nhiều sân mà dạy quán bất tịnh, quán riết họ quạu tức lên, thấy như điên như khùng. Với người ái nhiều lại dạy họ quán từ bi, quán riết thấy ai cũng thương, thương hoài ra không nổi, như vậy có phải tự giết họ không? Đó là kết quả nguy hiểm. Mình tu và dạy người khác tu phải xem xét cẩn thận chỗ này. Pháp của Phật là đối bệnh cho thuốc, bệnh nào thì có thuốc ấy. Mỗi người tu là ông thầy thuốc, phải biết người bệnh gì, áp dụng pháp tu nào để trị, không phải ai cũng như ai, chỉ có một thứ thuốc. Đôi khi chúng ta không nắm vững, người bệnh này chỉ thuốc khác, rốt cuộc không kết quả gì hết, lại sanh bệnh thêm, rồi nói tại tu sanh bệnh. Đó là cái lầm của người hướng dẫn. Vì vậy tất cả chúng ta phải hiểu, tự mình tu thì cũng biết cho rõ, dạy người tu cũng phải biết bệnh biết thuốc thật vững, không nên xem thường. Tinh tấn nhiếp tâm và phóng xả, Phải nên xem xét pháp hành đạo, Phi thời, phương tiện mất pháp lợi, Nếu không pháp lợi thì không lợi. Ví như thầy thuốc ba thứ bệnh: Lạnh, nóng, phong phải nên trừ diệt, Hợp bệnh cho thuốc là pháp Phật, Bệnh tham, sân, si tùy thuốc diệt. Pháp hành đạo chỉ trong hai việc, tinh tấn và phóng xả, nên xem xét và uyển chuyển, lúc nào cũng giữ mực vừa chừng là tốt nhất. Tinh tấn quá mức hay buông lung vô độ đều không tốt, đều mất lợi lành. Quyển Tọa Thiền Tam-muội này là pháp căn bản chỉ dạy chúng ta biết rõ đường lối Phật tổ dạy khi tu thiền. Trước tiên là quán sát tâm mình, sau là nắm vững pháp môn đối trị, cách thực hành từ thấp đến cao, dần dần được nhất tâm, được Tam-muội. Cần yếu biết mình bệnh gì, tham nhiều hay sân nhiều. Ba bệnh tham sân si nặng nhất của chúng sanh, ngăn trở con đường tu tiến, nếu áp dụng đúng pháp dạy trong đây sẽ được tiêu diệt. Khi hết bệnh phát tâm nguyện từ bi lớn, độ tất cả mọi người là đúng con đường Bồ-tát đang đi. Mục Lục
|
Thanh Từ Toàn Tập 15 - Thiền Học Căn Bản
|