|
Thanh Từ Toàn Tập 15 - Thiền Học Căn Bản
Chương 7 - 10
CHƯƠNG VII TƯỚNG THIỆN CĂN KHAI PHÁT Chánh văn: Hành giả nếu hay từ Giả nhập Không quán Trung, tu Chỉ Quán như thế thì trong khi tọa thiền thân tâm sáng suốt. Khi ấy sẽ có các thứ thiện căn khai phát cần phải biết rõ. Nay lược nói tướng thiện căn khai phát có hai thứ: I- TƯỚNG THIỆN CĂN KHAI PHÁT BÊN NGOÀI Nghĩa là những việc thiện khai phát như: bố thí, trì giới, hiếu thuận cha mẹ, tôn trưởng, cúng dường Tam bảo và nghe kinh học đạo v.v... Nếu không tu hành chân chánh sẽ bị ma cảnh chen vào. Ở đây khỏi giải thích. II- TƯỚNG THIỆN CĂN KHAI PHÁT BÊN TRONG Nghĩa là những pháp môn thiền định thiện căn khai phát. Có ba ý: 1. Hiểu rõ tướng thiện căn khai phát Có năm thứ: a. Tướng sổ tức thiện căn khai phát Hành giả vì khéo tu Chỉ Quán nên thân tâm được điều hòa, vọng niệm dừng bặt, nhân đó tự biết tâm dần dần nhập định, phát các định Dục giới vị đáo địa, thân tâm lặng lẽ rỗng rang, định tâm an ổn. Ở trong định này đều không thấy có tướng mạo của thân tâm. Về sau, hoặc trải một phen ngồi, hai phen ngồi, nhẫn đến một ngày, hai ngày, một tháng, hai tháng lần lần dứt hết không còn đắc thất hay lui sụt. Chính ở trong định chợt biết thân tâm vận động phát ra tám thứ cảm giác. Nghĩa là cảm giác thân đau, ngứa, lạnh, ấm, nhẹ, nặng, nhám, trơn. Trong khi cảm giác, thân tâm an định rỗng rang thư thái, vui vẻ thanh tịnh không có gì sánh bằng. Ấy là biết tướng “Sổ tức thiền định căn bản thiện căn khai phát.” Hành giả hoặc ở trong định Dục giới vị đáo địa thoạt nhiên biết hơi thở ra, vào, dài, ngắn, những lỗ chân lông khắp thân đều trống hở. Dùng tâm nhãn thấy cả ba mươi sáu vật ở trong thân, như mở cửa kho thấy các thứ đậu, mè v.v... tâm sợ, mừng, vắng lặng, an vui. Ấy là tướng “Tùy tức đặc thắng thiện căn khai phát”. b. Tướng bất tịnh quán thiện căn khai phát Hành giả nếu được định Dục giới vị đáo địa, ở trong định này thân tâm rỗng lặng, thoạt nhiên thấy thân người nam nữ chết; chết rồi phát sình, nứt nẻ, giòi tửa, máu mủ tươm ra, thấy xương trắng bừa bãi, trong tâm sanh buồn, mừng, nhàm chán sự yêu thương. Đó là tướng “Cửu tưởng thiện căn khai phát”. Hoặc ở trong định yên lặng chợt thấy bên trong thân nhớp nhúa, bên ngoài thân sình trương, rạn nứt, thân mình xương trắng từ đầu đến chân từng lóng gá nhau. Thấy việc ấy rồi, định tâm an ổn tỉnh ngộ lý vô thường, chán nhàm ngũ dục, không chấp ngã nhân. Đó là tướng “Bội xả thiện căn khai phát”. Hoặc trong khi định tâm thấy trong thân tất cả loài phi cầm tẩu thú, đồ mặc, thức ăn uống, phòng nhà, rừng núi thảy đều bất tịnh. Đây là tướng “Đại bất tịnh thiện căn khai phát”. c. Tướng từ tâm thiện căn khai phát Hành giả nhân tu Chỉ Quán, hoặc được định Dục giới vị đáo địa, ở trong định này thoạt nhiên phát tâm thương, nhớ tưởng chúng sanh. Hoặc vin nơi người thân, được tướng an vui liền phát thâm định, nội tâm vui vẻ thanh tịnh không thể ví dụ. Hoặc vin nơi người không thân không sơ, kẻ oán thù, nhẫn đến năm loài chúng sanh trong mười phương cũng lại như thế. Sau khi xuất định tâm vẫn vui vẻ thấy người nào gương mặt cũng hòa nhã. Ấy là tướng “Từ tâm thiện căn khai phát”. Tướng Bi tâm, Hỷ tâm, Xả tâm khai phát, so cái này có thể biết. d. Tướng nhân duyên quán thiện căn khai phát Hành giả nhân tu Chỉ Quán, hoặc được định Dục giới vị đáo địa thân tâm an tịnh. Thoạt nhiên tâm sanh giác ngộ, suy tầm các nhân duyên vô minh, hành v.v... trong ba đời, không thấy tướng nhân ngã, lìa đoạn kiến, thường kiến, phá các chấp kiến, được định an ổn, giải tuệ khai phát, tâm sanh pháp hỷ, không nhớ việc thế gian, nhẫn đến trong ngũ ấm, thập nhị xứ, thập bát giới phân biệt cũng như vậy. Đó là tướng “Nhân duyên quán thiện căn khai phát”. e. Tướng niệm Phật thiện căn khai phát Hành giả nhân tu Chỉ Quán hoặc được định Dục giới vị đáo địa thân tâm rỗng lặng. Thoạt nhiên nghĩ nhớ chư Phật có công đức, tướng hảo không thể nghĩ bàn; có pháp thập lực, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng, tam-muội, giải thoát v.v... không thể nghĩ bàn; có thần thông, biến hóa, thuyết pháp không ngăn ngại, lợi ích chúng sanh không thể nghĩ bàn; như thế, những công đức vô lượng không thể nghĩ bàn. Khi khởi niệm ấy liền sanh tâm kính mến, tam-muội khai phát, thân tâm khoái lạc, thanh tịnh an ổn, không có các tướng ác. Sau khi xuất định, thân thể nhẹ nhàng tự biết có công đức cao vọi, được người yêu kính. Ấy là tướng “Niệm Phật tam-muội thiện căn khai phát”. Lại nữa, hành giả nhân tu Chỉ Quán, nếu được thân tâm lóng sạch, hoặc phát tướng vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh, tướng nhàm chán sự ăn uống, bất tịnh ở thế gian, tướng khi chết lìa tất cả, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Xả, niệm Thiên, niệm xứ, chánh cần, như ý, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát chánh đạo, không, vô tướng, vô tác, lục độ, các thứ ba-la-mật, thần thông, biến hóa v.v... tướng tất cả pháp môn phát hiện, trong ấy nên rộng phân biệt. Cho nên trong Kinh chép: “Giữ tâm một chỗ không việc gì chẳng xong.” 2. Phân biệt chân ngụy Có hai thứ: a. Biện tướng thiền tà ngụy phát hiện Hành giả nếu khi phát các thứ thiền như trước, mỗi pháp tùy nhân hiện ra: hoặc thân xao động, hoặc thân nặng nề như bị vật gì đè lên, hoặc thân nhẹ nhàng muốn bay, hoặc như bị trói buộc, hoặc xiêu vẹo ngủ mê, hoặc rất lạnh, rất nóng, hoặc thấy bao nhiêu cảnh giới khác lạ, hoặc tâm mờ mịt, hoặc khởi nghĩ tưởng dữ, hoặc nhớ các việc thiện tạp nhạp bên ngoài khiến tâm tán loạn, hoặc vui mừng loạn động, hoặc buồn bã lo rầu, hoặc những thú dữ chạm vào rợn người lông dựng đứng, hoặc rất vui khiến say mê. Những thứ tà pháp như thế cùng với thiền đồng phát gọi là tà ngụy. Những thứ tà định này, nếu người mê thích tức là cùng chín mươi lăm thứ quỷ thần tương ưng, phần nhiều ưa mất trí điên cuồng. Hoặc khi các loài quỷ thần biết được những điều mà người tu thiền ưa thích liền giúp thế lực khiến các thứ tà định, tà trí, biện tài, thần thông làm mê lầm xao động người thế gian. Những kẻ ngu trông thấy cho là chứng đạo quả, thảy đều tin phục; kỳ thật người kia trong tâm điên đảo, chuyên hành pháp quỷ làm mê loạn thế gian. Người ấy khi chết hằng không gặp Phật, lại đọa trong các loài quỷ thần. Nếu khi ngồi phần nhiều hành theo pháp ác tức đọa địa ngục. Hành giả khi tu Chỉ Quán, nếu chứng các thứ thiền như thế, có những tướng tà ngụy này liền phải đuổi nó. Làm thế nào đuổi nó? Hoặc biết nó là hư dối, chánh tâm không thọ, không đắm trước liền tự tiêu diệt; nên dùng chánh quán phá nó tức thì dứt sạch. b. Biện tướng thiền chân chánh phát hiện Hành giả nếu trong khi ngồi phát các thứ thiền không có những tướng tà ngụy như trước đã nói, tùy mỗi thứ thiền khi phát hiện liền biết cùng với định tương ưng, sáng suốt, thanh tịnh, trong tâm vui mừng, lặng lẽ khoái lạc, không có che đậy, thiện tâm khai phát, lòng tin kính tăng trưởng, trí soi xét phân minh, thân tâm êm dịu, tinh tế rỗng lặng, nhàm chán thế gian, không tác động, không tham muốn, ra vào tự tại, ấy là tướng chánh thiền khai phát. Ví như cộng sự với người ác thì thường bị lo phiền, nếu cộng sự với người thiện thì hằng gặp những việc tốt, phân biệt tướng hai thứ thiền tà chánh phát hiện cũng như vậy. 3. Khéo dùng Chỉ Quán nuôi lớn các thiện căn Nếu trong khi ngồi, các thứ thiện căn khai phát nên dùng hai pháp Chỉ Quán tiến tu, khiến nó tăng trưởng. Nếu nên dùng Chỉ thì lấy Chỉ mà tu, nếu nên dùng Quán thì lấy Quán mà tu. Phần trước đã nói đủ, ở đây chỉ lược bày đại ý. Giảng: Hành giả nếu hay từ Giả nhập Không quán Trung, tu Chỉ Quán như thế thì trong khi tọa thiền thân tâm sáng suốt. Khi ấy sẽ có các thứ thiện căn khai phát cần phải biết rõ. Trong khi tu có những tướng lành hiện ra, gọi là tướng thiện căn khai phát. Hành giả nếu hay từ Giả nhập Không quán Trung, tu Chỉ Quán như thế thì trong khi tọa thiền thân tâm sáng suốt. Từ Giả nhập Không... là lối tu Tam quán của tông Thiên Thai. Tam quán: Không quán, Giả quán, Trung quán. Biết các pháp do duyên hợp không thật là Giả. Bởi duyên hợp hư giả không có thật thể nên nó là Không. Đó là từ Giả nhập Không. Trung là trung đạo đệ nhất nghĩa. Các pháp duyên hợp hư giả là không, nhưng tâm năng tri không dấy động không phải không mà cũng không phải giả, đó là Trung. Quán như thế từ từ thân tâm sáng suốt, tướng thiện căn khai phát, có những hiện tượng lành hiện ra. Nay lược nói tướng thiện căn khai phát có hai thứ: I- TƯỚNG THIỆN CĂN KHAI PHÁT BÊN NGOÀI Nghĩa là những việc thiện khai phát như: bố thí, trì giới, hiếu thuận cha mẹ, tôn trưởng, cúng dường Tam bảo và nghe kinh học đạo v.v... Nếu không tu hành chân chánh sẽ bị ma cảnh chen vào. Ở đây khỏi giải thích. Tướng thiện căn khai phát như trước đây chúng ta không có tâm bố thí, bây giờ khi tu Chỉ Quán một thời gian bỗng thấy thương chúng sanh, phát tâm bố thí muốn giúp đỡ họ, đó là tâm lành khai phát. Thiện căn này là do công phu tu tập mà hiện ra. Bình thường đối những giới luật nhỏ không giữ được, nhưng khi tu lâu tự nhiên thuần thục, giới luật dù nhỏ cũng ráng giữ tròn, đó là thiện căn khai phát. Lúc trước đối với cha mẹ cũng thương quý mà không nhiều, nay biết tu rồi nên càng kính trọng tôn thờ cha mẹ hơn, đó là hiếu thuận cha mẹ. Đối với các bậc tôn trưởng cũng vậy, xưa kia đối với những bậc trưởng thượng không tôn kính lắm, do tu tập tự nhiên khởi tâm tôn kính những vị đó. Cúng dường Tam bảo hoặc nghe kinh học đạo... những việc này cũng vậy, càng tu càng thích nghe kinh, bữa nào không nghe cảm thấy buồn v.v... Tóm lại, nếu chúng ta tu hành chân chánh thì tướng thiện căn khai phát rất nhiều, còn không tu chân chánh thì ma cảnh sẽ lẫn vào. Đó là nói thiện căn đối với bên ngoài. II- TƯỚNG THIỆN CĂN KHAI PHÁT BÊN TRONG Nghĩa là những pháp môn thiền định thiện căn khai phát. Có ba ý: 1. Hiểu rõ tướng thiện căn khai phát Có năm thứ: a. Tướng sổ tức thiện căn khai phát Hành giả vì khéo tu Chỉ Quán nên thân tâm được điều hòa, vọng niệm dừng bặt, nhân đó tự biết tâm dần dần nhập định, phát các định Dục giới vị đáo địa, thân tâm lặng lẽ rỗng rang, định tâm an ổn. Ở trong định này đều không thấy có tướng mạo của thân tâm. Về sau, hoặc trải một phen ngồi, hai phen ngồi, nhẫn đến một ngày, hai ngày, một tháng, hai tháng lần lần dứt hết không còn đắc thất hay lui sụt. Chính ở trong định chợt biết thân tâm vận động phát ra tám thứ cảm giác. Nghĩa là cảm giác thân đau, ngứa, lạnh, ấm, nhẹ, nặng, nhám, trơn. Trong khi cảm giác, thân tâm an định rỗng rang thư thái, vui vẻ thanh tịnh không có gì sánh bằng. Ấy là biết tướng “Sổ tức thiền định căn bản thiện căn khai phát.” Người tu thiền chứng từ Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền đến Tứ thiền, gọi là Phàm phu thiền. Sơ thiền Ly sanh hỷ lạc địa, do lìa tất cả dục lạc của thế gian mà sanh ra hỷ lạc, người tu đến đó khi chết sẽ sanh vào cõi trời Sắc giới. Nhị thiền Định sanh hỷ lạc địa, người tu tới chỗ an định hoàn toàn nên sanh ra vui mừng. Tam thiền Ly hỷ diệu lạc địa, lìa hỷ là lìa cái vui mừng do định sanh vì nó còn thô động, tới đây niềm vui rất tế nhị nên gọi là diệu lạc. Tứ thiền Xả niệm thanh tịnh địa, không còn dấy niệm duyên theo cái gì nữa, xả niệm đến chỗ lặng lẽ thanh tịnh. Bốn địa này gọi là Phàm phu thiền, vì tu ngang đó nếu chết thì được sanh lên cõi trời Sắc giới, chứ chưa thành La-hán hay Bồ-tát. Hành giả vì khéo tu Chỉ Quán nên thân tâm được điều hòa, vọng niệm dừng bặt, nhân đó tự biết tâm dần dần nhập định, phát các định Dục giới vị đáo địa, thân tâm lặng lẽ rỗng rang, định tâm an ổn. Tâm yên định sắp bước vào Sơ thiền mà chưa được Sơ thiền, gọi là Vị đáo địa. Nghĩa là đang sống trong Dục giới mà nhờ tu tập Chỉ Quán, thân tâm điều hòa, vọng niệm dừng bặt dẫn đến nhập định, gọi là Dục giới vị đáo địa, còn trong Dục giới được yên định thôi chứ chưa tới Sắc giới. Người tu trong giai đoạn này sẽ có những hiện tượng như thân tâm lặng lẽ, định tâm an ổn, có khi đang ngồi bỗng dưng rỗng lặng dường như không còn một niệm nào, có khi ngồi bỗng không thấy thân tâm, tưởng là mất mình liền hoảng hốt. Nếu không có tâm thì cái gì biết không có thân tâm? Biết không có thân tâm là đang có tâm, nhưng vì yên lặng quá tưởng như thân tâm mất tiêu. Chỗ này chúng ta đừng lầm, đó chỉ là những hiện tượng trong Dục giới vị đáo địa. Về sau, hoặc trải một phen ngồi, hai phen ngồi, nhẫn đến một ngày, hai ngày, một tháng, hai tháng lần lần dứt hết không còn đắc thất hay lui sụt. Chính ở trong định chợt biết thân tâm vận động phát ra tám thứ cảm giác. Nghĩa là cảm giác thân đau, ngứa, lạnh, ấm, nhẹ, nặng, nhám, trơn. Có người trong khi ngồi thiền bỗng dưng thấy thân nhẹ như muốn bay, hoảng quá sợ nó bay lên nên mở mắt ra ghị lại. Hoặc thấy thân nặng nề trì xuống như mang đá, có lúc nghe toàn thân ấm ấm, có khi nghe lạnh buốt, hoặc ngứa ngáy, hoặc trơn láng v.v... Những cảm giác ấy đều là hiện tượng Dục giới vị đáo địa phát ra, là ảo giác chứ không có thật. Biết rõ rồi nên dù có thấy gì cũng cười thôi, không sợ, không hoảng hốt. Nghe ngứa ngáy như có con gì bò lăng xăng... cứ yên tịnh thì thắng nó. Nghe thân nhẹ muốn bay bổng thì mở mắt ra, đừng sợ. Những lúc ngồi thấy tướng mình to dần lên hoặc đen sậm lại... đủ thứ. Tất cả đều là trong giai đoạn tu từ Dục giới sắp bước tới Sơ thiền, ở khoảng đó hay có những hiện tượng như vậy. Trong khi cảm giác, thân tâm an định, rỗng rang thư thái, vui vẻ thanh tịnh không có gì sánh bằng. Tuy thân tâm an định nhưng chưa phải là đến Sơ thiền, người tu phải biết rõ chỗ này để khỏi bị lầm, tưởng mình thành thánh rồi cho rằng đã đắc đạo là sai, hiểu đúng thì không có gì nguy hiểm. Ấy là biết tướng “Sổ tức thiền định căn bản thiện căn khai phát”. Sổ tức là đếm hơi thở. Kết quả được an định rỗng rang thư thái đó, là do công phu đếm hơi thở mà được như vậy. Hành giả hoặc ở trong định Dục giới vị đáo địa thoạt nhiên biết hơi thở ra, vào, dài, ngắn, những lỗ chân lông khắp thân đều trống hở. Dùng tâm nhãn thấy cả ba mươi sáu vật ở trong thân, như mở cửa kho thấy các thứ đậu, mè v.v... tâm sợ, mừng, vắng lặng, an vui. Ấy là tướng “Tùy tức đặc thắng thiện căn khai phát”. Người ngồi thiền thấy như không còn hơi thở nữa, tức là thở bằng lỗ chân lông. Khi đó bỗng dưng thấy rõ ba mươi sáu vật trong thân: da, thịt, lông, móng, răng, tóc... cho đến cả bộ xương của mình. Thấy đó là do thiện căn khai phát từ tu tùy tức mà được thù thắng đặc biệt, chứ không có gì lạ. Đến đây cũng còn ở trong định Dục giới vị đáo địa, chưa tới Sơ thiền, đừng tưởng là thánh rồi đi khoe sắp có thần thông, đó là lầm lớn. b. Tướng bất tịnh quán thiện căn khai phát Hành giả nếu được định Dục giới vị đáo địa, ở trong định này thân tâm rỗng lặng, thoạt nhiên thấy thân người nam nữ chết; chết rồi phát sình, nứt nẻ, giòi tửa, máu mủ tươm ra, thấy xương trắng bừa bãi, trong tâm sanh buồn, mừng, nhàm chán sự yêu thương. Đó là tướng “Cửu tưởng thiện căn khai phát”. Quán bất tịnh thiện căn khai phát, không khởi quán bất tịnh nhưng do tu thiền tới định Dục giới vị đáo địa này, tâm rỗng lặng thoạt nhiên thấy, chứ không phải do quán. Thấy thân người nam hoặc người nữ chết, chết rồi sình ra, nứt nẻ, giòi tửa, máu mủ tươm ra, thấy xương trắng bừa bãi... Thấy những thứ đó khiến tâm nhàm chán, đó là tướng Cửu tưởng thiện căn khai phát. Do trước tu về quán bất tịnh, tới đây tâm định phát ra tướng đó. Người ngồi thiền bỗng dưng thấy thây người chết sình trương v.v... nghĩ mình không quán thây người chết sao lại thấy, rồi sanh ra hoảng sợ, đó là chướng ngại. Chúng ta nếu có thấy như vậy đừng sợ, do thiện căn của mình đời trước tu Quán bất tịnh, nên bây giờ định tâm phát ra tướng đó. Biết rõ ràng do công phu đến được địa vị này, chứ không phải là cái gì ở đâu, không phải ma quỷ hiện thây chết cho mình sợ, hiểu vậy thì không bị chướng ngại. Hoặc ở trong định yên lặng chợt thấy bên trong thân nhớp nhúa, bên ngoài thân sình trương, rạn nứt, thân mình xương trắng từ đầu đến chân từng lóng gá nhau. Thấy việc ấy rồi, định tâm an ổn tỉnh ngộ lý vô thường, chán nhàm ngũ dục, không chấp ngã nhân. Đó là tướng “Bội xả thiện căn khai phát”. Bội xả thiện căn khai phát là thấy rõ những thứ trong thân cũng như thây chết sình lên cho tới tan rã ra, thấy từng lóng xương ráp lại với nhau v.v... Thấy việc ấy rồi, định tâm an ổn tỉnh ngộ lý vô thường, chán nhàm ngũ dục, không chấp ngã nhân. Nhờ thấy như vậy nên sanh tâm nhàm chán ngũ dục, bớt được chấp ngã chấp nhân. Hiểu đó là tướng Bội xả thiện căn khai phát thì sự tu không có gì trở ngại. Hoặc trong khi định tâm thấy trong thân tất cả loài phi cầm tẩu thú, đồ mặc, thức ăn uống, phòng nhà, rừng núi thảy đều bất tịnh. Đây là tướng “Đại bất tịnh thiện căn khai phát”. Thấy cái nhà, cái giường, đồ mặc, thức ăn... đều nhớp nhúa, nhìn chỗ nào cũng gớm, đó là thiện căn do trước kia tu thiền quán bất tịnh đến đây phát ra các tướng như vậy. Người không biết khi tu tới đây thấy cái gì cũng gớm rồi sợ mình bị điên, nếu biết thì vui chứ không sợ. Đó chỉ là tướng Đại bất tịnh thiện căn khai phát chứ không có gì lạ. Tất cả sự tu đều có công dụng đưa chúng ta tới chỗ tiến lên, nhưng nếu không hiểu gặp những cảnh đó đâm ra hoảng hốt thì thành trở ngại. c. Tướng từ tâm thiện căn khai phát Hành giả nhân tu Chỉ Quán, hoặc được định Dục giới vị đáo địa, ở trong định này thoạt nhiên phát tâm thương, nhớ tưởng chúng sanh. Hoặc vin nơi người thân, được tướng an vui liền phát thâm định, nội tâm vui vẻ thanh tịnh không thể ví dụ. Hoặc vin nơi người không thân không sơ, kẻ oán thù, nhẫn đến năm loài chúng sanh trong mười phương cũng lại như thế. Sau khi xuất định tâm vẫn vui vẻ thấy người nào gương mặt cũng hòa nhã. Ấy là tướng “Từ tâm thiện căn khai phát”. Tướng Bi tâm, Hỷ tâm, Xả tâm khai phát, so cái này có thể biết. Tướng Từ tâm thiện căn khai phát này, có nhiều người đã trải qua. Tu một thời gian thấy chúng sanh dễ thương quá, ai cũng thương hết, kẻ thân người sơ gì cũng thương, đó là tướng Từ tâm khai phát. Có vị thấy người khổ quá, người này khổ người kia khổ, thương quá nên nhìn ai cũng thấy buồn, đó là tướng Bi tâm khai phát. Có người thấy sao vui lạ, thấy ai cũng vui, cái gì cũng vui cũng cười, đó là tướng Hỷ tâm khai phát. Hoặc thấy ai cũng thương, muốn đem cái này cái kia cho họ, muốn bố thí xả bỏ hết, đó là tướng Xả tâm khai phát. Người tu thiền khi được định Vị đáo địa này, thường phát ra những tướng như vậy, phải biết đây là do định hiện ra. Có nhiều người không biết, thấy mình từ bi quá thương hết chúng sanh, tưởng mình thành Bồ-tát. Nhưng đây mới chỉ là được định tướng Từ tâm thiện căn khai phát. Khi tu có những hiện tượng xảy ra chúng ta biết, cứ thế mà tiến tu không có gì trở ngại, đừng để sanh ra hoảng sợ, cũng đừng có những việc làm quá đáng khiến người khác tưởng mình điên. Thấy ai cũng tội nghiệp, thấy ai cũng khóc... phải biết là do Bi tâm khai phát, biết rồi cười thôi, tự mình kìm chế, gắng tu để vượt qua. Nếu không biết, hiểu lầm, buồn quá vui quá sanh ra nhiều thứ bệnh gây trở ngại cho sự tu. d. Tướng nhân duyên quán thiện căn khai phát Hành giả nhân tu Chỉ Quán, hoặc được định Dục giới vị đáo địa thân tâm an tịnh. Thoạt nhiên tâm sanh giác ngộ, suy tầm các nhân duyên vô minh, hành v.v... trong ba đời, không thấy tướng nhân ngã, lìa đoạn kiến, thường kiến, phá các chấp kiến, được định an ổn, giải tuệ khai phát, tâm sanh pháp hỷ, không nhớ việc thế gian, nhẫn đến trong ngũ ấm, thập nhị xứ, thập bát giới phân biệt cũng như vậy. Đó là tướng “Nhân duyên quán thiện căn khai phát”. Người tu khi được định Dục giới vị đáo địa, bỗng nhiên thấy mình giác ngộ. Suy tầm pháp mười hai nhân duyên, từ vô minh duyên hành, hành duyên thức... quán tới quán lui thấy rõ ràng, biết đầy đủ chín chắn. Đối các tướng nhân, tướng ngã, đoạn kiến, thường kiến... trong ba đời đều phá sạch hết, không còn các kiến chấp, được đinh an ổn, trí tuệ khai phát, tâm sanh hoan hỷ, không nhớ việc thế gian, cho đến ngũ ấm, thập nhị xứ, thập bát giới phân biệt cũng như vậy, biết rõ không nghi ngờ. Đó là tướng Nhân duyên quán thiện căn khai phát. Chúng ta tu được như vậy có nghĩ mình thành Bồ-tát không? Đây là chỗ dễ lầm, tưởng mình thành Phật, thành Bồ-tát, mà thật sự chưa chứng tới Sơ thiền, chứ đừng nói đến các thiền định cao hơn. Nhiều vị tu cứ tưởng mình đã giác ngộ, nói đạo lý trên trời trên mây rất hay, khi gặp việc cũng buồn, cũng khổ, cũng phàm tục. Đó là bệnh. Tu mà không học rất nguy hiểm, dễ lầm lẫn cho mình và làm lầm cả người. e. Tướng niệm Phật thiện căn khai phát Hành giả nhân tu Chỉ Quán hoặc được định Dục giới vị đáo địa thân tâm rỗng lặng. Thoạt nhiên nghĩ nhớ chư Phật có công đức, tướng hảo không thể nghĩ bàn; có pháp thập lực, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng, tam-muội, giải thoát v.v... không thể nghĩ bàn; có thần thông, biến hóa, thuyết pháp không ngăn ngại, lợi ích chúng sanh không thể nghĩ bàn; như thế, những công đức vô lượng không thể nghĩ bàn. Khi khởi niệm ấy liền sanh tâm kính mến, tam-muội khai phát, thân tâm khoái lạc, thanh tịnh an ổn, không có các tướng ác. Sau khi xuất định, thân thể nhẹ nhàng tự biết có công đức cao vọi, được người yêu kính. Ấy là tướng “Niệm Phật tam-muội thiện căn khai phát”. Người tu thiền đến định Dục giới vị đáo địa, tâm rỗng lặng thoạt nhớ tới Phật có công đức, có thần thông, thuyết pháp không ngăn ngại... Khởi nghĩ nhớ tưởng như thế sanh tâm quý kính vô cùng tận, chánh định được khai phát, thân tâm nhẹ nhàng khoái lạc, thanh tịnh an ổn. Sau khi xuất định tự thấy công đức cao vọi, đáng được mọi người quý kính. Đến đây cũng chỉ mới là Niệm Phật tam-muội thiện căn khai phát trong Dục giới vị đáo địa, chứ chưa phải thành Bồ-tát. Nếu người ngang đây lầm tưởng, tự hào cho mình là thánh thì đều rơi vào đường tà rất nguy hiểm. Phần thiện căn khai phát này chúng ta cần nắm vững, biết rõ để tu và dạy người khác tu không bị lầm lẫn. Đó là chỗ thiết yếu trong sự tu tập. Lại nữa, hành giả nhân tu Chỉ Quán, nếu được thân tâm lóng sạch, hoặc phát tướng vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh, tướng nhàm chán sự ăn uống, bất tịnh ở thế gian, tướng khi chết lìa tất cả, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Xả, niệm Thiên, niệm xứ, chánh cần, như ý, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát chánh đạo, không, vô tướng, vô tác, lục độ, các thứ ba-la-mật, thần thông, biến hóa v.v... tướng tất cả pháp môn phát hiện, trong ấy nên rộng phân biệt. Cho nên trong Kinh chép: “Giữ tâm một chỗ không việc gì chẳng xong.” Kết thúc đoạn này nói, người tu Chỉ Quán khi tâm được lóng sạch, những tướng vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh... hiện ra. Tất cả công đức niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên, cho đến ba mươi bảy phẩm trợ đạo, các thứ thần thông biến hóa v.v... tướng tất cả pháp môn phát hiện. Chúng ta phải nên nắm vững biết rõ thì sự tu an ổn, thấu suốt được pháp Phật dạy. Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: “Chế tâm nhất xứ vô sự bất biện”, giữ tâm một chỗ không việc gì chẳng xong. Chúng ta tu giữ tâm không dính mắc, không bị ngoại cảnh lôi kéo, tâm an định thì có những diệu dụng cao siêu phi thường, trước đây không có mà nay có. Đó là sự thật, không phải tưởng tượng. Nhưng phải biết điều nào có lợi, điều nào không. Khi thấy những cảnh thiện căn khai phát, chúng ta phải biết để tiến lên. Biết rồi cứ một bề tu như trước, tiến mãi tiến mãi thì tốt, còn nếu ngang đó hài lòng, tự mãn rằng đã hay rồi, tưởng đã thành thánh thì đó là bệnh. Biết thì có lợi, không biết trở thành hại. Người học tu thiền cần biết rõ, thấy tường tận nếu không khéo thì dễ bị sai lầm, thấy mình ngộ đạo, thấy thành Bồ-tát, thấy như là Phật... đó là bệnh lớn. Chỉ mới ở Dục giới vị đáo địa mà thấy hiện tượng đã như vậy, huống là lên các địa vị trên còn bao nhiêu thứ lạ lùng, siêu thoát. Nếu chúng ta không hiểu thì dễ lầm lẫn, rất nguy hiểm đời tu không đến đâu mà còn làm lầm người khác. Cho nên cần ráng tinh tấn học kỹ những điều này để về sau không lầm. Đó là những phần hết sức quan trọng. 2. Phân biệt chân ngụy Có hai thứ: a. Biện tướng thiền tà ngụy phát hiện Hành giả nếu khi phát các thứ thiền như trước, mỗi pháp tùy nhân hiện ra: hoặc thân xao động, hoặc thân nặng nề như bị vật gì đè lên, hoặc thân nhẹ nhàng muốn bay, hoặc như bị trói buộc, hoặc xiêu vẹo ngủ mê, hoặc rất lạnh, rất nóng, hoặc thấy bao nhiêu cảnh giới khác lạ, hoặc tâm mờ mịt, hoặc khởi nghĩ tưởng dữ, hoặc nhớ các việc thiện tạp nhạp bên ngoài khiến tâm tán loạn, hoặc vui mừng loạn động, hoặc buồn bã lo rầu, hoặc những thú dữ chạm vào rợn người lông dựng đứng, hoặc rất vui khiến say mê. Những thứ tà pháp như thế cùng với thiền đồng phát gọi là tà ngụy. Đoạn này rất quan trọng đối với người tu thiền. Nếu tu mà không giản trạch được tà ngụy thì dễ bị lầm lẫn, tưởng đã đạt được bậc nào trong các thứ bậc tu thiền, nhưng không ngờ mình đang đi vào tà ngụy. Hành giả nếu khi phát các thứ thiền như trước, mỗi pháp tùy nhân hiện ra: hoặc thân xao động. Tôi nhắc kỹ chỗ này, khi ngồi thiền thân xao động, lung lay, đảo như lên đồng, đây là thiền tà ngụy chứ không phải thiền Phật giáo. Có người cho rằng, đó là phản ứng tự nhiên, cứ để nó đảo cho tiêu nghiệp. Nói vậy là sai lầm, lạc vào đường tà không hay, lại xúi người khác làm theo. Ngồi thiền thân phải nghiêm chỉnh, nếu khi nào mỏi mệt ngồi hơi co cúi thì liền sửa cho ngay thẳng, đừng để cho đảo. Từ chư tổ trước cho đến các vị thiền sư, chưa có vị nào ngồi đảo hết, ngồi đảo là thiền tà ngụy. Hoặc thân nặng nề như bị vật gì đè lên. Khi ngồi thiền cảm thấy thân nặng nề như có cái gì đè lên, đó là hiện tượng tà ngụy không tốt, đừng để bị chi phối mà phải làm chủ thắng được nó. Hoặc khi ngồi thiền có những cảm xúc lạ trên thân, phải biết đều là ảo giác không thật, đừng sợ cũng đừng mừng thì tâm bình an, còn mừng cho là được chiến thắng, hay sợ tưởng là quỷ quái gì đến làm hại mình thì sẽ mất tâm an định. Hoặc thân nhẹ nhàng muốn bay. Lúc ngồi thiền thấy thân nhẹ nhàng muốn bay, sợ quá xả không dám ngồi nữa là đúng hay sai? Thấy muốn bay nhưng không bay đi được đâu, đừng sợ. Vì từ sợ sẽ sanh bệnh hoạn làm trở ngại sự tu. Chỉ cần điềm tĩnh, mở mắt nhìn thẳng một lát thì hết, đó là ảo giác trong lúc tu thôi. Những trường hợp này đa số là do ngồi thiền nhắm mắt mà thấy, nên nhớ đừng nhắm mắt. Hoặc như bị trói buộc. Cảm giác như ai trói mình lại, nặng trình trịch không yên, không cục cựa nhúc nhích gì được. Phải biết đó cũng là ảo giác, thong thả xả ra xoa bóp đúng cách thì hết. Hoặc xiêu vẹo ngủ mê, hoặc rất lạnh, rất nóng. Ngồi thiền một hồi nghiêng bao giờ không hay, hoặc ngủ mê không biết. Có khi thấy lạnh cả người, có khi nghe hơi nóng ở dưới phát lên. Gặp những trạng thái đó đều nên bình tĩnh sáng suốt, mở mắt nhìn thẳng một lát sẽ hết, không có gì đáng sợ. Hoặc thấy bao nhiêu cảnh giới khác lạ. Ngồi thiền mà thấy người đi, thấy ánh sáng hay những thứ từ đâu xa hiện tới v.v... Những cảnh giới khác lạ này, đa số đều do ngồi mắt nhắm lâu, hơi mơ mơ giống như mộng, chứ không có thật. Muốn hết chỉ cần mở to mắt, chỉnh thân thẳng lên là được. Hoặc tâm mờ mịt, hoặc khởi nghĩ tưởng dữ, hoặc nhớ các việc thiện tạp nhạp bên ngoài khiến tâm tán loạn. Ngồi thiền mà tâm mờ mịt, lúc đó phải mở mắt ra nhìn thẳng, giữ cho tỉnh sáng. Hoặc khởi tưởng dữ, nghĩ muốn hại người này, trả thù người kia. Hoặc nhớ những việc thiện đã làm như bố thí, cúng dường... suy tính mai kia sẽ đi làm nữa. Ngồi thiền mà tính như vậy có đúng không? Đi cúng dường làm phước thiện là tốt, nhưng lúc ngồi thiền là định tâm, nếu tính toán việc này việc nọ tạp nhạp bên ngoài, làm tâm tán loạn thì hết an rồi. Hoặc vui mừng loạn động, hoặc buồn bã lo rầu. Đang ngồi thiền bỗng thấy tâm hơi lặng, vui mừng quá cười hoài. Hoặc nghĩ tới kỷ niệm xa xưa, hay nhớ cha mẹ bệnh hoạn... liền buồn bã tha thiết, đó đều là bệnh. Hoặc những thú dữ chạm vào rợn người lông dựng đứng, hoặc rất vui khiến say mê. Ví dụ đang ngồi thiền bất thần có rết hay bò cạp bò đụng vào giật mình, tuy nó chưa kẹp mà đã nghe rợn người lên, hoảng hốt muốn đứng dậy chạy. Hoặc ngồi được yên vui quá say mê, thấy như đạt được thiền... Sự thật tất cả những thứ gì làm mình động trong lúc ngồi thiền, đều sai. Nên đây kết thúc nói, những thứ tà pháp như thế cùng với thiền đồng phát gọi là tà ngụy. Những thứ tà định này, nếu người mê thích tức là cùng chín mươi lăm thứ quỷ thần tương ưng, phần nhiều ưa mất trí điên cuồng. Hoặc khi các loài quỷ thần biết được những điều mà người tu thiền ưa thích liền giúp thế lực khiến các thứ tà định, tà trí, biện tài, thần thông làm mê lầm xao động người thế gian. Gặp những thứ tà định này mà ưa thích, khoe rằng đã đạt đạo là hợp với quỷ thần, đi tới chỗ điên cuồng. Có nhiều người thích thần thông, khi ngồi thiền thấy có được thần thông, mừng quá tự khoe mình đã đạt đạo, ai tới liền biết tâm của người đó đang nghĩ gì nói đúng hết, được người nghe nể phục, tưởng vậy là thánh rồi. Nhưng không biết đó là rơi vào đường tà, tự mình lạc đường mà còn dẫn người khác đến chỗ lạc đường. Nếu gặp những người tự cho là có công phu, hoặc khoe được thần thông phép mầu thì chúng ta biết người đó chưa phải chân chánh. Người tu thiền không được có tâm mong cầu, chỉ một bề lắng tâm cho an, trí cho sáng. Tâm an trí sáng là trọng tâm của người tu thiền, còn thần thông hay các thứ lạ lùng thì không cần. Nếu còn tâm ham thích, hôm nào ngồi thiền bất thần có sáng, nói chuyện thao thao bất tuyệt, mãn nguyện tưởng mình ngộ đạo, thuyết pháp giảng dạy rất hay mà bệnh tham sân si chưa hết, thì đó chưa phải thật ngộ đạo, mà là ma trợ lực. Phần đông lầm bởi những thứ xảo ngụy, không biết đó là tà, là do quỷ thần trợ lực chinh phục người khác. Những người tự cho có thần thông, biết được tâm người, nói những điều nghe rất hay, có phép lạ làm mê lầm xao động thế gian, nhưng bản thân họ tham sân si chưa hết, nội tâm chưa trong sạch, ai động tới liền nổi sân, hoặc thấy cái gì quý thì thích, cái gì đẹp thì ưa… nên biết người đó chưa phải thứ thiệt. Biết rõ thì sự tu của chúng ta không lầm lẫn, không uổng phí một đời tu. Những kẻ ngu trông thấy cho là chứng đạo quả, thảy đều tin phục; kỳ thật người kia trong tâm điên đảo, chuyên hành pháp quỷ làm mê loạn thế gian. Chư tổ dạy rất kỹ, chúng ta ham tu mà không chịu tìm hiểu thấu suốt, nên dễ bị lầm lẫn. Chỗ này tôi nhắc lại, ham tu cầu điều thiện, đó là điều tốt. Nhưng ham tu mà lại mong cầu những sự mầu nhiệm lạ lùng, thì cái ham đó không đúng. Tại sao? Bởi chúng ta ham lạ, thích mầu nhiệm nên quỷ thần mới dựa vào nói những điều lạ. Ví dụ có người tới nói chúng ta có của quý cất giấu đâu đó trong nhà, họ chỉ mở ra thấy liền, vậy chúng ta có phục không? Mình không biết mà họ biết, không lạ sao được. Vì vậy khi tu cần phải có trí tuệ học hiểu thấu đáo, biết những thứ lạ lùng đó không phải là chánh. Điều gì giúp chúng ta dẹp tham sân si, thấy đạo lý tu được trong sáng, cái đó mới là chân chánh. Người ấy khi chết hằng không gặp Phật, lại đọa trong các loài quỷ thần. Nếu khi ngồi phần nhiều hành theo pháp ác tức đọa địa ngục. Hành giả khi tu Chỉ Quán, nếu chứng các thứ thiền như thế, có những tướng tà ngụy này liền phải đuổi nó. Làm thế nào đuổi nó? Hoặc biết nó là hư dối, chánh tâm không thọ, không đắm trước liền tự tiêu diệt; nên dùng chánh quán phá nó tức thì dứt sạch. Sự tu hành chưa tới mà do ma quỷ dựa vào gạt gẫm mê hoặc người, khi chết không được gặp Phật lại còn rơi vào quỷ thần. Tu không được gặp Phật lại đi làm quỷ thần, cho nên chúng ta đừng ham thích sự kỳ lạ, thà làm người ngu tốt hơn là quỷ thần, vì sẽ bị đọa lạc hoài không ra khỏi. Chúng ta tu phải thật đúng với chánh pháp của Phật, đừng mê những việc lạ lùng rồi bị lôi cuốn chạy theo, bỏ hết sự nghiệp làm tan hoang gia đình. Phải sáng suốt cẩn thận. Nếu khi ngồi phần nhiều hành theo pháp ác tức đọa địa ngục. Phật dạy người tu thiền phải ngồi chỗ thoáng mát yên tịnh thì việc tu mới tốt, nhưng lại có người ngồi thiền nhét lỗ tai trùm kín lại, đó là làm theo pháp ác, tự mình đi vào con đường sai lầm, đọa địa ngục mà không biết. Nên nói, hành giả khi tu Chỉ Quán, nếu chứng các thứ thiền như thế, có những tướng tà ngụy này liền phải đuổi nó. Đuổi nó không khó, chỉ cần biết nó là giả dối không thật, tâm chánh niệm bình thản không chấp nhận những hiện tượng đó, cũng không ưa thích cảnh lạ, cứ chăm chỉ tu thì nó tự tiêu diệt. Nên dùng chánh quán phá nó tức thì dứt sạch. Quán tất cả pháp là duyên hợp hư giả, hiện tượng đó cũng là tướng giả không thật, biết rõ thì nó dứt sạch. Như vậy khéo biết tu chúng ta dẹp được tà ngụy, còn không biết thì bản thân mình bị tà ngụy rồi lừa bịp người khác để họ cùng rơi trong tà ngụy. Đó là sai lầm, không tốt. b. Biện tướng thiền chân chánh phát hiện Hành giả nếu trong khi ngồi phát các thứ thiền không có những tướng tà ngụy như trước đã nói, tùy mỗi thứ thiền khi phát hiện liền biết cùng với định tương ưng, sáng suốt, thanh tịnh, trong tâm vui mừng, lặng lẽ khoái lạc, không có che đậy, thiện tâm khai phát, lòng tin kính tăng trưởng, trí soi xét phân minh, thân tâm êm dịu, tinh tế rỗng lặng, nhàm chán thế gian, không tác động, không tham muốn, ra vào tự tại, ấy là tướng chánh thiền khai phát. Phần trên là biết tướng thiền tà ngụy, đến đây là biết tướng thiền chân chánh. Tướng thiền chân chánh là thế nào? Nghĩa là tùy mỗi thứ thiền khi phát hiện liền biết cùng với định tương ưng. Khi ngồi thiền thấy phát ra những điều đặc biệt, tâm sáng suốt thanh tịnh, vui mừng nhẹ nhẹ lặng lẽ khoái lạc, rỗng rang không có che đậy, phát khởi lòng từ bi, kính tin Tam bảo, dùng trí phán xét phân minh thấy rõ hư thật, chánh tà không lầm. Đó là cùng định tương ưng. Khi ấy thân tâm nhẹ nhàng êm dịu, tinh tế rỗng lặng, thấy thế gian tạm bợ không phải là chỗ kiên cố lâu dài, tâm sanh nhàm chán, không tác động, không tham muốn, ra vào tự tại, ấy là tướng chánh thiền khai phát. Học qua phần này chúng ta giản trạch được đâu là tà, đâu là chánh. Tà cũng có chỗ vui, nhưng đó là cái vui cười bồng bột sai lầm, chứ không phải là vui nhẹ nhàng trong tâm thanh tịnh chân chánh. Người tu có những hiện tượng lạ dấy lên là từ tâm thanh tịnh trí sáng suốt, chứ không phải từ sức nào ở ngoài dựa vào. Do tâm thanh tịnh biết được lẽ thật, thấy thế gian chỉ là tạm bợ nên không ham muốn. Thấy những điều tốt mà tâm lúc nào cũng yên, trí lúc nào cũng sáng, đó là chánh thiền khai phát. Chúng ta ngồi thiền cũng có những điều lạ, nhưng những điều lạ này phù hợp với đạo đức, giúp cho thân tâm nhẹ nhàng sáng suốt chứ không phải kỳ quặc. Tà thiền thì có cái kỳ quặc làm người thấy lạ, khiến kẻ khác hoang mang kinh sợ, trái với đạo lý. Nhưng làm sao chúng ta biết là tà hay chánh? Người tu theo Phật khi có được những điều hay điều tốt thì tự biết, không được đem đi khoe khoang. Khoe khoang để người tán thán mình, đó là hiếu danh, là tâm tham. Tham danh thì bên trong chứa đủ sân si. Cho nên nếu thấy ai tới vỗ ngực nói tôi là Phật sống, là Bồ-tát thị hiện để giáo hóa, nghe vậy thì xá lui đi vì biết đó không phải là chánh. Tại sao? Trong kinh nói rất rõ ràng, Bồ-tát thị hiện làm cho người hiểu đạo, chứ không phải để được kính trọng lễ lạy. Làm cho hiểu đạo tức là thị hiện như người thường, cũng ăn mặc tu tập như mọi người, nhưng không tham, không mong cầu, mà chỉ nói đạo lý cho người tu đúng với chánh pháp. Chúng ta đừng lầm lẫn, nếu không biết, nghe nói đó là Bồ-tát rồi sợ vô lễ có tội, nên kính lễ cúng dường đủ thứ, đó là không tốt. Có câu chuyện về Hàn Sơn - Thập Đắc ở núi Thiên Thai, Trung Hoa. Không ai biết tên tuổi của hai ngài. Sở dĩ có tên Hàn Sơn là vì vào mùa tuyết lạnh, ngài từ núi đến xin vào chùa ở không xưng tên tuổi, nên mọi người gọi là Hàn Sơn. Thập Đắc là do Phong Can lượm được lúc còn nhỏ, đem gửi vào chùa. Vì lượm được nên đặt tên là Thập Đắc. Hai vị rất thân với nhau, cùng chơi cùng đùa giỡn. Nói năng trên trời trên mây, không ai biết nói gì, cuộc sống vất vưởng như kẻ ăn mày. Mỗi ngày xuống nhà bếp lượm cơm rớt hoặc đồ thừa, đem đi rửa rồi ăn chứ không ăn với chúng tăng, trông rất nhơ nhớp nên trong chúng coi thường. Một hôm có vị quan bị bệnh được người mách, nếu muốn hết bệnh hãy đến chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai, đảnh lễ Hàn Sơn và Thập Đắc thì ông có phước được tiêu hết nghiệp chướng, vì đó là Bồ-tát Văn-thù và Phổ Hiền. Vị quan nghe thế mừng quá, đi vào chùa thưa với thầy trụ trì xin gặp hai ngài. Thầy trụ trì ngạc nhiên, hai kẻ lang thang như ăn mày mà sao quan lớn muốn gặp? Buộc lòng kêu hai ngài tới. Vị quan vừa thấy liền sụp xuống lạy, hai ngài cõng nhau chạy vào rừng mất dạng. Bồ-tát thị hiện là như vậy, không để cho người ta biết. Các ngài làm những hạnh lạ, đi lượm từng hạt cơm ăn là muốn cảnh tỉnh chúng tăng, đừng ăn uống thừa thãi rồi bỏ mang tội. Đến khi có người biết tung tích thì liền bỏ đi, chứ không ngồi đó để cho người lạy. Bồ-tát thật khi bị lộ danh tánh thì bỏ đi, còn Bồ-tát giả hiệu thì vỗ ngực xưng danh lừa gạt người. Chỗ này e người không biết rồi tu lầm lẫn, nên tôi phải nhắc tới nhắc lui cho hiểu. Đáng thương có nhiều Phật tử sợ có lỗi với Bồ-tát, nên khi nghe xưng là Bồ-tát thì cúi đầu lễ lạy, cúng dường để khỏi có lỗi. Đó là điều mà tôi gắng nói cho thông hiểu, đừng để tu mà lầm lẫn. Chúng ta tu Chỉ nên tin vào chánh pháp của Phật nói, còn ai tự xưng hô này kia thì khoan tin. Gần đây nhiều người đồn đãi đức Phật Di-lặc sắp ra đời. Cứ đồn đãi như vậy, mai kia nếu có đứa bé nào bụng hơi to, kỳ quặc một chút, thì sẽ tưởng là Di-lặc ra đời. Đó là lầm to! Trong kinh Phật có dạy, khi nào không còn ai biết đến danh từ Tam bảo nữa thì chừng đó đức Di-lặc mới ra đời. Bây giờ chúng ta ra đường thấy tăng ni đông đảo, chùa chiền không thiếu, kinh sách đầy kho. Người ta còn đang tu theo pháp của Phật trước, vậy Phật Di-lặc ra đời dạy cái gì? Nếu ra đời để dạy pháp khác thì chẳng lẽ Phật này và Phật kia không đồng, Phật này chê Phật kia hay sao? Phật không làm chuyện dư thừa, chỉ khi nào không còn ai biết đến từ Phật pháp nữa thì Phật kế tiếp mới ra đời, để làm sống dậy cái mà người ta quên, không biết. Vậy mà nghe đồn đãi cũng tin, rồi bị người lợi dụng đánh lừa. Như đây nói, người tu thiền đúng đắn có những hiện tượng phát hiện ra đều phù hợp với tâm thanh tịnh, làm cho chúng ta tăng trưởng lòng từ bi, kính tin Tam bảo... như vậy mới là tu thiền chân chánh. Ví như cộng sự với người ác thì thường bị lo phiền, nếu cộng sự với người thiện thì hằng gặp những việc tốt, phân biệt tướng hai thứ thiền tà chánh phát hiện cũng như vậy. Tà hay phát ra những điều lạ xúi giục người ta làm việc kỳ quái, còn chánh thì phát hiện những thứ tốt đẹp hợp với đạo đức, làm cho tâm trong sáng, nhẹ nhàng thảnh thơi. Chúng ta tự xét, nếu thấy sự việc gì đem lại lợi ích cho mình và cho người thì biết đó là chánh, ngược lại là tà. Việc này không đợi ai nói, tự chúng ta cũng có thể biết. 3. Khéo dùng Chỉ Quán nuôi lớn các thiện căn Nếu trong khi ngồi, các thứ thiện căn khai phát nên dùng hai pháp Chỉ Quán tiến tu, khiến nó tăng trưởng. Nếu nên dùng Chỉ thì lấy Chỉ mà tu, nếu nên dùng Quán thì lấy Quán mà tu. Phần trước đã nói đủ, ở đây chỉ lược bày đại ý. Khi thấy vọng niệm lăng xăng cần quán sát để dẹp thì dùng Quán mà tu, nếu vọng khởi buông được lặng thì dùng Chỉ mà tu. Chúng ta tùy duyên linh động, không cố chấp, không bắt buộc. Người tu phải khôn khéo, biết cái gì đúng, cái nào hợp thì tu mới có kết quả tốt, nếu không khéo cứ tu lầm thì kết quả sẽ không tốt. Đó là giản trạch về thiền tà ngụy. CHƯƠNG VIII HIỂU BIẾT MA SỰ Chánh văn: Tiếng Phạn gọi là Ma-la (Māra), đời Tần dịch là Sát. Nó cướp của công đức và giết mạng trí tuệ của người tu hành, nên gọi là ác ma. Sự là, lấy công đức trí tuệ độ thoát chúng sanh vào Niết-bàn là Phật sự, thường phá hoại căn lành của chúng sanh khiến lưu chuyển trong vòng sanh tử là ma sự. Nếu người khéo an tâm trong chánh đạo mới biết đạo càng cao, ma càng thịnh. Phải biết ma sự có bốn loại: 1- Ma phiền não. 2- Ma ấm, nhập, giới. 3- Ma chết. 4- Ma quỷ thần. Ba loại ma trước đều là việc thường ở thế gian và tùy tâm người sanh ra, nên phải tự tâm chân chánh đuổi trừ nó, ở đây không phân biệt. Tướng ma quỷ thần là điều cần phải biết, đây lược nêu ra. Ma quỷ thần có ba loại: 1. Ma tinh mỵ Là loài thú theo mười hai giờ, nó biến hóa làm các thứ hình sắc. Hoặc nó hóa người thiếu nữ, người già nua, nhẫn đến những hình tướng đáng sợ không phải ít để làm não loạn người tu hành. Các loài tinh mỵ này não hại người tu, mỗi loài đến theo giờ của nó, phải biết rành rõ. Nếu giờ Dần (3 giờ - 5 giờ) đến, ắt là loài cọp v.v... Nếu giờ Mẹo (5 giờ - 7 giờ) đến, ắt là loài thỏ, nai v.v... Nếu giờ Thìn (7 giờ - 9 giờ) đến, ắt loài rồng, trạnh v.v... Nếu giờ Tỵ (9 giờ - 11 giờ) đến, ắt loài rắn, trăn v.v... Nếu giờ Ngọ (11 giờ - 13 giờ) đến, ắt loài ngựa, lừa, lạc đà v.v... Nếu giờ Mùi (13 giờ - 15 giờ) đến, ắt loài dê v.v... Nếu giờ Thân (15 giờ - 17 giờ) đến, ắt loài khỉ, vượn v.v... Nếu giờ Dậu (17 giờ - 19 giờ) đến, ắt loài gà, chim v.v... Nếu giờ Tuất (19 giờ 21 giờ) đến, ắt loài chó, chó sói v.v... Nếu giờ Hợi (21 giờ - 23 giờ) đến, ắt loài lợn v.v... Nếu giờ Tý (23 giờ - 01 giờ) đến, ắt loài chuột v.v... Nếu giờ Sửu (01 giờ - 03 giờ) đến, ắt loài trâu bò v.v... Hành giả nếu thấy chúng thường dùng những giờ này đến, tức biết những loài tinh thú ấy, kêu tên nó mà quở trách liền phải tiêu diệt. 2. Ma đôi dịch Nó cũng làm những việc xúc chạm não loạn người tu hành. Hoặc hóa như con sâu con mọt bò lên đầu mặt người vùi chích chớp nhoáng, hoặc bươi vạch dưới hai nách của người, hoặc chợt ôm người giữ người, hoặc kêu vang lên làm ồn náo và hóa hình các loài thú rất nhiều tướng lạ. Khi nó đến não loạn, người tu liền biết nên nhất tâm nhắm mắt lại, thầm mắng nó thế này: “Ta nay đã biết ngươi, ngươi là loài quỷ Thâu-lạp-kiết-chi tà kiến ưa phá giới ngửi mùi ăn lửa trong cõi Diêm-phù-đề, ta nay giữ giới quyết không sợ ngươi.” Nếu người xuất gia nên tụng giới bản, nếu người tại gia nên tụng tam quy ngũ giới v.v... thì bọn quỷ này khúm núm rút lui. Nếu có hóa các thứ tướng mạo làm chướng nạn người tu như thế và các phương pháp đoạn trừ, ở trong kinh thiền có nói rộng. 3. Ma não Bọn ma này hay hóa làm ba thứ cảnh tướng ngũ trần đến phá thiện tâm người. - Hóa cảnh nghịch ý: Là ngũ trần ghê sợ khiến người phải kinh khủng. - Hóa cảnh thuận ý: Là ngũ trần yêu thích khiến người sanh tâm đắm mến. - Hóa cảnh không thuận không nghịch: Là cảnh ngũ trần bình thường làm loạn động tâm người tu hành khiến mất thiền định. Thế nên, ma gọi là “Sát” cũng gọi là “mũi tên hoa”, cũng gọi là “năm mũi tên”, vì nó bắn vào năm giác quan của người. Giữa vật chất và tinh thần nó tạo ra bao nhiêu cảnh giới làm mê lầm não loạn người tu hành, nên gọi là ma. Hóa làm cảnh thuận, như hóa làm hình tượng cha mẹ anh em, chư Phật và nam nữ đẹp đẽ đáng yêu, khiến tâm người đắm trước. Hoặc hóa làm những cảnh nghịch, như hóa cọp, sói, sư tử, la-sát những hình tượng đáng sợ, đến khủng bố người tu hành. Hoặc hóa làm cảnh không thuận không nghịch, tức là việc bình thường làm loạn động khiến mất thiền định, nên gọi là ma. Hoặc nó tạo ra những thứ âm thanh hay dở, những thứ mùi thơm hôi, tạo ra những thứ vị ngọt đắng, những cảnh giới khổ vui đến làm xúc não thân người đều là việc của ma, tướng nó rất nhiều, ở đây không thể kể hết. Tóm phần trọng yếu, nếu tạo những thứ ngũ trần làm não loạn người, khiến mất pháp lành, khởi các phiền não đều là ma quân. Do nó hay phá hoại tính bình đẳng của Phật pháp, khởi các pháp chướng đạo: tham dục, lo buồn, giận hờn, ngủ mê v.v... Như bài kệ trong Kinh nói: Dục ma quân thứ nhất, Ưu sầu đội thứ hai, Đói khát quân thứ ba, Mến yêu là thứ tư, Ngủ mê quân thứ năm, Kinh sợ đội thứ sáu, Nghi hối quân thứ bảy, Giận hờn là thứ tám, Mê danh lợi thứ chín, Ngã mạn là thứ mười. Như thế những thứ quân, Dìm đắm người xuất gia, Ta lấy sức thiền trí, Phá dẹp các quân ma, Được thành Phật đạo rồi, Độ thoát tất cả người. Hành giả đã biết việc ma, cần phải đuổi nó. Phương pháp đuổi có hai: 1/ Tu Chỉ đuổi: Phàm thấy tất cả cảnh ma bên ngoài đều biết là hư dối, không lo không sợ, cũng không thủ không xả hay vọng chấp phân biệt, dứt tâm lặng yên thì ma tự tiêu diệt. 2/ Tu Quán đuổi: Nếu thấy các cảnh ma như trước đã nói, dùng Chỉ đuổi không đi, phải phản quán tâm năng kiến không thấy chỗ nơi thì bọn ma kia chỗ nào mà não loạn? Khi quán như thế ma liền diệt hết. Nếu nó trì hoãn không đi, cần phải chánh tâm, chớ sanh tưởng kinh sợ, không tiếc thân mạng, chánh niệm không động, biết trên bản tánh chân như ma giới tức là Phật giới; nếu ma giới là Phật giới thì chỉ có một không hai; rõ biết như vậy thì ma giới không xả, Phật giới không thủ, Phật pháp tự sẽ hiện tiền, ma cảnh tự nhiên tiêu diệt. Lại nữa, nếu thấy ma cảnh không tiêu chẳng cần phải lo, nếu thấy tiêu diệt cũng chớ sanh mừng. Vì cớ sao? Vì chưa từng thấy có người ngồi thiền thấy ma hóa làm cọp sói đến ăn thịt, cũng chưa từng thấy ma hóa làm nam nữ đến kết làm vợ chồng, chính nó là huyễn hóa. Người ngu không rõ, tâm sanh kinh sợ và khởi lòng tham đắm, nhân đó mà tâm loạn, mất thiền định và sanh cuồng, tự chuốc lấy họa hoạn đều tại mình không có trí tuệ mà thọ hại, không phải tại ma gây nên. Nếu các ma cảnh làm não loạn người tu, hoặc trải qua nhiều tháng đến cả năm mà không đi, chỉ phải đoan tâm chánh niệm cho kiên cố, không tiếc thân mạng, chớ ôm lòng lo sợ, phải tụng các kinh Đại thừa, Phương đẳng và thần chú trị ma, thầm tụng niệm và hằng nhớ Tam bảo. Nếu khi xuất định cũng phải tụng chú để tự đề phòng, sám hối, hổ thẹn và tụng giới luật, tà không can phạm được chánh, lâu lâu nó tự diệt. Ma sự rất nhiều nói không thể hết, phải khéo mà biết nó. Thế nên, người sơ tâm tu hành cần phải gần gũi thiện tri thức. Nếu có những việc nạn như vậy, ấy là ma nhập tâm người hay khiến người tâm thần cuồng loạn, hoặc mừng hoặc lo, nhân đó thành bệnh đến chết. Hoặc khi ma cho được tà thiền định, trí tuệ, thần thông, đà-la-ni, thuyết pháp giáo hóa, người đều kính phục, về sau phá hoại việc lành xuất thế của người và phá hoại chánh pháp. Những việc ma như thế, có nhiều loại sai biệt không thể nói hết. Nay lược chỉ bày những điều cần yếu để cho người tu trong lúc tọa thiền không lầm nhận các cảnh giới ma. Nói tóm lại, nếu muốn dẹp tà về chánh phải quán thật tướng của các pháp, khéo tu Chỉ Quán thì không có cái tà nào mà không dẹp được. Cho nên trong kinh luận nói: “Trừ thật tướng của các pháp, kỳ dư tất cả là ma sự.” Như bài kệ nói: Nếu phân biệt nhớ tưởng, Tức là lưới của ma, Không động, không phân biệt, Ấy tức là pháp ấn. Giảng: Tiếng Phạn gọi là Ma-la, đời Tần dịch là Sát. Nó cướp của công đức và giết mạng trí tuệ của người tu hành, nên gọi là ác ma. Phần đông chúng ta hay sợ ma, ở chúng ngồi chung thiền đường thì không sợ, còn ở thất một mình trong đêm khuya ngồi lặng lẽ thì dễ sợ ma, cho nên đây nói về ma sự. Sao gọi là ma? Vì nó cướp mất công đức và phá hoại trí tuệ sáng suốt của người tu, nên gọi nó là ác ma. Sự là, lấy công đức trí tuệ độ thoát chúng sanh vào Niết-bàn là Phật sự, thường phá hoại căn lành của chúng sanh khiến lưu chuyển trong vòng sanh tử là ma sự. Phật sự là lấy công đức trí tuệ độ thoát chúng sanh vào Niết-bàn. Bởi đạo Phật là đạo giác ngộ, chúng ta tu theo đạo giác ngộ thì phải dùng trí tuệ giáo hóa giúp cho chúng sanh mở sáng mắt tuệ, dẹp sạch phiền não vào Niết-bàn, đó là Phật sự. Ngược lại, cái gì thúc đẩy khuyến khích chúng ta làm, mà những việc làm đó phá hoại căn lành của chúng sanh, khiến lưu chuyển trong vòng sanh tử luân hồi, thì đó là ma sự. Nếu người khéo an tâm trong chánh đạo mới biết đạo càng cao, ma càng thịnh. Phải biết ma sự có bốn loại. Người tu có đạo càng cao thì ma lại càng thịnh. Chúng ta nghe nói như vậy liền sợ cho rằng tu ít ít không có ma, tu nhiều ma phá khó tu. Vấn đề này phải hiểu cho kỹ. Người tu là người phát nguyện mạnh mẽ thực hiện được lời Phật tổ dạy, chứ không có tâm mong mỏi riêng tư hoặc cầu những việc kỳ quái. Cho nên người tu hành chân chánh khi gặp việc biết thì không phải ma, còn không biết thì nó thành ma. Như có người đang tu nghe người khác dọa nói, tu vừa vừa tu quá ma phá, vì đạo càng cao ma càng thịnh. Hoặc nghe nói tụng kinh ít ít thôi, tụng Kim Cang, Pháp Hoa nhiều coi chừng đổ nghiệp v.v... Nghe vậy liền sợ thối lui. Nghiệp ở đâu mà đổ? Đổ hết thì sạch nghiệp có gì mà sợ. Nếu tu mà nghiệp còn nguyên mới đáng sợ, còn đổ hết nghiệp thì phải mừng, vì không còn chứa chấp nữa. Nếu chúng ta phát nguyện tu hạnh nhẫn nhục, nhưng gặp ai họ cũng vái chào mình thì có gì đâu mà nhẫn. Thỉnh thoảng có người vô cớ mắng chửi đánh đập mình, chúng ta phải nghĩ đó là Bồ-tát đến thử coi mình có hành theo lời nguyện không, chứ đừng cho là tại tu nhiều ma tới phá. Tu nhẫn nhục mà không có người chửi thì làm sao biết nhẫn được hay chưa. Có người tới làm những việc không thể chịu nổi mà nhẫn được tức là thành tựu được hạnh nhẫn nhục. Người chịu chọc phá để cho mình tròn hạnh nhẫn thì đó là Bồ-tát chứ không phải ma. Như vậy khi tu bị phá thì đừng nghĩ là ma, mà thấy như Bồ-tát tới thử coi mình chịu nổi không, nếu vượt qua được là thành công. Ví dụ khuya nay phát nguyện ngồi thiền hai tiếng, đang ngồi bất thần có con rắn bò tới, lúc đó nếu nghĩ mình mới phát nguyện tu liền bị ma phá thì sẽ bỏ chạy vì sợ rắn cắn chết, vậy là nguyện của mình không thành. Nếu can đảm nguyện ngồi hai tiếng thì chấp nhận nhắm mắt, dù chết cũng vẫn ngồi đó, quyết tâm một hồi rắn bò đi chỗ khác, là thành công. Rắn đó cũng là ma, cũng là Bồ-tát. Hoảng sợ không dám ngồi thiền nữa thì đó là ma phá, còn quyết tâm dù chết vẫn không thối lui thì đó là Bồ-tát giúp mau thành tựu đạo Bồ-đề. Càng bị phá càng tu nhiều thêm, càng quyết tâm hơn nữa, nhất định thành công. Cho nên người tu mà sợ ma phá thì không thể tu tiến, còn người quyết tâm dám liều chết để tiến thì người đó không bao giờ bị lui sụt. Một cô ni thuật lại tôi nghe, cô đang ngồi thiền ở trong thất, chợt nghe hai bàn tay lành lạnh, nhìn xuống thấy con rắn nằm khoanh trong tay. Cô nhắm mắt lại định tâm một hồi nghe nhè nhẹ, mở mắt ra nhìn không thấy con rắn, nó đã bò đi đâu mất. Như vậy con rắn đâu giết mình, chẳng qua là thử thách chút thôi. Nhờ can đảm không sợ sệt nên trở thành tốt. Chúng ta nghe đó để kinh nghiệm, trong lúc tu có những việc gì lạ, cứ thản nhiên không sợ thì mọi việc đều tốt đẹp. Đừng nghĩ sợ ma phá rồi không dám tu, làm uổng phí đi đời tu của mình. 1- Ma phiền não. 2- Ma ấm, nhập, giới. 3- Ma chết. 4- Ma quỷ thần. Ba loại ma trước đều là việc thường ở thế gian và tùy tâm người sanh ra, nên phải tự tâm chân chánh đuổi trừ nó, ở đây không phân biệt. Tướng ma quỷ thần là điều cần phải biết, đây lược nêu ra. Ma phiền não. Ma phiền não mỗi người đều có sẵn, khi tu chúng ta cố tâm tiến lên, dẹp bỏ những điều xấu tệ ở nội tâm cho trong sáng thanh tịnh, đó là việc thiết yếu. Nhưng cố bỏ đôi lúc nó có phản ứng ngược lại, nên nhiều khi bực bội giận hờn. Có một số Phật tử nói khi chưa đi chùa thì ít phiền não, giờ đi chùa nhiều sao phiền não nhiều quá, hết muốn đi chùa. Đi chùa là để dẹp phiền não mà tại sao lại sanh phiền não? Đâu phải đức Phật hay quý thầy làm cho chúng ta phiền não, mà tại bệnh ưa phiền giận của chúng ta, gặp người này nói trái ý giận chút, người kia nói trái ý phiền chút. Lúc ở nhà chỉ có ba bốn người thì có ba bốn phiền giận, vào chùa huynh đệ đông cả trăm người, kẻ thế này người thế kia, mỗi người mỗi ý mỗi người mỗi tư cách, nên đụng tới cái gì cũng sanh phiền não. Đi chùa nhiều phiền não nhiều là tại chỗ đó. Chùa là nơi tụ hội đông đảo, bản thân mình lại dễ sanh phiền não, nên đi chùa nhiều thành phiền não nhiều. Phiền não về kể lại người khác nghe, họ khuyên phiền não quá đừng nên đi chùa, nghe khuyên cũng có lý thôi không đi chùa nữa, mà không đi chùa tức là thôi tu rồi. Như vậy phiền não đâu phải tại chùa, tại Phật hay tăng ni, mà tại cái tâm dễ dính mắc của mình. Bỏ dính mắc thì không có phiền não. Đi chùa càng nhiều thì thêm nhiều kinh nghiệm, thấy người tốt hạnh này, người hay hạnh kia, chúng ta học hỏi bắt chước để tu tập thì đâu có phiền não. Bởi tới chùa không chịu thấy cái tốt, mà chỉ thấy toàn cái xấu nên phiền não nhiều. Chúng ta là Phật tử có tâm muốn dẹp những điều xấu, nên đi chùa học tu để bỏ dần dần, chứ đâu phải là người tốt mới đến chùa. Đó là những điều mà Phật tử phải hiểu để tu không trái với đạo lý. Ma phiền não ngăn trở chúng ta trong lúc tu thiền, ngăn trở chúng ta đến với đạo, vì vậy khi tu vừa có niệm phiền não liền bỏ, khởi nghĩ đây là ma phiền não muốn phá công đức của ta, nó cướp công đức và giết mạng trí tuệ của người tu hành. Chúng ta đi chùa nghe giảng kinh để mở sáng trí tuệ, mà bị phiền não không muốn đi, đó là làm cho trí tuệ suy giảm, là ma phiền não. Hiểu vậy thì chúng ta dẹp bỏ phiền não, đi chùa để làm Phật sự tăng trưởng công đức, đó là việc thiết thực. Phật tử đừng sợ ma mà nên sợ mình bị kẹt chấp, vì kẹt chấp thì công đức không thể đầy đủ được. Đó là nói về ma phiền não. Ma ấm, nhập, giới. Ấm là ngũ ấm, nhập là mười hai nhập, giới là mười tám giới. Ma ấm là khi muốn làm việc thiện, muốn tu hành mà thân này bệnh hoạn hoài, khiến tu không được, trở ngại việc lành. Mười hai nhập là sáu căn và sáu trần hợp lại làm tâm bị kẹt nhiễm. Mười tám giới gồm căn trần thức, ba thứ đó dính kẹt nhau làm cho sự tu hành không tiến. Những thứ đó cụ thể nơi thân nơi cảnh, làm cho chúng ta đắm nhiễm nên gọi là ma. Trong bốn thứ ma thì ma phiền não, ma ấm nhập giới và ma chết, ba thứ ma này ở ngay nơi thân tâm sanh ra, nên phải tu tập chân chánh đuổi trừ nó, còn tướng ma quỷ thần là điều cần phải biết, nên đây lược nêu ra. Ma quỷ thần có ba loại: 1. Ma tinh mỵ Là loài thú theo mười hai giờ, nó biến hóa làm các thứ hình sắc. Hoặc nó hóa người thiếu nữ, người già nua, nhẫn đến những hình tướng đáng sợ không phải ít để làm não loạn người tu hành. Các loài tinh mỵ này não hại người tu, mỗi loài đến theo giờ của nó, phải biết rành rõ. Nếu giờ Dần (3 giờ - 5 giờ) đến, ắt là loài cọp v.v... Nếu giờ Mẹo (5 giờ - 7 giờ) đến, ắt là loài thỏ, nai v.v... Nếu giờ Thìn (7 giờ - 9 giờ) đến, ắt loài rồng, trạnh v.v... Nếu giờ Tỵ (9 giờ - 11 giờ) đến, ắt loài rắn, trăn v.v... Nếu giờ Ngọ (11 giờ - 13 giờ) đến, ắt loài ngựa, lừa, lạc đà v.v... Nếu giờ Mùi (13 giờ - 15 giờ) đến, ắt loài dê v.v... Nếu giờ Thân (15 giờ - 17 giờ) đến, ắt loài khỉ, vượn v.v... Nếu giờ Dậu (17 giờ - 19 giờ) đến, ắt loài gà, chim v.v... Nếu giờ Tuất (19 giờ 21 giờ) đến, ắt loài chó, chó sói v.v... Nếu giờ Hợi (21 giờ - 23 giờ) đến, ắt loài lợn v.v... Nếu giờ Tý (23 giờ - 01 giờ) đến, ắt loài chuột v.v... Nếu giờ Sửu (01 giờ - 03 giờ) đến, ắt loài trâu bò v.v... Hành giả nếu thấy chúng thường dùng những giờ này đến, tức biết những loài tinh thú ấy, kêu tên nó mà quở trách liền phải tiêu diệt. Đây nói mười hai giờ theo xưa, nếu ngồi thiền những giờ đó mà thấy tướng lạ đến quấy nhiễu thì biết là loại ma gì, kêu tên quở trách thì nó hết. 2. Ma đôi dịch Nó cũng làm những việc xúc chạm não loạn người tu hành. Hoặc hóa như con sâu con mọt bò lên đầu mặt người vùi chích chớp nhoáng, hoặc bươi vạch dưới hai nách của người, hoặc chợt ôm người giữ người, hoặc kêu vang lên làm ồn náo và hóa hình các loài thú rất nhiều tướng lạ. Khi nó đến não loạn, người tu liền biết nên nhất tâm nhắm mắt lại, thầm mắng nó thế này: “Ta nay đã biết ngươi, ngươi là loài quỷ Thâu-lạp-kiết-chi tà kiến ưa phá giới ngửi mùi ăn lửa trong cõi Diêm-phù-đề, ta nay giữ giới quyết không sợ ngươi.” Nếu người xuất gia nên tụng giới bản, nếu người tại gia nên tụng tam quy ngũ giới v.v... thì bọn quỷ này khúm núm rút lui. Nếu có hóa các thứ tướng mạo làm chướng nạn người tu như thế và các phương pháp đoạn trừ, ở trong kinh thiền có nói rộng. Các loài này chúng ta cũng thường thấy. Ngồi thiền mà nghe con gì nhỏ nhỏ bò bò như chui vào khóe mắt, hoặc muốn chui vào lỗ tai làm khó chịu, đó gọi là ma đôi dịch. Ma này không có gì quan trọng, chỉ cần biết rồi kêu tên mắng nó. Ta nay đã biết ngươi, ngươi là loài quỷ Thâu-lạp-kiết-chi tà kiến ưa phá giới ngửi mùi ăn lửa trong cõi Diêm-phù-đề, ta nay giữ giới quyết không sợ ngươi. Không thèm sợ nó thì nó hết. Hoặc không nhớ tên dài dòng, chỉ quở nó là ma quái, không biết tu hành tới đây quậy phá, ta tu hành đúng giới luật không sợ các ngươi. Nói là ma vì lúc ngồi thiền nó bò lung tung, làm cho tâm mình mất thiền định, nên gọi nó là ma. Chúng ta đừng sợ, biết là hư giả thì nó hết chứ không có gì nguy hiểm. 3. Ma não Bọn ma này hay hóa làm ba thứ cảnh tướng ngũ trần đến phá thiện tâm người. - Hóa cảnh nghịch ý: Là ngũ trần ghê sợ khiến người phải kinh khủng. - Hóa cảnh thuận ý: Là ngũ trần yêu thích khiến người sanh tâm đắm mến. - Hóa cảnh không thuận không nghịch: Là cảnh ngũ trần bình thường làm loạn động tâm người tu hành khiến mất thiền định. Thế nên, ma gọi là “Sát” cũng gọi là “mũi tên hoa”, cũng gọi là “năm mũi tên”, vì nó bắn vào năm giác quan của người. Giữa vật chất và tinh thần nó tạo ra bao nhiêu cảnh giới làm mê lầm não loạn người tu hành, nên gọi là ma. Hóa làm cảnh thuận, như hóa làm hình tượng cha mẹ anh em, chư Phật và nam nữ đẹp đẽ đáng yêu, khiến tâm người đắm trước. Hoặc hóa làm những cảnh nghịch, như hóa cọp, sói, sư tử, la-sát những hình tượng đáng sợ, đến khủng bố người tu hành. Hoặc hóa làm cảnh không thuận không nghịch, tức là việc bình thường làm loạn động khiến mất thiền định, nên gọi là ma. Hoặc nó tạo ra những thứ âm thanh hay dở, những thứ mùi thơm hôi, tạo ra những thứ vị ngọt đắng, những cảnh giới khổ vui đến làm xúc não thân người đều là việc của ma, tướng nó rất nhiều, ở đây không thể kể hết. Tóm phần trọng yếu, nếu tạo những thứ ngũ trần làm não loạn người, khiến mất pháp lành, khởi các phiền não đều là ma quân. Do nó hay phá hoại tính bình đẳng của Phật pháp, khởi các pháp chướng đạo: tham dục, lo buồn, giận hờn, ngủ mê v.v... Ma não này hóa ra cọp, sói, sư tử... những cảnh tướng ngũ trần đáng sợ, khiến người phải kinh khủng, đó là loại ma hóa nghịch cảnh. Hoặc ma hóa cảnh thuận ý, hóa cảnh không thuận không nghịch, trong khi tu chúng ta nên biết rõ các loại ma này. Ma gọi là Sát cũng gọi là mũi tên hoa, cũng gọi là năm mũi tên. Tại sao gọi là mũi tên hoa? Vì mới thấy nó đẹp nhưng khi dính vào thì đau nhức khó chịu, đó là ma theo cảnh thuận. Ma bày ra nhiều thứ, thứ nào cũng trở ngại sự tu hành, làm chúng ta mê nhiễm chướng ngại tâm thanh tịnh của mình. Cho nên khi tất cả hiện tượng khởi lên sanh chướng ngại sự tu hành thì biết đó là tướng của ma, chúng ta đừng sợ cứ chánh tâm quán các tướng đó là hư dối, như trong kinh Kim Cang Phật dạy “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai”. Thấy các tướng biết giả dối là thấy Phật, còn thấy thật rồi sợ là thấy ma. Khi thấy tất cả hình tướng đáng yêu đáng sợ, chúng ta đều quán theo lời Phật dạy, chí tâm tưởng niệm như vậy thì ma tan mất. Nếu thấy mà sanh mừng sợ thì đó là bệnh. Như vậy tuy ma có nhiều thứ nhưng chúng ta chỉ cần giữ tâm thanh tịnh sáng suốt, đừng cho xao động sợ sệt, là chúng ta chiến thắng ma. Trường hợp thấy có gì lạ mà tâm rung rinh, bình thản không được, thì nhớ lời Phật dạy “Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bọt bóng, như sương cũng như điện, phải luôn quán như vậy” là phá được hết tất cả các thứ ma. Chúng ta tu dường như có nhiều trở ngại mà thật không có gì trở ngại, nếu luôn luôn khéo biết thì sự tu hành chắc chắn thành công. Như bài kệ trong Kinh nói: Dục ma quân thứ nhất, Ưu sầu đội thứ hai, Đói khát quân thứ ba, Mến yêu là thứ tư, Ngủ mê quân thứ năm, Kinh sợ đội thứ sáu, Nghi hối quân thứ bảy, Giận hờn là thứ tám, Mê danh lợi thứ chín, Ngã mạn là thứ mười. Như thế những thứ quân, Dìm đắm người xuất gia, Ta lấy sức thiền trí, Phá dẹp các quân ma, Được thành Phật đạo rồi, Độ thoát tất cả người. Bài kệ kể về mười thứ quân ma. Chúng ta kiểm lại xem mình có bị ma nào không? Thứ nhất ma tham dục, thứ hai ma lo buồn, thứ ba ma sợ đói thiếu, thứ tư ma mến yêu, thứ năm ma ngủ mê, thứ sáu ma kinh sợ, thứ bảy ma nghi ngờ hối tiếc, thứ tám ma giận hờn, thứ chín ma mê danh, thứ mười ma ngã mạn. Mười thứ ma này trong tâm chúng ta có đủ, nên ngồi lại tu cứ sợ ma. Ma bên trong có đủ mà sợ ma bên ngoài phá cái gì? Người khéo tu phải quán chiếu xem xét lại nội tâm, làm sao cho ma ở trong giảm bớt thì ma bên ngoài không cách gì phá được. Muốn cho ma ở ngoài không xâm nhập thì phải thấy rõ ác ma đang ẩn náu ở trong, tìm đủ cách dẹp sạch nó. Chúng ta tu sớm thấy được những ma trong tâm niệm của mình, gìn giữ sửa đổi cho trong sạch, đó là điều thiết yếu, chứ đừng chỉ lo sợ ma bên ngoài mà thối thất việc tu tập. Như thế những thứ quân, Dìm đắm người xuất gia, Ta lấy sức thiền trí, Phá dẹp các quân ma. Những quân ma làm cho người xuất gia bị chìm đắm, không thoát ra khỏi biển khổ được. Muốn thoát khỏi phải lấy sức thiền định và trí tuệ phá dẹp nó, nếu không thiền định, không trí tuệ thì không làm sao dẹp được quân ma. Được thành Phật đạo rồi, Độ thoát tất cả người. Chúng ta chưa thành Phật mà muốn độ mọi người thì không thể độ được. Vì vậy người tu phải phát nguyện lớn, nguyện thành Phật đạo để độ tất cả chúng sanh. Kể cả quân ma còn phải độ hết, huống là kẻ oán người thân. Thế nên người có ân nghĩa cũng độ, kẻ không ân nghĩa cũng độ, độ tất cả cùng đạt đạo, không giới hạn một chỗ nào. Hành giả đã biết việc ma, cần phải đuổi nó. Phương pháp đuổi có hai: 1/ Tu Chỉ đuổi: Phàm thấy tất cả cảnh ma bên ngoài đều biết là hư dối, không lo không sợ, cũng không thủ không xả hay vọng chấp phân biệt, dứt tâm lặng yên thì ma tự tiêu diệt. 2/ Tu Quán đuổi: Nếu thấy các cảnh ma như trước đã nói, dùng Chỉ đuổi không đi, phải phản quán tâm năng kiến không thấy chỗ nơi thì bọn ma kia chỗ nào mà não loạn? Ma ở ngoài phải tu Chỉ để phá dẹp nó, tức là định tâm không nghĩ tưởng, không lo sợ thì quân ma tự lùi. Nếu dùng Chỉ đuổi ma không đi thì nên quán lại tâm năng kiến của mình, tức là quán chiếu cái tâm thấy ma biết ma đó, xem nó ở đâu. Xét tìm không thấy chỗ nơi thì ma không có chỗ nào não hại được. Khi quán như thế ma liền diệt hết. Nếu nó trì hoãn không đi, cần phải chánh tâm, chớ sanh tưởng kinh sợ, không tiếc thân mạng, chánh niệm không động, biết trên bản tánh chân như ma giới tức là Phật giới; nếu ma giới là Phật giới thì chỉ có một không hai; rõ biết như vậy thì ma giới không xả, Phật giới không thủ, Phật pháp tự sẽ hiện tiền, ma cảnh tự nhiên tiêu diệt. Nếu chúng ta tu Quán đuổi mà nó trì hoãn không đi thì cần phải dùng chánh tâm, quán Phật giới ma giới không hai, cảnh giới Phật cảnh giới ma cả hai đều không thật. Cảnh giới Phật không thật thì cảnh giới ma làm sao thật được, vì cảnh Phật và cảnh ma đều từ tự tâm mình phát ra, cho nên không thủ không xả. Không thủ cảnh giới Phật, không xả cảnh giới ma, vậy là Phật pháp hiện tiền, ma cảnh tự nhiên tiêu diệt. Lại nữa, nếu thấy ma cảnh không tiêu chẳng cần phải lo, nếu thấy tiêu diệt cũng chớ sanh mừng. Vì cớ sao? Vì chưa từng thấy có người ngồi thiền thấy ma hóa làm cọp sói đến ăn thịt, cũng chưa từng thấy ma hóa làm nam nữ đến kết làm vợ chồng, chính nó là huyễn hóa. Thấy ma tới phá chúng ta liền biết là hư giả không thật, nó lặng mất đừng mừng, nó chưa lặng cũng đừng sợ. Vì sao? Vì có mừng sợ là rơi vào cảnh giới của ma. Nhiều người thấy ma hóa ra cọp sói, rắn rít v.v... sợ nó cắn ăn thịt mình, nhưng xét kỹ lại xem có ai ngồi thiền bị ma ăn thịt không? Chúng ta nghe nói ma liền sợ, đó là tưởng tượng thiếu thực tế. Người khéo tu thì không có gì sợ, dù ma hiện ra đuổi không đi vẫn không sợ. Định tâm thì nó tự hết. Có ma nam, ma nữ nào tới kết làm người thân với người tu thiền không? Không. Nó chỉ lừa gạt thôi chứ không làm gì được, chúng ta đừng sợ mà mất thời giờ tu tập. Người ngu không rõ, tâm sanh kinh sợ và khởi lòng tham đắm, nhân đó mà tâm loạn, mất thiền định và sanh cuồng, tự chuốc lấy họa hoạn đều tại mình không có trí tuệ mà thọ hại, không phải tại ma gây nên. Người ta cứ ngỡ ma làm mình đau, làm cho sanh chứng này tật kia, nhưng sự thật ma không làm gì được hết. Do khi thấy nó người ta hoảng sợ khiến tâm rối loạn sanh cuồng điên, rồi nói ma bắt. Chúng ta ngu mê không nắm vững tinh thần tu hành, thấy những điều lạ liền sợ hãi hoảng hốt, từ đó sanh bệnh. Người trí thấy cái gì tới cũng thản nhiên, biết ma chỉ là bóng dáng đâu có gì đáng sợ. Nếu các ma cảnh làm não loạn người tu, hoặc trải qua nhiều tháng đến cả năm mà không đi, chỉ phải đoan tâm chánh niệm cho kiên cố, không tiếc thân mạng, chớ ôm lòng lo sợ, phải tụng các kinh Đại thừa, Phương đẳng và thần chú trị ma, thầm tụng niệm và hằng nhớ Tam bảo. Nếu khi xuất định cũng phải tụng chú để tự đề phòng, sám hối, hổ thẹn và tụng giới luật, tà không can phạm được chánh, lâu lâu nó tự diệt. Ma sự rất nhiều nói không thể hết, phải khéo mà biết nó. Có nhiều cách để đối trị ma cảnh, như tụng các kinh Đại thừa Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Bát-nhã... Hoặc sám hối, phát tâm hổ thẹn, gìn giữ giới luật tinh nghiêm, ma từ từ sẽ đi không làm hại được. Thế nên, người sơ tâm tu hành cần phải gần gũi thiện tri thức. Nếu có những việc nạn như vậy, ấy là ma nhập tâm người hay khiến người tâm thần cuồng loạn, hoặc mừng hoặc lo, nhân đó thành bệnh đến chết. Hoặc khi ma cho được tà thiền định, trí tuệ, thần thông, đà-la-ni, thuyết pháp giáo hóa, người đều kính phục, về sau phá hoại việc lành xuất thế của người và phá hoại chánh pháp. Những việc ma như thế, có nhiều loại sai biệt không thể nói hết. Nay lược chỉ bày những điều cần yếu để cho người tu trong lúc tọa thiền không lầm nhận các cảnh giới ma. Ma có nhiều thứ nhưng điều trọng tâm chúng ta phải nhớ là ma không làm hại được người, chỉ do chúng ta sợ hãi hoảng hốt sanh ra bệnh cuồng loạn. Vì vậy cần phải hiểu biết cho rõ. Như trường hợp, có người rất tha thiết tu hành nhưng vì không hiểu đạo lý căn bản, khi tu được những định tà cũng có thần thông, thuyết pháp rất hay mọi người kính phục, thời gian sau phá giới phạm tội... các thứ định được kia đều mất. Đó là tà thiền, do không khéo học hiểu mà bị sai lầm. Nói tóm lại, nếu muốn dẹp tà về chánh phải quán thật tướng của các pháp, khéo tu Chỉ Quán thì không có cái tà nào mà không dẹp được. Cho nên trong kinh luận nói: “Trừ thật tướng của các pháp, kỳ dư tất cả là ma sự.” Như bài kệ nói: Nếu phân biệt nhớ tưởng, Tức là lưới của ma, Không động, không phân biệt, Ấy tức là pháp ấn. Chúng ta tu đa số đều có tâm lo sợ, sợ đêm khuya ngồi yên một mình ma tới phá không biết làm sao trị. Có người trước khi tu thiền học bùa chú, để ma tới vẽ bùa thổi cho nó bay đi. Nghĩ vậy tưởng chừng như hay, nhưng sự thật không hay. Ở đây dạy rằng trừ thật tướng của các pháp, kỳ dư tất cả là ma sự. Muốn trừ quân ma dẹp tà về chánh, phải quán thật tướng của các pháp. Các pháp không có tự tánh, đều do nhân duyên sanh, hư dối không thật. Khi ma hiện ra với bất cứ hình thức nào, chúng ta cũng đều biết đó là duyên hợp hư dối không thật. Như xem múa lân, biết con lân là giả thì đâu có sợ. Tưởng thật mới sợ, còn biết giả thì sợ làm gì. Vì vậy khi quán thật tướng của các pháp thì không còn sợ hãi, đó là chánh pháp. Đức Phật ngồi tu dưới cội Bồ-đề, ma vương hiện ra những mỹ nữ kiều diễm tới dụ dỗ, ngài dùng trí tuệ thấy đúng như thật để đuổi nó. Ngài nói: “Đãy da hôi thối! Đi, ta không có dùng”, ma vương xấu hổ rút lui. Khi ma hiện hình đầu trâu mặt ngựa cầm gươm giáo vây quanh, ngài thiền định tâm không dao động, ma bao vây một hồi rồi bỏ đi. Phật nói: “Ta dùng cây cung thiền định và mũi tên trí tuệ để dẹp phá ma quân.” Phật lấy thiền định và trí tuệ để trị ma, còn chúng ta nhát quá nên muốn dùng bùa chú để trị ma, đó không phải là chánh. Nếu tâm bất động thì không có ma nào phá được, còn khởi tâm lo sợ là bị ma phá. Nếu phân biệt nhớ tưởng, Tức là lưới của ma, Không động, không phân biệt, Ấy tức là pháp ấn. Chúng ta ngồi thiền thấy những cảnh lạ nhớ định tâm, không nghĩ không tưởng, tâm an định thì ma biến mất, hoặc dùng trí tuệ quán chiếu phá dẹp nó. Dùng thiền định và trí tuệ để trị ma đó là cách hay hơn tất cả, nếu thấy ma rồi phân biệt ma này dữ v.v... là rơi vào lưới của ma. Pháp ấn đuổi ma là ở chỗ đó. Người tu đừng sợ ma quái ở bên ngoài mà chỉ sợ tâm mình không an định. Thiền định và trí tuệ là gốc, là phương pháp trị ma hay nhất, chúng ta khéo nhớ để ứng dụng tu tập. CHƯƠNG IX TRỊ BỆNH Chánh văn: Hành giả chuyên tâm tu hành, hoặc tứ đại có bệnh là vì dùng quán tâm, quán hơi thở kích động bệnh cũ phát khởi. Hoặc không khéo điều hòa ba việc: thân, tâm và hơi thở, trong ngoài có chỗ sai suyển cho nên có bệnh hoạn. Phàm phương pháp tọa thiền nếu khéo dụng tâm thì bốn trăm lẻ bốn bệnh tự nhiên lành, nếu dụng tâm sai suyển thì bốn trăm lẻ bốn bệnh nhân đó phát sanh. Thế nên, nếu tự tu hay dạy người tu, phải khéo biết gốc bệnh, phải khéo biết phương pháp dùng nội tâm trị bệnh trong lúc tọa thiền. Một phen phát bệnh chẳng những chướng ngại sự tu hành, còn lo mất mạng là khác. Nay nói về pháp trị bệnh có hai ý: 1/ Tướng bệnh phát khởi. 2/ Phương pháp trị bệnh. I- Tướng bệnh phát khởi Bệnh phát tuy có nhiều cách, lược nói không ngoài hai thứ: 1. Tướng bệnh do tứ đại tăng giảm Nếu địa đại tăng thì mắc bệnh thũng kiết trầm trọng, thân thể khô gầy, như thế một trăm lẻ một bệnh sanh. Nếu thủy đại tăng thì đàn ấm dẫy đầy, ăn uống không tiêu, đau bụng, hạ hơi v.v... một trăm lẻ một bệnh sanh. Nếu hỏa đại tăng thì chợt lạnh, chợt nóng toàn thân đau nhức, hôi miệng, đại tiểu không thông v.v... một trăm lẻ một bệnh sanh. Nếu phong đại tăng thì thân thể lơ lửng như treo trên không, lăn lộn đau nhức, phổi sưng thở gấp, ụa mửa, mệt lả v.v... như thế một trăm lẻ một bệnh sanh. Cho nên trong Kinh chép: “Một đại không điều hòa thì một trăm lẻ một bệnh sanh, tứ đại không điều hòa thì bốn trăm lẻ bốn bệnh đồng khởi.” Tứ đại phát bệnh mỗi thứ có tướng mạo của nó, chính trong khi ngồi thiền và trong khi mộng phải khảo sát cho rõ. 2. Tướng ngũ tạng sanh bệnh Từ tim sanh bệnh thì thân thể nóng, lạnh, đầu nhức, miệng khô v.v... vì tim là chủ về miệng. Từ phổi sanh bệnh thì thân thể mập phù, tứ chi mỏi mệt, mũi nghẹt v.v... vì phổi chủ về mũi. Từ gan sanh bệnh trong lòng thường không vui, buồn rầu, thương lo, giận hờn, đầu nhức, mắt mờ v.v… vì gan chủ về con mắt. Từ lá lách sanh bệnh thì thân thể và trên mặt nổi phong khắp cả, ngứa ngáy đau nhức, ăn uống không ngon v.v... vì lá lách chủ về lưỡi. Từ trái thận sanh bệnh thì ở cổ sanh nấc cục, bụng no, lỗ tai bùng v.v... vì trái thận chủ về lỗ tai. Năm tạng sanh bệnh rất nhiều, mỗi cái có tướng của nó, phải xem xét trong khi ngồi thiền và trong mộng thì biết được. Như thế nguyên nhân sanh bệnh của tứ đại ngũ tạng không phải một, tướng bệnh rất nhiều không thể nói hết. Hành giả nếu muốn tu pháp môn Chỉ Quán để thoát ly sanh tử, phải khéo biết nguyên nhân sanh bệnh. Hai thứ bệnh này nguyên nhân chung là do trong và ngoài phát động. Nếu bên ngoài bị trúng gió lạnh phát sốt, hoặc ăn uống không tiêu mà bệnh, từ hai chỗ này phát ra nên biết bệnh do bên ngoài phát khởi. Hoặc do dụng tâm không điều hòa, quán hạnh sai lạc, hoặc do khi pháp định phát sanh không biết giữ gìn đến khiến tứ đại ngũ tạng sanh bệnh, ấy là tướng bệnh do bên trong phát khởi. Lại nữa, có ba thứ nhân duyên khiến người mắc bệnh: - Tứ đại, ngũ tạng tăng giảm khiến người mắc bệnh như đã nói ở trên. - Quỷ thần gây nên khiến người mắc bệnh. - Nghiệp báo khiến người mắc bệnh. Những bệnh như thế, mới mắc phải sớm trị rất dễ được lành, nếu để qua thời gian lâu bệnh thành thục, thân gây bệnh nặng, chữa trị rất khó lành. II- Phương pháp trị bệnh Đã rõ nguyên nhân phát bệnh, cần tạo phương pháp trị bệnh. Phương pháp trị bệnh có nhiều cách, tóm lược không ngoài hai phương tiện Chỉ và Quán. 1. Thế nào dùng Chỉ trị bệnh? Có thầy nói: “Phải an tâm ngưng tại chỗ bệnh, tức là bệnh lành. Tại sao? Vì tâm là chủ của thân quả báo trong một thời kỳ, ví như vua đến chỗ nào thì bọn trộm cướp đều tan sạch.” Lại có thầy bảo: “Dưới rốn một tấc gọi là đan điền, nếu ngưng tâm tại chỗ này không tán loạn, trải qua thời gian lâu đa số bệnh đều dứt.” Có thầy bảo: “Thường ngưng tâm dưới chân, bất luận đi, đứng, nằm hay nghỉ liền trị được bệnh. Vì cớ sao? Vì người do tứ đại không điều hòa cho nên sanh các bệnh, đó là do tâm thức duyên lên trên khiến tứ đại không điều hòa. Nếu an tâm ở dưới thì tứ đại tự nhiên điều hòa, các bệnh đều lành.” Có thầy bảo: “Chỉ cần biết các pháp Không, không thật có, không chấp giữ tướng bệnh, lặng lẽ dừng trụ, phần nhiều trị được bệnh. Tại sao? Do tâm nhớ tưởng kích động tứ đại nên có bệnh sanh. Dứt tâm, vui hòa, các bệnh liền trừ. Nên kinh Tịnh Danh nói: Cái gì làm gốc bệnh? Chính là phan duyên. Làm sao đoạn dứt phan duyên? Chính là tâm không chỗ được.” Như thế nói các thứ tướng dùng Chỉ để trị bệnh chẳng phải một, nên biết khéo tu pháp Chỉ có thể trị các bệnh. 2. Dùng Quán trị bệnh Có thầy nói: Dùng Quán tâm tưởng sáu thứ hơi thở trị bệnh, tức là dùng Quán trị bệnh. Thế nào là sáu thứ hơi thở? Nghĩa là: xuy, hô, hy, ha, hư, hứ. Sáu thứ hơi thở này đều do trong lưỡi, miệng và tâm tưởng phương tiện chuyển động mà thành, phải dùng đều đều nhẹ nhẹ. Bài tụng nói: Tâm thuộc về Ha, thận thuộc Xuy, Tỳ Hô, phổi Hứ, thánh đều biết, Gan và tạng nhiệt do chữ Hư, Tam tiêu ngăn trệ chỉ nói Hy. Có thầy nói: Nếu khéo dùng Quán tưởng vận chuyển mười hai thứ hơi thở thì trị được nhiều bệnh. Mười hai thứ hơi thở: 1/ Hơi thở lên. 2/ Hơi thở xuống. 3/ Hơi thở đầy. 4/ Hơi thở tiêu. 5/ Hơi thở tăng trưởng. 6/ Hơi thở diệt hoại. 7/ Hơi thở ấm. 8/ Hơi thở lạnh. 9/ Hơi thở xông lên. 10/ Hơi thở gìn giữ. 11/ Hơi thở điều hòa. 12/ Hơi thở bồi bổ. Mười hai thứ hơi thở này đều do tâm quán tưởng mà có. Nay lược tướng đối trị của mười hai thứ hơi thở. Hơi thở lên trị bệnh trầm trọng. Hơi thở xuống trị bệnh lơ lửng. Hơi thở đầy trị bệnh khô gầy. Hơi thở tiêu trị bệnh thũng phù. Hơi thở tăng trưởng trị bệnh ốm yếu. Hơi thở diệt hoại trị bệnh tăng thạnh. Hơi thở ấm trị bệnh lạnh. Hơi thở lạnh trị bệnh nóng. Hơi thở xông lên trị bệnh ngăn nghẹn không thông. Hơi thở gìn giữ trị bệnh lăn lộn. Hơi thở điều hòa chung trị bệnh tứ đại bất hòa. Hơi thở bồi bổ bồi dưỡng tứ đại suy kém. Khéo dùng các thứ hơi thở này, có thể trị lành các bệnh, suy ra có thể biết. Có thầy nói: Khéo dùng Giả tưởng quán hay trị hết các bệnh. Như người mắc bệnh lạnh, tưởng trong thân hơi lửa xông ra liền trị được bệnh lạnh. Cách trị bệnh này trong kinh Tạp A-hàm về bảy mươi hai thứ bí pháp trị bệnh có nói rộng. Có thầy bảo: Dùng Chỉ Quán kiểm xét tứ đại trong thân không có bệnh, tâm cũng không có chỗ sanh bệnh thì các bệnh tự lành. Như thế, bao nhiêu thuyết nói dùng Quán trị bệnh chỗ ứng dụng không đồng, nếu khéo hiểu được ý đều trị lành bệnh. 3. Khéo dùng phương tiện Hai pháp Chỉ Quán nếu người khéo hiểu được ý thì không bệnh nào mà trị chẳng lành. Nhưng người thời nay căn cơ tối cạn, đa số tập quán tưởng không thành công nên pháp này ít được lưu truyền. Lại có người tu không được pháp này, bèn xoay qua học khí thuật, nhịn cơm, e sau này sanh kiến chấp tà dị. Những thứ thuốc bằng cây cỏ, vàng đá... thích hợp với bệnh thì nên dùng. Nếu là bệnh do quỷ phá thì phải lập tâm cho vững, thêm tụng chú để giúp sự trị bệnh. Nếu là bệnh nghiệp báo cần phải tu phước và sám hối, bệnh ắt tiêu diệt. Hai pháp Chỉ Quán trị bệnh, nếu người khéo hiểu một pháp cũng đủ tự tu và dạy người, huống là thông đạt cả hai. Nếu cả hai pháp đều không biết thì bệnh sanh không thể trị, chẳng những bỏ bê sự tu hành, còn e tánh mạng khó bảo toàn làm sao tự tu và dạy người? Thế nên, người muốn tu Chỉ Quán phải hiểu phương pháp nội tâm trị bệnh. Pháp này không phải một, hiểu ý tại người, chứ không thể truyền bằng văn tự. Lại nữa, trong khi ngồi thiền dụng tâm trị bệnh cần phải gồm đủ mười pháp sẽ được lợi ích. Mười pháp: 1/ Tin. 2/ Dùng. 3/ Siêng. 4/ Thường trụ trong duyên. 5/ Phân biệt nguyên nhân bệnh khởi. 6/ Phương tiện. 7/ Thực hành lâu. 8/ Biết thủ xả. 9/ Giữ gìn. 10/ Biết ngăn cản. Thế nào là tin? Nghĩa là tin pháp này hay trị được bệnh. Sao là dùng? Nghĩa là tùy thời hằng dùng. Sao là siêng? Chuyên cần không nghỉ, đến khi lành bệnh mới thôi. Sao là trụ trong duyên? Tâm vi tế luôn luôn y nơi pháp, không duyên cái gì khác. Sao là phân biệt nguyên nhân bệnh khởi? Như đoạn trước đã nói. Sao là phương tiện? Là thở ra, hít vào tâm tưởng vận chuyển khéo léo thành tựu không cho trái phép. Sao là thực hành lâu? Nếu áp dụng chưa có lợi ích chẳng kể ngày tháng thường tập không phế bỏ. Sao là biết thủ xả? Biết cái có ích liền chuyên cần, cái có hại liền xả đi, chín chắn chuyển tâm điều trị. Sao là gìn giữ? Khéo biết các duyên xúc phạm mà giữ gìn. Sao là ngăn cản? Được điều ích lợi không đến người khác nói, chưa tổn hại không sanh nghi chê. Nếu y mười pháp này trị bệnh quyết định có hiệu nghiệm không dối vậy. Giảng: Hành giả chuyên tâm tu hành, hoặc tứ đại có bệnh là vì dùng quán tâm, quán hơi thở kích động bệnh cũ phát khởi. Hoặc không khéo điều hòa ba việc: thân, tâm và hơi thở, trong ngoài có chỗ sai suyển cho nên có bệnh hoạn. Phàm phương pháp tọa thiền nếu khéo dụng tâm thì bốn trăm lẻ bốn bệnh tự nhiên lành, nếu dụng tâm sai suyển thì bốn trăm lẻ bốn bệnh nhân đó phát sanh. Tu thiền đúng thì bệnh hết, tu sai bệnh thêm. Người chuyên tâm tu hành tứ đại có bệnh là do quán tâm, quán hơi thở kích động nên bệnh cũ phát khởi. Ví dụ người có bệnh ho hen, lúc ngồi thiền không khéo điều hòa hơi thở, để kéo khò khè hoài thì bệnh sẽ tăng. Nếu khéo định tâm điều hòa hơi thở, có khi mũi dường như không thở mà hơi thở đi khắp các lỗ chân lông, ra vào nhẹ nhàng như có như không. Định tâm và điều hòa như vậy, bệnh hen suyễn và những bệnh nhẹ khác sẽ hết. Đó là từ tu mà hết bệnh, còn không khéo thì lại sanh bệnh. Nếu khéo dụng tâm thì trị được bốn trăm lẻ bốn bệnh của tứ đại. Mỗi đại có một trăm lẻ một bệnh, cộng chung bốn đại thành bốn trăm lẻ bốn bệnh. Tại sao tôi phải giảng quyển này kỹ, vì nhiều người hay nói tu thiền điên rồi sợ tu thiền, nếu nghe hiểu nắm vững đường lối tu, chẳng những không bị bệnh mà còn lành bệnh, đó là chỗ quan trong. Cho nên người khéo tu sẽ trị được những bệnh ở bên trong phát ra, nếu ham tu thiền mà không hiểu rồi đổ thừa là tại tu thiền sanh bệnh thì không đúng. Thế nên, nếu tự tu hay dạy người tu, phải khéo biết gốc bệnh, phải khéo biết phương pháp dùng nội tâm trị bệnh trong lúc tọa thiền. Một phen phát bệnh chẳng những chướng ngại sự tu hành, còn lo mất mạng là khác. Nay nói về pháp trị bệnh có hai ý: 1/ Tướng bệnh phát khởi. 2/ Phương pháp trị bệnh. Tại sao chúng ta ngồi thiền phải có bồ đoàn tọa cụ, phải có người đi xem ngồi đúng hay sai để sửa? Đó là vì sợ sai rồi sanh bệnh. Nếu khi tu thấy điều gì lạ thì thưa hỏi quý thầy hướng dẫn cho rõ để tránh bệnh. Tránh bệnh được thì có lợi lớn, nếu để sanh bệnh dễ thối tâm, làm sao tu được. Cho nên người khéo tu thì sẽ ít bệnh. Bản thân tôi cũng là một người bệnh. Vào năm 1960, tôi đang dạy học ở chùa Phước Hòa - Trà Vinh, thầy Huyền Vi làm Đốc giáo ở Ấn Quang, Thầy sắp đi Ấn Độ nên cùng với Hòa thượng Giám đốc xuống gọi tôi trở về. Như vậy là tôi một mình làm hai việc, vừa dạy phần của tôi lại gánh thêm phần của thầy Huyền Vi, lại còn tụng kinh và đi giảng chỗ này chỗ kia nữa. Do tôi làm việc quá sức nên bị bệnh phổi phải vào Bệnh viện Đồn Đất nằm ba tháng. Tôi nghĩ, mình đã bệnh phổi mà tụng kinh niệm Phật nhiều quá thì không đủ sức, nên thử dùng phương pháp tu thiền để trị bệnh xem sao. Ngang đó tôi dứt khoát tu thiền, nhưng vì không có thầy dạy nên phải tìm xem trong kinh sách. Tôi xem Lục Diệu Pháp Môn của ngài Trí Khải thật kỹ rồi ứng dụng tu. Khi ra viện bác sĩ dặn mỗi tháng trở lại lãnh thuốc, uống trong vòng ba tháng. Tôi thầm nghĩ, nhất định không trở vào nhà thương nữa. Quyết định rồi tôi vào thất ngồi thiền tu tập, mãn ba tháng thấy bệnh tình nhẹ dần rồi lần lần hết hẳn. Sau một năm mở trường Huệ Nghiêm, tôi dạy học luôn mấy năm mà không sao hết. Từ đó tôi tu thiền cho đến khi lên núi. Lúc ấy tôi dám tự hào, mỗi khi chớm cảm ngồi thiền một hai giờ mồ hôi xuất ra, xả thiền lấy khăn lau khô là hết cảm. Khi trước cứ mỗi lần cảm là mỗi lần ho, giờ hết cảm thì hết ho, bệnh phổi cũng theo đó mà hết. Như vậy mới thấy bệnh cũng tùy thuộc vào sự tu của mình, nếu vận dụng hơi nhiều thì phổi phải yếu, nên yên lặng lại bớt, tránh không bị cảm, bệnh sẽ giảm. Diệu dụng của tu thiền ở chỗ đó. Nhờ tu thiền nên những năm kế tôi không bệnh, nhưng sau này tôi lại bị bệnh tim. Lúc trước ở Chơn Không quen rồi, đến lúc dời xuống núi ở đất bằng khó chịu, nên tôi lên Đà Lạt xin đất cất thiền viện. Từ năm 1987 đến 1991 cứ chạy tới chạy lui hoài, hết gạo mà vẫn chưa xong, do lo buồn nên sanh bệnh tim. Năm 1993 được giấy phép cho xây thiền viện. Xây dựng xong, bác sĩ Kim ở Cali chuyên về tim mạch rất giỏi, gửi thư mời qua trị bệnh, tôi đồng ý. Qua Pháp, Canada, rồi sang Mỹ đến Cali gặp bác sĩ Kim. Sau khi kiểm tra, bác sĩ kết luận Thầy không có bệnh. Tôi ngạc nhiên, lâu nay bệnh tim uống thuốc mấy năm, sao qua đây hết bệnh? Khi ấy có các bác sĩ là Phật tử đề nghị, tôi đã đi hết nửa vòng trái đất rồi chẳng lẽ về không, sẵn dịp nên thông tim mạch. Tôi nói, các bác sĩ có lòng tốt, nhưng tôi chưa bệnh thông tim làm gì? Sau đó tôi trở về và hết bệnh luôn. Như vậy cho thấy bệnh tim là do lo buồn, khi hết lo buồn thì bệnh tim cũng hết. Phần tâm của chúng ta rất quan trọng, nếu buồn phiền lo lắng nhiều thì dù khỏe mạnh cũng bệnh đau. Cho nên vui vẻ là thuật để sống khỏe, còn buồn rầu là tự chôn mình gấp. Chúng ta tu đừng để buồn giận trong lòng, mọi sự vui buồn đều bỏ qua, cố gắng tu thì mọi việc sẽ tốt, bệnh hoạn cũng theo đó hết. Đừng sợ bệnh, càng sợ thì bệnh càng nặng. Phần này tôi nói dài dòng một chút là muốn cho tất cả nhớ mà lo tu tập. I- Tướng bệnh phát khởi Bệnh phát tuy có nhiều cách, lược nói không ngoài hai thứ: 1. Tướng bệnh do tứ đại tăng giảm Nếu địa đại tăng thì mắc bệnh thũng kiết trầm trọng, thân thể khô gầy, như thế một trăm lẻ một bệnh sanh. Nếu thủy đại tăng thì đàn ấm dẫy đầy, ăn uống không tiêu, đau bụng, hạ hơi v.v... một trăm lẻ một bệnh sanh. Nếu hỏa đại tăng thì chợt lạnh, chợt nóng toàn thân đau nhức, hôi miệng, đại tiểu không thông v.v... một trăm lẻ một bệnh sanh. Nếu phong đại tăng thì thân thể lơ lửng như treo trên không, lăn lộn đau nhức, phổi sưng thở gấp, ụa mửa, mệt lả v.v... như thế một trăm lẻ một bệnh sanh. Cho nên trong Kinh chép: “Một đại không điều hòa thì một trăm lẻ một bệnh sanh, tứ đại không điều hòa thì bốn trăm lẻ bốn bệnh đồng khởi.” Tứ đại phát bệnh mỗi thứ có tướng mạo của nó, chính trong khi ngồi thiền và trong khi mộng phải khảo sát cho rõ. Địa đại tăng thì sanh ra bệnh bướu cổ trầm trọng, thân thể khô gầy... Thủy đại tăng thì đàm ngăn trong cổ nhiều, khò khè ăn uống không tiêu, đau bụng hạ hơi... Hỏa đại tăng thì khi nóng khi lạnh, toàn thân đau nhức, miệng hôi, đại tiểu không thông... Phong đại tăng thì thân thể lơ lửng, đau nhức, ụa mửa v.v... Như vậy cứ mỗi đại phát sanh một trăm lẻ một bệnh, nếu tứ đại không điều hòa được thì bốn trăm lẻ bốn bệnh đồng thời phát khởi. Bệnh là do tứ đại không khéo điều hòa mà sanh ra, nên trong khi ngồi thiền hoặc nằm mộng, thấy những hiện tượng phải khéo khảo sát xem thuộc về bệnh gì để biết điều trị. Đó là điều quan trọng. 2. Tướng ngũ tạng sanh bệnh Từ tim sanh bệnh thì thân thể nóng, lạnh, đầu nhức, miệng khô v.v... vì tim là chủ về miệng. Từ phổi sanh bệnh thì thân thể mập phù, tứ chi mỏi mệt, mũi nghẹt v.v... vì phổi chủ về mũi. Từ gan sanh bệnh trong lòng thường không vui, buồn rầu, thương lo, giận hờn, đầu nhức, mắt mờ v.v… vì gan chủ về con mắt. Từ lá lách sanh bệnh thì thân thể và trên mặt nổi phong khắp cả, ngứa ngáy đau nhức, ăn uống không ngon v.v... vì lá lách chủ về lưỡi. Từ trái thận sanh bệnh thì ở cổ sanh nấc cục, bụng no, lỗ tai bùng v.v... vì trái thận chủ về lỗ tai. Năm tạng sanh bệnh rất nhiều, mỗi cái có tướng của nó, phải xem xét trong khi ngồi thiền và trong mộng thì biết được. Đây có hai trường hợp biết bệnh. Một là ngồi thiền, hai là mộng. Trong mộng thấy bay bổng lên là phong đại thịnh, thấy lửa thiêu đốt là hỏa đại thịnh... thấy lội sông hoặc thấy chết chìm là thủy đại thịnh. Như vậy chính trong khi mộng mà đoán được bệnh của mình, cái nào thịnh cái nào suy chúng ta có thể biết. Như thế nguyên nhân sanh bệnh của tứ đại ngũ tạng không phải một, tướng bệnh rất nhiều không thể nói hết. Hành giả nếu muốn tu pháp môn Chỉ Quán để thoát ly sanh tử, phải khéo biết nguyên nhân sanh bệnh. Hai thứ bệnh này nguyên nhân chung là do trong và ngoài phát động. Nếu bên ngoài bị trúng gió lạnh phát sốt, hoặc ăn uống không tiêu mà bệnh, từ hai chỗ này phát ra nên biết bệnh do bên ngoài phát khởi. Hoặc do dụng tâm không điều hòa, quán hạnh sai lạc, hoặc do khi pháp định phát sanh không biết giữ gìn đến khiến tứ đại ngũ tạng sanh bệnh, ấy là tướng bệnh do bên trong phát khởi. Khi tu có những hiện tượng phát ra, như ngồi thiền được tâm an tịnh nhẹ nhàng sanh ra mừng sợ thành bệnh, hoặc do khi tu đi đứng ngồi nằm không đúng cách nên sanh ra bệnh. Đó là không khéo giữ gìn, vậy nên phải khéo giữ cho đúng để không sanh bệnh. Lại nữa, có ba thứ nhân duyên khiến người mắc bệnh: - Tứ đại, ngũ tạng tăng giảm khiến người mắc bệnh như đã nói ở trên. - Quỷ thần gây nên khiến người mắc bệnh. - Nghiệp báo khiến người mắc bệnh. Những bệnh như thế, mới mắc phải sớm trị rất dễ được lành, nếu để qua thời gian lâu bệnh thành thục, thân gây bệnh nặng, chữa trị rất khó lành. Có ba trường hợp sanh bệnh. Thứ nhất là không khéo điều hòa tứ đại và gìn giữ ngũ tạng. Hai là quỷ thần phá phách. Ba là do nghiệp báo, đời trước đã tạo những nghiệp nặng, nên bây giờ tuy được làm người mà bị chướng, bệnh hoài không lúc nào khỏe. Trong ba trường hợp này, nếu là tứ đại thì phải khéo điều hòa, bị quỷ thần phá thì phải biết đối trị như đoạn trước đã nói, do nghiệp báo thì ráng tu tập sám hối làm những điều thiện để bệnh chóng lành. II- Phương pháp trị bệnh Đã rõ nguyên nhân phát bệnh, cần tạo phương pháp trị bệnh. Phương pháp trị bệnh có nhiều cách, tóm lược không ngoài hai phương tiện Chỉ và Quán. 1. Thế nào dùng Chỉ trị bệnh? Có thầy nói: “Phải an tâm ngưng tại chỗ bệnh, tức là bệnh lành. Tại sao? Vì tâm là chủ của thân quả báo trong một thời kỳ, ví như vua đến chỗ nào thì bọn trộm cướp đều tan sạch.” Nếu bệnh ở bụng thì trụ tâm ở bụng bệnh sẽ được lành. Có người thuật lại cho tôi nghe, đầu gối của họ mới nổi khối u, biết rồi khi ngồi thiền trụ tâm tại khối u đó, một thời gian sau khối u tự tan. Đây nói, tâm là vua mà bệnh là kẻ trộm, vua tới đâu thì trộm cướp tan sạch tới đó. Cho nên bệnh ở chỗ nào thì trụ tâm ở đó bệnh sẽ tan. Lại có thầy bảo: “Dưới rốn một tấc gọi là đan điền, nếu ngưng tâm tại chỗ này không tán loạn, trải qua thời gian lâu đa số bệnh đều dứt.” Một tấc ta xưa, bây giờ là ba phân. Trụ tâm ở đan điền, còn gọi là huyệt khí hải, tức chỗ của hơi hội tụ. Trụ tâm thì chỗ đó sẽ nóng lên khiến các bệnh được lành. Có thầy bảo: “Thường ngưng tâm dưới chân, bất luận đi, đứng, nằm hay nghỉ liền trị được bệnh. Vì cớ sao? Vì người do tứ đại không điều hòa cho nên sanh các bệnh, đó là do tâm thức duyên lên trên khiến tứ đại không điều hòa. Nếu an tâm ở dưới thì tứ đại tự nhiên điều hòa, các bệnh đều lành.” Có thầy bảo: “Chỉ cần biết các pháp Không, không thật có, không chấp giữ tướng bệnh, lặng lẽ dừng trụ, phần nhiều trị được bệnh. Tại sao? Do tâm nhớ tưởng kích động tứ đại nên có bệnh sanh. Dứt tâm, vui hòa, các bệnh liền trừ. Nên kinh Tịnh Danh nói: Cái gì làm gốc bệnh? Chính là phan duyên. Làm sao đoạn dứt phan duyên? Chính là tâm không chỗ được.” Như thế nói các thứ tướng dùng Chỉ để trị bệnh chẳng phải một, nên biết khéo tu pháp Chỉ có thể trị các bệnh. Đây là trụ tâm ở dưới lòng bàn chân, vì tâm thức suy nghĩ lo tính duyên lên, hơi nóng cũng dồn lên trên, cho nên khi nào suy nghĩ nhiều thì nghe đau đầu. Do hơi nóng lên trên nên ở dưới chân lạnh sanh bệnh, nếu muốn trị bệnh này, khi đi đứng nằm ngồi đều nhớ trụ tâm ở lòng bàn chân, hơi ấm trở xuống thì bệnh tự hết. Những cách trên là trụ tâm vào một chỗ nên gọi là Chỉ. 2. Dùng Quán trị bệnh Có thầy nói: Dùng Quán tâm tưởng sáu thứ hơi thở trị bệnh, tức là dùng Quán trị bệnh. Thế nào là sáu thứ hơi thở? Nghĩa là: xuy, hô, hy, ha, hư, hứ. Sáu thứ hơi thở này đều do trong lưỡi, miệng và tâm tưởng phương tiện chuyển động mà thành, phải dùng đều đều nhẹ nhẹ. Bài tụng nói: Tâm thuộc về Ha, thận thuộc Xuy, Tỳ Hô, phổi Hứ, thánh đều biết, Gan và tạng nhiệt do chữ Hư, Tam tiêu ngăn trệ chỉ nói Hy. Thở ra tưởng theo cách dạy trên thì bệnh theo do hết. Những phương pháp này tôi chỉ nói sơ qua thôi, vì tôi chỉ đọc theo trong sách nói chứ chưa làm bao giờ. Có thầy nói: Nếu khéo dùng Quán tưởng vận chuyển mười hai thứ hơi thở thì trị được nhiều bệnh. Mười hai thứ hơi thở: 1/ Hơi thở lên. 2/ Hơi thở xuống. 3/ Hơi thở đầy. 4/ Hơi thở tiêu. 5/ Hơi thở tăng trưởng. 6/ Hơi thở diệt hoại. 7/ Hơi thở ấm. 8/ Hơi thở lạnh. 9/ Hơi thở xông lên. 10/ Hơi thở gìn giữ. 11/ Hơi thở điều hòa. 12/ Hơi thở bồi bổ. Mười hai thứ hơi thở này đều do tâm quán tưởng mà có. Nay lược tướng đối trị của mười hai thứ hơi thở. Hơi thở lên trị bệnh trầm trọng. Hơi thở xuống trị bệnh lơ lửng. Hơi thở đầy trị bệnh khô gầy. Hơi thở tiêu trị bệnh thũng phù. Hơi thở tăng trưởng trị bệnh ốm yếu. Hơi thở diệt hoại trị bệnh tăng thạnh. Hơi thở ấm trị bệnh lạnh. Hơi thở lạnh trị bệnh nóng. Hơi thở xông lên trị bệnh ngăn nghẹn không thông. Hơi thở gìn giữ trị bệnh lăn lộn. Hơi thở điều hòa chung trị bệnh tứ đại bất hòa. Hơi thở bồi bổ bồi dưỡng tứ đại suy kém. Khéo dùng các thứ hơi thở này, có thể trị lành các bệnh, suy ra có thể biết. Nếu người ốm quá thì dùng hơi thở hít vô đẩy cho nở phình ra, nếu nóng quá thì hít thở tưởng mát vào cho hơi nóng tan đi... Trong các phương pháp dùng hơi thở này, tôi chỉ dùng một thứ là hơi thở điều hòa. Ngồi thiền điều hòa hơi thở dài nhẹ, lâu dần quen rồi hơi thở như có như không, đó là cái tốt nhất có thể trị tất cả bệnh. Có thầy nói: Khéo dùng Giả tưởng quán hay trị hết các bệnh. Như người mắc bệnh lạnh, tưởng trong thân hơi lửa xông ra liền trị được bệnh lạnh. Cách trị bệnh này trong kinh Tạp A-hàm về bảy mươi hai thứ bí pháp trị bệnh có nói rộng. Ở Hy-mā-lạp-sơn tuyết phủ rất lạnh mà nhiều vị tu ở trần ngồi trong tuyết, họ ngồi quán tưởng hơi nóng gọi là nhập Hỏa quang tam-muội, bởi hơi nóng bên trong xông ra nên tuyết bên ngoài không xâm nhập được. Sức tưởng của con người rất mạnh, chúng ta tưởng cái gì thì hiện cái ấy. Tưởng trong người nóng thì phát ra nóng, tưởng lạnh thì phát ra lạnh. Vì vậy quán tưởng có sức mạnh rất lớn, khéo trị được những bệnh trong khi tu tập. Có thầy bảo: Dùng Chỉ Quán kiểm xét tứ đại trong thân không có bệnh, tâm cũng không có chỗ sanh bệnh thì các bệnh tự lành. Như thế, bao nhiêu thuyết nói dùng Quán trị bệnh chỗ ứng dụng không đồng, nếu khéo hiểu được ý đều trị lành bệnh. Nếu chúng ta có bệnh mà muốn trị thì phải khéo quán xét, trong thân không bệnh, tâm cũng không có chỗ sanh bệnh, vậy bệnh từ đâu ra? Khéo quán như vậy thì bệnh sẽ tự lành. 3. Khéo dùng phương tiện Hai pháp Chỉ Quán nếu người khéo hiểu được ý thì không bệnh nào mà trị chẳng lành. Nhưng người thời nay căn cơ tối cạn, đa số tập quán tưởng không thành công nên pháp này ít được lưu truyền. Lại có người tu không được pháp này, bèn xoay qua học khí thuật, nhịn cơm, e sau này sanh kiến chấp tà dị. Những thứ thuốc bằng cây cỏ, vàng đá... thích hợp với bệnh thì nên dùng. Chỗ này nhắc cho chúng ta đừng lầm để khỏi lạc vào tà đạo. Có những người không biết cách quán trị bệnh, sanh ra kiến chấp tà dị bằng cách học khí công, nhịn ăn v.v... để trị bệnh, đó là tà. Nếu không dùng Chỉ Quán để trị bệnh được thì nên dùng các thứ thuốc cây cỏ, vàng đá hoặc thuốc tây, thuốc tàu, thuốc ta v.v... mà trị. Nhịn đói hoặc tập khí công để trị bệnh đâu có hại gì, nhưng tại sao đây nói là tà? Bởi vì những thuật như nhịn đói, luyện khí công... có thể trị bệnh, nhưng lại sanh ra tà chấp. Nếu chúng ta tu mà đặt nặng vào việc trị bệnh, thì khi bệnh lành sẽ thấy phương pháp đó là hay. Do thấy hay nên theo luôn và dạy lại cho người khác, rốt cuộc công phu tu hành chỉ để giữ gìn thân, mà thân rồi cũng hoại không thể giữ được, nên vô tình lạc vào tà đạo lúc nào không hay. Như vậy tự mình đi lệch đường giải thoát, lại còn dẫn người khác đi lệch nữa. Cho nên nếu đau quá thì đi bác sĩ điều trị hoặc hốt thuốc uống cho khỏe, đừng học những tà thuật đó. Nếu là bệnh do quỷ phá thì phải lập tâm cho vững, thêm tụng chú để giúp sự trị bệnh. Nếu là bệnh nghiệp báo cần phải tu phước và sám hối, bệnh ắt tiêu diệt. Nếu là bệnh ma quỷ phá thì lập tâm cho vững, tức là định tâm; hoặc tụng thêm thần chú để giúp trị bệnh, theo tôi định tâm là cách hay nhất. Nếu là nghiệp báo, thân cứ bệnh hoạn hoài thì có hai cách, một là sám hối, hai làm các việc thiện để bệnh được tiêu trừ. Tùy trường hợp mà biết cách điều trị cho phù hợp. Hai pháp Chỉ Quán trị bệnh, nếu người khéo hiểu một pháp cũng đủ tự tu và dạy người, huống là thông đạt cả hai. Nếu cả hai pháp đều không biết thì bệnh sanh không thể trị, chẳng những bỏ bê sự tu hành, còn e tánh mạng khó bảo toàn làm sao tự tu và dạy người? Thế nên, người muốn tu Chỉ Quán phải hiểu phương pháp nội tâm trị bệnh. Pháp này không phải một, hiểu ý tại người, chứ không thể truyền bằng văn tự. Pháp này do người tự hiểu ý, ví dụ chúng ta đau ở chỗ nào thì trụ tâm chỗ đó. Nghĩa là tự mình biết cách biết ý, khéo áp dụng sẽ có hiệu nghiệm. Chỗ này không thể nói hết ra được. Lại nữa, trong khi ngồi thiền dụng tâm trị bệnh cần phải gồm đủ mười pháp sẽ được lợi ích. Mười pháp: 1/ Tin. 2/ Dùng. 3/ Siêng. 4/ Thường trụ trong duyên. 5/ Phân biệt nguyên nhân bệnh khởi. 6/ Phương tiện. 7/ Thực hành lâu. 8/ Biết thủ xả. 9/ Giữ gìn. 10/ Biết ngăn cản. Thế nào là tin? Nghĩa là tin pháp này hay trị được bệnh. Sao là dùng? Nghĩa là tùy thời hằng dùng. Sao là siêng? Chuyên cần không nghỉ, đến khi lành bệnh mới thôi. Sao là trụ trong duyên? Tâm vi tế luôn luôn y nơi pháp, không duyên cái gì khác. Đó là mười cách dùng để trị bệnh cho có hiệu quả. Tin pháp này hay trị được bệnh. Trước tiên là tin, muốn trị bệnh thì phải tin khẳng định rằng pháp này hay trị được bệnh mới được. Tùy thời hằng dùng, dùng luôn luôn chứ không phải dùng một hai lần rồi thôi. Trụ trong duyên là tâm luôn trụ trong các pháp để trị bệnh, không dời đổi chỗ khác. Sao là phân biệt nguyên nhân bệnh khởi? Như đoạn trước đã nói. Sao là phương tiện? Là thở ra, hít vào tâm tưởng vận chuyển khéo léo thành tựu không cho trái phép. Sao là thực hành lâu? Nếu áp dụng chưa có lợi ích chẳng kể ngày tháng thường tập không phế bỏ. Sao là biết thủ xả? Biết cái có ích liền chuyên cần, cái có hại liền xả đi, chín chắn chuyển tâm điều trị. Sao là gìn giữ? Khéo biết các duyên xúc phạm mà giữ gìn. Sao là ngăn cản? Được điều ích lợi không đến người khác nói, chưa tổn hại không sanh nghi chê. Nếu y mười pháp này trị bệnh quyết định có hiệu nghiệm không dối vậy. Biết cái có ích liền chuyên cần, cái có hại liền xả đi. Khi dùng trị bệnh thấy hiệu nghiệm và có ích thì cố gắng dùng, còn thấy có phản ứng ngược lại thì bỏ đừng dùng nữa. Được điều ích lợi không đến người khác nói, chưa tổn hại không sanh nghi chê. Nếu khi áp dụng thấy có ích lợi thì đừng nói vội, chờ đến khi thật lành bệnh chừng đó sẽ nói. Bởi vì mới bớt sơ sơ liền đi tán thán để người khác bắt chước, còn mình thì áp dụng chưa rành. Hoặc nếu chưa tổn hại cũng không nên sanh lòng nghi chê, để biết thật kỹ rồi mới nói. Nếu chúng ta y theo mười pháp trên đây mà trị thì nhất định có kết quả không nghi ngờ, vì đó là lẽ thật. CHƯƠNG XX CHỨNG QUẢ Chánh văn: Nếu hành giả khi tu Chỉ Quán như thế, biết rõ tất cả pháp đều do tâm sanh, nhân duyên hư giả không thật, nên là không; vì biết không, nên không thấy có tướng danh tự của tất cả pháp, thế là thể nhập chân thật. Khi ấy, trên không thấy có Phật quả đáng cầu, dưới không thấy có chúng sanh đáng độ. Ấy gọi là quán từ Giả nhập Không, là quán nhị đế, là tuệ nhãn, là Nhất thiết trí. Nếu trụ nơi quán này tức là sa vào quả vị Thanh văn, Bích-chi Phật. Cho nên trong Kinh chép: “Các vị Thanh văn v.v... tự than rằng: Chúng ta nếu nghe cõi Phật thanh tịnh, giáo hóa chúng sanh, tâm không vui mừng. Vì sao? Vì tất cả pháp thảy đều rỗng lặng, không sanh không diệt, không lớn không nhỏ, vô lậu vô vi, suy nghĩ như thế nên không vui mừng.” Phải biết người thấy được pháp vô vi mà vào chánh vị, người ấy trọn không thể phát ba thứ tâm Bồ-đề, vì sức định nhiều mà không thấy Phật tánh. Nếu Bồ-tát vì tất cả chúng sanh thành tựu tất cả Phật pháp thì không nên chấp giữ vô vi tự tịch diệt, khi ấy nên tu Quán từ Không nhập Giả. Nghĩa là phải thật quán tâm tánh tuy không, nhưng khi đối duyên liền sanh ra tất cả các pháp cũng như huyễn hóa, tuy không quyết định thật mà vẫn có các tướng thấy, nghe, hiểu, biết v.v... khác nhau. Hành giả khi quán như thế, tuy biết tất cả pháp rốt ráo là rỗng lặng, mà hay ở trong Không tu các hạnh, như gieo giống trong Không; cũng hay phân biệt các căn của chúng sanh tánh dục vô lượng, nên thuyết pháp cũng vô lượng. Nếu chứng được vô ngại biện tài thì hay làm lợi ích chúng sanh khắp lục đạo. Ấy gọi là Phương tiện tùy duyên Chỉ, là quán từ Không nhập Giả, là quán bình đẳng, là pháp nhãn, là Đạo chủng trí. Trụ trong quán này sức trí tuệ nhiều, tuy thấy được Phật tánh mà không rõ ràng. Bồ-tát tuy thành tựu hai pháp quán trên, đó gọi là Quán môn phương tiện, không phải là chánh quán. Kinh chép: “Hai thứ trước là đạo phương tiện, nhân hai thứ quán Không Giả ấy được vào quán Trung đạo đệ nhất nghĩa, song chiếu cả hai đế, tâm thường vắng lặng, tự nhiên trôi vào biển Đại Giác.” Nếu Bồ-tát muốn ở trong một niệm đầy đủ tất cả Phật pháp, nên tu “Chỉ dứt hai bên phân biệt” (Tức nhị biên phân biệt Chỉ) thực hành chánh quán Trung đạo. Thế nào là Chánh quán? Nếu thấu hiểu tâm tánh không phải Chân, không phải Giả, dứt tâm duyên Chân Giả, gọi là Chánh thật quán. Tâm tánh không phải không, không phải Giả, mà không phá hoại pháp Không, Giả. Nếu hay chiếu liễu như thế thì ở nơi tâm tánh thông đạt được Trung đạo, viên chiếu cả nhị đế. Nếu hay tự tâm thấy được Trung đạo, nhị đế, thì thấy Trung đạo, nhị đế của tất cả pháp mà không chấp Trung đạo, nhị đế. Bởi vì quyết định tánh không thể có, ấy gọi là chánh quán Trung đạo. Như bài kệ Trung Luận nói: Nhân duyên sanh các pháp, Ta nói tức là Không, Cũng gọi là Giả danh, Cũng gọi nghĩa Trung đạo. Sưu tầm ý bài kệ này, không những đầy đủ phân biệt tướng Trung quán, cũng gồm nói chỉ thú hai thứ quán môn phương tiện trước. Phải biết chánh quán Trung đạo tức là Phật nhãn, Nhất thiết chủng trí. Nếu trụ nơi quán này thì sức định và tuệ đồng đẳng, thấy Phật tánh rõ ràng, an trụ trong Đại thừa, bước đi bằng phẳng nhanh như gió, tự nhiên vào trong biển Đại Giác. Thực hành hạnh Như Lai, vào nhà Như Lai, mặc y Như Lai, ngồi tòa Như Lai, dùng đồ trang nghiêm của Như Lai mà tự trang nghiêm. Được sáu căn thanh tịnh, vào cảnh giới của Phật, đối với tất cả pháp không nhiễm trước, tất cả Phật pháp đều được hiện tiền, thành tựu Niệm Phật tam-muội, an trụ trong định Thủ-lăng-nghiêm, thế là phổ hiện sắc thân tam-muội, khắp vào cõi Phật trong mười phương, dạy bảo chúng sanh trang nghiêm tất cả cõi Phật, cúng dường mười phương chư Phật, thọ trì pháp tạng của chư Phật, đầy đủ tất cả hạnh ba-la-mật, ngộ nhập vị Đại Bồ-tát, cùng với ngài Văn-thù, Phổ Hiền kết bạn. Thường trụ trong thân pháp tánh, vì chư Phật khen ngợi thọ ký, ấy là trang nghiêm Đâu-suất-đà thiên, thị hiện giáng thần trong thai mẹ, xuất gia, đến đạo tràng, hàng phục ma oán, thành chánh giác, chuyển pháp luân, vào Niết-bàn. Ở các cõi nước khắp mười phương làm viên mãn tất cả Phật sự, đầy đủ hai thân Chân và Ứng... ấy là Sơ phát tâm Bồ-tát. Trong kinh Hoa Nghiêm nói: “Khi sơ phát tâm liền thành Chánh giác, thông suốt tánh chân thật của các pháp, được tuệ thân không phải do người khác mà ngộ.” Cũng nói: “Sơ phát tâm Bồ-tát được một thân Như Lai làm vô lượng thân.” Cũng nói: “Sơ phát tâm Bồ-tát tức là Phật.” Kinh Niết-bàn nói: “Sơ phát tâm và cứu cánh tâm hai cái không khác, hai tâm như thế, tâm trước là khó.” Kinh Đại Phẩm nói: “Tu-bồ-đề! Có đại Bồ-tát mới sơ phát tâm liền tọa đạo tràng, chuyển bánh xe chánh pháp, phải biết Bồ-tát ấy như Phật vậy.” Trong kinh Pháp Hoa nàng Long nữ dâng hạt châu làm chứng, những kinh như thế đều nói sơ phát tâm làm đủ tất cả Phật pháp, như kinh Đại Phẩm nói “Chữ A”, kinh Pháp Hoa nói “Khiến chúng sanh khai Phật tri kiến”, kinh Niết-bàn nói “Thấy Phật tánh cho nên trụ Đại Niết-bàn”. Đã lược nói tướng Sơ phát tâm nhân tu Chỉ Quán được chứng quả. Kế nói Hậu tâm chứng quả. Cảnh giới của Hậu tâm chứng không thể biết, nay suy theo giáo lý để rõ, trọn không rời hai pháp Chỉ và Quán. Tại sao? Kinh Pháp Hoa nói: “Ân cần khen ngợi trí tuệ của chư Phật”, trí tuệ là nghĩa Quán. Đây là đứng về Quán để rõ quả. Kinh Niết-bàn luận rộng về “một trăm câu giải thoát” để giải thích Đại Niết-bàn, Niết-bàn nghĩa là Chỉ. Đó là đứng về Chỉ để rõ quả. Cho nên nói Đại Niết-bàn là thường tịch định. Định tức là nghĩa Chỉ. Trong kinh Pháp Hoa tuy đứng về mặt Quán để rõ quả, nhưng cũng nhiếp Chỉ. Cho nên nói “nhẫn đến tướng cứu cánh Niết-bàn thường tịch diệt trọn quy về Không”. Trong kinh Niết-bàn tuy đứng về mặt Chỉ để rõ quả, nhưng cũng gồm Quán. Bởi vì lấy ba đức làm Đại Niết-bàn. Hai bộ kinh lớn này tuy văn có hiện có ẩn khác nhau, nhưng đều đứng về hai môn Chỉ Quán biện chỗ cứu cánh của nó, gồm căn cứ hai pháp định tuệ để rõ quả vị cùng tột. Hành giả phải biết quả ban đầu, bậc giữa, rốt sau đều không thể nghĩ bàn. Cho nên bản tân dịch kinh Kim Quang Minh nói: “Như Lai lúc ban đầu không thể nghĩ bàn, Như Lai khoảng giữa bao nhiêu thứ trang nghiêm, Như Lai rốt sau thường không thể phá hoại.” Đó là ước về hai tâm tu Chỉ Quán để biện kết quả của nó. Bài kệ trong kinh Ban Châu tam-muội chép: Chư Phật từ tâm được giải thoát, Tâm ấy thanh tịnh gọi không nhớp, Năm đạo sạch sẽ chẳng nhuốm màu, Học được pháp này thành Đại đạo. Thệ nguyện tu hành phải trừ tam chướng và ngũ cái. Nếu như không trừ, tuy siêng năng dụng công trọn không lợi ích. Giảng: Phần chứng quả này chúng ta nghe kỹ, nghiệm xét sự tu hành của mình xem có tiến bộ không, để nắm vững không nghi. Bởi chúng ta tu là phải có tiến bộ, có kết quả, chứ không đứng một chỗ hoài. Vì vậy nếu không hiểu rõ thì dễ sanh nghi ngờ. Nếu hành giả khi tu Chỉ Quán như thế, biết rõ tất cả pháp đều do tâm sanh, nhân duyên hư giả không thật, nên là không; vì biết không, nên không thấy có tướng danh tự của tất cả pháp, thế là thể nhập chân thật. Khi ấy, trên không thấy có Phật quả đáng cầu, dưới không thấy có chúng sanh đáng độ. Ấy gọi là quán từ Giả nhập Không, là quán nhị đế, là tuệ nhãn, là Nhất thiết trí. Nếu trụ nơi quán này tức là sa vào quả vị Thanh văn, Bích-chi Phật. Khi tu Quán biết rõ các pháp đều là nhân duyên, do tâm sanh, hư giả không thật. Nhờ biết rõ nên không thấy tướng danh tự của tất cả pháp là thật, vì các pháp đã là duyên hợp không thật thì có gì mà chấp vào danh tự. Nếu thấy được như vậy là thể nhập thật tánh của các pháp. Nhận được rồi thì khi ấy, trên không thấy có Phật quả đáng cầu, dưới không thấy có chúng sanh đáng độ. Tại sao? Vì các pháp không thật thể thì quả Phật và chúng sanh cũng không có thật thể. Ấy gọi là quán từ Giả nhập Không, là quán nhị đế, là tuệ nhãn, là Nhất thiết trí. Tất cả các hiện tượng chứng đắc của Phật và đau khổ của chúng sanh đều là hư giả, nên thể tánh của nó là không. Đó là quán nhị đế. Nhị đế là tục đế và chân đế. Tục đế là chúng sanh, chân đế là Phật. Biết rõ như vậy tức là người có trí tuệ, được nhất thiết trí. Nếu trụ nơi quán này tức là sa vào quả vị Thanh văn, Bích-chi Phật. Thấy các pháp không tự tánh rồi không cầu Phật quả, không nghĩ độ chúng sanh, nếu trụ trong quán này thì gọi đó là trí tuệ của Thanh văn, Bích-chi Phật. Tuy cũng có trí tuệ nhưng trí tuệ đó chưa được tròn đủ. Cho nên trong Kinh chép: “Các vị Thanh văn v.v... tự than rằng: Chúng ta nếu nghe cõi Phật thanh tịnh, giáo hóa chúng sanh, tâm không vui mừng. Vì sao? Vì tất cả pháp thảy đều rỗng lặng, không sanh không diệt, không lớn không nhỏ, vô lậu vô vi, suy nghĩ như thế nên không vui mừng.” Hàng Thanh văn chấp nhận nhập Niết-bàn mãi, vì các ngài thấy rõ thể tánh của các pháp là không sanh không diệt, thì có gì để sanh có gì để diệt. Do nhàm chán không ưa thích, nên an trụ Niết-bàn. Phải biết người thấy được pháp vô vi mà vào chánh vị, người ấy trọn không thể phát ba thứ tâm Bồ-đề, vì sức định nhiều mà không thấy Phật tánh. Vì quán các pháp là Không mà được định, định nhiều nhưng không thấy Phật tánh, nên ở hàng Nhị thừa, Bích-chi Phật. Nếu Bồ-tát vì tất cả chúng sanh thành tựu tất cả Phật pháp thì không nên chấp giữ vô vi tự tịch diệt, khi ấy nên tu Quán từ Không nhập Giả. Bồ-tát phải tu Quán từ Không nhập Giả, nghĩa là biết các pháp tự tánh không nhưng duyên hợp giả có, chứ chẳng phải không ngơ. Chúng sanh tự tánh là không, nhưng hiện tại vẫn còn mê lầm, vẫn còn đau khổ, cho nên vẫn phải hóa độ họ, không thể an trụ Niết-bàn. Nghĩa là phải thật quán tâm tánh tuy không, nhưng khi đối duyên liền sanh ra tất cả các pháp cũng như huyễn hóa, tuy không quyết định thật mà vẫn có các tướng thấy, nghe, hiểu, biết v.v... khác nhau. Hành giả khi quán như thế, tuy biết tất cả pháp rốt ráo là rỗng lặng, mà hay ở trong Không tu các hạnh, như gieo giống trong Không; cũng hay phân biệt các căn của chúng sanh tánh dục vô lượng, nên thuyết pháp cũng vô lượng. Nếu chứng được vô ngại biện tài thì hay làm lợi ích chúng sanh khắp lục đạo. Ấy gọi là Phương tiện tùy duyên Chỉ, là quán từ Không nhập Giả, là quán bình đẳng, là pháp nhãn, là Đạo chủng trí. Trụ trong quán này sức trí tuệ nhiều, tuy thấy được Phật tánh mà không rõ ràng. Có hai thứ trí: Trí của Thanh văn thấy các pháp không thật, nên trụ ở chỗ vô vi bất sanh bất diệt, gọi đó là tuệ. Trí của Bồ-tát quán các pháp tự tánh là không, duyên hợp giả có, vì vậy phải tùy duyên mà hóa độ không dừng nghỉ, chừng nào chúng sanh đạt đạo giác ngộ mới thôi. Biết các tướng là giả nhưng vẫn vào trong đó để giáo hóa chúng sanh mà không nhập Niết-bàn, đó là tâm Bồ-tát. Nếu Bồ-tát có nhập Niết-bàn thì Niết-bàn đó là Vô trụ xứ Niết-bàn, chứ không phải là Niết-bàn bất sanh bất diệt. Tại sao? Vì Bồ-tát thấy sanh diệt chỉ là hiện tượng giả hợp, như thiền sư Từ Minh nói “sanh như đắp chăn đông, tử như cởi áo hạ”. Mùa đông lạnh thì đắp chăn, mùa hạ nóng thì cởi áo. Bồ-tát sanh ra đời xem như đắp chăn đông, khi mất thân này coi như cởi áo hạ, không buồn không sợ, đó gọi là Du hý tam-muội, tức là dạo chơi khắp lục đạo luân hồi mà vẫn ở trong chánh định. Do biết các pháp là giả tạm nên các ngài khởi quán bình đẳng, giáo hóa chúng sanh không mỏi mệt. Vì vậy gọi các ngài là hàng được pháp nhân, có Đạo chủng trí. Bồ-tát tuy thành tựu hai pháp quán trên, đó gọi là Quán môn phương tiện, không phải là chánh quán. Kinh chép: “Hai thứ trước là đạo phương tiện, nhân hai thứ quán Không Giả ấy được vào quán Trung đạo đệ nhất nghĩa, song chiếu cả hai đế, tâm thường vắng lặng, tự nhiên trôi vào biển Đại Giác.” Nếu Bồ-tát muốn ở trong một niệm đầy đủ tất cả Phật pháp, nên tu “Chỉ dứt hai bên phân biệt” (Tức nhị biên phân biệt Chỉ) thực hành chánh quán Trung đạo. Nếu còn quán Không quán Giả là còn kẹt hai bên chưa tới chỗ cứu cánh, cho nên đến đây dung hợp cả hai, Không Giả đều buông nhập vào Trung đạo đệ nhất nghĩa. Đó là Trung đạo quán đi tới trí tuệ Phật. Thế nào là Chánh quán? Nếu thấu hiểu tâm tánh không phải Chân, không phải Giả, dứt tâm duyên Chân Giả, gọi là Chánh thật quán. Tâm tánh không phải không, không phải Giả, mà không phá hoại pháp Không, Giả. Nếu hay chiếu liễu như thế thì ở nơi tâm tánh thông đạt được Trung đạo, viên chiếu cả nhị đế. Nếu hay tự tâm thấy được Trung đạo, nhị đế, thì thấy Trung đạo, nhị đế của tất cả pháp mà không chấp Trung đạo, nhị đế. Bởi vì quyết định tánh không thể có, ấy gọi là chánh quán Trung đạo. Như bài kệ Trung Luận nói: Nhân duyên sanh các pháp, Ta nói tức là Không, Cũng gọi là Giả danh, Cũng gọi nghĩa Trung đạo. Nhị đế là hai lẽ thật, tục đế và chân đế. Thấy có tục có chân là còn đối đãi chưa tới được Trung đạo. Bài kệ trong Trung Quán Luận của ngài Long Thọ nói: Nhân duyên sanh các pháp, ta nói tức là Không. Các pháp do nhân duyên sanh đều không có thật thể nên tánh nó là không. Cũng gọi là Giả danh, cũng gọi nghĩa Trung đạo. Do không có thật thể đợi duyên hợp mới có, nên có đó cũng chỉ là tên giả. Như vậy nếu quán Không quán Giả riêng từng phần là chưa đến chỗ cứu cánh, mà phải dung hợp cả hai Không và Giả, để thấy rõ cuối cùng chân và giả cũng không còn, gọi đó là nghĩa Trung đạo, là đệ nhất nghĩa đế. Sưu tầm ý bài kệ này, không những đầy đủ phân biệt tướng Trung quán, cũng gồm nói chỉ thú hai thứ quán môn phương tiện trước. Phải biết chánh quán Trung đạo tức là Phật nhãn, Nhất thiết chủng trí. Nếu quán bằng trí tuệ biết các pháp duyên hợp hư giả không có tự tánh mà chúng sanh mê lầm tưởng thật, nên chúng ta khởi lòng từ bi thì đó là chánh quán Trung đạo, cũng là con mắt của Phật, cũng là Nhất thiết chủng trí, là trí tuệ của Phật. Nếu trụ nơi quán này thì sức định và tuệ đồng đẳng, thấy Phật tánh rõ ràng, an trụ trong Đại thừa, bước đi bằng phẳng nhanh như gió, tự nhiên vào trong biển Đại Giác. Nếu người nào có đủ hai thứ quán này, tức là có đủ từ bi và trí tuệ, thì đó là người vào được trí tuệ Phật. Thực hành hạnh Như Lai, vào nhà Như Lai, mặc y Như Lai, ngồi tòa Như Lai, dùng đồ trang nghiêm của Như Lai mà tự trang nghiêm. Trong kinh Pháp Hoa, Phật bảo phải vào nhà Như Lai, mặc y Như Lai, ngồi tòa Như Lai. Vào nhà Như Lai là tâm từ bi. Mặc y Như Lai là nhu hòa nhẫn nhục. Ngồi tòa Như Lai là trí tuệ thấy tất cả pháp Không. Nếu có trí tuệ mà chưa có từ bi là chưa vào nhà Như Lai, có từ bi nhẫn nhục mà không có trí tuệ thấy các pháp tánh Không thì chưa được ngồi tòa Như Lai. Như vậy giá trị của người tu Phật là phải có đủ trí tuệ và từ bi. Đó là hai điều căn bản. Được sáu căn thanh tịnh, vào cảnh giới của Phật, đối với tất cả pháp không nhiễm trước, tất cả Phật pháp đều được hiện tiền, thành tựu Niệm Phật tam-muội, an trụ trong định Thủ-lăng-nghiêm, thế là phổ hiện sắc thân tam-muội, khắp vào cõi Phật trong mười phương, dạy bảo chúng sanh trang nghiêm tất cả cõi Phật, cúng dường mười phương chư Phật, thọ trì pháp tạng của chư Phật, đầy đủ tất cả hạnh ba-la-mật, ngộ nhập vị Đại Bồ-tát, cùng với ngài Văn-thù, Phổ Hiền kết bạn. Có đủ trí tuệ và từ bi là được vào nhà Phật, mặc áo Phật, ngồi tòa của Phật. Tất cả những gì Phật có, chúng ta cũng đều có. Niệm Phật tam-muội, an trụ định Thủ-lăng-nghiêm v.v... đầy đủ như Phật, khỏi phải tìm kiếm ở đâu. Như vậy người tu Phật trước hết phải có trí tuệ, kế khởi tâm đại bi và đầy đủ hạnh của chư Phật mới được. Chúng ta muốn có trí tuệ thì phải cố gắng quán chiếu đúng như lời Phật dạy, các pháp do nhân duyên sanh, không có cái gì lìa ngoài nhân duyên. Pháp do nhân duyên sanh tạm có rồi hoại, không có gì lâu bền mãi mãi, vì vậy chúng ta không nên cố chấp. Nếu chúng ta biết các pháp từ cái nhà, cái bàn cho đến con người... đều là giả hợp, thì tạm mượn cái thân giả làm tất cả Phật sự giả, giáo hóa chúng sanh hư giả. Bởi thấy chúng sanh mê lầm lấy giả cho là thật nên chúng ta không cam lòng, vì vậy làm tất cả để độ chúng sanh mà không chán không mệt. Ví dụ chúng ta cùng năm ba người ở chung một phòng, giữa đêm nghe huynh đệ nằm bên cạnh mớ, họ hốt hoảng kêu khóc cầu cứu. Dù biết họ đang khóc kêu cứu trong mộng, nhưng chúng ta có nỡ để họ khóc la kêu cứu hoài không? Biết họ đang khổ trong mộng mà mình vẫn phải cứu, gọi cho họ thức dậy thì các cảnh khổ đau trong mộng tự tan. Cũng vậy, chúng sanh đang mê lầm tưởng giả là thật, bị cảnh đó lôi kéo tạo không biết bao nhiêu khổ đau. Muốn cứu cho hết khổ chỉ cần gợi nhắc họ thấy đúng như thật, khi thấy đúng như thật rồi lúc đó hết khổ. Mục tiêu chủ yếu của đạo Phật là đánh thức mọi người trong cơn mê. Bởi vì mê thì mộng, mộng thì khổ. Hết mê thì hết mộng, hết mộng là hết khổ. Đó là độ chúng sanh. Hiện tại chúng tôi giảng kinh cho Phật tử nghe, tức là đang đánh thức, đang độ chúng sanh. Độ chúng sanh không cần chèo thuyền bè mà chỉ cần đánh thức cho hiểu cái gì thật, cái gì chưa phải thật. Hiểu được rồi là giải tỏa bao điều khổ. Tự mình thấy đúng như thật thì khổ tự nhiên hết. Nhận ra và ứng dụng đúng mới thấy được hiệu nghiệm của Phật pháp, còn rủ nhau đi chùa tụng kinh hết bộ này đến bộ kia mà không có trí tuệ tỉnh thức, chỉ cho việc tụng nhiều là có phước qua tai nạn, nghĩ vậy là sai lầm. Nếu tụng kinh mà bị tai nạn thì thầm trách Phật không ủng hộ mình, đó là người mê khó tránh hết khổ. Chúng ta tu khéo dùng trí tuệ Bát-nhã, thấy tường tận các pháp thể tánh là không, duyên hợp giả có, tụ rồi phải tan, hợp rồi phải rã. Biết vậy rồi nên không còn chấp, không chấp thì hết khổ. Từ đó khởi lòng từ bi đánh thức chúng sanh giúp cho họ dứt mê lầm, đó là tâm của Bồ-tát. Nếu chúng ta cứ nghĩ mình hết khổ rồi an phận cho khỏe, chúng sanh mê cũng là giả thôi không cần cứu giúp, nghĩ như vậy là tâm của Thanh văn Duyên giác. Cho nên tuy biết cảnh đời là tạm bợ, nhưng thấy người khổ vẫn thương cứu giúp cho họ tỉnh thức hết khổ, đó là bổn phận người tu. Đủ trí tuệ và lòng từ bi là đủ tất cả Phật sự, là tròn được hạnh Bồ-tát. Thường trụ trong thân pháp tánh, vì chư Phật khen ngợi thọ ký, ấy là trang nghiêm Đâu-suất-đà thiên, thị hiện giáng thần trong thai mẹ, xuất gia, đến đạo tràng, hàng phục ma oán, thành chánh giác, chuyển pháp luân, vào Niết-bàn. Ở các cõi nước khắp mười phương làm viên mãn tất cả Phật sự, đầy đủ hai thân Chân và Ứng... ấy là Sơ phát tâm Bồ-tát. Đoạn này từ câu “Sưu tầm ý bài kệ này...” đến “ấy là Sơ phát tâm Bồ-tát” là phần nói về kết quả tu chứng của người ứng dụng pháp quán Trung đạo. Như ở trên nói, nhân duyên sanh các pháp, ta nói tức là Không. Với cái nhìn của Phật thấu suốt được các pháp do nhân duyên sanh, không có thật thể cố định. Như bàn tay khi co năm ngón tay lại thì gọi là nắm tay. Như vậy nắm tay là có hay là không? Nếu không thì mắt đang thấy mà nói không sao được. Nếu có thì khi buông ra nắm tay ở chỗ nào? Nắm tay này do nhân duyên hợp lại thành, nó không có thật tánh chứ không phải không có giả tướng nắm tay. Chúng ta học Bát-nhã thuộc lòng, đêm nào cũng đọc: Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Khi Bồ-tát Quán Tự Tại thực hành trí tuệ Bát-nhã thâm sâu, ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua tất cả khổ nạn. Soi thấy năm uẩn đều không, vậy hiện tại ai đứng ai ngồi đây? Cho nên nói Không là không có thật thể cố định, chứ không phải là không có thân giả tướng này. Chữ Không này không phải là không đối với có, cái này vật chất là có cái kia trống rỗng là không, mà là ngay trong cái có biết rõ duyên hợp thể tánh là không, gọi là tánh Không. Hiểu được tánh Không thì mọi khổ nạn đều qua. Chúng ta hiểu rồi mà sao chưa qua khổ nan? Bởi vì tuy hiểu năm uẩn là không, nhưng hiểu bằng nghĩ suy chứ chưa phải hiểu bằng thâm nhập. Nếu thật sự hiểu, lúc nào cũng thấy thân năm uẩn là giả tướng tạm bợ, thì người ta chửi mình cũng không giận. Chính mình đã tạm bợ thì những thứ như lời chửi, khinh khi, được mất, hơn thua, phải quấy v.v... lại càng tạm bợ. Một chuỗi tạm bợ thì có cái gì làm khổ ách cho mình? Thấy thân thật nên khổ thật, còn biết thân giả thì tất cả những thứ làm mình khổ cũng là giả, có gì quan trọng mà khổ. Như vậy là qua hết khổ ách. Nếu hiểu thì tu một câu cũng đủ hết khổ, còn không thì dù tụng Bát-nhã bao lần, tụng thì tụng mà khổ vẫn cứ khổ hoài. Thấy bằng trí tuệ Bát-nhã là Bồ-tát, thấy theo mê chấp là chúng sanh. Bồ-tát thì hết khổ ách còn chúng sanh thì chịu khổ ách. Hết khổ hay còn khổ là do trí tuệ thấy đúng lẽ thật, chứ không phải do ai cứu mình hết khổ, nếu cứ ôm ấp mê lầm thì muôn đời vẫn không hết khổ. Học Phật pháp là học về trí tuệ. Phật là giác nên điều gì đức Phật nói ra đều căn cứ trên trí tuệ giác ngộ mà nói. Chúng ta học Phật phải dùng trí tuệ để hiểu được lẽ thật, có trí thì tự mình giải khổ cho mình. Nếu Phật tử gặp tai nạn đến chùa nhờ quý thấy quý cô tụng kinh cầu nguyện, mà bản thân mình thì cứ chấp thân thật, lời nói thật... thì dù có cầu nguyện vẫn khổ mãi. Phật dạy người tu hạnh Bồ-tát phải có đủ tự giác và giác tha. Tự giác là cứu khổ cho mình, giác tha là cứu khổ cho người. Cứu khổ bằng giác tha, tức là giúp cho người giác ngộ. Tất cả kinh điển của Phật dạy cốt làm sao cho mọi người tự thức tỉnh, tự biết lẽ thật thì hết khổ. Người thế gian vì mê muội nên khổ, chẳng những khổ đời này mà còn khổ mãi mãi về sau. Chúng ta tự cho mình là tốt, là thanh cao, nhưng nếu gặp người có thế lực hơn nhục mạ, chúng ta không thể trả lời chống cự lại được thì ôm hận suốt đời, nguyện đời này trả không được đời sau trở lại sẽ trả. Rõ ràng chúng sanh vì mê muội nên cột những mối dây sanh tử vào mình, đời này đã khổ lại muốn đời sau gặp nhau để tiếp tục khổ, nối tiếp không ngừng, cứ vậy mà luân hồi. Cho nên người tu phải sáng suốt, thấy bằng trí tuệ đúng với lẽ thật chứ đừng thấy theo mê lầm. Đức Phật luôn dùng trí tuệ chân thật nên không ai quấy nhiễu được ngài. Có lần Phật đi khất thực tới một vùng đạo Bà-la-môn, họ nghe Phật nói pháp được cảm hóa nên bỏ đạo theo Phật, khiến vị thủ lãnh Bà-la-môn tức giận. Một hôm Phật đi khất thực, ông đi theo sau chửi, ngài cứ khoan thai bước đi, gần đến cuối đường ông tức quá chạy lên chặn đường hỏi: - Cù-đàm! Ngài thua tôi chưa? Phật chậm rãi trải tọa cụ ngồi xuống nói bài kệ: Kẻ hơn thì thêm oán, Người thua ngủ chẳng yên. Hơn thua hai đều xả, Ấy được an ổn ngủ. Đức Phật có trí tuệ nên bị người theo chửi mà không buồn không giận, vì vậy ngài an ổn, còn chúng ta thì cứ sợ thua nên ráng cãi cho hơn, mà hơn thì người giận hờn oán thù mình. Cho nên chỉ cần xả bỏ tâm hơn thua thì ngủ bình an, hết tai họa, hết khổ ách. Học Phật phải làm theo hạnh Phật, đừng làm theo hạnh chúng sanh. Nếu dùng trí tuệ quán chiếu tu tập dần dần thì trí tuệ sẽ mạnh lên. Sở dĩ trí tuệ của chúng ta không mạnh là vì mình có bệnh dửng dưng. Nghe thấy ai khổ thì nói “Ôi đồ giả!”, khổ mặc họ không để tâm đến. Cho nên phải bước qua giai đoạn thứ hai là quán. Quán các pháp tánh Không nhưng duyên hợp giả có, bởi chúng sanh do mê lầm tưởng thật nên khổ. Chúng ta tỉnh giác cần phải khởi lòng thương mà độ họ, chứ không phải thấy giả rồi bỏ mặc. Quán tánh Không là trí tuệ, thấy chúng sanh lầm mê khởi lòng thương là từ bi. Như vậy trí tuệ và từ bi quân bình không thiếu, đó là nghĩa Trung đạo, là bước vào trí tuệ Phật. Nếu quán tánh Không mà không khởi từ bi thì dễ bị khô khan, nên nói trí tuệ thiếu từ bì là trí tuệ khô, gọi là càn tuệ. Người đủ trí tuệ và từ bì thì tất cả Phật sự đều tròn đủ. Đây kết thúc nói, ở các cõi nước khắp mười phương làm viên mãn tất cả Phật sự, đầy đủ hai thân Chân và Ứng... ấy là Sơ phát tâm Bồ-tát. Trong kinh Hoa Nghiêm nói: “Khi sơ phát tâm liền thành Chánh giác, thông suốt tánh chân thật của các pháp, được tuệ thân không phải do người khác mà ngộ.” Cũng nói: “Sơ phát tâm Bồ-tát được một thân Như Lai làm vô lượng thân.” Cũng nói: “Sơ phát tâm Bồ-tát tức là Phật.” Sao nói Sơ phát tâm Bồ-tát tức là Phật? Bởi vì người thấy được pháp tánh đúng như thật là đại giác ngộ, rồi khởi tâm đại bi độ chúng sanh đó là tâm của Phật. Như vậy ngộ pháp Phật thì phát được tâm Phật, nên tuy sơ phát tâm mà đồng tánh Phật không khác. Kinh Niết-bàn nói: “Sơ phát tâm và cứu cánh tâm hai cái không khác, hai tâm như thế, tâm trước là khó.” Khi tu thành Phật rồi đủ cả trí tuệ và từ bi mới độ chúng sanh, việc đó dễ hơn người mới phát tâm Bồ-tát mà sẵn sàng đem trí tuệ của mình cứu độ chúng sanh. Hai tâm này thì tâm trước khó hơn tâm sau. Kinh Đại Phẩm nói: “Tu-bồ-đề! Có đại Bồ-tát mới sơ phát tâm liền tọa đạo tràng, chuyển bánh xe chánh pháp, phải biết Bồ-tát ấy như Phật vậy.” Trong kinh Pháp Hoa nàng Long nữ dâng hạt châu làm chứng, những kinh như thế đều nói sơ phát tâm làm đủ tất cả Phật pháp, như kinh Đại Phẩm nói “Chữ A”, kinh Pháp Hoa nói “Khiến chúng sanh khai Phật tri kiến”, kinh Niết-bàn nói “Thấy Phật tánh cho nên trụ Đại Niết-bàn”. Đã lược nói tướng Sơ phát tâm nhân tu Chỉ Quán được chứng quả. Bồ-tát tuy mới phát tâm mà liền tọa đạo tràng chuyển bánh xe chánh pháp, những vị đó tuy là Bồ-tát mà cũng đồng như Phật. Đây dẫn kinh làm chứng, để thấy rằng người phát tâm ban đầu mà có đầy đủ trí tuệ và từ bi thì tâm đó cũng như tâm của Phật. Chúng ta từ phát tâm ban đầu là vì ai mà phát tâm? Vì khởi nghĩ độ chúng sanh hay tu để cho mình bớt phiền não? Nếu chỉ ráng tu cho mình bớt phiền não bớt khổ thì phát tâm đó là vì mình, chứ không phải vì thương muốn cứu độ chúng sanh. Tâm ấy chưa phải là tâm Phật. Chúng ta kiểm nghiệm lại để hiểu cho đúng, bởi vì phần nhiều nghe nói phát tâm tu rồi tưởng là mình tu hay, cũng giống như Phật. Tu vì thương muốn độ chúng sanh là tâm Bồ-tát, nếu không được vậy thì phát tâm đó cũng chỉ là tâm chúng sanh. Tuy nhiên khi đã phát tâm tu, dù muốn cho mình bớt phiền não khổ hay vì muốn độ chúng sanh, miễn là cố gắng tu thì cũng đều tốt. Kế nói Hậu tâm chứng quả. Cảnh giới của Hậu tâm chứng không thể biết, nay suy theo giáo lý để rõ, trọn không rời hai pháp Chỉ và Quán. Tại sao? Kinh Pháp Hoa nói: “Ân cần khen ngợi trí tuệ của chư Phật”, trí tuệ là nghĩa Quán. Đây là đứng về Quán để rõ quả. Kinh Niết-bàn luận rộng về “một trăm câu giải thoát” để giải thích Đại Niết-bàn, Niết-bàn nghĩa là Chỉ. Đó là đứng về Chỉ để rõ quả. Chỉ là định, Quán là trí tuệ. Người tu cốt có đủ định và tuệ. Định thì tâm yên lặng không có niệm khởi mà hằng giác hằng tri, tuệ thì thấy đúng như thật về các pháp. Do dùng trí tuệ quán chiếu nên hằng tỉnh giác không còn mê lầm điên đảo, do nội tâm không có niệm khởi nên mầm sanh diệt dứt, đó là Niết-bàn. Thấy bằng tỉnh giác là cái thấy của Phật, nên nói Chỉ là Niết-bàn, Quán là trí tuệ Phật. Cho nên nói Đại Niết-bàn là thường tịch định. Định tức là nghĩa Chỉ. Trong kinh Pháp Hoa tuy đứng về mặt Quán để rõ quả, nhưng cũng nhiếp Chỉ. Cho nên nói “nhẫn đến tướng cứu cánh Niết-bàn thường tịch diệt trọn quy về Không”. Đại Niết-bàn là thường lặng lẽ an định, trong kinh Pháp Hoa gọi là tri kiến Phật, đó là nói về Quán. Tuy Quán nhưng cũng nhiếp Chỉ, nên nói nhẫn đến cứu cánh Niết-bàn thường tịch diệt trọn quy về Không. Không tức là không tự tánh. Như trong kinh Bát-nhã nói “chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách” thì chúng ta hiểu rồi, nhưng đến đoạn sau nói “vô nhãn nhĩ tỹ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp...” chắc là chúng ta cũng chưa thông suốt lắm. Đây tôi nói thêm cho rõ, bởi nếu không hiểu thì khi tu có nhiều thứ chướng. Trong tánh không đó không có mắt tai mũi lưỡi thân ý, không có sắc thanh hương vị xúc pháp, không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới... Nghĩa là trước thấy ngũ uẩn không thật, kế thấy luôn sáu căn, sáu trần, sáu thức, thập nhị nhập, thập bát giới cũng không thật. Đó là chỉ cho các pháp thế gian đều không có tánh thật. Những pháp thế tục không thật thì phải, vì là duyên hợp, nhưng đoạn sau nói “Vô vô minh diệc vô vô minh tận..., vô khổ tập diệt đạo...” không có vô minh cũng không có hết vô minh..., cho đến không có khổ tập diệt đạo v.v... Pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên của Phật nói là chân lý, tại sao cũng không? Đó là điều mà nhiều người không nắm vững đâm ra nghi ngờ, cho rằng học Bát-nhã dễ bị bệnh chấp không, nên nói “thà chấp có bằng núi Tu-di chứ đừng chấp không bằng hạt cải”, vì chấp không là nguy hiểm. Pháp Phật là những phương thuốc trị tâm bệnh, chúng sanh có bao nhiêu bệnh thì Phật có bấy nhiêu thuốc. Do chúng sanh mê lầm thấy ngũ uẩn thật, nên Phật dạy quán thân năm uẩn là không. Nếu biết năm uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới... đều là tánh Không thì không còn mê lầm để chấp. Bởi không chấp trong thân, không chấp ngoại cảnh thì pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên cũng không có thật. Chúng ta bệnh là do chấp thật, nếu biết không thật thì bệnh lành. Bệnh lành rồi thuốc phải bỏ, bệnh lành mà cứ uống thuốc hoài là thêm họa. Như pháp Tứ đế, Phật nói Khổ đế gồm có tứ khổ hoặc bát khổ, là căn cứ trong cuộc sống mà nói. Do thấy thân thật nên có khổ thật. Muốn khổ hết phải quán thân này duyên hợp hư giả, thấy tất cả khổ đều là trò chơi thì hết khổ. Hết khổ thì Tập đế là nguyên nhân làm ra khổ cũng hết. Tập đế hết nên Đạo đế, Diệt đế hết. Nếu biết thân năm uẩn cho đến tất cả pháp thế gian không thật, mà còn thấy pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, trí đắc v.v... là thật, tức hết bệnh mà còn giữ thuốc, còn giữ thuốc là còn nuôi bệnh chứ chưa thật hết bệnh. Bát-nhã phá tất cả chấp, từ pháp thế gian cho đến pháp Phật dạy, không có một pháp nào là thật. Muốn chứng Phật quả viên mãn phải không còn thấy bên đây không thật, bên kia là thật. Thấy được chỗ tột cùng đó Bồ-tát mới chứng Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Hiểu được ý nghĩa của kinh Bát-nhã chúng ta tu không lầm, không bị dính mắc. Như vậy đây nói Chỉ và Quán, tức chỉ cho định và tuệ. Trí tuệ là Phật, là giác. Định là tịch tĩnh, là Niết-bàn. Đầy đủ trí tuệ và thiền định mới an trú Niết-bàn. Trong kinh Niết-bàn tuy đứng về mặt Chỉ để rõ quả, nhưng cũng gồm Quán. Bởi vì lấy ba đức làm Đại Niết-bàn. Hai bộ kinh lớn này tuy văn có hiện có ẩn khác nhau, nhưng đều đứng về hai môn Chỉ Quán biện chỗ cứu cánh của nó, gồm căn cứ hai pháp định tuệ để rõ quả vị cùng tột. Kinh Niết-bàn tuy nặng về Chỉ nhưng cũng có Quán, trong đó đủ ba đức là Pháp thân, Bát-nhã và Giải thoát. Pháp thân là chỉ cho tâm thể thanh tịnh. Bát-nhã là chỉ cho trí tuệ. Giải thoát là không dính mắc. Tuy nói có ba, nhưng gom lại căn bản là trí tuệ và thiền định. Chúng ta tu học tất cả pháp đều phải có trí tuệ và thiền định, dùng trí tuệ quán chiếu để không nhiễm nhơ và tọa thiền để tâm thanh tịnh. Đó là gốc của người tu thiền. Hành giả phải biết quả ban đầu, bậc giữa, rốt sau đều không thể nghĩ bàn. Cho nên bản tân dịch kinh Kim Quang Minh nói: “Như Lai lúc ban đầu không thể nghĩ bàn, Như Lai khoảng giữa bao nhiêu thứ trang nghiêm, Như Lai rốt sau thường không thể phá hoại.” Quả ban đầu tức là lúc mới phát tâm, khoảng giữa là trong thời gian ứng dụng tu, rốt sau là khi chứng được quả chân thật. Trong kinh Kim Quang Minh nói Như Lai lúc ban đầu không thể nghĩ bàn. Tại sao? Bởi vì sự thấy biết và tu hành của Phật đều đi tới chỗ chân thật, chỗ đó chúng ta không thể dùng suy nghĩ để hiểu, không thể dùng ngôn ngữ mà nói đến được. Như Lai khoảng giữa bao nhiêu thứ trang nghiêm. Trong thời gian tu Phật làm tất cả việc vì lợi ích cho chúng sanh, không thể tính lường hết. Như Lai rốt sau thường không thể phá hoại. Khi đức Phật thành đạo chứng quả rồi, không còn sanh không còn diệt, nên không gì có thể phá hoại được. Thân chúng ta đang có đây là dễ phá hoại hay khó phá hoại? Chỉ một mũi tên, một lằn đạn... đụng vào thì liền tan nát, vì nó là tướng duyên hợp không bền chắc. Trong khi chúng ta đang sống, toàn thân là một dòng sanh diệt không dừng. Lỗ mũi hít vô thở ra, tim đập mạch máu vận hành, các tế bào chuyển biến sanh diệt... không có cái gì dừng trụ yên định, như dòng nước chảy đổi thay luôn luôn. Chúng ta nhìn thấy nước chảy liên tục gọi là dòng nước, chứ dòng nước đó không thật có, vì cái này vừa tới thì cái kia đã qua mất rồi. Thân chúng ta cũng vậy, là một dòng biến chuyển không có thật. Không thật mà nói thật thì đó là người giác hay mê? Nếu biết thân này là dòng biến chuyển không thật, giả sử nó bị mất thì có gì mà buồn, mà quý tiếc. Tưởng thật nên mất mới tiếc, biết giả thì còn hay mất đâu có gì quan trọng. Thấy thật là kẻ mê, biết giả là người giác. Hiểu thấu đáo chúng ta mới thấy, mình sống bị mê lầm che phủ nên cứ vọng chấp cái giả là thật. Mê từ đời này đến kiếp nọ, tạo nghiệp không cùng, luân hồi không có ngày ra. Bởi thấy thân thật nên nó thèm món gì thì phải ăn, sợ nó thiếu. Ăn món này xong lại thèm cái khác... Càng phục vụ nó càng sanh chứng, đòi hoài cả đời không đủ, vì vậy nên khổ. Khổ này chưa xong lại tới khổ kia, luôn luôn là khổ. Nếu người giác biết thân là giả thì dừng tạo nghiệp, không làm nô lệ cho nó nữa. Biết không thật là có trí tuệ, nhờ trí tuệ làm chủ nên bớt tham sân si, hết tham sân si thì hết khổ, là giải thoát sanh tử. Đó là ước về hai tâm tu Chỉ Quán để biện kết quả của nó. Bài kệ trong kinh Ban Châu tam-muội chép: Chư Phật từ tâm được giải thoát, Tâm ấy thanh tịnh gọi không nhớp, Năm đạo sạch sẽ chẳng nhuốm màu, Học được pháp này thành Đại đạo. Thệ nguyện tu hành phải trừ tam chướng và ngũ cái. Nếu như không trừ, tuy siêng năng dụng công trọn không lợi ích. Bài kệ trong kinh Ban Châu Tam-muội nói: Chư Phật dùng tâm từ bi mà được giải thoát. Tâm từ bi đó trong sạch, ở trong năm đạo, hoặc lục đạo luân hồi, sạch sẽ chẳng bị nhuộm những màu phiền não nhơ nhớp. Người nào học được pháp như vậy, người đó thành đại đạo. Người có tâm quyết chí tu hành phải ráng trừ ba chướng và ngũ cái. Nếu không trừ, tuy siêng năng dụng công mà trọn không có lợi ích. Ba chướng là báo chướng, nghiệp chướng và phiền não chướng, cũng có chỗ nói là tham sân si. Mục Lục
|
Thanh Từ Toàn Tập 15 - Thiền Học Căn Bản
|