|
Bát Nhã Dạy Gì? - Thích Tâm Hạnh
Phần 2: Bát Nhã Qua Các Câu Hỏi
- Phần 1, đã nói về “Tổng Quan Tư Tưởng Hệ Bát Nhã” để có một cái nhìn khái quát, đầy đủ, ngắn gọn cho học nhơn khéo nhận. - Sang Phần 2 - Bát Nhã Qua Các Câu Hỏi, tức là đặt ra một số câu hỏi có liên quan hoặc đi thẳng vào trọng tâm Tư Tưởng Hệ Bát Nhã. Thông qua các câu hỏi này, khi đã nhớ và hiểu thì đọc vào toàn văn, tự khắc thông suốt hết. - Cho nên Phần 2 này đòi hỏi mỗi người cần nhớ, hiểu, thông suốt nghĩa lý, đồng thời khéo ứng dụng khéo nhận lại nơi mình thì sẽ có lợi ích. MỤC 1 CÂU HỎI CĂN BẢN Câu số 1: Nếu chưa thể ngay đây liền tỏ ngộ, hoặc khéo thầm nhận thì người học và tu tập Bát Nhã cần trải qua mấy bước? - Đáp: • Trải qua ba bước: (1) Văn tự Bát-nhã (Lập thành): Học, nhớ, hiểu thông. (2) Chiếu kiến hoặc Quán chiếu Bát-nhã (Thực hành = Phá tướng): Đây là ứng dụng, vận dụng những gì đã học hiểu để thực hành vào công phu tu tập hằng ngày. (3) Thực tướng Bát-nhã (Đạt được điều Bát Nhã muốn chỉ = Chỉ tánh): Khi công phu thuần thục, đắc lực, thời tiết nhân duyên chín muồi, bất ngờ ngộ ra Thể tánh Bát-nhã ngay nơi chính mình, đạt được điều cốt lõi mà Bát Nhã muốn chỉ. Ba bước tu tập trên chỉ trùng hợp trong quy trình đào tạo, chứ không phải ba bước trong quy trình đào tạo. Bởi quy trình đào tạo người học Phật lớn rộng hơn. Câu số 2: Hành giả tu Phật, ai cũng dùng Trí tuệ Bát-nhã, nhưng tựu trung khả năng có thể nằm trong bao nhiêu phạm trù? - Đáp: Câu hỏi nhằm mục đích để chúng ta không bị giới hạn, không bị hiểu lầm về việc ứng dụng Trí tuệ Bát-nhã trong công phu tu hành. Cụ thể, việc ứng dụng Trí tuệ Bát-nhã không chỉ giới hạn qua ba bước như vừa nêu trên (ở câu số 1), mà phải nhận ra các khía cạnh còn lại đã được đặt ra trong câu hỏi. Câu hỏi đã được đặt ra: “Nếu chưa thể ngay đây liền tỏ ngộ, hoặc khéo thầm nhận thì người học và tu tập Bát Nhã cần trải qua mấy bước?” Theo đó, sẽ có câu trả lời cho câu hỏi thứ 2 này là: Hành giả dùng Trí tuệ Bát-nhã trong công phu tu tập, tựu trung sẽ nằm trong hai phạm trù: Hoặc "nhận thẳng", hoặc "tu tập dần dần”. Cụ thể: • Trong nhận thẳng, có tối thiểu hai trình độ: (1) Đốn ngộ; (2) Nhận thẳng hoặc khéo thầm nhận. • Tu tập dần: (1) Chiếu kiến: Chiếu kiến khéo thầm nhận tự tánh giác sáng, và chiếu kiến chưa khéo thầm nhận (tức có dụng công tu tập); (2) Quán chiếu: Trải qua ba bước “Văn tự Bát-nhã → Quán chiếu Bát-nhã → Thực tướng Bát-nhã” như đã nêu ở câu số 1. Rõ được điều này, sẽ trừ được cái thấy biết sai lầm rằng: “Tu tập Bát Nhã chỉ có trải qua ba bước của quán chiếu. Ngoài ra, không thấy thêm gì nữa.” Đó là cái thấy biết chưa đầy đủ, thì dù có tu ba bước trên, cũng mê tự tánh, không thể đạt đến rốt ráo (ngộ Thực tướng Bát-nhã). Ngược lại, nếu thấy biết đầy đủ về tu tập Bát Nhã như vừa nêu trên, thì ứng dụng theo phương thức nào, cuối cùng cũng đạt ngộ, bởi có biết trước và hướng tánh để dụng công. Câu số 3: Các pháp huyễn hóa là một sự thật. Nhưng nghĩa huyễn hóa được hiểu qua mấy phương diện, kể ra? - Đáp: Căn cứ trên 3 nhóm nguyên lý căn bản để nhận biết và khẳng định các pháp huyễn hóa: (1) Vô thường sanh diệt, cho nên không thật (nhìn theo thời gian): a) Thế giới: Thành - Trụ - Hoại - Không: Hình thành, tạm có, biến hoại, trở về không b) Vạn vật: Sanh - Trụ - Dị - Diệt: Sanh ra, tạm có, biến đổi, hoại diệt. c) Chúng sanh: Sanh - Lão - Bệnh - Tử: Sanh, già, bệnh, chết. (2) Huyễn hóa, cho nên không thật, như bóng trăng đáy nước (nhìn theo không gian): a) Không có chủ tể, không do duy nhất một thứ chính làm nên. Vì thế, không phải tự có. b) Do nhân duyên hợp lại mà thành. (3) Xác định một pháp là huyễn hóa, không thật qua ba yếu tố: a) Các pháp không phải nơi mình, mà ở bên ngoài, bị mình thấy biết. b) Các pháp không phải duy chỉ có một, mà do nhiều nhân duyên, yếu tố hợp lại, làm thành. c) Chúng luôn biến đổi vô thường sanh diệt, không cố định, không bền chắc. • Thí dụ: Chứng minh cái chân thật là chân tâm: (1) Lắng lại, sáng ra, nó ở nơi mình. Bởi những gì buông được (thân, tâm sanh diệt, của cải vật chất...) đều ở ngoài mình. Gạn đến tận cùng, tâm sạch sáng, không mê thì chỉ còn một cái buông không được, bỏ không xong, nó sờ sờ ra đó, vô tướng sáng ngời, nghe nói liền biết, ở ngay nơi mình. (2) Buông hết rồi, chỉ còn mình nó, tức chỉ có một. (3) Chân tâm vô tướng, cho nên không bị vô thường biến đổi sanh diệt. Qua 3 điều kiện trên, cho thấy: Chân tâm là chân thật. Tất cả những gì trái với ba điều kiện ấy thì biết chúng đều là huyễn hóa, không chắc thật. Câu số 4: Chữ "Không" trong Bát Nhã được hiểu qua mấy thuyết? - Đáp: Thực tế, chỉ cần thấy biết đúng sự thật bản chất các pháp là hư huyễn, liền tỏ suốt tất cả đều "Không". Nhưng tùy theo trình độ tu tập của mỗi hành giả mà thấy qua các thuyết khác nhau. Ở đây tạm đơn cử ba thuyết: (1) Huyễn hóa, không thật • Nhìn theo thời gian: Vô thường sanh diệt, cho nên không thật: - Thế giới: Thành - Trụ - Hoại - Không. - Vạn vật: Sanh - Trụ - Dị - Diệt. - Chúng sanh: Sanh - Lão - Bệnh - Tử. • Nhìn theo không gian: Huyễn hóa, cho nên không thật, như bóng trăng đáy nước: - Không có chủ tể: Không do duy nhất một thứ chính làm nên. Do đó, không tự có. - Do nhân duyên: Do nhiều thứ (phân tử...) hợp lại mà thành. Vì vậy, nó là huyễn hóa. (2) Hư không - Vạn vật tồn tại trong hư không. - Giữa các vật, các phân tử, tế bào... đều có các khoảng hư không. - Vì sự kết hợp một cách rời rạc như thế cho nên các pháp luôn dao động, không chắc thật. → Do đó, các pháp đều huyễn hóa, không thật. (3) Không tịch (rỗng lặng) - Luôn thấy biết các pháp bản chất đều huyễn hóa, tạm bợ, không thật như thế để không còn dính chấp. Do không dính chấp nên cảnh tự lìa. Khi này, Tâm không (rỗng lặng) - Cảnh tịch (vắng bặt), tâm thể rỗng lặng, sáng biết chủ động linh thông, nhưng vẫn bất động. Tâm cảnh như như, thấy biết như thị. DẪN CHỨNG Kinh Viên Giác, đức Phật dạy: “Này thiện nam, vì huyễn thân của các chúng sanh kia diệt cho nên huyễn tâm cũng diệt. Vì huyễn tâm diệt nên huyễn trần cũng diệt. Vì huyễn trần diệt nên cái huyễn diệt cũng diệt. Cái huyễn diệt đã diệt, nhưng cái phi huyễn (tánh Viên giác) không thể diệt được. Thí như lau gương, bụi nhỏ hết thì ánh sáng hiện. Này thiện nam, nên biết thân tâm đều là huyễn hóa nhỏ bẩn, tướng nhơ bẩn đó diệt hẳn rồi thì (tánh Viên giác) thanh tịnh khắp mười phương. • Ở đây đức Phật dạy: a) Huyễn thân diệt: tức không chấp thân này là thật, không dính chấp trên nó. b) Huyễn tâm diệt: khi thân này không dính thì tâm sanh diệt cũng vắng lặng. c) Huyễn trần diệt: thân tâm đã không dính thì trần cũng diệt. d) Huyễn diệt diệt: cái thấy như huyễn cũng không còn. e) Phi huyễn hiện tiền: khi không còn tướng để sanh khởi (tướng thân hết, tướng tâm lặng, tướng trần mất, tướng mà mình thấy biết đó là huyễn cũng không) thì lúc này chỉ một tâm vô tướng sáng ngời. • “Huyễn diệt” là cái thầm cho “có cái diệt”: - Do tình chấp nên có huyễn sanh. - Do trí quán nên thấy có huyễn diệt. - Thấy có sanh và diệt là nhân duyên đối đãi. - Không trụ chấp vào có chỗ diệt thật, đó là cái huyễn diệt được diệt thì “phi huyễn hiện tiền”. • Cụ thể: - Do quan trọng thân, do đó tâm mới sanh khởi. Biết thân này huyễn, không còn chấp thì tâm cũng không nghĩ ngợi để bảo vệ và vun đắp cho cái gì. - Bởi tâm phân biệt, hiểu biết, ghét thương, lấy bỏ... cho nên các trần duyên mới có giá trị chi phối. Khi tâm đã vắng bặt thì các duyên cũng lặng trong. - Lúc này, thân, tâm phân biệt và các trần đã dứt bặt (diệt); cũng không chấp thấy có cái vắng bặt, lặng trong thì cái phi huyễn (tâm tánh) hiện tiền. Đây là nói theo thứ lớp tiệm tu đối với hành giả hạ thủ công phu còn thấy có tướng dụng công tu tập, chưa khéo vô tác, tu trong vô tu. Ban đầu, bởi sanh tâm chấp tướng nên huyễn vọng mới sanh. Đối với tướng huyễn mà tu hành, hàng phục, có tướng dụng công (dùng trí quán hoặc chiếu kiến mà không khéo nhận tự tánh), do đó thấy có vọng huyễn được diệt. Điển hình: Vì hàng phục vọng tưởng mà tu, tức nhằm trên huyễn để hàng phục, nên khi vọng lặng thì thấy có cái huyễn được diệt. Nhưng cần nhớ rằng, sở dĩ nói huyễn, lìa huyễn là bởi vì tình chấp của mình, chứ nó không thật có. Và nếu không khéo nhận tánh chân thì chúng ta sẽ thấy có một cái huyễn thật để mình biết và lìa. Và sự thật là, khi tình chấp hết thì không nằm trong huyễn và chân mà toàn thể là một tánh sáng ngời. Nếu đang dụng công thì cần có cái thấy biết đúng đắn rằng, sanh và diệt là hai tướng đối đãi. Thấy có huyễn vọng sanh, rồi tu hành thấy nó đã được lắng lại, đó là nhằm trên tướng sanh diệt đối đãi hai bên để thấy biết, tức đã quên bản tâm mà phan duyên, thức mê còn có chỗ để tồn tại. Công phu như thế sẽ không có kết quả, vô lực, vẫn chưa an toàn, bởi mầm mống của sanh tử hãy còn. Lìa hai bên sanh diệt đối đãi, vọng sanh cũng chỉ là huyễn, cho nên chúng không thật sanh; có lặng cũng là tướng huyễn, vì vậy cũng không thật diệt. Không can thiệp trên vọng, không thèm sanh tâm gì trên việc sanh và diệt của các vọng (không trụ chấp vào có chỗ diệt thật; đó là huyễn diệt được diệt). Lúc này, cái phi huyễn (tâm tánh) hiển hiện rõ ràng. Chỉ sống bằng tâm tánh này, chính thực là đang tu. • Tóm lại: Tình chấp thân tâm hết, bóng dáng duyên theo sáu trần lặng thì bản tâm chân thật hiện tiền. * Đúc kết Bát-nhã là trí tuệ sáng suốt, biết rõ lẽ thật của các pháp. Cụ thể: • Nơi mỗi chúng ta đều sẵn có trí tuệ sáng suốt, biết rõ lẽ thật các pháp là huyễn hóa, rỗng tuếch, không chắc thật. Sống bằng trí này thì tâm tánh tự lặng lẽ, sáng ngời, thấy biết các pháp như tánh thật của nó, rỗng lặng, như thị mà linh thông, tự tại. • Thực tế: Ngay đây, khéo bặt dấu vết, lặng sáng, không mê thì lúc này tâm mình sẽ tự lặng an, sáng biết tất cả, biết rõ các pháp không có giá trị gì, nhưng không động. Khi đó, tâm tánh hiện tiền, tâm ấy tự sáng biết, trùm khắp, bặt dấu vết, như thị, nhưng tự tại, linh thông. • Như vậy, Bát Nhã dạy chúng ta thấy biết tất cả pháp đều "Không" để nhận lại "Tánh thể" hầu mong qua hết thảy khổ ách. * Thực tiễn Chúng sanh đang sống và vận hành theo nghiệp cảm: Con ong thì bay trên trời, làm mật, yêu mến hoa; con cá thì bơi dưới nước, ăn và sinh hoạt dưới môi trường ấy; con người thì ăn cơm, học thức, sáng kiến... phục vụ cho cuộc sống. Cho thấy, tất cả đang sống theo nghiệp thức, do nghiệp cảm nên. Nếu không sáng chân tâm thì tất cả chỉ là tạo tác, bị chi phối, chưa ổn. • Điển hình: Có nhiều người học hiểu rộng, học vị cao và có sự thành đạt trong cuộc sống. Khi tất cả ý nguyện đã đạt thành, cuối cùng, quý vị lại tìm về nương tựa chư Tôn cao Tăng thạc đức đã sáng đạo, bởi bản thân tự cảm thấy chưa ổn. • Cho thấy: Đạo ở chỗ sáng tâm, diệu lực ấy cho chúng ta tự tại, an ổn thực sự. Ngoài ra, tất cả những việc còn lại, nếu chưa sáng tâm thì chỉ là nghiệp thức, sẽ bất ổn, nên tất cả đều không có giá trị thực. Câu số 5: Chữ "Không" trong Bát Nhã có phải là "Tự tánh không" hay không? - Đáp: • Nếu vị nào bị phiền não chi phối, sẽ thấy phiền não là quan trọng cần phải hàng phục, thì cho rằng chữ "Không" là bản chất không thật của phiền não. • Ai đang bị các pháp bên ngoài chi phối, cản trở công phu, sẽ thấy, cần phải tu tập để các pháp không còn chi phối, thì cho rằng chữ "Không" là bản chất rỗng tuếch của muôn sự muôn vật. • Nếu vị nào chuyên tâm dụng công, được thanh tịnh, thấy ra tâm vốn rỗng rang, sẽ cho rằng chữ "Không" là Thể tánh không của tâm mình. • Qua các ví dụ điển hình thực tế trên cho thấy: - Tùy theo trình độ tu tập của mỗi hành giả mà nhận ra cái "Không" này có khác nhau. - Cho đến khi đạt suốt, rốt ráo, sẽ gặp nhau, không còn thấy khác. • Cụ thể: 1) Nếu hành giả đang "Quán chiếu" các pháp, thì sẽ thấy "Không" là vô thường, không thực thể, là không thật. 2) Vị nào đang "Chiếu kiến" các pháp, thì sẽ thấy "Không" là huyễn hóa, rỗng tuếch. 3) Nếu "Chiếu kiến", nhưng khéo thầm nhận tự tánh giác sáng, thì "Không" là sự rỗng lặng, không tịch. 4) Hành giả đã thể ngộ Tánh thể Bát-nhã, thì "Không" là sự vắng lặng của tự tánh. 5) Nếu đã đạt ngộ cứu cánh, lúc này toàn tâm là tánh, không còn bóng dáng khác để có cơ sở bàn đến là "Không" hoặc "Hiện hữu". Tất cả chỉ là bặt vết, như thị, hiện thành và linh thông tự tại bất tư nghì. "Không" lúc này chính là thể tánh thênh thang trùm khắp, bặt cả có và không. Câu số 6: Phân tích “Thân, tâm sanh diệt đều không” qua lý Bát Nhã? - Đáp: * XÁC ĐỊNH TẦM NHÌN Phân tích để thấu suốt các pháp đều huyễn, để đạt suốt Thực tướng Bát-nhã (Trí tuệ Bát-nhã), đúng tôn chỉ đức Phật muốn chỉ bày. * THÂN TÂM SANH DIỆT ĐỀU KHÔNG 1. Theo thời gian – Vô thường sanh diệt: Phân tích qua ba thời: • Thân - Khi cha mẹ chưa sanh, thân này chưa có. - Nay tạm có trong một khoảng, nhưng cũng luôn sanh diệt biến đổi. - Rồi cát bụi sẽ trả về với cát bụi, thân cũng sẽ trở về không. • Tâm sanh diệt - Khi chưa có điện thoại iPhone, con người chưa có khái niệm mong có nó. - Khi vừa cho ra đời iPhone II, mọi người mơ ước làm sao mình có được để thể hiện đẳng cấp. - Cho đến nay đã có không biết bao nhiêu thế hệ iPhone mới, cái iPhone II từng là mơ ước để thỏa sức thể hiện mình trước kia, bây giờ không còn ai biết đến. - Cho thấy, tâm này bị biến đổi theo thời gian. Do đó, nó không cố định, không chắc thật. 2. Theo không gian: Phân tích qua hai phương diện: Không chủ tể, do duyên hợp. • Thân - Không chủ tể: Cái đầu tuy là quan trọng nhất của thân này, nhưng nếu tách rời riêng ra thì con người không thể sống. Tương tự, không có bất kỳ duy nhất một bộ phận nào là chủ tể (chính, chỉ có một) để làm nên thân này cả. - Do duyên hợp: Phải do nhiều bộ phận, phải đầy đủ các yếu tố cần thiết hợp lại mới tạo thành thân này. Hơn nữa, chính ngay khi thân này đang tồn tại, các tế bào cũng đang thành hoại diệt sanh liên tục. Cho nên nó không bền chắc. Thân là thứ huyễn hóa, tạm bợ. • Tâm sanh diệt - Không chủ tể: Con người không ai chỉ có một niềm vui duy nhất mà không buồn. Các tâm trạng khác cũng tương tự. Vì thế, tâm này không có một cái nào là chính và duy nhất để làm nên cả. Cho nên nó không có chủ tể. - Do duyên hợp: Ở Việt Nam thì đi bộ bên phải. Sang Anh quốc thì phải đi bộ bên trái. Sống theo điều kiện và môi trường của ngày xưa thì thích theo kiểu cổ xưa. Các cháu mới sanh ra trong thời hiện đại thì thích theo kiểu của hiện tại. Rõ ràng, tâm này không tự có, do điều kiện môi trường tác động mà hình thành. Khi đang có, nó cũng nương vào nhau mới có tính kế thừa và phát huy. Một ngày, trong một con người không biết đổi thay bao nhiêu tâm niệm, không thể tính đếm nổi. Cho thấy, tâm này do nhiều nhân duyên hợp lại mà thành. Đồng thời khi đã hình thành, nó cũng có lắm thứ. Vì không cố định nên không chắc thật. Do có lắm thứ cho nên không biết căn cứ vào đâu để xác định nó là chắc thật cả. Vì thế, tâm sanh diệt là huyễn hóa, không thật. 3. Theo hư không, chân không • Thân - Bên ngoài, phải cần một khoảng không gian (hư không), thân này mới tồn tại. - Bên trong thân thể, giữa các bộ phận cũng cần có những khoảng không. - Giữa các tế bào kết dính vào nhau, cũng có những khoảng hư không thì mới gọi là các tế bào kết dính. Nếu không có khoảng không thì đã gọi là một tế bào. → Chính vì có khoảng hư không, không thể thành một khối chặt. Nhiều thứ từ lớn cho đến bé nhất như tế bào, đều phải có khoảng hư không, cho nên nó dao động liên tục, không bền chắc. Do đó thân này không thật, huyễn hóa, tạm bợ. • Tâm sanh diệt - Tâm niệm không phải một thứ, mà luôn có quá nhiều thứ, nhiều niệm. - Niệm trước diệt, niệm sau sanh ra. Mỗi niệm, mỗi niệm nối nhau cho nên giữa chúng đều có khoảng hở của chân không nhất định. Nếu không có khoảng hở thì tất cả chỉ là một niệm muôn năm. - Cho thấy, dù rằng vọng niệm đang có, nhưng vẫn đang trôi trên thể chân không. Thể ấy vẫn không mất, chỉ là chúng sanh đang sống trên nó mà bỏ sót. - Kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy: “Bồ-đề Niết-bàn từ vô thủy, vốn là bản thể thanh tịnh, chính nay là thức tinh nguyên minh của ông, hay sanh ra các duyên, nhưng khi theo duyên thì bỏ quên nó. Do các chúng sanh bỏ quên bản minh này, nên tuy trọn ngày dùng nó mà không tự biết, luống vào trong các nẻo.” → → Qua đó cho thấy, các niệm của tâm sanh diệt luôn nối tiếp nhau sanh diệt, cho nên không thật. → → Bản thể chân không kia nơi chính mỗi người luôn hiện hữu, không mất. Vốn chỉ có một, thường hằng, bất biến, không sanh diệt, cho nên mới là cái chân thật. → Ngay cái giả, sẵn cái chân thật, khéo nhận lại. 4. Không tịch Thấu tột thân tâm này và các pháp đều huyễn hóa, không thật, ngay đó tất cả liền tự lìa, thể Chân không hiển hiện, vắng bặt, Tâm không - Cảnh tịch, Thực tướng Bát-nhã hiện tiền, tâm cảnh như như, tự tại giải thoát. Đây là nói theo chiều hướng phân tích và tu tập có tướng dụng công. Không phải chân lý cứu cánh hoặc đầy đủ trọn vẹn đại diện cho tất cả. Câu số 7: Như trên vừa nêu thì có nhiều thuyết để thấy biết các pháp là "Không", huyễn hóa, không thật. Như vậy thì phải ứng dụng thuyết nào? Hay phải áp dụng tất cả? - Đáp: Bản chất các pháp vốn dĩ là không, huyễn hóa, không thật. Nếu hành giả khéo thấy, khéo nhận thì liền thấy rõ lẽ thật như vậy, không cần bàn nói là phải thấy theo thuyết nào, hay cách thấy biết nào cả. Nếu chưa thể như thế thì cần biết nhiều cách nhìn để tùy nghi vận dụng cho thích hợp. Có người sẽ thấy hợp với thuyết này. Nhưng vị khác thì nhìn theo cách còn lại sẽ thấy dễ ứng dụng hơn. Ngay trên một con người, cũng tùy vào từng hoàn cảnh, tình huống khác nhau mà khéo vận dụng theo cách nhìn nào phù hợp, để dụng công thích hợp và tiến bộ. Tùy vào căn cơ, trình độ và công phu của từng hành giả cao hay thấp, nhanh hay chậm mà mức độ thấy "Không" của Bát Nhã cũng có sâu hoặc cạn khác nhau. Ở trên chỉ mới tạm nêu một vài cách nhìn tiêu biểu. Hành giả khéo léo ứng dụng để sống và tu tập, sẽ phát hiện ra nhiều cách nhìn nữa theo công phu của mỗi người. Cho đến khi chứng ngộ thì thấu suốt tất cả, rõ ràng như người sáng mắt nhìn thấy chỉ tay trong lòng bàn tay. DẪN CHỨNG Một hôm, Thiền sư Văn Yển Vân Môn đưa cây gậy lên bảo chúng: “Phàm phu gọi nó là thật, Nhị thừa phân tích gọi nó là không, Duyên giác gọi nó là huyễn có, Bồ-tát thì đương thể tức không, Thiền gia thì thấy cây gậy gọi là cây gậy, đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi không được động đến.” - Phàm phu gọi nó là thật: Lầm cho là thật có. - Nhị thừa phân tích gọi nó là không: Phân tích theo thời gian, cây gậy biến hoại qua 4 tướng: Sanh - Trụ - Dị - Diệt (như đã phân tích ở câu số 3 và 4 ở trên). - Duyên giác gọi nó là huyễn có: Phân tích theo không gian, cây gậy không có chủ tể, do duyên hợp, huyễn có (như đã phân tích ở câu số 3 và 4 ở trên). - Bồ-tát thì đương thể tức không: Hàng Bồ-tát đã thuần thục, ngay thấy biết liền suốt thông, không cần qua quán chiếu hay soi thấy gì nữa. - Thiền gia thì thấy cây gậy gọi là cây gậy: Tâm không - Cảnh tịch, thấy biết vượt năng và sở, có và không; cây gậy là cây gậy. Phật pháp là tất cả hiện thành. - Đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi không được động đến: Hòa thượng Tông chủ (Thiền sư Thích Thanh Từ) bình: “Mọi người chỉ biết, 'Đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi, không được động đến' mà ít ai thấy được cây gậy của Thiền sư Vân Môn”. Khi nghe nói “Đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi, không được động đến”, nhiều người chỉ cứ lo chăn giữ tâm, thân đâu tâm đấy, không để thất niệm. Do vậy, vừa đang bận giữ tâm, vừa bận ngăn ngừa cảnh. Cả hai đã bận bịu rồi, lại thêm cây gậy Ngài Vân Môn nữa thì lại càng căng thẳng, rối rắm. Không những không thể thấy cây gậy Ngài Vân Môn mà đến cả tâm và cảnh cũng bị mờ mịt, làm sao tỏ sáng cây gậy Thiền sư? Vậy hiện nay, cây gậy của Ngài Vân Môn ở đâu? Đâu phải đợi đến Ngài Vân Môn đưa gậy lên mới thấy? Đâu cần thấy cây gậy ấy mới là thấy được cây gậy của Thiền sư? Nếu tìm cây gậy hay bất kỳ thứ gì để thấy là thảy đều tìm thấy theo vật, quên mình, không thể thấy. Ngay đây sạch hết đi. Trong không còn tâm để giữ. Ngoài không có cảnh để trừ. Mặc tình thấy biết khắp, không dừng trụ trên bất cứ gì thì tất cả đã hiện bày, có gì thiếu thốn mà nhất thiết phải đi tìm lấy một vật gì đó để thấy! Nếu tìm cây gậy để thấy, sẽ bị cây gậy Ngài Vân Môn làm mù mắt mất rồi. Đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi, không được động đến: Đất trời thênh thang, tất cả đang hiện thành. Mặc tình đi, mặc tình ngồi, không được khởi tâm động niệm “là gậy, là thấy”. Mặc tình biết khắp, nào có gì ngăn ngại! Cây gậy Ngài Vân Môn đâu chỉ là cây gậy của năm xưa bằng gỗ hay bằng trúc; mà hiện nay đây, tất cả đều không khác. Cây gậy vẫn còn! Tuyệt thay cây gậy Vân Môn, Vừa phân ta - gậy khó mong thấy rồi. Thoạt đưa cây gậy lên thôi, Vỡ tung trời đất. Chà! Thôi lắm lời. Câu số 8: Ngộ không như thế nào mới qua hết thảy khổ ách? - Đáp: • Tại sao phải đặt ra câu hỏi này? Vì tiêu chí, mục đích Bát Nhã đưa ra là: “Phải qua hết thảy khổ ách”. • Khi chấp thân, tâm, các pháp là thật thì dính mắc, chấp trước, sẽ đưa đến khổ đau. - Phật nói rõ bản chất thật của nó là không thật để lìa chấp, không dính, tâm sẽ rỗng lặng. - Tâm không thì cảnh tịch. Tâm cảnh như như, thấy biết vượt năng sở. Ngay đây, Thực tướng Bát-nhã hiện tiền. • Thực tế, không thể dùng sức chịu đựng hay dùng sự hiểu biết còn trong sanh diệt để “qua hết thảy khổ ách được”. - Chỉ có nhân vô sanh mới đốt cháy được tất cả những gì sanh diệt. - Thiền sư Nham Đầu Toàn Khoát dẫn lời Cổ đức: “Chẳng phải trần không xâm phạm ta. Nhưng khi ta vô tâm thì nó cháy.” • Cho thấy Bát Nhã dạy: - Dùng trí tuệ soi thấy các pháp là huyễn hóa, không thật... để lìa chấp, nhận tâm. - Cuối cùng để đạt đến Tâm không - Cảnh tịch. - Tâm cảnh như như, Thật tướng Bát-nhã hiện tiền. - Mới đủ trí tuệ, định lực, vô biên lực, từ đó các khổ ách không còn chi phối, tất cả tự trừ, “tự qua khỏi hết thảy khổ ách”. • Thực tế, nếu không khéo hạ thủ công phu thì: - Khi sẵn sàng, rảnh rang, ngồi lim dim, xem như đang tu tập. - Vừa gặp duyên, vào công việc thì thức liền sanh khởi, khiến mình nhảy ra, lao vào sở duyên, rơi vào ngã và ngã sở, che khuất chân tâm, đánh mất công phu. Từ đó sanh nhiều chướng ngăn trong đời sống, hành xử và tu tập. Câu số 9: Nói “Tướng không” Bát-nhã là đúng, hay “Tánh không” mới đúng? - Đáp: • Khi mê, chưa khéo tu, thì thấy tánh các pháp là không thực thể và tướng thì đang có (như là thật để lìa), nên thấy tánh và tướng riêng khác. • Khi khéo dụng công, giác ngộ tâm tánh sẽ thấy rõ sự thật: - Tất cả đều do duyên hợp mà thành, nên huyễn hóa, không thật. - Hành giả không theo tất cả, nhận lại tánh thể. Khi ấy, thấy biết, đến đi không động. Mặc cho vô thường sanh diệt, mặc tình đến và đi (tự tại). - Lúc này, mỗi pháp ở ngôi vị của nó, thấy biết như thị, vượt Căn - Cảnh, Năng - Sở. Mới hay ra, Tức tướng - Tức tánh - Tánh tướng thường trụ, không còn cái thấy phân biệt, phân hai tánh và tướng riêng khác. DẪN CHỨNG • Kinh Pháp Hoa, đức Phật nói trùng tụng: Chư pháp tùng bản lai, Thường tự tịch diệt tướng, Các pháp từ xưa nay, Tướng thường tự vắng lặng. Có Thiền sư nghi, tánh vắng lặng mới phải, tướng thì sanh diệt đổi thay, tại sao lại nói vắng lặng? Cho đến khi mùa xuân về, nghe chim Hoàng Oanh hót trên cây, Sư chợt sáng ra, bèn kết hợp với hai câu trên để nói thêm hai câu nữa, thành bài kệ: Chư pháp tùng bản lai, Thường tự tịch diệt tướng, Xuân đáo bách hoa khai, Hoàng Oanh đề liễu thượng. Các pháp từ xưa nay, Tướng thường tự vắng lặng. Xuân về trăm hoa nở, Hoàng Oanh hót trên cây. - Đừng dính chấp hay dừng trụ trên bất cứ thứ gì. - Lặng tâm lại mà cũng chẳng thấy có tâm lặng để an trụ hay gìn giữ. - Bất ngờ hoát toang, muôn thứ sáng trong, rờ rỡ, thấy biết vượt căn và cảnh. - Hay ra rất rõ, Phật pháp là tất cả đang bày hiện, hiện thành. Tánh và tướng vốn thường trụ, vượt cả không gian, thời gian. - Mới hay, nói tánh hay tướng gì cũng phải, không can hệ gì. • Nói rộng: Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật dạy: Nhược nhơn dục liễu tri, Tam thế nhất thiết Phật. Ưng quán pháp giới tánh, Nhất thiết duy tâm tạo. Nếu người muốn rõ biết, Ba đời tất cả Phật. Nên quán pháp giới tánh, Tất cả do tâm tạo. Tất cả các pháp đều do tâm tạo, nên không thật. Quán pháp giới tánh, nghĩa là xét tột cùng tự tánh tất cả các pháp (vạn vật trong pháp giới) đều huyễn hóa. Đồng nghĩa tánh pháp giới là rỗng tuếch, liền đó trả lại tánh thể rỗng lặng chính mình. Mới hay ra tâm ta cùng tánh pháp giới vốn đồng. Không phải có một tâm này đồng với một tánh pháp giới kia, mà khi Tâm không thì Cảnh tịch, tâm cảnh nhất như, tạm gọi là đồng. Quán pháp giới tánh như thế, liền đó liễu tri tạm thế nhất thiết Phật. Tức là tánh thể chúng ta hiện tiền, khế hợp tâm Phật, suốt thông tâm thể ba đời tất cả chư Phật, nên nói liễu tri. Kinh Kim Cang, đức Phật khẳng định: “Lìa tất cả tướng, tức chư Phật.” Lúc này, sẽ hay ra: “Như Lai giả, vô sở tùng lai diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai.” Phật nói tiếp: Lúc này, thấy: “Tất cả pháp đều là Phật pháp.” Như thế, Tánh Tướng không hai, cũng chẳng phải một. Tức tướng tức tánh, vô phân biệt. Câu số 10: Vì sao Bát Nhã nói “Sáu căn, sáu trần, sáu thức (18 giới)” đều không? - Đáp: - Khi 6 căn tiếp xúc 6 trần, phân biệt sanh ra 6 thức, gọi chung là 18 giới. Về hình tướng của 18 giới tuy đang có, nhưng không có chủ tể. Do đó, thể tánh (thực chất, bản chất) của nó vốn rỗng tuếch, không có gì chắc thật. - Tuy Thể tánh không, nhưng theo duyên hợp thì tạm có. - Thấu tột lẽ thật của việc “có và không” đó cũng huyễn hóa, không còn quan tâm → Tâm ta trở nên rỗng lặng, cảnh cũng theo đó vắng bặt. - Sáu căn, sáu trần và sáu thức ở trong ấy cũng vắng bặt, thanh tịnh nhưng sống động như thế. Đó là yếu chỉ Bát Nhã muốn nói 6 căn, 6 trần, 6 thức (18 giới) đều không. DẪN CHỨNG Thiền sư Động Sơn Lương Giới thuở nhỏ theo thầy tụng Kinh Bát Nhã đến câu “vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý” (không có mắt tai mũi lưỡi thân ý), Sư chợt lấy tay sờ mặt hỏi: - Con có mắt, tai, mũi, lưỡi... cớ sao trong kinh nói không? Ông thầy kinh lạ, bảo: - Ta chẳng phải thầy của ngươi. Ông giới thiệu Sư đến núi Ngũ Tiết làm lễ Thiền sư Linh Mặc xin xuất gia. Sau này khi tỉnh ngộ, Sư thuật bài kệ: Dã đại kỳ! Dã đại kỳ! Vô tình thuyết pháp bất tư nghì Nhược tương nhĩ thính chung nan hội Nhẫn xứ văn thanh phương đắc tri. Nghĩa: Cũng rất kỳ! Cũng rất kỳ! Vô tình nói pháp chẳng nghĩ nghì Nếu đem tai ngóng trọn khó hội Phải lấy mắt nghe mới liễu tri. - Khi còn mê, ngỡ mắt tai là thật có. - Lúc đã ngộ, mới thấy cây, cỏ, núi, sông ngày đêm đang thuyết pháp. Hay ra, nếu luận về Phật pháp thì tất cả đang hiện thành. - Mới biết, nghe không chỉ có tai mà có thể dùng mắt. Thấy không chỉ có mắt mà khắp châu thân. - Nhờ không còn thấy có 6 căn, 6 trần, 6 thức cho nên mới lưu thông, mới có khả năng không thể nghĩ bàn như thế. Vì vậy, Bát Nhã dạy chúng ta không có 18 giới là ý chỉ này. Câu số 11: Vì sao Bát Nhã nói pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên đức Phật dạy đều không? - Đáp: • Không kẹt trên phương tiện - Pháp Phật dạy như tùy bệnh cho thuốc, không cố định. Ví dụ: Cõi Trời không dùng Pháp theo kiểu cõi người. Lục Tổ nói: “Phật nói tất cả pháp để trị tất cả tâm. Ta không tất cả tâm đâu cần dùng tất cả pháp.” - Pháp Phật dạy như ngón tay chỉ mặt trăng. Muốn thấy mặt trăng thật thì khéo nương ngón tay để nhìn thấy, chứ không phải chấp vào ngón tay cho là mặt trăng thật. • Nhận thẳng chỗ cứu cánh, từ đó lưu xuất tất cả và hay dùng được phương tiện, chứ không phải theo phương tiện - Đến nhà rồi (ngộ Bát-nhã) thì không còn kẹt giữa đường (pháp phương tiện). - Ngộ Bát-nhã rồi, không phải tránh hoặc chối bỏ Pháp của Phật dạy. Người đạt ngộ Thể tánh Bát-nhã thì thấy rõ, thấu suốt diệu pháp và khéo dùng được Pháp Phật để hướng dẫn người sau. Đồng thời, trong thể tánh ấy, hay nói ra muôn vàn điều Phật Pháp để độ chúng sanh mà không sai với yếu chỉ của chư Phật. Điển hình: Tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Đông thổ dõng dạc tuyên bố "giáo ngoại biệt truyền", nhưng lại trao bốn quyển Kinh Lăng Già cho Nhị Tổ Huệ Khả để ấn chứng tâm pháp; Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn giảng Kinh Kim Cang và Lục Tổ Huệ Năng triệt ngộ tự tánh. Tại Việt Nam, Sơ Tổ Trần Nhân Tông dù chứng ngộ thiền tủy, vẫn vận dụng kinh điển, diễn giải giáo lý sâu mầu để dẫn dắt học nhơn; và sau này Nhị Tổ Pháp Loa, Tam Tổ Huyền Quang cũng vậy, không khác… - Thấy biết đúng đắn như vậy sẽ không chấp vào ngoan không để phạm phải sai lầm hủy báng Kinh Luận. Hơn như thế, hành giả không dừng kẹt trong có và không mà ngộ tột diệu chỉ Phật Tổ. Câu số 12: Vì sao nói: “Không có vô minh cũng không có hết vô minh”? - Đáp: • Không có vô minh: - Đây là nói lên sự thật, bởi Thể tánh Bát-nhã vốn tự sẵn sáng như vậy. Tự nó vốn không có bóng dáng của vô minh. - Kiểm chứng: ngồi thẳng, thông suốt, yên lắng, sáng ngời, không mê, bất ngờ trả lại tánh mình, sẽ hay ra tự tánh ấy đã sẵn sáng lâu lắm rồi, không có gì che mờ được thì làm gì có vô minh? - Nếu nói theo lý thuyết thì ai cũng có tâm tánh vốn tự sẵn sáng như vậy, nhưng do vô minh nghiệp thức che đậy nên tạm ẩn khuất đi, khi nào hết vô minh thì tánh ấy bày ra. Đó là giải thích cho người còn mê biết để tu từ từ. Còn nói một cách chính xác hơn, khi nhận ra tâm đó thì không phải theo lộ trình như vậy. Bởi bản tánh sẵn sáng lâu lắm rồi, vô minh không đủ tư cách (không đủ sức, bởi chỉ là bóng dáng, không có thật) để che nó được. Vì chưa nhận ra tự tánh nên tạm có vô minh vậy thôi. Sáng ra tánh này rồi thì trong đó vốn không có vô minh. - Thực tiễn cuộc sống: Hằng ngày, mỗi người phải đối diện với thiên hình vạn trạng: công việc, sinh hoạt, ăn uống, tình huống, hoàn cảnh... Nếu luôn sống ngay tự tánh thì mọi thứ đúng sai phải trái đều sáng biết một cách rõ ràng, nhưng vẫn thấy như huyễn, không quan trọng bất cứ gì; tâm vẫn trong lặng, vô tướng, không động, cảnh cũng thanh tịnh. Trên cơ sở đó, chúng ta khéo tùy thuận các duyên và thanh tịnh, hoan hỷ, chân tâm luôn hiện tiền, đồng thời mọi việc lại hoàn thành tốt, cả trên công việc và con người với nhau. Lúc này, sẽ không thấy có bóng dáng vô minh nào cả. - Đổi lại, nếu thầm thầm bên trong thấy có một cái là "mình", và khi cái mình này nhảy ra thì sẽ có quan điểm của mình, ý kiến của mình. Từ đó, bắt đầu phán xét con người và mọi thứ chung quanh qua quan điểm, ý kiến đó. Chính ngay khi ấy, chân tâm đã bị bỏ quên. Mà khi quên chân tâm thì mê mờ, vô minh có ra, từ đó hành xử, nói năng dễ bị sứt mẻ, tổn thương, đưa đến sai lầm, để rồi sau đó mới nhận ra, tức đã muộn, đã bất giác. Do vô minh che nên không cho chúng ta thấy ra kịp thời. Cho thấy, ngay khi quên tự tánh thì vô minh liền có ra chứ không phải có vô minh trước để che tự tánh. Cho nên Bát Nhã nói, không có vô minh, đây là nói thẳng, nói thật. Ở trong tự tánh thì mới thấy vô minh chưa bao giờ có. - Phải nghiêm túc hạ thủ công phu. Nếu người còn mê thì phải liên tục, miên mật. Người nào khéo thì trở lại tánh mình sẽ tự thấy rõ. Nếu ham chữ nghĩa, ham hiểu biết, thì chỉ nói suông chứ bản chất thì không dính dáng gì. • Không có hết vô minh: Không có vô minh thì làm gì có hết vô minh. “Không có hết vô minh” tương đương câu “Năm nguyện pháp trần không khởi diệt” trong 12 nguyện của Khoa nghi sáu thời sám hối. Khi trở lại tự tánh thì trong đó không có vọng tưởng, pháp trần. Vọng tưởng, pháp trần đã không thì làm gì có khởi và diệt. Không khởi thì không có tướng diệt, gọi là không khởi diệt. Không có hết vô minh cũng tương tự như vậy. Ý nghĩa cụ thể: • Vì “trong Tánh thể Bát-nhã” vốn không nhờ tu mà được - Có tu, có hàng phục, mới có hết vô minh. Nhưng trong ấy vốn sẵn sáng, không có vô minh, nên không nhờ tu mới được “minh” (sáng). Đã là sẵn sáng rồi, thì làm gì có hết vô minh. Cũng chẳng phải đợi hết vô minh nó mới hiện tiền, mà chỉ cần trở lại tự tánh thì vô minh tự vắng bóng. Nếu trở lại tự tánh mà vẫn còn thấy: nhờ hết vô minh cho nên mới nhận được tự tánh, thì vẫn còn cái dấu vết hết vô minh, tức tự tánh vẫn bị che bởi cái thấy này, chưa thể nhận rốt ráo. Qua các ý nghĩa trên cho chúng ta thấy, sự thực là không có hết vô minh. - Không tu thì mê, phải chịu khổ. Cho nên, khi còn mê thì phải tu vậy thôi, không còn cách nào khác. - Nhưng ngộ rồi mới thấy, việc tu trước đó không dính dáng gì sức sống tự tánh giác sáng này. Trong tự tánh ấy đã sẵn tất cả đức dụng, không phải nhờ tu để được cái mới. • Ví như: - Không phải quét sạch bóng tối mới sáng, mà sáng ra thì hết tối. Việc sáng ra ấy không liên can gì đến bóng tối. - Chẳng phải mơ trọn giấc mơ mới tỉnh dậy, mà thoạt tỉnh dậy thì hết mộng mơ. Sự tỉnh dậy cũng không phụ thuộc vào giấc mơ đã kết thúc trọn vẹn hay chưa trọn vẹn. - Tương tự để hiểu, tánh ấy đã sẵn, không nhờ tu. Không phải quét sạch vô minh, không phải dẹp sạch vọng tưởng mới ngộ. Một là ngay đây khéo nhận thẳng tự tánh. Nếu chưa như thế thì khéo dụng công đúng pháp, tu trong vô tu, khế tự tánh, khi thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh tự bừng ngộ, sẽ hay ra đầy ngạc nhiên, không ngờ trong tánh ấy vốn tự sẵn sáng như vậy từ lâu rồi. Cho nên, việc ngộ chân tâm chẳng liên quan gì vô minh. Khéo dụng tâm khế tự tánh, khi đắc lực, chín muồi thì sẽ có lúc như là bật công tắc, tánh tự bừng sáng ra, vô minh dứt bặt. Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn từng nói: “Nhất kích vong sở tri, Cánh bất giả tu trì.” Việc này không nhờ tu, bởi vốn đã sẵn đủ lâu rồi. • Khi tu, muốn sáng tâm thì cái thầm thầm cho là “có hết vô minh” cũng phải dứt bặt - “Hết vô minh” là cái thầm thầm cho rằng “Có cái hết”. - Do bất giác, chấp trước, nên có vô minh. Do tu tập, vô minh lặng, cho nên thấy có hết vô minh. Thấy có còn và có hết là thấy trong tạo tác sanh diệt; còn trong nhân duyên đối đãi, sanh diệt. - Không trụ hoặc chấp vào chỗ thấy “Có cái hết vô minh” thật. Liền đó “Không có hết vô minh”. - Tức là, thấy "còn" và "hết" là nhằm trên đối đãi sanh diệt để thấy, là đã quên bản tâm mà phan duyên. Cho nên, khi hạ thủ công phu, phải khéo không lập thêm “cái thấy hết vô minh”. Chỉ là lặng sáng, vô tướng, không mê thì Thực tướng Bát-nhã hiện tiền. • Bởi đã sẵn sáng, vốn tự như vậy - Trong ấy không mê mờ, vốn không có vô minh thì lấy gì để nói là hết hay còn! Do không có vô minh để hết vô minh, nên nói: “Không có hết vô minh”. Câu số 13: Vì sao Bát Nhã nói: “Không có trí tuệ, cũng không có chứng đắc”? - Đáp: • Tăng hỏi Thiền sư Tỉnh Niệm ở Thủ Sơn, Nhữ Châu: - Hai con rồng giành hạt châu, con nào được? - Con được (sở đắc) là mất. - Con chẳng được thì thế nào? - Sư bảo: Châu ở chỗ nào? → Chủ yếu cần nhận ra: “Hiện nay, châu ở đâu?”, sẽ hay ra “mình chưa từng thiếu”; chứ không phải bàn đến được hay không được. • Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện nói: “Ba đời chư Phật không tri hữu. Trâu trắng mèo hoang có tri hữu”. - Ba đời chư Phật không tri hữu: Vì toàn tri (thấy biết) là hữu (Phật tánh). Không còn có cái hữu nào khác ngoài sức sống của quý Ngài nữa để tri. Nếu còn thấy có cái hữu nào nữa để tri thì cái hữu ấy đã bị biết, ở bên ngoài mình, là còn mê, chưa phải chư Phật. - Trâu trắng mèo hoang có tri hữu: Vì còn mê cho nên cần biết có “cái ấy” (Phật tánh) để tu tập, hướng về, mới có ngày thành Phật được. • Cho nên biết: - Ngộ đạo là tỉnh ra vật nơi chính mình, có gì để được? - Được là được những thứ bên ngoài, không phải chân thật. • Vì thế: - Tổ Đề-đa-ca nói: "Ngộ rồi đồng chưa ngộ, không tâm cũng không pháp." - Các bậc Tổ đức nói: "Từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà." - Hoặc nói: "Sư cô (Cô Ni) vốn là người nữ. Lý Bạch nguyên lai thị tú tài." → Đều ngụ ý chỉ cho cái chân thật sẵn vậy nơi mình, không phải bên ngoài. • Tóm lại: - Vì nếu còn có trí tuệ, có chứng đắc thì trí tuệ và sở đắc ấy đều là bên ngoài, không phải chân thật. - Không hết tất cả, sạch hết tất cả thì Thực tướng Bát-nhã hiện tiền, là đạt được trí tuệ cứu cánh (rốt ráo), là trí tuệ thật. - Khéo thể nhận như thế, vô sở đắc, nhưng không phải không ngơ mà tất cả đang hiện tiền, mới chân thật đắc. Điển hình: Chân tâm là chân thật, bởi: 1) Lắng lại, sáng ra → Nó ở nơi mình. 2) Buông hết rồi, chỉ mình nó ở → Duy nhất chỉ có một. 3) Chân tâm không sanh diệt. → Qua 3 điều kiện trên, cho thấy: “Chân tâm là chân thật”. Không phải là cái gì đó "chứng đắc" bên ngoài mà được. Câu số 14: Bát Nhã nói bao nhiêu pháp đều không? - Đáp: 1) Thân, Tâm sanh diệt: Xem giải thích ở câu số 6. 2) Sáu căn, sáu trần, sáu thức: Xem giải thích ở câu số 10. 3) Vô minh và hết vô minh; cho đến Già chết và hết già chết (12 nhân duyên): Xem giải thích ở câu số 11 và 12. 4) Tứ đế: Xem giải thích ở câu số 11. 5) Trí tuệ và Chứng đắc: Xem giải thích ở câu số 13. → Tóm lại, tất cả đều không. Bởi vì: - Một có thì tất cả có; - Đã không thì tất thảy không. Câu hỏi vận dụng, củng cố 1: Nếu chỉ nói 5 uẩn đều không đã đủ chưa? Nếu đã đủ tại sao ở đoạn sau đức Phật lại nói thêm 6 căn, 6 trần, 6 thức, vô minh, hết vô minh... đều không? (Xem thêm tại “Tiểu mục 3.1. Phương pháp cụ thể ứng dụng tu tập Bát Nhã là gì?” - Trong Phần 1 - Tổng Quan, Bài 3 - Trọng tâm Bát Nhã, Mục 3 - Đúc kết ý nghĩa Bát Nhã chỉ bày.) - Đáp: • Nói 5 uẩn đều không cũng đã đủ, vì: - Khi 5 uẩn thực sự đã không, thì tất cả đều không. Các pháp bên ngoài đều từ con người. Nếu không có sự nhận thức của con người thì các pháp tự sinh tự diệt, không có giá trị gì để phải bàn là không hoặc có. Cho nên, chỉ cần 5 uẩn mà không thì các pháp đều không. - Hơn nữa, một không thì tất cả không. Nếu thực sự đã không thì tất cả đều không. Nếu còn bất kỳ một pháp nào đó còn thấy có thì năm uẩn chưa thực sự không. Bởi hễ còn một pháp thì thức mê và ý thức phân biệt hãy còn. Vì vậy, khi thấy pháp này có và pháp kia không, đó thảy đều là thấy theo tướng có và không của sanh diệt, không phải Tự tánh không Bát Nhã muốn chỉ bày. • Do đó: - Vào đầu đoạn Kinh, đọc vào “soi thấy 5 uẩn đều không”, nếu ngay đó ngộ thẳng Thực tướng Bát-nhã thì tất cả trong lặng, lúc này sẽ không cần nói đoạn sau, ngộ rồi sẽ tự biết. • Tuy nhiên: - Không phải ai cũng được như vậy, cho nên đức Phật cũng từ bi triển khai thêm ở đoạn sau (tức phần thân bài) là 6 căn, 6 trần, 6 thức, vô minh, hết vô minh... đều không. - Đây là nói thêm cho căn cơ chưa thể ngay đó nhận thẳng tự tánh, nhằm giúp quý vị có cơ sở để học và tu từ từ. Khi công phu thuần thục, đắc lực, cũng sẽ nhận ra. Câu hỏi vận dụng, củng cố 2: Một có thì tất cả có, đã không thì tất cả không. Vậy khi thích viên kẹo là nó có, nhưng không thích sầu riêng thì đối với sầu riêng đâu dính dáng gì. Vậy là có với viên kẹo mà không có với sầu riêng. Vậy thì tại sao lại nói tất cả đều có? (Đối với viên kẹo đã có thì đối với trái sầu riêng cũng có như vậy, tại sao?) - Đáp: - Có là do có niệm sanh khởi, chứ không phải bởi các pháp bên ngoài. Mọi thứ có thể tồn tại, nhưng không có sự nhận biết của con người thì chúng đều vô nghĩa, có cũng như không (tâm sanh pháp). → Do đó, khởi niệm thì liền có. Không niệm thì tất cả không. - Thích và không thích là từ ý niệm, là do dính mắc. Có và không cũng từ ý niệm và sự dính mắc như thế. - Không phải đợi thích mới có, mà không thích cũng là đang có. → Vì dính mắc chấp trước cho nên mới không thích. Cụ thể đối diện với thứ không thích thì thấy khó chịu, là nó đang có mới làm cho ta không ưa. - Thích và không thích đã là hai cái có. Nhưng cảm thấy bình thường mà không sáng Phật tánh vẫn là cái có thứ ba. Bởi cái cảm thấy bình thường này còn hạn lượng, chưa giải quyết được gì nhiều. Cho nên nói về thọ có ba: Khổ thọ (không thích), Lạc thọ (ưa thích), và Xả thọ (không khổ, không lạc; bình thường nhưng chưa sáng tâm). • Tóm lại: - Có hay không là do tâm ta còn dính hoặc không dính mắc. Nếu tâm còn dính mắc thì còn thức tình, còn mê, chưa qua khỏi ý thức phân biệt. Cho nên hễ có, thì tất cả sẽ có, hãy còn. - Tình thức dứt bặt, tâm tánh tỏ rạng, dứt mê mờ thì hết chấp, tất cả đều không; tất cả tự vượt thoát, nhẹ thênh. Mới thấy, đã không thì hết thảy đều không. DẪN CHỨNG • Thiền sư Đạo Hạnh nói: Tác hữu trần sa hữu, Vi không nhất thiết không. Hữu không như thủy nguyệt, Vật trước hữu không không. Có thì muôn sự có, Không thì tất cả không. Có, không trăng đáy nước, Đừng mắc có cùng không. Thực sự đã không thì tất cả đều không. Vậy thì "ai hay thấy có và không"? Nếu không nhằm trong có và không để tìm hiểu, sẽ trả lại tánh mình, lúc này, tất cả hiện bày. Do đó, trong Chứng đạo ca, Thiền sư Huyền Giác nói: Bất cầu chơn, bất đoạn vọng. Liễu tri nhị pháp không vô tướng. Vô tướng vô không vô bất không. Tức thị Như Lai chân thật tướng. Hay sạch hai bên chơn vọng, tất cả đều không còn dấu vết. Thoát ra, vượt trên cả có và không, chơn và vọng... sạch hết tất cả mà đang sáng biết không động, linh thông; ngay đó “Như Lai chân thật tướng” hiện tiền. Đây chính là người sạch không tất cả mà hay biết rành rẽ tất cả có và không, tự tại vào có vào không, không ngăn ngại, bởi không thấy tướng ra vào. Bát Nhã dẹp sạch, tất thảy đều không để hành giả sống dậy con người chân thật không tên tuổi này. Câu hỏi vận dụng, củng cố 3: Thời Phật chưa có Smartphone nên Phật chưa nói Smartphone là giả. Bây giờ mới có. Vậy Smartphone là giả hay thật? Vì sao? - Đáp: Bản chất thật của các pháp vốn là huyễn hóa, không thật. Phật ra đời nói lên sự thật, chứ không phải phán quyết hay quy định cho chúng là huyễn hóa. Do đó, dù Phật có nói hay không thì bản chất thật của các pháp vẫn là giả tạm. Bản chất Smartphone cũng giả tạm như thế. Bởi vì: - Nó là “Cái bị biết”, là bên ngoài mình, là pháp sanh diệt cho nên không thật. - Nó không có chủ tể, do nhiều duyên hợp lại mà thành cho nên giả tạm. - Ngàn xưa cho mãi đến ngàn sau, bất cứ gì thuộc về các tính chất trên đều thuộc sanh diệt, vô thường, huyễn hóa, giả tạm, không thật. Câu số 15: Bát Nhã nói, trong tướng không (ngộ được Tánh không Bát-nhã) thì không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức... không có vô minh cũng không có hết vô minh... như là diễn tả về cảnh giới đã ngộ nhập, nói cho người đã ngộ. Vậy Bát Nhã có nói cho người chưa ngộ như chúng ta hay không? Nếu thế thì chúng ta phải học và ứng dụng tu tập Bát Nhã như thế nào? - Đáp: - Đây là lời Phật khai thị, chỉ thẳng đến tự tánh của tất cả chúng sanh. Tự tánh ấy ai cũng sẵn đủ, bình đẳng như nhau, cho nên không thể cho rằng Phật chỉ nói riêng cho người đã ngộ hay chưa ngộ. - Người tu Phật, nếu khéo léo sẽ ngay lời này nhận thẳng tự tánh chính mình. - Nếu chưa như thế thì nương lời Phật dạy để biết đích đến, hướng tiến tu tập, cũng sẽ đạt ngộ Tự tánh Bát-nhã. • Cụ thể: Chúng ta chưa ngộ, có thể đang thấy tất cả còn thật có. Nhưng nhờ học Bát Nhã mà biết tất cả vốn không, bớt chấp trước, bớt dính mắc. Thấy rõ “Tất cả đều không”, để hạ thủ công phu, khế hợp với “Tự tánh không Bát-nhã”. Công phu đắc lực, chín muồi, tâm tự bừng ngộ. Tức là: - Đối với các pháp, thấy rõ: “Đang có vẫn là không”, tức vô tướng. - Đối với việc hạ thủ công phu: “Dụng mà không có chỗ dụng”, là vô tác. • Nhờ vậy: - Không dính mắc, chấp trước các pháp. - Không kẹt trên tướng của công phu. - Thấy rõ các pháp đều không. - Dụng công trong vô tướng, vô tác. → Tức đã khế tự tánh vô sanh, mới có lúc bừng ngộ Tánh thể Bát-nhã. • Ngoài ra, đối với việc hạ thủ công phu tu tập: - Thấu suốt Bát-nhã sẽ thấy tất cả đều không thật. Thân, tâm, vạn vật đã không thì không còn có gì quan trọng, nặng nề hoặc chi phối nữa. Đang có đó mà vẫn là không cho nên công phu rất nhẹ nhàng. - Khi thấu suốt Bát-nhã và dụng công tu tập như thế sẽ không bị chấp và kẹt vào tướng của công phu, việc tu hành được suôn sẻ, tiến bộ, không rơi vào lối tẽ, nhầm đường. • Tóm lại: - Phật nói rõ, chỉ rõ đích đến, nếu lanh lợi thì liền ngộ thẳng. - Nếu chưa thì nhờ đó mà biết cách dụng công khế hợp với tự tánh, rồi sẽ ngộ nhập. Câu số 16: Nếu tất cả đều không, vậy Bát-nhã thấy gì? - Đáp: Nếu còn có một pháp thật để thấy, thì không thể thấy Bát-nhã. Cho nên nói: “Bát-nhã vô tri”. Nghĩa là Bát-nhã không có chỗ để thấy, không có chỗ để biết. Bởi vì Bát-nhã không thấy có một pháp thật, cho nên thấy biết mà không dính chấp hay dừng trụ trên bất cứ gì. Nếu tìm chỗ để thấy biết, tức thấy biết theo cảnh, đã phan duyên, mê tự tánh, không phải cái thấy biết bằng Trí tuệ Bát-nhã. (Xem thêm tại “Câu số 14: Bát Nhã nói bao nhiêu pháp đều không?”) Câu số 17: Vậy thì Bát-nhã không thấy biết gì sao? - Đáp: Tuy Bát-nhã không thấy biết theo duyên (Bát-nhã vô tri), nhưng không gì mà không thấy biết (Vô sở bất tri). Cụ thể: Bát-nhã có chỗ nào mà không thấy? Nghĩa là không gì là không thấy đến, không có chỗ nào mà không biết cả. Do đó nói: “Vô sở bất tri”. Tức là hay suốt qua tất cả, nghe nhìn liền thấy biết. Thấy biết khắp tất cả, không phải khởi phân biệt, không một vết mê. • Thực tiễn: - Ngay đây, buông xuống hết, không quan tâm gì bên ngoài, tức các pháp đều không. Trong tâm không suy nghĩ gì, tức trả lại bản tâm vốn không. Đây được gọi là “Bát-nhã vô tri”. - Tuy vậy, tâm mình vẫn tự sáng biết tất cả, muốn không biết cũng không được. Đây được gọi là “Vô sở bất tri”. • Tóm lại: Không thấy có một pháp thật, không tìm vật để thấy biết, tức không theo duyên hay tìm hiểu thấy biết về bất cứ gì; ngay khi ấy tâm tánh linh thông tự tại, không gì là không thấy biết. Đây là Bát-nhã thấy biết, sống bằng Bát-nhã để thấy biết. • Cho nên có câu đối: - Như, tức như thị chi trí, tánh tướng thường trụ, phi cổ lai kim. - Trí, tức liễu biệt chi tri, tri vô sở tri nhi vô sở bất tri. Nghĩa là: - Như, tức là trí thấy biết như thị, tánh tướng thường trụ, vượt cả quá khứ, hiện tại, vị lai. - Trí, tức là sự liễu biệt rõ ràng, biết không chỗ biết, nhưng lại không chỗ nào là không biết. • Tóm kết: Nếu thấy có một vật thật để nhìn thấy thì chỉ nhìn chăm vào vật ấy, không thể tự tại thấy biết khắp. Nếu cố thấy biết hết tất cả cho trùm khắp, thì cũng là khởi tâm và còn dừng trụ nhìn vào tất cả các pháp, sẽ bị căng. Nếu phớt lờ qua, như là không thấy gì thì gần với vô minh. Làm sao mới phải? - Cần biết, Bát-nhã không nằm trong "thấy" và "không thấy". o Thấy là vọng giác, còn dính mắc, chấp trước. o Không thấy là vô minh. - Khi không dừng trụ vào bất cứ gì thì Thể tánh Bát-nhã hiện tiền, mặc tình biết khắp. o Như bàn tay bận nắm giữ một vật nào đó, thì không thể nắm được vật khác. o Khi không nắm giữ gì, lúc này, cần gì thì nắm đấy, linh thông tự tại, không bị vướng kẹt, tùy duyên nắm buông tự tại. Câu số 18: Bát-nhã có thấy được Bát-nhã hay không? - Đáp: • Xác định: Bát-nhã là gì mà bảo là: “Thấy cùng không thấy?” - Sự thực Bát-nhã là Trí tánh Bát-nhã sẵn vậy nơi mỗi người. - Chỉ là một sự hiển hiện sáng ngời, suốt thông tất cả. - Nhận lại thì tự hay ra, Trí tánh Bát-nhã tự sáng ngời, biết khắp; không hạn cuộc, không trệ ngại nơi căn và cảnh nên không thuộc về thấy cùng chẳng thấy. • Ví như tròng mắt chỉ thấy được vật chứ không thể tự thấy nó. - Tương tự: Bát-nhã không thể tự thấy Bát-nhã. - Nếu thấy thì đó là thấy được vật khác bên ngoài, không phải Bát-nhã chân thật. - Điền địa này ý thức không có chỗ xen vào, không thể hiểu đến được. Phải dừng thức tưởng thì tất cả tự hiện bày. → Cho nên nói: Chư Phật cũng không thể thấy được. • Nếu thấy được thì Bát-nhã đã trở thành pháp bị thấy, là cái bên ngoài, không phải chân thật. Như trên đã dẫn chứng, Thiền sư Nam Tuyền nói: - Chư Phật ba đời không tri hữu: Vì toàn tri (thấy biết) là hữu (biết mình có Phật tánh), không còn thấy có hữu khác để tri. - Trâu trắng mèo hoang có tri hữu: Do bị che lấp cho nên phải tri hữu để hướng về, tu tập. Câu số 19: Trong Chứng đạo ca, Thiền sư Huyền Giác nói: “Đạt giả đồng du Niết-bàn lộ” thì sao? Tức là Niết-bàn chung lối cho người đạt (đạt giả). Vậy thì, không thấy Bát-nhã thì làm sao thấy có đạt giả? Ai đạt? Đạt gì? - Đáp: Chứng Thực tướng Bát-nhã thì tự suốt thông nhau chứ không phải có tướng thấy. DẪN CHỨNG • Tăng hỏi Thiền sư Duy Khoan: - Đạo ở chỗ nào? - Sư đáp: Ở trước mắt. - Sao con không thấy? - Vì người có ngã nên không thấy. - Con có ngã nên không thấy, Hòa thượng thấy chăng? - Có người có ta nên rồi cũng chẳng thấy. - Không con không ngài lại thấy chăng? - Nếu không người không ta, còn ai cần thấy? → Sự thực, không phải có mình (năng) thấy được một Bát-nhã là như thế nào đó (sở). Mà khi tất cả đều không, sạch hết tất cả, bặt cả kia đây thì Trí tánh Bát-nhã hiện tiền, mặc tình biết khắp. Không còn tìm tướng gì đó (dù là Bát-nhã) để biết nữa. Việc này nơi mỗi người ai cũng sẵn đủ, chỉ cần nhận lại. Ai về trong ấy thì tự thầm thâm cảm, suốt thông nhau, không khác. • Ngài Linh Nguyên gửi thư nói với người huynh đệ (cư sĩ): "Nghe ông tích chứa cái hay đẹp của Bùi công và cái túc nhân của Dương Đại Niên mà hết mình ra sức hành trì. Lâu rồi ngày càng thăng tiến, ắt là cùng đường chung bước, trong mỗi việc hàng ngày tình cờ hợp nhau. Tuy chưa giáp mặt mà thật đã khế tâm. Há cho là xa xôi chưa từng biết nhau ư?" → Chính là nghĩa: Đạt giả đồng du Niết-bàn lộ. → Nếu còn thấy người này thấy biết điều kia là đã mất mình theo cảnh, là mê, không thể suốt tột Bát-nhã. • Cho nên có câu đối: - Không tịch vô tung, Phật Phật tùng lai vô khả tích. - Huyền vi hữu diệu, nhân nhân đương xứ hữu hiện tiền. Nghĩa là: - Rỗng lặng chân không, chư Phật xưa nay không thể thấy. - Sâu mầu diệu hữu, người người trước mắt thảy hiện tiền. Câu số 20: Bát Nhã nói “không ngã, không nhơn”, vậy ai nói pháp, ai nghe pháp? - Đáp: Nếu cho rằng “Không ngã, không nhơn” phải là “người nói pháp không được ngồi đây, người nghe pháp cũng phải giải tán”, thì chữ “Không” này cũng chỉ là đối lại với “Có” mà thôi, là đang rơi vào trong đối đãi “Có - Không”. Tức là đang nhằm trên tướng để thấy biết, chứ không phải ở trên Tánh thể Bát-nhã để tự sáng biết. Đồng nghĩa là đang phan duyên, mê tự tánh cho nên không suốt thông Bát-nhã, sẽ rối và không trả lời được. Bặt hết các tướng, suốt qua các tướng, trả lại Tánh thể Bát-nhã hiện tiền, thì vẫn “đang có Thầy ngồi nói pháp, có thính chúng nghe pháp”, nhưng vì tánh này tự tại sáng biết khắp, vẫn vô tướng; không nhằm trên tướng để thấy biết, không phan duyên trên tướng, không chạy theo tướng, không trụ trên tướng, thì mọi tướng vẫn trong lặng sáng ngời, nói nghe tự tại không ngăn ngại nhau, mặc tình nói và nghe rõ ràng, đâu có ai ngăn cấm? • Các tướng ở đây có hai phạm trù: 1) Các tướng duyên bên ngoài mình đang thấy: như cái bàn, cái ghế... 2) Tướng của vọng tưởng, pháp trần ở trong tâm. • Khi bặt dứt cũng có hai trình độ: 1) Đang trong quá trình tu hành (tức bên trong vọng tưởng vẫn còn): Hòa thượng Tông chủ dạy: “Biết vọng không theo” có nghĩa là khi ở vào tâm lặng an giác sáng thì tâm ấy tự sáng biết, chứ không phải nhân cái vọng mà biết, không phải rượt đuổi, biết về, biết theo hay lao theo vọng tưởng để biết. Đó là suốt qua vọng tưởng và tự sáng biết. Điển hình: Các tướng duyên bên ngoài, ví dụ như cái bàn, cái ghế... nếu nhìn theo và trụ vào nó thì sẽ chỉ ở “chỗ đó” mà không suốt thông tất cả. Ngược lại, nếu trả lại tánh mình, không kềm đè, thì tự nó biết hết mà không khởi phân biệt. Biết vọng cũng tương tự. Cái tự sáng biết đó là Trí tánh Bát-nhã không động, nó tự biết khắp. Trong đó, vẫn tự tại nói và nghe bình thường, suốt thông, không ngăn ngại. 2) Đã ngộ (thức mê tự dứt, vọng tưởng vắng bóng): Các pháp, các tướng bên ngoài vẫn còn đó, nhưng mỗi mỗi rạng ngời, tất cả như được trong trẻo và sáng hơn, rõ ràng, rành mạch hơn cả ý thức phân biệt. Có điều lúc này các pháp không đến kịp, tự vượt thoát. Thoát mà không phải có cái thấp để thoát lên, lìa mà không phải có cái để lìa. Chỉ là rõ ràng như vậy nhưng không chạm đến được. Bởi, diệu lực tự tánh khiến tự vượt thoát như vậy. Lúc này, toàn thể là Trí tánh Bát-nhã hiện bày. Trên một con người, chính khi đang nói mà cũng là đang nghe, đâu có ai khác vào đó để còn phân biệt mà bảo là “Ai nghe, ai nói?”. Cả đại chúng đây đang thấy nghe biết suốt, đâu có gì ngăn ngại. Không động mà môi lưỡi vẫn khua. Người nói đã không mà vẫn đang nói. Người nghe không cần suy nghĩ, vắng bặt mà vẫn nghe biết rõ ràng. Năng (người nói pháp) đã không sở (người nghe pháp) cũng tịch (vắng lặng), thì vốn tự nói, nghe, biết lưu thông, không ngăn ngại, suốt biết khắp tất cả rõ ràng như thế, chưa thiếu vắng bao giờ. Chỉ như thế mà nói, như thế mà nghe, như thế mà tin hiểu. Chủ yếu, không khởi phân biệt thì tâm tự sáng biết khắp, tùy thời tự tại nói và nghe, không ngăn ngại. DẪN CHỨNG • Trong bài Nói rộng con đường hướng thượng, vua Trần Thái Tông nói: “Một con đường hướng thượng, xưa nay làm sao nói? Hét! Lửa này chưa từng đốt miệng.” - Con đường hướng thượng rất ráo không lời. Nghe hỏi: “Một con đường hướng thượng xưa nay làm sao nói?” thì liền lo suy nghĩ, đang bối rối, liền bị ông vua Thiền sư quở: “Hét! Lửa này chưa từng đốt miệng”. Có miệng thì cứ nói, lửa chưa từng đốt, đâu có ngăn ngại bao giờ. Chỉ tại thức tình nghĩ tưởng làm ngăn trệ. - Đừng thèm suy nghĩ thì ngay đó nói nín hay làm gì mà chẳng phải? Vừa tìm một lời, một nghĩa hay một hành động gì đó thì liền rơi vào tình thức phân biệt, không phải điền địa này, do đó làm gì cũng không phải. • Có vị Sư giảng Kinh Kim Cang đến chỗ “vô ngã vô nhân”. Ông Bàng Long Uẩn bèn hỏi: Tọa chủ đã nói “vô ngã vô nhân” (không ta không người), vậy ai giảng, ai nghe? - Tọa chủ không đáp được. Ông nói: Tuy tôi là người tục cũng tin biết thô thiển. - Tọa chủ hỏi: Theo cư sĩ ý thế nào? - Ông bèn giải bằng bài kệ: Vô ngã phục vô nhân, Tác ma hữu sơ thân, Khuyến quân hưu lịch tọa, Bất tợ trực cầu chân. Kim Cang Bát-nhã tánh, Ngoại tuyệt nhất tiêm trần. Ngã văn tịnh tín thọ, Tổng thị giả danh trần. Nghĩa: Không ngã lại không nhân, Làm gì có thân sơ, Khuyên ông đừng ngồi mãi, Đâu bằng thẳng cầu chân. Tánh Kim Cang Bát-nhã, Chẳng dính một mảy trần, Tôi nghe và tin nhận, Thảy hiện bày giả danh. Tọa chủ nghe kệ rồi, vui vẻ khen ngợi: Chỗ cư sĩ đến phần nhiều các bậc lão túc đã qua. • Thiền sư Bổn Tịnh nói kệ: Kiến văn giác tri vô chướng ngại Thanh hương vị xúc thường tam-muội Như điểu không trung chỉ ma phi Vô thủ vô xả vô tắng ái Nhược hội ứng xử bản vô tâm Thủy đắc danh vi Quán Tự Tại. Thấy nghe hiểu biết không chướng ngại, Tiếng mùi vị chạm thường tam-muội. Như chim trong không mặc tình bay, Không thủ không xả không thương ghét. Nếu hội mỗi nơi vốn không tâm, Mới được gọi là Quán Tự Tại. Câu số 21: Khi suốt qua tất cả đều không, sẽ còn được gì? - Đáp: - Thì Thực tướng Bát-nhã hiện tiền. - Cho nên nói: Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát-nhã ba-la-mật-đa được đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. DẪN CHỨNG • Thiền sư Diệu Không khai thị vị tăng hiệu Vô Căn Có vị tăng hiệu Vô Căn ngồi thiền nhập định suốt luôn mấy ngày, chúng Tăng tưởng đã chết nên đem thiêu. Đến khi xuất định, không thấy thân đâu nữa nên mỗi tối hiện hồn về tìm thân. Cứ gọi: "Tôi đâu rồi?" Nghe chuyện, Thiền sư Diệu Không dùng phương tiện để ông đi vào trong nước, vào trong lửa, vào trong đất, vào trong hư không. Vì không còn mang thân này nữa nên ông vào được hết. Cụ thể, Thiền sư Diệu Không để sẵn thau nước và nhóm bếp lửa. Khi ông Tăng hiện về gọi “Tôi đâu rồi?” Ngài bảo: “Trong thau nước.” Ông vào nhưng không tìm được, bèn nói: “Không có trong ấy.” Ngài bảo: “Thử tìm trong lửa.” Ông Tăng vào trong lửa cũng không tìm được, nói: “Tôi không có trong lửa.” Lần lượt Ngài bảo chui vào đất, vào hư không. Ông Tăng chui vào, cũng không tìm được và cũng nói như trên. Nhơn đó, Thiền sư Diệu Không bảo: “Ông hay vào được lửa nhưng lửa không cháy; vào nước, nước không nhấn chìm; vào đất, vào hư không cũng không ngăn ngại. Ông được tự tại như vậy mà không chịu, còn đi tìm cái thân hôi thối này làm gì?” Ông Tăng liền tỉnh, từ đó không còn về tìm thân xác nữa. • Thiền sư Đặng Ẩn Phong khai thị vị Tăng đòi thân Thiền sư Đặng Ẩn Phong có lần lỡ thiêu chết một vị tăng. Vị tăng này mỗi tối hiện về đòi thân, Ngài gạn lại: - Ông đã chết rồi hay sao mà đòi thân? - Tăng đáp: Đã chết. - Sư bảo: Đã chết sao còn biết trả lời đây? Còn biết đến đây đòi thì đâu có chết! Ông liền tỉnh, từ đó hết đến đòi thân nữa. → Cho thấy: Chết là thân tứ đại chết. Nếu không dừng trụ nơi thân tứ đại này mà khéo suốt qua, nhận lại tánh đang sáng biết, thì liền đó Thực tướng Bát-nhã hiện tiền, mới hay ra tánh này vốn sẵn vậy lâu lắm rồi, sống chết không đến kịp, vượt thoát tự tại. Câu số 22: Vì sao “Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát-nhã ba-la-mật-đa được đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”? - Đáp: - Thành Phật là đạt đến viên mãn quả vị vô sanh. - Phải từ nhân vô sanh mới đạt đến quả vị vô sanh. - Mà thể ngộ Thực tướng Bát-nhã, là sống bằng nhân vô sanh ấy. - Sống thẳng bằng Tánh thể Bát-nhã, là chân thật tu hành, mới thành Phật. → Do đó, muốn thành Phật phải bắt đầu từ Bát-nhã là vậy. Thiền sinh chúng ta đang ở trong môi trường học và tu Bát Nhã, nhưng lại bỏ đi nơi khác, đồng nghĩa là đi tìm cái khác Bát-nhã. Mà không phải Bát-nhã, thì thành cái gì khác chứ không thể thành Phật được. Câu số 23: Người chứng được Thực tướng Bát-nhã, có quyền hủy hoại thân này hay không? Vì sao? - Đáp: 1. Chứng Thực tướng Bát-nhã, có hủy hoại thân thể hay không? - Nếu không cho thì còn chấp thân là thật, chưa chứng Bát-nhã. - Nếu cho thì mất mạng, là đã phạm giới Sát sanh, là giới quan trọng bậc nhất mà Phật đã chế. Hơn nữa, không lẽ ngộ Bát-nhã là phải bị mất đầu hay sao? - Chấp nhận chém đầu cũng chưa phải, không chấp nhận cũng không xong. Vậy làm sao mới phải? - Gợi ý: • Người quản tù không phải là phạm nhân bị ở tù. Cũng ở trong nhà tù, tội nhân thì có cảm giác bị giam hãm, khổ sở; nhưng người cai quản thì ở trong đó hay ra ngoài cũng thấy bình thường. Có thể thấy, bị nhốt hay không là do tâm, không phải tại ngôi nhà lao. • Tương tự, thân này ví như ngôi nhà, tâm như người ở trong đó. Khi còn mê, chấp thân là thật thì các khổ từ đó có ra. Cho nên, bị trói buộc hay không là do dính chấp, không phải tại thân tâm này, nó không có lỗi. Nếu giết thân, vẫn là chấp ngoan không. Đã ngộ rồi thì sống trên thân mà vẫn tự tại, không khổ; như người quản tù ra vào nhà tù không ngăn ngại. Vậy thì thân này đâu có lỗi gì mà phải phá bỏ? • Nếu còn quan niệm muốn phá bỏ thì cũng là do còn chấp, thấy ngăn ngại cho nên mới bỏ. Người thực sự suốt thông thì đối với tất cả chỉ là như người đã no món ngon nhìn thấy tô mì gói và nước lã vậy thôi, đâu có gì cần bàn nói! Người ngộ Bát-nhã không những không cố định nhất thiết phải hủy hoại mà còn biết dùng thân này để làm lợi ích vô vàn, không chán mỏi, không thể kể hết. 2. Đối với các bậc chứng đạo bị hành hình thì thế nào? - Là do quý Ngài biết rõ nhân duyên định nghiệp quá khứ còn sót lại (dư báo) đến lúc phải trả; và tự tại trước nhân duyên xảy đến, trong đó không khởi thêm ý gì. - Không phải do ngộ Bát-nhã nên bị mất thân này, mà nhờ ngộ Bát-nhã, nên mới có lực tự tại. • Điển hình như câu chuyện Tổ Sư Tử và Tổ Huệ Khả Tổ Sư Tử khi chấp nhận cho vua Di La Quật ở nước Kế Tân chém đầu thì nơi cổ của Tổ vọt ra sữa chứ không phải máu. Cánh tay phải của vua cũng đứt lìa. Bảy ngày sau vua băng hà. Đây là do nhân duyên quá khứ còn chép trong Bảo lâm truyện. (Xem tại phần phụ chú.) Với Tổ Huệ Khả, Ngài biết trước nhân duyên đến lúc phải trả do đó đã để cho quan địa phương hành hình và viên tịch, chứ Ngài không phản ứng hay nói gì. - Đó là quý Ngài biết trước tiền duyên, định nghiệp đến lúc phải trả dư báo cho nên chấp nhận, chứ không phải do ngộ Bát-nhã. Và cũng nhờ đã ngộ Bát-nhã cho nên tâm quý Ngài an nhiên, không động, không sanh tâm, không khổ, mặc dù trên hiện tướng là có trả quả báo. - Như cùng bị một hình phạt bắt buộc phải đấm vỡ năm viên ngói (bằng đất nung thành sành), nếu là trẻ con thì sẽ bị trọng thương. Nhưng với lực sĩ lừng danh thì việc này là bình thường, không thấy đó là hình phạt, không có gì đáng để bàn nói cả. Quý Ngài đã chứng ngộ Thể tánh Bát-nhã cũng tương tự. - Hoặc ví dụ như ông A phạm tội, đang bị nhốt và hành hình trong nhà tù, chứng kiến thấy ông rất đau đớn. Nhưng do có phép tàng hình cho nên khi nhìn ra ngoài kia, chúng ta lại thấy ông A đang đi dạo chơi ngoài vườn hoa rất thảnh thơi. Bị hành hình là việc của nhà tù, còn ông A thì vẫn thanh thản, không bị gì cả. - Và việc trả định nghiệp của quý Ngài đã chứng ngộ Thể tánh Bát-nhã cũng tương tự. Nếu những nghiệp nhẹ thì chuyển thành không, không phải trả quả báo. Với những định nghiệp, nghiệp nặng không thể chuyển hóa thì hiện tướng có trả nghiệp. Nhưng nhờ định lực, tuệ lực, vô biên lực trong Thể tánh Bát-nhã mà quý Ngài thấy bình thường. - Như vậy là trả nghiệp mà không trả gì cả; tuy không trả mà hiện tướng vẫn đang trả nghiệp; đó là sự vượt thoát nghiệp chướng bất tư nghì. Người chưa ngộ, còn khởi tâm, còn kẹt tướng, không thể thông suốt trong này được. Nỗ lực tu hành cho chứng ngộ đi, rồi sẽ rõ suốt. Nếu chưa thì dè dặt, đừng sanh tâm khởi niệm thấy biết và phán đoán theo phàm tình nhỏ hẹp còn trong mê muội của mình, sẽ bị nhân quả khó lường. PHỤ CHÚ: Tích chuyện tiền thân giữa Tổ Sư Tử và vua Di La Quật, nước Kế Tân Bấy giờ ở nước Kế Tân có hai nhà ngoại đạo rất giỏi phép huyễn thuật. Một là Ma Mục Đa, hai là Đô Lạc Giá. Một hôm, Đô Lạc Giá nhờ thông minh có sẵn, luyện huyễn thuật thành trước, nói với anh: - Em mưu định cùng anh vào cung làm phép giết vua để chiếm nước này. Người anh nói: - Chúng ta phải cẩn thận, nếu để bại lộ sẽ liên lụy đến cả dòng họ. Đô Lạc Giá đề nghị đổi hình thức bằng cách khoác ca-sa, giả danh là Tăng sĩ Phật giáo. Nếu âm mưu bại lộ nhà vua sẽ quy tội cho các Sa-môn. Quả việc không thành, cả hai đều bị quân phòng ngự bắt được và đem trình vua Di La Quật. Nhà vua nổi cơn thịnh nộ, quát lớn: - Ta đã quy y Tam Bảo, hết mình ủng hộ Tăng đoàn, tại sao các người định hại ta? Đạo đức của Tăng sĩ ở chỗ nào? Do tức giận, nhà vua bài xích Phật giáo, triệt hạ chùa chiền và bắt nhốt các Tỳ kheo. Nghe tin, Tổ Sư Tử họp chúng nói: - Lúc này vua Di La Quật không còn kính trọng Tăng đoàn, các người nên nhanh chóng lánh đi khỏi nước Kế Tân này. Có người định đưa Tổ đi lánh nạn, Tổ nói: - Ta thấy 5 uẩn không, cần gì phải đi lánh? Cơn thịnh nộ nung nấu trong lòng, vua Di La Quật đích thân cầm gươm báu đến Tinh xá của Tổ Sư Tử hỏi: - Thầy được pháp 5 uẩn không chưa? Tổ đáp: - Đã được. Vua hỏi: - Đã được, thế có sợ sống chết chăng? Tổ đáp: - Đã lìa sống chết thì đâu có sợ? Vua hỏi: - Đã chẳng sợ, có thể cho ta cái đầu chăng? Tổ đáp: - Thân đã chẳng phải cái của ta, huống nữa cái đầu. Vua liền vung kiếm, đầu Tổ Sư Tử rơi xuống đất. Nơi cổ sữa trắng phun cao chừng một trượng (thước ngày xưa). Cánh tay phải của vua Di La Quật cũng tự đứt. Vua phát bệnh. Sau 7 ngày, vua băng hà. Thái tử Quang Thủ lên ngôi, lo mai táng phụ hoàng và vì vua cha lập đàn sám hối, giải trừ oan nghiệp. Về phía Phật giáo, bốn chúng xây tháp phụng thờ Tổ Sư Tử. Trong lúc Thái tử Quang Thủ đang buồn rầu và lo việc sám hối cho vua cha, có một vị tiên hiệu là Tượng Bạch Sơn đến chia buồn và nói với Thái tử Quang Thủ rằng: - Đó là duyên nghiệp đời trước của hai người. Trong một kiếp trước, nhà vua là một nhà bạch y hiền lành, rất ái mộ đạo Phật. Còn Tổ Sư Tử cũng là một nhà bạch y rất thông minh, có biện tài. Mỗi khi luận sự với ai, chẳng bao giờ chịu thua. Ông thường tìm cách bẻ gãy lý giải của người khác. - Một hôm, vốn sẵn có tâm đạo, nhà bạch y cha của Thái tử (tức tiền thân của vua Di La Quật) mở đại hội trai đàn. Bạch y Sư Tử đến phó hội. Hai người gặp nhau và đem Phật pháp ra bàn cãi. Cha của Thái tử ứng đối trúng lý. Đuối lý, bạch y Sư Tử nổi giận, phục độc dược khiến cha của Thái tử chết một cách tức tưởi. - Tuy đã trải qua nhiều đời, nhưng mối thù chưa có cơ hội thực hiện. Nay duyên nghiệp gặp nhau, vì thế phụ hoàng Di La Quật đã giết Tổ Sư Tử. Oán oán lại chồng chất, đang trong cơn tức giận, phụ hoàng đã vung kiếm quá đà. Chẳng may cánh tay đã lìa khỏi thân xác và kiệt sức nên phải băng hà (nhân duyên quá khứ của Tổ Sư Tử và vua Di La Quật có ghi rõ trong Thành trụ tập và Bảo lâm truyện). Nghe vị tiên nói rõ oan trái tiền khiên, Thái tử Quang Thủ càng thêm xúc động. Thái tử cố giải trừ oan nghiệp cho vua cha, bằng cách, không những tiếp tục bái sám, làm các việc phước thiện mà còn trả tự do cho các Tăng sĩ, tiếp tục ủng hộ chùa chiền và sửa sang tháp của Tổ Sư Tử thêm khang trang, đẹp đẽ cho nhân dân chiêm bái. Bấy giờ là đời Ngụy Tề vương, năm thứ 20, Kỷ Mão. Câu số 24: “Tướng không của các pháp”, liên hệ gì tâm mình mà khi đạt được thì qua hết thảy khổ ách? - Đáp: 1. Khái quát bố cục bài Kinh Bát Nhã: - Mở đề đức Phật nói: “Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã ba-la-mật-đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách”. - Tiếp theo, Ngài nói rõ 5 uẩn không là: “Này Xá-lợi-phất! Sắc chẳng khác không... Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế.” - Tiếp theo: “Này Xá-lợi-phất! Tướng không của các pháp...” cho đến “Vì không có chỗ được, nên Bồ-tát y theo Bát-nhã ba-la-mật-đa... được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.” - Tóm lại, khi tỏ suốt như vậy, cho đến thấu đáo thì đạt được kết quả là qua tất cả khổ ách. Thế thì vấn đề được đặt ra ở đây là: Tướng không của các pháp có liên hệ gì tâm mình mà khi suốt thông thì qua hết thảy khổ ách? 2. Nhìn nhận chung - Không phải quan tâm trên “Tướng không” của các pháp bên ngoài, mà khi tâm không thì cảnh tự vắng lặng (cảnh tịch). - Chính nhờ “Tâm không - Cảnh tịch” nên tự có diệu lực cho hành giả tự tại, vượt thoát, các khổ ách không còn giá trị chi phối (không dính dáng gì), tức qua hết thảy khổ ách. - Muốn vậy, hành giả không dính kẹt trên các cảnh duyên, kể cả thân tâm sanh diệt. Cần thấy đúng bản chất các pháp là huyễn hóa, không thật nên không theo, không dính kẹt trên nó. Ngay đó, nhận lại Tánh thể Bát-nhã chính mình. Lúc này, diệu lực tánh thể ấy khiến các khổ ách tự không chạm tới được, gọi là qua hết thảy khổ ách. - Đây là nội dung: Khéo nhận đúng “Tướng không các pháp” thì qua hết thảy khổ ách. Chính là ý nghĩa khái lược giải đáp cho câu hỏi trên. 3. Cụ thể công phu - Dùng Trí tuệ Bát-nhã thấy tột tất cả các pháp vốn huyễn hóa, rỗng tuếch (Tướng không), lúc này sẽ ngộ pháp giới tánh vốn không. - Ngay khi thấu suốt các pháp là huyễn hóa, rỗng tuếch thì Tâm không (rỗng rang), Cảnh tịch (vắng lặng). → Lúc này “Tâm ta” cùng “Tánh pháp giới” vốn đồng. - Không phải có “cái tâm mình” đồng với “tánh của pháp giới” kia. Nếu thế thì đã lập thành pháp, đã có một cái “tâm không” và có một cái “pháp giới Tánh không” để đồng nhau, rơi vào hai bên; do đó cả hai đều thành pháp có, là rơi vào sanh diệt của có và không, không còn là Bát-nhã. - Mà ngay đây, thấy biết như thị, vượt Năng - Sở; Căn - Cảnh… không phải một, cũng chẳng phải khác. → Lúc này, cây gậy là cây gậy, hoa hồng là hoa hồng. → Tâm này mới đủ năng lực, định lực, tuệ lực, vô biên lực, tự nó vượt thoát tất cả khổ ách. • Khi vượt thoát như vậy thì khổ ách còn mà thoát hay hết mới thoát? Nói đã qua hết thảy khổ ách, tại sao đức Phật vẫn còn bị 8 nạn? - Nếu đặt vấn đề là còn khổ ách hay hết khổ ách (mới qua được hết thảy khổ ách) là đã can thiệp trên khổ ách để bàn luận, hiểu biết; tức quên tâm, dính trên cảnh, thì khổ ách vẫn còn nguyên. - Vượt thoát ở đây chính là sức tự tại của Tánh thể Bát-nhã, nó không nằm trong còn khổ ách hay hết khổ ách. Mà có hay không đều không đến kịp, tất cả toàn không dính dáng. Ngay đó tự tại, vượt thoát, các khổ ách liền đó qua sạch. - Cho nên đối với đức Phật, dù bị 8 nạn hay nhiều hơn đi nữa cũng chẳng dính dáng gì Ngài. Đức Thế Tôn vẫn tự tại, giải thoát. • Kiểm chứng: - Thứ nhất, chứng thực nơi tâm hành giả: Thiền sư Huyền Giác nói: “Chứng thực tướng, vô nhân pháp; Sát-na diệt khước A-tỳ nghiệp; Nhược tương vọng ngữ cuống chúng sanh; Tự chiêu bạt thiệt trần sa kiếp”. o Ngài nói, người chứng được thực tướng, tức nhận lại Thực tướng Bát-nhã chính mình, thì vẫn thấy rõ đây là người, kia là pháp (cảnh), không lẫn lộn, tức không phải một nhưng bởi không còn niệm phân biệt, cho nên người và pháp cũng chẳng phải khác. Không phải một, không phải khác cho nên không có chỗ cho ý thức lập nên bất một pháp gì cả. Lúc này, tánh tự sáng ngời, thấy biết như thị, vượt Năng - Sở, Căn - Cảnh... Người đã chứng thực tướng sẽ tự sáng rỡ rõ ràng như vậy. o Lúc này, trong khảy móng tay dứt sạch nghiệp địa ngục. Người đạt được thật tướng không còn thấy mình là thật, sự vật là thật thấy biết không nằm trong Căn - Cảnh, Ta - Người, tất cả tự trong lặng, sáng ngời, bao nhiêu thứ nghiệp liền đó cũng được lặng trong như thế. o Lời nói đó có thật hay không? Thiên sư Huyền Giác quả quyết rằng: Nếu đem lời dối trá để lừa gạt chúng sanh thì tôi tự chịu nghiệp đọa địa ngục, bị cày trên lưỡi trong số kiếp nhiều như cát bụi. Ngài khẳng định đó là sự thật, và ai chứng ngộ thật tướng Bát-nhã cũng tự thấy ra như vậy. - Thứ hai, trong bài Kinh Bát Nhã: Đức Phật minh định chính Bồ-tát Quán Tự Tại khi hành sâu Bát-nhã ba-la-mật-đa, soi thấy 5 uẩn không, liền qua hết thảy khổ ách. Cụ thể: Đức Phật triển khai rộng thêm: 1) “Này Xá-lợi-phất! Sắc chẳng khác không… Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế”: Khi đã thấy rõ, tỏ suốt “chẳng khác” như vậy, tức rõ các pháp không thật, liền lìa. 2) “Này Xá-lợi-phất! Tướng không của các pháp... không thêm không bớt”: Rõ tướng không của vạn sự, vạn vật, vốn như thế, rỗng tuếch, không thật và tự nó cũng không nói như vậy. Chỉ do chúng ta lầm nên thấy là thật. 3) “Cho nên trong tướng không... không có trí tuệ cũng không có chứng đắc”: Ngay khi biết các pháp là không, liền đó tâm rỗng lặng. Trong tánh rỗng lặng thì không (lặng trong) tất cả. 4)“Vì không có chỗ được, nên Bồ-tát y theo Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm không ngăn ngại.... đạt đến cứu cánh Niết-bàn”. Chính vì Bồ-tát không có chỗ được như vậy cho nên tâm không ngăn ngại, không sợ hãi. Bởi, khi không tất cả mình và pháp thì trong ngoài rỗng suốt, trong lặng, sẽ không có chỗ được. Lúc này, trả lại tự tánh chính mình, Tánh thể Bát-nhã hiện tiền. Tánh đó tự có sức tự tại, lưu thông, nơi nơi sáng sạch không ngăn ngại; chính là nghĩa “không ngăn ngại, không sợ hãi”. Đó chính là sức tự tại trong Tánh thể Bát-nhã. Chính vì Bồ-tát đạt được tánh thể đó cho nên các điên đảo mộng tưởng tự lìa, tất cả tự sạch trong. 5)“Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát-nhã ba-la-mật-đa được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”: Khẳng định chư Phật trong ba đời đều nương vào sức tự tại trong tự tánh đó mà thành đạo quả Bồ-đề. Tức là phải từ tự tánh đó mới thành Phật, không thể khác. 4. Tóm kết Mấu chốt của câu hỏi: Không nên quên tâm mà nhìn theo tướng bên ngoài để tìm tướng không trên các pháp thì mới suốt thông. Nếu dụng công tu hành như vậy sẽ vô lực, không có hiệu quả. (Tham khảo thêm “Câu số 28: Nói Tướng không, hay 'Tánh không' mới phải?”) Câu số 25: Thế nào là hành sâu (hành thâm) Bát-nhã? - Đáp: Nghĩa của hành thâm là miên mật, không gián đoạn, không xen hở. Tùy theo trình độ và công phu của từng hành giả cao hay thấp mà mức độ miên mật cũng có sâu hoặc cạn khác nhau. Ở đây tạm nêu hai mức độ tiêu biểu: 1) Đang còn công phu: Hằng thấy suốt tột các pháp là huyễn hóa, như bóng trăng đáy nước, thấy thì có mà vớt thì không. Tuy nhiên, lúc này vì đang còn trong quá trình công phu tu tập cho nên vẫn còn thấy hai: Còn thấy mình đang sống bằng tâm chân thật, và còn thấy các pháp là như huyễn. 2) Sống bằng Thực tướng Bát-nhã (Thể tánh Bát-nhã): Tâm ấy hằng như vậy, không xen hở, tức là hành thâm (hành sâu). Sức sống này cũng có nhiều trình độ nhưng tựu trung có thể thông qua hai trình độ cơ bản như sau: 1) Với người mới khéo thầm nhận, rồi từ đó sống về, miên mật bảo nhậm: Tuy cũng có lực, nhưng chưa được mạnh. 2) Với người đã chứng ngộ: Đi đứng nói cười đều hằng như vậy. Lúc này, nhúc nhích là tánh này, không khác. → Tức là hành thâm. CÂU SỐ 26: Bát Nhã nói: “Sắc chẳng khác không… Không nhơ không sạch…” Thiền sư Bạch Ẩn nói: “Một bát canh thật ngon. Ôi thôi, hai cục cứt chuột!”. Bát-nhã nhìn thế nào về tình huống này? - Nếu gắp cứt chuột ra để ăn, thì còn thấy nhơ và sạch, sắc và không (có và không) khác nhau, tức là đã có phân biệt, là trái với Bát-nhã (chưa thông Bát-nhã). - Nếu không phân biệt, ăn bình thường thì vô minh, không biết nhơ sạch. Bát-nhã là trí tuệ rốt ráo thì làm sao lại có vô minh? - Vậy phải làm thế nào mới phải? - Đáp: - Sẽ giải ở câu kế dưới. Câu số 27: Thế nào là “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc”? - Đáp: Tham khảo mẩu chuyện: Thiền sư Kim Bích Phong và cái bát ngọc Thiền sư Kim Bích Phong, sau khi chứng ngộ, Sư buông hết mọi tham ái ở đời, nhưng còn quý thích cái bát ngọc dùng để ăn cơm cho nên thường giữ bên cạnh không rời. Mỗi lần nhập định, Sư chùi rửa cái bát ngọc và đem cất giấu thật kỹ để an tâm. Có lần tuổi thọ sắp hết, vua Diêm La sai quỷ đến bắt. Thiền sư Kim Bích Phong tự biết thời mình sắp mãn, cho nên mỉm cười nhập định để xem vua Diêm La làm được gì. Khi quỷ sứ đến bên cạnh Sư đi lòng vòng một ngày, hai ngày mà không tìm thấy Sư ở đâu cả. Cuối cùng quỷ sứ đi hỏi Thổ Địa thì được mách bảo: - Vị Thiền sư này thường ngày rất thích cái bát ngọc. Nếu ông có cách gì đem cái bát ngọc đó đi, làm Sư động niệm sẽ xuất định thì bắt được. Quỷ đi đến chỗ cái bát ngọc làm lay động vang ra tiếng, Sư nghe và động niệm xuất định để giữ cái bát lại. Ngay đó, quỷ vỗ tay cười to: - Hay! Hay! Bây giờ thì xin mời Ngài đi theo tôi đến gặp Diêm Vương. Thiền sư Kim Bích Phong liền sực tỉnh lại, biết rõ do tâm tham ái cái bát ngọc mà đánh mất đi huệ mạng ngàn năm. Sư liền đập vỡ cái bát rồi nói bài kệ và nhập định lại. Bài kệ: Nhược nhơn dục nã Kim Bích Phong Trừ phi thiết luyện tỏa hư không Hư không nhược năng tỏa đắc trụ Tái lai bả ngã Kim Bích Phong. Nghĩa: Nếu người muốn bắt Kim Bích Phong Trừ khi sắt luyện khóa hư không Nếu hay khóa được hư không ấy Trở lại bắt ta Kim Bích Phong Ngay đó, Sư nhập Niết-bàn vô trụ. Quỷ hết bắt được. Trở lại câu hỏi về Sắc - Không 1. Còn trong sanh diệt, biến hiện SẮC và KHÔNG = CÓ và KHÔNG • Xác định nội dung: Đây là thấy Bát nhã theo chiều hướng, trình độ của hành giả còn trong quá trình dụng công tu tập, chưa ngộ rốt ráo Thực tướng Bát-nhã. • Cụ thể ở đây: - Sắc: Là sắc chất, có tướng, cũng chỉ cho Sắc thân. - Không: Là Thể tánh không của Bát-nhã. • Ví dụ cụ thể: Nhìn vào hư không, thấy không có gì (tức không). Nhưng khi đặt máy hút ẩm thì thu hoạch được nước (tức có, sắc). Như vậy tạm hiểu là không tức sắc (hư không, không thấy gì, nhưng lại có nước). Lấy bình nước vừa hút ẩm thu hoạch được (sắc), để giữa trời nắng, nước bốc hơi, không còn gì (không). Tức không lâu bền, có đó rồi không đó, tạm hiểu là sắc tức không. Tức là ở trong một điều kiện khác thì nước hóa thành thể hơi, coi như là không, nhưng không phải mất đi đâu cả, gọi là tức. Đây chỉ là ví dụ tham khảo thêm. Đừng nhằm trên ấy để tìm đạo lý. • Tóm lại: Nếu còn trong sanh diệt, biến hiện, thì: - Dùng trí tuệ soi thấy các pháp (là sắc) thể tánh vốn không. → Đó là, Sắc tức Không. Thể tánh không, nhưng duyên hợp thì tạm có (là sắc). → Đó là, Không tức Sắc. Nói rộng • Thiền sư Bạch Ẩn nói: “Một bát canh thật ngon. Ôi thôi, hai cục cứt chuột!” - Tô canh ngon → Đang bình thường = Tức là Không. - Đang bình thường, vì hai cục phân chuột → Liền sanh tâm = Tức là Sắc. → Đó là, Không tức là Sắc. - Hai cục phân chuột = Đang có = Tức là Sắc. - Bình thường, gắp ra, không sanh tâm = Tức là Không. → Đó là, Sắc tức là Không. Phân chuột là tướng sắc bên ngoài. Sanh tâm là tướng sắc bên trong. Dù ngoài hay trong đều cùng là tướng sắc che lấp thể tánh, khiến hành giả bị ngăn ngại. Chỉ cần không dính kết vào bất kỳ tướng sắc nào, liền đó trả lại Tánh thể Bát-nhã, linh thông, vô quái ngại. • Qua tự truyện của Thiền sư Kim Bích Phong: - Đang ngồi nhập định = là Sắc. Nhưng quỷ không thấy = là Không. → Đó là, Sắc tức Không. - Đang nhập định, quỷ không thấy = là Không. Nhưng khởi tâm thì quỷ liền thấy = là Sắc. → Đó là, Không tức Sắc. Thân mình là tướng sắc bên ngoài. Động niệm là tướng sắc trong tâm. Cả hai đồng là tướng sắc, ngăn ngại chân tánh, bị các khổ chi phối. Hành giả khéo suốt qua, không dừng trụ trên tất cả, liền đó Tánh thể Bát-nhã toàn bày, liền qua hết thảy khổ ách. 2. Đã đạt Thực tướng Bát-nhã, sống bằng Tâm không Bát-nhã thì Cảnh tịch (vắng lặng): - Chân không: Là Thể tánh Bát-nhã vắng bặt, không động, không một vật. - Diệu hữu: Là liễu biệt, linh thông, diệu dụng bất tư nghì. • Ví dụ: Thiền sư Bạch Ẩn nói: “Một bát canh thật ngon. Ôi thôi, hai cục cứt chuột!” - Thấy rõ phân chuột là phân chuột, canh là canh = Đó là Sắc. - Nhưng không động, không phân biệt = Đó là Không. → Cho thấy, ngay Sắc vẫn là Không. - Không động, không phân biệt = Là Không. - Nhưng tùy duyên bình thường gắp bỏ phân chuột ra = Là Sắc. → Cho thấy, ngay Không hay hiện Sắc. - Phân và canh rõ ràng = Do đó, không phải là một, cho nên không phải vô minh. - Tuy phân và canh rõ ràng, nhưng vẫn không phân biệt = Cho nên, không phải là khác; do đó, không động → Chỉ là không động, nhưng liễu biệt, rõ ràng. Là lời giải cho câu hỏi số 26 ở trên. → Tóm lại: Khi nói đến ý nghĩa “sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc”, Thiền sư Bạch Ẩn nói: “Một bát canh thật ngon. Ôi thôi, hai cục cứt chuột!” • Giả sử: Tô canh này là thứ duy nhất đối với mình khi đang ở giữa một vùng sa mạc rộng lớn. Đổ bỏ đi sẽ bị chết, buộc phải ăn thì mới sống sót được. - Nếu không ăn, xem nhẹ thân mạng và liều chết, trong khi khả năng để sống vẫn còn thì phạm giới sát sanh Phật đã chế, là phạm trọng tội. - Nếu gắp cứt chuột ra để ăn thì còn thấy nhơ và sạch, sắc và không khác nhau, tức là đã có phân biệt, là trái với Bát-nhã. - Nếu không phân biệt, ăn bình thường thì vô minh, không biết nhơ sạch. Bát-nhã là trí tuệ rốt ráo, tại sao lại có vô minh, không biết nhơ sạch? - Vậy làm sao mới phải? - Gợi ý: - Hay bỏ qua mọi lý thuyết, nghĩ suy. Tâm - Cảnh, Sắc - Không, đều dứt bặt. Nhìn lại thực tại và hỏi. - Khi chưa học Bát Nhã, chúng ta sẽ làm gì với tô canh này? Đáp: Sẽ gắp bỏ phân chuột ra khỏi tô canh và ăn bình thường. - Vậy, hãy làm việc đó, làm những việc bình thường hằng ngày vẫn làm bằng tâm rỗng lặng liễu biệt mà không cần có niệm phân biệt. Đó là biết sống bằng Bát-nhã. • Một ví dụ khác: Đi thám hiểm Châu Phi gặp nạn, bị mất hết hành lý, không tìm lại được và có thể đưa đến tử vong. Nếu thấy sắc tức là không, không tức là sắc... đời là huyễn hóa, thân cũng huyễn hóa, mọi thứ đều chuyển hóa... thì sẽ chết. Vậy phải làm sao? - Hỏi lại: Giả sử khi cho mọi thứ là thật thì sẽ làm gì lúc này? - Đáp: Sẽ làm mọi thứ có thể để được tồn tại. - Trả lời: Vậy, hãy dùng tâm thấy biết như huyện để làm việc ấy. Lúc này sẽ bình tĩnh, sáng suốt và làm mọi việc một cách hiệu quả hơn. • Thiền sư Trường Sa Cảnh Sầm nói: Ngại xứ phi tường bích, Thông xứ vật hư không. Nhược nhân như thị giải, Tâm sắc bản lai đồng. Nghĩa: Chỗ ngại chẳng tường vách, Chỗ thông đâu hư không. Nếu người hiểu như thế, Tâm sắc xưa nay đồng. • Ngại xứ phi tường bích: Chỗ ngại chẳng tường vách. Ví dụ, hai người ở cạnh phòng nhau. Anh A gọi, anh B trả lời. Anh A hỏi: “Cách một bức tường, tại sao không thấy nhau?” Nếu không có Trí tuệ Bát-nhã sẽ nhìn trên thân tướng thì rõ ràng là bị bức tường làm ngăn ngại, không thấy nhau thật; sẽ thấy là do bức tường ngăn cho nên không thể thấy nhau. Đó là phàm phu, chưa tỏ ngộ Bát-nhã. - Đã suốt thông Bát-nhã, thấu tột các pháp đều hư huyễn, thấy nghe suốt qua các tướng của thân, tâm, tường vách; không dừng trụ vào bất cứ nơi đâu; ngay đây, gọi liền nghe, liền ứng dạ một cách linh thông, như nhiên, sinh động nhưng bất động, Thể tánh Bát-nhã đang rạng ngời, tường vách nào ngăn được? Cho nên nói: “Ngại xứ phi tường bích”. Anh A hỏi tiếp: “Nếu tường vách không ngăn được. Thử hỏi hiện nay tôi đang ngồi hay nằm?” Nghe liền kẹt tâm chấp tướng, muốn tìm thấy trên thân tâm thì sẽ không đáp được, là đã bị bức tường ngăn che. Nếu Tâm không - Cảnh tịch, mặc tình thấy nghe suốt khắp thì đâu đợi nhìn thấy cái thân huyễn hóa để trả lời theo tướng nằm hoặc ngồi làm gì. Chuyện đó là việc tầm thường của anh A, không có gì đáng nói. Chúng ta có biết việc ấy hay biết nhiều việc siêu huyền hơn nữa, cũng chỉ là biết việc bên ngoài, chính mình còn mê, còn tham sân khổ đau đầy dẫy, thật lòng có lợi ích gì rốt ráo tuyệt đối cho bản thân và người khác. Do đó, có biết cũng không ăn thua, chẳng có giá trị gì. • Thông xứ vật hư không: Chỗ thông đâu hư không. Hai người ngồi cạnh nhau, không có một vật cản nào cả. Nhưng anh A trong đầu đang có chuyện bất ổn, ngồi thừ ra. Anh B nói chuyện huyên thuyên nhưng không nghe trao đổi lại Bèn quay sang gọi: “Anh A, anh A”, nhưng anh A vẫn cứ ban ngày mở mắt chiêm bao, vẫn nhìn xa xăm không hay biết gì. Anh B lấy tay gạt lên gạt xuống trước mặt anh A hai ba lần, anh ấy mới giật phắt mình, tỉnh lại. Cho thấy, ngồi rất gần nhau và không gian không bị ngăn cách, nhưng vẫn không thông, vẫn bị ngăn cách hơn cả bức tường đá. Rõ ràng, hư không chưa hẳn là thông. Mà suốt thông là do có Trí tuệ Bát-nhã, thấy các pháp, mọi chuyện là huyễn hóa, không thật thì tâm sẽ suốt thông. Một khi tâm đã suốt thông thì không gian, thời gian, địa lý, vật chất, phi vật chất, có và không... hay bất cứ gì, đều suốt thông, không ngăn ngại. • Nhược nhân như thị giải, Tâm sắc bản lai đồng: Nếu người hiểu như thế, Tâm sắc xưa nay đồng. Nhìn thấy và biết theo hình tướng thì tường vách (sắc) là ngăn ngại; là cái thấy của người mê, dính chấp mọi thứ cho là thật. Từ đó, sống và hiểu biết, dính chấp trên tướng, phải khổ. Không phải cái nhìn của Trí tuệ Bát-nhã. Hư không chỉ là trống không so với có, nhưng nó vẫn có tướng của không. Trí tuệ Bát-nhã không dừng trên tất cả tướng, kể cả không tướng. Nếu thường tỏ rõ các pháp vốn hư huyễn, không thật thì ngay đây tự lìa; Tâm liền không - Cảnh vắng bặt; thấy, nghe, hiểu biết suốt qua tất cả các tướng: tường vách và hư không, có và không, căn và cảnh... Không dừng trụ trên bất kỳ pháp nào. Trong không thấy có tâm để gìn giữ, ngoài không thấy có cảnh đáng trừ. Lặng trong, sáng rỡ, linh thông đến chủ động nhưng bất động, tâm và cảnh không hai; không phải một cũng chẳng phải khác. Sẽ tỏ rõ: “Tâm sắc xưa nay đồng”. Tóm lại: • Ngại xứ phi tường bích: - Có Sắc, nhưng không ngăn ngại = Không → Do đó, Sắc tức là Không. • Thông xứ vật hư không: - Dù là hư không, nhưng tâm vướng kẹt = Có. → Cho nên, Không tức là Sắc. • Mới biết: - “Có (sắc) và Không” không phải do “những cảnh sắc có và không” bên ngoài, mà bởi tại tâm. - Mọi cảnh vẫn đang hiển hiện, nếu tâm thông không ngăn ngại thì tâm cảnh như như, rõ ràng, không hai, “Tâm sắc xưa nay đồng”. - Không có niệm khởi: Đây là tâm, kia là cảnh: đây là sắc, kia là không, vì vậy cả hai “chẳng phải khác”. - Nhưng vẫn thấy biết rành rẽ, rõ ràng: Không và sắc, cảnh và tâm không lẫn lộn, cho nên cũng “chẳng phải một”. - “Chẳng phải khác, chẳng phải một” không có chỗ cho thức tình sanh khởi hay dựng lập nên một tướng pháp nào, liền đó, thấy biết vượt Năng - Sở, Có - Không. Ngay đây, không động nhưng rờ rỡ rõ ràng: “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc” như thế, không thể nghĩ bàn. DẪN CHỨNG • Các Thiền sư nói: Thanh thanh thúy trúc tổng thị pháp thân, Uất uất hoàng hoa vô phi Bát-nhã. Xanh xanh trúc biếc thảy đều pháp thân, Rợp rợp hoa vàng thảy đều Bát-nhã. - “Trúc biếc hoa vàng” không phải Bát-nhã → Không nhận lầm trên cảnh. - Nhưng tất cả không ra ngoài Bát-nhã → Tâm cảnh không hai. • Thiền sư Duy Tín đời Tống nói: - "Trước khi gặp Thiện Tri Thức, thấy núi sông là núi sông": Do còn là phàm phu, cho núi sông có thật. - "Sau khi gặp Thiện Tri Thức, thấy núi sông chẳng phải núi sông": Bởi đã thông Bát Nhã, thấy núi sông huyễn hóa, không thật → Không dính mắc. - "Sau 30 năm, thấy núi sông là núi sông": Lúc này đã thuần thục, sống bằng Thực tướng Bát-nhã → Không nói sắc, không nói không; chẳng khởi đây là tâm, kia là cảnh. Mà thấy biết vượt năng và sở, có và không. Tâm cảnh như như, cây gậy là cây gậy, núi sông là núi sông. • Thiền sư Triệu Châu Tùng Thẩm dạy chúng: - Khi chưa có thế giới, trước đã có tánh này, khi thế giới hoại, tánh này chẳng hoại. - Tăng hỏi: Thế nào là tánh này? - Sư bảo: Tứ đại ngũ uẩn. (thân này) - Tăng thưa: Các thứ ấy vẫn là hoại, thế nào là tánh này? - Sư bảo: Tứ đại ngũ uẩn. (thân này) → "Tánh này" không phải ở ngay thân tâm này, không ở vào bất kỳ đâu. Mà nó hiển hiện sáng ngời khắp tất cả, không nơi nào thiếu vắng. Hành giả ngay đây, ngay trước mắt, khéo nhận lại, liền xong. Cụ thể: - Ngay năm uẩn, không thiếu “tánh này”. Nhưng “tánh này” không phải năm uẩn. - Ngay năm uẩn (là tức), hoặc lìa năm uẩn (là ly) để tìm tánh này, đều là từ “cái thấy biết chưa rời cảnh” mà nói, nên còn mê, chưa thể ngộ ra “tánh này” được. - Chẳng phải ngay năm uẩn mà tìm tánh này, không thể lìa năm uẩn để tìm tánh này, cho cho nên nói: “Chẳng phải tức” (bất tức). Cũng nên nói: “Chẳng phải ly” (bất ly). - Chỉ là, hay sạch đi tất cả niệm phân biệt tâm và cảnh, chơn và vọng, sắc và không... thoạt nghe kêu liền dạ; gặp việc vẫn tự tại làm việc rất đỗi bình thường, nhưng bất động, rạng ngời. Ngay đó, chẳng phải ngay đây, chẳng phải lìa đây (bất tức, bất ly); Thể tánh Bát-nhã hiện tiền, sáng biết rành rành như thế; khởi thêm làm gì! - Sẽ tỏ rõ “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc” không thể nghĩ lường. 3. Tóm kết • Với người chưa ngộ, còn tu tập: - Dùng trí tuệ soi thấy các pháp (là sắc) thể tánh vốn không → Sắc tức là Không. - Thể tánh không, nhưng duyên hợp thì tạm có (là sắc) → Không tức là Sắc. • Với người đã đạt Thực tướng Bát-nhã: - Thấy biết vượt năng và sở, có và không, căn và cảnh... cây gậy là cây gậy; không phải một, cũng không phải khác (đã nói rõ ở trên). Lúc này, sẽ tự tỏ rõ: “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc” bất tư nghì như thế. • Bất tư nghì, còn gọi là “Bất khả tư nghì”: Không thể nghĩ bàn. - Thiền sư Duy Khoan nói: “Nghĩ đó chẳng đến, bàn đó chẳng được. Cho nên nói không thể nghĩ bàn.” - Trong Triệu luận, Ngài Tăng Triệu nói: “Tri kỳ nhiên, nhi bất tri kỳ sở dĩ nhiên giả. Bất tư nghì chi nghĩa dã.” Nghĩa là: “Biết nó là như vậy, nhưng không biết vì sao như vậy; gọi là không thể nghĩ bàn.” TỔNG HỢP QUA MỘT CÁCH KHÁC VỀ: SẮC CHẲNG KHÁC KHÔNG, KHÔNG CHẲNG KHÁC SẮC, SẮC TỨC LÀ KHÔNG, KHÔNG TỨC LÀ SẮC 1. SẮC LÀ CÓ; KHÔNG LÀ GIẢ TẠM, KHÔNG THẬT CÓ 1.1. Thời gian: Vô thường biến hoại. - Có đó rồi không đó, không bền chắc, cho nên giả tạm. - Ví dụ: Thân người khi chưa sanh thì không có; sanh ra rồi tạm có; trưởng thành, đến già, rồi thì cũng chết; nên chỉ là giả tạm. 1.2. Không gian: Không chủ tể, duyên hợp. - Đủ duyên, tụ lại thì "Thành", gọi là "Có". - Hết duyên, tan rã thì "Không". → Cho thấy, đang có cũng như không. Do đó, các pháp huyễn hóa, không thật. - Ví dụ: Thân người do nhiều bộ phận, nhiều yếu tố cần thiết hợp lại mà tạo thành (Đất: xương, cơ, gân...; Nước: máu, mủ...; Gió: hơi thở; Lửa: hơi ấm...), tạm gọi là "Có". Khi hết duyên, chúng tan rã, trở thành "Không". 1.3. Hư không: Dao động, không cứng chắc. - Các pháp do nhiều nhân duyên, nhiều phân tử, tế bào tựa vào nhau, kết hợp lại mà thành. Vì thế, có khoảng không giữa các tế bào, phân tử, cho nên chúng luôn dao động, hợp tan liên tục, vì thế không thật. - Ví dụ: Cuộc sống con người, nhờ có khoảng không cho nên mới vận động, nhúc nhích, tồn tại và chuyển biến một cách liên tục. Nếu bị nhốt trong một không gian hẹp, không có không khí để thở, không thể nhúc nhích được thì con người không thể tồn tại. Sự có mặt trong điều kiện có giới hạn cho nên không thể đạt được sự vô hạn, cụ thể cuộc sống gặp nhiều bất ổn, già bệnh thay đổi… Do đó, không bền chắc. 2. SẮC LÀ CÁC PHÁP, MUÔN SỰ MUÔN VẬT; KHÔNG LÀ TÂM KHÔNG, VẮNG LẶNG, SÁNG BIẾT 2.1. Tâm sanh các pháp sanh Sự việc, vạn vật có và không đều do tâm, cho nên không thật. • Vạn vật từ tâm (từ tâm điều khiển mà chúng được làm nên) - Tâm sanh thì các pháp từ đây mà sanh. - Tâm diệt thì các pháp cũng diệt. → Cho nên biết: Sắc tức là không, không tức là sắc. Không chẳng khác sắc, sắc chẳng khác không. • Nhờ tâm nhận biết nên mọi thứ hiện hữu, tồn tại - Tâm không thì các pháp dù có cũng là không. - Tâm biết thì các pháp từ đây mà có. Ở đây có 2 trình độ: o Nếu đã ngộ (bằng tâm liễu biệt): tánh tự sáng biết cho nên mọi thứ đang hiện hữu, không phải là “có” hay “không”, mà là một sự hiển hiện sáng ngời trong tự tánh chánh định chính mình. Do đây, các pháp mới được ghi nhận là đang tồn tại (có). Cho thấy, tâm sanh, các pháp sanh; tâm diệt, các pháp diệt. o Nếu bằng tâm phân biệt: nhờ tâm nhận biết, phân biệt nên các pháp mới có giá trị. Ngược lại thì có cũng như không → Cho nên: Sắc đó → Liền không. → Không đó → Liền sắc. 2.2. Tâm không - Cảnh tịch - Thấy biết vượt “có” và “không”, do đó thấy rõ: Sắc tức là không. - “Sắc và không” không phải hai, không phải khác, nhưng không phải một. Chỉ cần có cái thấy vượt lên trên tất cả, liền như thế mà suốt biết: Như thị - Không động - Linh thông - Tự tại. TÓM KẾT * Lục Tổ dạy: “Nên biết bản tánh tự có trí Bát-nhã, vì tự dùng trí tuệ thường soi sáng, chẳng nhờ văn tự.” • Ví dụ: - Chúng ta: Có nhiều diệu lý học không thể hiểu. Nhưng thường có những khoảnh khắc vàng, thời điểm lóe sáng, bất chợt “À ra”, tự thấy ra các diệu lý ấy một cách rõ ràng và vô cùng sâu mầu, độc đáo, rất đúng với diệu chỉ sâu xa Phật Tổ khai thị (điển hình như Sắc - Không). Đó là Trí tuệ Bát-nhã đã sẵn ngay tự tánh và hiển hiện ra, trí đó dạy cho chúng ta tự nhận ra điều đó. - Các bậc chứng ngộ: Trong tự tánh đó, tự thấy ra tất cả, không phải kiến thức học hiểu (chỗ ấy có học hiểu bao nhiêu cũng không thấu đạt đến). - Cho thấy: Trí Bát-nhã đã sẵn nơi tự tánh mỗi người. Đức Phật chỉ khéo khai thị cho chúng ta nhận lại chứ không làm gì thêm trong đó cả. - Chúng ta học Bát Nhã để tu cho có kết quả, tức khéo nhận lại cái đã sẵn, chứ không phải theo văn tự, chữ nghĩa, mà quên trọng tâm này. Lúc này, Thực tướng Bát-nhã hiện tiền, bao nhiêu nghĩa lý diệu huyền đều đã sẵn đủ trong ấy. Như vậy mới khéo biết cách học và thuộc bài Bát Nhã Tâm Kinh. • Đạt ngộ Thể tánh Bát-nhã - Không dừng trên bất kỳ pháp nào. Thấy biết suốt qua các pháp, muôn sự, muôn vật. - Suốt thông bản chất các pháp là huyễn hóa, không thật; - Nhận chân Tánh thể Bát-nhã. - Cuối cùng đạt đến đệ nhất nghĩa đế (không nằm trong không và sắc, huyễn và chân). → Đó là cái nhìn bằng Trí tuệ Bát-nhã. • Yếu chỉ Bát Nhã đức Phật muốn dạy: Không trụ trước trên lý Sắc - Không. Cốt yếu là phải nhận lại tự tánh chính mình. Cụ thể: - Nói Sắc - Không, để tỏ suốt tất cả đều huyễn hóa. - Không theo huyễn, khéo nhận lại Tánh chơn, Tánh thể Bát-nhã. - Lúc này, vượt thoát Huyễn - Chơn, Sắc - Không; thấy rõ tất cả nhưng vẫn như thị, tự tại. - Từ trong đó mới thấy, bản tánh tự có trí Bát-nhã. Và trí Bát-nhã vốn từ tự tánh; có nghĩa là trở lại bản tánh, trí này tự biết tùy duyên, nên làm gì, mà vẫn vô tướng, bất động, tùy thời bày hoặc thu, phá hoặc lập, sắc hoặc không... vẫn không tất cả tướng ấy. Tất cả nhằm đưa đến một mục đích chính, để đẩy học nhơn nhận lại Tánh thể Bát-nhã chính mình. - Đó là yếu chỉ Bát Nhã. Nếu nhằm trên Sắc - Không hay Huyễn - Chơn mà nói thì vẫn còn mê, không có giá trị cứu khổ. • Tóm lại - Không dừng ở Sắc - Không. - Nhận ra “cái đang thấy biết” Sắc - Không và tất cả. - Có tất cả những gì, “cái này” đều thấy biết hết. → Sẽ sáng ra, Bát Nhã muốn dạy những gì. Câu số 28: Nói “Tướng không”, hay “Tánh không” mới phải? Đáp: 1. CÁC PHẠM TRÙ ĐỂ HIỂU VỀ TƯỚNG KHÔNG VÀ TÁNH KHÔNG • Tướng không - Tướng: Tướng của vạn sự vạn vật; - Không: Tuy đang có nhưng do vô thường, biến hoại (nhìn theo thời gian) hoặc do duyên hợp, không có chủ tể (nhìn theo không gian)... cho nên không chắc thật, gọi là không. (Xem thêm tại "Câu số 4: Chữ 'Không' trong Bát Nhã được hiểu qua mấy thuyết?”) • Tánh không: Có 2 - Thứ nhất: vạn sự, vạn vật tuy đang có, nhưng bản chất của nó vốn là không, là huyễn hóa, thì cái “tính chất” hay “bản chất” này được gọi là “tánh”, cho nên nói tánh các pháp vốn không. Danh từ hiện nay gọi là bản chất các pháp vốn không. - Thứ hai: chỉ cho tự tánh chính mình, xưa nay vốn không một vật. • Câu hỏi đặt ra: Qua các phạm trù về cái Không của Tánh và Tướng như trên, thì nói “Tướng không” mới phải hay “Tánh không” mới phải? 2. NHẤT QUÁN TẦM NHÌN Để giải quyết câu hỏi này, đầu tiên phải nhất quán tầm nhìn, đó là tất cả phải cùng đi đến một tiêu chí duy nhất, cụ thể: - Bàn Tướng không, hay Tánh không của các pháp gì đi nữa thì cuối cùng bắt buộc tất cả đều phải đưa đến đạt ngộ Tánh thể Bát-nhã. - Được như thế mới đúng với bản hoài của đức Phật, đúng với ý chỉ của Kinh, là nói pháp cốt để cho chúng sanh giác ngộ, dứt khổ sanh tử, được an lạc diệu thường. - Đồng thời cũng đúng với tâm nguyện của người tu Phật, là đạt được giác ngộ, qua hết thảy khổ ách. - Cần thấy đầy đủ qua các điểm trọng tâm bên dưới, sẽ thấu suốt, không lầm. 3. PHÂN TÍCH CHI TIẾT 3.1. Bản chất vốn không - Đây là một sự thật, bởi thực tế các pháp vốn không chủ tể, do duyên hợp mà thành. Cho nên, bản chất các tướng là không, đồng thời bản chất cũng được gọi là tánh. - Vì bản chất như thế cho nên nói Tướng không hay Tánh không gì thì cũng đều cùng một ý nghĩa như nhau, tức là: o Bản chất các pháp vốn không. o Cho nên Tánh hay Tướng gì cũng đều Không (không thật). 3.2. Nhờ tâm nhận biết - Nếu không có con người nhận biết, thì các pháp tự là các pháp. Tự nó không nói là Tánh không hay Tướng không gì cả. - Sở dĩ nói là Tánh không hay Tướng không, bởi chúng ta còn thầm cho các pháp là thật rồi dính chấp trên đó, do đó phải nói cho biết, để khéo tu, không lầm chấp nhận giặc làm con. - Nếu vẫn sống, hành hoạt, tu hành, làm việc... mà không sanh tâm thì các pháp vẫn là các pháp; nhưng lúc này tất cả hiển hiện một cách rõ ràng, rạng ngời, chủ động, linh thông vẫn không động. Bằng cái thấy biết như vậy để sống thì ngay khi làm tốt mọi chuyện trong đời, cũng là lúc đang thành toàn diệu hạnh chính mình, có thế mới tiến đến viên mãn Phật đạo. 3.3. Các pháp do tâm - Nếu khởi tâm chấp cho các pháp là thật, thì thấy các pháp là có, cho nên dính mắc, phải khổ đau. - Nếu tâm không sanh khởi, thì các pháp đang có cũng là không, cho nên không dính nhiễm, được tự tại. o Rốt cuộc: Nói có, nói không, mục đích để con người dừng nhiễm trước, nhận lại tánh thật, được giác ngộ, tự tại, giải thoát khỏi khổ lớn sanh tử. o Tóm lại: Cần xác định đúng tiêu chí và đích đến để học và tu. Không phải sa đà trên có và không của các pháp, chỉ thêm mê, không giải quyết được tất cả khổ ách như kinh văn đức Phật khẳng định. 3.4. Cứu cánh - Rốt ráo - Khi thấy rõ tướng các pháp là huyễn hóa, bản chất, bản tánh nó vốn không, suốt thông một pháp không thì tất cả các pháp trong hằng sa thế giới thảy đều không. Lúc này sẽ suốt tột tánh pháp giới không, tâm trở nên rỗng rang, vắng lặng. - Khi ấy, tâm ta cùng tánh pháp giới vốn đồng. Không phải có một tâm này đồng với một tánh pháp giới kia, mà khi tam không thì cảnh tịch, tâm cảnh nhất như, tất cả thênh thang, tự tại, tạm gọi là đồng. - Chính sức sống này, hết thảy khổ ách không đến kịp (toàn không dính dáng). Đây là cái thấy từ Tánh thể Bát-nhã. - Khi này, sẽ không cần quan tâm đến Tướng không hay Tánh không gì cả. DẪN CHỨNG: Tăng Thống Khánh Hỷ, Việt Nam: - Đệ tử Pháp Dung hỏi Ngài Khánh Hỷ: “Liễu đạt sắc không, sắc là phàm hay là thánh?” - Tăng Thống Khánh Hỷ ứng thanh đáp bài kệ: Uổng công thôi hỏi sắc cùng không, Học đạo gì hơn phỏng Tổ tông. → Còn nhằm trên sắc không bên ngoài để tìm hiểu thì sẽ phí công, vô ích. Người học đạo, muốn giác ngộ chỗ đức Phật chỉ bày, không gì hơn là phải nhận lại bản tâm chính mình. Lúc này, tất cả tự sáng ngời. Ngoài trời tìm tâm thật khó thấy, Thế gian trồng quế đâu thành rừng. → Đừng mê lầm đi tìm bên ngoài, không thể được. Đầu lông trùm cả càn khôn thảy, Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong. → Tâm tánh này vô tướng, không nằm trong Lớn - Nhỏ, Có - Không... Trong đó, có đầy đủ diệu dụng và sức tự tại. Đại dụng hiện tiền tay nắm vững, Ai phân phàm thánh với tây đông. → Dứt tâm tìm cầu Đây - Kia, Sắc - Không, Phàm - Thánh... thì sức sống của tự tánh hiện tiền, mới thấy diệu dụng không nghĩ nghì. - Ngài khuyên: Không nhằm trên sắc không, tánh tướng để bàn. Bởi như thế cũng là chuyện bên ngoài, chỉ thêm mê. Vấn đề là khéo xoay lại nhận tự tánh, là việc chính. Và đây cũng chính là diệu chỉ Bát Nhã mà đức Phật muốn chỉ bày, chứ không phải luận bàn trên Tướng không hay Tánh không. (Tham khảo thêm "Câu số 24: Tưởng không của các pháp có liên hệ gì tâm mình mà khi đạt được thì qua hết thảy khổ ách?”) Câu số 29: Tại sao phải “Vì không có chỗ được" (vô sở đắc) thì “Bồ-tát mới nương được Bát-nhã để đạt đến đạo quả Vô thượng Bồ-đề"? Đáp: 1. Phải vô sở đắc, mới tiến đạo • Sở đắc bên ngoài: Không mong cầu, không thấy có sở đắc khi tu, khi làm việc và trong cuộc sống. Bởi nếu có sở đắc, sẽ có bản ngã. Cả hai (sở đắc và bản ngã) sẽ làm chướng ngại cuộc sống và quá trình tu tập. • Tướng trạng công phu: Khi công phu có những điềm lành, hay những điều khiến kinh sợ; hoặc thấy các tướng lạ như ánh sáng, hào quang... thì không được chấp vào đó rồi sanh sợ hãi, hoặc mừng rỡ cho là đã chứng đắc. Nếu chấp, sẽ sanh bệnh, có cơ hội cho ma phá. Hành giả chỉ sáng lại tánh mình, xem tất cả đều là tướng bên ngoài nên huyễn hóa, không thật. Không can thiệp trên chúng, không sanh tâm gì thêm thì tất cả đều tốt, không bị chướng ngại. • Tâm chứng: Không lập phần hạn trong tâm, rồi chấp vào đó cho là sở chứng. Cũng không thấy có một tâm tánh chứng đắc là như thế nào đó. Bởi thật chứng là nhận lại chính mình, không có gì được gọi là đắc. Phải vô tướng, sáng ngời, ngay đó trả lại tánh mình, mới thật được. Nếu được cái bên ngoài, đều là huyễn hóa, không phải Phật đạo. DẪN CHỨNG • Kinh Kim Cang, đức Phật khẳng định: “Lìa tất cả tướng tức gọi là chư Phật.” Ngài đã phá chấp tất cả tướng cho hành giả nhận lại Tánh thể Kim Cang Bát-nhã. Cụ thể: - Ngài phá tất cả tình chấp trên các tướng của tâm, của các pháp, cho đến tướng của pháp thành Vô thượng Bồ-đề. Có như thế thì mới thành Phật được. - Đức Phật nói: “Như thế, như thế! Tu-bồ-đề thật không có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này Tu-bồ-đề! Nếu có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì đức Phật Nhiên Đăng ắt không thọ ký cho ta: Ở đời sau, ông sẽ được thành Phật hiệu là Thích-ca-mâu-ni.” Cho thấy, nhẫn đến pháp thành Phật cũng không được nhằm trong có và không để nhận hiểu. - Khi không thấy có pháp Vô thượng Bồ-đề, tất cả đều không thể được thì Tánh thể Bát-nhã hiện tiền. Đến như pháp Vô thượng Bồ-đề cũng phải "Không thấy có một pháp Vô thượng Bồ-đề là như thế nào đó", mới thể hội pháp ấy. Còn thấy có một pháp để thành Phật là nhằm trên tướng để thấy biết, chưa rời tướng trước, công phu đã bị sai lệch, không tỏ chánh nhân vô sanh thì không thể thành Phật được, cho nên Phật Nhiên Đăng sẽ không thọ ký. • Nếu vậy, đức Phật thành tựu viên mãn Bồ-đề thì sao? Là thành pháp gì? - Đức Phật nói: “Này Tu-bồ-đề! Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, ở trong ấy không thật không hư.” Nghĩa là vượt thoát hai bên: Thật - Hư, Thành - Không thành, Phật - Chúng sanh... Khi không kẹt trong hai bên thì tâm tự vắng bặt, Tánh thể Bát-nhã hiện tiền. - Ngài nói tiếp, khi ấy sẽ hay ra: “Như Lai giả, vô sở tùng lai diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai.” (Như Lai là không từ đâu đến, cũng không đi đâu, nên gọi là Như Lai.) Tức tâm tánh bàng bạc, vô tướng, trùm khắp, sáng ngời. Khi đó, nhìn các pháp, tất cả rạng ngời, lặng trong. Đó cũng chính là chỗ Quốc sư Thông Biện, Việt Nam nói: “Thường trụ thế gian, không sanh không diệt gọi là Phật.” - Đức Phật nói tiếp, lúc này sẽ thấy rõ: “Tất cả pháp đều là Phật pháp.” Như vậy, tất cả đã hiện bày rõ ràng, còn có cái gì khác để tìm mà bảo là phải được gì đó! Như thế mới là thật được, bởi không mất. Và từ nay chắc chắn sẽ thành Phật. Còn được gì đó, là được cái bên ngoài, không phải thật mình, không phải thật được. • Tóm lại: Qua đây cho chúng ta thấy, đức Phật khẳng định thành đạo là thành tựu viên mãn bản tâm giác sáng chính mình, không phải thành tựu cái gì khác. Cụ thể: - Khi tất cả đều vô sở đắc, liền đó trả lại Tánh thể Bát-nhã chính mình. Lúc này sẽ thấy rõ “Tất cả pháp đều là Phật pháp”, “Phật pháp là tất cả đang hiện thành”. - Y đây mà tu hành, sẽ thành Phật. 2. Khi vô sở đắc, mới nương được Bát-nhã - Khi toàn thể đều “bất khả đắc”, sẽ rỗng rang, sáng rỡ. - Liền đó trả lại Tánh thể Bát-nhã chính mình (hiện tiền). → Tức đã nương Bát-nhã, sống bằng Bát-nhã: Bởi, thực sự nương được, tức phải sống bằng Trí tánh Bát-nhã. Nếu có sở đắc thì bị chướng ngại, không thể sống bằng Tánh thể Bát-nhã. Cho nên, không sở đắc, liền trở lại Tánh thể Bát-nhã, tức gọi là nương. 3. Phải nương Bát-nhã, mới thành Phật - Phải sống bằng Thể tánh Bát-nhã vô sanh ấy mới thành tựu quả vị vô sanh (thành Phật). - Là nghĩa: Bồ-tát y theo Bát-nhã mà được Vô thượng Bồ-đề. Câu số 30: Bát Nhã đã nói tất cả không, vậy tại sao Bồ-tát còn nương Bát-nhã và còn có đạt đến cứu cánh Niết-bàn? (Tức là, lẽ ra phải không hết tất cả luôn mới phải.) Đáp: 1. Bồ-tát nương theo Bát-nhã ba-la-mật-đa - Nói là nương đó, chẳng phải là có chỗ nương. - Khi hay không (sạch) hết tất cả, thì Thực tướng Bát-nhã hiện tiền. - Sống bằng Thể tánh Bát-nhã đó, cho nên tạm gọi là nương. → Đó là nghĩa: “Bồ-tát nương theo Bát-nhã ba-la-mật-đa…” 2. Đạt đến cứu cánh Niết-bàn - Khi đã sạch hết tất cả, tâm lặng trong, cảnh vắng bặt. Có tiếng liền nghe, đối cảnh liền biết, không động nhưng linh thông chủ động. Ngay đây, chỗ này, Tánh thể hiện tiền, muốn không cũng không được. - Đây gọi là Tánh tịnh Niết-bàn, Vô trụ xứ Niết-bàn (khắp nơi đều là Niết-bàn). - Sống ngay đây là tu hành. Công viên quả mãn, viên thành Phật đạo. - Cho nên nói: “Đạt đến cứu cánh Niết-bàn” là vậy. 3. Tóm lại - Khi sạch hết tất cả, kể cả khái niệm cho rằng, phải “Không nương Bát-nhã, không đạt Niết-bàn” như vừa hỏi cũng phải sạch luôn thì Thể tánh Bát-nhã hiển hiện, rành rẽ, rõ ràng. - Cứ thử buông xuống sạch đi xem thế nào. Liền biết! MỤC 2 CÂU HỎI ỨNG DỤNG THỰC TIỄN Câu số 1: Mọi thứ trong cuộc sống như cái bàn, cây bút, điện thoại... chúng ta đang sử dụng, tại sao lại bảo là giả? Đáp: 1. HƯ GIẢ, TẠM BỢ LÀ MỘT LẼ THẬT, KHÔNG ĐỢI NÓI HAY KHÔNG NÓI - Khi chưa được đi học, sờ cái bàn thấy cứng, chúng ta cho nó là thật. - Đã được đọc học từ những nghiên cứu của các nhà khoa học, mới hiểu ra cái bàn này không phải là thể rắn bền chắc. Nhờ vào nhiều nguyên tử, phân tử chuyển động liên tục với tốc độ không tưởng, tạm kết hợp lại để hiện hình một cái bàn như chúng ta đang thấy. Mới nhận ra, cái bàn là đồ hư giả, không thật. - Như vậy, bảo cái bàn là thật; đó là cái thấy hiểu của người chưa được đi học. Nếu đã được học hiểu tinh tường, sẽ biết rất rõ, cái bàn không có gì chắc thật cả. Tất cả mọi thứ trong đời cũng tương tự. → Cho thấy, đức Phật nói lên sự thật để chúng ta không lầm, chứ không phải Ngài tự ý phán ra một điều gì đó không có thật để bắt ai đó phải theo. 2. NHẬN RA SỰ THẬT, ĐỂ THỰC SỰ LÀ MÌNH SỬ DỤNG MỌI THỨ - Như chiếc điện thoại thông minh hiện nay, trước khi sản xuất thì chưa có. Hiện tại tạm có trong một thời gian nhất định rồi trở về không. Hơn nữa, khi chúng đang có cũng không do một thứ gì duy nhất chủ đạo làm nên, mà cần nhiều yếu tố tụ hội làm thành. Khi tan rã thì không còn. - Mọi thứ bản chất vốn là hư huyễn như thế, nhưng con người cứ cho là thật cho nên bị nó chi phối, sai sử mình, là “nó đang dùng mình”, do đó phải khổ sở vì nó. - Khi nhận ra bản chất hư huyễn, biết mọi thứ là giả tạm thì chúng ta sử dụng được nó mà không bị nó chi phối sai sử mình, “là mình thực sự đang dùng nó”, cho nên không bị khổ. - Vật chất sẽ là đích đến của những người thiếu thông minh, và nó chỉ là phương tiện của những ai có trí tuệ. → Cho nên, đức Phật nói ra chân lý để chúng ta nhận ra sự thật, không bị mê lầm, dính mắc; để thực sự là mình sử dụng mọi thứ, không bị mọi thứ sai sử. Được vậy mới bớt khổ đau. Câu số 2: Bát Nhã nói tất cả đều huyễn hóa, không thật. Khi sân giận nên biết nó huyễn hóa, không thật. Nhưng khi đồng nghiệp nói những điều gây sốc, chúng ta đang bực tức không thể kiềm chế được. Nếu khi đó quán tất cả đều là giả, không thấy, không nghe; nhưng thực tế thì chúng ta vẫn đang thấy người khác nói xóc óc mình, mà mình lại nói là không. Nếu vậy thì như là mình đang tự lừa dối mình. Với Bát Nhã, trường hợp này thế nào? Đáp: 1. TỔNG QUAN - Trong trường hợp trên, người này đang ở giai đoạn quán chiếu để thấy sự sân giận là giả. Nhưng vì sức tu còn yếu, chưa đủ lực cho nên chưa thể thực sự thấy nó là giả mà mới chỉ cố gắng cho nó là giả thôi. - Do đó trong mình tồn tại hai trạng thái: o Một mặt quán sự sân giận là giả, người chọc tức cũng huyễn hóa. o Nhưng mặt khác thì thấy có người ta làm mình bực tức thiệt, cơn sân giận đang đùng đùng. → Vì vậy mà chưa vượt qua được. 2. PHÂN TÍCH - Đây là do hạn lượng, do sức chịu còn nhỏ hẹp của cá nhân khiến mình cảm thấy như vậy chứ không phải là chân lý. - Muốn kiểm chứng chân lý thì thử hỏi lại một ngàn năm sau ai mất, ai còn, ai giận ai? Và nếu được nghe kể lại câu chuyện của vài chục năm trước, người trong cuộc thì cảm thấy có những vui buồn, cảm xúc quan trọng. Nhưng với mấy cháu bé mới sinh ra thì nghe đây như một câu chuyện cổ tích, truyền thuyết vậy thôi. Từ nhỏ đến lớn, chúng ta đã có biết bao lần tức tưởi, uất hận chừng như không thể vượt qua được. Nhưng bây giờ có còn sự việc nào quan trọng hay có giá trị gì đâu? Sự thật mọi thứ chỉ là truyền thuyết hư huyễn như thế. Đó là chân lý, là sự thật. - Người mê thì phải có thời gian gánh chịu đau khổ cực cùng rồi sau đó mới nhận biết. Bậc trí tu hành thì luôn thấy rõ chân lý này ngay đây và bây giờ. - Khi sân thấy nó là huyễn hóa, đó là một chân lý đã được thẩm định và khẳng định. Chỉ cần tỉnh tâm lại để mọi việc không đi quá xa. Đó là biết nhận ra và hướng đến chân lý, sự thật; chứ không phải quan niệm như kiểu tự kỷ ám thị rồi cho rằng tự mình lừa dối mình. - Nghĩ như vậy là do mình không thắng nổi phiền não sân si, rồi trong tâm niệm mình tự nó tạo ra hai quan điểm như vậy. Qua rồi nó sẽ hết chứ không còn mãi, do đó không phải có thật. - Tuy nhiên, trong tức thời, sự sân giận chưa chịu hạ hỏa liền mà vẫn sục sôi, ứa nước mắt; đó là do sức định của mình chưa đủ cho nên không thể tức thời tiêu hóa được. 3. TÓM LẠI - Mọi thứ có hình tướng kể cả sân giận, bản chất đều là huyễn hóa, không thật. Đó là một sự thật, là chân lý, không phải do quan niệm. - Lòng sân giận đang lẫy lừng chưa thể hết liền là do tùy thuộc vào tập khí của mỗi người nặng hay nhẹ, định lực mạnh hay yếu; chứ không phải bản chất của cái sân là có thật. - Như vậy, không phải có một quan niệm sân giận là giả để mâu thuẫn với một cơn sân giận đang tồn tại. Mà bản chất của sự sân giận vốn huyễn hóa là một chân lý, tin hay không thì sự thật xưa nay vẫn vậy. Và cơn sân giận vẫn còn chỉ là do lực tu của cá nhân mình chưa đủ mạnh. Câu số 3: Nếu đạo Phật là cứu khổ, ban vui. Bát Nhã nói qua hết thảy khổ ách. Ngoài kia còn nhiều nỗi khổ đau bên hè phố, trong bệnh viện... Con muốn đức Phật phải giúp được tất cả những người đó không còn trong cảnh khổ đau. Đáp bằng cách hỏi ngược lại: • Quý Thầy hỏi: Khi đang sân giận phừng phừng, hoặc đang buồn não nuột, huynh có thể ra lệnh cho mình dừng phắt cơn giận hoặc nỗi buồn ngay lập tức được không? • Trả lời: Không thể. • Quý Thầy bảo: Đức Phật chỉ giúp được cho mọi người hết khổ khi họ có đủ năng lực dừng lại những tham sân phiền não... - Và cụ thể là Bát Nhã đang dạy chúng ta làm điều đó. - Thấy mọi thứ là huyễn hóa để không dính chấp. - Siêng năng tu tập, nhận lại Thể tánh Bát-nhã nơi chính mình. Lúc này, sẽ đầy đủ trí tuệ và định lực để tự chủ, không sống sai lầm, mới bớt khổ. - Từ đó tiếp tục tu tập, lần tiến đến giác ngộ viên mãn, chấm dứt đau khổ, mãi mãi an vui. Câu số 4: Con là người làm nghề bán hàng hóa. Nếu nói phóng đại hơn giá trị thật của món đồ thì bán được nhiều, nhưng khi về nhà lại cảm thấy không an. Còn nói thật đúng giá trị thì bán được ít hơn, nhưng cảm thấy an ổn. Vậy con nên như thế nào? Đáp: - Cuộc sống này không chỉ có vật chất, mà vật chất thực sự chỉ để phục vụ cuộc sống mà thôi. Cho thấy, sống là chính, và phải sống như thế nào cho ổn, mới là người biết sống. - Tuy có nhiều, nhưng chung quy lại cuộc sống chỉ cần ba nhu cầu chính: o Mức sống (đời sống vật chất). o Chất lượng sống (đời sống tinh thần). o Sống có chất (hệ giá trị đạo đức của cuộc sống). - Như vậy, giả sử khi nói quá sự thật thì bán được 100 món hàng. Còn nói thật đúng như giá trị của nó thì chỉ bán được 90 món, ít hơn 10 món so với nói sai. o Bán được 100 món thì lợi nhuận nhiều hơn, nhưng đổi lại là sự bất an, không được sống. o Bán được 90 món thì lợi nhuận tuy có ít hơn, nhưng chúng ta vẫn không chết, vẫn sống được. Có được đầy đủ cả đời sống tinh thần và đạo đức. - Nếu chọn sống vội, giàu nhanh để rồi sẽ đổi lấy sự sai lầm và phải trả giá. Đó là tự hủy hoại, tự kết thúc cuộc sống của mình. Sống trong bất an để sớm tàn lụi. - Nếu muốn sống an vui, lâu dài cho mãi đến muôn kiếp về sau thì nên nói với người mua rằng: “Đây là cây bút, là cái điện thoại... Tôi nghĩ nó sẽ cần cho công việc của bạn.” Khi người ấy mua, chúng ta mỉm cười và nói: “Hy vọng bạn sẽ sử dụng được nó, chứ không để nó làm phiền bạn.” - Được như vậy thì sẽ nhận ra, cuộc sống không chỉ có kiếm tiền mưu sinh cho bản thân và gia đình, mà còn vô vàn giá trị khác đối với nhiều người hơn thế. Chúng ta sẽ cảm nhận được cuộc sống này vô cùng ý vị, đáng sống. Câu số 5: Chư vị tu hành đắc đạo ngày xưa giúp đỡ cuộc đời sao mà nhàn quá. Bây giờ thì quá vất vả. Nhiều việc, lắm chuyện, có khi gõ cửa từng nhà để giúp đỡ cũng chưa chắc đã được đón nhận, cảm thông. Thấy ra gì? Đáp: 1. CÁI NHÀN RỐT RÁO, TUYỆT ĐỐI; THỰC SỰ LÀ NHÀN - Nói “nhàn” là khi ít việc, mọi chuyện được thuận như ý mình mà được nhàn? Hay nhiều việc, trong bất như ý mà vẫn nhàn? - Nếu đợi đến khi ít việc, mọi việc đều như ý mới được nhàn thì đó là cái nhàn của phàm phu: là cái nhàn có điều kiện. Vì được ít việc, thuận ý thì tôi mới được nhàn. Ngược lại thì tôi thấy sao mà lắm sự, vất vả, gian nan. Trong khi đó, cuộc sống không dễ cho chúng ta như ý. Hơn nữa, khi nhàn rỗi, không việc thì con người ta trở nên chán nản, cũng không được nhàn. Và khi đặt câu hỏi này, quý Thầy biết huynh là người nhiệt huyết giúp đỡ cho cuộc đời và đang khá mệt mỏi, nên tìm đến chiều hướng ngược lại. - Còn nếu bảo nhiều việc mà vẫn nhàn thì tại sao ở đây lại đặt ra vấn đề là hiện nay nhiều việc, lắm chuyện, khiến vất vả? - Thực ra, nói là nhiều việc hay ít việc đều chưa rời công việc, còn nhằm trên sự việc để nói, là còn theo vật mà quên tâm, tức là còn mê thì chưa thể có được cái nhàn của bậc đắc đạo. - Bậc tu hành đắc đạo Phật giáo đã sống bằng thể tánh chân thật của chính mình, có đủ định tuệ và vô biên lực. Trên cơ sở đó, đối với nhiều việc hay ít việc, dù là thuận lợi hay nghịch duyên cũng không dính dáng hay ảnh hưởng gì đến năng lực của quý Ngài. Và quý Ngài vẫn luôn an nhiên, an nhàn, an lạc như thế. Sự an nhàn này là vô điều kiện, không do điều kiện như thế nào tôi mới nhàn; mà tình huống, hoàn cảnh như thế nào quý Ngài cũng luôn nhàn nhã. Được như vậy mới thật sự là nhàn. Đó là cái nhàn của bậc tu hành đắc đạo Phật giáo. 2. KHÉO SẮP XẾP ĐỂ ĐƯỢC NHÀN - Nơi này là cõi Ta-bà (nghĩa là kham nhẫn). Thời nào, bao giờ cũng có lắm chuyện, đến đức Phật cũng phải có nạn. Do đó phải kham nhẫn mới sống được. - Dù đang bận rộn, nhưng nếu khéo léo sắp xếp công việc có khoa học, hợp tình hợp lý, cộng với phải chịu đựng và biết chấp nhận một tí thì cũng sẽ được nhàn. - Bậc tu hành đắc đạo Phật giáo tâm tuy bất động, nhưng vẫn thấy biết tất cả một cách rành rẽ rõ ràng. Mọi thứ không còn quan trọng, không còn dính mắc, không khởi tâm; nhưng quý Ngài cũng thấy rõ và uyển chuyển tùy duyên để sắp xếp mọi việc đến mức hoàn hảo, lý sự viên dung. Tuy vậy, vẫn thấy đang rảnh, rất nhàn. - Đây là tinh thần Bát Nhã đã dạy, hành sâu Bát-nhã ba-la-mật-đa → Soi thấy năm uẩn đều không → Thực tướng Bát-nhã hiện tiền → Các khổ ách không còn chi phối, tự tại vô ngại. - Lắm việc hay không việc cũng không can hệ hay dính dáng gì. Thuận duyên hay nghịch cảnh vốn chỉ có thế. Cho nên khi nào cũng rảnh rỗi, đang nhàn. - Thiền sư Tịnh Không nói: “Ngày ngày đi gặt lúa, Giờ giờ kho lẫm không”, là vậy. MỤC 3 CÂU HỎI TÓM KẾT Câu số 1: Bát Nhã dạy chúng ta điều gì? Đáp: 1. KHÁI QUÁT - Thực chất Bát Nhã dạy chúng ta cốt yếu nhận lại Thể tánh Bát-nhã, liền đó vụt thoát tất cả khổ ách. - Không phải quan tâm can thiệp phân tích, tìm hiểu hay bàn luận trên lý Sắc - Không. Bởi diệu lý này cốt đưa hành giả trở lại diệu chỉ Bát Nhã là nhận ra Thực tướng vô tướng, nhờ diệu lực đó mà qua hết thảy khổ ách. - Tựu trung có hai lối vào: Một là ngay đây nhận thẳng, hoặc đốn ngộ. Hai là học thông, tu tập, hạ thủ; khi công phu tương ưng, chín muồi, tánh tự bừng ngộ. 2. SỰ THỰC - Các pháp, từ thân, tâm cho đến cảnh giới, bản chất đều thuộc vô thường, sanh diệt, cho nên đều là huyễn hóa, tạm bợ, không thật. - Chúng sanh lầm chấp cho là thật, chạy theo cái giả, bỏ quên Tánh thể chân thật, vì vậy luống chịu khổ đau mãi trong sanh tử. - Phật từ bi nói rõ cho biết lẽ thật này để người nào hữu duyên được nghe, hiểu, tin nhận, thực hành, sẽ không còn lầm chấp, nhận lại tánh thật, đạt được giác ngộ, an vui, giải thoát. → Đó là mục đích Bát Nhã muốn dạy cho tất cả chúng ta. 3. NÓI RÕ CỤ THỂ PHƯƠNG PHÁP HÀNH TRÌ - Dùng trí tuệ thấu suốt, thấy rõ năm uẩn (thân tâm sanh diệt), sáu căn, sáu trần, sáu thức (18 giới); già chết và hết già chết, vô minh và hết vô minh (pháp Thập nhị nhân duyên), cho đến pháp Tứ đế; kể cả trí tuệ và chứng đắc... tất cả đều không. - Hay sạch hết tất cả, có và không không hai, chẳng phải một chẳng phải khác thì Thực tướng Bát-nhã hiện tiền. - Chính thực tướng này có đủ định lực, tuệ lực, vô biên lực cho hành giả thấy biết như thị, không dừng trụ trên Sắc - Không hay bất cứ gì mà vẫn tự sáng biết rành rẽ rõ ràng. Lúc này, các pháp vốn như như, khổ ách không còn đủ giá trị chi phối, được tự tại giải thoát. - Sống thẳng bằng Thể tánh Bát-nhã tức là chân thật tu hành, thẳng tiến đến giác ngộ viên mãn, thành tựu Phật đạo. 4 MINH CHỨNG - KHẲNG ĐỊNH - Bồ-tát Quan Thế Âm, tu hạnh Bát-nhã ba-la-mật-đa, cho đến khi suốt qua năm uẩn đều không, Thực tướng Bát-nhã hiện tiền, liền đó qua hết tất cả khổ ách, được tự tại giải thoát, cho nên Ngài có hiệu là Quán Tự Tại. - Hàng Bồ-tát khi sạch hết tất cả, khắp tất cả chỗ đều không, sẽ suốt thông Bát-nhã, chứng được Thực tướng Bát-nhã. Lúc này, nơi nơi sáng sạch không ngăn ngại. o Sống bằng Thể tánh Bát-nhã sáng ngời ấy: Thì toàn không ngăn ngại, không sợ hãi. Trong ấy không có bóng dáng của mộng tưởng điên đảo. o Thấy nghe liền biết, chạm đến đâu đều sáng rỡ rõ ràng không động, không một vết mê, là Tánh tịnh Niết-bàn. Nơi nơi đều vậy không xen hở, là Vô trụ xứ Niết-bàn. o Sống ngay đó là tu. Và tu như thế mới đạt đến Niết-bàn rốt ráo mà chư Phật đã chứng đắc, thành đạo. - Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát-nhã ba-la-mật-đa được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Câu số 2: Có thuyết cho rằng, Bát Nhã là một hệ tư tưởng, nên có bộ môn: Tư tưởng hệ Bát Nhã. Vậy, tư tưởng Bát Nhã là gì? Đáp: - Bát Nhã chủ yếu phá sạch tình chấp để trở lại thể tánh. - Nếu cho rằng có một tư tưởng được gọi là Bát Nhã, vô tình đã lập nên một tướng của tư tưởng, trái với Bát Nhã. - Chỉ khéo hay sạch, hay không đi tất cả, để nhận lại thể tánh, liền xong. - Do đó, sự thực Bát Nhã không có tư tưởng. - Và không tư tưởng cũng là một loại tư tưởng; đó là tư tưởng Bát Nhã. Câu số 3: Có người cho rằng, ngộ Bát-nhã chỉ mới ngộ Tánh không, mới vào cửa, chưa thấy ông chủ, tức là chưa ngộ tánh. Thấy thế nào về việc này? Đáp: 1. KHÁI QUÁT - Việc này sẽ đúng với đương cơ của chính hành giả đang ở trong điền địa ấy. Còn về chân lý cứu cánh của Bát-nhã thì không phải cố định như vậy. Bởi lẽ Bát-nhã là trí tuệ cứu cánh rộng lớn không ngằn mé, không còn có gì cao tột rốt ráo hơn. Nhưng nếu bảo ngộ Bát-nhã là chỉ mới ngộ Tánh không, chưa ngộ tự tánh chính mình (chưa thấy ông chủ) thì còn có một tự tánh chính mình cao hơn Bát-nhã nữa hay sao? 2. THỰC TẾ - Nếu thực sự ngộ tột Bát-nhã thì đạt đến trí tuệ cứu cánh rộng lớn, không còn trí tuệ nào khác hơn. Nhưng do cách dụng công của mỗi hành giả khác nhau nên kết quả đạt đến cũng không đồng nhất. Cụ thể: o Nếu vị nào ngay đây khéo suốt qua tất cả, không dính kẹt năm uẩn, không dừng trụ trên bất kỳ pháp nào hay tướng nào, liền đó ngộ thẳng tự tánh. Thấy biết, rõ suốt đây là huyễn, kia là chơn hơn cả ý thức phân biệt học hiểu thường tình, nhưng vẫn bất động (như huyễn tam muội). Vị này thẳng đây ngộ tột tánh mình, chính là trí tuệ cứu cánh rộng lớn (Bát-nhã). Ngoài ra, không còn có trí tuệ nào khác cao tột hơn. o Nhưng nếu hành giả cũng nghe Bát Nhã, soi thấu năm uẩn và các pháp đều không, nhưng chưa thể ngay đây thẳng tắt ngộ tánh, mà công phu vô tình rơi vào hàng phục vọng tâm, tình thức, thì lại đi đến điền địa chuyển tiếp của Thuần tịnh. Chỗ này rất giống ngộ tánh, nhưng chưa phải. Chỉ tự thông suốt tất cả vốn tự lặng trong mà tánh mình chưa sáng. Cần có vị Thầy chỉ điểm hoặc nỗ lực hạ thủ thêm. Cho đến khi ngộ tánh mới biết trước kia là chưa phải. Các Thiền sư nói mới vào cửa không, mới ngộ Tánh không chưa thấy ông chủ là do các hành giả dụng công rơi vào trường hợp này. 3. TÓM LẠI - Hoặc là ngay đây nhận thẳng ông chủ. Nếu chưa như thế thì hành giả thường đi vào con đường tu tập qua bước chuyển tiếp của gạn đục khơi trong, sau mới nhận ra. Nếu không dừng giữa đường, cuối cùng sẽ ngộ ra Trí tuệ Bát-nhã. Ngoài ra, không còn trí tuệ nào khác. Cho nên mới nói là “Tâm kinh trí tuệ cứu cánh rộng lớn”. Câu số 4: - Bát Nhã nói tất cả các pháp đều không, huyễn hóa, không thật. - Kinh Kim Cang Phật dạy: “Phàm những gì có tướng, đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng, tức thấy Như Lai.” - Nhưng trong Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật cũng dạy: Tất cả pháp chẳng sanh, Tất cả pháp chẳng diệt. Nếu hay hiểu như thế, Chư Phật thường hiện tiền. - Hãy cho biết cảm nhận về những lời dạy này. Đáp: 1. LÝ DO PHẬT DẠY BÁT NHÃ, TẤT CẢ ĐỀU KHÔNG Bản chất các pháp (tất cả những thứ gì có hình tướng) đều là huyễn hóa, không thật. Chúng sanh lầm chấp cho là thật, do đó dính mắc, bị vô minh, để rồi chịu khổ triền miên trong sanh tử. Đức Phật chỉ ra bản chất thật của các pháp là huyễn hóa, không thật. Nhờ vậy, không dính mắc, không chấp trước, bớt mê, để rồi tu tập, lần tiến tới giác ngộ. Nhờ đó, bớt khổ, tiến đến dứt khổ, được an vui. 2. KINH KIM CANG, ĐỨC PHẬT DẠY CÁCH NHÌN SUỐT TỘT HUYỄN HÓA Kinh Kim Cang, đức Phật dạy: “Phàm những gì có tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy Như Lai.” (Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai.) Nghĩa là: - Hễ bất cứ cái gì có tướng thảy đều hư vọng, huyễn hóa, không thật. - Nếu nhìn, thấy biết các tướng chẳng phải tướng, tức là: Thấy các tướng là huyễn hóa, nhận ra “cái phi tướng” của các tướng, tức “Tánh Pháp Giới”. → Thì liền lìa, không dính mắc, tức “Tâm không”. → Tâm ta cùng pháp giới tánh vốn đồng, tâm cảnh như như, không còn phân biệt một hay khác, sắc và không. - Nhìn suốt qua các tướng, không dừng trụ (nếu thấy các tướng chẳng phải tướng). → Liền thấy Như Lai; tức là Như Lai hiện tiền; là Phật tánh nơi mình hiển hiện. • Chứng đạo ca, Thiền sư Huyền Giác nói: Bất kiến nhất pháp tức Như Lai, Phương đắc danh vi Quán Tự Tại. Nghĩa là: Chẳng thấy một pháp tức Như Lai, Mới được gọi là Quán Tự Tại. → Là nói đến diệu nghĩa này, bao hàm cốt lõi của Bát Nhã Tâm Kinh và Kinh Kim Cang. 3. THẤY BIẾT CÁC PHÁP NHƯ THỊ, CHƯ PHẬT THƯỜNG HIỆN TIỀN Còn mê thì thấy có chơn, có vọng. Ngộ thì hai tướng chơn vọng không còn. Các pháp vốn như thị, dù đang sanh diệt. Tánh tướng vốn đồng, tướng thường tự vắng lặng. Cụ thể: - Sanh cũng giả sanh. Diệt cũng không thật diệt. Cho nên các pháp có sanh diệt vẫn là bất động, vô sanh. Tuy bất động, nhưng vẫn thấy rõ tường tận các pháp chợt sanh chợt diệt liên tục không ngừng. - Có khi tùy duyên mà thị hiện sanh và diệt. Nhưng vẫn chưa từng đến đi sanh diệt bao giờ. - Như suốt qua áng mây để nhìn thấy bầu trời. Áng mây thì có tụ tán, sanh diệt, nhưng bầu trời vẫn thế. Nếu bám nhìn theo đám mây mà quên bầu trời thì bị sự tụ tán của đám mây chi phối, thấy có sanh diệt. Nếu thấu tột bầu trời thì dù mây có tụ tán, nhưng không bị chi phối gì cho nên không sanh không diệt bao giờ. - Các pháp như áng mây kia, tâm ta ví dụ như bầu trời thênh thang ấy. Mê thì thấy có sanh, có diệt. Ngộ rồi sẽ thấy chưa từng sanh diệt đến đi. Sanh tử, đến đi chỉ như thị, không ra ngoài tự tánh. • Do đó Kinh nói: Tất cả pháp chẳng sanh, Tất cả pháp chẳng diệt. Nếu hay hiểu như thế, Chư Phật thường hiện tiền. Thường sống và thấy biết như thế thì tâm ta đồng tâm thể chư Phật. Nghĩa là: “Chư Phật thường hiện tiền.” 4. TÓM LẠI Nếu cho rằng, Bát Nhã Tâm Kinh nói tất cả đều không, phá dẹp tình chấp, hay sạch hết tất cả, thì Kinh Kim Cang Phật dạy cách nhìn huyễn hóa (cái nhìn vô tướng); suốt qua các huyễn tướng để nhận ra cái “phi tướng, phi huyễn, vô tướng”. Và cuối cùng, Kinh Lăng Nghiêm, Pháp Hoa... chỉ ra tự tánh. Sống được bằng tự tánh thuần thục thì Phật pháp là tất cả hiện thành. Tuy thấy rõ các pháp có huyễn, có chơn, có sanh, có diệt, nhưng vẫn như như bất động, không sanh niệm tưởng, do đó vẫn là phi huyễn, phi chơn, không sanh không diệt bao giờ; là tinh thần Kinh Hoa Nghiêm dạy chúng ta. Đây là cái nhìn theo tinh thần lập giáo, chứ sự thực Kinh Phật, một nghĩa bao gồm vô lượng nghĩa, và vô lượng nghĩa không ngoài một nghĩa cứu cánh, chân thật. Do vậy, nếu hành giả đã có công phu đáng kể, sẽ khéo thấy, trong một bài kinh, đức Phật đã hiển bày tất cả. Và hay ra, Bát Nhã Tâm Kinh đã đầy đủ toàn vẹn, viên dung và rốt ráo như thế. • Cụ thể: - Chúng sanh do chấp mọi thứ là thật, do đó dính mắc, mê lầm, chịu đau khổ. - Đức Phật nói rõ sự thật: Tất cả đều huyễn hóa. Nhờ đó, lìa chấp trước, bớt mê lầm. - Không dừng trụ vào bất cứ gì, nhìn suốt qua các tướng. Liền đó, “Thấy, nghe, biết không ngoài chân tâm”. - Sống thuần thục, thấy biết như thị. Lúc này, tâm ta đồng với tâm thể chư Phật, tức là chư Phật thường hiện tiền. - Thấy ra một cách đầy đủ trọn vẹn như vậy, mới không bị Bát-nhã trói cột. 5. KHÔNG BỊ BÁT-NHÃ TRÓI CỘT Hòa thượng Đại Giác Liễn làm Quốc sư. Khi lớn tuổi, xin về núi dưỡng già. Vua Đường nói: “Núi xanh là thể như như của Bát-nhã, Hòa thượng định đi về đâu?” Đã ngộ Bát-nhã thì thấy “Núi sông là núi sông”. Ở đâu cũng là thể như như của Bát-nhã. Ở Vương triều cũng thế, vào núi xanh cũng thế. Đâu đâu cũng không ngoài thể Bát-nhã. Vậy còn đi đâu? - Nếu bỏ Vương triều về núi, là bỏ đây lấy kia, là đã trái với thể như như của Bát-nhã. - Nếu ở lại, không về núi thì bị Bát-nhã trói, chỉ có thể dừng ở mà không thể đi, là chưa được tự tại. → Phải làm sao? Không lẽ ngộ Bát-nhã rồi là phải ngồi yên một chỗ, không nhúc nhích? Ngài đáp lại bằng bài kệ: Quân sứ cho hay xuất cấm thành, Còn mời thần trụ chốn lều tranh. Núi xanh chẳng chịu chứa ngàn vụng, Tóc bạc lấy gì ích vạn cơ? Ơn lớn rưới ban vừa thấm nhuận, Núi rừng tình vị khổ nhớ hoài. Quân vương huống nữa như trời rộng, Mảnh mây xin để tự tại bay. • “Quân sứ cho hay xuất cấm thành, Còn mời thần trụ chốn lều tranh.” Câu nói của vua Đường như là một câu hỏi đạo lý vậy thôi, chứ thật ra là vua đã thuận theo tôn ý của Hòa thượng Đại Giác Liễn và đã dựng lập lều tranh ở núi để có nơi cho Ngài về nghỉ. • “Núi xanh chẳng chịu chứa ngàn vụng, Tóc bạc lấy gì ích vạn cơ?” Hòa thượng Đại Giác Liễn đáp lại rất khiêm tốn và tinh tế. Không thể tu học còn vụng về, chưa thuần thục mà về ở núi được. Trong khi đó, Ngài thì còn nhiều vụng về. Do đó Ngài nói: “Núi xanh chẳng chịu chứa ngàn vụng”. Nhưng vì sao lại xin về núi? Ngài nói: “Tóc bạc lấy gì ích vạn cơ?” Vì tôi già quá rồi, biết lấy gì để làm lợi ích cho nhiều người đây? Tuy còn vụng, chưa được phép về núi. Nhưng già rồi, không còn làm được gì nữa. Không về núi thì biết làm sao hơn? • “Ơn lớn rưới ban vừa thấm nhuận, Núi rừng tình vị khổ nhớ hoài.” Ngài nói, ở trong cung thành, được ân sủng của vua ưu ái ban cho rất chu đáo, mọi thứ đều được tiện nghi. Sống mãi không chán, cho nên tuy ở đã lâu mà như vừa mới hôm qua (vừa thấm nhuận). Khi về núi rừng đạm bạc, khó khổ hơn ở trong cung nhiều, cho nên chắc chắn nhớ ơn vua mãi không thôi. • “Quân vương huống nữa như trời rộng, Mảnh mây xin để tự tại bay”. Đây là lời đáp chính cho câu hỏi của vua Đường. Hòa thượng Đại Giác Liễn nói lý Bát Nhã rất khéo léo, tinh tế, sâu kín. Đồng thời lý và sự được trọn vẹn, thể và dụng viên mãn vô cùng. Huống nữa, đức vua lớn lao như trời rộng kia. Còn Ngài như mảnh mây nhỏ. Với bầu trời thênh thang, mảnh mây có bay đi bay lại thì nào có ảnh hưởng gì. Đó là nghĩa đen. Còn nghĩa bóng: Thể Bát-nhã như trời xanh lồng lộng. Tấm thân này như áng mây kia. Còn mê, chấp kẹt thân thì khi đi lại là có đi lại thật, bị các tướng lưu chuyển, chi phối. Cho nên đi mãi cũng khổ, nằm mãi cũng khổ, ngồi hoài cũng khổ, đứng hoài cũng khổ, làm gì cũng không vừa lòng, không hợp ý, cũng đều khổ cả. Là do chưa làm chủ được thân tâm. Đã ngộ thì đi đứng hay làm bất cứ gì cũng không động, vô ngại, không dính dáng gì. Tất cả đều tự tại giải thoát. Thì có rời cung vua đi về núi mà cũng chưa từng có đi đến bao giờ. • Tóm lại: Hiện nay, “Nhằm chỗ nào để thấy nhau?” Nếu tỏ sáng thì đã gặp nhau, luôn thấy nhau, không có gì ngăn che được. Thể dụng ngời ngời, đâu cần phân biệt kia đây. Nếu chưa thì nghe hỏi liền dính tướng, có nghĩ suy, tìm thấy biết trên tướng, liền bị ngăn ngại, không thể thấy nhau. Nên thật thà tu hành mới có ngày tỏ sáng, hay ra. Còn cố nghĩ suy nói năng hay làm bất cứ gì, đều không thoát khỏi lồng bẫy. Ở các pháp thì bị các pháp sai sử. Vào Bát-nhã cũng bị Bát-nhã trói cột. Sự thật là như vậy. Dù có mượn lời Phật Tổ để nói năng, đối đáp thì cũng khó khỏa lấp đầy được nỗi bất an trong lòng. 6. KẾT LUẬN Chúng sanh mê mờ thì bị các pháp trói buộc. Học Bát Nhã không khéo, lại bị cái như như của Bát-nhã trói. Khéo tu, chín chắn để áp dụng Bát Nhã trong đời sống, không lệch về lý hoặc sự, đạt đến sự lý viên dung, tự tại không ngăn ngại, mới đúng với diệu chỉ Bát Nhã đức Phật đã chỉ bày. Mục Lục
|
Bát Nhã Dạy Gì? - Thích Tâm Hạnh
|