|
Bát Nhã Dạy Gì? - Thích Tâm Hạnh
Phần 3: Thuyết Minh Biểu Đồ Tóm Kết Nội Dung Bát Nhã
TÓM KẾT KHÁI QUÁT CHUNG • Học hiểu và tu tập Bát Nhã, mục đích: (1) Hiểu thông, khéo tu để thể nhận Thực tướng Bát-nhã; (2) Hoặc trực ngộ Thực tướng Bát-nhã. → Nhằm qua hết thảy khổ ách. • Việc thể nhận hay trực ngộ Bát-nhã, tựu trung có hai trình độ: Nhận thẳng - Đốn ngộ; hoặc học hiểu suốt thông và dụng công. Khi thời tiết nhân duyên chín muồi, bừng ngộ. (1) Nhận thẳng - Đốn ngộ: Tựu trung nằm trong 2 khả năng: o Thầm nhận - Hay trực ngộ; sau đó bảo nhậm; chính là công phu. o Đốn ngộ, Thực tướng Bát-nhã hiện tiền. Sống thẳng đó. (2) Học thông - Dụng công → Bừng ngộ. o Phạm vi này mới có chỗ cho học nhơn để tâm học hiểu - Tu tập. o Đây là nội dung được đề cập và triển khai tại biểu đồ bên dưới. o Tức là biểu đồ này không đề cập đến phần trực nhận hay đốn ngộ Bát-nhã. BIỂU ĐỒ TÓM KẾT NỘI DUNG BÁT NHÃ Biểu đồ gồm 2 nhánh, biểu thị hai bước tiến đạo căn bản của hành giả được Phật dạy rõ trong văn kinh: (1) Nhánh 1: Nói rõ con đường tu hành nhận lại Thực tướng Bát-nhã. (2) Nhánh 2: Nêu lên tác dụng (tức là Đức dụng hoặc Diệu dụng) sau khi đã chứng ngộ Thực tướng Bát-nhã.
NHÁNH 1 CỦA BIỂU ĐỒ Trọng tâm cần đạt đến là chứng đạt Thực tướng Bát-nhã. Lấy đây làm cốt lõi để học và tu, làm chỗ đạt đến, quy về. Tức là học hiểu, nghiên cứu hay tu hành Bát Nhã như thế nào thì cũng phải đạt đến đích là chứng Thực tướng Bát-nhã, mới không sai lệch. Công phu này bắt đầu bằng cách dùng Trí tuệ Bát-nhã soi thấy năm uẩn đều không. 1. SOI THẤY NĂM UẨN ĐỀU KHÔNG Cụ thể mở đầu bài kinh, đức Phật dạy dùng Trí tuệ Bát-nhã, soi thấy năm uẩn đều không, liền đó qua được tất cả khổ ách. Nếu đã ngộ thì trí Bát-nhã tự suốt thông, không còn khổ ách. Là người còn trong quá trình tu học, chưa ngộ thì lấy đâu ra trí Bát-nhã để soi thấy năm uẩn đều không? Ý nghĩa ở đây là nương lời Phật Tổ dạy để thấy biết đúng bản chất thật của năm uẩn, các pháp… là huyễn hóa, không thật. Đây là nhờ nương lời Phật dạy và khéo ứng dụng mà tỏ được trí tuệ giác ngộ ban đầu (chưa bừng ngộ cốt lõi của cội nguồn giác ngộ là Thực tướng Bát-nhã). * Soi thấy năm uẩn đều không như thế nào? Phật dạy chiếu kiến, tức đúng Trí tuệ Bát-nhã soi thấy trước tiên tượng trưng là năm uẩn đều không thật. Việc tu tập này có thể nhận thấy qua các trình độ căn bản: Không thật (theo thời gian và không gian) và hư không, để đạt đến không tịch (rỗng lặng) và chứng Thực tướng Bát-nhã chứ không phải dừng lại chỗ vắng lặng thanh tịnh. - Không thật theo thời gian: Cụ thể, thế giới thì thành, trụ, hoại rồi không; vạn vật thì sanh, trụ, dị (biến đổi) rồi diệt; con người hoặc chúng sanh thì sanh, già, bệnh và chết. Do bản chất vô thường biến đổi sanh diệt như vậy cho nên tất cả đều không bền chắc (không thật). - Theo không gian: Các pháp không do bất kỳ một thứ nào tự làm nên nó (không chủ tể) mà nhờ nhiều nhân duyên hợp lại tạm thành. Có hợp thì có tan, tụ tán bất thường nên giả tạm. - Hư không: Vạn vật tồn tại trong hư không, chúng luôn dao động. Ngay cả vật cứng nhất cũng nhờ nhiều nguyên tử, phân tử quay quanh nhân điện tử với một vận tốc mắt thường không thể nhận ra, nó mới tạm có. Do sự thật bản chất không cứng chắc như vậy cho nên chúng cũng đều là huyễn hóa. Khi tỏ suốt tất cả đều rỗng tuếch thì tâm ta cũng trở nên rỗng lặng (không tịch). Không phải thấy có một cái tâm được gọi là không tịch, mà bặt hết tất cả dấu vết, mất hút, rạng ngời, liền đó Thực tướng Bát-nhã hiện tiền. Ngay đó khéo nhận thẳng, sống thẳng và chứng nhập. Tóm lại: Hành giả ứng dụng một trong các phương pháp trên (không nhất thiết phải tất cả), soi thấy suốt thông năm uẩn đều huyễn, liền đó tâm trở nên rỗng rang, nên cảnh cũng lặng, tức không tịch, khéo nhận thẳng, chứng nhập Thực tướng Bát-nhã. Lúc này, ý thức phân biệt tự dứt bặt; thấy biết mình và các pháp, sắc và không, huyễn và thật mỗi mỗi rạng ngời, rành rành nhưng vô tướng; không phải một, cũng chẳng phải khác; thấy biết vượt Năng - Sở, vượt Có (sắc) - Không; không nhằm trong các căn và Sắc - Không để thấy biết. Đối với tất cả, không quan tâm hay phân biệt thật hoặc giả; có hay không (sắc và không); không tìm biết trên các pháp, cũng không phải cố lìa hoặc tránh né, càng không phải để mặc kệ. Chỉ là bình thường, bặt dấu vết, không mê thì tánh mình hiển hiện. Khéo nhận lại thì tất cả toàn bày; hay ra: Tánh này đã sẵn từ lâu rồi, tức Thực tướng Bát-nhã hiện tiền. Cho thấy: Bát Nhã nói rõ sự thật: Tất cả pháp đều huyễn, nhằm ngăn phan duyên, phá tất cả dính chấp, mục đích nhận lại Tánh thể Bát-nhã nơi chính mình, diệu lực ấy cho hành giả liền đó vượt qua hết thảy khổ ách. Đó là lộ trình từ phàm mê học và tu để trở lại Thực tướng Bát-nhã. Nhưng khi đã ngộ rồi thì thấy năm uẩn và các pháp như thế nào, là huyễn hay chân? Đã chứng Thực tướng Bát-nhã, lúc này, từ trí Bát-nhã đã ngộ nên năm uẩn trở nên trong lặng (không tịch), tự nó (Thực tướng Bát-nhã) sẵn có công năng vượt thoát tất cả khổ ách (các khổ không còn dính dáng, không chạm đến được). * Đúc kết: Ở đây chúng ta có thể thấy ra có hai trình độ tiến đạo: (1) Từ bên ngoài (tức còn phàm mê) → Đi vào trong (tức đạt đến Thực tướng Bát-nhã): Đây là giai đoạn ban đầu, còn trong thời kỳ học đạo, dụng công tu tập: o Dùng trí Bát-nhã do học hiểu, suốt thông → Thấy biết năm uẩn... tất cả các pháp đều không (huyễn hóa). o Thấy rõ sắc và không đều không thật - Không hai, để dụng công tu tập → Nhận ra và tiến đến thể nhập Trí tuệ Bát-nhã chân thật (Thực tướng Bát-nhã). (2) Khải phát từ trí tuệ đã chứng Thực tướng Bát-nhã (bên trong) → Mà lưu xuất: o Khi đã đạt ngộ, từ Trí tuệ Bát-nhã thấy biết: Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc... o Nhưng không phải nằm trong huyễn và chân, giả và thật, có hoặc không, o Mà là tất cả đều vắng bặt, lặng trong, như thị, linh thông, tự tại vô ngại. Đây là mở đầu, khái quát, đức Phật chỉ nêu năm uẩn làm tiêu biểu. Nếu hành giả chưa thể nhận được, đức Phật sẽ nói rộng ra các pháp khác. 2. BÁT NHÃ NÓI BAO NHIÊU PHÁP ĐỀU KHÔNG? Gồm có: Thân và tâm sanh diệt (tức năm uẩn); căn, trần và thức (tức 18 giới); cho đến các pháp Phật dạy, như là: vô minh và hết vô minh cho đến già chết và hết già chết (tức 12 nhân duyên và hết 12 nhân duyên); Tứ đế; trí tuệ và chứng đắc... Nói chung, hễ còn một thứ gì chúng ta thấy là thật có và dính mắc thì đức Phật đều phá chấp, để thấy rõ tỏ suốt tất cả đều không. Hễ một có thì tất cả có, bởi còn nằm trong tình thức phân biệt cho nên cái có là có ngay sự phân biệt, do quên chân tâm. Đã không thì phải hết thảy đều không; tức phải bặt ý thức, vô phân biệt, thấy biết tất cả vẫn vô tướng, mới thực sự không. Thiền sư Đạo Hạnh nói: “Có thì muôn sự có, Không thì tất cả không. Có, không trăng đáy nước, Đừng mắc có cùng không.” Có hay không đều do tâm phân biệt, nên nó cũng huyễn như bóng trăng dưới nước. Do đó Ngài dạy đừng nhằm trên Có - Không để tìm hiểu và thấy biết; bởi như thế vẫn còn can thiệp trên tướng bên ngoài, tức đã quên tâm. Dừng lại, rồi tự hỏi: “Ai thấy biết có không?” Chữ ai này không nằm trên cảnh duyên hoặc sự hiểu biết để luận bàn, mà khéo lặng tất cả, không mê thì tất cả tự sáng ngời, cái biết được có và không ấy không nằm trong có không, là thực tướng vô tướng. Chủ yếu bặt niệm đối đãi hai bên; nào là biết có không, thấy năng và sở... Liền đó Thực tướng Bát-nhã hiện tiền. Lúc này, sạch có không - Tự sáng biết như thế - Vượt năng sở đối đãi - Chứng nhập Thực tướng Bát-nhã. Từ trí tuệ chân thật Bát-nhã đã ngộ cho nên tất cả các pháp vừa kể trên, như là: Căn, trần, thức, các pháp phương tiện... đều trở nên lặng trong, sáng ngời, suốt thông tất cả. Không phải lấy bỏ mà hay dùng tất cả một cách linh hoạt, tự tại. * Tóm lại: Như vừa đúc kết trên, ở đây cũng có hai trình độ thấy biết: (2) Khi đã đạt ngộ: Từ Trí tuệ Bát-nhã chân thật, thấy biết tất cả Như thị - Tự tại, linh thông. CÂU HỎI VẬN DỤNG - CỦNG CỐ Hòa thượng Tông chủ Thiền phái Trúc Lâm hiện nay dạy: “Đừng vì một hai lý do không ra gì, chúng ta cứ lẩn quẩn ở đâu đó, để rồi một cuộc đời trôi qua toàn là vô ích vô nghĩa. Đó là điều đáng buồn.” “Một hai lý do không ra gì” là gồm những lý do nào? Gợi ý: Theo Bát Nhã, hễ cái gì có tướng, đều là mộng huyễn. Vì vậy, tất cả các lý do đều không ra gì cả. Đã có thì tất cả đều có, chứ không chỉ một vài lý do nào đó. Đã không thì hết thảy đều không, không phải không đối với việc này mà còn có với lý do khác. “Một hai lý do không ra gì” là những tồn tại còn vướng kẹt nơi mỗi người. Đã biết là không ra gì thì chúng có xứng đáng để chấp giữ hay không? Khi buông sạch xuống, không vướng bận gì, liền đó Tánh thật Bát-nhã hiện bày, liền qua hết thảy khổ ách. Đây là trọng tâm diệu lý Bát Nhã. (Hết nhánh 1 của biểu đồ)
NHÁNH 2 CỦA BIỂU ĐỒ Nhánh 2 của biểu đồ nêu lên tác dụng (tức là đức dụng hoặc diệu dụng) sau khi đã ngộ Thực tướng Bát-nhã. 1. DIỆU DỤNG TỪ TÁNH THỂ Đây là tiêu tổng quát về diệu dụng chung được lưu xuất từ Tánh thể đã chứng ngộ. Rỡ rằng: Thể vốn Chân không, nhưng Dụng hiện tiền - Diệu hữu. Không phải không ngơ, mà thấy biết như thị, vượt thoát căn cánh và tất cả, nên không nằm trong có và không. Cụ thể, hành giả đạt ngộ Tánh thể Bát-nhã, tâm tự rỗng thênh, pháp cũng vắng lặng (Tâm không - Cảnh tịch). Tánh thể này vốn không một vật (Chân không), nhưng hay suốt thông tất cả, tùy duyên tùy thời hiện bày mỗi mỗi, vẫn không tướng trạng gì (Diệu hữu). Tánh thể Bát-nhã tự tịnh, tự định, vô tướng, lặng trong và cũng tự thấy ra một cách rành mạch, rõ ràng: Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; Sắc tức là không, không tức là sắc... Tâm tánh vốn không lặng, và Sắc - Không đan xen trùng trùng vẫn rành rành và lặng trong như thế. Trong ấy không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch... không khổ tập diệt đạo, không có vô minh cũng không có hết vô minh... không có trí tuệ cũng không có chứng đắc... Hết thảy đều trong lặng, sáng ngời, bất khả tư nghì như thế; bởi mỗi mỗi đều từ Thể tánh Bát-nhã lưu xuất. Sắc và không, tánh và tướng, người và vật... tất cả chỉ là một sự hiển hiện trong tự tánh chánh định chính mình. Thiền sư Thường Chiếu, Việt Nam nói: “Như Lai dùng sức tâm tự tại, trong chỗ không khởi chuyển mà chuyển pháp luân; biết tất cả pháp thường không khởi, dùng ba thứ pháp nói đoạn, nhưng thật không đoạn mà chuyển pháp luân. “Như Lai dùng sức tâm tự tại, trong chỗ không khởi chuyển mà chuyển pháp luân.” Không nhất thiết phải sanh tâm khởi niệm mới rõ biết tất cả, mới làm việc, vận hành hay sinh hoạt. Không nhất thiết phải khởi chuyển pháp luân, mới chuyển được pháp luân. Còn là phàm phu thì khởi tâm mới làm được việc. Hễ làm gì, biết gì thì trước đó tâm đã sanh khởi. Đã ngộ tánh thì lực của tâm tánh cho hành giả không thèm sanh khởi, vẫn bất động, nhưng tự sáng biết; hành hoạt, làm việc, hóa hiện tất cả một cách tự tại vô cùng. Lực của Pháp thân không thể nghĩ lường, cho hành giả được tự tại vô ngại. Lực này không hình tướng gì, vốn tự như thế, chứ không cần cố gắng vận lực. Đức Phật viên mãn lực này, do đó diệu dụng bất khả tư nghì. “Biết tất cả pháp thường không khởi, dùng ba thứ pháp nói đoạn, nhưng thật không đoạn mà chuyển pháp luân.” Ngài khẳng định, không nhất thiết sanh khởi tâm mới biết; không phải ai sáng biết rõ ràng cũng có sanh khởi tâm. Phật Tổ không thấy biết đồng với phàm mê như thế. Đức Phật biết tất cả các pháp bên ngoài cũng như các pháp phương tiện; rõ suốt các phương cách đoạn trừ khả năng sanh khởi tâm hoặc dính mắc của chúng sanh (dùng ba thứ pháp nói đoạn) mà không phải có đoạn diệt gì (nhưng thật không đoạn) để triển chuyển chánh pháp chỉ bày cho chúng sanh (mà chuyển pháp luân). Tóm lại, hằng không khởi mà tự liễu biệt, sáng biết tất cả một cách khúc chiết, lo-gic, sâu xa, rõ ràng, nhưng vẫn bất động; thường hay tự tại tùy thời, tùy duyên, tùy cơ để tùy hiện ứng hóa vô cùng, trùm khắp, không nơi nào thiếu vắng. Rõ ràng, đức Phật suốt biết tất cả, vẫn thường không khởi mà tùy duyên phương tiện để chuyển pháp luân độ khắp như thế. Đức Phật thành đạo, ở trong Niết-bàn vô tướng mà thấy rõ vạn sự sai biệt (kể cả chân huyễn, sắc không) hơn cả sự phân biệt của phàm tình để chỉ bày cho chúng ta, mà vẫn không thấy có vạn vật hoặc sắc không. Nếu đã chứng ngộ Tánh thể Bát-nhã, sẽ tự thấy ra việc bất tư nghì này, ý thức phân biệt không tài nào thấu hiểu đến được. 2. ĐỨC DỤNG TRONG VĂN KINH PHẬT DẠY Là đức dụng cụ thể được Phật dạy trong Bát Nhã Tâm Kinh. Văn kinh nêu rõ 3 tác dụng (Diệu dụng hay Đức dụng) căn bản khi chứng đạt Thực tướng Bát-nhã: 2.1. Qua hết thảy khổ ách Kinh Bát Nhã, đức Phật dạy dùng Trí tuệ Bát-nhã soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách. Vậy là chiếu kiến, lìa bỏ năm uẩn để được không, hay ngay năm uẩn mà được không? Nói là lìa bỏ hoặc ngay năm uẩn để được không, đều còn nhằm trên thân tâm năm uẩn này (trên cảnh duyên) để bàn luận, hiểu biết, chưa rời tướng trước, do đó năm uẩn vẫn còn nguyên, chưa thể "không" được. Hơn nữa, khi can thiệp trên năm uẩn, tức đã quên tâm, nên vẫn còn trong mê, chưa ngộ Tánh thể Bát-nhã, thì lấy năng lực nào để liền đó vụt qua hết thảy khổ ách như văn kinh dạy. Lưu ý, đây là nhánh 2 của biểu đồ đang bàn đến tác dụng sau khi đã ngộ Thực tướng Bát-nhã. Cụ thể đức dụng ở đây là: Liền đó vụt qua hết thảy khổ ách. Do đó, một cách thẳng tắt nhất là, hãy giác sáng, liền đó trở lại Tánh thể Bát-nhã thì năm uẩn tự lặng trong (tức không). Nếu cần có chỗ dụng công thì phải khéo dùng Trí tuệ Bát-nhã đã được hiểu thông để soi thấy và thấu suốt tột cùng thân tâm rỗng tuếch, bất chợt trở lại Tánh thể Bát-nhã, khổ ách tự không. Trên cơ sở đó, thấy ra rõ ràng tùy theo căn cơ, trình độ tu tập, cho nên thấy biết hoặc sở chứng cũng có khác. Cụ thể: • Phàm phu: Chấp 5 uẩn là thật cho nên phải khổ. • Tu còn yếu: Soi thấy năm uẩn đều không để bớt dính chấp, bớt khổ. • Dụng công đã có lực: Ngay năm uẩn liền không, bớt mê lầm, thông suốt diệu lý. • Đã đạt ngộ: Thấy biết như thị, vượt Năng - Sở, Căn - Cảnh (2 bên), suốt thông diệu chỉ. • Rốt ráo viên mãn: Tùy duyên hóa hiện, thị hiện, tự tại, linh thông. Đây là tạm nêu các trình độ căn bản. Nhưng vấn đề đặt ra là: Vì sao đã chứng Thực tướng Bát-nhã mà vẫn còn thấy biết từng bậc theo thứ lớp như vậy? Không phải Thiền giả đã chứng ngộ Bát-nhã có cái thấy biết theo thứ lớp, mà là quý Ngài thấy rõ thứ lớp thuộc trình độ của học nhơn chưa ngộ. Cụ thể, sống bằng Thực tướng Bát-nhã đã chứng ngộ, không động, sẽ thấy rõ vô vàn sai biệt, hơn cả ý thức phân biệt, nhưng vẫn vô phân biệt, vô tướng. Đây là diệu dụng của bậc đã chứng Thực tướng Bát-nhã. Cũng như đức Phật đã viên mãn Phật đạo, chư Tổ đã chứng ngộ, nhưng vẫn rõ biết mồn một tâm chúng sanh để tùy cơ khai thị, nhưng quý Ngài hoàn toàn không chút sanh khởi để có tướng của tâm hoặc trôi theo thứ bậc; khai thị chúng sanh, làm vô vàn việc lợi ích nhưng vẫn không thấy có làm gì. 2.2. Bồ-tát y theo Bát-nhã Ba-La-Mật-Đa nên tâm không ngăn ngại và không sợ hãi; xa hẳn điên đảo mộng tưởng, đạt đến cứu cánh Niết-bàn Đây là nói lên diệu dụng của bậc Bồ-tát khi đã chứng đạt Thực tướng Bát-nhã. Đã chứng Thực tướng Bát-nhã thì trong ấy có đủ định lực, tuệ lực, vô biên lực, khiến cho hành giả tự tại trên các pháp, không còn bất cứ gì làm ngăn ngại được. Cũng từ diệu lực đó, khiến hành giả tự tại, không còn gì làm cho sợ hãi (tự tại vô quái ngại). Đạt được Thực tướng Bát-nhã thì mộng tưởng liền không; như mở đèn thì bóng tối tự tiêu mất, chứ không nói là nó đi về đâu cả. Nơi nơi thấy biết đều là tự tánh giác sáng, không một vết mê, tự tại, không ngăn ngại. Đây là Vô trụ xứ Niết-bàn, Tánh tịnh Niết-bàn đang hiển hiện bàng bạc khắp nơi (là đạt đến cứu cánh Niết-bàn). Không phải hiểu tự tại theo thứ bậc, hoặc có điều kiện mới được tự tại, mà ở đây đức Phật dạy rõ: Vì không có sở đắc, vô cầu, cho nên Bồ-tát y theo Bát-nhã, tức là liền nương được, hay nói rõ hơn là sống bằng Thực tướng Bát-nhã mà tự tại. Cụ thể, khi không tất cả, không cả sở đắc thì Tánh thể Bát-nhã hiện tiền; liền đó, không còn có gì ngăn ngại (nhờ diệu lực Bát-nhã). Vì không ngăn ngại cho nên không sợ hãi. Tất cả đều như vậy, chứ không phải chỉ trong một giới hạn nào đó. Không phải có những điều lớn hơn thì khiến ngăn ngại và sợ hãi; như thế là chưa qua hết thảy khổ ách, đó là sự tự tại có điều kiện. Điều nào vừa sức thì không ngăn ngại, không sợ hãi; quá sức thì đành phải chịu; rõ ràng chưa qua khỏi hết thảy khổ ách như văn kinh nói; là chưa xác đáng, chưa đúng diệu lý Bát Nhã đức Phật đã dạy. Tóm lại, đoạn này nêu lên cụ thể: Hay "không" đi tất cả, sạch hết tất cả thì không còn có chỗ có thể được (Vô sở đắc). Ngay đó, Thực tướng Bát-nhã hiện tiền, muốn mất cũng không được. Nhờ năng lực Bát-nhã đó mà Bồ-tát có vô vàn diệu dụng. Trong đó đáng kể đến là: o Tự tại, không còn ngăn ngại, không sợ hãi. o Điên đảo mộng tưởng tiêu sạch. o Niết-bàn cứu cánh (rốt ráo tột cùng) hiện tiền. Sống ngay đó để tùy duyên giáo hóa lợi sanh, cho đến khi công viên quả mãn thì viên thành Phật đạo. 2.3. Ba đời chư Phật y theo Bát-nhã, đạt đạo quả Vô Thượng Bồ-đề Đây là khẳng định, phải từ Thể tánh không sanh không diệt của Bát-nhã mới chứng được quả vị Phật vô sanh. Nghĩa là, phải từ nhân vô sanh mới thành tựu quả vị vô sanh của Phật. Mười phương ba đời hết thảy chư Phật đều như vậy, chúng ta hiện nay cũng không thể khác. Đức Phật đã khẳng định hướng đi rõ ràng cho chúng sanh đời sau, muốn thành tựu Phật đạo, phải như thế. KẾT LUẬN Qua biểu đồ, cơ bản cho chúng ta thấy rõ tổng quan bài Bát Nhã Tâm Kinh. Chỗ nhận hiểu, thấy biết hoặc thực chứng, có thể tùy vào mỗi hành giả và từng thời điểm tu tập mà có sâu hoặc cạn, cao và thấp khác nhau. Nhưng tựu trung đều nằm trong diệu lý căn bản như vậy. Cần nhận ra một cách đầy đủ, tường tận để ứng dụng tu hành, mới đem lại kết quả như nguyện. CÂU HỎI VẬN DỤNG - CỦNG CỐ Sắc không, không sắc, bổn đồng nhiên, Sanh tử na năng một bạn biên. Phiên thân đạp trước Bồ-đề địa, Cử túc tiện đăng Bát-nhã thuyền. Phân tích bài kệ khai thị trên qua tinh thần Bát Nhã. * Câu 1: Sắc không, không sắc, bổn đồng nhiên: Sắc và không; không và sắc, xưa nay vốn đồng như vậy; như thị, như nhiên. Một cách thẳng tắt: Đứng ở đâu, nhằm chỗ nào để thấy biết sắc không, sống chết? Nếu sáng tỏ, sẽ rõ ràng sắc chẳng khác không, không tức là sắc, xưa nay không khác, rạng ngời vốn như vậy. Nếu chưa thể nhận thẳng thì có thể thấy qua hai trình độ cơ bản sau: (1) Biết huyễn: Tức là Sắc - Không đã sẵn trong nhau, luôn biến đổi không thật - Xưa nay vốn như vậy; liền đó trả lại tánh thể vốn trong lặng, sáng ngời, tỏ rõ sắc không vốn như thị, không hai (bổn đồng nhiên). Lúc này, tự thấy ra rõ ràng: Tâm không - Cảnh tịch (tức không tịch). (2) Không tịch: Thấy rõ Sắc - Không vốn tự như thị, rõ ràng, nhưng không động; vốn như vậy (như thị, sẵn vậy, như nhiên), linh thông tự tại vô ngại. Câu 2: Sanh tử na năng một bạn biên: Sanh tử đâu được thấy một bên mà bỏ sót mất một bên (một bạn biên). Có thể thấy qua hai trình độ căn bản: (1) Sắc tức không: Có sanh thì có tử; vừa sanh ra là đã biết cái tử đã sẵn trong đó; không thể chỉ thấy sanh mà quên phần còn lại là tử, có thể đến bất cứ khi nào. (2) Như thị - Tự tại - Nhận lại cái không sanh tử: Ngay sanh tử, còn có cái không sanh tử; sanh tử không đến kịp. Không nên mê, chỉ thấy biết trên sanh tử, mà phải khéo nhận lại cái không sanh tử. Ngay đó, sanh tử không đến kịp, liền thoát; ngay sanh tử, tức Niết-bàn. Nghĩa là, phải thấy biết vượt sanh tử như vậy để giải thoát, chứ không nhằm trong một phía của sanh tử để bị chi phối, trói buộc. Lúc này, dù thị hiện sanh tử, vẫn không thấy có tướng sanh tử, đến đi; tìm cái tướng của sanh tử đến đi trọn không thể được. * Câu 3: Phiên thân đạp trước Bồ-đề địa: Chuyển thân đạp đến đất Bồ-đề (giác). Chỉ cần đổi cái thấy biết. Thay vì phan duyên theo vật, mê tâm thì chuyển thành tự giác sáng. Ngay đây, khéo nhận lại Thực tướng Bát-nhã (phiên thân), liền đó chạm đến đất giác tự tâm (đạp trước Bồ-đề địa). Lúc này thấy biết sắc không như nhiên, nhúc nhích đều là sức giác sáng chính nó. Có làm hay không làm gì, cũng không ngoài nó. Sanh hay tử cũng không ra ngoài tâm tánh này; vốn tự như thị, như nhiên. Cả khi vừa mới chết (phiên thân), nhưng khéo nhận lại, cũng bất ngờ ngộ ra tánh thể này (đạp trước Bồ-đề địa). * Câu 4: Cử túc tiện đăng Bát-nhã thuyền: Cất bước liền lên thuyền Bát-nhã. Một phen bất chợt sáng ra như thế (cử túc, nhấc bước) thì nhất cử nhất động đều không ra ngoài thuyền Bát-nhã (tánh thể rỗng rang của Bát-nhã). Sống chết cũng không ngoài tánh thể đang hiện tiền nên tự tại vô quái ngại. Cứ thế nhiều đời sống bằng sức giác sáng ấy, tùy thời, tùy duyên thành toàn diệu hạnh cho đến khi thành tựu viên mãn Phật đạo. Mục Lục
|
Bát Nhã Dạy Gì? - Thích Tâm Hạnh
|