Thiền Tông Việt Nam
Bát Nhã Dạy Gì? - Thích Tâm Hạnh
Phần 4: Bát Nhã Tâm Kinh Toàn Văn

Văn thinh thị thinh,

   thinh thinh tổng thị quảng trường thiệt,

Kiến sắc thị sắc,

   sắc sắc vô phi thanh tịnh thân.

Nghe tiếng là tiếng,

   tiếng tiếng thảy đều lời Phật tuyên, 

Thấy cảnh là cảnh,

   cảnh cảnh toàn bày Pháp thân Phật.

Các phần trước đã nêu những điều cốt lõi trọng yếu có liên quan hoặc thẳng vào diệu lý Bát Nhã. Cụ thể:

- Phần một, nêu lên tầm nhìn một cách tổng quan để hành giả ngay đó ngộ nhập hoặc khéo nhận thẳng diệu chỉ đức Phật muốn khai thị.

- Phần hai, đặt ra các câu hỏi để mở sáng các nội dung đi vào trọng tâm tư tưởng hệ Bát Nhã, hoặc vận dụng linh hoạt từ Tâm Kinh Bát Nhã.

- Phần ba, Bát Nhã qua biểu đồ nhằm tóm kết điệu lý Bát Nhã một cách vắn tắt, rút gọn diệu nghĩa để người đọc dễ dàng tổng hợp, nắm bắt trọn vẹn nghĩa lý trùng trùng nhưng đan xen, lo-gic và nhất quán trong nhau.

- Qua ba phần trên, học nhơn đã nắm vững diệu lý Bát Nhã một cách rõ ràng. Để cuối cùng, vào Phần 4 - Bát Nhã Tâm Kinh toàn văn, sẽ thấy biết đầy đủ và sâu sắc hơn bài Tâm Kinh đức Phật chỉ bày cho tất cả chúng ta.

TỰA ĐỀ

Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh

NHỮNG ĐIỂM CĂN BẢN CHÍNH YẾU CẦN LƯU Ý

Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh: Là “Tâm kinh trí tuệ cứu cánh rộng lớn”. Cụ thể:

o Tâm Kinh là gì? Là bài kinh ở ngay nơi Tâm (tại tâm).

o Bài kinh tâm đó là gì? Là trí tuệ cứu cánh rộng lớn, cũng chính là trí tuệ chân thật, là Thực tướng Bát-nhã sẵn đủ nơi mỗi người.

o Tại sao gọi là trí tuệ cứu cánh rộng lớn? Vì trí tuệ này vô tướng, lìa sanh diệt; vượt ngoài phân biệt đối đãi lớn nhỏ của thế gian; vốn tự bàng bạc, thênh thang trùm khắp.

o Đức Phật khai thị chỉ dạy để chúng ta nhận lại trí tuệ đó.

o Chính diệu lực từ trí đó mới có thể khiến hành giả vượt qua tất cả khổ ách.

Ghi chú: Xem đầy đủ tại “Mục 1. Khái Quát Chung" - Trong Phần 1 - Tổng Quan: Khái Quát Chung - Khéo nhận;

TOÀN VĂN BÁT NHÃ TÂM KINH

Chánh văn 1:

Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã ba-la-mật-đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách. 

Giải:

Đây là "Giới thiệu vấn đề": Giới thiệu pháp tu Bát Nhã và minh chứng kết quả đạt được. Hành giả khéo nhận ra diệu chỉ (trọng tâm) đức Phật chỉ dạy trong đoạn văn này.

1. KHÉO NHẬN DIỆU CHỈ

- Kết quả: Phải qua hết thảy khổ ách. Cụ thể: 

o Thẳng đó liền qua, không phải qua từ từ.

o Qua tất cả, chứ không phải một phần nào.

- Năng lực nào giúp cho hành giả đạt được điều đó? Chính là diệu lực từ Thực tướng Bát-nhã. Cụ thể:

o Trọng tâm Bát Nhã Tâm Kinh, đức Phật muốn chỉ bày cho học nhơn nhận lại Trí tuệ cứu cánh rộng lớn (còn gọi Thực tướng Bát-nhã).

o Từ đó, có diệu lực cho hành giả vượt qua hết thảy khổ ách.

- Ít nhất có hai khả năng nhận lại Thực tướng Bát-nhã:

o Trực nhận: Thẳng đó đốn ngộ, hoặc trực nhận.

o Khéo tu, rồi thầm nhận hoặc bừng ngộ: Dùng Trí tuệ Bát-nhã, soi thấy 5 uẩn không, nhận lại Thực tướng Bát-nhã.

- Vậy khi chưa ngộ, lấy đâu ra Trí tuệ Bát-nhã để chiếu kiến?

o Là trí tuệ ban đầu do học và hiểu thông lời Phật dạy mà có.

- Minh định: Bồ-tát Quán Tự Tại đã ứng dụng và đạt được kết quả (qua hết thảy khổ ách, nên gọi là Quán tự tại).

→ Ngay đoạn mở đề này, chúng ta thấy ra những đặc điểm trọng tâm trên.

2. ỨNG DỤNG TU HÀNH

- Dùng Trí tuệ Bát-nhã soi thấy 5 uẩn đều không. Cụ thể:

o Tỏ suốt thân tâm huyễn hóa, không thật.

o Bất chợt tất cả tự lìa - Tâm tự vắng lặng.

o Thực tướng Bát-nhã hiện tiền.

- Hành sâu Bát-nhã ba-la-mật-đa, nghĩa là: 

o Thực hành liên tục, miên mật, không xen hở. Bằng cách, hằng soi thấy năm uẩn đều không, không bất giác. Khi thực hành, hướng đến mục đích cốt yếu phải khế hợp và nhận lại Thực tướng Bát-nhã.

o Hành sâu rốt ráo: Là Thực tướng Bát-nhã luôn hiện tiền. Sống thẳng đó, không một vết mê xen hở, mới đúng nghĩa miên mật tuyệt đối; là hành sâu.

Câu hỏi vận dụng, củng cố 1

Tại sao ở đây đức Phật chỉ nói 5 uẩn đều không mà không đề cập đến các pháp khác?

Đáp:

(1) Do đây là đoạn mở đầu, đức Phật chi nêu 5 uẩn làm biểu trưng. Đến đoạn triển khai rộng, Ngài nói các pháp còn lại, để trừ dính chấp. 

(2) Mặt khác, các pháp bên ngoài không lỗi, tất cả đều từ chúng ta (5 uẩn). Do đó, nếu 5 uẩn đã không thì các pháp cũng không (không có giá trị gì).

(3) Hơn nữa, khi một pháp đã thực sự không thì tất cả thảy đều không. Nếu ngay 5 uẩn mà hết dính mắc, đã suốt qua thì suốt qua tất cả.

Ghi chú: Xem đầy đủ tại “Câu số 14: Bát Nhã nói bao nhiêu pháp đều không?" - Trong Phần 2 - Bát Nhã Qua Các Câu Hỏi.

Câu hỏi vận dụng, củng cố 2:

"Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã ba-la-mật-đa, Ngài soi thấy 5 uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách”, là khi nào? Lúc này Ngài đã thành Bồ-tát rồi hay đang trong quá trình tu tập, chưa thành?

Đáp:

1. Khái quát - xác định vấn đề

Giả sử đã thành Bồ-tát:

- Nếu đã thành Bồ-tát rồi, tức đã sống bằng Thực tướng Bát-nhã thì 5 uẩn tự không, khổ ách không còn, cho nên không cần soi thấy 5 uẩn đều không nữa.

- Giả sử thành Bồ-tát rồi và thuật lại kết quả như thế, thì đó là lực của bậc Đại sĩ siêu phàm, với phàm phu không có phần. Vậy thì làm sao chúng ta tu Bát Nhã?

Nếu chưa thành Bồ-tát:

- Nếu chưa thành, dù có soi thấy 5 uẩn đều không thì cũng qua được phần nào thôi, chứ không thể qua hết thảy khổ ách, bởi chưa chứng được Thực tướng Bát-nhã, chưa có diệu lực (như chúng ta hiện nay).

- Vậy thì (trong trường hợp chưa thành Bồ-tát), Ngài đã tu tập Bát Nhã như thế nào để thành tựu Thực tướng Bát-nhã, liền đó qua hết thảy khổ ách?

2. Sự thực

Nếu quý Ngài sinh ra đã là Phật, là Bồ-tát rồi, không phải phàm phu, không do tu mà đã thành, thì chúng ta là phàm phu, làm sao dám nghĩ tu hành thành đạo như quý Ngài được? Nếu không thành thì tu làm gì?

Nếu sanh ra đã là Phật và Bồ-tát thì ai ban cho mà thành liền, không trải qua tu tập? Không lẽ quả vị Phật và Bồ-tát mà ban cho được hay sao? Và nếu ban cho được thì ai là người có khả năng đó? Hoàn toàn vô lý.

Cho thấy, trước khi thành Phật, thành Bồ-tát, như quý Ngài cũng bắt đầu từ phàm phu như chúng ta để tu tập. Theo thời gian công phu tiến bộ dần. Trải qua vô lượng kiếp, công viên quả mãn mới thành đạo. Cụ thể:

Đây là nội dung đức Phật thuật lại để minh định kết quả tu tập Bát Nhã:

- Bồ-tát Quán Tự Tại, nhân tu tập Bát Nhã, mà đã đạt được như vậy.

- Trong quá trình còn dụng công, chưa đạt được 100%.

- Trải qua quá trình tu tập, đến khi thành tựu, chứng Thực tướng Bát-nhã, liền đó các khổ đều không.

Chúng ta hiện nay cũng noi gương Bồ-tát xưa kia khi còn tu tập:

- Tuy chưa qua hết khổ, nhưng khéo tu tập Bát Nhã, vẫn tiến bộ từng ngày.

- Rồi cũng sẽ đạt suốt Thực tướng Bát-nhã, liền đó tất cả khổ ách tự trừ, không còn.

3. Tóm lại

Qua các nghĩa lý trên cho thấy nghĩa của đoạn văn này, đức Phật muốn khẳng định rằng: Bồ-tát Quán Tự Tại, tu hạnh Bát-nhã ba-la-mật-đa, cho đến khi suốt qua 5 uẩn vốn không (đạt được Thực tướng Bát-nhã), ngay đó liền qua tất cả khổ ách".

Câu hỏi vận dụng, củng cố 3:

"Soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách", là quán chiếu bỏ năm uẩn để được không hay ngay năm uẩn mà vẫn được không?

Đáp:

Nói là bỏ năm uẩn hay ngay năm uẩn, đều chưa rời năm uẩn để hiểu biết, bàn nói, tức còn thấy biết theo tướng, là đã quên mình theo vật, là còn mê, cho nên chỉ qua được phần nào thôi, chứ chưa thể qua được hết thảy khổ ách.

Thực tiễn công phu, tùy vào căn cơ và việc dụng công, hạ thủ của mỗi hành giả, theo từng thời gian khác nhau mà giác ngộ “năm uẩn đều không” qua nhiều trình độ cao thấp, sâu cạn khác nhau. Ở đây tạm chia ra năm tầng bậc cơ bản để hành giả tự nhận biết công phu của mình và hướng tiến. Cụ thể:

(1) Phàm phu: Chấp năm uẩn cho là thật, cho nên chịu các khổ.

(2) Tu còn yếu: Cần soi thấy năm uẩn đều không để bớt dính chấp, bớt khổ.

(3) Tu đã có lực: Ngay năm uẩn liền không, bớt mê lầm, thông suốt diệu lý.

(4) Đã đạt ngộ: Thấy biết vượt Năng - Sở (2 bên): Sắc - Không đều như thị.

(5) Viên mãn: Tùy duyên hóa hiện, thị hiện. Như trăng trên trời chỉ có một, không tròn không khuyết, không động không tịnh. Nhưng tùy duyên hóa hiện vào muôn vàn dòng sông, chậu nước... Soi bóng vào đâu, bóng mặt trăng sẽ tùy theo đó mà hóa hiện tròn khuyết, yên lặng hoặc chao nghiêng... Nhưng trăng trên trời thì chỉ có thế, không dính dáng gì đến các tướng ấy. Diệu dụng của bậc tu hành viên mãn cũng tương tự, không thể nghĩ bàn.

Ghi chú:

- Xem thêm tại "Câu số 23: Người chứng được Thực tướng Bát-nhã, có quyền hủy hoại thân này hay không? Vì sao?" - Trong Phần 2 - Bát Nhã Qua Các Câu Hỏi.

- Và "Tiểu mục 2.1. Qua hết thảy khổ ách" - Trong Phần 3 - Thuyết Minh Biểu Đồ Tóm Kết Nội Dung Bát Nhã - Nhánh 2 - Mục 2: Đức dụng trong văn kinh Phật dạy.

Câu hỏi vận dụng, củng cố 4:

"Qua hết thảy khổ ách", là còn có khổ ách mà vẫn qua, hay đã sạch hết rồi?

Đáp:

Cho rằng có khổ ách mà vẫn qua hoặc không còn khổ ách mới là qua, thì thấy biết chưa vượt qua được hai tướng có và không. Tức chưa lìa cảnh, đồng nghĩa còn mê, thì khổ ách hãy còn.

Phải ngộ Thực tướng Bát-nhã, thì lúc này có khổ ách cùng với không có khổ ách đều bình thường, không động, không phải một, không phải khác, mới thực sự qua hết thảy khổ ách.

Ghi chú: Xem thêm tại "Câu số 24: 'Tướng không của các pháp' có liên hệ gì tâm mình mà khi đạt được thì qua hết thảy khổ ách?" - Trong Phần 2 - Bát Nhã Qua Các Câu Hỏi.

Chánh văn 2:

Này Xá Lợi Phất! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ tưởng hành thức cũng lại như thế.

Giải:

1. NHÌN NHẬN

Cần thấy rõ diệu lý "Sắc chẳng khác không... Sắc tức là không..." qua 2 trình độ:

(1) Chưa ngộ, còn trong quá trình tu tập, thì thấy như thế nào?

(2) Đã ngộ, sẽ bằng cái thấy biết như thế nào về diệu lý trên?

- Bởi chính đức Phật đã viên mãn Phật đạo, vẫn thấy như thế và dạy lại cho người sau. Chư Tổ, chư vị Thiền sư đã chứng ngộ, không lẽ quý Ngài không thấy như thế? Và nếu vậy thì quý Ngài thấy diệu lý trên khác với hành giả chưa ngộ, còn trong quá trình tu tập như thế nào?

→ Đây là gợi ý để đi vào phần chi tiết cụ thể dễ dàng nắm bắt hơn.

2. DIỆU LÝ

2.1. Sắc chẳng khác không... không tức là sắc

- Theo lo-gic văn kinh, chữ “không" ở đây là "Soi thấy năm uẩn đều không" ở lời mở đề (trong phần Giới thiệu vấn đề), tại đoạn Chánh văn l vừa nêu trên.

- Đến đây là phần Giải quyết vấn đề, nói rõ pháp tu: "Soi thấy năm uẩn đều không", cụ thể như thế nào?

→ Đó là: “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ tưởng hành thức cũng lại như thế”.

2.2. Thế nào là "Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc"?

Ghi chú: Xem đầy đủ tại "Câu số 27: Thế nào là 'Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc'?"- Trong Phần 2 - Bát Nhã Qua Các Câu Hỏi.

* Ở đây chỉ nhắc lại phần tóm tắt cơ bản:

Với người chưa ngộ, còn tu tập:

- Dùng trí tuệ soi thấy các pháp (là Sắc) thể tánh vốn Không → Đó là: “Sắc tức là Không”.

- Ngay Thể tánh không, nhưng duyên hợp thì tạm có (là Sắc) → Đó là: “Không tức là Sắc".

Với người đã đạt Thực tướng Bát-nhā: 

- Thấy biết vượt Căn - Trần, Năng - Sở, Có - Không... Cây gậy là cây gậy; không phải một, cũng không phải khác → Sẽ tự tỏ rõ: “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc", rành rành, vô tướng, bất tư nghì như thế.

2.3. Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế

Nghĩa là: Cũng như "sắc và không" vừa nêu trên. Cụ thể:

- Thọ, tưởng, hành, thức... hay bất kỳ tướng trạng gì khác, đều là thứ bị biết, là tướng trạng đang đối diện với mình, chứ không phải thật là mình.

→ Cho nên đều thuộc vô thường, sanh diệt; duyên hợp, hư dối.

→ Vì thế bản chất thuộc về huyễn hóa, tạm có, không thật.

- Biết huyễn liền lìa. Ngay đó tâm không, cảnh vắng lặng. Thực tướng Bát-nhã hiện tiền, các khổ ách tự trừ, tự tại giải thoát.

→ Đó là Bát Nhã muốn dạy: Thấy "5 uẩn và không" không hai, không phải một, cũng không phải khác. Liền đó, qua hết thảy khổ ách, được tự tai giải thoát.

* Tại sao lại nêu theo thứ lớp và trình độ lìa huyễn nhận chơn như vậy?

- Bởi đối với trình độ cao hơn như thế, là đốn ngộ hoặc trực nhận, thì ngay khi mới vào tựa đề kinh, hoặc đoạn văn mở đầu (vừa nghe ở trên), cả khi đức Phật chưa thăng tòa, liền đó ngộ thẳng Thực tướng Bát-nhã chứ không đợi đến đây.

- Và đã ngộ thì sống bằng tánh thể đó, thấy rõ huyễn chân mà tất cả đều vô tướng, thanh tịnh, đạt đến như huyễn tam-muội, diệu dụng linh thông chủ động, nhưng vẫn không động, bất khả tư nghì.

- Còn đối với hành giả chưa thể thẳng đó trực ngộ, đợi đến khi chỉ bày sắc không mới nhận thì sẽ đưa đến kết quả như vậy. Đồng thời, lực dụng cũng có giới hạn, không bằng quý vị trên. Khéo dụng tâm, theo thời gian sẽ tiến nữa, rồi cũng đạt đến rốt ráo.

- Tất cả điều này là do ấn nơi tự tâm mỗi người. Ngộ thế nào sẽ có diệu lực tương ứng đúng như vậy. Là do tâm ngộ, đưa đến trình độ như thế, chứ không phải do ai quy định cả.

Câu hỏi vận dụng, củng cố 5:

Đức Phật dạy: “Sắc chẳng khác không... sắc tức là không... Thọ tưởng hành thức cũng lại như thế", cơ bản có bao nhiêu trình độ thấy biết?

Đáp:

Qua lời đức Phật dạy, tựu trung có hai trình độ thấy biết căn bản:

(1) Chưa ngộ, còn trong quá trình dụng công tu tập:

- Tức là đề cập đến trình độ nhận hiểu ngang đây (ngang đoạn văn này).

- Thấy rõ năm uẩn huyễn hóa, không thật, khéo nhận lại Thực tướng Bát-nhã.

(2) Đã ngộ Thực tướng Bát-nhã:

- Tức là ngay vào đầu bài kinh, nghe đức Phật vừa tuyên nói, thẳng đó liền ngộ.

- Lúc này, thấy biết vượt Căn - Trần, Năng - Sở, Có - Không.

- Đối với 5 uẩn, tự lặng trong, sáng ngời, vô tướng, không phân biệt, bất tư nghì như thế.

Câu hỏi vận dụng, củng cố 6:

Đối với hành giả đã chứng ngộ, chuyển thức thành trí, không còn thọ, tưởng, hành, thức. Vậy thì lấy đâu để biết chúng một cách rành rành, rõ ràng, như thị, vô tướng và không phân biệt?

Đáp:

1. Phân tích - Xác định vấn đề 

- Thọ: Về mặt vật lý, khi thân này tiếp xúc trần cảnh, sẽ biết nóng, lạnh hoặc mát. Với hành giả chưa ngộ, sẽ phát sinh các cảm thọ, cụ thể như vừa lòng, tức "lạc thọ" do sự mát mẻ, dễ chịu... hay không vừa lòng, tức "khổ thọ" bởi sự nóng bức, khó chịu, trái ý nghịch lòng... kể cả khi cảm thấy bình thường, nhưng có sanh tâm bình thường thì vẫn có "không khổ không lạc thọ", từ chuyên môn gọi là “xả thọ".

Với hành giả đã ngộ thì thấy biết như thị, không sanh tâm, do đó không nằm trong ba thọ, tức thọ không còn.

- Tưởng: Là sự phân biệt đối đãi. Còn mê thì thấy biết theo sự phân biệt đối đãi, có tướng, còn nằm trong hai bên. Quý Ngài đã ngộ cũng thấy biết một cách rõ ràng đẹp xấu, nhơ sạch... nhưng không phân biệt, không có tướng trong tâm, cho nên tưởng không còn.

- Hành: Là những tâm niệm nhỏ nhiệm trôi chảy một cách liên tục miên man trong tâm. Khi chưa ngộ, vì thức mê còn, do đó dệt lên cái hành thành từng hàng, từng lớp. Nhưng với hành giả khi bất ngờ trở lại tự tánh (tức bừng ngộ) thì hành dứt bặt, không còn.

- Thức: Có hai phần, phần nổi cũng giống như tưởng, nhưng vi tế hơn tưởng; phần chìm 1à “căn để” của mê khiến có ra tất cả tướng trạng kể trên. Nếu chỉ mới thầm nhận bản tâm hoặc giải ngộ thì thức này chập chờn, khi còn khi mất. Mà vì còn nên mới nói rằng là có, nhưng đối với trình độ này đã được sự Thuần tịnh nên thức lặng trong, hoặc biến hiện qua các tướng trạng thù diệu. Với quý Ngài đại ngộ, chứng ngộ thì thức dứt bặt, không còn. Lúc này, thọ tưởng hành thức không có cơ hội để tồn tại, tức không có.

Câu hỏi đặt ra ở đây là: Đối với quý Ngài đã ngộ, không còn thọ, tưởng, hành, thức thì lấy đâu để biết rằng chúng cũng như “Sắc" đã nói ở trước (tức thọ tưởng hành thức chẳng khác không, không chẳng khác thọ tưởng hành thức..)?

2. Gợi ý trả lời

Khi chưa chứng ngộ, quý Ngài cũng có 5 uẩn. Lúc đã chứng ngộ, 5 uẩn sạch trong, nhưng chẳng phải quên, không biết chúng. Hơn nữa, chúng sanh đang sống bằng 5 uẩn, quý Ngài biết rõ. Điển hình:

- Chính đức Phật đã viên mãn Phật đạo, vẫn biết rõ như thế và dạy lại cho người sau.

- Chư Tổ, chư vị Thiền sư đã chứng ngộ, quý Ngài cũng thấy rõ như thế, cho nên khéo léo đập tan xiềng xích, chỉ bày Thực tướng Bát-nhã cho học nhơn.

- Điển hình:

Ngài Quy Sơn hỏi Ngài Ngưỡng Sơn:

- Chúng sanh ở trên quả đất nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa, ông làm sao biết họ có hay không có?

Tức chúng sanh đang sống trong nghiệp thức mơ màng. Tuy hành động, nói năng, có tri thức như vậy... nhưng đang trôi nổi mênh mang trong thức mê mà không tự hay biết (không gốc có thể tựa). Cứ ngỡ tư duy, hiểu biết, hành động là mình, nhưng thực ra tất cả chỉ là những động đang ở trong nghiệp thức vô định như một khối sương mù bao phủ. Ngài Quy Sơn hỏi Ngài Ngưỡng Sơn có kinh nghiệm gì để đập phá cái xiềng xích ấy.

Sư thưa: - Huệ Tịch con có chỗ kinh nghiệm.

Khi ấy có vị Tăng đi qua trước mặt, Sư gọi: "Xà lê!", Tăng xoay đầu lại.

Sư thưa: - Bạch Hòa thượng, cái ấy là nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa.

Nghe gọi liền biết, mà không nhận thẳng cái biết chưa qua phân biệt. Tuy quay đầu lại, nhưng không ngộ tự tánh thì vẫn ở trong nghiệp thức mênh mang không nơi nương tựa.

Cũng cái gọi đó, nếu vị Tăng công phu chín muồi, gặp thêm Ngài Ngưỡng Sơn điểm phá, ắt hẳn đã bất ngờ à ra, thức mê dứt bặt, tánh chợt hiện tiền.

Rõ ràng quý Ngài biết rõ, thấy rõ mới có thể tùy duyên lưu xuất cơ dụng, thình lình điểm phá, đập tan xiềng xích nhằm khai thị cho học nhơn. Ngài Ngưỡng Sơn đã vẹt mây mù nghiệp thức rõ ràng như thế nên Tổ Quy Sơn khen:

- Đây là một giọt sữa sư tử, làm tan sáu đấu sữa lừa.

3. Tóm kết

Khi hành giả đã chứng ngộ, chuyển thức thành trí, không còn thọ, tưởng, hành, thức, nhưng vẫn biết chúng và thấy biết tất cả một cách rành rành, rõ ràng, như thị, vô tướng, không phân biệt, bất khả tư nghì.

Chánh văn 3:

Này Xá Lợi Phất! Tướng không của các pháp không sanh, không diệt; không nhơ, không sạch; không thêm, không bớt. 

Giải:

1. NHÌN NHẬN CHUNG VỀ "TƯỚNG KHÔNG CỦA CÁC PHÁP" TRONG ĐOẠN VĂN

Tuớng không của các pháp có phải thấy các pháp là huyễn hóa hay không?

Nếu đúng như vậy thì không nhơ, không sạch. Nhưng tại sao trên thực tế chúng ta vẫn không chịu nổi những thứ quá thối?

→ Là bởi tâm mình chưa chịu được.

→ Mới thấy các pháp tuy ở bên ngoài, nhưng chúng ta lại bị chi phối, ảnh hưởng. Do đó. đức Phật nói cho chúng ta biết để thoát ra khỏi sự chi phối đó.

Cho nên, đầu tiên cần đi đến thống nhất rằng: “Phải biết dụng nơi tâm mình thì mới thông tất cả”.

Tức là không phải nghe nói "tướng không của các pháp" thì liền lao ra can thiệp trên các pháp, cho các cảnh duyên bên ngoài là huyễn hóa, không thật... Như vậy chỉ là can thiệp trên cảnh chứ chưa thấu suốt diệu lý Bát Nhã, sẽ không có chút sức sống thực sự nào giúp chúng ta thoát khỏi khổ đau.

Cho thấy, không dừng kẹt ở chỗ thơm hay thối, mà muốn có trí tuệ thấy biết rốt ráo, có lực để vượt qua tất cả sự chi phối và khổ đau thì phải biết dụng nơi tâm, khéo nhận lại Tánh thể Bát-nhã.

Sống bằng tánh thể này, vừa có trí thấy biết như huyễn, vừa có định không động. Định và tuệ này như hai đức dụng đồng thời trên Tánh thể Bát-nhã, cho hành giả thấy biết lẽ thật như huyễn, nhưng tất cả tự lặng trong. Tánh tự trong lặng này rất linh thông, tự tại, tùy thời vận dụng chứ không phải có tướng lặng yên của tâm để kęt vào cơ cảnh.

Điển hình, khi gặp những trường hợp mất vệ sinh (như thực phẩm bảo quản không tốt, bốc mùi chẳng hạn) thì phải xử lý như thế nào?

o Nếu dùng đến thì gây bệnh, không có trí tuệ. 

o Còn lựa ra thì còn phân biệt, chấp thật.

Vậy, Trí tuệ Bát-nhã sẽ thấy thế nào về việc này?

→ Nếu không sống bằng Trí tuệ Bát-nhã lặng sáng để thấy biết thì lúc này tất cả chỉ là can thiệp trên thơm và thối, hợp vệ sinh hay mất vệ sinh, sẽ kẹt hai bên, đã rơi vào tướng nên lúng túng, không giải quyết được.

→ Hỏi ngược lại: Có nhất thiết hễ lựa ra hay làm một cách đàng hoàng, hợp vệ sinh… là phân biệt và chấp thật hay không? Hoặc hễ ngộ rồi, thấy các pháp không nhơ không sạch thì cái gì cũng ăn được, không quan tâm nhơ sạch hay không? Hay có cố định phải phân biệt và chấp thật mới lựa ra được chất dơ - đồ sạch hay không?

→ Đã sáng trí này thì vẫn biết nhơ sạch một cách rõ ràng hơn cả ý thức phân biệt của lúc còn mê; biết nên làm gì là thích hợp, nhưng vẫn bất động, vô phân biệt; biết giữ vệ sinh nhưng vẫn vô tướng, không trú trước. Đó mới là khéo sống bằng Trí tuệ Bát-nhã.

2. KHÁI QUÁT CỤM TỪ "TƯỚNG KHÔNG"

Khi còn mê, nếu hiểu theo các nghĩa lý (tức đã theo tướng) thì sẽ bị ngăn ngại, giới hạn. Cho nên, khi nắm bắt được nghĩa lý này thì sẽ bỏ sót, rơi rớt một số nghĩa lý khác. Do dó, không thể thông suốt diệu lý Bát Nhã.

Điển hình: Khi nói Bát Nhã, đức Phật nói "tướng không của các pháp" tức các pháp Tự tánh không, là huyễn hóa, không thật. Nhưng nếu chỉ dừng ngang đó thì vẫn chưa giải quyết được sự giác ngộ cho chúng ta (trong ta vẫn còn mê lầm, loạn động và đau khổ). Từ sự thật đó, cần đặt lại vấn đề tu học của mình. Cụ thể với nội dung này, muốn suốt thông diệu lý để ứng dụng thấu tột diệu chỉ, cốt lõi thì phải khéo nhận ra: Tại sao đức Phật nói như vậy?

Có thể thấy, đó mới là phần triển khai. Để cuối cùng Ngài quy về chỗ "khi sạch tất cả" (vi không có chỗ được) thì trở lại Tánh thể Bát-nhã (y theo Bát-nhã ba-la-mật-đa), sẽ không ngăn ngại, không sợ hãi, điên đảo mộng tưởng dứt sạch, chư Phật ba đời cùng từ trong đó mà thành đạo. Cho nên, nói tướng không là để trở lại tánh mình. Lúc này, tức tướng tức tánh, tánh và tướng không hai, tất cả như thị hiện tiền, mới rõ bài kệ trong Kinh Pháp Hoa đức Phật dạy: "Chư pháp tùng bản lai, thường tự tịch diệt tướng" (Các pháp từ xưa nay, Tướng thường tự vắng lặng).

Nhưng nếu chỉ nghe đoạn đầu "tướng không của các pháp" rồi bám vào và nhớ ngay chỗ đó. Tiếp theo, nghe đoạn rốt sau là diệu nghĩa rốt ráo "trùng trùng các pháp vẫn như thị" giống như Kinh Pháp Hoa đức Phật dạy, rồi cũng chỉ chụp lấy ngay chỗ đó và ghi nhớ. Thấy chỗ nào hay thì nhớ nên chỉ nhớ đoạn đầu và đoạn đuôi, đoạn giữa thì không nhớ nên không suốt thông, sanh nghi ngờ. Không biết được "tướng không của các pháp" có liên hệ như thế nào với diệu chỉ rốt ráo là "các pháp từ xưa nay tướng tuy rằng có sanh diệt mà vẫn chưa từng sanh diệt bao giờ, tìm tướng đến đi không có".

Tuy rằng, từ khởi đầu, đến đoạn giữa, và cuối cùng là đoạn rốt ráo đã được nghe giảng, được học rất đầy đủ, nhưng vì chưa ở vào trí tuệ vô tướng lặng trong để cùng một lúc tự trí tánh ấy thấy biết tất cả một cách rành rẽ rõ ràng, nhưng vẫn vô tướng, không phải phân biệt (trí thấy biết tổng trì), cho nên chỉ biết nghĩa lý đầu, diệu chỉ rốt sau mà mất đi diệu lý khoảng giữa. Do đó, không sáng ra được, không thấu suốt được diệu chỉ Bát Nhã, để rồi sanh ra các sai lầm trong công phu. 

Cụ thể: Tuy biết các pháp là huyễn hóa, không thật, biết rằng tự tánh mình vốn không nên các pháp lặng trong, nhưng chưa khéo thể nhập vì vậy thầm thầm vẫn thấy có một cái tướng không các pháp là huyễn hóa (thấy hiểu trên nghĩa lý huyễn hóa), thấy có một Tự tánh không để trở về, để rồi sống trong tánh đó sẽ thấy các pháp trùng trùng mà vẫn không động. Thực tâm kiểm chứng lại thì vẫn còn thấy có Tự tánh không để gìn giữ, trong ấy vẫn còn tướng của pháp được gọi là lặng trong và đang thấy biết nó như vậy cho nên chưa phải điền địa này. Đây cũng chỉ là kiến thức học hiểu, gom góp chứ thực ra không phải như vậy.

Hành giả đã ngộ thì bặt dứt trong ngoài, làm gì có cái thấy tánh tướng khác mà phải nhọc nhằn cố dung nhiếp? Tức tướng tức tánh; ngay tất cả tướng, tánh này bàng bạc, trùm khắp, không thiếu vắng. Nếu chưa như thế, thì phải khéo tu, tức suốt tột các pháp là huyễn hóa, đừng dính chấp, trả lại tánh mình, cũng đừng thấy có một tự tánh để bám giữ thì trong ngoài nhất như; liền đó tất cả hiện tiền.

Đó là khó khăn của người học khi còn mê, hiểu theo các tướng thì bắt buộc sẽ bỏ sót, rơi rớt một số nghĩa lý. Đó là lý do khiến không thể suốt thông diệu lý Bát Nhã.

Ngược lại: Khéo dụng dụng tâm, không chú tâm theo bất kỳ nghĩa lý nào, cũng chẳng phải bỏ qua hay phớt lờ đi, hoặc khởi tâm để mặc tình, mặc kệ. Chỉ là trở lại tự tánh lặng mà sáng biết; trong ấy vốn tự không động, sáng ngời, biết khắp, thấu suốt tổng trì tất cả nghĩa lý đồng thời cùng một lúc mà vẫn không tướng phân biệt. Lúc này sẽ tự suốt thông diệu lý Bát Nhã.

Nếu chưa được như thế, muốn biết nghĩa lý tướng không này một cách tương đối đầy đủ thì có thể xem lại các nội dung đã nêu, cụ thể trong Phần 2 - Bát Nhã Qua Các Câu Hỏi - Câu số 9: Nói "Tướng không" Bát-nhã là đúng, hay “Tánh không" mới đúng? và Câu số 24: "Tướng không của các pháp" có liên hệ gì tâm mình mà khi đạt được thì qua hết thảy khổ ách?

Ở đoạn chánh văn này, trước hết cần khái quát cụm từ "Tướng không", mà cụ thể là bằng cách xâu chuỗi, đúc kết lại những nội dung đã học ở những bài trước có liên quan đến diệu lý này.

2.1. Thấy rõ bằng sự thật, thực tế

Các pháp từ tâm. Do đó, phải y cứ vào tâm để hàng phục tâm. Bởi nói các pháp vốn không huyễn hóa... thì cốt cũng để hàng phục tâm này. Nếu không như thế, dù hiểu đến đâu vẫn là việc bên ngoài, trong khi tâm vẫn còn loạn động, dính mắc, chấp trước, bị chi phối và đau khổ y nguyên thì cũng chẳng ích gì. 

Với nghĩa lý này, tựu trung có các trình độ:

(1) Chưa ngộ: Thấy rõ các pháp vốn huyễn hóa để trừ dính mắc và khéo nhận tự tánh.

(2) Thầm nhận: Khéo sống bằng tự tánh, các pháp vốn tự lặng trong.

(3) Đã ngộ: Thấy biết như thị, tự tại. Thấy rõ các pháp vốn không, nhưng không nằm trong không và có, huyễn hay thật, mà hay tùy thời hiện bày hoặc dẹp đi tất cả, diệu dụng bất khả tư nghì.

2.2. Thấy rõ qua quá trình tu tập

Tuy biết các pháp huyễn, nhưng phải thảy rõ cả quy trình để dụng công tu tập. Tức phải thấy rõ đích đến là gì và lộ trình bắt đầu từ đâu; đồng thời phải thông suốt toàn bộ từ khi khải phát tu hành, xuyên suốt thông đạt đến đích, chứ không chỉ nhìn vào một phần nào đó.

Cụ thể, ngang đoạn vẫn đang học đây, giới hạn trong phạm vi của người chưa ngộ, áp dụng để dụng công tu tập: 

o Đích đến: Phải ngộ Thực tướng Bát-nhã. 

o Lộ trình: Áp dụng lời Phật dạy để tu tập. Cụ thể là áp dụng lời dạy về "Tướng không của các pháp" trong đoạn văn để đạt Thực tướng Bát-nhã.

Vậy áp dụng như thế nào để đi đúng và đạt đến đích? Hãy xem cả một quy trình bên dưới, không dừng hay kẹt ở bất kỳ một điểm nào.

(1) Tướng không các pháp

Nghĩa là tự tánh các pháp vốn “không”, rỗng tuếch, huyễn hóa, không thật. Do tâm dính chấp, cho nên thành "có", thành rắc rối, đưa đến khổ đau. Do đó, đức Phật nói rõ cho chúng ta biết rằng, các pháp vốn không có giá trị thực, để không lầm chấp.

(2) Tự tánh không

Tánh mình vốn rỗng rang (không). Nhưng do mê tự tánh, chấp các pháp thật, cho nên phan duyên, sanh tâm, trở thành "có". Do đó, đức Phật dạy các pháp vốn không để dừng phan duyên, dứt dính mắc, liền đó trở lại tự tánh. 

(3) Tu hành cốt yếu khéo nhận bản tâm

Vây, nhận trên "tướng không của các pháp” hay "xoay trở lại bản tâm"?

Cả hai đều là tạo tác (có làm gì đó, tu như thế nào đó), vô tình tạo nên dấu vết, tức đã vụng về trong tự tánh vốn vô tướng. Đồng nghĩa đã thành pháp “có, không khế bản tâm, cho nên sẽ khó ngộ.

(4) Cách đi đến đích

Chỉ là dùng Trí tuệ Bát-nhã thấu tột các pháp vốn không, vẫn vô tướng, không động và không khởi phân biệt. Liền đó, tất cả trong lặng, trở lại bản tâm chính mình. Như vậy là đã về đúng đích.

Đó là trọng tâm diệu lý “Tướng không” trong Bát Nhã. Ở đây chỉ nói rõ về quá trình tu tập cho người còn mê, chưa ngộ. Còn phần trực nhận, đạt ngộ đã nêu tại mục “2.1. Thấy rõ bằng sự thật, thực tế" ở trên.

Tóm lại:

Khi nghe nói đến "Tướng không của các pháp", chúng ta phải thấy rõ lo-gic cả một quy trình từ khi bắt đầu cho đến đích đến, biết rõ để không dừng kẹt vào bất cứ điểm nào thì dụng công mới suốt thông, không sai lạc.

2.3. Nói thẳng công phu tu tập

Dùng trí tuệ lặng sáng thấu tột vọng tưởng và các pháp đều huyễn. Cụ thể:

o Không phải biết theo, biết về vọng hoặc các pháp (bặt ngoài). Bởi không biết về, biết theo mà tánh vẫn đang lặng trong - tự sáng biết thì bên ngoài, tuy các pháp đang có và vận hành, vẫn vắng lặng.

o Không khởi tâm tạo tác xoay lại bên trong tâm (dứt trong). Tâm đang hiển hiện, nhưng chẳng phải tạo tác gì thêm để nhận lại, mà tánh tự sáng biết, rạng ngời; chỉ là khéo thầm nhận, thầm khế hợp.

→ Như thế, Trong - Ngoài vắng bặt, suốt thông, Tánh thế Bát-nhã toàn bày, thênh thang, trùm khắp.

3. NỘI DUNG CHÁNH VĂN

Đây là nói rõ tính chất trong “Tướng không" ấy (tức là tướng không đã nêu ở trên: Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc... Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế) như thế nào. Ở đây, cơ bản có 2 trình độ trí tuệ để thấy biết, cụ thể:

3.1. Trí tuệ thấy biết lo-gic, liên kết từ đầu bài kinh

Tức là nói thẳng "Tướng không" tại ngữ cảnh này (đúng vị trí trong văn kinh), không phải chỉ nhìn vào một nghĩa lý này, mà phải thấy suốt cả một quy trình từ khi đức Phật nói tựa Kinh, cho đến ngang đoạn văn này, để cuối cùng đạt đến đích nào:

Đoạn 1: Mở đầu bài kinh

Khi dùng Trí tuệ Bát-nhã soi thấy 5 uẩn đều không, ngay đó tự lìa, tâm trở nên lặng trong, nhận lại tánh thể. Lúc này các khổ theo đó cũng lặng trong.

Đoạn 2: Triển khai, nói rõ pháp Chiếu kiến

Cụ thể: "Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ tưởng hành thức cũng lại như thế." Tức là tỏ rõ sự huyễn hoá, bỗng tự lìa, tâm tự lặng trong, nhận Tánh thể Bát-nhã.

Nhận rồi, cũng thấy ra rất rõ “Sắc chẳng khác không... không tức là sắc. Thọ tưởng hành thức cũng lại như thế" rành mạch, rõ ràng, nhưng vô tướng, vô phân biệt, không động như thế.

Đúc kết

Qua hai đoạn trên, cho thấy "Tướng không" ở đây (tại ngữ cảnh này) chính là rõ các pháp tự tánh vốn không. Liền đó, tâm tánh trở nên rỗng rang, lặng trong.

o Người đã ngộ cũng thấy rõ “Tướng không" nhưng vô niệm. Thấy biết rõ ràng, vẫn không sanh khởi.

o Hành giả chưa ngộ, nghe đức Phật dạy, cũng thấy rõ "Tướng không" các pháp để tu hành. Nhưng khác ở chỗ là tâm còn động niệm, còn sanh khởi để thấy biết. 

Cho nên, đã ngộ hay chưa ngộ cũng đều thấy rõ "Tướng không" của các pháp "không sanh, không diệt... " như thế. (Sẽ nói rõ ý nghĩa tại phần kế tiếp dưới.)

Rõ biết như vậy thì lúc này: Tức tướng, tức tánh, tánh tướng không hai. Do đó, Tướng không cũng chính là Tánh không. Không phải một, cũng chẳng phải khác. Lúc này, Không và Sắc; Không và Thọ, tưởng, hành, thức... tất cả tự hiển hiện sáng ngời như thế.

Tóm lại

Đừng khởi suy nghĩ, sẽ không thể hiểu. Chỉ là hay sạch hết tất cả, trở lại tánh mình thì tất cả tự hiển hiện. Trong ấy: "Không sanh, không diệt, không nhơ sạch... không có chỗ được."

3.2. Nhận hiểu ngang đoạn văn này

Tức là nói đến trình độ ngang đoạn văn này mới hiểu thông hoặc thể nhận. Cụ thể:

Văn kinh: "Tướng không của các pháp không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch; không thêm, không bớt".

Các pháp: Chỉ cho tất cả những gì có hình tướng (đều huyễn hóa tức là không).

Tướng không của các pháp: Là pháp giới tánh vốn không (đã nêu trên).

Không sanh, không diệt:

Hiện tướng của các pháp dù có sanh diệt, nhưng Tướng không của các pháp (Pháp giới tánh) thì không sanh không diệt, không tướng đến đi bao giờ.

Tỏ suốt tột cùng như thế sẽ tiến sâu hơn, thể nhập Pháp giới tánh. Sẽ hay ra: Tức tướng - Tức tánh, Tướng không cũng chính là Tự tánh không, Tánh tướng thường trụ, không sanh không diệt, không nhơ không sạch, không thêm không bớt… 

Không nhơ, không sạch

Bởi vì sống bằng Tự tánh không thì các pháp trở nên trong lặng, Từ diệu lực tự tánh thì tất cả chỉ là sự hiện hữu, rõ ràng.

Như thế các pháp dù có nhơ sạch khác nhau, nhưng khi tâm đã tịch tịnh thì sạch nhơ cũng thanh tịnh, như thị (tâm tịnh thì quốc độ tịnh).

Không thêm, không bớt

Có tướng mạo, tức sẽ có giới hạn lớn nhỏ, thì mới có thể thêm và bớt. Nếu có thêm và bớt tức là còn trong loạn động sanh diệt, còn giới hạn nhỏ nhoi, không phải tánh này.

Hơn nữa, nếu có phân biệt mới có lớn nhỏ, hơn thiệt, thêm bớt. Nhưng Thể tánh không của các pháp vốn không tướng mạo, không sanh diệt. Tâm tánh chúng ta cũng vô phân biệt mà liễu biệt rõ ràng, không thêm, không bớt.

Cụ thể, như trên đã nói: Hoặc trực ngộ; hoặc khéo tu rồi ngộ. Đã ngộ rồi thì lúc này: Tức tướng - Tức tánh, Tướng không cũng chính là Tánh không, không còn phân biệt trong ngoài, đây kia. Do vậy: Tướng không các pháp cũng chính là Tánh không chúng ta. Không phải có cái Tướng không này, đồng với Tánh không kia, mà khi tỏ suốt các pháp là huyễn, tâm trở nên vắng lặng, rỗng rang, Tâm không - Cảnh tịch, tất cả như thị, vượt thoát Căn - Cảnh, Trong - Ngoài, hai bên, do đó "không thêm, không bớt".

Cho nên nói: "Không sanh, không diệt; không nhơ, không sạch; không thêm, không bớt" là như thế.

3.3. Tóm lại

Chưa ngộ, còn dụng công tu tập

o Thấy rõ các pháp: "Không sanh, không diệt", tức thấy biết các pháp, tâm không sanh khởi thêm, cũng không có tâm muốn đoạn dứt (không rơi vào tạo tác, hai bên).

o "Không nhơ, không sạch": Biết rõ nhơ sạch không thật, không phân biệt mà rõ biết và làm tốt tất cả (làm thiện, nhưng không rơi vào tướng).

o "Không thêm, không bớt": Đừng sanh khởi thêm, bặt vết, sáng ngời.

Đã ngộ (ngay từ đầu nghe Phật khai thị, liền ngộ nhập)

o Thấy biết như thị, vượt Căn - Cảnh, Năng - Sở, linh thông, tự tại, không phân biệt.

o Thấy rõ tất cả các pháp: “Không sanh, không diệt; không nhơ, không sạch; không thêm, không bớt", vốn tự sáng ngời, rõ ràng, vô phân biệt như thế.

Chánh văn 4:

Cho nên trong tướng không, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức. Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới.

Giải:

1. TỔNG QUÁT

Đầu tiên, ôn lại một cách tổng quát trọng tâm diệu nghĩa đã nói ở trên. Cụ thể:

Tướng không: Chính là “Tướng không của các pháp" vừa nêu trên (theo lo-gic văn kinh). Cụ thể, như trước đã nói rõ: Tướng không ở đây cũng là Tánh không, bởi thấy biết lúc này: Tức tướng - Tức tánh.

Có 2 trình độ căn bản (như đoạn trước đã nói):

(1) Đã ngộ từ đoạn khai thị đầu: Lúc này thấy biết tất cả rõ ràng, lặng trong, vô tướng, không phân biệt.

(2) Còn trong quá trình tu tập (tức đến ngang đoạn văn này mới nhận hiểu, tu tập): Biết các pháp là huyễn, khéo nhận lại tánh thể. Lúc này cũng sẽ thấy biết tất cả như trình độ 1 - đã ngộ ở trên.

2. CHI TIẾT TỪNG PHẦN

2.1. Cụ thể về các pháp trong đoạn văn

Các pháp ở đây: Đức Phật nói cụ thể về các tướng liên quan bản thân mình.

o Không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức: Tức không có năm uẩn.

o Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý: Tức không có sáu căn.

o Không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp: Tức không có sáu trần.

o Không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới: Tức không có sáu thức. 

o Sáu căn, sáu trần. sáu thức: Tức 18 giới đều rỗng rang.

2.2. Hai trình độ thấy biết

(1) Đã ngộ từ đoạn khai thị đầu: Hành giả sẽ thấy ra các pháp đức Phật nêu trên mỗi mỗi rành mạch, rõ ràng, lặng trong, vô tướng, sáng ngời, không phân biệt. Lúc này:

Năm uẩn: Rỗng rang, trong lặng. Cụ thể: 

- Khi đã đạt ngộ, tuy thọ, tưởng, hành, thức không còn, nhưng quý Ngài có biết ngay bản thân lúc chưa ngộ đã từng có thọ, tưởng, hành, thức ra sao, không quên và cũng biết nơi tất cả chúng sanh đang sống bằng 5 uẩn đó như thế nào.

- Tuy nhớ và biết rất rõ, nhưng rỗng rang, vô tướng, trong lặng, sáng ngời như thế. (Đã nói rõ tại câu hỏi củng cố trên.)

Sáu căn, sáu trần: Mỗi mỗi rõ ràng nhưng như thị, tự tại, vượt thoát căn và cảnh.

Sáu thức (18 giới): Căn cảnh rõ ràng, nhưng cảnh không đến căn, căn không đến cảnh, thức dứt bặt, thấy biết như thị, rỗng rang, trong lặng, sáng ngời như thế.

(2) Còn trong quá trình tu tập: Biết các pháp là huyễn, khéo nhận lại tánh thể. Lúc này cũng sẽ thấy biết tất cả như hành giả đã đạt ngộ. Cụ thể:

Nghe lời Phật dạy, dùng trí tuệ thấu tột: Năm uẩn, sáu căn, sáu trần, sáu thức đều huyễn hóa.

Không dính mắc (không lấy, không bỏ, không can thiệp, không mặc kệ...), khéo nhận lại tự tánh: Lúc này, Căn - Trần - Thức tất cả trở nên vắng lặng, không tịch.

2.3. Tóm lại

Với căn cơ đã ngộ, quý Ngài đã biết, không phải bàn nhiều.

Theo cái thấy còn trong quá trình dụng công tu tập thì đoạn này là phá dính chấp nơi thân, tâm, sáu căn, sáu trần, sáu thức. Cụ thể:

- Phá chấp về ngã (ta) và ngã sở (của ta: tiền bạc, danh vọng...).

- Ngã và ngã sở đã không thì tất cả toàn rỗng rang, không còn gì chi phối.

- Lúc này, tâm trở nên không tịch, cảnh theo đó cũng vắng lặng. Tâm không - Cảnh tịch, thấy biết như thị, vượt năng sở.

- Từ đó, các pháp vốn tự vắng bặt như thế; không nói giả, không nói chơn...

- Cũng vậy: 5 uẩn, 6 căn, 6 trần, 6 thức (18 giới) đều không tịch.

- Như vậy, tâm ta cùng pháp giới tánh vốn đồng. Không phải có một tâm này đồng với một tánh pháp giới kia, mà khi trong ngoài rỗng suốt thì tự bàng bạc, thênh thang như thế, tạm gọi là đồng. Lúc này, thấy biết như thị tự tại, tất cả đều rỗng lặng, không tịch. (Đã nói rõ đủ trong Phần 2 - Bát Nhã Qua Các Câu Hỏi.)

Câu hỏi vận dụng, củng cố 7:

Khi 6 căn tiếp xúc 6 trần, phát sanh thức hiểu biết (6 thức), thành 18 giới. Nhưng với hành giả đã đạt ngộ, thức đã dứt bặt, không còn. Do đó, căn tiếp xúc với trần chỉ là liễu biệt rõ ràng chứ không phải sự nhận biết nhờ phân biệt của ý thức như lúc còn mê. Vậy thì lấy 6 thức ở đâu ra để cho rằng "hành giả đạt ngộ thấy rõ 18 giới đều rỗng rang, thanh tịnh"?

Đáp:

Tuy thức đã dứt bặt, không còn, nhưng quý Ngài vẫn biết lúc mình chưa ngộ, thức phân biệt được sanh ra khi tiếp xúc trần cảnh một cách sâu kín như thế nào (hơn cả lúc còn mê). Đồng thời, chúng sanh đang mê, 18 giới tồn tại ra sao, quý Ngài biết rõ.

Tuy nhiên, do đã ngộ tánh, từ tự tánh lưu xuất diệu dụng thấy biết, cho nên trí biết tất cả đều vô tướng, rỗng rang, sáng ngời, thanh tịnh (nhất thiết trí trí thanh tịnh). Do vậy, 18 giới vắng bặt, thanh tịnh.

Chánh văn 5:

Không có vô minh cũng không có hết vô minh.

Giải:

1. ĐÃ NGỘ TỪ ĐOẠN KHAI THỊ ĐẦU

Lúc này, sẽ hay ra Thể tánh Bát-nhã vốn tự sẵn sáng như vậy, tự nó vốn không hề có bóng dáng của vô minh. Không phải nhờ hết vô minh mới sáng. Do đó, đức Phật nói: "Không có vô minh, cũng không có hết vô minh".

Trong ấy không nhờ tu mới sáng. Khi tu, tỏ sáng bản tâm thì cái thầm thầm cho là "hết vô minh" cũng bặt.

2. CÒN TRONG QUÁ TRÌNH TU TẬP

Nhờ học hiểu, rõ biết Tánh thể Bát-nhã vốn sẵn như vậy, nên khi dụng công, khéo hạ thủ sao cho khế hợp tự tánh vô sanh mới có lúc tánh này bừng ngộ. Cụ thể:

- Không phải chấp nhận sống trong mê lầm, vô minh, chấp trước.

- Cũng không mong chờ hết vô minh, hay trừ dẹp vô minh để sáng tâm.

→ Mà chỉ là khéo lặng an, sáng biết rõ ràng, bặt dứt hai niệm "vô minh và hết vô minh" (bặt tất cả niệm lự), liền đó trở lại tự tánh giác sáng.

Ghi chú: Xem đầy đủ tại “Câu số 12: Vì sao nói: 'Không có Vô minh cũng không có hết vô minh'?" - Trong Phần 2 - Bát Nhã Qua Các Câu Hỏi.

Chánh văn 6:

Cho đến không có già chết cũng không có hết già chết (12 nhân duyên). Không có khổ tập diệt đạo (Tứ đế).

Giải:

1. TỔNG QUAN

Các pháp trong đoạn văn này thầm chỉ cho bao gồm giáo pháp mà đức Phật đã dạy. Cụ thể:

Không có vô minh... cũng không có hết già chết: tức là 12 nhân duyên (gồm cả chiều Lưu chuyển và chiều Hoàn diệt) cũng Không. Ở đây, nói sơ qua về 12 nhân duyên:

o Cái nhìn căn bản 

12 nhân duyên gồm có: "Vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử". Đây là thấy theo chiều Lưu chuyển. Nếu bị cuốn theo chiều này, sẽ trôi lăn trong sanh tử, chịu các khổ đau. Người tu Phật quán theo chiều Hoàn diệt để giải thoát sanh tử: "Vô minh diệt tức hành diệt, hành diệt tức thức diệt… sanh diệt tức lão tử diệt". Cụ thể trong công phu, chỉ cần phá bất kỳ một mắt xích nào đó trong 12 mắt xích thì toàn bộ chuỗi 12 nhân duyên tự cắt đứt (dứt sanh tử). Nếu đề cập đến phá vô minh thì rất khó tìm ra "căn để" của nó để dứt trừ tận gốc (bởi chúng ta đang bị vô minh bao phủ và mịt mờ trong ấy). Cho nên, một thực tế là thường ngay ở "ái, thủ, hữu" để tu tập và đoạn trừ.

Nhưng cũng bởi chia chẻ ra từng phần như vậy, đồng thời có can thiệp trên nó để đoạn trừ, cho nên chỉ giải quyết được bề nổi, phần thô; do vậy giải quyết mãi cũng không rồi. Tất cả chỉ vì chưa khéo vận dụng Trí tuệ Bát-nhã.

o Vậy, Trí tuệ Bát-nhã chiếu phá như thế nào?

Hành giả lanh lợi, trực nhận Trí tánh Bát-nhã, liền đó tất thảy toàn không. Mỗi mỗi lặng trong, sáng ngời, 12 nhân duyên cũng như thế.

Nếu còn trong quá trình tu tập, cần thấy thẳng sự thật. Cụ thể: Cuộc sống là sự vận hành, tiếp xúc... nhưng nếu quên chân tâm mà phan duyên, can thiệp trên cảnh để thấy biết thì thức liền sanh khởi. Lúc này, thức mê tự nó dính nhiễm. Sanh tử khổ đau cũng từ đó có ra.

Bằng Trí tuệ Bát-nhã đức Phật đã dạy, biết tất cả pháp là huyễn, liền đó tự lìa, trả lại Tánh thể Bát-nhã chính mình. Lúc này, vẫn sống, vận hành và tiếp xúc... nhưng không phải biết về hay biết theo mà tánh tự sáng biết, cho nên không phải phan duyên, không can thiệp trên cảnh. Do đó, thức mê không sanh khởi, thọ cũng không có, thì làm gì có ái, thủ, hữu... Vì vậy, 12 nhân duyên cũng không còn; 12 mắt xích đưa chúng sanh vào luân hồi đã bị cắt đứt, rơi rụng, tức giải thoát sanh tử.

o Tóm kết căn bản về 12 nhân duyên

Chỉ cần trở lại Tánh thể Bát-nhã, vòng 12 nhân duyên tự dứt trừ. Cho nên, khi học Bát Nhã, đến phần đức Phật đề cập "không có 12 nhân duyên", phải tự đặt câu hỏi: "Ở trong đó để phân tích, chia chẻ... mà thấy biết, hay là có một trí tánh thoát ra khỏi nó mà thấy biết một cách suốt thông, cùng tột?". Lúc này sẽ thấy ra rất rõ, 12 nhân duyên hay bất kỳ giáo pháp nào đức Phật dạy, cũng chỉ là pháp phương tiện tạm thời (Bát Nhã nói là huyễn, là không), không chấp cho là cứu cánh (không xem là thật có), mà cốt yếu là phải nhận lại Tánh thể Bát-nhã chính mình (chỗ cốt yếu tột cùng đức Phật khai thị). (Sẽ nói rõ ở đoạn dưới.)

Không có Khổ - Tập - Diệt - Đạo: Tức là Tứ đế cũng không.

Tứ đế và Thập nhị nhân duyên là những giáo pháp đức Phật đã dạy. Bát Nhã nói "không" pháp ấy, hay những pháp ấy cũng không thật. Ở đây cũng có hai trình độ thấy biết.

2. HAI TRÌNH ĐỘ THẤY BIẾT

2.1. Đã ngộ từ đoạn khai thị đầu

Lúc này, hành giả rõ biết lời Phật dạy, tự tại, sáng trong. Sáng ra rõ ràng giáo pháp như ngón tay chỉ mặt trăng. Nhờ đã ngộ (cốt tủy Phật khai thị) nên không còn chấp trước, dính kẹt.

Không phải tránh bỏ mà hay tự tại dùng được tất cả. Hoặc ứng cơ lưu xuất nói ra vô lượng pháp để chỉ bày tánh thật.

Tức là không chấp đoạn, không tránh né hoặc bỏ Kinh Luận. Các Thiền sư cần đọc Kinh thì đọc. Gặp căn cơ nên dùng Kinh Luận khai thị thì tự tại vận dụng để chỉ bày. Hay tự tại dùng được tất cả.

Điển hình:

• Lục Tổ Huệ Năng từng khai thị cho Ngài Pháp Đạt rằng:

- Khi mê Pháp Hoa chuyển: Tức là bị trói trong chữ nghĩa, không thông suốt diệu chỉ Phật muốn khai thị.

- Khi ngộ Chuyển Pháp Hoa: Đã tỏ sáng bản tâm thì không kẹt chữ nghĩa mà hay tự tại tùy thời vận dụng được tất cả. 

Thiền sư Duy Nghiễm (Dược Sơn) xem kinh, có vị Tăng thấy, hỏi:

- Hòa thượng bình thường không cho chúng con xem kinh, vì sao Hòa thượng lại xem? (Ngài sợ chư Tăng dính nhiễm trong kiến thức học hiểu, không hướng đến tỏ sáng bản tâm, bị kinh chuyển.)

- Sư đáp: Ta xem chỉ để che mắt.

- Chúng con học theo Hòa thượng được chăng?

- Nếu các ngươi xem thì da trâu cũng lủng. (Còn mê nên bị văn tự chuyển, dính chấp trong đó.)

Tam Tổ Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam: 

- Gặp căn cơ thuần thục thì quý Ngài dùng đại cơ dụng Thiền, thẳng đó khai thị, học nhơn bất ngờ đốn ngộ bản tâm. Nếu trong pháp hội cần giảng Kinh Luận thì chư Thiền Tổ tự tại giảng giải cho thính chúng hiểu thông để ứng dụng tu tập. Sự vận dụng tài tình này đã trở thành đặc điểm nổi bật "Thiền giáo song hành" của Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam từ xưa đến nay.

2.2. Còn trong quá trình tu tập

Khéo ứng dụng đúng như lời đức Phật dạy:

- Không chấp ngón tay, mà khéo nương đó để thấy mặt trăng. 

- Khéo nương giáo pháp để tu tập, nhắm đến tỏ sáng Trí tánh Bát-nhã (cốt lõi trọng tâm đức Phật muốn chỉ bày).

3. TÓM LẠI

Pháp Phật dạy như tùy bệnh cho thuốc, không cố định. Cũng như ngón tay chỉ mặt trăng, muốn thấy trăng thì không được chấp vào ngón tay. Và khi đã đến nhà thì không còn kẹt giữa đường. Không phải tránh bỏ, mà hay vận dụng chánh pháp, nói ra chánh pháp để độ sanh.

Ghi chú: Xem đầy đủ tại “Câu số 11: Vì sao Bát Nhã nói pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên đức Phật dạy đều không?" - Trong Phần 2 - Bát Nhã Qua Các Câu Hỏi.

Chánh văn 7:

Không có trí tuệ cũng không có chứng đắc.

Giải:

1. ĐÃ NGỘ TỪ ĐOẠN KHAI THỊ ĐẦU

Khi mới vào đầu bài kinh, nghe đức Phật khai thị, hành giả ngay đó liền tỏ ngộ. Lúc này, sẽ sáng ra:

- Ngay sức giác sáng mà không động của Tánh thể Bát-nhã thì tuệ đã sẵn đủ. Còn lại, tất cả những gì khác đều là bên ngoài mình, còn có tướng, còn trong tương đối, sanh diệt đổi thay, nên không phải bền chắc. Tánh này đã sẵn, sờ sờ ra đó, không còn được (chứng đắc) gì khác ở bên ngoài.

- Hơn nữa, tất cả những gì bên ngoài đều thuộc vô thường biến hoại, huyễn hóa.

→ Do tất cả các lẽ thật trên, nên đức Phật nói: "Không có trí tuệ cũng không có chứng đắc".

2. CÒN TRONG QUÁ TRÌNH TU TẬP

Đến đây mới nhận hiểu, ứng dụng tu tập. Hành giả thấy rõ:

- Tất cả các pháp bên ngoài đều thuộc sanh diệt, không thật.

- Trí tuệ Bát-nhã sẵn nơi chính mình không từ bên ngoài mà được.

→ Do đó, không tìm cầu trí tuệ và sự chứng đắc bên ngoài.

Khéo dụng công:

- Khi sạch không tất cả, nhưng không mê thì Thực tướng Bát-nhã hiện tiền.

- Là Trí tuệ chân thật, là chân thật đắc, bởi không biến hoại sanh diệt (không mất).

3. NÓI THÊM VỀ "VÔ SỞ ĐẮC"

Mỗi hành giả như một con thuyền đang trên dòng sông (lộ trình dụng tâm tu tập) để xuôi về hòa vào biển cả tự tánh thênh thang rộng lớn. Nếu thuyền tấp vào ngóc ngách nào, sẽ bị vướng kẹt tại đấy. Và sở đắc là một trong những chướng ngại tương tự.

Nếu chuyên về sở chứng trong việc hạ thủ công phu thì "Vô sở đắc" là không chấp vào một chỗ chứng đắc nào (điển hình như sự Thuần tịnh, hoặc phần hạn mênh mông không bờ mé của tâm…), mới đạt đến cứu cánh Phật đạo.

Nhưng nhìn một cách rộng hơn và thực tiễn nơi mỗi hành giả đang còn trong quá trình dụng công tu tập thì "Vô sở đắc" là không còn ách tắc hay bị nghẽn ở bất cứ đâu.

Sự ách tắc này không chỉ nằm trong chỗ hài lòng, mà trái ý hoặc cảm thấy là bình thường (nói chung là còn sanh tâm) đều bị nghẽn lại.

Cụ thể hơn, nó bắt đầu từ sự thấy biết phan duyên trên cảnh mà sanh.

Sâu xa hơn thì do căn thức mê tự nó dính nhiễm, khiến chúng ta bị dừng kẹt lại ở đâu đó, đôi khi tự mình lầm tưởng điều đó là xác đáng, thật là mình mà không hề hay biết.

Tất cả đều làm chướng ngai, ngăn lại bước tiến đạt đến Phật đạo.

Ví dụ điển hình:

Người chăm lo kỹ về sức khỏe để có đời sống tốt thì thường dễ bị dính chấp thân, không có cái nhìn lớn rộng; đó là do sở đắc chăm lo cơ thể khiến bị ngăn ngại.

Nhưng với người đơn giản trong đời sống, có tầm nhìn cao xa hơn thì không chịu được việc chăm sóc cơ thể một cách tỉ mỉ để ngăn ngừa bệnh tật; là do thích (dính chấp vào chỗ) đơn giản, nó cũng là một loại sở đắc đối lại với người kỹ lưỡng trên, cho nên cũng bị chướng đạo như nhau.

Tu tập là sống đúng trung dạo. Cũng kỹ lưỡng đúng khoa học, đảm bảo sức khỏe tốt để tu tập và hoằng hóa lợi sanh, nhưng vẫn như là đơn giản, bình thường, không làm gì cả - không trụ tướng, kẹt tâm hay dính mắc bất cứ gì. Vẫn đơn giản bình thường, nhưng không sanh khởi hoặc thấy có một tướng trạng gì trong tâm là bình thường; cũng không hề có chút không ưa sự tỉ mỉ hay bất cứ gì làm ngăn ngại. Khi này, không kẹt hai bên, tâm tự tại vượt thoát, đúng nghĩa vô sở đắc (không có chỗ được).

Dụng tâm như thế, nhất định sẽ tiến đạo, đạt ngộ và thành tựu đạo quả viên mãn. Do đó, đoạn tiếp theo đức Phật khẳng định: “Vì không có chỗ được, nên Bồ-tát y theo Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm không ngăn ngại..."

Ghi chú: Xem đầy đủ tại “Câu số 13: Vì sao Bát Nhã nói: 'Không có trí tuệ, cũng không có chứng đắc'?" - Trong Phần 12 - Bát Nhã Qua Các Câu Hỏi.

Chánh văn 8:

Vì không có chỗ được, nên Bồ-tát y theo Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo mộng tưởng, đạt đến cứu cánh Niết-bàn.

Giải:

1. ĐÃ NGỘ TỪ ĐOẠN KHAI THỊ ĐẦU

Khi mới vào đầu bài kinh, nghe đức Phật khai thị, hành giả ngay đó liền tỏ ngộ.

- Lúc này, suốt thông diệu lý, chứng Thực tướng Bát-nhã thì khắp tất cả chỗ đều không, nơi nơi đều vô quái ngại, không còn một vệt nào làm chướng ngại.

- Trong Thể tánh Bát-nhã sáng ngời ấy toàn không ngăn ngại, không sợ hãi gì.

- Trong ấy không có bóng dáng của mộng tưởng điên đảo. Sống ngay đó là tu.

- Và tu như thế mới đạt đến Niết-bàn rốt ráo mà chư Phật đã chứng đạo, thành đạo.

→ Dụng công như thế là sự hành trì của hàng Bồ-tát chứ không phải thường (Bồ-tát y theo Bát-nhã ba-la-mật-đa).

2. CÒN TRONG QUÁ TRÌNH TU TẬP

Đến đây mới nhận hiểu, ứng dụng tu tập. Hành giả khéo dụng công:

- Tất cả tình chấp đều dứt bặt;

- Không tìm cầu bên ngoài;

- Các tướng vắng lặng - Bặt dấu vết.

→ Khéo hay sạch tất cả mà không mê, thì Tánh thể Bát-nhã hiện tiền, tức là "y theo Bát-nhã ba-la-mật-đa". Có nghĩa là đang sống bằng Tánh thể Bát-nhã được gọi là “y theo”, chứ không phải có một thể Bát-nhã như thế nào đó để nương. Nếu có một cái để nương, thì cái đó là bên ngoài, không phải Thực tướng Bát-nhã. Chữ "y theo" chi là một cách nói, sự thật đó là một sự "hiện tiền".

→ Lúc này sẽ:

- Linh thông, vô ngại, nên không ngăn ngại.

- Tự tại, tiêu sái, nên không sợ hãi. 

Trong ấy vắng bóng điên đảo mộng tưởng, chỉ là “Tự tánh Niết-bàn" hiện tiền. 

3. TÓM LẠI

Vì không có chỗ được tức là "sạch không" hết tất cả, thì Tánh thể Bát-nhã hiện tiền, tức nương được Bát-nhã. Nghĩa là:

- Khi sạch hết tất cả mới nương được Bát-nhã ba-la-mật-đa.

- Sống bằng Tánh thể Bát-nhã ấy thì nơi nơi sáng sạch không ngăn ngại.

→ Vì lý do đó nên tất cả tự vắng bặt, không có bóng dáng của sợ hãi. Các điên đảo mộng tưởng hoàn toàn vắng bặt (xa hẳn). Chỉ còn một Tự tánh Niết-bàn hiện tiền (Đạt đến cứu cánh Niết-bàn).

Cuối cùng:

- Phải "sạch không" tất cả mới đạt đến Niết-bàn rốt ráo của chư Phật chứ không phải là “không ngơ" (Bát Nhã không dạy không ngơ).

- Đây là đích đến, là kết quả của việc tu tập Bát Nhã từ đầu bài kinh đến đây.

- Học và tu Bát Nhã như thế nào để cuối cùng phải đạt đến như vậy, mới không sai lệch diệu lý đức Phật dạy trong văn kinh.

Ghi chú: Xem đầy đủ trong Phần 3 - Thuyết Minh Biểu Đồ Tóm Kết Nội Dung Bát Nhã - Nhánh 2.

Chánh văn 9:

Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát-nhã ba-la-mật-đa được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

1. KHÁI QUÁT XUYÊN SUỐT TỪ ĐẦU BÀI KINH ĐẾN ĐÂY

Vào đầu bài kinh, đức Phật giới thiệu đây là trí tuệ rốt ráo cứu cánh tột cùng không còn trí tuệ nào lớn hơn (Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh).

Được minh định cụ thể bởi Bồ-tát Quán Tự tại: "Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã ba-la-mật-đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách".

Đoạn này là giới thiệu vấn đề. Với căn cơ lanh lợi, ngay đó ngộ thẳng, liền sáng ra trí tuệ cứu cánh mà đức Phật khai thị ở trên. Lúc này sẽ tự sáng biết tất cả một cách rõ ràng, rành mạch, như thị, tự tại thì đức Phật sẽ không cần triển khai tiếp đoạn sau.

Tuy nhiên, với học nhơn ngang đó chưa ngộ, thì Ngài cũng từ bi triển khai tiếp.

Cụ thể: "Này Xá Lợi Phất! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc..." tức 6 Căn - 6 Trần - 6 Thức, Vô minh, hết Vô minh... các pháp phương tiện đức Phật dạy, cho đến trí tuệ và chứng đắc, tất cả đều không, rỗng rang, lặng trong, sạch sành sanh… tức là không có chỗ được, thì Thực tướng Bát-nhã hiện tiền; đó là Bồ-tát y theo Bát-nhã ba-la-mật-đa.

Khi đã nương được Bát-nhã ba-la-mật-đa (Thực tướng Bát-nhã hiện tiền) thì nơi nơi sáng sạch không ngăn ngại, không sợ hãi, điên đảo mộng tưởng đều dứt sạch, chỉ còn lại một tánh Niết-bàn hiển hiện.

Lúc này, đức Phật mới chốt lại và khẳng định: Mười phương ba đời tất cả chư Phật đã ngộ nhập đó (chỗ Tánh thể Bát-nhã hiện tiền sáng ngời đó) mà thành tựu đạo quả, tức thành Phật.

Đây là một sự xuyên suốt, lo-gic, một chuỗi quy trình khép kín từ khởi đầu cho tới đích đến. Mỗi hành giả, nếu thẳng đó liền ngộ thì không phải bàn, nhưng nếu còn trong quá trình dụng công tu tập thì trên từng đoạn đường của quy trình phải đảm bảo làm sao không dừng kęt ở bất cứ điểm nào, chỉ nhắm thẳng đích đến mới thành công, mới đảm bảo đúng yếu chỉ bài Kinh Bát Nhã đức Phật đã dạy.

2. PHÂN TÍCH NGANG ĐOẠN VĂN NÀY

2.1. Khẳng định nhân địa thành Phật

Thành Phật là đạt đến viên mãn quả vị vô sanh; là bậc tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn.

- Phải từ nhân vô sanh mới đạt đến quả vị vô sanh (Phật).

- Thể ngộ Thực tướng Bát-nhā, là sống bằng nhân không sanh không diệt.

→ Muốn thành Phật phải bắt đầu từ Thực tướng Bát-nhã là vậy.

Trọng tâm: Phải ngộ Thể tánh Bát-nhã là Phật nhân, từ đây để tu hành mới thành Phật quả.

- Dù căn cơ lanh lợi, vừa nghe Phật nêu tiêu đề hoặc đoạn mở đầu bài kinh liền đó trực ngộ “Trí tuệ cứu cánh rộng lớn"; hoặc nghe hiểu, ứng dụng tu hành, thông suốt diệu lý mới tỏ ngộ, thì tất cả cuối cùng cũng đều phải trở về trong Thể tánh Bát-nhã. Đây là "tự giác", tự mình phải ngộ.

- Sống thẳng tánh thể đã ngộ (tự giác), tùy duyên tiêu dung tập khí, nghiệp cũ mà không có tướng hàng phục hay tiêu trừ gì. Ngay khi như thế, chính là đang công phu. Không làm gì thêm (vô tác) mà vọng tình tự tiêu dung trong chân trời tự tánh; đây là diệu hạnh. Do vậy, sống đạo và dụng tâm như thế cũng chính là đang hoàn bị "giác hạnh" chính mình.

- Nhờ "tự giác", nên đã có trí tuệ, tùy thời giáo hóa chúng sanh cùng được giác ngộ như mình; tức "giác tha". Tuy vậy, vẫn không rời giác tánh (tự giác), nên “giác hạnh" cũng đồng thời thành tựu.

- Vì sống bằng Tánh thể Bát-nhã do đó không động, không rơi vào tạo tác sanh diệt, tánh tướng không hai, cho nên ngay lúc tùy thời lợi ích chúng sanh, cũng chính là đang thành toàn diệu hạnh (giác hạnh) cho chính mình.

- Cho đến khi công viên quả mãn (tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn) thì sẽ thành tựu Phật đạo.

→ Đây là ý nghĩa: Phải từ Bát-nhã mới thành Phật là vậy.

→ Ngoài ra, khác đi, khác với Tánh thể Bát-nhã này thì dù có tu hành thế nào cũng là rơi vào loạn động, tạo tác, sanh diệt.

2.2 .Minh định chư Phật đã thành

Mười phương ba đời hết thảy chư Phật đều như vậy. Chúng ta hiện nay cũng không thể khác.

Ghi chú: Xem đầy đủ trong Phần 3 - Thuyết Minh Biểu Đồ Tóm Kết Nội Dung Bát Nhã - Nhánh 2.

Chánh văn 10:

Nên biết, Bát-nhã ba-la-mật-đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú, hay trừ được hết thảy khổ, chân thật không dối.

Giải:

Lưu ý: Theo nội dung văn kinh, cho thấy: Tác dụng (giá trị) của tất cả thần chú đều để “Hay trừ được hết thảy khổ, chân thật không dối".

Bát-nhã là đại thần chú: Là có thần lực lớn. Vì:

- Đạt được Thực tướng Bát-nhã sẽ có diệu dụng không thể nghĩ bàn. Trong vô vàn diệu dụng đó, có cả sự vi diệu (sâu mầu - thần lực lớn). 

- Do đó, muôn thứ nhiệm mầu từ đây mà có. 

- Và thần lực lớn, muôn thứ nhiệm mầu, chỉ nhằm một mục đích duy nhất: Giúp hàng phục mọi phiền não, vượt khỏi biển khổ sanh tử, đưa đến giác ngộ giải thoát (Dứt khổ - An vui). Tức là qua được hết thảy khổ ách đúng như văn kinh đã dạy.

Cho nên nói: Bát-nhã là đại thần chú (thần lực lớn).

Bát-nhã là đại minh chú: Nghĩa là sáng soi vô tận (đây cũng là một diệu dụng đặc trưng trong vô vàn diệu dụng). Vì:

- Sống bằng Thực tướng Bát-nhã, mỗi mỗi đều giác biết, không đâu là không đến (không sót), sáng soi khắp không cùng.

- Phá tan tất cả tăm tối của vô minh.

- Không ánh sáng nào có thể so sánh được.

Cho nên nói: Bát-nhã là đại minh chú (sáng soi không cùng).

Bát-nhã là vô thượng chú: Thần chú cao tột - Không gì hơn. Vì:

- Đạt được Bát-nhã là đạt được giá trị và tác dụng của thần chú cao tột, bởi tất cả các diệu dụng trên.

- Vượt trên khái niệm hiểu và không hiểu của thế gian.

- Không gì có thể so sánh được.

Vì vậy: Bát-nhã là vô thượng. Tức là cao tột, không gì hơn và ai cũng có thể đạt đến được.

Bát-nhã là vô đẳng đẳng chú: Nghĩa là tất cả thần chú khác không sánh kịp. Vì:

- Ngộ được Bát-nhã thì đạt được tất cả những giá trị và tác dụng của hết thảy các thần chú hướng đến: đó là “Hay trừ được hết thảy khổ, chân thật không dối".

- Tức là, chứng được Thực tướng Bát-nhã thì tất cả các khổ tự trừ.

- Hơn nữa, Thể tánh Bát-nhã vốn vô tướng và đã sẵn vậy lâu rồi. Người mê thì tạm quên chứ không mất; người ngộ thì chỉ là nhận lại thôi. Không phải là vật có tướng hoặc mới được làm nên (tạo tác). Do đó, Bát-nhã vượt lên trên mọi so sánh của thứ bậc cao thấp, nên không gì sánh kịp.

→ Cho nên nói: "Là vô đẳng đẳng chú”.

Tóm lại: Bát-nhã là bài thần chú tuyệt diệu.

Chánh văn 11:

Vì vậy nói chú Bát-nhã ba-la-mật-đa, liền nói chú rằng: Yết-đế, yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, bồ-đề tát-bà-ha.

Giải:

Thần chú “Yết đế, yết đế..." là không cho hiểu, không cho khởi niệm.

Cụ thể, chủ yếu:

- Tình chấp thân tâm hết.

- Bóng dáng phân biệt tiền trần lặng.

- Hay sạch hết đi, dù đó là trí tuệ hay chứng đắc.

Hay sạch hết tất cả như vậy mà không mê thì Thực tướng Bát-nhã hiện tiền. Hằng sống như vậy là học xong bài Bát Nhã Tâm Kinh.

Đây là bài kinh đầu. Tức là vào Thiền viện, đầu tiên hành giả được học bài kinh này. Cũng có nghĩa là, muốn thông tất cả Kinh Luận thì trước tiên phải suốt thông bài Bát Nhã Tâm Kinh.

Nếu chưa thể hằng sống bằng Thực tướng Bát-nhã thì dù có đọc tụng làu làu, vẫn chưa thuộc bài học đầu này.

Câu hỏi vận dụng, củng cố 8:

Hành giả chăn trâu, khi trở lại "thể" thì “trí dụng" cũng không còn. Nghĩa này thế nào?

Đáp:

1. KHÁI QUÁT VỀ THỂ VÀ DỤNG

Vấn đề này liên quan đến những "Diệu dụng bất khả tư nghì" trong Bát Nhã Tâm Kinh.

Thể: Là Trí tánh Bát-nhã vô tướng. Đây là Bát-nhã vô tri: Vô tướng, tự sáng biết, không can thiệp trên đối tượng bị biết, nên nói vô tri.

Dụng: Là lưu xuất trên các hành hoạt. Đây là vô sở bất tri: Tuy vô tri, không can hệ đối tượng biết, nhưng hằng biết khắp, không gì thiếu vắng tự tánh giác sáng biết khắp này (Vô sở bất tri).

2. SỰ THỰC THỂ VÀ DỤNG ĐÚNG NGHĨA

2.1. Giai thoại

Thiền sư Quy Sơn cùng đại chúng đi hái trà, bất ngờ Sư bảo Ngài Huệ Tịch: - Trọn ngày hái trà, chỉ nghe tiếng con, chẳng thấy hình con.

Ngưỡng Sơn liền rung cây trà.

Sư nói: - Con chỉ được cái dụng, chẳng được cái thể.

- Chưa biết Hòa thương thế nào?

Sư im lặng giây lâu. Ngưỡng Sơn nói: - Hòa thượng chỉ được cái thể, chẳng được cái dụng.

- Tha ông ba mươi gậy. (Là lời khen)

2.2. Thể dụng không hai

Không phải vị này được thể, vị kia được dụng, mà Thầy trò Ngài Quy Sơn đã khéo cùng nhau hiển bày tự tánh “Thể dụng không hai”. Cụ thể:

- Thực sự đúng là dụng thì thể phải sẵn đủ, cho nên Ngài Quy Sơn nói: "Con chỉ được cái dụng, chẳng được cái thể", tức là Ngài Huệ Tịch đang hiển thị cái dụng, còn thể thì sao?

- Ngài Huệ Tịch nói: “Hòa thượng chỉ được cái thể, chẳng được cái dụng”; tức là về cái thể thì Hòa thượng vừa hiển bày.

- Sự thực: Ngài Ngưỡng Sơn hiển cái dụng, và dấu cái thể trong cái dụng; do đó thể đã sẵn bày, nên động dụng mới được gọi là dụng. Nếu không sẵn thể thì hành động sẽ còn trong loạn động nên chưa được gọi là dụng. Bởi như thế không có diệu lực để tự tại giải thoát.

- Ngài Quy Sơn hiển bày cái thể, nhưng cái dụng cũng không thiếu vắng, chỉ là Ngài đang khéo dấu trong cái thể (điển hình là Ngài tùy thời nói nín linh thông, tự tại); do vậy nên thể rỗng rang mới đúng là thể. Nếu không sẵn dụng thì sẽ rơi vào chỗ Thuần tịnh, chưa phải bản thể.

Cho thấy: đúng là thể và dụng thì phải đồng thời sẵn đó, không hai.

- Nếu chưa tỏ ngộ bản tâm, còn xao động thì dù cho có hét, hoặc đánh, hay là đưa phất tử khai thị như Thiền sư, vẫn là vọng động sanh diệt của phàm phu, chưa được gọi là trí dụng.

- Tới lui làm tất cả công việc mà tâm vẫn như như bất động, thì nhất cử nhất động đều là diệu dụng không thể nghĩ bàn.

- Đó là trong dụng sẵn đủ trí thể mới được gọi là trí dụng; là hình ảnh Ngài Huệ Tịch lấy cành cây trà đập vào thân cây trà để trình lên Thầy mình.

- Và thể phải sẵn đủ trí dụng trong ấy cũng tương tự.

- Cho nên, Thiền sư Quy Sơn trước đó vừa nói để hỏi Ngài Huệ Tịch, chính là dụng, và thể đã được ẩn nhưng sẵn trong cái dụng nói năng gạn hỏi ấy.

- Bởi vậy, khi đề cập đến bản thể thì Ngài im lặng để hiện bày. Do đã sẵn nên mới hiện bày được.

- Và cũng không cố định vào một tướng im lặng. Điển hình sau đó Ngài nói tha cho ba chục gậy. Như vậy khi im lặng để hiển bày thể, nhưng dụng cũng đã sẵn trong đó cho nên mới tự tại lưu xuất ra hành động, nói năng. 

- Cho thấy, trong thể sẵn dụng, ngay dụng sẵn thể, thể dụng không hai, mới có diệu lực tự tại tiêu sái, mới đúng đích thực là thể và dụng.

2.3. Tóm lại

- Thể: Vốn vô tướng, lặng trong, nhưng hay hiện diệu dụng, không phải cơ lặng yên.

- Dụng: Chiếu soi, tướng nhưng vô tướng. Cụ thể:

o Hay tùy duyên tùy thời hiện bày tất cả tướng. Tuy thấy như là tướng, nhưng vô tướng.

o Linh thông chủ động vẫn không động,

o Tự tại vào ra, tùy thời dựng lập hoặc dẹp sạch, nhưng tìm tướng đến đi, ra vào, lập phá... trọn không thể được.

- Do đó:

o Thể (lặng) được gọi là thể khi và chỉ khi có trí dụng (chiếu).

o Nếu thiếu dụng thì trong lặng chỉ là sự thanh tịnh, chưa ngộ bản thể.

o Dụng (linh thông, chiếu soi) chỉ được xem là dụng khi và chỉ khi dụng không rời thể (động dụng vẫn vô tướng, không động).

o Nếu rời thể tức còn trong loạn động, rơi vào sanh diệt, thì sự chiếu soi hoặc linh thông chỉ là vọng tâm, chưa được gọi là dụng (điển hình là vô lực, không có diệu lực để tự vượt thoát tất cả khổ vui tức khắc).

3. THỂ VÀ DỤNG LÀ HAI ĐỨC DỤNG TRÊN MỘT BẢN TÂM

Thể và dụng vốn sẵn trên một tâm, có thể thấy rõ qua các trình độ:

(1) Còn mê:

o Tâm sẵn sáng: là thể.

o Hay thấy nghe hiểu biết: là dụng. 

→ Đây là Như Lai tại triền. Tuy bản tâm đã sẵn, nhưng còn bị trói buộc.

(2) Tu tập:

o Thầm biết sẵn có tâm lặng sáng: tức là thể. 

o Biết các pháp là huyễn, khéo sống về (chăn trâu): tức là dụng.

→ Khéo tu để xuất triền.

(3) Thầm nhận:

o Tâm lặng sáng: đó là thể.

o Hằng giác biết, sáng soi: đó là dụng.

o Khéo dụng tâm để: Như Lai xuất triền.

(4) Đã ngộ:

o Tâm tự không động (thể), nhưng sáng ngời (dụng): thể đã sẵn dụng nên được gọi là thể.

o Linh thông, chủ động (dụng), vẫn không động (thể): dụng đã sẵn thể nên được gọi là dụng.

→ Như Lai xuất triền.

→ Ngang đây, mới chạm đến được sự thực “thể” và "dụng" đúng nghĩa như trên. Cụ thể:

- Thể được gọi là thể khi và chỉ khi có trí dụng.

- Nếu thiếu dụng thì trong lặng chỉ là sự thanh tịnh, chưa ngộ bản thể.

- Dụng chỉ được xem là dụng khi và chỉ khi dụng không rời thể.

- Nếu rời thể tức còn trong loạn động, rơi vào sanh diệt thì sự chiếu soi hoặc linh thông chỉ là vọng tâm, chưa được gọi là dụng (điển hình là vô lực, không có diệu lực để tự vượt thoát tất cả khổ vui tức khắc).

(5) Rốt ráo:

o Tất cả hiện tiền.

o Thể dụng không 2 (không thấy 2).

o Không còn phân thể và dụng.

Tất cả vốn tự như thế. Tất cả hiện thành, tự tại, bất khả tư nghì.

4. GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI

Hành giả chăn trâu, khi trở lại “thể” thì “trí dụng” cũng không còn. Nghĩa này thế nào?

- Nghĩa là đang đề cập đến cái dụng của hành giả đang trong quá trình dụng công tu tập. Cụ thể:

o Biết có con trâu đen hay ăn lúa mạ, chính là tâm vọng. Đồng thời cũng biết có con trâu trắng hằng lặng mà sáng biết. Và dụng công chính là không để con trâu ăn lúa mạ, tức là không theo vọng tưởng, không nên trên vọng thêm vọng.

o Ngồi lặng yên giác sáng, không theo vọng tưởng, để con trâu không phạm vào lúa mạ của người cho đến khi thuần thục gọi là trí dụng. Dùng trí dụng để tu tập, dần dần trở lại bản thể.

o Khi trở lại bản thể thì không còn chăn nữa, cái trí dụng để dụng công cũng vắng lặng, không còn.

o Lúc này, toàn thể hiện bày, thể dụng không hai, chứ không phải thiếu khuyết diệu dụng.

5. ỨNG DỤNG VÀO THỰC TIỄN CÔNG PHU

(1) Khéo dụng công (hạ thủ công phu):

o Lặng an: đó là thể.

o Giác sáng: đó là dụng.

→ Không sai thì công phu sẽ tiến.

(2) Khéo dụng tâm (tức đã thầm nhận tự tánh, khéo sống về bằng nó):

o Bặt dấu vết, vô tướng, sáng biết: đó là thể.

o Khéo thầm sống về bằng thể đó, mỗi mỗi liễu biệt rõ ràng: đó là dụng.

→ Như thế, sẽ thầm khế hợp tự tánh vô sanh, mới có lúc bừng ngộ.

Khéo hạ thủ như vậy thì từ dụng công cũng thể dụng đồng thời, cho đến khéo thầm nhận cũng thể dụng hiện tiền. Bừng ngộ thì thể dụng không cần phân cùng chẳng phân. Nếu cho rằng cần phân, cũng được, bởi tất cả đang rành rành, nhưng vô tướng, vô phân biệt nên vẫn không phân. Mỗi mỗi đều tự tại, không ngăn ngại. Cho nên Ngài Tam Bình Nghĩa Trung nói:

Tức thử kiến văn phi kiến văn,

Vô dư thanh sắc khả trình quân.

Cá trung nhược liễu toàn vô sự, 

Thể dụng hà phòng phân bất phân.

Ngay thấy nghe này, chẳng thấy nghe, 

Không thừa thanh sắc đáng trình anh. 

Trong đây nếu liễu, toàn vô sự, 

Thể dụng ngại gì phân chẳng phân. 

(Phân hay không phân đều tự tại.)

Câu hỏi vận dụng, củng cố 9:

Khi cuốc đất, cuốc phải nhiều côn trùng. Vậy ngay khi đó, liền khởi niệm sám hối vì lỡ vô tình làm tổn thương những côn trùng đó là phải; hay chỉ dừng ở chỗ biết là phải?

Đáp:

1. KHÁI QUÁT

- Đây là sự thật trong đời sống, trong sinh hoạt. Sống bằng Trí tuệ Bát-nhã, từ tánh thể lưu xuất diệu dụng trong trường hợp này cụ thể như thế nào?

- Vấn đề này còn tùy thuộc vào trí tuệ, định lực và diệu dụng của mỗi hành giả (có góp ý cũng không sống được, do tâm chưa tương ưng).

- Khả năng này không đồng nhau, do đó không thể có một đáp án chung cho tất cả.

- Vì vậy, ở đây sẽ nêu đầy đủ các ý nghĩa liên quan. Từ đó, mỗi người tự biết khả năng mình đang ở đâu, ngang nào để nỗ lực tiến tu.

- Và hành xử trong trường hợp trên như thế nào, là tùy thuộc vào đạo lực của bản thân ngay thời điểm đó. Hiện nay, cần có cái thấy biết đầy đủ.

2. NÓI RÕ CÁC NGHĨA LÝ VÀ THỰC TẾ LIÊN QUAN

2.1. Có quyền lựa chọn

- Các giá trị đạo đức, nhân quả... đều có tác động thật đến bản thân. Do đó, nên tỉnh táo để chọn phương án tốt nhất.

- Đồng thời, dù có lựa chọn ứng xử theo bất kỷ phương án nào cũng không được rời sức giác sáng của Chân tâm. Lúc này, tất cả tự hóa giải, chan hòa, tiêu dung trong chân trời ấy.

2.2. Khó lòng lựa chọn

- Cuộc đời luôn có nhiều tình huống không đơn giản, khiến khó chọn lựa.

- Cần biết rõ sự tương đối, tất cả hoàn cảnh chỉ có giá trị ngang loài người (chỉ có giá trị trong sự nhận biết theo nghiệp thức của bản thân).

- Giá trị chi phối chỉ có đối với tâm mê. Khi ngộ, sẽ khác, không phải vậy.

- Trở lại Chân tâm để tùy duyên hành xử thì trí sẽ sáng, định giúp an, tâm sẽ ổn để đưa đến quyết định tối ưu nhất.

2.3 Phật đạo là cứu cánh

Đạo là chân trời rốt ráo, bởi:

- Trở về Chân tâm, sẽ tự sáng biết và sống đúng, không trái tục đế.

- Sống bằng Chân tâm sẽ có diệu lực vượt thoát (thấy rõ nhân quả, nhưng không lầm tạo tác thiện và ác, vượt thoát sự chi phối của nhân quả).

Tu để giác ngộ, cứu chúng sanh và thành Phật.

- Không phải dùng tâm sanh diệt loạn động trong mê, để giải quyết từng pháp sanh diệt. Bởi như thế, chỉ là cách sống của thế gian, tu hành không hiệu quả.

- Do đó, cần nhắm thẳng Chân tâm, là thế. Tùy duyên hành hoạt, là dụng. Lúc này, tất cả tự sáng ngời.

Còn trong mê muội thì tìm một phương án toàn hảo, không có. Cho nên:

- Nếu chỉ chú tâm vào các pháp loạn động sanh diệt thì không ai cứu được ai hoàn toàn rốt ráo, trọn vẹn được (không đi đến đâu).

- Khéo chọn phương án tối ưu nhất trong khả năng và điều kiện cho phép. 

- Dốc tâm hạ thủ, khi giác ngộ, sẽ cứu khắp tất cả.

2.4. Tóm lại

- Không nhất thiết phải sanh tâm động niệm mới tránh được côn trùng,

- Lỡ vô tình trúng phải, không nhất thiết khởi tâm mới cầu nguyện được cho nó. Trong tâm lặng sáng, sẽ có diệu lực khiến chúng được siêu sanh.

- Nên ở vào chân tâm giác sáng, tùy duyên chọn phương án tối ưu nhất thì mọi việc sau đó sẽ tốt.

3. KẾT LUẬN

Từ chân tâm (Tánh thể Bát-nhã) để sống và hành hoạt. Trên nền tảng đó:

- Dùng Tuệ sáng suốt để thấy rõ và đúng chân lý.

- Dùng Lực bất động để thấy biết và làm việc.

Nói rộng hơn về lực dụng trong cuộc sống tu tập - giáo hóa:

- Song song với Định và Tuệ, thêm sự An Nhẫn và Đại Bi Tâm, các hạnh sẽ tự thành tựu.

- Lúc này, tất cả hành hoạt trong cuộc sống của hành giả, chính là đang sống đạo, là thành toàn diệu hạnh, là đang thực hiện lộ trình tự giác, giác tha, giác hạnh, đạt đến viên mãn, thành Phật.

 

Mục Lục
Bát Nhã Dạy Gì? - Thích Tâm Hạnh