Thiền Tông Việt Nam
Bát Nhã Dạy Gì? - Thích Tâm Hạnh
Phụ Lục 2: Nói Thêm Tánh Không Và Thuần Tịnh

1. TÁNH KHÔNG

Cụm từ này chỉ cho những nghĩa lý thuộc về một trong các khía cạnh sau:

1.1. Các pháp tự tánh vốn không

Các pháp bên ngoài (hoa trái, nhà cửa..) tự tánh (bản chất) nó vốn không, bởi không có chủ tể, nên huyễn hóa. Thấy biết như vậy là tỏ rõ, thấu suốt tự tánh không các pháp, để không nhầm lẫn, dính mắc. Tuy nhiên, vẫn còn là thấy biết việc bên ngoài, nhằm trên các pháp để thấy biết là thật hoặc giả, sắc hoặc không, chưa thực sự giác ngộ tự tâm.

1.2. Tánh mình vốn không

Tự tánh chúng sanh vốn rỗng rang, không một vật. Đây là nói chung đến bản chất thật và rốt ráo về tự tánh nơi mỗi người. Lục Tổ nói: "Bản lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai" (Xưa nay không một vật, chỗ nào dính bụi nhơ).

1.3. Tánh thể bình đẳng và Tánh không bình đẳng Xem mục 3 có cùng tựa đề bên dưới.

2. THUẦN TỊNH

Thuần tịnh là diễn tả trạng thái thanh tịnh tuyệt đối của tự tâm. Đây là sự thanh tịnh trong ngần do hành giả chuyên tâm hàng phục vọng tưởng phiền não, gạn đục khơi trong mà đạt đến. Hoặc là chỉ cho phần hạn của tâm; như Thiền sư Thanh Viễn Phật Nhãn nói: "Không nên ở trong chỗ rỗng không, không bờ mé mà lập phần hạn. Nếu lập phần hạn, tức đó chỉ là cái rỗng không, không bờ mé, bèn bị rơi kẹt”.

3. TÁNH THỂ BÌNH ĐẲNG VÀ TÁNH KHÔNG BÌNH ĐẲNG

3.1. Tánh thể bình đẳng

Tức đã ngộ tánh, nhưng chưa đạt ngộ tột đến chỗ rốt ráo viên dung, chỉ mới ngộ tánh thể bình đẳng. Điền địa này phát huy mạnh về Thể. Tâm thể lúc này sáng mạnh, vô tướng, không động, hiện tiền, hằng như thế, không chút cố gắng gì trong đó, nó vốn tự như vậy, muốn mất cũng không được. Còn phần Dụng thì vẫn có cho nên mới được gọi là Thể (bởi ngộ tánh thì thể dụng đồng thời), nhưng chưa phát huy linh hoạt, đúng mức bất khả tư nghì của nó. 

3.2. Tánh không bình đẳng thanh tịnh - Nhưng chưa ngộ tánh

Khác với Tánh thể bình đẳng vừa nêu trên ở chỗ: Tánh thể bình đẳng tức đã ngộ rồi, nhưng mạnh về thể, riêng dụng thì chưa phát huy đúng mức. Còn Tánh không bình đẳng ở đây thì gần giống với ngộ tánh, nhưng chưa ngộ. Tánh không bình đẳng này cao hơn tâm "Thuần tịnh" vừa đề cập trên một mức, nhưng dưới "Tánh thể bình đẳng" một mức. Điền địa này vẫn còn chơn thường lưu chú (cái trôi chảy nhỏ nhiệm trong tự tánh chơn thường ngỡ là bất động, mà thực ra vẫn còn lưu chuyển vi tế). Do đó, Thiền sư Pháp Thành ở Hương Sơn nói: "Dù cho thuần thanh tuyệt điểm, vẫn còn chơn thường lưu chú".

3.3. Tóm lại

Người ngộ tánh còn mạnh về tánh thể nhưng chưa phát huy cái dụng đúng mức thì tự tánh đã hiện tiền, cái trôi chảy nhỏ nhiệm không còn, tạm gọi là “Tánh thể bình đẳng". Nếu mới đạt đến “Tánh không bình đẳng" mà chưa phải ngộ tự tánh thì còn sự trôi chảy nhỏ nhiệm của thức mê, cho tới khi ngộ tánh mới biết trước đó là chưa phải. Khi chưa ngộ thì không thể biết, ngỡ đó là đúng rồi, nói năng rất giống ngộ tánh, nhưng chưa phải. Cho nên các Thiền sư nói: “Giống thì giống, nhung phải thì chưa phải". Bởi lúc này, tâm thanh tịnh còn sự trôi chảy nhỏ nhiệm của thức mê chưa ngộ, rất giống với đức dụng tự tịnh, tự định của tự tánh đã ngộ, khó biện ra được. Phải có trí Phật (tức là tới khi đại ngộ) mới biết đâu là thức, đâu là trí, mới "à ra" trước đó là chưa phải. Nếu vô tình rơi vào trong đó thì phải can đảm mạnh mẽ, phấn chấn tinh thần, phát chí tiến thêm, không chấp vào chỗ thanh tịnh này thì sẽ có lúc bất ngờ bừng ngộ tự tánh. Bằng như được chút ít đã tự thỏa mãn, không dám từ bỏ để cầu tiến thì không bao giờ vượt qua, không bao giờ có được cái dụng vô tận của tự tánh.

Tất cả đều ấn tại tâm, do hành giả dụng công mà đạt đến, không phải quan niệm, lý thuyết. Khởi đầu dụng công như thế nào, sẽ đưa đến kết quả tương ứng. Khi tu tập, không nhất thiết phải trải qua tất cả các bước theo thứ tự trên, mà có thể ngộ thẳng tự tánh. Nói chung, tất cả đều do tâm, do cách hạ thủ mà đưa đến kết quả tâm chứng đúng như công phu của mỗi hành giả.

4. LƯU TÂM

Quan trọng là ngộ tánh, không quan tâm phân biệt nhiều quá để tránh kęt tâm, dính tướng, khiến công phu rơi vào trong đó.

5. CÁC CỤM TỪ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TÁNH KHÔNG VÀ THUẦN TỊNH ĐÃ ĐƯỢC TRÌNH BÀY TRONG BÀI VIẾT

(1) Thuần tịnh: Chỉ cho tâm đã thanh tịnh tuyệt đối (không phải tự tịnh tự định sẵn đủ của tự tánh), hoặc phần hạn rỗng rang không bờ mé như đã nêu trên.

(2) Tánh không: Có vị trí chỉ cho Tự tánh không các pháp, có chỗ thì chỉ chung cho Tự tánh không của chúng sanh, cũng có thể là Tánh không bình đẳng thanh tịnh nhưng chưa ngộ, cũng có khi chỉ cho Tánh thể đã ngộ nhưng chưa đạt đến viên dung. Lý do tùy thuộc vào nghĩa lý của từng đoạn văn để hiểu đúng theo ngữ cảnh, hoặc do cách dụng công của mỗi hành giả mà đưa đến kết quả tương ứng. Không phải là một công thức có hình tướng để ước định nên không thể nêu lên ý nghĩa cố định. Một phần cũng bởi yêu cầu nội dung tập sách chưa có nhu cầu đề cập đến tâm chứng một cách cụ thể, sâu xa.

(3) Thể tánh không: Cũng tương tự Tánh không vừa nêu trên. Nhưng cụm từ này thường chỉ cho Thể tánh không các pháp hoặc một cách khái quát và chung nhất để đề cập đến Thể tánh không vốn sẵn nơi mỗi người.

(4) Tánh bình đẳng: Chỉ cho Thể tánh bình đẳng đã ngộ, nhưng còn mạnh về thể, chưa phát huy diệu dụng đúng mức đạt đến bất khả tư nghì.

(5) Tánh không bình đẳng: Thường dùng để nói khái quát mang tính chung chung về Thể tánh không vốn sẵn nơi mỗi người.

(6) Tánh bình đẳng thanh tịnh: Chỉ cho hành giả đã ngộ Tánh thể bình đẳng, nhưng chưa phát huy diệu dụng bất tư nghì để đạt đến viên dung.

Mục Lục
Bát Nhã Dạy Gì? - Thích Tâm Hạnh