Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 28 - Thiền Tông Việt Nam 5
Phần I

Tại kinh đô Việt Nam,

Tỳ-kheo Pháp Thông hiệu Quảng Trí 

luận giải.

Phần I

- Nói thẳng về chưa chăn.

- Luận thẳng về chưa chăn.

- Nói thẳng về mới điều phục.

- Luận thẳng về mới điều phục.

NÓI THẲNG VỀ CHƯA CHĂN

Kính lễ bậc Giác biết cùng khắp,

Nương về kinh Pháp mười hai bộ,

Nam-mô mười phương các Thánh hiền,

Đồng chấn uy quang soi xét đến.

Từng bảo: Thuốc, không hẳn sâm, linh, đan, thạch, hết bệnh là thuốc hay. Lời không hẳn bàn giỏi, luận thông, mở sạch điều mê là lời khéo. Vì thế, chỗ thầy thuốc tầm thường bỏ đi, chính là chỗ Lô Biển thu lấy. Điều hạng dở coi khinh, chính là điều bậc trí quý trọng. Mới biết, lập ngôn chẳng quý bàn suông vô ích, mà thật quý là lời cảnh tỉnh được người. Người xưa nói: Do nghi mới đến hỏi, kiếm báu rời khỏi vỏ vì chém việc bất bình; dẫn lời đáp để phá nghi, linh đơn ra khỏi đỉnh (bình), là muốn trị lành bệnh vậy.

Các nhân giả! Mỗi người hãy ngay đây định tỉnh tinh thần, một niệm hồi quang, thì rỗng toang tự soi sáng. Khác chi vầng hồng trong hư không, một mình vận hành vô tư. Hay như minh châu trên mâm, chẳng đẩy mà tự lăn. Lúc này nếu chẳng xét tột cội nguồn, liền đợi về sau hỏi đức Di-lặc, sao quá chậm vậy?

Tôi dù tối dốt, học vấn sơ sài, hạnh giải mỏng manh, cũng thấy được những lời tụng tranh chăn trâu, chính là việc trên bổn phận của người học đạo. Song văn ít mà nghĩa sâu, ý thâm mà hình ảnh rõ ràng, nên trong một niệm phấn khởi, tôi liền tạm viết lời chú giải, để mọi người cùng rõ biết. Theo lời trình bày trên giấy mực, lại có thêm phần nói thẳng, lược dẫn ít điều. Nếu như lý tột chưa được sáng tỏ, bàn lầm nghĩa sai trái, mong cho tôi được sám hối. Hoặc giả lời lẽ đúng lý, xin cho rộng lưu thông, để khỏi cô phụ chí nguyện này.

Lời rằng: “Thánh nhân luống phí tâm lão bà, tri âm nào phải kêu nói mãi.” Giờ đây đối với mục ban đầu chưa chăn, xin hãy tạm nêu ra.

Chỉ vì khi mê cần nhờ có giáo lý ba thừa. Sau khi ngộ mới biết một chữ cũng không. Xưa đức Thích-ca Như Lai đi thẳng vào núi Tuyết, bỏ cả sự vinh hoa, phú quý ở đời, chịu sáu năm đói lạnh, đến đêm mùng tám tháng chạp thấy sao mai mọc liền thành Chánh giác, cảm than rằng: “Lạ thay! Có tâm là có Phật. Chỉ vì tất cả chúng sanh có đủ đức tướng trí tuệ Như Lai, nhưng đều do vọng tưởng chấp trước mà chẳng chứng được.” Do đó, ở đạo tràng Bồ-đề, ngài nói kinh Hoa Nghiêm, chính là pháp môn “Nhất thừa viên đốn vi diệu”, mở bày cho chúng sanh thấy tánh thành Phật. Đó thật là kinh điển bí yếu.

Lại, sách Đại Học của họ Khổng để lại, nói: “Từ thiên tử cho đến dân thường, thảy đều lấy việc tu thân làm gốc.” Song pháp môn này, trước nói chưa chăn, giống như nói chưa giác. Chưa giác tức là chưa tu, mà chưa tu chính là chưa chăn. Như trong lời trên: “từ thiên tử cho đến dân thường” có thể biết đã ngầm nêu hết những hàng vương hầu, công khanh sĩ đại phu v.v... ở trong đó.

Từ bậc thiên tử chưa chăn, nghĩa là sao? Đây là thân ở cảnh phú quý, con trai, con gái, lụa ngọc, trân báu, kho tàng, hằng ngày ứng tiếp muôn việc, đâu rảnh mà hồi quang phản tỉnh để chăn cho được?

Đến như ngôi vị vương hầu chưa chăn, là sao? Cũng đều do con cái, lụa ngọc thê thiếp dính bận nơi tâm, lại có quyền hành đi đánh dẹp, mưu tính xâm lăng, nhân đó nên không thể chăn.

Tới hàng công khanh, sĩ đại phu v.v... thì a dua theo quyền thế, say sưa với bổng lộc, khoe khoang tiếng tăm, hoặc lo hưởng ân huệ trên trước người dân, chỉ mưu quý hiển một thân mình, nhân đó không thể chăn.

Còn hạng học trò, thì lao tâm khổ chí, lo lấy công danh vinh hiển, đâu rảnh mà chăn?

Cho đến kẻ ruộng vườn, thợ thầy, buôn bán, hết thảy mọi người làm ăn kiếm sống, gieo giống cấy mạ, gánh nước bửa củi, giặt nhuộm may vá, dệt vải, gặt, phơi, xay, giã, nắm bắt tạo bày, khổ nhọc chăm lo, bề bộn rộn ràng để kiếm dùng hằng ngày. Sớm tối nghĩ suy, trăm phương ngàn kế; nếu nói việc ngay trong nhà thôi, thì cũng biết bao thứ nhỏ nhặt, bút không thể chép hết. Chỉ vì nghiệp căn sâu nặng, lăng xăng cả ngày, thế nào chăn được?

Trên từ vua chúa, dưới đến dân thường, hãy gác lại chớ bàn. Ngay như xứ này, hàng bốn chúng đệ tử Phật, vốn đã có chút ít duyên lành đời trước được sanh làm người, may còn gặp nề nếp từ xưa truyền lại, được đi xuất gia, cạo tóc mặc áo nhuộm, lạm nhận sự cung kính, cứ “ăn rồi tụ đầu nói chuyện ồn ào, chỉ nói toàn chuyện thế gian tạp nhạp; ham ăn ham uống qua ngày, lần lựa ở trong đời, bèn thành quê dốt”. Rồi trở lại đi theo cúng tụng để lo lợi dưỡng, quên mất tâm ban đầu, thật là cô phụ chí xuất gia vậy. Bao giờ mới dừng ý quên duyên, hồi quang phản tỉnh mà chịu chăn? Cứ suy theo đó thì thảy đều là chưa chăn hết.

Giảng:

Kính lễ bậc Giác biết cùng khắp,

Nương về kinh Pháp mười hai bộ,

Nam-mô mười phương các Thánh hiền,

Đồng chấn uy quang soi xét đến.

Mở đầu bài tụng ngài Quảng Trí kính lễ Tam bảo:

Kính lễ bậc Giác biết cùng khắp là kính lễ Phật, nương về kinh Pháp mười hai bộ là kính lễ Pháp, nam-mô mười phương các Thánh hiền là kính lễ Thánh hiền tăng. Đồng chấn uy quang soi xét đến, cầu Tam bảo soi xét đến những lời chỉ dạy nhắc nhở của ngài cho mọi người cùng thấy cùng biết. 

Từng bảo: Thuốc, không hẳn sâm, linh, đan, thạch, hết bệnh là thuốc hay. Lời không hẳn bàn giỏi, luận thông, mở sạch điều mê là lời khéo. Vì thế, chỗ thầy thuốc tầm thường bỏ đi, chính là chỗ Lô Biển thu lấy. Điều hạng dở coi khinh, chính là điều bậc trí quý trọng. Mới biết, lập ngôn chẳng quý bàn suông vô ích, mà thật quý là lời cảnh tỉnh được người. Người xưa nói: Do nghi mới đến hỏi, kiếm báu rời khỏi vỏ vì chém việc bất bình; dẫn lời đáp để phá nghi, linh đơn ra khỏi đỉnh (bình), là muốn trị lành bệnh vậy.

Ngài bảo: Người ta thường nói thuốc không phải là sâm, là linh, đan, thạch, miễn thuốc nào trị hết bệnh, đó là thuốc hay. Còn lời không hẳn là bàn giỏi luận thông, miễn lời nói để người mở sạch được điều mê là lời khéo.

Vì thế ở đây mới dẫn chứng: Chỗ thầy thuốc tầm thường bỏ đi, chính là chỗ Lô Biển thu lấy. Lô Biển là ông Biển Thước ở đất Lô, làm thầy thuốc nổi tiếng ở Trung Hoa. Chỗ những thầy thuốc tầm thường chê, chính là chỗ thầy thuốc nổi danh dùng lấy. Điều hạng dở coi khinh, chính là điều bậc trí quý trọng. Điều mà những kẻ dở xem thường, chính là điều người trí thấy hay. Mới biết, lập ngôn chẳng quý bàn suông vô ích, mà thật quý là lời cảnh tỉnh được người. Nói nhiều, nói hay, văn chương lưu loát mà không dính dấp đến sự tu hành, không đúng với bệnh của người thì cũng không lợi ích gì, cho nên lời nói để người thức tỉnh là lời quý. Người xưa nói: Do nghi mới đến hỏi, kiếm báu rời khỏi vỏ vì chém việc bất bình. Do nghi mới đến hỏi, dụ như kiếm báu rút ra khỏi vỏ vì có những việc bất bình ở ngoài cần sát phạt. Cũng như vậy, vì ôm ấp cái nghi trong lòng cho nên mới đến các thiện tri thức để thưa hỏi. Dẫn lời đáp để phá nghi, linh đơn ra khỏi đỉnh (bình) là muốn trị lành bệnh vậy. Lời đáp lại của thiện tri thức là để phá cái nghi của người hỏi, giống như viên thuốc linh đơn trút ra khỏi bình là để trị bệnh cho người. Như vậy thiền khách đến thưa hỏi với thiện tri thức là giống như cây kiếm ở trong vỏ tuốt ra để giải quyết việc bất bình. Còn thiện tri thức đáp giải nghi cho người hỏi giống như thuốc linh đơn ở trong bình trút ra để trị bệnh. Hai hình ảnh này rất là rõ ràng.

Các nhân giả! Mỗi người hãy ngay đây định tỉnh tinh thần, một niệm hồi quang, thì rỗng toang tự soi sáng. Khác chi vầng hồng trong hư không, một mình vận hành vô tư. Hay như minh châu trên mâm, chẳng đẩy mà tự lăn. Lúc này nếu chẳng xét tột cội nguồn, liền đợi về sau hỏi đức Di-lặc, sao quá chậm vậy?

Câu này ngài đánh thức chúng ta. Các nhân giả là tất cả chúng ta. Mỗi người hãy ngay đây định tỉnh tinh thần, tức là mình định tỉnh tinh thần lại. Một niệm hồi quang là một cái nhìn quay lại thì rỗng toang tự soi sáng. Cũng như tổ Huệ Khả quay lại tìm tâm, tìm tâm thì tâm lặng, đó là rỗng toang tự soi sáng. Khi đó khác chi vầng hồng trong hư không, một mình vận hành vô tư. Khi quay lại nhìn thì những niệm lăng xăng lặng, chỉ còn một tâm thể tròn sáng giống như vầng mặt trời đi tự tại trong hư không. Hay như minh châu trên mâm, chẳng đẩy mà tự lăn, như hạt minh châu tròn để trên mâm thì lăn, tức là nó tới lui tự tại.

Đoạn này ngài muốn chỉ cho chúng ta ai ai cũng sẵn có tánh giác, chỉ cần quay lại soi sáng để những ý niệm lặng đi thì tánh giác hiện tiền, giống như mặt trời đi giữa hư không, như hạt châu lăn trên mâm vậy.

Lúc này nếu chẳng xét tột cội nguồn, ngay đây mà không chịu tu, không chịu quán sát trở lại, liền đợi về sau hỏi đức Di-lặc, sao quá chậm vậy. Hiện nay có nhiều người tu lại nghĩ: Thôi mình tu để gieo nhân chờ đức Phật Di-lặc ra đời, gặp Phật mình tu, Phật chỉ thẳng cho mình giác ngộ. Có nên chờ như vậy không? Chúng ta đã có sẵn tánh giác mà không lo quay trở lại, chờ đến đức Di-lặc ra đời lâu quá, sao không tiếc thời giờ? Sao quá chậm vậy, đó là lời trách.

Tôi dù tối dốt, học vấn sơ sài, hạnh giải mỏng manh, cũng thấy được những lời tụng tranh chăn trâu, chính là việc trên bổn phận của người học đạo. Song văn ít mà nghĩa sâu, ý thâm mà hình ảnh rõ ràng, nên trong một niệm phấn khởi, tôi liền tạm viết lời chú giải, để mọi người cùng rõ biết. Theo lời trình bày trên giấy mực, lại có thêm phần nói thẳng, lược dẫn ít điều. Nếu như lý tột chưa được sáng tỏ, bàn lầm nghĩa sai trái, mong cho tôi được sám hối. Hoặc giả lời lẽ đúng lý, xin cho rộng lưu thông, để khỏi cô phụ chí nguyện này.

Trước tiên ngài khiêm tốn nói: 

Tôi dù tối dốt, học vấn sơ sài, hạnh giải mỏng manh. Ngài nói ngài tối dốt, học vấn sơ sài hạnh giải yếu ớt, nhưng cũng thấy được những lời tụng tranh chăn trâu chính là bổn phận của mình, cần phải giúp cho những người học đạo cùng biết. Song văn ít mà nghĩa sâu, ý thâm mà hình ảnh rõ ràng, nên trong một niệm phấn khởi, tôi liền tạm viết lời chú giải, để mọi người cùng rõ biết. Nhìn những bức tranh chăn trâu, đọc những lời tụng, ngài lãnh hội được nên mới viết lời chú giải để trình ra đây cho mọi người cùng rõ. Theo lời trình bày trên giấy mực, lại có thêm phần nói thẳng, lược dẫn ít điều. Nếu như lý tột chưa được sáng tỏ, bàn lầm nghĩa sai trái, mong cho tôi được sám hối. Nếu như lời giải thích lý cao tột chưa được sáng tỏ, rồi bàn giải sai lầm, đó là lỗi của ngài, ngài xin sám hối. Hoặc giả lời lẽ đúng lý, xin cho rộng lưu thông, để khỏi cô phụ chí nguyện này. Nếu lời lẽ hay đúng thì cho lưu thông để hợp chí nguyện của ngài muốn lợi ích cho nhiều người.

Lời rằng: “Thánh nhân luống phí tâm lão bà, tri âm nào phải kêu nói mãi.” Giờ đây đối với mục ban đầu chưa chăn, xin hãy tạm nêu ra.

Đến đây ngài dẫn: Lời rằng là lời của một vị thánh trước. Thánh nhân luống phí tâm lão bà, các bậc thánh nhân thương chúng sanh như tâm của mẹ già thương con, lúc nào cũng nhớ con không nỡ quên. Thánh nhân vì thương chúng sanh cho nên lúc nào cũng muốn nhắc nhở, mà người không lưu tâm, không để ý thì lời nhắc nhở đó là phí công vô ích. Tri âm nào phải kêu nói mãi. Nếu là người tri âm, chỉ nói vài câu thì đã lãnh hội. Lãnh hội rồi thì ứng dụng thực hành. Cũng như Bá Nha Tử Kỳ, người này khảy đàn người kia nghe, lãnh hội được liền thông cảm nhau. Nếu người nghe không phải là tri âm thì tâm lão bà phí tổn rất nhiều. Nói khô môi rát cổ năm này tháng kia, mà lâu lâu nhìn lại thì bệnh thiên hạ cũng y nguyên, đó là phí tâm lão bà! Những câu này nói ra để chúng ta hiểu người lớn đối với người nhỏ như thế nào! Giờ đây đối với mục ban đầu chưa chăn, xin hãy tạm nêu ra. Bây giờ nói đến việc chưa chăn.

Chỉ vì khi mê cần nhờ có giáo lý ba thừa. Sau khi ngộ mới biết một chữ cũng không. Xưa đức Thích-ca Như Lai đi thẳng vào núi Tuyết, bỏ cả sự vinh hoa, phú quý ở đời, chịu sáu năm đói lạnh, đến đêm mùng tám tháng chạp thấy sao mai mọc liền thành Chánh giác, cảm than rằng: “Lạ thay! Có tâm là có Phật. Chỉ vì tất cả chúng sanh có đủ đức tướng trí tuệ Như Lai, nhưng đều do vọng tưởng chấp trước mà chẳng chứng được.” Do đó, ở đạo tràng Bồ-đề, ngài nói kinh Hoa Nghiêm, chính là pháp môn “Nhất thừa viên đốn vi diệu”, mở bày cho chúng sanh thấy tánh thành Phật. Đó thật là kinh điển bí yếu.

Đoạn này ngài dẫn kinh để chứng minh. Ngài nói khi xưa đức Phật đi tu, đã từ bỏ tất cả sự vinh hoa phú quý, chịu khổ hạnh đói lạnh, đến ngày mùng tám tháng chạp khi sao mai mọc, ngài thành đạo. Theo kinh Hoa Nghiêm, hai mươi mốt ngày đầu, ở tại cội bồ-đề, đức Phật nói kinh Hoa Nghiêm, có đoạn nói rằng: 

Lạ thay! Có tâm là có Phật. Chỉ vì tất cả chúng sanh có đủ đức tướng trí tuệ Như Lai, nhưng đều do vọng tưởng chấp trước mà chẳng chứng được. Như vậy kinh nói ai có tâm là có Phật. Nay thử hỏi có người nào không có tâm chăng? Ai cũng có tâm, thì ai cũng có Phật. Thế mà chúng ta cứ mải lo chuyện thế gian, không nhớ đến Phật. Có Phật mà bỏ quên Phật, nên trong kinh nói: Chúng ta bỏ Phật, chứ Phật không bỏ chúng sanh. Chỉ vì tất cả chúng sanh có đủ đức tướng trí tuệ Như Lai, nhưng đều do vọng tưởng chấp trước mà chẳng chứng được. Chúng ta do vọng tưởng chấp trước, cho nên đức tướng trí tuệ Như Lai biến mất, điều này được xác nhận rõ ràng trong kinh Hoa Nghiêm. Do đó ở đạo tràng Bồ-đề, ngài nói kinh Hoa Nghiêm, chính là pháp môn “Nhất thừa viên đốn vi diệu”, mở bày cho chúng sanh thấy tánh thành Phật. Đó thật là kinh điển bí yếu. Kinh Hoa Nghiêm chỉ thẳng cho mọi người thấy mình có sẵn tâm Phật, có sẵn tánh giác, để tu thành Phật. Vậy kinh Hoa Nghiêm cũng không khác với thiền tông, chỉ rõ chỗ chí yếu cho tất cả chúng ta. Đoạn kế tiếp ngài dẫn sách Nho để chứng minh.

Lại, sách Đại Học của họ Khổng để lại, nói: “Từ thiên tử cho đến dân thường, thảy đều lấy việc tu thân làm gốc.” Song pháp môn này, trước nói chưa chăn, giống như nói chưa giác. Chưa giác tức là chưa tu, mà chưa tu chính là chưa chăn. Như trong lời trên: “từ thiên tử cho đến dân thường” có thể biết đã ngầm nêu hết những hàng vương hầu, công khanh sĩ đại phu v.v... ở trong đó.

Sách Đại Học của Khổng Tử nói: Từ thiên tử cho đến dân thường, thảy đều lấy việc tu thân làm gốc. Từ thiên tử cho đến dân thường là gồm cả vương hầu công khanh v.v... cho đến thứ dân kẻ làm ruộng người buôn bán, ai cũng phải lấy việc tu thân làm gốc.

Từ bậc thiên tử chưa chăn, nghĩa là sao? Đây là thân ở cảnh phú quý, con trai, con gái, lụa ngọc, trân báu, kho tàng, hằng ngày ứng tiếp muôn việc, đâu rảnh mà hồi quang phản tỉnh để chăn cho được? Đây chỉ lý do vì sao bậc thiên tử chưa chăn: Vì thân ở trong cảnh phú quý, có con trai con gái, có lụa ngọc trân báu kho tàng, hằng ngày lo ứng tiếp muôn việc, đâu rảnh mà hồi quang phản chiếu, vì vậy mà gọi là chưa chăn.

Đến như ngôi vị vương hầu chưa chăn, là sao? Cũng đều do con cái, lụa ngọc thê thiếp dính bận nơi tâm, lại có quyền hành đi đánh dẹp, mưu tính xâm lăng, nhân đó nên không thể chăn. Đến các quan võ không có chăn, tức là không có tu thân, là tại sao? Là cũng do có con cái, lụa là châu ngọc, thêm thê thiếp vướng bận, lại có quyền hành đi đánh giặc, vì vậy đâu có rảnh mà chăn, cho nên chưa chăn.

Tới hàng công khanh, sĩ đại phu v.v... thì a dua theo quyền thế, say sưa với bổng lộc, khoe khoang tiếng tăm, hoặc lo hưởng ân huệ trên trước người dân, chỉ mưu quý hiển một thân mình, nhân đó không thể chăn. Đến các quan văn mà không chăn là tại sao? Vì a dua theo quyền thế, say sưa với bổng lộc, khoe khoang tiếng tăm, lo hưởng ân huệ trên trước người dân, mưu sự hiển vinh cho thân mình, nhân đó mà không thể chăn.

Trên đây đã kể ra ba hạng chưa chăn: vua chúa, quan võ, quan văn.

Còn hạng học trò, thì lao tâm khổ chí, lo lấy công danh vinh hiển, đâu rảnh mà chăn? Đến học trò cũng không chăn, vì bận lao tâm khổ chí học hành thi cử, gầy dựng công danh sự nghiệp, nên đâu có rảnh mà chăn!

Cho đến kẻ ruộng vườn, thợ thầy, buôn bán, hết thảy mọi người làm ăn kiếm sống, gieo giống cấy mạ, gánh nước bửa củi, giặt nhuộm may vá, dệt vải, gặt, phơi, xay, giã, nắm bắt tạo bày, khổ nhọc chăm lo, bề bộn rộn ràng để kiếm dùng hằng ngày. Sớm tối nghĩ suy, trăm phương ngàn kế; nếu nói việc ngay trong nhà thôi, thì cũng biết bao thứ nhỏ nhặt, bút không thể chép hết. Chỉ vì nghiệp căn sâu nặng, lăng xăng cả ngày, thế nào chăn được? Đây kể chung tất cả, những người làm ruộng vườn, làm thợ thầy, làm tất cả ngành để kiếm cơm sinh sống, lăng xăng suốt ngày, rốt cuộc rồi cũng không chăn.

Thế là từ vua chúa đến quan võ quan văn không chăn, cho đến học trò và thường dân cũng không chăn!

Đến phần kết thúc:

Trên từ vua chúa, dưới đến dân thường, hãy gác lại chớ bàn. Ngay như xứ này, hàng bốn chúng đệ tử Phật, vốn đã có chút ít duyên lành đời trước được sanh làm người, may còn gặp nề nếp từ xưa truyền lại, được đi xuất gia, cạo tóc mặc áo nhuộm, lạm nhận sự cung kính, cứ “ăn rồi tụ đầu nói chuyện ồn ào, chỉ nói toàn chuyện thế gian tạp nhạp; ham ăn ham uống qua ngày, lần lựa ở trong đời, bèn thành quê dốt”. Rồi trở lại đi theo cúng tụng để lo lợi dưỡng, quên mất tâm ban đầu, thật là cô phụ chí xuất gia vậy. Bao giờ mới dừng ý quên duyên, hồi quang phản tỉnh mà chịu chăn? Cứ suy theo đó thì thảy đều là chưa chăn hết.

Phần kết thúc này nghe buồn làm sao! Rốt cuộc rồi toàn là chưa ai chịu chăn cả, chưa chăn tức là chưa tu!

Đoạn trên ngài nêu nào là vua chúa, rồi tới kẻ nông phu, người thợ thầy v.v... vì bận rộn quá không ai chăn được.

Đến phần kết thúc, ngài nói thẳng bốn chúng đệ tử Phật. Bốn chúng đệ tử Phật là ai? Là những người có căn duyên trong đạo: cao ở trên là Tỳ-kheo, kế là Tỳ-kheo-ni, kế đến là Sa-di và Sa-di-ni. Có chỗ nói bốn chúng là: chư tăng, chư ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Những người này đã có chút duyên trong đạo, cho nên: Được sanh làm người, may còn gặp nề nếp từ xưa truyền lại, được đi xuất gia, cạo tóc mặc áo nhuộm, lạm nhận sự cung kính. Chữ này hơi đau một chút, “lạm nhận sự cung kính”, nói theo thế thường là lạm dụng sự cung kính của người. Ăn rồi tụ đầu nói chuyện ồn ào, chỉ nói toàn chuyện thế gian tạp nhạp; ham ăn ham uống qua ngày, lần lựa ở trong đời, bèn thành quê dốt. Đây là dẫn lời trong Quy Sơn Cảnh Sách quở nặng vì không chịu chăn.

Sau đây lại quở thêm: Rồi trở lại đi theo cúng tụng để lo lợi dưỡng. Lo đi cúng tụng để được thù lao chút ít, rồi quên mất tâm ban đầu. Chúng ta đi tu là để thành một người xuất gia tu đạo giải thoát, chứ đâu phải đi tu để trở thành người làm ra tiền để sống. Thế mà chúng ta quên mất tâm ban đầu, thật là cô phụ chí xuất gia vậy. Thật là chúng ta đã bỏ mất ý chí xuất gia của mình, như vậy thì: Bao giờ mới dừng ý quên duyên, hồi quang phản tỉnh mà chịu chăn? Ngay bây giờ có chịu chăn hay chưa? Dừng ý quên duyên là lặng ý không chạy theo duyên bên ngoài. Hồi quang phản tỉnh là xoay ánh sáng lại phản tỉnh nơi mình. Như thế mới là người biết chăn. Cứ suy theo đó thì thảy đều là chưa chăn hết. Như vậy kể cả thế gian và người tu hình như chưa ai chịu chăn hết.

Đây là nói tổng quát về chưa chịu chăn.

✵✵✵

LUẬN THẲNG VỀ CHƯA CHĂN

Bởi tất cả tình mê đều nương các kiến chấp mà dấy lên. Giẫm vào đó thì khác chi rừng rậm, chìm trong đó nào khác biển sôi. Như tằm làm kén, cái ổ tốt là nhân nhận lấy trói buộc. Giống như con thiêu thân lao vào đèn, theo ánh sáng làm gốc hủy mình. Nên bậc thông suốt nói: “Kẻ bỏ nhà lang thang mới cảm thông với người lữ khách, người lạnh lẽo cô đơn, mới biết rõ nỗi khổ của kẻ cùng đường.” Không pháp gì cứu được. Đó là cái thấy hẳn nên quở trách. Hãy thuận lời Phật, chớ theo lời dạy của ma. Nay tôi nói phá rành rõ, nhưng nói phá lại bị người ghét. Người xưa nói: “Lời nói đúng lý chẳng sợ bị cắt lưỡi.” Do đó, tôi tạm nêu lên ở cõi này trong hàng tăng có năm hạng đọa, năm hạng lười cộng chung thành mười hạng người chưa chịu chăn.

1. Rơi vào cuồng vọng buông thả mà chẳng chịu chăn. Vì sao? Trong giáo nói: Có những kẻ dân ma, chuyên thích cuồng tuệ, chẳng chịu trì giới tu hành, vọng chấp những lời lẽ tương tự trong kinh điển, như câu: “phiền não tức Bồ-đề, dâm nộ si tức Phạm hạnh”, rồi theo lời sanh hiểu, theo cái hiểu lại phát độc, mặc tình nói năng ngông cuồng, tội lỗi không lường được. Họ chỉ có giải thoát trên môi lưỡi, thừa và giới đều mất hết, hoàn toàn chẳng tu hành gì. Nên hòa thượng Vĩnh Minh nói: “Còn mang tập khí vẫn bị nghiệp cảnh lôi đi, hiện hành đâu khỏi duyên ràng buộc.” Như nói: “Học hiểu ngàn ngày, chẳng bằng trì giới một bữa.” Tại sao tham hư danh trên ngữ giải, nhận thật họa nơi địa ngục, dối mình lừa người, cam bị chìm đắm? Đấy chỉ là bọn sủa ngông cuồng, thật đáng thương xót! 

Những người hạng này tức chẳng chịu chăn.

2. Rơi vào chia chẻ mà chẳng chịu chăn. Vì sao? Tổ sư nói: Phần nhiều người có thông minh, học chăm săn tìm nơi giáo điển, ghi chú chương cú, chấp vào tên giả pháp thân, chia chẻ rành mạch trên danh tướng, gom góp chỗ này, vá víu chỗ kia, suốt cả năm tháng. Mỗi người do tranh giành cái thấy của mình, mà không có chỗ sống thật. Thế nên phải biết, trẻ đói đi ngang qua hàng thịt, miệng nhai ngồm ngoàm, chỉ thêm lòng thèm khát, không giúp gì được bụng đói. Hạng người này chỉ lo nói thiền trên miệng, dù ghi nhớ chương cú, chỉ ôm lòng ngã mạn để lấn lướt người. Đây là hạng thô hạnh thứ nhất trong hàng tăng. Huống nữa, không có công phu tu hành chân thật, luống thêm khẩu nghiệp, rất đáng thương xót! 

Kẻ như thế nên chẳng chịu chăn.

3. Rơi vào si không mà chẳng chịu chăn. Vì sao? Người xưa nói: Kẻ học đạo dòm thấy một chút pháp không, rồi nghe người tụng kinh, niệm Phật, lễ bái, thực hành các thứ hạnh, liền bảo: “Pháp lìa danh tự, nếu theo danh giả thuyết quyền, càng thêm hư vọng.” Đây là hạng người trong tâm ngoài miệng trái nhau. Đâu chẳng thấy kinh Lăng-nghiêm nói: “Nếu ở trong định kia, các thiện nam thấy sắc ấm tiêu, thọ ấm sáng tỏ, tự cho mình đã đủ, thì có một phần đại ngã mạn, bị ma nhập tâm phủ. Họ bảo, một niệm vượt qua ba vô số kiếp, trong tâm còn xem thường cả mười phương Như Lai, huống chi hàng Thanh văn, Duyên giác ở bậc dưới. Chẳng lễ tháp miếu, khinh thường kinh tượng, cho đây là đồng, vàng, gỗ, đất. Và bảo nhục thân là chân thường mà chẳng tự cung kính, lại đi sùng mộ gỗ đất, thật là điên đảo. Quả làm nghi lầm người sau vậy.”

Phải biết, chấp không mà phá tướng như thế, đều là quyến thuộc của ma. Mặc cho tất cả đều không, sanh không, tử cũng không, nhưng vua Diêm-la chẳng không thì làm sao đây? Thật đáng thương xót!

Hạng người chấp không này tức chẳng chịu chăn.

4. Rơi vào tùy duyên mà chẳng chịu chăn. Vì sao? Người xưa nói: “Tùy duyên tiêu nghiệp cũ, hồn nhiên mặc áo xiêm.” Chỉ thuận theo thiên chân, muôn hạnh tự tròn đủ. Giở chân, hạ chân, cái gì chẳng phải là nghiệp thanh tịnh, cần chi nhiều thứ tạo tác?

Lại bậc tiên đức nói: “Tức tâm tức Phật, đâu nhờ tu hành?” Hạng người này như con chó đuổi theo hòn đất, chẳng biết là lời nói nhất thời trong cửa tổ sư, nhân bệnh mà cho thuốc. Vì vậy nên biết “tùy duyên, mặc tình”, chẳng phải là không làm gì. Nhận lầm cơ tổ, nắm đá sỏi cho là ngọc, thật đáng xót thương!

Hạng hiểu sai lầm này, tức chẳng chịu chăn.

5. Rơi vào dua nịnh theo quyền thế mà chẳng chịu chăn. Vì sao? Chỉ vì chẳng biết xấu hổ, cứ lo khoe khoang tiếng tăm, quên mất cả đạo đức, bỏ bê phép tắc luật nghi, không còn gì là chừng mực, buông lung theo tình riêng mà đến nỗi như vậy.

Trái lại, họ chê người thật thà chất phác là quê mùa, và ca ngợi kẻ huênh hoang tự đắc là lanh lợi. Do đó, cứ buông thả tình dục, chẳng biết hổ thẹn. Tự hay nịnh hót kẻ thế lực, nương gá nơi cửa quyền quý để mưu lấy tiếng tăm, lợi lộc. Thường thì hạng người này chẳng nhận rõ gốc đạo, đắm đuối nơi sông ái, biển dục, đành tự cam chịu chìm lịm. Một mai họa đầy phước hết, bị người trời chán bỏ, thầy bạn chịu lây.

Hạng người như thế nên chẳng chịu chăn.

6. Thân tuy xuất gia mà chẳng chịu an tâm vào đạo, lại thuận theo pháp rỗng, chỉ lo giữ gìn thân huyễn, trau chuốt dáng vẻ bề ngoài, biếng nhác mà chẳng chịu chăn. Vì sao? Hòa thượng Thiên Như nói: Thời gần đây có một hạng xuất gia, tuy nói lìa tục, mà thói tục chẳng trừ. Trọn nói xuất trần mà duyên trần chẳng cắt đứt. Kinh giáo vốn không rõ biết, tham thiền lại chẳng nhận hiểu. Tâm vượn chạy mãi, ý ngựa ruổi rong, thành bầy thành đội, ồn ào cả ngày. Chẳng những luống hao của tín thí, cũng là chôn vùi tánh linh chính mình. Đến khi nhắm mắt, đường trước chẳng biết đi đâu, thật là uổng vào nơi cửa không, sống đã vô ích, chết lại lạc loài.

Hạng người như trên, là vì cơm áo, vì cầu an vui. Xuất gia như vậy, thật đáng đau xót! Đâu chẳng biết kinh Bảo Tích nói: “Quán nơi thân có bốn mươi thứ lỗi lầm, hoặc nói nó là ngục tù tham dục, hằng bị phiền não trói cột, là hố nhơ nhớp, luôn bị các trùng rúc rỉa. Tợ nhà xí với năm điều bất tịnh. Như túi lủng với chín lỗ thường chảy ra. Rắn độc nóng giận dấy lên thì làm hại tâm và thương tổn tuệ mạng. Quỷ la-sát ngu si, chấp ngã kiến mà nhai nuốt trí thân. Giống như giặc dữ, cả thế gian đều muốn tránh. Đồng với chó chết, các Thánh hiền đều xa bỏ. Chẳng bền chắc như cây chuối, hòn bọt v.v... Vô thường như lửa nháng, điện chớp. Dù cho nó ăn uống mà trở lại thành thù địch. Thường đem đồ nuôi dưỡng mà không biết đền ơn v.v...” Điều đáng chê trách rất nhiều, khó nói đủ hết. Nếu chẳng xét kỹ lỗi lầm sâu nặng này, bèn lo bồi bổ giữ kỹ lấy nó. Mê điều này, vì đó mà chẳng tiến tu thì sẽ thiếu kém cả hai trí và hạnh, mất cả hai lý và sự. Cần trước hết chán ghét, biết quấy, lửa ham muốn sẽ ngầm tiêu dứt. Nếu thiết tha đối trị tận gốc, thì cái chân thật vốn sẵn tự hiện.

Thường hạng này đều bởi bên trong không có trí sáng soi, bỏ gốc chạy theo ngọn, sáng chiều toàn theo những thứ động mà làm rối mất nguồn chân mờ đục nước tánh.

Hạng người như trên đây, hẳn chẳng chịu chăn.

7. Đuổi theo bám víu việc đời, ngày càng tinh chuyên, tâm động mà chẳng chịu chăn. Vì sao? Kinh Pháp Cú Thí Dụ nói: “Như giấy gói hương, dây buộc cá.” Vật vốn trong sạch, đều bởi duyên mà dấy thành tội phước. Bạn hiền minh thì đạo nghĩa ngày thêm đầy. Bạn ngu tối thì ngày càng gom tụ họa ương. Giống như giấy và dây, gần hương thì thơm, gần hôi thì tanh. Nó thấm dần trở thành thói quen, đều chẳng tự hay biết. Nên bậc tiên đức nói: “Dừng dừng dừng, kíp tu mau. Trời trong chẳng chịu đi, đợi đến mưa ướt đầu.”

Hạng người trên đây, thuận theo bánh xe nghiệp, chính mình bỏ mất gốc đạo nên chẳng chịu chăn.

8. Đem Phật pháp làm theo tình đời, tâm động mà chẳng chịu chăn. Vì sao? Nhân vì tài trí chẳng đủ, thấy biết chẳng sáng mà đến như thế! Hòa thượng Dụ hiệu Phật Trí nói: “Ngựa hay chạy nhanh mà chẳng dám thả chân bước càn, là nhờ dây cương kìm chế. Ý thức trôi nổi mà chẳng dám vin theo duyên, là nhờ sức giác chiếu.” Than ôi! Đem Phật pháp làm theo tình đời, quả là kẻ ngoắt đuôi cầu xin thương xót. Đó là không có giác chiếu vậy.

Hạng người như trên nên chẳng chịu chăn.

9. Ngu điếc, giải đãi, biếng nhác cầu an mà chẳng chịu chăn. Vì sao? Chỉ vì tự phụ, tự bỏ nên như thế. Bậc tiên đức nói: “Chỗ tài năng chứa đựng của con người tự có lớn nhỏ, thật không thể dạy.” Nên nói: “Giấy nhỏ chẳng gói được vật lớn, dây kéo nước ngắn chẳng thể múc được sâu. Chim cú ban đêm vạch bắt bọ chét, thấy rõ từng sợi lông tơ, nhưng sáng ra thì mắt mờ chẳng thấy gò núi, vốn đã phân định rồi vậy.” Người như trên là tự chấp cho mình đã đủ, nên không thấy trước thật xa. Sống đã không ích gì hiện tại, chết cũng không tiếng tăm về sau.

Nói chung, hạng người như thế nên chẳng chịu chăn.

10. Cờ bạc vô dụng, tụ nhóm thành bè thành lũ, biếng nhác nên chẳng chịu chăn. Vì sao? Chỉ mong lợi nhỏ trước mắt mà ôm lòng tính toán cẩu thả. Lại nói rằng, việc cầu đạo quá viển vông, chẳng bằng cầu lợi thực tế hơn. Do đó họ đua theo thói phù hoa, so đo nhỏ nhặt. Bởi vậy, không ai chịu toan tính trọn năm, huống là lo nghĩ đến sanh tử? Đó là lý do học đạo ngày càng tệ, pháp môn ngày càng xuống dốc.

Nói chung, hạng người như thế nên chẳng chịu chăn.

Mười hạng người trên đây, tuy nói là xuất gia mà không có hạnh dứt khỏi trần tục. Luống mang thân nam tử mà không có chí trượng phu. Nên tổ Quy Sơn nói: “Đáng tiếc một đời qua suông, gặp việc thì ngó vách.” Chỉ vì trọn ngày lăng xăng, cả đêm mê mệt. Rơi vào hầm vô tri, ngồi trong ngục hắc ám. Chẳng thông suốt ý chỉ tức sự tức lý. Chỉ nhớ suông lời phá bệnh phá chấp. Người trí rất thương hại, kẻ ngu lại bắt chước theo. Đã thành lối mòn, muốn dứt bỏ nhanh đi càng rất khó! Vì vậy mới dẫn rộng ra.

Thâm tâm của Phật tổ đã bày rõ đủ hết đại ý kinh luận. Mong người chừa bỏ những chấp cũ, để sửa đổi điều sai quấy trước, mà đồng bước theo dấu vết của bậc tiên thánh còn để lại, và cùng chung lãnh nhận lời răn bảo của đức Phật. Như thế mới không khuyết tổn bản chí, khỏi cô phụ bốn ân, cùng nhau bước lên cửa giải thoát và tiến vào đường thẳng tắt tu hành chân thật, thành tựu đạo nghiệp của chư Phật, đầy đủ đại Bồ-đề. Ngăn bít nẻo tà mà mở ra lối chánh, vững niềm tin mà nhổ bật gai chấp trước. Vượt bến khổ nơi ba cõi, vào nguyện hải Phổ Hiền. Qua cảnh lênh đênh nơi pháp giới, tiến vào thành lớn Niết-bàn.

Ngưỡng mong mắt Phật chứng cho chút lòng thành và khắp vì người đương thời, xin kính dẫn tập này.

Giảng:

Bởi tất cả tình mê đều nương các kiến chấp mà dấy lên. Giẫm vào đó thì khác chi rừng rậm, chìm trong đó nào khác biển sôi. Như tằm làm kén, cái ổ tốt là nhân nhận lấy trói buộc. Giống như con thiêu thân lao vào đèn, theo ánh sáng làm gốc hủy mình. Nên bậc thông suốt nói: “Kẻ bỏ nhà lang thang mới cảm thông với người lữ khách, người lạnh lẽo cô đơn, mới biết rõ nỗi khổ của kẻ cùng đường.” Không pháp gì cứu được. Đó là cái thấy hẳn nên quở trách. Hãy thuận lời Phật, chớ theo lời dạy của ma. Nay tôi nói phá rành rõ, nhưng nói phá lại bị người ghét. Người xưa nói: “Lời nói đúng lý chẳng sợ bị cắt lưỡi.” Do đó, tôi tạm nêu lên ở cõi này, trong hàng tăng có năm hạng đọa, năm hạng lười cộng chung thành mười hạng người chưa chịu chăn.

Trong bài này, thiền sư Quảng Trí nói những lời rất là thẳng thắn để cho mọi người hiểu mà tự sửa.

Trước tiên ngài nói: Bởi tất cả tình mê đều nương các kiến chấp mà dấy lên. Tất cả cái mê của chúng ta đều gốc từ các kiến chấp sai lầm, chứ không phải bỗng dưng mà có. Giẫm vào đó thì khác chi rừng rậm, chìm trong đó nào khác biển sôi. Những ai ôm nhiều kiến chấp thì như người lạc trong rừng rậm, như người chìm trong biển nước sôi, khổ sở vô cùng vô tận.

Như tằm làm kén, cái ổ tốt là nhân nhận lấy trói buộc. Như con tằm làm kén, cái ổ kén càng tốt thì con tằm càng bị trói chặt hơn, lại còn bị bỏ vào nước sôi! Như vậy điều làm chúng ta khổ không phải do ai khác mà do chính chúng ta tự tạo rồi tự chịu lấy khổ. Giống như con thiêu thân lao vào đèn, theo ánh sáng làm gốc hủy mình. Thử hỏi con thiêu thân, khi chúng ta đốt đèn có phải để cho nó bay vào để chết không? Chúng ta đốt ngọn đèn sáng để làm việc, trái lại con thiêu thân thấy ánh sáng liền nhào vào rồi chết. Như vậy nó chết là vì đuổi theo ánh sáng, mà quên đi ánh sáng là cái cớ để giết nó. Cũng như vậy, hiện giờ những người ham xì-ke ma túy thuốc phiện, biết đó là chỗ chết mà cứ lao mình vào rồi chết. Xì-ke ma túy thuốc phiện khi còn ở ngoài có làm cho ai chết không? Tại vì người ta thích nó, muốn thử nó nên mới nhào vô rồi chết, giống hệt như con thiêu thân vậy.

Nên bậc thông suốt nói: “Kẻ bỏ nhà lang thang mới cảm thông với người lữ khách, người lạnh lẽo cô đơn mới biết rõ nỗi khổ của kẻ cùng đường.” Những bậc thông suốt trước kia có nói ai ở trong cảnh mới cảm thông được cái khổ của người trong cảnh. Còn người ngoài cảnh thì không thế nào cảm thông được. Ngài Quảng Trí dẫn câu này ý muốn nói ngài là một tu sĩ, ở trong cảnh tu sĩ mới hiểu được cái lầm chấp của người tu, nếu ở ngoài thì đâu có thấy, đâu có biết. Ngài dẫn thêm: Không pháp gì cứu được. Người mê lầm như vậy, cố chấp như vậy thì không thể cứu được. Đó là cái thấy hẳn nên quở trách. Nếu cái thấy đó mà không quở không trách thì họ chìm luôn. Vì vậy mà phải quở trách. Căn cứ vào đâu quở trách? Hãy thuận lời Phật, chớ theo lời dạy của ma. Chúng ta phải sống phải tu theo lời Phật, chứ đừng theo lời ma. Theo lời Phật thì đúng, theo lời ma thì lạc đường tà. Nay tôi nói phá rành rõ, nhưng nói phá lại bị người ghét. Nay ngài nói phá một cách rành rõ cho mọi người nghe, nói phá tức là chỉ trích. Chỉ trích người có lỗi, người ta ghét, cho nên nói nhưng nói phá lại bị người ghét. Đó là một lẽ thật ở thế gian.

Người xưa nói: “Lời nói đúng lý chẳng sợ bị cắt lưỡi.” Ngài dẫn câu này để thấy việc làm đúng, thì dù có ai muốn hại, mình cũng không sợ. Nếu chúng ta biết điều đó là sai, biết chắc như vậy không nghi ngờ, mà không nói, tức là chúng ta có lỗi a dua theo cái sai. Còn nếu thấy sai, chúng ta nói thẳng đó là sai, thì dù người có ghét nhưng lòng mình được yên. Cái gì biết, chúng ta đã nói đã chỉ chứ không giấu, cũng không bỏ qua. Có nói có chỉ mà người ta không sửa thì đó là lỗi tại người, chứ không phải tại mình. Vì vậy người tu, nếu có can đảm, biết việc đó là sai là lỗi mà không chỉ không nhắc cho nhau, là điều không thể chấp nhận được.

Vì thế thiền sư Quảng Trí ở gần cuối đời Lê thấy những điều tệ trong giới tu hành, ngài không thể nào làm thinh được, cho nên ngài nói: Do đó, tôi tạm nêu lên ở cõi này, trong hàng tăng có năm hạng đọa, năm hạng lười, cộng chung thành mười hạng người chưa chịu chăn. Nghe ngài nói chúng ta cũng đau xót, thử nhìn lại xem trong mười hạng tăng, chúng ta có nằm trong hạng nào hay không, để rồi ráng mà tu chỉnh lại. Có tất cả là mười hạng tăng chưa chịu chăn trâu, tức là chưa chịu tu. Đây là cái nhìn của ngài Quảng Trí ở cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Còn chúng ta hiện giờ là ở cuối thế kỷ XX so lại coi chúng ta có tiến bộ được nhiều ít, mà tiến bộ về mặt nào sánh với khi xưa.

Có mười hạng tăng chưa chịu chăn trâu:

1. Rơi vào cuồng vọng buông thả mà chẳng chịu chăn. Vì sao? Trong giáo nói: Có những kẻ dân ma, chuyên thích cuồng tuệ, chẳng chịu trì giới tu hành, vọng chấp những lời lẽ tương tự trong kinh điển, như câu: “phiền não tức Bồ-đề, dâm nộ si tức Phạm hạnh”, rồi theo lời sanh hiểu, theo cái hiểu lại phát độc, mặc tình nói năng ngông cuồng, tội lỗi không lường được.

Đây là bệnh nặng. Cuồng vọng là cái hiểu biết cuồng vọng, rồi không chịu tu. Lại dẫn kinh làm chứng để cho rằng cái không tu của mình là đúng. Chuyên thích cuồng tuệ mà chẳng chịu trì giới tu hành, vọng chấp những lời lẽ tương tự trong kinh điển như câu: “phiền não tức Bồ-đề, dâm nộ si tức Phạm hạnh”. Câu này xuất xứ từ kinh Viên Giác, kinh Duy-ma-cật, kinh Lăng-già... Lẽ ra người tu chúng ta, như cư sĩ tại gia thì giữ năm giới, tu sĩ xuất gia thì giữ mười giới căn bản hoặc hai trăm năm mươi giới, song chúng ta thọ giới mà không chịu giữ, lâu lâu lại có tham sân si (dâm là tham, nộ là sân), lại cho tham sân si là Phạm hạnh, là hạnh trong sạch, đó là vì hiểu quá lầm lẫn.

Đến câu phiền não tức Bồ-đề. Câu này chắc Phật tử ai cũng thuộc lòng. Nhưng chúng ta có “tức Bồ-đề” chưa? Như khi nghe ai nói trái tai thì nổi giận, lúc đó phiền não có tức Bồ-đề chưa, hay phiền não là si mê?

Tại sao trong kinh lại nói phiền não tức Bồ-đề? Chúng tôi cho một thí dụ, quý vị theo dõi để hiểu. Như ở trên bàn, chúng ta để một tượng Phật rất đẹp, kế bên để một tượng quỷ rất quái dị. Đối trước hai tượng, chúng ta để một cái gương, khi nhìn vào gương chúng ta thấy gì? Thấy trong gương tượng Phật đẹp đẽ trang nghiêm, tượng quỷ quái dị đáng sợ. Nhưng chúng ta dùng trí quán sát thì có sợ không? Phật và quỷ ở trong gương đều là cái bóng, quỷ là bóng, Phật cũng là bóng. Quỷ là dụ cho phiền não, Phật là dụ cho Bồ-đề. Phiền não Bồ-đề nói trên ngôn từ cũng là cái bóng, là bóng thì đâu có khác nhau. Thế thì phiền não tức Bồ-đề, Bồ-đề tức phiền não là như vậy. Phật là bóng, quỷ cũng là bóng vì không thật, như vậy để thấy Phật quỷ không khác, quỷ tức là Phật, Phật tức là quỷ vì đều là bóng không thật. Đó là chặng thứ nhất.

Qua chặng thứ hai, dẹp cái gương đi, quan sát kỹ tượng Phật tượng quỷ làm bằng gì? Tượng Phật làm bằng thạch cao, tượng quỷ cũng làm bằng thạch cao. Tượng Phật tượng quỷ cũng từ thạch cao nặn lên, Phật thạch cao, quỷ cũng thạch cao thì quỷ tức là Phật, Phật tức là quỷ vì thể nó không hai.

Đến chặng thứ ba là cái tưởng tượng của người nghệ sĩ đắp tượng. Khi muốn đắp tượng, người nghệ sĩ cũng dùng bao nhiêu thứ thạch cao, màu sắc để đắp và vẽ thành tượng Phật đẹp đẽ trang nghiêm, rồi cũng đắp và vẽ thành tượng quỷ lạ lùng kinh sợ. Như vậy hai tượng được đắp và vẽ thành hình gốc từ cái tưởng tượng của người nghệ sĩ, thế thì cái tưởng tượng đó có thật không? Tượng quỷ cũng là tưởng tượng, tượng Phật cũng là tưởng tượng, hai cái đều là tưởng tượng thì “tức” với nhau chứ gì. Phật tức là quỷ, quỷ tức là Phật. Như thế Bồ-đề phiền não có khác nhau không? Thấu suốt được lẽ đó mới thấy phiền não Bồ-đề không khác. Nếu chưa thấu suốt thấy tượng Phật là thật, tượng quỷ là thật, thấy tượng Phật thì mừng lạy, thấy tượng quỷ thì run sợ thì khi ấy Bồ-đề phiền não là hai. Như vậy trong kinh Phật nói phiền não tức Bồ-đề, Bồ-đề tức phiền não, là nhắm thẳng cái thể không thật trên tánh giác. Nói Bồ-đề, nói phiền não là hai lối nói, là hai cái đối đãi, mà đối đãi là không thật. Tất cả sự vật ở thế gian này đều không thật, bởi do không thật cho nên nó “tức” với nhau.

Dâm nộ si tức Phạm hạnh nghĩa là tham sân si tức là hạnh thanh tịnh, vì đứng về mặt thể nó là hư dối, vì hư dối cho nên cái này cũng tức là cái kia, cái kia cũng tức là cái này. Còn chúng ta khi nổi sân, lúc đó thấy là dối hay là thật? Nếu khi nổi sân biết là dối thì tự cười chứ không có giận. Còn nếu đang nổi sân mà thấy sân là thật thì cùng với Phạm hạnh làm sao giống được, hai cái khác nhau.

Thế nên lời Phật dạy các vị Bồ-tát là đến chỗ cứu cánh, thể của các pháp không khác. Chúng ta là phàm phu đủ tất cả các tật xấu, thấy cái gì cũng thật, sao lại lấy câu của Phật tổ nói để che lỗi mình? Thí dụ như chúng ta tu mà bị ai chọc giận thì nổi sân la lối, có người Phật tử đứng gần bên thưa: “Thầy tu mà sao còn sân như vậy?” Thầy liền nói: “Phiền não tức Bồ-đề mà.” Thôi thì người Phật tử chịu thua, hết nhắc nổi. Đó là bệnh. Như người tu giữ giới luật không được phép ngồi quán uống rượu, nhưng một hôm thấy người tu ngồi quán uống rượu, Phật tử tới thưa: “Thưa Thầy, theo giới luật thì người tu đâu có được ngồi quán, đâu có được uống rượu. Tại sao Thầy ngồi quán uống rượu?” Thầy nói: “Dâm nộ si là Phạm hạnh mà, Phật tử nói gì vậy.” Người tu dẫn kinh để nộ lại, người Phật tử đành chịu thua. Như vậy có đúng không? Cái đó là lời nói của ma! Lời Phật nói có tính cách khác, lời ma nói có tính cách khác. Ma nói để dọa, để áp đảo thế gian, còn Phật nói để chỉ cho chúng ta thấy chỗ tột cùng chân thật. Những kẻ ma lợi dụng lời Phật nói để dọa nạt người rằng mình hiểu kinh hiểu luật và để gạt lừa thiên hạ. Đó là bệnh rất trầm trọng, thế mà hiện nay có vài người tu làm như vậy và nói như vậy. Khi xưa hồi thế kỷ XVII có việc đó, đến cuối thế kỷ XX này chắc cũng không khác bao nhiêu, thỉnh thoảng có xảy ra sự việc như vậy, ngài Quảng Trí gọi đó là bệnh hết sức trầm trọng.

Cho nên ngài mới nói: Rồi theo lời sanh hiểu, theo hiểu lại phát độc, mặc tình nói năng ngông cuồng, tội lỗi không lường được. Họ phát những lời nói độc hại: Không cần tu, không cần chứng, tu chứng là chấp tướng. Đó là lối nói ngông cuồng, tội lỗi không thể lường được.

Họ chỉ có giải thoát trên môi lưỡi, thừa và giới đều mất hết, hoàn toàn chẳng tu hành gì. Nên hòa thượng Vĩnh Minh nói: “Còn mang tập khí vẫn bị nghiệp cảnh lôi đi, hiện hành đâu khỏi duyên ràng buộc.” Như nói: “Học hiểu ngàn ngày, chẳng bằng trì giới một bữa.”

Họ chỉ có giải thoát trên môi lưỡi, thừa và giới đều mất hết, hoàn toàn chẳng tu hành gì. Họ chỉ có giải thoát trên đầu môi chót lưỡi, rồi nói tôi là người quyết tâm cầu giải thoát, nhưng nói ngoài miệng chứ không hành trong tâm. Thừa là giáo lý, giới là giới luật, đều mất hết, giáo lý không thông, giới luật không giữ, hoàn toàn chẳng tu hành gì cả, chỉ có nói dối để gạt người thôi. Nên hòa thượng Vĩnh Minh nói: “Còn mang tập khí vẫn bị nghiệp cảnh lôi đi.” Theo lời ngài Vĩnh Minh nói nếu người tu dù có hiểu được đôi chút giáo lý, nhưng tập khí muôn đời của mình vẫn còn nặng, nếu không chịu tu thì làm sao dẹp được, mà không dẹp được tập khí thì vẫn bị nghiệp cảnh lôi đi. Hiện hành đâu khỏi duyên ràng buộc. Trong cái hiện hành của mình tức là cái công dụng trên việc làm hằng ngày khó mà tránh khỏi các duyên ràng buộc.

Như vậy tuy chúng ta tu rất cẩn thận, rất chín chắn, dù có thấy đạo, có hiểu đạo, song những lời của Phật của tổ nói chúng ta phải dè dặt không nên dùng nó để che lỗi mình, không nên dùng nó để dọa nạt người. Chúng ta phải kính cẩn lời Phật lời tổ rồi ráng tu hành dẹp sạch tập khí và dẹp hết nghiệp để khỏi bị nó lôi kéo vào trong ba đường ác.

Như nói: “Học hiểu ngàn ngày, chẳng bằng trì giới một bữa.” Đây ngài muốn dẫn cái hiểu với cái hành. Hiểu là do học, học được hiểu nhiều, nhưng giới luật không giữ thì cái hiểu đó không đi tới đâu. Cũng như có một số Phật tử ngày nay học đạo hiểu đạo, rồi biết nói những lời rất hay rất đúng với Phật tổ, nhưng năm giới không chịu giữ, gặp rượu thì ngồi vào bàn, nói toàn chuyện trên trời trên mây mà rượu thì không bỏ nổi. Như vậy được chưa? Hiểu đạo mà giới không giữ cũng chưa xứng đáng với cái hiểu. Người tu càng cẩn thận hơn, dù chúng ta hiểu, nói người ta hoan nghênh, người ta hưởng ứng, nhưng hành động của mình, giới luật của mình không giữ, thì cái hiểu đó chưa cứu được mình.

Tại sao tham hư danh trên ngữ giải, nhận thật họa nơi địa ngục, dối mình lừa người, cam bị chìm đắm? Đấy chỉ là bọn sủa ngông cuồng, thật đáng thương xót! 

Những người hạng này tức chẳng chịu chăn.

Ngài đặt câu hỏi tại sao tham hư danh trên ngữ giải, nghĩa là tham hư danh trên lời nói, trên sự hiểu biết mà nhận thật họa nơi địa ngục tức là cái họa thật ở địa ngục. Dối mình lừa người, cam bị chìm đắm. Dối mình lừa người suốt một đời, cuối cùng bị xuống địa ngục. Như vậy là hay hay dở? Tưởng đâu nói cao nói giỏi là hay, nhưng nói cao nói giỏi đâu thoát khỏi được họa địa ngục!

Đấy chỉ là bọn sủa ngông cuồng, thật đáng thương xót! Ngài quở thật chẳng nể lời: Đấy chỉ là bọn sủa ngông cuồng, nghĩa là nói càn nói bướng giống như chó điên sủa bậy không có lẽ thật, không có giá trị gì. Thật đáng thương xót! Lời quở này cũng khá nặng, nhưng bệnh nặng thì phải có thuốc mạnh, thuốc yếu thì bệnh nặng khó lành.

Những người hạng này tức chẳng chịu chăn. Những người hạng như vậy thì không bao giờ chịu chăn trâu, tức là không chịu tu. Đó là hạng thứ nhất. 

Chúng ta không chỉ nghe thôi, mà phải kiểm nghiệm lại, nhìn lại nội tâm mình, nhất là người tu, xem chúng ta có vướng những bệnh như vậy hay không. Nếu có thì phải trị ngay đừng để thành bệnh. Rồi nhìn lại những người cùng giới tu hành, thấy ai có bệnh như vậy thì ráng trị giùm, nếu trị không được thì chỉ thuốc giùm, chỉ thuốc không được thì chắp tay xá rồi lui chứ đừng có lý luận.

Hạng bị đọa thứ nhất, rơi vào cuồng vọng buông thả, còn hạng thứ hai là rơi vào chia chẻ.

2. Rơi vào chia chẻ mà chẳng chịu chăn. Vì sao? Tổ sư nói: Phần nhiều người có thông minh, học chăm săn tìm nơi giáo điển, ghi chú chương cú, chấp vào tên giả pháp thân, chia chẻ rành mạch trên danh tướng, gom góp chỗ này, vá víu chỗ kia, suốt cả năm tháng. Mỗi người do tranh giành cái thấy của mình, mà không có chỗ sống thật. Thế nên phải biết, trẻ đói đi ngang qua hàng thịt, miệng nhai ngồm ngoàm, chỉ thêm lòng thèm khát, không giúp gì được bụng đói. Hạng người này chỉ lo nói thiền trên miệng, dù ghi nhớ chương cú, chỉ ôm lòng ngã mạn để lấn lướt người. Đây là hạng thô hạnh thứ nhất trong hàng tăng. Huống nữa, không có công phu tu hành chân thật, luống thêm khẩu nghiệp, rất đáng thương xót! 

Kẻ như thế nên chẳng chịu chăn.

Rơi vào chia chẻ mà chẳng chịu chăn. Chia chẻ tức là học đạo mà cứ lo phân tích câu lời, lựa câu cho hay, lời cho khéo v.v... mà không chịu tu. Vì sao? Tổ sư nói: Phần nhiều người có thông minh, học chăm săn tìm nơi giáo điển, ghi chú chương cú, chấp vào tên giả pháp thân, chia chẻ rành mạch trên danh tướng, gom góp chỗ này, vá víu chỗ kia, suốt cả năm tháng. Cứ ngồi đó mà vạch quyển kinh quyển sách ra phân tích chia chẻ cái này thuộc về Tướng tông, cái kia thuộc về Tánh tông, phân chia nghe rành rẽ tưởng như mình thông minh tuyệt vời, nhưng sự thật chỉ là phân tích trên danh tướng mà không chịu tu. Mỗi người do tranh giành cái thấy của mình, mà không có chỗ sống thật. Cho nên người này nói hoặc viết ra, người kia chống lại rồi thành bút chiến cãi qua cãi lại, rốt cuộc không chịu tu hành gì cả. Xét kỹ trên thế gian này hiện giờ chắc có những người như vậy. Thế nên phải biết, trẻ đói đi ngang qua hàng thịt, miệng nhai ngồm ngoàm, chỉ thêm lòng thèm khát, không giúp gì được bụng đói. Ngài dùng thí dụ nghe rất là đau. Trẻ đói tức là mấy đứa con nít đói bụng đi ngang qua hàng thịt thấy người ta ăn, nó cũng bắt chước nhai. Người ta ăn người ta no, còn nó nhai miệng không, không có thịt không có cá, có no không? Nó nhai miệng ngồm ngoàm, chỉ thêm lòng thèm khát không giúp gì được bụng đói. Thí dụ này cho chúng ta thấy người được món ăn, người ta ăn thì no, mình không được món ăn cũng giả bộ nhai thì làm sao no được!

Chư tổ ngày xưa, các ngài tu học đến nơi đến chốn, thấy được lẽ thật nên các ngài nói ra, giả sử có sửa những cái sai của kẻ khác, cũng là vì lòng chân thật, vì tâm từ bi. Còn chúng ta hiện giờ nói ra điều gì, nếu có ai chống lại thì nổi giận tranh luận, cũng nói rằng mình phá tà hiển chánh, song rốt cuộc rồi chỉ tăng thêm cái danh hão huyền thôi chứ không có thật.

Hạng người này chỉ lo nói thiền trên miệng, dù ghi nhớ chương cú, chỉ ôm lòng ngã mạn để lấn lướt người. Những người này nói thiền trên miệng, chứ không phải thiền ở trong tâm. Nói câu này dẫn câu kia, nói thuộc lòng nghe rất hay, đó là để lấn lướt người, thỏa mãn lòng ngã mạn của mình mà thôi. Đây là hạng thô hạnh thứ nhất trong hàng tăng. Trong hàng tăng, đây là hạnh thô thứ nhất. Huống nữa, không có công phu tu hành chân thật, luống thêm khẩu nghiệp, rất đáng thương xót! Nói phá người này, chỉ trích người kia, dẫn kinh dẫn sách rất hay, nhưng chỉ có ngoài miệng chứ trong lòng thì không tu. Như vậy chỉ tăng thêm khẩu nghiệp, đó là hạng người rất đáng thương xót.

Kẻ như thế nên chẳng chịu chăn. Người như thế nên không chịu tu, cứ lo vạch kinh này sách kia tìm kiếm để phê bình chỉ trích thiên hạ, mà mình thì không tu. Đây là bệnh của hạng người thứ hai, rơi vào chia chẻ mà chẳng chịu chăn, bệnh này thuộc về bệnh đọa chứ không phải nhẹ.

3. Rơi vào si không mà chẳng chịu chăn. Vì sao? Người xưa nói: Kẻ học đạo dòm thấy một chút pháp không, rồi nghe người tụng kinh, niệm Phật, lễ bái, thực hành các thứ hạnh, liền bảo: “Pháp lìa danh tự, nếu theo danh giả thuyết quyền, càng thêm hư vọng.” Đây là hạng người trong tâm ngoài miệng trái nhau. Đâu chẳng thấy kinh Lăng-nghiêm nói: “Nếu ở trong định kia, các thiện nam thấy sắc ấm tiêu, thọ ấm sáng tỏ, tự cho mình đã đủ, thì có một phần đại ngã mạn, bị ma nhập tâm phủ. Họ bảo, một niệm vượt qua ba vô số kiếp, trong tâm còn xem thường cả mười phương Như Lai, huống chi hàng Thanh văn, Duyên giác ở bậc dưới. Chẳng lễ tháp miếu, khinh thường kinh tượng, cho đây là đồng, vàng, gỗ, đất. Và bảo nhục thân là chân thường mà chẳng tự cung kính, lại đi sùng mộ gỗ đất, thật là điên đảo. Quả làm nghi lầm người sau vậy.”

Phải biết, chấp không mà phá tướng như thế, đều là quyến thuộc của ma. Mặc cho tất cả đều không, sanh không, tử cũng không, nhưng vua Diêm-la chẳng không thì làm sao đây? Thật đáng thương xót!

Hạng người chấp không này tức chẳng chịu chăn.

Đến hạng người thứ ba: 

Rơi vào si không mà chẳng chịu chăn. Vì sao? Người xưa nói: Kẻ học đạo dòm thấy một chút pháp không, rồi nghe người tụng kinh, niệm Phật, lễ bái, thực hành các thứ hạnh, liền bảo: “Pháp lìa danh tự, nếu theo danh giả thuyết quyền, càng thêm hư vọng.” Câu này chúng ta cần phải nghiệm xét. Hiện nay có một số người tu mắc bệnh này cũng khá nặng, do hiểu được một chút “không”, rồi chấp cái “không” đó, cho nên gọi là “si không”. Nghe ai tụng kinh, niệm Phật, lễ bái v.v... thì chê trách nói: Pháp lìa danh tự, nếu theo danh giả thuyết quyền, càng thêm hư vọng. Họ nói tất cả pháp là lìa danh tự, nếu theo danh giả thuyết quyền tức là thuyết tạm thì càng thêm hư vọng. Họ nói như vậy là để chê trách người tụng kinh, người niệm Phật và người lễ bái. Đây là hạng người trong tâm ngoài miệng trái nhau. Nghĩa là trong tâm thì không chịu tu mà ngoài miệng thì dẫn lời Phật dạy để chê người khác tu.

Đâu chẳng thấy kinh Lăng-nghiêm nói: “Nếu ở trong định kia, các thiện nam thấy sắc ấm tiêu, thọ ấm sáng tỏ, tự cho mình đã đủ, thì có một phần đại ngã mạn, bị ma nhập tâm phủ. Họ bảo, một niệm vượt qua ba vô số kiếp, trong tâm còn xem thường cả mười phương Như Lai, huống chi hàng Thanh văn, Duyên giác ở bậc dưới. Chẳng lễ tháp miếu, khinh thường kinh tượng, cho đây là đồng, vàng, gỗ, đất. Và bảo nhục thân là chân thường mà chẳng tự cung kính, lại đi sùng mộ gỗ đất, thật là điên đảo. Quả làm nghi lầm người sau vậy.” Ngài Quảng Trí dẫn kinh Lăng-nghiêm để chứng minh cho lời ngài quở trách ở đây. Trong kinh Lăng-nghiêm, Phật bảo: Nếu ở trong định kia, các thiện nam, tức là người đang nhập định, thấy sắc ấm tiêu là phá được sắc ấm, thọ ấm được sáng tỏ, tự cho mình đã đủ. Mới phá được sắc ấm, qua đến thọ ấm thì cho mình đã đạt cứu cánh, thì có một phần đại ngã mạn, bị ma nhập tâm phủ. Vừa khởi tâm đại ngã mạn thì bị ma nhập trong tâm phủ, tâm phủ tức là tâm can lục phủ. Khi bị ma nhập tâm rồi thì: 

Họ bảo, một niệm vượt qua ba vô số kiếp, trong tâm còn xem thường cả mười phương Như Lai, huống chi hàng Thanh văn, Duyên giác ở bậc dưới. Cho nên họ không lễ tháp miếu, khinh thường kinh tượng, cho đây là đồng, vàng, gỗ, đất. Và bảo nhục thân là chân thường mà chẳng tự cung kính, lại đi sùng mộ gỗ đất, thật là điên đảo. Họ bảo thân thịt của mình là thân thật, là thân Phật, mình phải cung kính. Còn những thân Phật bằng vàng bằng gỗ bằng đất là bằng các thứ bên ngoài, tại sao cung kính? Rồi khuyên người bảo đừng làm điều đó, cho làm như vậy là điên đảo. Quả làm nghi lầm người sau vậy. Những kẻ này làm cho người sau sanh ra nghi lầm không biết cái nào đúng cái nào sai. Đó là dẫn lời trong kinh.

Phải biết, chấp không mà phá tướng như thế, đều là quyến thuộc của ma. Mặc cho tất cả đều không, sanh không, tử cũng không, nhưng vua Diêm-la chẳng không thì làm sao đây? Thật đáng thương xót! Mới học về lý Bát-nhã một chút mà phá tướng như vậy, đó là bà con của ma chứ không phải là thật. Nói rằng tất cả đều không, sanh không tử không, Niết-bàn không, Bồ-tát không, Thanh văn không, nhưng cuối cùng vua Diêm-la chẳng không, cho nên phải xuống dưới Diêm đài ngồi. Đó là những người đạt lý chưa đến nơi, tu hành chưa đến cứu cánh, mà tự sanh ngã mạn rồi khinh thường tất cả kinh tượng, khinh thường tất cả các quả vị Thanh văn, Duyên giác v.v... Những người này sai lầm, rồi dẫn người khác đến chỗ sai lầm. Thật đáng thương xót!

Hạng người chấp không này tức chẳng chịu chăn. Vì họ chấp không, cho nên đâu có chịu chăn trâu. Chúng ta ở đây học lý đạo, biết Phật nói các pháp không thật, nhưng tối nào cũng phải sám hối, cũng phải lễ Phật. Không phải cho các pháp không thật, rồi không làm gì cả, thì đó là chấp là bệnh. Bệnh thứ ba này thuộc về loại đọa, đọa địa ngục, cho nên nói vua Diêm-la chẳng không.

4. Rơi vào tùy duyên mà chẳng chịu chăn. Vì sao? Người xưa nói: “Tùy duyên tiêu nghiệp cũ, hồn nhiên mặc áo xiêm.” Chỉ thuận theo thiên chân, muôn hạnh tự tròn đủ. Giở chân, hạ chân, cái gì chẳng phải là nghiệp thanh tịnh, cần chi nhiều thứ tạo tác?

Tùy duyên tiêu nghiệp cũ, hồn nhiên mặc áo xiêm là dẫn lời của tổ Lâm Tế. Ngài ngộ đạo rồi, tâm không còn phiền não che lấp, không còn vọng tưởng lôi kéo, cho nên ngài mới nói tùy duyên. Còn chúng ta hiện giờ thì vọng tưởng đầy ắp, phiền não tràn ngập, không có chỗ nào trống mà cũng nói tùy duyên! Tỷ dụ có nhiều Phật tử hỏi chúng tôi: Giả sử mình tu biết đạo chút chút rồi mình sống tùy duyên, nếu có người mời uống rượu, mà mình không uống thì không biết tùy duyên, thưa Thầy như vậy có uống được không? Thử nghĩ chúng tôi phải trả lời như thế nào? Nếu nói được, thì gặp rượu tùy duyên rượu, gặp cái gì tùy duyên cái ấy, thành ra tùy duyên đó là tùy duyên xuống địa ngục! Điều này rất quan trọng, vì đây là tôi nói một lẽ thật. Có một Phật tử không biết tu tới mức nào, khi đến gặp tôi thì mặt mày đỏ gay, tôi nghi chắc ông có uống rượu vì khi nói chuyện nghe mùi rượu. Ông nói chuyện về thiền, tôi bảo: “Đạo hữu tu thiền mà uống rượu sao?” Ông trả lời: “Thì tùy duyên mà Thầy.” Tôi lắc đầu, đó là tôi gặp phải bệnh tùy duyên. Tôi mới gặp cư sĩ thôi, chứ chưa gặp các vị xuất gia.

Ngài Lâm Tế nói: “Tùy duyên tiêu nghiệp cũ, hồn nhiên mặc áo xiêm”, chữ tùy duyên này tôi thường nói: Đói ăn mệt ngủ, nghĩa là gặp duyên gặp cảnh thì phải sống linh động ngay nơi đó, đừng kéo dài bận bịu. Thí dụ như đói thì cứ ăn đừng đòi món này món nọ, đừng nghĩ cơm ngon cơm dở, mệt thì ngủ đừng nghĩ việc hôm qua hôm kia, đó là tùy duyên. Còn nói tùy duyên gặp rượu thì uống rượu, gặp tất cả cái gì đều làm theo hết mà gọi là tùy duyên thì chúng tôi cũng đầu hàng! Tùy duyên tiêu nghiệp cũ là những oan khiên những phiền não cũ do biết sống tùy duyên nên nghiệp cũ tiêu mòn. Hồn nhiên mặc áo xiêm, mặc áo một cách hồn nhiên, không nghĩ ngợi suy tính điều gì.

Chỉ thuận theo thiên chân, muôn hạnh tự tròn đủ. Nghĩa là phải sống đúng với tánh chân thật của mình thì muôn hạnh tròn đủ. Nếu được như vậy thì: Giở chân, hạ chân, cái gì chẳng phải là nghiệp thanh tịnh, cần chi nhiều thứ tạo tác? Chư tổ đã sống được với thiên chân, còn chúng ta đang sống với vọng tưởng mà làm theo các ngài thì e trật quá xa.

Lại bậc tiên đức nói: “Tức tâm tức Phật, đâu nhờ tu hành?” Hạng người này như con chó đuổi theo hòn đất, chẳng biết là lời nói nhất thời trong cửa tổ sư, nhân bệnh mà cho thuốc. Vì vậy nên biết “tùy duyên, mặc tình”, chẳng phải là không làm gì. Nhận lầm cơ tổ, nắm đá sỏi cho là ngọc, thật đáng xót thương!

Hạng hiểu sai lầm này, tức chẳng chịu chăn.

Bậc tiên đức nói: “Tức tâm tức Phật (lời của Mã Tổ), đâu nhờ tu hành.” Chư tổ đã sống được chỗ đó, nên thấy ai có bệnh, các ngài tùy duyên phá chấp. Chúng ta lấy đó làm chỗ tu mà chưa thấy được lẽ chân, chưa sống được chỗ tâm cảnh như như, chúng ta lại nói theo các ngài, đó là giống như con chó đuổi theo hòn đất vậy. Thấy hòn đất người ném, nó chạy theo sủa, rốt cuộc không ra gì cả. Vì vậy nên biết “tùy duyên, mặc tình”, chẳng phải là không làm gì. Nhận lầm cơ tổ, nắm đá sỏi cho là ngọc, thật đáng xót thương! Tùy duyên của các tổ không phải là không tu, tùy duyên là duyên nào tới đừng để cho tâm ý phải bận bịu rối rắm, duyên tới mình phải giải quyết một cách đơn giản, nhanh nhẹn cho nó an bình. Như vậy các ngài đã tu, tu trong cái tùy duyên. Còn chúng ta hiện giờ không biết, lại chấp câu đó rồi việc gì cũng tùy duyên, rủ đâu làm đó, rủ chơi cái gì cũng chơi, tùy duyên như vậy còn hơn là những người ở ngoài đời thì còn gì là đạo lý, còn gì là tu hành.

Hạng hiểu sai lầm này, tức chẳng chịu chăn. Hạng người sai lầm này không chịu chăn tức chẳng chịu tu. Những người này nằm trong hạng đọa, tức là những cái nghĩ, những cái chấp sai lầm đó đều có thể đọa vào địa ngục.

5. Rơi vào dua nịnh theo quyền thế mà chẳng chịu chăn. Vì sao? Chỉ vì chẳng biết xấu hổ, cứ lo khoe khoang tiếng tăm, quên mất cả đạo đức, bỏ bê phép tắc luật nghi, không còn gì là chừng mực, buông lung theo tình riêng mà đến nỗi như vậy. Đây nói hạng nịnh hót người quyền quý để khoe khoang mình thân những người thế lực cao sang mà tâm đạo đức không có, chẳng biết gì mực thước tu hành. Những người này chỉ dua nịnh theo quyền thế mà chẳng chịu tu.

Trái lại, họ chê người thật thà chất phác là quê mùa, và ca ngợi kẻ huênh hoang tự đắc là lanh lợi. Người hiền lành chất phác tu trên non trên núi thì bị chê là quê mùa, dốt nát. Còn người nói năng huênh hoang tự đắc thì ca ngợi là lanh lợi. 

Do đó, cứ buông thả tình dục, chẳng biết hổ thẹn. Tự hay nịnh hót kẻ thế lực, nương gá nơi cửa quyền quý để mưu lấy tiếng tăm, lợi lộc. Thường thì hạng người này chẳng nhận rõ gốc đạo, đắm đuối nơi sông ái, biển dục, đành tự cam chịu chìm lịm. Một mai họa đầy phước hết, bị người trời chán bỏ, thầy bạn chịu lây. 

Hạng người như thế nên chẳng chịu chăn. 

Hạng người này nhìn lại cũng khá nhiều, cứ buông thả tình dục, chẳng biết hổ thẹn. Tự hay nịnh hót kẻ thế lực, nương gá nơi cửa quyền quý để mưu lấy tiếng tăm lợi lộc.

Hạng người này chẳng nhận rõ gốc đạo. Tức là họ không biết rõ gốc tu hành, gốc đạo đức như thế nào. Đắm đuối nơi sông ái, biển dục, đành tự cam chịu chìm lịm. Tức là chạy theo ái dục của thế gian để vùi đắm mình trong biển ái. Một mai họa đầy phước hết, bị người trời chán bỏ, thầy bạn chịu lây. Họa đầy ngập, phước hết rồi, khi ấy bị người trời chán bỏ, không ai bênh vực rồi phải mang họa.

Hạng người như thế nên chẳng chịu chăn. Năm hạng người kể trên là năm hạng người không chịu chăn trâu. Mà không chăn trâu thì đọa địa ngục, cho nên gọi là năm hạng tăng đọa. Nếu dùng mắt đạo đức nhìn sẽ thấy hiện tại không phải thiếu năm hạng đó. Mong rằng chúng ta không nằm trong số ấy, nếu nằm một trong năm hạng này thật là đáng buồn, phải ráng nhảy ra cho khỏi, đừng để kẹt trong đó.

Sau đây là năm hạng lười biếng. Năm hạng này chắc cũng khá đông.

6. Thân tuy xuất gia mà chẳng chịu an tâm vào đạo, lại thuận theo pháp rỗng, chỉ lo giữ gìn thân huyễn, trau chuốt dáng vẻ bề ngoài, biếng nhác mà chẳng chịu chăn.

Thuận theo pháp rỗng, chỉ lo giữ gìn thân huyễn. Thân này là thân huyễn lại thích săn sóc nó, tuy đi tu mà muốn ăn mặc sang đẹp, để trau chuốt dáng bên ngoài, để gìn giữ thân giả dối. Rồi lười biếng, đến giờ tu thì ngồi ngủ gục, còn đi ra ngoài thì nói dóc quên thôi. Đó là hạng lười biếng đi theo pháp rỗng mà chẳng chịu chăn. 

Vì sao? hòa thượng Thiên Như nói: Thời gần đây có một hạng xuất gia, tuy nói lìa tục, mà thói tục chẳng trừ. Trọn nói xuất trần mà duyên trần chẳng cắt đứt. Kinh giáo vốn không rõ biết, tham thiền lại chẳng nhận hiểu. Tâm vượn chạy mãi, ý ngựa ruổi rong, thành bầy thành đội, ồn ào cả ngày. Chẳng những luống hao của tín thí, cũng là chôn vùi tánh linh chính mình. Đến khi nhắm mắt, đường trước chẳng biết đi đâu, thật là uổng vào nơi cửa không, sống đã vô ích, chết lại lạc loài.

Bệnh này chúng ta ráng nghiệm lại coi mình có mắc hay không. Xét cho thật kỹ, nhìn cho chín chắn, nếu lỡ có mắc bệnh này thì phải sửa liền, đây là bệnh rất đáng thương. Đi tu là cốt làm gì? Đâu phải đi tu cốt để cho thân này đẹp đẽ, cốt để hưởng thụ sự sung sướng. Thế mà những người đi tu lại mắc kẹt ở đây, thì thật là dở.

Hòa thượng Thiên Như nói: Thời gần đây có một hạng xuất gia, tuy nói lìa tục, mà thói tục chẳng trừ. Lìa tục là sao? Trong kinh đức Phật nói: Người xuất gia cốt lìa thế tục tức là lìa ngũ dục lạc thế gian, nhưng khi vào đạo thì thói tục chẳng trừ, không bỏ nổi ngũ dục lạc. Phật nói người đi tu do chán ngũ dục mà xuất gia, nếu trở lại thọ dụng ngũ dục cũng giống như người chán đàm trong cổ khạc nhổ xuống đất, rồi tiếc liếm lại, nghe thật rợn cả người. Nếu muốn hưởng ngũ dục thì cứ ở thế gian, làm được cái gì hưởng cái ấy, tại sao lại chán bỏ đi tu? Đi tu rồi trở lại thích ngũ dục thế gian chẳng khác nào khạc nhổ đàm xuống đất rồi liếm lại, có gớm không? Đây là lời Phật quở, lời tổ quở cũng như thế. Cho nên nói: Trọn nói xuất trần mà duyên trần chẳng cắt đứt. Thường khi đi tu là bỏ cha bỏ mẹ, cha mẹ có than khóc bao nhiêu cũng dứt khoát ra đi. Nhưng ít tháng sau lại nhớ muốn trở về thăm. Thế là sao? Đã muốn cắt đứt, mà cắt không đứt, muốn nối lại. Bây giờ vào Thiền viện, chúng tôi cắt ba năm không cho về. Đó là cắt giùm, nhờ vậy nên mới đứt, đứt thì mới làm được chuyện mình muốn làm.

Kinh giáo vốn không rõ biết, tham thiền lại chẳng nhận hiểu. Tu mà không hiểu kinh, không biết tham thiền, thử hỏi tu cái gì? Thế nên tu là phải hiểu kinh, phải biết thiền. Tâm vượn chạy mãi, ý ngựa ruổi rong, thành bầy thành đội, ồn ào cả ngày. Trong tâm đủ chuyện lăng xăng, chạy ngược chạy xuôi, thành bầy thành đội, ồn ào cả ngày. Thật ra nhiều khi trong chùa có năm bảy người mà chia thành đôi ba nhóm. Nếu rảnh việc xúm lại tán dóc, nói chuyện năm trên năm dưới, chuyện đời chuyện đạo, ồn ào cả ngày, mất hết thời giờ quý báu. Chúng ta tu phải làm sao cho tâm vượn và ý ngựa dừng, con vượn ngủ, con ngựa mệt nằm nghỉ, thì mình được thảnh thơi đôi chút. Chẳng những luống hao của tín thí, cũng là chôn vùi tánh linh chính mình. Để cho tâm vượn, ý ngựa ruổi rong thì có hai lỗi lớn. Sống nhờ của đàn-na thí chủ mà không chịu tu là uổng hao của tín thí và tổn phước, lại tánh linh chính mình sẵn sàng mà bị tâm vượn, ý ngựa che khuất không được hiện tiền. Đến khi nhắm mắt đường trước chẳng biết đi đâu, thật là uổng vào nơi cửa không, sống đã vô ích, chết lại lạc loài. Đến khi sắp chết chẳng biết mình sẽ đi đâu, thật là uổng vào trong nhà đạo, sống chẳng có ích cho ai, khi chết lại bơ vơ không biết về đâu. Đó là nỗi khổ của người tu không ra gì.

Hạng người như trên, là vì cơm áo, vì cầu an vui. Xuất gia như vậy, thật đáng đau xót! Hạng người này đi xuất gia vì muốn vô chùa cho có cơm no áo ấm, cho có bạn bè nói chuyện cho vui. Nếu đi tu như vậy thì đáng buồn, đáng đau xót lắm, không có ý nghĩa gì cả. Đâu chẳng biết kinh Bảo Tích nói: “Quán nơi thân có bốn mươi thứ lỗi lầm, hoặc nói nó là ngục tù tham dục, hằng bị phiền não trói cột, là hố nhơ nhớp, luôn bị các trùng rúc rỉa. Tợ nhà xí với năm điều bất tịnh. Như túi lủng với chín lỗ thường chảy ra. Rắn độc nóng giận dấy lên thì làm hại tâm và thương tổn tuệ mạng. Quỷ la-sát ngu si, chấp ngã kiến mà nhai nuốt trí thân. Giống như giặc dữ, cả thế gian đều muốn tránh. Đồng với chó chết, các Thánh hiền đều xa bỏ. Chẳng bền chắc như cây chuối, hòn bọt v.v... Vô thường như lửa nháng, điện chớp. Dù cho nó ăn uống mà trở lại thành thù địch. Thường đem đồ nuôi dưỡng mà không biết đền ơn v.v...”

Trong kinh Bảo Tích dạy chúng ta quán thân tứ đại này có bốn mươi thứ lỗi lầm, nhưng ở đây chỉ dẫn một số thôi.

Hoặc nói nó là ngục tù tham dục, hằng bị phiền não trói cột. Thân tứ đại này chứa đầy tham lam ái dục như dồn mình trong chốn ngục tù, hằng bị phiền não trói buộc. Là hố nhơ nhớp, luôn bị các trùng rúc rỉa. Thân này là cái hố dồn chứa toàn đồ nhơ bẩn. Thức ăn tuy thơm ngon khi chưa nhai nuốt, nhưng khi nuốt qua khỏi cổ thì thành nhơ bẩn, rồi dồn chứa trong thân thành hố nhơ nhớp. Ở trong đó luôn bị các trùng rúc rỉa, nó đục chỗ này khoét chỗ kia, nên nay than bệnh này, mai than bệnh nọ, có sướng ích chi đâu! Tợ nhà xí với năm điều bất tịnh. Thân này giống như nhà xí, nếu không khéo giữ gìn sạch sẽ thì cũng nghe hôi, vì nó chứa năm điều bất tịnh nhơ nhớp ở trong. Như cái túi lủng với chín lỗ thường chảy ra. Thân này như túi lủng với chín lỗ thường chảy ra, chín lỗ là hai con mắt, hai lỗ tai, hai lỗ mũi, cái miệng và ở phần dưới là chỗ đại tiện tiểu tiện. Nếu thân là quý thì chắc rằng chín chỗ đó ra toàn thứ tốt. Nhưng xem kỹ chín chỗ đó ra không có cái gì sạch tốt cả, như cáu ghèn, ráy tai, nước mũi v.v...., những thứ đó đều đáng gớm cả. Thân của chúng ta lẽ thật là như vậy, nó không ra gì. Rắn độc nóng giận dấy lên thì làm hại tâm và thương tổn tuệ mạng. Khi nổi giận thì mắt đỏ ngầu, miệng nói sai quấy gần như rắn độc cắn người, làm hại tâm và thương tổn tuệ mạng. Quỷ la-sát ngu si, chấp ngã kiến mà nhai nuốt trí thân. Giống như quỷ la-sát ngu si gặp cái gì cũng ham cũng thích, chấp ngã kiến mà hại trí thân. Giống như giặc dữ, cả thế gian đều muốn tránh. Ai thấy cũng sợ đều muốn tránh xa. Đồng với chó chết, các Thánh hiền đều xa bỏ. Đồng với thây chó chết, các Thánh hiền đến gần hôi quá chịu không nổi nên các ngài xa bỏ.

Chẳng bền chắc, như cây chuối, hòn bọt v.v... Vô thường như lửa nháng, điện chớp. Dù cho nó ăn uống mà trở lại thành thù địch. Thường đem đồ nuôi dưỡng mà không biết đền ơn v.v... Ngày nào cũng nuôi dưỡng cho ăn uống, mà nó đâu có chịu để mình bình yên. Nay đau bệnh này mai đau bệnh kia, nó trả ơn cho mình bằng cách đau bệnh bằng cách thành thù địch. Mình nuôi dưỡng nó mà nó không đền ơn, tới ngày cuối cùng nó tan rã, mình phải chịu khổ. Kiểm điểm lại thân này đâu có gì là quý. Thế mà chúng ta cứ lo tâng tiu săn sóc nó suốt ngày, săn sóc cái thứ đồ bỏ, nghĩ mình thật là khờ. Bởi vậy nhiều khi chúng tôi nói thẳng: Nếu thân này là mình thì khi chết khoảng đôi ba hôm mà để trần không chôn, thì lúc đó có ai dám gần không, dù những người rất thân với mình? Nếu để thêm chừng năm mười ngày thì chẳng những họ không dám gần mà cũng không dám ngó nhìn nữa. Thế thì cái tồi tệ đó lại là mình sao? Nếu nó là mình thì chuyện hết sức vô lý. Chúng ta có cái cao thượng, sáng suốt, thanh tịnh, bất sanh bất diệt mà không chịu tìm ra, lại bảo vệ giữ gìn cái tạm bợ bẩn thỉu nhớp nhúa... Vậy mình có khôn không? Thế mà tu rồi lâu lâu cũng quên, vì cái thanh tịnh kia không có hình tướng nên quên. Còn thân này có hình tướng, có cảm giác, biết ham thích cho nên chạy theo nó, chứ thật tình nó là đồ bỏ không có gì quý giá, chỉ tìm lại cái thật mình, cái đó mới là quý. Vì thế Phật từ bi thương xót chỉ dạy cốt cho chúng ta nhận biết được ngay nơi mình có cái quý đang ẩn trong cái nhớp, cũng giống như có hòn ngọc báu để trong thùng rác vậy. Lúc nào Phật cũng bảo chúng ta khéo ngay nơi thùng rác mà tìm hòn ngọc, đừng giữ thùng rác, đừng cho thùng rác là quý. Nhưng lâu lâu chúng ta cũng nhớ thùng rác mà quên đi hòn ngọc quý, thật là đáng thương. Đến ngày thùng rác rã nát thành phân nhớp nhúa đem đổ đi thì đổ luôn cả hòn ngọc. Đó là chỗ Phật và chư Bồ-tát thương không nỡ bỏ chúng sanh. Thân này như đống rác có hoại đi cũng không đáng kể, nhưng rất tiếc là trong đống rác lại có hòn ngọc mà chúng ta không chịu moi tìm lấy ra. Cho nên Phật tổ luôn luôn khô môi, đắng miệng nói cho chúng ta nghe cốt để lượm cho được hòn ngọc, đừng có mê giữ thùng rác. Đó là điều thật, trong kinh chư Phật chư tổ đã nói, mà chính chúng ta khéo tu cũng biết rõ như vậy.

Điều đáng chê trách rất nhiều, khó nói đủ hết. Nếu chẳng xét kỹ lỗi lầm sâu nặng này, bèn lo bồi bổ giữ kỹ lấy nó. Những điều dở của thân kể không thể hết, nếu không chịu xét kỹ những lỗi lầm này, cứ lo bồi bổ giữ kỹ lấy nó thì chỉ luống công vô ích thôi. Mê điều này, vì đó mà chẳng tiến tu thì sẽ thiếu kém cả hai trí và hạnh, mất cả hai lý và sự. Ngay nơi thân này khéo tu thì được trí sáng, được hạnh thanh tịnh, biết tu thì thấu được lý, mượn sự mà hiển bày lý. Còn nếu không biết tu thì trí hạnh mất, lý sự quên. Cần trước hết chán ghét, biết quấy, lửa ham muốn sẽ ngầm tiêu dứt. Nếu thiết tha đối trị tận gốc, thì cái chân thật vốn sẵn tự hiện. Nếu chúng ta biết tu, biết thức tỉnh thì trước hết phải chán ghét thân này. Biết nó là quấy, là lỗi thì lửa ham muốn sẽ ngầm tiêu dứt. Bởi vì ham muốn là tham, mà tham cho cái gì? Thí dụ như thấy cái hoa đẹp mình tham để cho mắt được ngắm; thấy cái gì thơm mình tham, để cho mũi được ngửi; thấy cái gì ngon mình tham, để cho lưỡi được nếm. Như vậy tất cả cái tham là vì thân này, mà thân này là đồ bỏ, là thùng rác. Nếu chúng ta coi thân này như thùng rác, tất nhiên những tham lam sẽ bớt. Bớt được lòng tham tự nhiên chúng ta cố gắng tu hành, tất sẽ trị được cái gốc mê lầm về thân, sẽ đi đến chỗ chân thật hiện tiền, tức là sẽ nắm được hòn ngọc quý trong tay. Đó là người sáng suốt biết tu. Còn lỗi lười biếng là do đi tu mà còn ham thụ hưởng.

Thường hạng này đều bởi bên trong không có trí sáng soi, bỏ gốc chạy theo ngọn, sáng chiều toàn theo những thứ động mà làm rối mất nguồn chân mờ đục nước tánh.

Hạng người như trên đây, hẳn chẳng chịu chăn. Nghĩa là hạng người này chẳng ưa chăn trâu.

7. Đuổi theo bám víu việc đời, ngày càng tinh chuyên, tâm động mà chẳng chịu chăn. Vì sao? Kinh Pháp Cú Thí Dụ nói: “Như giấy gói hương, dây buộc cá.” Vật vốn trong sạch, đều bởi duyên mà dấy thành tội phước. Bạn hiền minh thì đạo nghĩa ngày thêm đầy. Bạn ngu tối thì ngày càng gom tụ họa ương. Giống như giấy và dây, gần hương thì thơm, gần hôi thì tanh. Nó thấm dần trở thành thói quen, đều chẳng tự hay biết. Nên bậc tiên đức nói: “Dừng dừng dừng, kíp tu mau. Trời trong chẳng chịu đi, đợi đến mưa ướt đầu.”

Hạng người trên đây, thuận theo bánh xe nghiệp, chính mình bỏ mất gốc đạo nên chẳng chịu chăn.

Đuổi theo bám víu việc đời, nghĩa là việc đời càng giỏi càng hay, thí dụ như người tu mà xã giao giỏi, tính toán làm ăn hay thì chuyên chạy theo những lợi nhuận bên ngoài mà không chịu tu.

Kinh Pháp Cú Thí Dụ nói: “Như giấy gói hương, dây buộc cá.” Vật vốn trong sạch, đều bởi duyên mà dấy thành tội phước. Bạn hiền minh thì đạo nghĩa ngày thêm đầy. Bạn ngu tối thì ngày càng gom tụ họa ương. Giống như giấy và dây, gần hương thì thơm, gần hôi thì tanh. Như khi chúng ta vào tiệm mua trầm hương, người bán lấy giấy gói hương lại, khi đem hương về mở giấy ra, ngửi tờ giấy thì thơm. Còn khi ra chợ mua cá, người ta lấy dây cột cá lại, khi đem về mở dây ra, ngửi sợi dây thì hôi. Như vậy tờ giấy trước không thơm, do gói hương mà thơm; sợi dây trước không hôi, do cột cá mà hôi.

Trong kinh Pháp Cú, Phật nói thí dụ này để nhắc chúng ta điều gì? Chúng ta tu mà cứ đuổi theo việc đời, thấy ai làm ăn phát tài rủ rê, mình thích có tiền cũng bỏ vốn ra làm ăn, mua cái này sắm cái kia, làm ăn từ từ, lâu ngày thành quen giống như sợi dây cột cá. Người ta là người thế gian, mình là người xuất gia mà hai bên gần giống nhau, như con cá tanh, sợi dây cột nó cũng bị tanh. Còn nếu chúng ta tu mà gần thầy lành bạn tốt, gần thiện hữu tri thức như gần trầm hương, mình là tấm giấy trắng gói hương, một thời gian mở ra, giấy được mùi thơm. Gần người tu chân chánh có đạo đức, chúng ta cũng được thấm nhuần hương thơm. Thế thì hai bên, một bên đưa chúng ta tới cái hư dở, một bên đưa chúng ta tới cái hay tốt, đều là do gần gũi, gần bên nào sẽ nhiễm bên ấy không nghi ngờ. Cho nên người tu mà ngồi lại tính lợi hại, tính làm ăn phát tài, đó là gần những người không tốt. Còn người tu mà khuyên nhắc phải dẹp bỏ phiền não, phải luôn luôn tinh tấn tu hành, đó là gần được những người tốt. Chúng ta phải biết nên gần ai và nên tránh ai để cho mình càng ngày càng trở thành người hay người tốt ở trong đạo.

Nó thấm dần trở thành thói quen, đều chẳng tự hay biết. Làm mãi thành thói quen coi như tự nhiên, chẳng cần biết gì nữa. Nên bậc tiên đức nói: Dừng dừng dừng, kíp tu mau. Tức là phải tu cho nhanh. Dừng cái gì mà dừng đến ba lần như vậy? Theo trong nhà thiền, dừng cái thứ nhất là dừng đừng chạy theo ngoại cảnh, dừng cái thứ hai là dừng đừng để căn duyên theo trần, dừng cái thứ ba là dừng đừng để cho thức lăng xăng. Ba lần dừng là dừng cảnh, dừng căn và dừng thức, ráng tu cho mau. Trời trong chẳng chịu đi, đợi đến mưa ướt đầu. Câu nói đơn giản mà thấm làm sao! Trời đang trong, cần đi thì cứ đi, đừng chần chờ không chịu đi, đến khi sửa soạn đi trời mưa ào tới thì ướt hết. Ý muốn nói khi còn khỏe mạnh còn sức lực, biết tu là hay mà không chịu tu, đến khi già lụm cụm mới nói tôi muốn tu quá, thì tu làm sao cho kịp. Bước ra ngoài gặp mưa ướt đầu, chạy không kịp nữa. Cho nên muốn tu thì phải tu cho sớm, biết tu là hay thì phải tu ngay, đừng có chần chờ, coi chừng tu không kịp. Như bây giờ nói chúng tôi muốn ra Thành phố, thấy trời trong thì cứ lên xe chạy đi hoặc là đi bộ ngay đi, tại sao cứ nhìn trời rồi ngồi nói dóc, muốn đi mà ngồi nói dóc mãi tới xế chiều trời chuyển mưa, rồi nói thôi mưa rồi đi ra ướt đầu hết. Cũng như vậy, có nhiều người nghe Phật pháp biết hay muốn tu mà nói tu chưa được, còn bận nhiều việc để ráng ít năm, ít năm qua rồi cũng chưa xong việc, lại ráng thêm ít năm nữa, đến chừng ráng hết được nhìn lại thì đã già, hết cơ hội để tu. Ráng tu là người xuất gia phải nỗ lực tu gấp, còn người cư sĩ dù ở nhà cũng phải ráng tu cho khéo, không bắt buộc phải xuất gia vào chùa mới gọi là tu.

Hạng người trên đây, thuận theo bánh xe nghiệp, chính mình bỏ mất gốc đạo nên chẳng chịu chăn. Những người này bỏ quên gốc đạo bị nghiệp lôi đi nên không chịu chăn.

8. Đem Phật pháp làm theo tình đời, tâm động mà chẳng chịu chăn. Vì sao? Nhân vì tài trí chẳng đủ, thấy biết chẳng sáng mà đến như thế! Hòa thượng Dụ hiệu Phật Trí nói: “Ngựa hay chạy nhanh mà chẳng dám thả chân bước càn, là nhờ dây cương kìm chế. Ý thức trôi nổi mà chẳng dám vin theo duyên, là nhờ sức giác chiếu.” Than ôi! Đem Phật pháp làm theo tình đời, quả là kẻ ngoắt đuôi cầu xin thương xót. Đó là không có giác chiếu vậy.

Hạng người như trên nên chẳng chịu chăn.

Đem Phật pháp làm theo tình đời. Gần đây chúng ta có cái bệnh đem Phật pháp làm theo tình đời. Tình đời là luôn luôn xã giao qua lại. Những người giỏi xã giao ngoài miệng nói thế này mà trong bụng nghĩ thế kia. Họ nói không thật, như mình đen xấu mà họ khen là trắng đẹp. Nghe khen thì rất vui mừng nhưng sự thật không phải vậy, họ nói để được lòng thôi, đó là lối nói xã giao. Người tu chúng ta cũng bắt chước, thấy Phật tử nào tới cũng khen dồn dập, rồi nói thế này thế kia cho họ vui thích, đó là đem Phật pháp làm theo tình đời. Ngoài ra còn nhiều chuyện khác kể không thể hết, có kể ra cũng đụng chạm mà thôi.

Nhân vì tài trí chẳng đủ, thấy biết chẳng sáng mà đến như thế! Do không đủ tài trí, không thấy biết sáng suốt, cho nên họ làm theo tình đời như vậy. Đối với người sáng suốt thì Phật tử đến chùa là vì đạo vì tu, chứ không phải đến chùa vì được cảm tình. Thí dụ như có một số vị rất khéo tổ chức, khi chùa hư muốn cất lại, bèn mời Phật tử đến thật đông, đãi cơm nước xong xuôi rồi tuyên bố: Chùa tôi hư, quý Phật tử nào phát tâm ủng hộ chùa thì đưa tay lên và hứa cúng bao nhiêu thì cho biết. Ngay bữa cơm đông đảo, người nào giơ tay hứa cúng năm chục triệu thì được vỗ tay hoan nghênh, và được ghi hạng nhất vào sổ vàng. Đó gọi là khéo léo theo tình đời. Còn với người chất phác vụng về, khi chùa hư thì báo tin cho Phật tử hay, quý vị nào muốn sửa lại chùa để thờ Phật để có chỗ kính lễ thì hùn với nhau làm. Nói nghe thật thà quá nên ít ai phát tâm, còn tổ chức khéo léo thì thiên hạ dễ phát tâm hơn, lẽ thật là như vậy. Thường tổ chức khéo là thuộc về tình đời. Những người quen làm như thế thì không còn thời giờ tu, cho nên không chăn.

9. Ngu điếc, giải đãi, biếng nhác cầu an mà chẳng chịu chăn. Vì sao? Chỉ vì tự phụ, tự bỏ nên như thế. Bậc tiên đức nói: “Chỗ tài năng chứa đựng của con người tự có lớn nhỏ, thật không thể dạy.” Nên nói: “Giấy nhỏ chẳng gói được vật lớn, dây kéo nước ngắn chẳng thể múc được sâu. Chim cú ban đêm vạch bắt bọ chét, thấy rõ từng sợi lông tơ, nhưng sáng ra thì mắt mờ chẳng thấy gò núi, vốn đã phân định rồi vậy.” Người như trên là tự chấp cho mình đã đủ, nên không thấy trước thật xa. Sống đã không ích gì hiện tại, chết cũng không tiếng tăm về sau.

Nói chung, hạng người như thế nên chẳng chịu chăn. 

Ngài kể người ngu điếc, lười biếng, giải đãi không chịu chăn. Vì sao? Chỉ vì tự phụ, tự bỏ nên như thế. Tức là vì tự phụ mình, tự bỏ mình nên chẳng chịu chăn. Rồi an phận trời sanh ai thế nào thì cứ thế ấy, có làm gì cũng không được. Họ dẫn lời người xưa nói: Chỗ tài năng chứa đựng của con người tự có lớn nhỏ, thật không thể dạy. Họ nói rằng mỗi người có một cái gì sẵn ở trong khó mà dạy được, nói một cách cố định như vậy. Nên nói: Giấy nhỏ chẳng gói được vật lớn, dây kéo nước ngắn chẳng thể múc được (giếng) sâu. Nói như vậy có chân lý hay không? Mới nghe thì thấy thật là chân lý. Nếu giấy nhỏ đâu có gói được vật lớn, sợi dây gàu ngắn làm sao múc được giếng nước sâu! Nhưng tại sao chúng ta không linh động, nếu giấy nhỏ thì lấy hai ba tờ ráp lại cũng gói được vật lớn, còn dây ngắn thì dùng hai ba sợi nối lại cũng múc được giếng sâu chứ gì. Đâu thể nói một cách cố định để rồi chán nản. Đây dẫn câu chuyện: Chim cú ban đêm vạch bắt bọ chét, thấy rõ từng sợi lông tơ, nhưng sáng ra thì mắt mờ chẳng thấy gò núi, vốn đã phân định rồi vậy. Con chim cú ban đêm vạch bắt được bọ chét vì mắt nó rất sáng, thấy rõ từng sợi lông tơ, nhưng ban ngày thì không thấy gò núi. Đó là nói nó chỉ thấy được ban đêm, còn ban ngày thì không thấy, vậy là trời định rồi. Vốn đã phân định rồi vậy, đừng tính chuyện sửa sang hay xoay chuyển làm gì. 

Đến đây mới kết thúc: Người như trên là tự chấp cho mình đã đủ, nên không thấy trước thật xa. Tự chấp cho mình đã đủ tức là tự mãn, tôi lỡ như vậy, thôi cam phận trời cho, không cần phải chuyển, không cần phải tu thêm gì nữa, nên không thấy được xa. Những người ấy sống đã không ích gì hiện tại, chết cũng không tiếng tăm về sau.

Có một số người gặp phải bệnh tự mãn, do biếng nhác mà tự mãn. Như không có giỏi mà bảo học thì không chịu học, lại nói: Số của tôi lỡ rồi, thôi cam chịu. Khi nghe đạo lý thì nghĩ rằng mình ngu, không hiểu thì nghe làm chi, thôi không cần nghe. Nếu bảo phải tu sửa những tật cũ thì nói: Tật cũ làm sao bỏ được, trời sanh như vậy rồi. Thế thì người đó còn gì nữa mà làm, còn gì nữa mà tu! Họ cứ cố chấp cái sẵn vậy không thể sửa được. Giống như chim cú không thể nào sửa cho mắt nó sáng lúc ban ngày, chỉ sáng ban đêm mà thôi, và lấy cớ đó để tự bào chữa, rồi an phận lười biếng của mình, không chịu tu, không chịu cố gắng. Thế nên trong chúng, nếu có ai khuyên điều gì thì nói: Thôi cái đó là mấy người thông minh làm mới được, còn mình ngu quá làm gì nổi. Đừng có nghĩ như vậy. Người thông minh làm được, mình ráng học ráng tu rồi cũng hết ngu, cũng làm được. Như cái giếng rất sâu, mình có sợi dây ngắn cột gàu múc nước không tới thì phải chịu khó kiếm thêm dây nối vào, rồi sẽ múc được nước. Cái gì do cố gắng rồi cũng thành công, còn nếu buông xuôi đổ thừa số mạng, thì đó là những người cầu an, trốn tránh, không cố gắng, nên chẳng chịu chăn.

10. Cờ bạc vô dụng, tụ nhóm thành bè thành lũ, biếng nhác nên chẳng chịu chăn. Vì sao? Chỉ mong lợi nhỏ trước mắt mà ôm lòng tính toán cẩu thả. Lại nói rằng, việc cầu đạo quá viển vông, chẳng bằng cầu lợi thực tế hơn. Do đó họ đua theo thói phù hoa, so đo nhỏ nhặt. Bởi vậy, không ai chịu toan tính trọn năm, huống là lo nghĩ đến sanh tử? Đó là lý do học đạo ngày càng tệ, pháp môn ngày càng xuống dốc.

Nói chung, hạng người như thế nên chẳng chịu chăn.

Ham chơi cờ bạc đánh đề, đánh số, họ nói rằng: “chùa hư rồi, tôi mua vé số, nếu trúng thì có tiền cất chùa”, thấy rất thực tế, rất lo cho đạo. Nhưng mua vé số phải theo dõi xổ số, nếu trật thì buồn, mai mốt mua nữa, cứ như vậy mà rốt cuộc chạy theo cái bên ngoài không chịu tu hành. Thậm chí có những người tu mà buồn, bày ra đánh bạc ở trong phòng v.v..., như vậy thì còn gì là tu nữa? Họ lại có lý do nói rằng: Việc cầu đạo quá viển vông chẳng bằng cầu lợi thực tế hơn. Cầu đạo xa vời quá, bây giờ mình đánh bạc, nếu ăn thì có tiền sửa chùa, lợi này rõ ràng thực tế, còn đạo thì xa quá. Đó là lối nói để bảo vệ cái sai lầm của mình. Do đó họ đua theo thói phù hoa, so đo nhỏ nhặt. Vì thế họ chạy theo thói phù hoa, so đo tính toán nhỏ nhặt mà không chịu tu. Bởi vậy, không ai chịu toan tính trọn năm, huống là lo nghĩ đến sanh tử. Chuyện một năm họ còn không tính, huống nữa là nghĩ đến chuyện chết sống. Đó là lý do học đạo ngày càng tệ, pháp môn ngày càng xuống dốc. Vì không nghĩ đến chuyện chết sống cho nên càng ngày họ càng buông thả, tức là học Phật pháp ngày càng tệ, sự tu hành ngày càng xuống dốc.

Tóm lại, tất cả mười hạng người kể trên không chịu chăn, tức là không chịu tu. Chúng ta thử xét coi mình có dính vào hạng nào hay không? Nếu trong mười hạng mà không kẹt hạng nào, cũng là có phước lắm rồi. Chúng ta thấy ngài Quảng Trí “nói phá” tức là sát phạt những cái sai lầm, chỉ thẳng nói thẳng. Trong đạo, từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX này, ở Việt Nam, có những cái giống nhau, cái tệ cũng như cái hay. Cũng có người rất can đảm dám nói thẳng như ngài Quảng Trí. Những bệnh ngài kể ra đây, chúng ta thấy cũng có trong hiện tại.

Sau đây là phần kết thúc: 

Mười hạng người trên đây, tuy nói là xuất gia mà không có hạnh dứt khỏi trần tục. Luống mang thân nam tử mà không có chí trượng phu. Nên tổ Quy Sơn nói: “Đáng tiếc một đời qua suông, gặp việc thì ngó vách.” Chỉ vì trọn ngày lăng xăng, cả đêm mê mệt. Rơi vào hầm vô tri, ngồi trong ngục hắc ám. Chẳng thông suốt ý chỉ tức sự tức lý. Chỉ nhớ suông lời phá bệnh phá chấp. Người trí rất thương hại, kẻ ngu lại bắt chước theo. Đã thành lối mòn, muốn dứt bỏ nhanh đi càng rất khó! Vì vậy mới dẫn rộng ra.

Mười hạng người trên đây, tuy nói là xuất gia mà không có hạnh dứt khỏi trần tục. Luống mang thân nam tử mà không có chí trượng phu, ở đây tôi nói thêm: Luống mang thân nam tử và nữ nhân mà không có chí trượng phu, nếu chỉ nói thân nam tử thì thiên lệch quá. Nên tổ Quy Sơn nói: “Đáng tiếc một đời qua suông gặp việc thì ngó vách.” Nghĩa là một đời qua suông, ai hỏi gì thì xây mặt vào vách, chứ không biết trả lời chi cả. Chỉ vì trọn ngày lăng xăng, cả đêm mê mệt. Rơi vào hầm vô tri, ngồi trong ngục hắc ám. Chẳng thông suốt ý chỉ tức sự tức lý. Chỉ nhớ suông lời phá bệnh phá chấp. Người trí rất thương hại, kẻ ngu lại bắt chước theo. Những việc làm sai lầm mà cũng có người bắt chước. Gần nhất là việc đoán xăm coi tay coi tướng ở chùa, việc này có đúng không? Nhưng làm như vậy thì có bản đạo đông, cho nên người ta cũng bắt chước làm theo. Thậm chí người tu mà cũng lên đồng lên bóng, vậy mà cũng có người làm theo, miễn sao cho có bản đạo tới cúng nhiều là được. Do cái tệ của một người, mà những kẻ khác bắt chước theo. Vì vậy: Đã thành lối mòn, muốn dứt bỏ nhanh đi càng rất khó. Muốn dứt bỏ những cái tệ rất là khó. Như hiện giờ chùa nào cũng biết rằng xin xăm bói quẻ là không đúng lời Phật dạy, mà không ai dám bỏ ống xăm, vì đã thành lối mòn, muốn dứt bỏ nhanh đi càng rất khó.

Thâm tâm của Phật tổ đã bày rõ đủ hết đại ý kinh luận. Mong người chừa bỏ những chấp cũ, để sửa đổi điều sai quấy trước, mà đồng bước theo dấu vết của bậc tiên thánh còn để lại, và cùng chung lãnh nhận lời răn bảo của đức Phật. Như thế mới không khuyết tổn bản chí, khỏi cô phụ bốn ân, cùng nhau bước lên cửa giải thoát, và tiến vào đường thẳng tắt tu hành chân thật, thành tựu đạo nghiệp của chư Phật, đầy đủ đại Bồ-đề. Ngăn bít nẻo tà mà mở ra lối chánh, vững niềm tin mà nhổ bật gai chấp trước. Vượt bến khổ nơi ba cõi, vào nguyện hải Phổ Hiền. Qua cảnh lênh đênh nơi pháp giới, tiến vào thành lớn Niết-bàn.

Ngưỡng mong mắt Phật chứng cho chút lòng thành, và khắp vì người đương thời, xin kính dẫn tập này.

Đây là lời kết thúc của ngài Quảng Trí, ngài nói: Thâm tâm Phật tổ (tức là tâm Phật và tâm tổ) đã bày rõ đủ hết đại ý kinh luận. Trong đời đức Phật, từ khi thành đạo đến lúc nhập Niết-bàn, cuộc sống của ngài đủ chứng minh cho kinh luật mà ngài đã nói. Nghĩa là Phật dạy trong kinh như thế nào thì đời sống của ngài như thế ấy, ngài dạy luật như thế nào thì đời sống của ngài cũng đúng như vậy. Chư tổ cũng vậy. Cho nên kinh luật có đủ trong đời sống của Phật và tổ. Ngày nay chúng ta học kinh học luật cũng phải sống theo nếp đó. Mong người chừa bỏ những chấp cũ, để sửa đổi điều sai quấy trước, mà đồng bước theo dấu vết của bậc tiên thánh còn để lại, và cùng chung lãnh nhận lời răn bảo của đức Phật. Chúng ta lỡ làm những việc sai quấy thì nên chừa bỏ để tiến theo con đường Phật tổ đã dạy đã hành.

Như thế mới không khuyết tổn bản chí, khỏi cô phụ bốn ân, cùng nhau bước lên cửa giải thoát. Nếu chúng ta biết tu biết sửa đúng như lời dạy, như hình ảnh đức Phật và chư tổ, thì mới không làm thương tổn bản chí của mình, tức là xuất gia cầu giải thoát sanh tử, và cũng khỏi cô phụ bốn ơn: Ơn thầy tổ, ơn cha mẹ, ơn quốc gia, ơn đàn-việt. Rồi cùng nhau bước lên cửa giải thoát. Như vậy tu là để nâng đỡ dìu dắt nhau đi trên đường giải thoát, chứ không phải lôi kéo nhau trở lại đời phàm tục. Và tiến vào đường thẳng tắt tu hành chân thật, thành tựu đạo nghiệp của chư Phật, đầy đủ đại Bồ-đề. Tiến vào đường thẳng tắt tức là đi thẳng vào chỗ tu trực chỉ nơi tâm mình, biết được từng niệm vọng tưởng, buông xả cho tâm trí thanh tịnh, dứt hết phiền não, thì đó là lối tắt tu hành. Khi thành tựu được đạo nghiệp rồi thì lúc ấy chúng ta sẽ đồng với chư Phật và đầy đủ được đại Bồ-đề.

Ngăn bít nẻo tà mà mở ra lối chánh. Những lối tà đã ngăn bít, mở được con đường chánh để người sau đi theo. Vững niềm tin mà nhổ bật gai chấp trước. Thấy được lẽ thật của Phật tổ chỉ dạy thì những chấp trước cũ mình nhổ sạch không còn. Như vậy mới thật là: Vượt bến khổ nơi ba cõi, vào nguyện hải của Phổ Hiền. Hạnh nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền rộng lớn như biển cho nên gọi là nguyện hải. Qua khỏi bến khổ của ba cõi thì mới vào được nguyện lớn của Bồ-tát Phổ Hiền. Qua cảnh lênh đênh nơi pháp giới, tiến vào thành lớn Niết-bàn. Qua khỏi cảnh trôi dạt trong cõi trần tục, chúng ta mới đến được thành Niết-bàn.

Ngưỡng mong mắt Phật chứng cho chút lòng thành. Ngài nói với tấm lòng thành, mong Phật chứng tri cho ngài. Và khắp vì người đương thời, xin kính dẫn tập này. Ngài nói đây là vì người đương thời, mà đến ngày nay chúng ta là kẻ hậu lai vẫn được nghe và vẫn quý kính lời ngài.

✵✵✵

NÓI THẲNG VỀ MỚI ĐIỀU PHỤC

Một phép mới điều phục này, chính là bổn phận trong hàng tăng sĩ, chẳng can hệ gì đến việc thế tục. Theo Vĩnh Gia Tập nói: “Như muốn tu đạo, trước cần phải lập chí.” Lại nói rõ về cách lập chí mộ đạo, phép thờ thầy, trình bày việc dạy dỗ theo khuôn phép, kế đến là trừ bỏ ý kiêu xa, để dừng vọng tâm quấy động. Rồi tiếp là làm sạch ba nghiệp, kiểm trách kỹ càng, răn giữ thân khẩu ý, khiến cho lỗi thô chẳng sanh, mới hay điều phục được thân tâm vậy.

Nguyên bởi, chân tâm không vọng, trí tánh sẵn sáng ngời, trong lặng nhiệm mầu không xen tạp; nhưng do vọng chợt khởi, thoạt đó liền mê mờ đánh mất tánh tinh nguyên, cái trong lặng bị dính khằn mà phát ra cái biết, nên chuyển trí thành thức. Vọng tâm ở trong thân gọi đó là thức. Tâm vốn không biết, do thức nên biết. Tánh vốn không sanh, do thức nên sanh. Hạt giống sanh thân nảy mầm từ đó, rồi nở hoa hữu lậu, kết trái sanh tử. Người hiện nay vọng nhận trong tấc vuông (tâm) có vật sáng rỡ linh thông (chiêu chiêu linh linh), hồn nhiên cùng các vật đồng một thể, liền cho là nguyên thần ở đấy. Đâu chẳng biết, đây tức là thức thần tử tử sanh sanh, là chủng tử luân hồi kiếp kiếp. Nên hòa thượng Cảnh Sầm nói:

Người nay học đạo chẳng tỏ chân,

Chỉ vì từ trước nhận thức thần.

Vô lượng kiếp rồi gốc sanh tử,

Kẻ si gọi đó bản lai nhân.

Than ôi! Người đời đem kẻ tớ cho là chủ mà không hay biết, nhận giặc làm con mà chẳng thức tỉnh. Do đó Thế Tôn dạy người, trước đoạn dứt cội gốc vô thủy luân hồi. Cội gốc này đã đoạn dứt, thì các thức không chỗ nương, trả lại bản thể thường sáng tỏ từ thuở ban đầu của ta. Thế nhưng, đạo lớn thì mênh mông, phải tùy theo chỗ mà ra tay. Mới biết, muốn sửa vạt áo cho ngay bằng, hẳn phải kéo cổ áo lên. Muốn sửa lưới cho thẳng, cần lôi giềng lưới lên.

Trước kia, dưới cửa Tổ sư chỉ ra một con đường chánh tu hành, dạy người từ ngay đầu nguồn mà khởi công. Nếu đầu nguồn đã trong sạch, thì lý thật luôn luôn hiện tiền, thức và niệm tự nhiên ô nhiễm chẳng được. Ví như mặt trời đã lên cao giữa hư không, thì ma quái đều bặt dấu. Một pháp môn tâm địa này, chính là đạo của ngàn thánh xưa nay chẳng đổi. Cho nên, trái với nó thì phàm, thuận với nó thì thánh, mê nó thì sanh tử bắt đầu, ngộ nó thì luân hồi ngừng dứt. Vậy muốn dừng luân hồi không gì bằng thể nhận “chí đạo”. Muốn thể nhận chí đạo, không gì bằng quán chiếu bản tâm. Muốn quán chiếu bản tâm, cần mở rộng mắt rỗng soi xét. Luôn khiến cho trăng tỏ rọi sáng ngời, thường ở trong định mà trí tuệ chiếu soi. Luôn luôn giữ được trong chỗ thất tình chưa phát này. Luôn luôn bảo toàn được thể bát thức chưa nhiễm này. Thì, ngoài dừng các duyên, trong bặt các vọng. Gồm thu ánh sáng nơi mắt, lắng đọng âm vận nơi tai, điều hòa hơi thở nơi mũi, bịt kín khí vị nơi lưỡi, tay chân chẳng động. Khiến cho năm thức: mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, mỗi thứ trở lại căn của nó, thì năm thứ linh: tinh, thần, hồn, phách và ý, mỗi thứ yên nơi vị của nó. Trong hai mươi bốn giờ thường xem kỹ bên trong sự chạy rong của con trâu này, lẫn với thường lắng nghe ngược lại sự thuần thục hay buông lung của nó. Cả đến mọi cử chỉ hành động, niệm niệm chẳng rời nó. Cũng như, đi đứng nằm ngồi, tâm tâm luôn ở ngay con trâu này. Không thể một sát-na quên mất chiếu soi hay thoáng chốc trái nhau. Thần quang vừa phóng ra liền thu lại. Trong lúc vội vàng vẫn không tách rời. Thường ở ngay đây mà luôn để ý chiếu soi. Như ông Tử Tư nói: “chẳng thể rời trong giây lát”, là đấy.

Lại, trước còn giữ nó để cho trống hết tâm kia. Kế quên nó để mở rộng cái lượng kia. Tùy chỗ, tùy thời đều tự tại vô ngại.

Song, người học chỉ cốt lo dẹp trừ sáu thức, thì càng nên rõ biết chỗ trước sau. Ý tuy là chủ soái của sáu thức, mà mắt chính là tiên phong của năm giặc. Nên bậc tiên đức nói: “Tâm là then chốt, mắt là giặc trộm.” Muốn hàng phục tâm kia, trước phải thu nhiếp mắt kia. Bởi cây nỏ thì sự phát động ở tại bộ phận máy, tâm thì sự duyên dẫn ở tại mắt. Bộ phận máy chẳng động thì nỏ đứng yên. Mắt chẳng động thì tâm đứng yên. Phải biết, vọng niệm dấy lên từ thức căn, đối với cảnh mà thành vọng, chẳng phải có thật thể. Khi ở chúng sanh, thì trí yếu thức mạnh nên chỉ gọi là thức. Ngay khi ở Phật địa, thì trí mạnh thức yếu nên chỉ gọi là trí. Chỉ chuyển tên kia mà chẳng chuyển thể kia. Ban đầu thì một nguồn tâm rỗng rang trong lặng, rồi do “tri kiến lập tri”, vọng trần sanh khởi, nên có vọng niệm. Nếu “tri kiến vô kiến, tư tức Niết-bàn”, thì trí tánh chân thật thanh tịnh sẽ trở lại trong lặng nhiệm mầu, rỗng suốt trọn vẹn, ý niệm liền tiêu. Ý niệm đã tiêu, thì từ thức thứ sáu trở xuống, không thức nào chẳng đều tiêu hết. Tức là chỗ ngài Văn-thù bảo: “Một căn đã trở về nguồn, sáu căn trở thành giải thoát.” Đã không sáu căn thì không sáu trần, đã không sáu trần thì không sáu thức. Đã không sáu thức thì không chủng tử luân hồi. Đã không chủng tử luân hồi, thì một điểm chân tâm của ta, đứng riêng không chỗ nương, rỗng rang, mênh mông, sáng rỡ, lặng trong, muôn kiếp thường còn, hằng không sanh diệt.

Đây là pháp chỉ thẳng tâm người, rất rõ ràng xác thật, chặt thẳng làm sao! Giản dị làm sao! Chỉ hay chăm lo cội nguồn quán chiếu con trâu này, lâu rồi thì tự nhiên tâm không, mênh mông lóng đứng, lặng lẽ chẳng động, vắng bặt chẳng nghĩ, rỗng toang tâm mở, tỏ suốt thấy tánh. Đây là chỗ nói: Da mỏng da dày đều rớt sạch, một thể chân thật hiện tiền.

Công phu đến đây thì tự nhiên tinh thần sáng tỏ, trí tuệ thông suốt, tâm tánh linh thông, khắp được đại tự tại. Mới biết, tất cả chư thánh đều từ pháp môn tâm địa này, phương tiện mà vào, sẽ được thành Phật làm tổ, làm thầy trời người, phàm phu không thể chứng đến. Do người chẳng nhận biết tự tâm, nên kinh Phật nói: “Tất cả chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay mê muội điên đảo bản tâm chẳng tự giác ngộ, vọng nhận bốn đại làm thân, duyên lự làm tâm. Ví như bỏ đi trăm ngàn biển cả chỉ nhận lấy một hòn bọt nhỏ.” Do đây trên mê thêm một lớp mê, trong vọng thêm một lớp vọng, theo cảnh mà lưu chuyển, để mắt sanh tình, muôn điều lấy bỏ, không lúc nào tạm rảnh. Đến nỗi khiến cho dấy lên mê lầm tạo nghiệp, lẩn quẩn trong sáu đường, chẳng ra khỏi được. Rốt cùng cái mờ mịt ban đầu (minh sơ) đều do cái lỗi một thoáng vọng mê chân vậy. Nên biết, ba cõi chỉ có tâm, kẻ mê thì ngoài tâm chạy tìm pháp, người trí thì thấy cảnh chính là tâm. Cảnh tức là cảnh của tâm, tâm tức là tâm của cảnh. Đối cảnh chẳng mê, gặp duyên chẳng động, năng sở làm thành lẫn nhau, một thể không khác. Nếu hay đạt cảnh chỉ là tâm, liền đó ngộ tâm thành đạo. Giác tột vọng niệm từ vô thủy, nhiếp thu cảnh trở về tâm, chân như ra khỏi trói cột (xuất triền), lìa cấu nhiễm được giải thoát. Hằng hợp với thanh tịnh bản nhiên, thì chẳng còn sanh trở lại. Và núi sông, quả đất, mọi tướng hữu vi, như vàng ra khỏi quặng, trọn chẳng còn dính bụi đất. Dường như cây đã cháy thành tro, đâu có mọc cành lá lại nữa. Một phen được là được mãi, tột đến mé vị lai thoát hẳn cảnh giam giữ, ở mãi nơi cõi thánh vậy.

Song đại đạo Nhất thừa tối thượng này, nếu người căn khí lanh lợi, một nhảy liền thẳng vào đất Như Lai. Nếu người căn khí chậm lụt thì phải làm thế nào? Hẳn phải do công phu học từ dưới lên trên, thứ lớp dẫn vào pháp môn, mới có thể được. Khiến cho họ đi một bước tự có hiệu nghiệm một bước, lên một cấp tự có khuôn khổ một cấp. Đó cũng chính là ý đi xa thì từ gần, lên cao thì từ thấp. Nếu chẳng biết ra tay thực hành công phu vào cửa thì đâu hay chóng đến địa vị xong xuôi tột bậc. Nếu chưa thể tận tâm, thì đâu hay rõ tánh. Chưa thể minh tâm, thì đâu hay kiến tánh.

Nên biết, minh tâm chính là mái chèo trí tuệ trong biển sanh tử. Kiến tánh chính là thuốc hay trong bệnh phiền não. Nếu như sau khi được minh tâm kiến tánh rồi, lúc đó mới dùng cảnh giới trị sạch tự tâm, dùng tinh tấn làm cho tự tâm kiên cố, dùng nhẫn nhục làm cho tự tâm phẳng lặng, dùng giác chiếu làm cho tự tâm trong sạch, dùng trí tuệ làm cho tự tâm bén nhạy sáng suốt, dùng tri kiến Phật làm cho tự tâm mở bày, dùng bình đẳng Phật làm cho tự tâm rộng lớn. Nếu sáng tỏ được tâm này, thì chóng vượt khỏi sanh tử, viên chứng Niết-bàn. Nếu mê mờ tâm này thì luân hồi mãi mãi, bỏ mất tánh chân, cho nên trọn chẳng ra ngoài tâm này. Nếu lìa tâm này thì không riêng có huyền diệu vậy. Về sau, dù có công phu thứ lớp, chẳng qua chính là thành tựu “cái ấy” mà thôi.

Những lời trên đây chính là phương pháp tu hành, là yếu thuật thành tiên chứng thánh, là cửa tròn đủ vào đạo, vào đức. Xưa ngài A-nan nhớ giỏi không sót điều gì (đa văn tổng trì) nhưng trải nhiều năm mà chẳng lên được thánh quả. Khi dừng duyên chiếu soi trở lại, liền chứng vô sanh. Bởi tâm phàm phu trọn ngày cứ chạy ra ngoài, thì mỗi lúc càng xa, càng trái đó thôi.

Là bậc học đạo, chẳng lo gì không thành tựu, chỉ lo chẳng siêng năng. Nếu hay ròng rặc và siêng năng, thì chưa có ai tham thiền mà chẳng ngộ. Giả sử lập chí chẳng vững, niềm tin đạo chẳng mạnh, sớm làm chiều lại đổi thay, mới đầu siêng năng đến giữa chừng thì buông nghỉ, thích trong chốc lát, lại chán với thời gian lâu dài. Như thế mà mong mỏi được cùng làm bạn với chư tổ, thật là ngông cuồng thay!

Một pháp mới điều phục này, tạm trình bày ít lời, để lại cho người đồng chí hướng soi rọi. Được vậy, mới mong chẳng rơi vào không, kẹt theo tà kiến, thì pháp môn rất là may lắm! Mà tôi cũng may lắm! Chỉ một bài điều phục trâu này, đại khái là như vậy, học giả cần biết rõ. Nói xong!

Giảng:

Tựa đề này là nói đến việc trước khi điều phục để vào mười mục chăn trâu của thiền sư Quảng Trí đời Lê.

Một phép mới điều phục này, chính là bổn phận trong hàng tăng sĩ, chẳng can hệ gì đến việc thế tục. Theo Vĩnh Gia Tập nói: “Như muốn tu đạo, trước cần phải lập chí.” Lại nói rõ về cách lập chí mộ đạo, phép thờ thầy, trình bày việc dạy dỗ theo khuôn phép, kế đến là trừ bỏ ý kiêu xa, để dừng vọng tâm quấy động. Rồi tiếp là làm sạch ba nghiệp, kiểm trách kỹ càng, răn giữ thân khẩu ý, khiến cho lỗi thô chẳng sanh, mới hay điều phục được thân tâm vậy.

Đoạn này ngài nói có tánh cách nghiêng về người xuất gia. Ở đây ngài dẫn trong Vĩnh Gia Tập của thiền sư Huyền Giác, lời chỉ dạy cho người tu thiền. Muốn tu thiền được tăng tiến trước phải lập chí. Người muốn tu đến nơi đến chốn phải lập chí cho thật vững chắc, không phải sáng thì cần mẫn, chiều lại lơ là, hoặc tháng này siêng năng, tháng sau bê trễ v.v... Phải kiên trì lập chí thật vững thì trên đường tu mới có thể thành công được. Đó là điều căn bản của người mới tu. Thứ đến dạy cách lập chí mộ đạo, tức là kính trọng đạo pháp mà mình đang tu học, kế dạy phép thờ thầy. Người học đạo trước tiên phải có người hướng dẫn, người hướng dẫn đó là bậc thầy thì chúng ta phải kính quý như thế nào để xứng với công của người đã chịu khó khổ, chỉ dạy cho chúng ta tu đến nơi đến chốn. Do đó công ơn này cũng sánh bằng với công ơn của cha mẹ. Vì vậy phải biết cung kính quý trọng thầy, đó là phép thờ thầy. Trình bày việc dạy dỗ theo khuôn phép. Nghĩa là người tu không phải chỉ biết học đạo, chỉ biết tu thôi mà phải có phương hướng, có cách thức để tu. Nói gần hơn là phải có thái độ có tư cách, chứ không phải tu rồi tự do tự ý muốn làm gì thì làm, mà phải sống có khuôn phép đúng theo luật lệ của người tu. Kế đến là trừ bỏ ý kiêu xa, để dừng vọng tâm quấy động. Chữ kiêu là kiêu căng, ngạo mạn; xa là xa xỉ, là tiêu phí không chừng mực, không điều độ. Đây dạy chúng ta phải dẹp bỏ ý kiêu căng xa xỉ để cho tâm được thấp, được nhẹ nhàng và không có những phí tổn vô ích đối với sự sống. Như vậy muốn dừng được vọng tâm quấy động thì trước phải lập chí cho vững, hướng với đạo, lúc nào cũng thành kính tôn thờ, kế là thờ thầy, sau là giữ khuôn phép và trừ bỏ ý kiêu xa. Đó là phần căn bản ở bên ngoài. Phần căn bản bên trong là:

Rồi tiếp là làm sạch ba nghiệp, kiểm trách kỹ càng. Luôn luôn kiểm tra trách cứ những điều dở, những thiếu sót của mình phải răn dè, nhắc nhở đừng để nó đi lệch, đi xa. Răn giữ thân khẩu ý. Luôn giữ ba nghiệp thân khẩu ý cho trong sạch. Khiến cho lỗi thô chẳng sanh, mới hay điều phục được thân tâm vậy. Người khéo giữ thân khẩu ý được yên tĩnh trong sạch thì không có những tội lớn, nhờ vậy mới điều phục thân tâm một cách dễ dàng.

Tóm lại, đoạn này ngài dạy người muốn tu thiền, chẳng những tu thiền mà tất cả các pháp tu giải thoát của Phật dạy, điều căn bản là phải lập chí cho thật vững, kính trọng thầy, giữ đúng khuôn phép của người tu và trừ bỏ những ý kiêu xa; đó là phần bên ngoài. Bên trong về bản thân phải giữ gìn ba nghiệp thân khẩu ý cho trong sạch, như vậy bắt đầu điều phục tâm mới có kết quả tốt. Người tu nếu thiếu những điều kiện trên đây thì việc điều phục tâm khó thành công. Đó là lời dẫn chỉ dạy cho chúng ta chuẩn bị tiến vào đạo, chuẩn bị chăn trâu.

Nguyên bởi, chân tâm không vọng, trí tánh sẵn sáng ngời, trong lặng nhiệm mầu không xen tạp; nhưng do vọng chợt khởi, thoạt đó liền mê mờ đánh mất tánh tinh nguyên, cái trong lặng bị dính khằn mà phát ra cái biết, nên chuyển trí thành thức. Vọng tâm ở trong thân gọi đó là thức, tâm vốn không biết, do thức nên biết. Tánh vốn không sanh, do thức nên sanh. Hạt giống sanh thân nảy mầm từ đó, rồi nở hoa hữu lậu, kết trái sanh tử. Người hiện nay vọng nhận trong tấc vuông (tâm) có vật sáng rỡ linh thông (chiêu chiêu linh linh), hồn nhiên cùng các vật đồng một thể, liền cho là nguyên thần ở đấy. Đâu chẳng biết, đây tức là thức thần tử tử sanh sanh, là chủng tử luân hồi kiếp kiếp. Nên hòa thượng Cảnh Sầm nói:

Người nay học đạo chẳng tỏ chân,

Chỉ vì từ trước nhận thức thần.

Vô lượng kiếp rồi gốc sanh tử,

Kẻ si gọi đó bản lai nhân.

Đoạn này ngài chỉ thẳng cho chúng ta biết được gốc của sự tu. Bởi vì nơi mỗi người chúng ta đều có sẵn chân tâm, mà chân tâm tự nó không có vọng, cho nên chân tâm đứng về mặt sáng suốt gọi là trí tánh, nó sẵn sáng ngời không lúc nào mờ tối, trong lặng nhiệm mầu không xen tạp. Như vậy diễn tả cho chúng ta biết nơi mỗi người ai cũng sẵn có chân tâm, chân tâm là tánh giác sáng ngời, trong trẻo, lặng lẽ, nhiệm mầu không có gì xen tạp. Trong lặng, sáng suốt là thể chân tâm của mỗi người, nhưng do vọng chợt khởi, thoạt đó liền mê mờ đánh mất tánh tinh nguyên của mình. Nghĩa là lỗi ban đầu từ thể tánh trong sáng rạng ngời, bỗng có một niệm dấy khởi, từ có niệm vọng khởi liền quên mất tánh sáng đó, nên đánh mất tánh tinh nguyên của nó là trong sáng sẵn sàng. Cái trong lặng bị dính khằn mà phát ra cái biết. Cái trong lặng sáng suốt đó do dính với niệm khởi mà thành ra có cái biết. Cái biết đây tức là cái phân biệt, nên chuyển trí thành thức. Cái tánh sáng sẵn trong tinh nguyên gọi là trí, cái khởi phân biệt gọi là thức. Sở dĩ có thức là vì cái tinh nguyên đó do dấy niệm làm mê mờ, nó dính khằn với ngoại cảnh, rồi sanh ra vọng thức. Như vậy từ trí biến thành thức. Đây giống như trong kinh Lăng-già định nghĩa thế nào là thức? Thức là cái phân biệt sanh diệt, trí là cái sáng suốt không sanh diệt. Trí ở đây là trí tánh, thức là thức tình phân biệt. Như vậy từ trí biến thành thức, nên nói:

Vọng tâm ở trong thân gọi là thức. Tâm vốn không biết, do thức nên biết. Tâm là cái trong sáng không phân biệt, nhưng vì có vọng khởi nó biến thành thức rồi có phân biệt, nên chúng ta gọi là biết. Tánh vốn không sanh, do thức nên sanh. tánh giác hay trí tánh là sáng suốt không sanh diệt, nhưng do dấy động thành thức nên có sanh có diệt. Hạt giống sanh thân nảy mầm từ đó. Nghĩa là từ có niệm thức phân biệt do đó mới có hạt giống để sanh ra thân này. Như vậy từ có vọng thức là cái nhân để sanh tử, rồi nở hoa hữu lậu, kết trái sanh tử tức là nở hoa trong sanh diệt, vì hữu lậu là sanh diệt, nên kết thành quả là sanh tử. Do vậy nói đơn giản hơn, tất cả gốc sanh tử là từ vọng thức mà ra. Vọng thức là nhân để tạo nghiệp sanh tử. Vì vậy ngày nay chúng ta tu cốt làm sao lắng sạch vọng thức thì nghiệp sanh tử theo đó mà dừng. Không lắng dừng vọng thức thì nghiệp sanh tử liên tục không ngừng.

Người hiện nay vọng nhận trong tấc vuông (tâm) có vật sáng rỡ linh thông (chiêu chiêu linh linh), hồn nhiên cùng các vật đồng một thể, liền cho là nguyên thần ở đấy. Nghĩa là người thời nay tu, nhất là tập tu thiền khi thấy ngồi yên có cái tâm sáng ở trong thân, lầm cho tâm đó là tâm thể, nhưng sự thật nó là cái nguyên thần chứ chưa phải là tâm thể. Bởi vì tâm thể là tâm không giới hạn trong thân này, cũng không giới hạn trong hoàn cảnh nào, mà nó trùm khắp. Cho nên chúng ta chỉ thấy yên tịnh ở trong, tưởng đã đến nơi là sai. Yên tịnh ở trong chỉ là bước đầu. Theo kinh Lăng-nghiêm đây là mặt trăng thứ hai, chứ chưa phải là mặt trăng thật, nếu nhận lầm nó là sai.

Đâu chẳng biết, đây tức là thức thần tử tử sanh sanh, là chủng tử luân hồi kiếp kiếp. Đây là thức phân biệt, chứ chưa phải là tâm trong sáng thanh tịnh, đó là nhân của sanh tử luân hồi. Dẫn bài kệ của ngài Trường Sa Cảnh Sầm nói: Người nay học đạo chẳng tỏ chân. Tức là người thời nay học đạo không thấu suốt được chân tâm. Chỉ vì từ trước nhận thức thần. Chỉ vì lầm nhận thức thần tức là cái yên yên ở trong làm tâm mình. Vô lượng kiếp rồi gốc sanh tử. Đó là gốc luân hồi sanh tử từ vô lượng kiếp. Kẻ si gọi đó bản lai nhân. Người si mê cho đó là người xưa nay, nhưng sự thật không phải vậy.

Trong đoạn này ngài chỉ thẳng cho chúng ta biết mỗi người ai cũng có cái chân tâm trong sáng, lặng lẽ, thanh tịnh sẵn có chứ không riêng người nào. Nhưng từ chân tâm thanh tịnh vừa dấy niệm khởi nên nó dính khằn với vọng trần phát ra cái biết, từ cái phân biệt gọi là thức, từ thức dẫn đi tạo nghiệp, liên kết vô số lần sanh tử, tử sanh. Vì vậy gọi là luân hồi muôn kiếp. Ngày nay chúng ta muốn tu để thoát khỏi sanh tử luân hồi, thì phải lóng lặng cái vọng thức đang liên kết với ngoại duyên để nó dừng lặng xuống. Do nó dừng lặng mới trở lại gốc của chân tâm. Khi trở lại được gốc chân tâm thì dòng sanh tử ngang đó mới dừng. Ngài bảo chúng ta đừng lầm nơi tâm mình có cái cũng sáng rỡ, cũng linh thông, nhưng cái sáng rỡ linh thông đó chỉ ở bên trong thân chưa phải là chân tâm. Nếu nhận lầm là chân tâm thì chỉ là nhận thần thức, nên cũng còn ở trong sanh tử chưa dừng. Đó là lối chỉ dẫn tường tận của ngài cho chúng ta thấy trên đường tu mình đã có sẵn cái gốc, nhưng do vọng thức tạo nên luân hồi sanh tử. Nếu khéo dừng vọng thức để trở về gốc là thoát ly sanh tử.

Than ôi! Người đời đem kẻ tớ cho là chủ mà không hay biết, nhận giặc làm con mà chẳng thức tỉnh. Do đó Thế Tôn dạy người, trước đoạn dứt cội gốc vô thủy luân hồi. Cội gốc này đã đoạn dứt, thì các thức không chỗ nương, trả lại bản thể thường sáng tỏ từ thuở ban đầu của ta. Thế nhưng, đạo lớn thì mênh mông, phải tùy theo chỗ mà ra tay. Mới biết, muốn sửa vạt áo cho ngay bằng, hẳn phải kéo cổ áo lên. Muốn sửa lưới cho thẳng, cần lôi giềng lưới lên.

Đây là lời nhắc nhở chỉ dạy chúng ta phải tu như thế nào? Vì lâu nay chúng ta lầm nhận kẻ tớ cho là chủ, hay nhận giặc cho là con. Vậy hiện nay tất cả chúng ta có nhận tớ làm chủ, nhận giặc làm con không? Như chúng ta đã biết nơi mình có tâm chân thật, trong sáng, thanh tịnh không từng dấy động đó là chân tâm. Rồi từ vọng thức dấy lên duyên với ngoại trần, kết thành nghiệp tạo ra bao nhiêu kiếp luân hồi sanh tử liên tục không dừng. Như vậy chân tâm và vọng thức, hiện chúng ta đang nhận cái nào là mình? Nhận chân tâm là mình hay vọng thức là mình? Chắc mọi người đều nghĩ cái khôn ngoan, lanh lợi là mình, còn chân tâm trong sáng không dấy động thì không bao giờ mình nhận. Đó chính là chỗ chúng ta nhận giặc làm con. Như khi ngồi chơi dưới cội cây, trên tảng đá, bất thần không nghĩ suy, không phân biệt gì hết, thì lúc đó chúng ta thấy có mình không? Khi không phân biệt, không nghĩ suy chúng ta tưởng như mất mình, rồi bất chợt nhớ nghĩ đến việc gì lại cho là có mình. 

Như vậy nhớ cái suy nghĩ, tính toán lại nói là mình hiện tiền, còn mất cái suy nghĩ tính toán lại cho là không có mình. Vậy cái suy nghĩ, tính toán đó là chủ hay tớ? Là tớ sao lại nói là mình, quên nó, vắng mặt nó nói là mất mình. Còn cái hằng sáng, tai nghe tiếng, mắt thấy hình dáng, da xúc chạm gió mát v.v... nó hiện tiền mà không nhớ, chỉ nhớ có cái nghĩ suy; có nghĩ suy gọi là có mình, quên nghĩ suy gọi là mất mình. Như vậy rõ ràng chúng ta đã nhận tớ làm chủ, nhận giặc làm con. Đã nhận giặc làm con thì sự nghiệp đời mình tan nát không còn gì hết, không biết đến bao giờ mới dừng được. Vì vậy chúng ta tu là phải sáng suốt, giặc biết là giặc, tớ biết là tớ để nhận ra ông chủ hay con thật không bị lầm, đó là chúng ta giác. Nếu nhận giặc làm con, nhận tớ làm chủ là chúng ta mê. Mê, giác đã có sẵn ở tất cả mỗi người, nhưng chúng ta thích cái nào hơn, thích mê hay thích giác? Thường thường có suy nghĩ mới vui, không suy nghĩ thì buồn. Ngồi yên không suy nghĩ gì cảm thấy buồn quá, nên muốn có suy nghĩ để thả nó chạy đầu non, góc núi, thành này, thị kia, dạo khắp các nơi thì vui ngồi quên giờ, còn ngồi mà không cho nó nghĩ, sao thấy lâu quá thời gian dài thăm thẳm. Đó là do thói quen của chúng ta đã thuần rồi, phải cho nó chạy nó nhảy mới vui, nếu dừng lại cảm thấy buồn, như ù lì không có gì hay, gì vui hết. Nhưng không ngờ chính cái chạy nhảy đó là tướng hư dối sanh diệt, còn cái yên lặng trong sáng là cái thật của mình, chỉ cần chúng ta nhận ra nó thì bao nhiêu nghiệp sanh tử ngang đây được dừng. Nếu chạy theo cái lăng xăng sanh diệt thì chúng ta cứ tiếp tục trôi lăn trong sanh tử, mà sanh tử là khổ đau. Như khi chúng ta tắm biển, ở chỗ nước phẳng lặng không chịu vì buồn, thích đến chỗ có sóng để nhồi với sóng mới vui, đó là do con người không thích bình yên chỉ thích cái gì động, cái hơi nguy hiểm mới chịu. Thế nên nói chúng ta đang an lại cầu nguy. Vì vậy đời này sanh tử, đời sau lại tiếp tục sanh tử. Ở đây chúng ta tu cốt dứt hết sanh tử, đó là nhân căn bản phải dừng sanh tử, nhưng các vị Bồ-tát có chịu dừng sanh tử không? Các ngài chưa chịu dừng sanh tử lại thích đi trong luân hồi. Như vậy đối với người tu là phải biết rõ gốc ngọn cho tường tận. Chúng ta tu là phải biết rõ mầm sanh tử phát xuất từ đâu, khi biết được mầm sanh tử phát xuất ở chỗ nào, rồi phải nhận trước khi mầm đó nảy ra, cái gì là gốc chân thật phải nhận ra cái gốc chân thật đó. Biết rõ nắm vững được gốc ngọn rồi, nếu không muốn sanh tử nữa thì mầm sanh tử chúng ta phải tiêu diệt, là dứt được gốc sanh tử. Nếu mầm sanh tử không tiêu diệt thì không dứt được sanh tử. 

Như vậy người tu chúng ta có hai hạng: một là biết được nhân sanh tử rồi chán ngán muốn dứt sạch mầm để thoát ly sanh tử, tức là để giải thoát sanh tử; hai là cũng biết được nhân sanh tử và gốc trước khi chưa có sanh tử. Biết rõ sanh tử là ảo tưởng, hư dối không thật, lẽ ra phải dứt các mầm đó để được giải thoát, nhưng các ngài không chịu dứt. Không chịu dứt để làm gì? Để còn sanh tử, để lăn lộn trong sanh tử giáo hóa cho mọi người được thức tỉnh. Nếu các ngài biết được gốc sanh tử ở chỗ nào, rồi tiêu diệt nó để hết sanh tử, như vậy phần mình được yên, nhưng còn bao nhiêu người khác mê thì làm sao? Vì thế các ngài không dứt mầm sanh tử, vẫn nuôi sanh tử nhưng không mê lầm. Nghĩa là các ngài đi trong sanh tử, mà danh từ chuyên môn trong nhà Phật gọi nhập du hý tam-muội, hay dạo chơi trong chánh định, dạo chơi trong lục đạo luân hồi mà vẫn ở trong chánh định. Bởi thấy sanh tử là trò ảo hóa không thật, không quan trọng và chúng sanh còn mê nên các ngài phải đi trong đó để đánh thức họ. Như vậy đi trong sanh tử có hai hạng người:

1/ Vì mê chạy theo vọng thức tạo nghiệp luân hồi nên tiếp tục đi trong sanh tử.

2/ Do biết sanh tử là hư dối, từ vọng thức mà ra, nhưng vì chúng sanh mê nên các ngài chấp nhận đi trong sanh tử với bản nguyện đánh thức mọi người được tỉnh, được giác để thoát ly sanh tử, đó là hạnh nguyện của Bồ-tát.

Như vậy trọng tâm của sự tu không phải chỉ một bề cầu giải thoát sanh tử mà có người gấp rút lo giải thoát sanh tử, nhưng cũng có người chấp nhận đi trong sanh tử. Tôi nói có nhiều khi người ta tưởng tôi tham. Tại sao tham? Bởi vì tôi muốn làm sao cho ai cũng được thức tỉnh, mà muốn được như vậy có phải tham không? Người ta chưa chịu tỉnh mà tôi muốn họ phải tỉnh tức nhiên là tham rồi. Vì muốn mọi người đều tỉnh nên lúc nào tôi cũng sẵn sàng nhắc nhở, khuyến khích cho họ tỉnh. Nhưng thế thường của con người là khi vô minh nhè nhẹ, phơn phớt, vừa nhắc liền tỉnh, nếu lúc vô minh dày quá khi nhắc thì tỉnh, qua cơn lại mê. Vì vậy đôi khi tôi thấy cũng hơi bận rộn. Nếu hiểu được đường lối mình chỉ chăm chú lo tu thì khỏe biết mấy, phần mình tự lo đâu có gì phiền hà. Còn biết được đường lối tu, không chịu lo tu, lo kêu người này, gọi người kia nhắc họ tỉnh, nhưng họ không tỉnh còn làm những điều lôi thôi làm mình cũng hơi buồn. Bởi vì nếu tôi không biết mỗi người đều có hòn ngọc quý thì tôi không dại gì đi kêu đi chỉ. Nếu người ta không có, hoặc người đó không biết cũng như tôi không biết họ có hòn ngọc quý thì tôi kêu họ để chỉ cái gì. Ngược lại tôi biết người đó có hòn ngọc quý cũng như tôi có hòn ngọc quý, biết rõ không nghi ngờ. Nếu tôi biết rồi tự ráng phủi dẹp để lấy hòn ngọc, còn người khác biết có mà không chịu lấy, cứ lo chạy ngược chạy xuôi bỏ quên nó thì mình nghĩ sao? Trách nhiệm của mình thế nào, chẳng lẽ làm thinh để họ ôm hòn ngọc quý đi ăn mày lang thang, đành chịu vậy sao? Vì vậy tôi phải ráng nói ráng chỉ, dù họ có tin hay không tin cũng được, nhưng tôi có chỉ rồi thì lòng mới an. “Anh có hòn ngọc quý thật đó, tôi chỉ cho anh thấy rõ, còn chuyện tin hay không là quyền của anh.” Tôi nói thật như vậy là bổn phận của tôi đã xong. Nếu tôi biết mà không chỉ để họ lang thang khổ sở là tôi ích kỷ không tròn bổn phận; đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai là biết mọi người ai tạo nghiệp lành, nghiệp dữ đều được hưởng vui hoặc phải chịu khổ. Nhưng ở thế gian ai cũng sợ khổ, thích vui thì nỡ lòng nào mình để cho người ta tạo khổ mà phải đánh thức cho họ tìm cái vui. Vì vậy phải chỉ cho họ biết nhân nào đau khổ, nhân nào an vui để họ tránh khổ được vui. Biết mà không chỉ là mình cũng có tội, nên phải ráng chỉ. Đó là phần thông thường mà tôi sử dụng hằng ngày, còn phần thâm trầm hơn là nhận được hòn ngọc quý.

Bởi vậy tôi nghĩ đời tôi có lẽ chừng nào không đủ sức để nói nữa mới thôi, chứ đâu nỡ làm thinh. Vì biết rõ chắc chắn không nghi ngờ nên tôi phải ráng nói ráng chỉ, còn tin và làm theo hay không là quyền của mỗi người, miễn sao nói được thì lòng tôi cảm thấy nhẹ đi phần nào. Nhưng đôi khi cũng có phản ứng ngược lại, là mình thấy hay thấy tốt, mà nói họ không nghe mình cũng hơi buồn, chứ lý đáng tôi nói ra là làm hết bổn phận rồi, nghe hay không là chuyện của họ. Đây là nhân việc của người xưa mà tôi nhắc đến việc hiện tại, như ngài Quảng Trí đã chỉ cho chúng ta thấy được nguồn gốc tường tận rõ ràng, ngài mới nói: 

Thế nhưng, đạo lớn thì mênh mông, phải tùy theo chỗ mà ra tay. Đạo lớn mênh mông không thể nào chỉ ra hay diễn đạt cho người ta tường tận, nên phải tùy theo phương tiện mà mình ra tay được phần nào. Ví như biết cái áo lệch, nắm cổ áo kéo lên cho bằng, sửa cổ áo đó là chỗ ra tay. Giềng lưới không thẳng bị dùn hoặc chênh phải kéo lên cho thẳng cho ngay. Như vậy đạo quá lớn quá rộng, người ta không thể một sớm một chiều mà làm được, nên cái gì gần có thể làm được chỉ cho họ làm trước, còn cái thênh thang từ từ chỉ sau. Thế nên tôi nói có hai điều:

1/ Biết mỗi người đều có hòn ngọc quý nên phải chỉ cho họ, tôi mới an lòng. Nhưng nói họ lại không tin vì tự cho mình là kẻ bần hàn làm sao có ngọc quý được, nên nghe nói họ chỉ lắc đầu tưởng như là trò chơi.

2/ Vì biết họ thích vui sợ khổ, thôi thì dạy cho họ làm những việc tránh khổ để được vui trong đời này và những đời sau là tốt rồi. Như vậy điều gì sửa được thì sửa ngay giùm, chỉ những cái căn bản cho họ làm trước. Đó là phần thứ hai chỉ nghiệp thiện, nghiệp ác, nhân quả rõ ràng để cho người tu biết mà tránh cũng là điều tốt.

Trước kia, dưới cửa Tổ sư chỉ ra một con đường chánh tu hành, dạy người từ ngay đầu nguồn mà khởi công. Nếu đầu nguồn đã trong sạch, thì lý thật luôn luôn hiện tiền, thức và niệm tự nhiên ô nhiễm chẳng được. Ví như mặt trời đã lên cao giữa hư không, thì ma quái đều bặt dấu. Một pháp môn tâm địa này, chính là đạo của ngàn thánh xưa nay chẳng đổi. Cho nên, trái với nó thì phàm, thuận với nó thì thánh, mê nó thì sanh tử bắt đầu, ngộ nó thì luân hồi ngừng dứt.

Bởi vì người tu có khi đi từ những phương tiện này sang phương tiện khác, lần lần đến chỗ cuối cùng, còn đối với Thiền tông đi thẳng ngay đầu nguồn chứ không dùng phương tiện. Như câu chuyện tôi thường nhắc nhiều lần về việc tổ Đạt-ma chỉ cho tổ Huệ Khả, có phải đầu nguồn không? Thưa: Tâm con không an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm. Nếu không phải chỉ thẳng đầu nguồn thì khi dạy nói: Ngươi niệm Phật đi rồi lần lần tâm ngươi an. Hoặc: Ngươi trì chú đi, rồi tâm ngươi sẽ an. Hay: Ngươi dùng câu gì đó để đàn áp cho tâm an. Còn ở đây tổ Đạt-ma bảo: Đem tâm ra ta an cho. Ngay cái bất an tìm lại nó ở đâu? Tìm một lúc nó mất tiêu. Như vậy tìm tận cùng cái bất an đó không nguồn gốc, không nơi chốn. Khi tìm lại không được, Tổ mới dạy: Ta đã an tâm cho ngươi rồi. Ngay cái bất an phăng tìm tận gốc nó không có, như vậy có phải là trở về gốc không? Đường lối tu của Tổ sư là chỉ thẳng tìm tận gốc. Chúng ta nói bất an thì cái gì là bất an? Là cái nghĩ suy tính toán làm cho mình bất an, là tâm mình phải không? Khi tìm lại tường tận không có gì hết là đi thẳng vào gốc, không phải dùng một phương tiện nào để đè. Đó là ý ở đây nói dưới cửa Tổ sư chỉ ra một con đường chánh tu hành, dạy người từ ngay đầu nguồn mà khởi công. Như vậy chúng ta xét kỹ mọi tội lỗi tham sân si gốc từ đâu ra, cũng từ dấy niệm mà ra; dấy niệm nên có tham, sân v.v... Vì vậy muốn dứt tham sân si thì ngay niệm khởi phải dừng. Niệm khởi dừng thì tham sân si đâu còn. Đây cũng thẳng từ gốc mà dẹp, nên tôi nói là đi tận đến chỗ nảy mầm dẹp sạch nó hay bóp chết từ trong trứng nước không đợi nó thành hình. Đó là ý nghĩa chúng ta phải nhớ nắm vững để tu hành. 

Nếu đầu nguồn đã trong sạch, thì lý thật luôn luôn hiện tiền, thức và niệm tự nhiên ô nhiễm chẳng được. Bởi thức và niệm không dấy khởi được thì làm gì có ô nhiễm, là trở về tâm thể thanh tịnh. Vì vậy ngài mới ví dụ: Ví như mặt trời đã lên cao giữa hư không, thì ma quái đều bặt dấu. Khi tâm mình không còn một niệm vọng thức dấy động, đó là mặt trời lên cao. Cho nên ngài Vô Ngôn Thông ngộ câu: Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu. Nghĩa là đất tâm nếu không thì mặt trời trí tuệ liền soi. Không có niệm khởi, không có vọng thức thì mặt trời trí tuệ sáng lên rất rõ ràng, nên nói ma quái đều bặt dấu. Còn chúng ta ma quái hiện lên luôn luôn vì đất tâm còn bụi rậm um tùm, nên có chỗ cho nó ẩn núp.

Một pháp môn tâm địa này, chính là đạo của ngàn thánh xưa nay chẳng đổi. Cho nên, trái với nó thì phàm, thuận với nó thì thánh, mê nó thì sanh tử bắt đầu, ngộ nó thì luân hồi ngừng dứt. Thật đơn giản làm sao! Nếu trái với đất tâm trong sạch là phàm, thuận với nó là thánh. Nghĩa là chúng ta trở về đất tâm thanh tịnh thì dòng luân hồi không còn nữa. Nếu quên nó đi, cứ nuôi vọng thức lăng xăng đó là gốc luân hồi sanh tử.

Vậy muốn dừng luân hồi không gì bằng thể nhận “chí đạo”. Muốn thể nhận chí đạo, không gì bằng quán chiếu bản tâm. Muốn quán chiếu bản tâm, cần mở rộng mắt rỗng soi xét. Luôn khiến cho trăng tỏ rọi sáng ngời, thường ở trong định mà trí tuệ chiếu soi. Luôn luôn giữ được trong chỗ thất tình chưa phát này. Luôn luôn bảo tồn được thể bát thức chưa nhiễm này. Thì, ngoài dừng các duyên, trong bặt các vọng. Gồm thu ánh sáng nơi mắt, lắng đọng âm vận nơi tai, điều hòa hơi thở nơi mũi, bịt kín khí vị nơi lưỡi, tay chân chẳng động. Khiến cho năm thức: mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, mỗi thứ trở lại căn của nó, thì năm thứ linh: tinh, thần, hồn, phách và ý, mỗi thứ yên nơi vị của nó. Trong hai mươi bốn giờ thường xem kỹ bên trong sự chạy rong của con trâu này, lẫn với thường lắng nghe ngược lại sự thuần thục hay buông lung của nó. Cả đến mọi cử chỉ hành động, niệm niệm chẳng rời nó. Cũng như, đi đứng nằm ngồi, tâm tâm luôn ở ngay con trâu này. Không thể một sát-na quên mất chiếu soi hay thoáng chốc trái nhau. Thần quang vừa phóng ra liền thu lại. Trong lúc vội vàng vẫn không tách rời. Thường ở ngay đây mà luôn để ý chiếu soi. Như ông Tử Tư nói: “chẳng thể rời trong giây lát”, là đấy.

Muốn dừng luân hồi không gì bằng thể nhận “chí đạo”: Đây là một từ khác, chữ “chí đạo” này là từ của tổ Tăng Xán nói: “Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch.” Chí đạo tức là chỗ tột cùng của đạo, là chân tâm. Muốn thể nhận chí đạo, không gì bằng quán chiếu bản tâm. Tức là soi sáng từng niệm, từng phút giây nó có chạy, có rong ruổi hay không? Muốn quán chiếu bản tâm, cần mở rộng mắt rỗng soi xét. Phải nhìn nó với tánh cách rỗng rang, không nên hẹp hòi kìm chế.

Luôn khiến cho trăng tỏ sáng ngời, thường ở trong định mà trí tuệ chiếu soi. Luôn luôn giữ được trong chỗ thất tình chưa phát này. Phải dùng trí soi sáng rõ ràng, không nên để định mà quên tuệ. Chỗ thất tình luôn luôn gìn giữ không cho dấy lên. Thất tình là: mừng, giận, sợ, yêu, buồn, ghét, muốn. Nghĩa là làm sao giữ không cho bảy thứ này dấy lên. Nếu tâm không dấy niệm thì có thất tình hay không? Nếu nó dấy niệm thì không niệm thương thì niệm ghét, không niệm mừng thì niệm giận. Vì vậy phải giữ được chỗ lặng yên của nó chưa dấy niệm thì thất tình không có.

Luôn luôn bảo toàn được thể bát thức chưa nhiễm này. Thì, ngoài dừng các duyên, trong bặt các vọng. Nếu giữ cho thất tình không dấy động, hay nói cách khác, chỗ không nhiễm tức là thức thứ tám không nhiễm thì ngoài dừng các duyên, trong bặt các vọng. Câu này nghe khó hiểu, các duyên bên ngoài làm sao dừng được. Mắt mình đang mở sáng có người đi qua là có duyên, nên chặn họ lại không cho đi qua mắt mình hay phải làm sao? Như vậy cảnh đến đi mình dừng nó bằng cách nào? Dừng không có nghĩa là trốn, đuổi, hay xây mặt vào vách không nhìn đến ai. Dừng các duyên có nghĩa là mọi cảnh, mọi duyên đối diện trước mắt mình không cho dính, kẹt. Người đi qua biết người, vật đi qua biết vật, giống như gương cái nào hiện cái ấy, qua rồi thôi. Có người vật nào đi qua rồi còn dính bóng trong gương không? Còn gương mắt mình tại sao bị dính? Nó không có keo mà sao qua rồi lại dính? Đó là điều mà tất cả chúng ta tu phải khéo như cái gương trong sáng, người vật đến thì hiện hình, qua rồi thì mất bóng. Mắt chúng ta cũng phải như cái gương vậy. Như vậy chúng ta không trốn cảnh, không đuổi mọi sự vật đến với chúng ta mà cái khéo là người đến hiện người, vật đến hiện vật, qua rồi thôi đừng để dính nhiễm. Muốn không dính nhiễm thì khi người qua đừng vọng khởi về người, vật qua không vọng khởi về vật. Không vọng khởi thì không nhiễm. Nếu có người qua khen là đẹp, vật qua cho là xấu đó là dính rồi. Cho nên người thì biết người, vật thì biết vật, không có một niệm nào để phân biệt về người vật đó thì không có dính khằn; nếu có niệm phân biệt đây là đẹp, kia là xấu là có khằn dính. Vì vậy xấu hay đẹp qua rồi mà bóng cứ lảng vảng ở mình mãi làm mất thì giờ tu, hết chướng này lại sanh chướng khác. Lý đáng giờ ngồi thiền rảnh rang biết mấy, mọi sự việc ở ngoài đều gác qua một bên, đóng cửa thiền đường lại vô ngồi thì còn chuyện gì nữa đâu. Vậy mà có yên không? Bởi vì chúng ta tránh được duyên tiếp xúc bên ngoài, nhưng bóng dáng bên trong vẫn còn chưa mất hết; sở dĩ nó không mất là vì khi tiếp xúc với duyên mình vọng khởi phân biệt nhiều, từ vọng khởi phân biệt nên có dính mắc. Khi dính mắc rồi tuy cảnh ngoài không có, mà từ trong tâm bóng dáng hiện ra quấy nhiễu, làm mất thì giờ tu của mình. Vì vậy chúng ta tu phải làm sao đối cảnh, đối duyên mà tâm vẫn như như trong sáng không để cho dính mắc. Thế nên thiền sư Hương Hải có nói:

Nhạn quá trường không

Ảnh trầm hàn thủy

Nhạn vô di tích chi ý

Thủy vô lưu ảnh chi tâm.

Dịch:

Nhạn bay trong không

Bóng chìm đáy nước

Nhạn không có ý để dấu

Nước không có tâm giữ bóng.

Nghĩa là nhạn bay qua bóng chìm dưới nước, mà nhạn có ý để bóng, nước có ý lưu dấu lại không? Không, qua rồi mất, còn có ý thì có bóng có dấu. Vì vậy không dấy niệm thì ý không chen vào, còn dấy niệm thì ý mới chen vào được. Thế nên biết tu là làm sao trước cảnh duyên chúng ta không tiêu cực để trốn tránh, nhưng đừng để cho vọng thức quá lăng xăng, quá phân biệt rồi dính khằn, khiến cho sự tu bị thối thất. Được như vậy thì giờ ngồi thiền là giờ rất thánh thiện, nhàn hạ, thảnh thơi, khỏi phải dẹp bỏ gì hết. Lâu lâu tôi có nhìn lén những người ngồi thiền, có người ngồi rất tươi tỉnh, có người ngồi gục gặc đầu, có người nhăn mặt trông khổ sở lắm. Những hiện tượng đó là do ở trong đang có niềm vui hay có cái gì không được thảnh thơi thoải mái. Làm sao khi chúng ta ngồi thiền có nét mặt như ông Phật ngồi trên bàn, tươi vui cười mỉm trông thật nhàn hạ, còn ngồi bặm môi, trợn mắt, hay gục gặc đầu thật là khổ sở. Vì vậy chúng ta phải khéo tu làm sao cho có kết quả tốt thì sự tu mới được lợi ích thiết thực.

Gồm thu ánh sáng nơi mắt, lắng đọng âm vận nơi tai, điều hòa hơi thở nơi mũi, bịt kín khí vị nơi lưỡi, tay chân chẳng động. Khiến cho năm thức: mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, mỗi thứ trở lại căn của nó, thì năm thứ linh: tinh, thần, hồn, phách và ý, mỗi thứ yên nơi vị của nó. 

Ở đây ngài chỉ cho chúng ta thấy rõ, khi ngồi thiền là gồm thu ánh sáng nơi mắt, lắng đọng âm vận nơi tai. Bởi vì người tu thiền có hai căn bén nhạy nhất là mắt và tai, nên khi ngồi phải thu ánh sáng trở lại mắt, không cho phóng chạy ra ngoài, thu âm vận nơi tai cho lắng đọng, điều hòa hơi thở nơi mũi, bịt kín khí vị nơi lưỡi, tay chân chẳng động. Khiến cho năm thức: mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, mỗi thứ trở lại căn của nó. Tức là nó y nguyên: Mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, mũi vẫn ngửi, lưỡi vẫn nếm bình thường nhưng không bị dấy động, không bị nhiễm nhơ bởi ngoại trần; đó là mình thu nó trở về. Nếu năm thức trở về được năm căn của nó thì ở đây ngài nói theo Nho là tinh, thần, hồn, phách và ý, còn chúng ta chỉ nói gọn là ý mới được yên nơi vị của nó. Như vậy trong năm căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân nếu không phóng ra thì ý không có cơ hội chạy, nên nó dừng được ý; còn năm căn phóng ra thì ý theo đó mà chạy. Như chúng ta đang ngồi thiền nghe có những tiếng người nói chuyện bên ngoài, nếu nghe mà mình không dấy niệm thì ý có chạy không? Còn nghe mà khởi nghĩ ai đó nói gì ở ngoài, lắng nghe rồi thì ý chạy lung tung. Như vậy gốc của sự tu là làm sao giữ năm căn mỗi cái phải ở ngay bản vị của nó, đừng để cho ý chen vào gây ra chuyện rối rắm bên ngoài.

Trong hai mươi bốn giờ thường xem kỹ bên trong sự chạy rong của con trâu này, lẫn với thường lắng nghe ngược lại sự thuần thục hay buông lung của nó. Như vậy chăn trâu là chăn bằng cách nào? Nghĩa là trong hai mươi bốn giờ giữ con trâu của mình (con trâu ở đây ngài nói là nơi sáu căn của mình) không cho nó chạy ra, trái lại phải nhìn thấu vô trong xem nó đang thuần thục hay buông lung để kìm chế nó. Cả đến mọi cử chỉ hành động, niệm niệm chẳng rời nó. Cũng như, đi đứng nằm ngồi, tâm tâm luôn ở ngay con trâu này. Khi đi đứng nằm ngồi lúc nào cũng chăn giữ sáu căn không cho nó chạy, không để nó dính với ngoại cảnh. Không thể một sát-na quên mất chiếu soi hay thoáng chốc trái nhau. Nghĩa là một phút, một giây cũng phải thấy biết rõ, không để cho nó tung hoành ra ngoài. Thần quang vừa phóng ra liền thu lại. Trong lúc vội vàng vẫn không tách rời. Thường ở ngay đây mà luôn để ý chiếu soi. Như ông Tử Tư nói: “chẳng thể rời trong giây lát”, là đấy. Ở đây ngài dẫn theo Nho để làm chứng rằng người khéo tu dù theo Nho hay Phật đều phải khéo giữ gìn, không để cho nó buông lung dù trong một phút một giây.

Lại trước còn giữ nó để cho trống hết tâm kia. Kế quên nó để mở rộng cái lượng kia. Tùy chỗ, tùy thời đều tự tại vô ngại. 

Đây ngài chỉ hai cách để giữ. Trước còn giữ nó để cho trống tâm kia. Giữ nó tức là giữ cho sáu căn đừng dấy niệm thì tâm mới trống rỗng, thênh thang. Kế quên nó để mở rộng cái lượng kia: Nghĩa là giữ cho sáu căn không dấy niệm tức là sáu căn được thanh tịnh. Sau đó quên không còn kìm giữ sáu căn nữa thì tâm mình mới rộng thênh thang.

Tùy chỗ tùy thời đều tự tại vô ngại. Như vậy tùy chỗ tùy thời tâm mình không còn gì trở ngại hết.

Song, người học chỉ cốt lo dẹp trừ sáu thức, thì càng nên rõ biết chỗ trước sau. Ý tuy là chủ soái của sáu thức, mà mắt chính là tiên phong của năm giặc. Nên bậc tiên đức nói: “Tâm là then chốt, mắt là giặc trộm.” Muốn hàng phục tâm kia, trước phải thu nhiếp mắt kia. Bởi cây nỏ thì sự phát động ở tại bộ phận máy, tâm thì sự duyên dẫn ở tại mắt. Bộ phận máy chẳng động thì nỏ đứng yên. Mắt chẳng động thì tâm đứng yên. Phải biết, vọng niệm dấy lên từ thức căn, đối với cảnh mà thành vọng, chẳng phải có thật thể. Khi ở chúng sanh, thì trí yếu thức mạnh nên chỉ gọi là thức. Ngay khi ở Phật địa, thì trí mạnh thức yếu nên chỉ gọi là trí. Chỉ chuyển tên kia mà chẳng chuyển thể kia. Ban đầu thì một nguồn tâm rỗng rang trong lặng, rồi do “tri kiến lập tri”, vọng trần sanh khởi, nên có vọng niệm. Nếu “tri kiến vô kiến, tư tức Niết-bàn”, thì trí tánh chân thật thanh tịnh sẽ trở lại trong lặng nhiệm mầu, rỗng suốt trọn vẹn, ý niệm liền tiêu. Ý niệm đã tiêu, thì từ thức thứ sáu trở xuống, không thức nào chẳng đều tiêu hết. Tức là chỗ ngài Văn-thù bảo: “Một căn đã trở về nguồn, sáu căn trở thành giải thoát.” Đã không sáu căn thì không sáu trần, đã không sáu trần thì không sáu thức. Đã không sáu thức thì không chủng tử luân hồi. Đã không chủng tử luân hồi, thì một điểm chân tâm của ta, đứng riêng không chỗ nương, rỗng rang mênh mông, sáng rỡ, lặng trong, muôn kiếp thường còn, hằng không sanh diệt.

Đoạn này ngài chỉ rất rõ ràng để chúng ta nhớ mà tu.

Song, người học chỉ cốt lo dẹp trừ sáu thức, thì càng nên rõ biết chỗ trước sau. Ý tuy là chủ soái của sáu thức, mà mắt chính là tiên phong của năm giặc. Như vậy người học chỉ lo dẹp trừ sáu thức nhưng phải rõ biết cái nào trước, cái nào sau. Ý tuy là chủ soái song con mắt mới là tiên phong của năm giặc. Chủ soái có bị lăng xăng rối loạn hay thành công là do tướng tiên phong dẫn đường. Như thấy hoa đẹp ở trước, mà mắt chúng ta không chú ý phân biệt thì chủ soái bên trong có quấy rầy lăng xăng không? Sở dĩ chúng ta bị quấy rầy là vì mắt vừa thấy hoa đẹp liền phân tích hoa đẹp làm sao... thì ý theo đó duyên nhiễm. Như vậy chủ soái là ý mà con mắt là tiên phong. Con mắt làm sao không cho nó dính? Trong nhà thiền thường nói là mở mắt như mù. Nghĩa là sao? Không phải đi đâu cũng bịt mắt lại không cho thấy gì hết mà mắt vẫn thấy biết tất cả nhưng không cái gì dính kẹt là có mắt như mù. Giả sử có mười người đi qua trước mắt chúng ta, ăn mặc quần áo sặc sỡ, nhưng mình không chú ý đến người nào hết. Khi họ đi qua rồi, giây lát sau nếu có ai hỏi, những người khi nãy vừa đi qua người nào đẹp, người nào xấu thế nào, mình sẽ trả lời ra sao? Không chú ý thì đâu thấy ai đẹp, ai xấu. Như vậy có mắt mà như mù, thấy như không thấy. Còn nếu chú ý người này ăn mặc hợp thời trang, người kia không hợp thì khi được hỏi đến liền phân tích thế này thế nọ, là người có mắt sáng, là có thấy, còn không chú ý là có mắt như mù. Chúng ta phải giữ sao cho có mắt như mù thì tu dễ thành công, còn có mắt sáng quá tu cực khổ lắm. Đó là chỗ phải ngừa anh tiên phong trước để ông chủ soái được yên; nếu để anh tiên phong dẫn giặc vào nhiều thì ông chủ soái phải mệt.

Nên bậc tiên đức nói: Tâm là then chốt, mắt là giặc trộm. Then chốt là vật dùng gài cửa. Tâm là cửa gài ở trong, nhưng con mắt là giặc trộm, có chuyện gì nó liền cạy cửa, cho nên tâm mới động, mới dấy. Như vậy hai thứ đó liên hệ nhau. Muốn hàng phục tâm kia, trước phải thu nhiếp mắt kia. Nghĩa là làm sao đối với tất cả cảnh đừng để cho nó kẹt dính thì tâm dễ hàng phục, nếu để kẹt dính thì tâm khó hàng phục được. Bởi cây nỏ thì sự phát động ở tại bộ phận máy, tâm thì sự duyên dẫn ở tại mắt. Bộ phận máy chẳng động thì nỏ đứng yên. Mắt chẳng động thì tâm đứng yên. Phải biết, vọng niệm dấy lên từ thức căn, đối với cảnh mà thành vọng, chẳng phải có thật thể. Vì vọng niệm dấy lên là do mắt tai mũi lưỡi thân tiếp xúc với ngoại trần dấy niệm nên thành ra đối địch, chống chọi, phân biệt. Tuy đối địch nhưng nó không có thật thể.

Khi ở chúng sanh, thì trí yếu thức mạnh nên chỉ gọi là thức. Ngay khi ở Phật địa, thì trí mạnh thức yếu nên chỉ gọi là trí. Như vậy gọi là trí, là thức tùy ở địa vị. Ở địa vị mê của chúng sanh, cũng cái biết nhưng là cái biết của vọng tưởng phân biệt nên gọi là thức; còn ở địa vị Phật, cũng cái biết mà sáng suốt giác ngộ, nên gọi là trí.

Chỉ chuyển tên kia mà chẳng chuyển thể kia. Ban đầu thì một nguồn tâm rỗng rang trong lặng, rồi do “tri kiến lập tri”, vọng trần sanh khởi, nên có vọng niệm. 

Ngài dẫn kinh Lăng-nghiêm để thấy rõ ban đầu chỉ là một nguồn tâm rỗng rang trong lặng, nhưng do tri kiến lập tri, vừa có thấy biết liền khởi niệm phân biệt đó là lập tri, rồi vọng trần sanh khởi, nên có vọng niệm. Nếu tri kiến vô kiến, tư tức Niết-bàn. Nghĩa là mình thấy biết mà không thấy biết, như có người đi qua mình thấy biết, mà không có niệm phân biệt đó là không thấy biết. Nếu không thấy biết như vậy tức là Niết-bàn. Vậy Niết-bàn với sanh tử cách nhau bao xa? Chỉ là đối duyên, xúc cảnh mà khởi niệm đuổi theo phân biệt đó là sanh tử. Còn đối duyên, xúc cảnh mà không dấy niệm đuổi theo dính mắc, đó là Niết-bàn chứ không đâu xa.

Thì trí tánh chân thật thanh tịnh sẽ trở lại trong lặng nhiệm mầu, rỗng suốt trọn vẹn, ý niệm liền tiêu. Ý niệm đã tiêu, thì từ thức thứ sáu trở xuống, không thức nào chẳng đều tiêu hết. Nếu ý niệm tiêu thì sáu thức cũng theo đó mà tiêu. Vì vậy trọng tâm chúng ta tu là ở ý. Nếu ý lặng thì tất cả đều theo đó mà lặng hết. Tức là chỗ ngài Văn-thù bảo: Một căn đã trở về nguồn, sáu căn trở thành giải thoát. Đây lại dẫn kinh Lăng-nghiêm chỗ Phật dạy ngài Văn-thù chọn các căn viên thông.

Đã không sáu căn thì không sáu trần, đã không sáu trần thì không sáu thức. Đã không sáu thức thì không chủng tử luân hồi. Khi sáu thức không còn hoạt động, không còn tạo nghiệp nữa thì luân hồi cũng không còn. Đã không chủng tử luân hồi, thì một điểm chân tâm của ta, đứng riêng không chỗ nương, rỗng rang, mênh mông, sáng rỡ, lặng trong, muôn kiếp thường còn, hằng không sanh diệt. Đến đây gọi là giải thoát sanh tử, là được giác ngộ hoàn toàn. Như vậy chúng ta tu là trở về cái sẵn của mình, chứ không phải ở đâu đem đến. Đã có sẵn nhưng vì chúng ta mê tức là quên, nay tỉnh lại dẹp bỏ những manh mối dẫn đi luân hồi sanh tử, để trở về nguồn bất sanh bất diệt, đó là gốc của sự tu.

Đây là pháp chỉ thẳng tâm người, rất rõ ràng xác thật, chặt thẳng làm sao! Giản dị làm sao! Chỉ hay chăm lo cội nguồn quán chiếu con trâu này, lâu rồi thì tự nhiên tâm không, mênh mông lóng đứng, lặng lẽ chẳng động, vắng bặt chẳng nghĩ, rỗng toang tâm mở, tỏ suốt thấy tánh. Đây là chỗ nói: Da mỏng da dày đều rớt sạch, một thể chân thật hiện tiền.

Ngài nói: đây là pháp chỉ thẳng tâm người tức là trực chỉ nhân tâm, rất rõ ràng xác thật, chặt thẳng làm sao! Giản dị làm sao! Bởi vì pháp này đi thẳng không quanh co, mà đã đi thẳng thì nó rất giản dị không phiền toái. Vì vậy nên ở đây nói chặt thẳng, giản dị. Như chúng ta ứng dụng tu đối với pháp Thiền tông chỉ thẳng nơi tâm mình, nên là chặt thẳng, cho thấy rõ tâm nào chân thật tâm nào hư dối, chúng ta không theo những vọng tưởng hư dối, đó là đơn giản vô cùng không có gì lạ ở bên ngoài.

Chỉ hay chăm lo cội nguồn quán chiếu con trâu này. Chúng ta tu là phải nhìn thẳng nguồn gốc để quán chiếu tường tận, mà quán chiếu cái gì? Quán chiếu con trâu này. Như vậy con trâu này tức nơi tâm mình có những niệm dấy khởi chạy theo sáu trần, thì những niệm dấy khởi chạy theo sáu trần đó gọi là con trâu đi ăn lúa mạ của người. Ngay đó chúng ta dừng không đi theo, là chăm lo cội nguồn, chặn đứng ở nội tâm chứ không đợi nó dính với cảnh rồi mới chặn. Lâu rồi thì tự nhiên tâm không. Nghĩa là khi niệm khởi chúng ta không theo, tập như vậy lâu rồi tự nhiên tâm được an ổn nên nói tâm không. Không ở đây là không dấy niệm chứ không phải không ngơ. Mênh mông lóng đứng. Khi tâm lặng lẽ rồi thì nó không có chỗ nơi, không chừng mực nên nói nó mênh mông. Chỗ này có tu mới thấy rõ được. Khi chúng ta ngồi thiền mà nội tâm dấy khởi thì nó mênh mông hay gom lại một phần nhỏ? Thí dụ khởi nghĩ nhớ món đồ thì nó nhỏ bằng món đồ, nghĩ nhớ con người nó gom lại bằng con người, còn khi không nghĩ, không nhớ thì tâm không một chút giới hạn nào nên gọi đó là mênh mông, không chừng mực nào hết. Lặng lẽ chẳng động. Khi nó không dấy thì lặng, mà lặng thì không động. Vắng bặt chẳng nghĩ, rỗng toang tâm mở. Khi tâm lặng lẽ không nghĩ không tưởng thì nó vắng bặt, nó rỗng toang. Rỗng toang tức là mở rộng không có gì ngăn cách. Tỏ suốt thấy tánh. Nó sáng tỏ thấu suốt được bản tánh của mình nên thấy được tánh. Như vậy chữ thấy tánh này phải nghĩ làm sao mà thấy. Ví như tâm chúng ta cứ dấy động nghĩ chuyện này chuyện kia liên miên, thì lúc đó chúng ta chỉ biết việc nó nghĩ, theo việc nó nghĩ mà không thấy được bản tánh của tâm. Khi tâm lặng yên trong sáng mà mình hằng giác hằng tri, thì cái hằng tri hằng giác nhận rõ nó là bản tánh của mình. Như vậy bỏ tâm sanh diệt chợt còn chợt mất, để nhận bản tánh sáng suốt hằng nhiên rỗng khắp, là bỏ một cái nhỏ để nhận một cái lớn. Nếu nhận niệm khởi là tâm mình là nhận tâm nhỏ, mà niệm khởi là tướng sanh diệt, là tâm tạm bợ. Khi niệm khởi lặng thì tất cả những lăng xăng đều yên tĩnh hết, lúc đó mới thấy tâm mình thênh thang, trong sáng hằng giác hằng tri, tâm mình vô giới hạn. Thế nên nói người học Phật là bỏ cái nhỏ để đạt được cái lớn hay bỏ cái giả để nhận chân cái thật của chính mình, chứ không phải của ai đem đến ban cho. Đó là một lẽ thật, chỉ khi nào tâm mình an định mới thấy rõ, nên nói tỏ suốt thấy tánh.

Đây là chỗ nói: Da mỏng da dày đều rớt sạch, một thể chân thật hiện tiền. Như người bị những lớp da bao bọc, che phủ, bây giờ những lớp da đó tan hoang rã rời, chỉ còn cái chân thật hiện tiền. Như vậy để thấy người tu Phật hay nói đơn giản hơn là tu thiền, không mong cầu cái gì xa lạ ở bên ngoài, mà chỉ cần gỡ những mối gút đang làm cho tâm xáo động mờ mịt, không cho dấy động nữa. Tâm không dấy động, không mờ mịt thì tự nhiên nó trong sáng. Từ tâm trong sáng mới nhận ra được thể chân thật của mình. Mọi ý niệm, mọi nghĩ suy dấy lên cứ che mờ, giống như da mỏng da dày đang phủ che cái chân thật ở trong. Bây giờ những thứ đó rã rời thì cái chân thật hiện tiền. Đó là để chỉ cho chúng ta biết tu đến lúc nào thành công, đến lúc nào đạt được kết quả, chứ không phải như nhiều người hiểu lầm tu cứ mơ màng, cứ trông đợi Phật tổ ban cho cái này cái kia, mà đây là lẽ thật quay về mình.

Công phu đến đây thì tự nhiên tinh thần sáng tỏ, trí tuệ thông suốt, tâm tánh linh thông, khắp được đại tự tại. Người tu đến chỗ tâm rỗng rang trong sáng thì tự nhiên tinh thần được sáng tỏ, trí tuệ được thông suốt, tâm tánh được linh thông, khắp được tự tại. Như vậy cái thông minh sáng suốt là do tâm phiền não vọng tưởng lóng dừng rồi cái trí tuệ sáng suốt hiện. Khi trí tuệ sáng suốt hiện là mình được đại tự tại. Vì thế việc tu là một lẽ thật chỉ quay lại mình để dẹp những mê mờ, đưa đến cái sáng suốt của chính mình, chứ không phải ai đâu xa khác.

Mới biết, tất cả chư thánh đều từ pháp môn tâm địa này, phương tiện mà vào, sẽ được thành Phật làm tổ, làm thầy trời người, phàm phu không thể chứng đến. Như vậy chúng ta mới biết rõ chư thánh, tức là các bậc từ bậc hiền lên bậc thánh đều từ pháp môn tâm địa này, phương tiện mà vào. Pháp môn tu thiền này cũng gọi là pháp môn tâm địa. Tại sao gọi là tâm địa? Tâm địa có nghĩa là đất tâm. Bởi vì tất cả cây cối, nhà cửa v.v... có cái nào ngoài mặt đất mà mọc, mà sanh được không? Như vậy tất cả muôn sự, muôn vật trên thế gian này đều tựa trên mặt đất. Cũng vậy tất cả pháp lành pháp dữ đều từ nơi tâm mà ra, chứ không cái nào riêng có. Mà đã từ tâm ra thì pháp tu trở về tâm gọi là tâm địa. Vì nó là chỗ sản sanh muôn pháp, mà trở về tức là dùng phương tiện mà vào. Đi vào bằng những phương tiện rồi sẽ được thành Phật làm tổ, làm thầy cả trời người, phàm phu không thể chứng đến. Bởi vì khi tu đến kết quả thành Phật thành tổ, thì lúc đó sẽ làm thầy cả trời người. Còn chúng ta hiện nay tu lại mong mỏi được chư thiên ủng hộ, mà nếu chư thiên ủng hộ thì mình là bạn bè với chư thiên, chứ không được làm thầy, vì làm thầy thì không cần ủng hộ, cần ủng hộ thì không phải là thầy họ, có khi ngược lại. Cũng như có người đi cầu quỷ thần ủng hộ thì người đó là thầy của quỷ thần hay là đồ đệ của quỷ thần. Đây tôi nói một cách thông thường, như có ai mới tu hoặc tu ít ít đến với tôi thì họ nói: “Nhờ Thầy thương xót ủng hộ cho chúng con tu hành đến nơi đến chốn.” Nếu tôi ủng hộ họ thì họ bằng tôi chưa? Chắc chưa. Nếu bằng thì chắc họ không phải xin ủng hộ. Cũng như vậy, nếu ai muốn được quỷ thần ủng hộ tức là bạn bè hay đàn em cháu của quỷ thần, còn ai muốn được chư thiên ủng hộ, đó là huynh đệ của chư thiên, có lẽ làm đệ là đúng hơn. Còn ở đây nếu chúng ta tu đến chỗ cuối cùng, là làm thầy của chư thiên nữa đó. Vì vậy nên khi Phật thành đạo thì chư thiên đến quy y thỉnh Phật về cung trời giảng pháp v.v... Như vậy có phải là thầy chưa? Như tổ Ưu-ba-cúc-đa khi bị các loài thiên ma đến phá, ngài chinh phục được rồi, thiên ma xin quy y, kính ngài làm thầy. Như vậy Phật tổ đều làm thầy của cả trời người, chứ không phải chỉ làm thầy cho người thôi. Bởi vậy trong lễ quy y có câu: “Quy y Phật không quy y thiên thần quỷ vật.” Vậy mà hiện nay có nhiều người tuy đã quy y Phật rồi, nhưng thiên họ vẫn kính, thần họ vẫn thờ, quỷ họ vẫn nể. Như vậy những người đó chưa hiểu được giá trị thật của Phật, của tổ. Đó là chỗ chúng ta phải hiểu cho thật rõ. Không phải chúng ta ngạo mạn, nhưng vì đức Phật và chư tổ đủ khả năng để dạy bảo hướng dẫn cho chư thiên tu hành, thì chư thiên đối với Phật là đệ tử, chúng ta cũng là đệ tử Phật. Như vậy chư thiên với chúng ta cũng không khác bao nhiêu, chỉ có phước hơn chúng ta thôi. Cũng như người giàu có quy y với thầy, người nghèo khổ quy y với thầy, tuy giàu, nghèo có khác nhưng cùng quy y một thầy, mà một thầy tức là đồng sư. Vậy điều vô lý là đồng sư mà trở lại quy y với họ. Bởi vậy chúng ta phải hiểu rõ ý nghĩa “thiên nhân chi sư” là thầy cả trời người là thế ấy. Giả sử kính trời còn khả dĩ vì phước cao hơn mình, còn quỷ thần mà kính thì thật là khó hiểu. Nếu nói quỷ chắc ít ai kính, chỉ sợ thôi, như những quỷ lang thang đói rét, gọi là ngạ quỷ, là quỷ đói. Còn thần đối trong nhà Phật gọi là đại lực quỷ, là quỷ có thế lực. Thí dụ ông tướng nào đó chết trận có thể họ hay phá phách người, nên gọi là thần nhưng nhà Phật cũng gọi là quỷ, chỉ là quỷ có thế lực. Nói như vậy để chúng ta hiểu rõ không còn lầm lẫn.

Do người chẳng nhận biết tự tâm, nên kinh Phật nói: “Tất cả chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay mê muội điên đảo bản tâm chẳng tự giác ngộ, vọng nhận bốn đại làm thân, duyên lự làm tâm. Ví như bỏ đi trăm ngàn biển cả chỉ nhận lấy một hòn bọt nhỏ.” 

Đây là đoạn dẫn trong kinh Lăng-nghiêm. Đoạn này khi học kinh Lăng-nghiêm tôi thắm thiết nhất. Bởi vì trong kinh Phật nói: “Tất cả chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay mê muội điên đảo bản tâm chẳng tự giác ngộ.” Tất cả chúng sanh từ vô lượng kiếp là không biết bao nhiêu kiếp mà nói. Mê muội điên đảo bản tâm hay nói cách khác là đối với bản tâm mình mê muội, điên đảo. Bởi mê muội điên đảo bản tâm nên không tự giác ngộ, mà không tự giác ngộ rồi nhận cái gì làm mình? - Vọng nhận tức là dối nhận bốn đại làm thân, duyên lự làm tâm. Có ai không nhận vậy không? Khi nói tới mình thì tự xưng tôi xưng ta, mà tự xưng tức chỉ cho thân tứ đại, thân tứ đại là tôi, là hình tướng lấy tứ đại làm mình, rồi duyên lự làm tâm tức cái nghĩ tưởng lăng xăng ở trong cho là tâm mình. Vậy tất cả chúng ta nhìn lại xem có người nào thấy khác không? Hay ai cũng thấy thân tứ đại là mình, tâm nghĩ tưởng lăng xăng là tâm mình? Như vậy là đã nhận lầm thân, nhận lầm tâm rồi. Bây giờ tôi nói thẳng, chỉ thẳng, thân tứ đại này do duyên hợp, nói gần là bốn thứ: đất, nước, gió, lửa. Sáng ngủ thức dậy sửa sang đôi chút rồi lo điểm tâm sáng. Điểm tâm là gì? - Đem một ít đất, một ít nước vào cho nó an ở trong. Đến trưa cũng đem một số đất nước dồn vô. Rồi chiều nếu nhè nhẹ cũng một ít đất nước vô nữa. Nhưng đem vô rồi nó có ở trong luôn không? - Phải cho ra. Cứ đem vô cho ra, đem vô cho ra, cái này đổi cái kia, cái kia đổi cái khác nữa, từ gió rồi đất, nước, lửa cứ thay đổi, thay đổi liên tục. Tuy thay đổi liên tục vậy mà thiếu nó mình không an. Đôi khi tôi cũng tức cười, có những lúc bận công việc hoặc đi đâu lỡ bữa, đói đi không muốn nổi, nếu ai cho củ khoai nhai vô một lúc lại đi nổi. Như vậy củ khoai là mình hay là gì mà sao nó có sức mạnh lạ thường vậy. Nếu mình là thật, mình là chủ thì có củ khoai hay không có củ khoai, mình cũng làm chủ, mình cứ đi, chứ sao thiếu nó mình đi không nổi. Vậy củ khoai có phải là mình không? Như vậy để thấy rõ tứ đại này nó không tự tồn tại mà phải nhờ tứ đại ngoài bồi bổ, thiếu sự bồi bổ cũng như cái máy thiếu xăng, thiếu dầu không thể chạy được. 

Thân tạm bợ vay mượn mà mình chấp là thân mình, nhưng nếu thân này là thân mình có hai trường hợp: Như khi thân chúng ta trên da thịt bị ung nhọt, người ta cắt bỏ, vậy cái cắt bỏ ra còn là mình, của mình nữa không? Hoặc có một phần da thịt bị hư, cắt bỏ chúng ta có tiếc giữ nó lại để trong bình ngọc, bình ngà, vì cái đó là mình mà tiếc không, hay đem chôn cho rồi sợ nó hôi thúi chịu không nổi. Như vậy cái thật là mình nó phải ra sao chứ! Chẳng lẽ cái mình sao mà dở quá vậy! Cũng như thân này khi hơi ấm đã mất, con người lạnh dần rồi từ từ rã nát. Khi nó rã nát lúc đó, nếu mình làm khách đứng nhìn thây chết của mình, mình có gớm không? Cái mình đó sao tệ quá phải không? Hôi hám không ai chịu nổi, vậy mà ai cũng quý. Có người nào xem thường nó không? Chỗ này trong kinh Phật nói do mê muội, do điên đảo mới dối nhận làm thân mình, rồi tâm duyên lự làm tâm mình. Tâm duyên lự là tâm nghĩ tưởng lăng xăng. Khi ngồi thấy trong đầu nó nhảy cái này, nhảy cái kia đủ thứ ý, đủ thứ nghĩ, nhưng những ý nghĩ đó gốc từ đâu mà ra, hình dáng ra sao? Khi tìm lại thì nó mất tiêu. Cái nghĩ là bóng dáng không thật do duyên theo sáu trần mà có niệm khởi, nên cái duyên lự, nghĩ tưởng không thật có. Như vậy nhận thân không thật, tâm không thật là mình, thì mình thật hay mình không thật? Lấy cái không thật làm mình thì tự nhiên mình giả dối, chứ không thật được. Vì vậy khi nhận thân này là mình, nhận tâm duyên lự là mình thì đã quên mất cái tâm thể chân thật. Tâm thể chân thật là cái thể rộng lớn thênh thang mà quên, chỉ nhận một số tứ đại hợp lại và một ít duyên lự lăng xăng làm tâm mình, nên quên mất cái to lớn thênh thang kia. 

Thế nên Phật dùng thí dụ: “Ví như bỏ đi trăm ngàn biển cả chỉ nhận lấy một hòn bọt nhỏ.” Không nói trăm ngàn biển cả mà chỉ một biển cả thôi, thấy mặt biển thênh thang mà mình không nhận, chỉ nhìn hòn bọt nổi trên mặt biển cho là mặt biển. Người nhìn hòn bọt nói là mặt biển, thì người đó khôn thượng thặng hay ngu tột độ? Nhìn nhận hòn bọt cho là mặt biển, ai nghe cũng tức cười thôi, vì sao ngu một cách đáo để vậy! Chúng ta hiện nay nhận cái thân này, nhận cái suy nghĩ này là mình, cũng giống như người ngu nhìn trên mặt biển chỉ nhìn hòn bọt cho là biển. Cũng vậy biển cả thênh thang cũng như tâm mình thênh thang mà không nhận, lại nhận cái lăng xăng, nhận cái tướng sanh diệt tạm bợ cho là mình, như vậy mình có đáng thương không? Tại sao mình đáng thương? Ở đây dùng từ là mê muội, điên đảo, còn nói theo từ gọn của thế gian là ngu mê. Sao mình lại ngu mê đáo để vậy! Mình có cái rộng lớn, cái chân thật không chịu nhận, lại nhận cái tạm bợ giả dối như vậy. Đây Phật nói trăm ngàn mặt biển mà tôi chỉ nói một mặt biển thôi. Như ở Việt Nam chúng ta nhìn ra mé biển là biển Thái Bình Dương, chỉ một biển Thái Bình Dương so với hòn bọt thì sao, nó có thấm vào đâu không? Vậy mà hài lòng nhận một hòn bọt cho là biển thì hết tưởng nổi cái ngu của mình. Cũng như vậy cái tâm thể thênh thang mà người ta không nhận, lại nhận cái thân tứ đại với cái tâm lăng xăng này là mình, cũng tương tự như người ngu nhận hòn bọt làm mặt biển vậy. Như vậy xét kỹ chúng ta thông minh đến bậc nào rồi, nên Phật nói chúng sanh si mê là chỗ đó. Không phải Phật chê mình mà Phật chỉ trách mình có cái quý không chịu nhận, lại nhận cái tầm thường nhỏ không đáng kể, đó là chuyện đáng thương, nên Phật nói pháp mãi là thế ấy.

Do đây trên mê thêm một lớp mê, trong vọng thêm một lớp vọng, theo cảnh mà lưu chuyển, để mắt sanh tình, muôn điều lấy bỏ, không lúc nào tạm rảnh.

Những câu này là câu trách. Do đây là do cái mê lầm trên đó mà trên mê thêm một lớp mê, trong vọng thêm một lớp vọng. Trên mê thêm một lớp mê, trong vọng thêm một lớp vọng là sao? Nhận thân này và tâm lự lăng xăng là mình, đó là mê rồi, nhưng bây giờ thêm một lớp mê nữa là cái gì, thêm một lớp vọng nữa là cái gì? Tức là theo cảnh mà lưu chuyển. Đã nhận thân này là thân mình thật, cái nghĩ suy là tâm mình thật, đó là đại mê rồi, mà còn chạy theo cảnh cho là đẹp là xấu, có phải thêm một lớp mê nữa không? Như vậy trên mê thêm một lớp mê, trong vọng thêm một lớp vọng. Rồi cứ suốt ngày theo cảnh mà lưu chuyển tức là theo cảnh mà trôi đi luôn luôn. Để mắt sanh tình, thấy cái gì cũng chú ý rồi khen cái này tốt, chê cái kia xấu. Như vậy suốt cả ngày bị cái đẹp xấu, khen chê phủ hết. Mình đã hư dối, tạm bợ nhận mình thật là ngu si rồi, còn cảnh cũng tạm bợ giả dối lại bị nó chi phối, lôi dẫn đi nữa. Như vậy có phải là si mê quá chừng không? Cho nên nói theo cảnh mà lưu chuyển, để mắt sanh tình, muôn điều lấy bỏ. Cái gì tốt muốn lấy, cái gì xấu muốn bỏ, cứ thế suốt đời lấy bỏ, lấy bỏ. Có được cái nhà, lâu lâu thấy nhà mình xưa cũ quá, muốn cất theo kiểu hiện đại mới thích, rồi theo cái mới bỏ cái cũ. Do đó từ nhà cửa, xe cộ cho đến ăn mặc cũng thế, cứ như vậy mà không lúc nào tạm rảnh là suốt đời chạy theo nó nên không rảnh được. 

Đây tôi nhắc lại một lần nữa. Bởi vì chúng ta đã mê lầm nhận thân tứ đại là mình, nhận tâm duyên lự làm tâm mình. Cả hai thân và tâm này đều hư dối, Phật ví dụ như nhận hòn bọt làm biển cả, là đã quá si mê. Đồng thời nhận cảnh bên ngoài cho là đẹp là xấu, rồi cứ chạy theo cảnh, suốt ngày suốt tháng, suốt năm. Mê thân, mê tâm, mê cảnh, ba bốn thứ mê đó rồi chạy mãi lưu chuyển không cùng, cho đến ngày tắt thở là xong một đời không biết quay trở lại, không biết thức tỉnh. Người như vậy thật đáng thương. Nếu chúng ta tỉnh thấy họ mê như vậy chắc thương lắm, tội nghiệp quá phải không? Cứ hụp lặn trên mấy lượn sóng, hết chụp bọt này, đến chụp bọt kia mà khổ sở. Mình đứng trên bờ thấy thật là đáng thương, vậy đó mà người ta vẫn hài lòng, vẫn thỏa mãn.

Đến nỗi khiến cho dấy lên mê lầm tạo nghiệp, lẩn quẩn trong sáu đường, chẳng ra khỏi được. Bởi chạy theo cảnh, đắm đuối theo cảnh nên mê lầm tạo nghiệp, mà tạo nghiệp rồi lẩn quẩn trong sáu đường luân hồi không ra khỏi được. Như vậy hết địa ngục lên ngạ quỷ, hết ngạ quỷ lên súc sanh, rồi lên cõi người, cõi trời, cõi a-tu-la, cứ nhào lên lộn xuống, chạy mãi không dừng được, lẩn quẩn trong sáu đường sanh tử luân hồi không ra khỏi được.

Rốt cùng cái mờ mịt ban đầu (minh sơ) đều do cái lỗi một thoáng vọng mê chân vậy. Cái gì là cái mờ mịt ban đầu? Chỉ là một thoáng chút vọng khởi lên rồi quên cái chân, đó là gốc. Thế nên chúng ta tu thiền, vừa dấy niệm lên mình biết là đã che cái chân rồi. Nghĩa là nó vừa dấy lên là cái chân thật bị khuất. Vì vậy mới bảo buông bỏ vọng tưởng là chỗ đó, vì nó dấy lên là đã che mờ cái chân. Như tôi thường dụ, cái gương sáng mà vừa có tấm giấy hay vật gì đưa ngang qua là nó bị khuất sáng, nếu vật đưa qua liên tục mãi thì gương sáng không bao giờ thấy sáng. Chúng ta cũng thế, từ một niệm dấy lên làm cho cái chân bị mờ đi, là gốc tạo ra đủ thứ nghiệp luân hồi trong sáu đường. Ở đây tôi khuyên dạy tu là bỏ những niệm vọng tưởng dấy động che lấp cái chân, đó là dẹp cái ban đầu. Nếu tôi chỉ khuyên bỏ những lời nói ác, hành động ác để nói những lời lành, làm những việc lành, chưa phải là chỉ cái gốc. Việc đó là để chỉ chúng ta không tạo những nghiệp ác để đọa ba đường ác, tạo nghiệp lành để sanh nơi ba đường lành. Nhưng sanh nơi ba đường lành cũng ở trong vòng luân hồi, nên khi hết nghiệp lành lại rơi xuống dữ. Vì vậy, chưa phải là cứu cánh, muốn đến chỗ cứu cánh phải tìm tận cái ban đầu. Nhưng cái ban đầu là gì? Tức là một niệm vừa dấy lên làm che khuất chân tánh. Đó là việc chúng ta cần phải chú tâm gạt bỏ nó qua.

Nên biết, ba cõi chỉ có tâm, kẻ mê thì ngoài tâm chạy tìm pháp, người trí thì thấy cảnh chính là tâm. 

Những câu này rất khó hiểu, nhưng thật ra đó là cái căn bản. Nên biết, ba cõi chỉ có tâm. Nghĩa là tam giới duy tâm, tại sao vậy? Vì tâm là cái biết. Thí dụ như núi rừng, cây cối, nhà cửa v.v... nó có, nhưng nếu không có tâm mình thì nó có, có nghĩa gì không? Nó có, không ai biết nó thì nó có cũng như không có. Chỉ có tâm mới có thể biết được tất cả, mà biết được tất cả nên nó mới thành tất cả, đặt tên là núi, là rừng, là sông, là biển... Còn nếu không có tâm thì tất cả những cái đó có cũng như không có, là không có nghĩa lý gì hết. Cho nên từ tâm mà tạo thành nghiệp có ba cõi, cũng từ tâm mà biết ba cõi, không có tâm thì không biết. Vì vậy nên nói ba cõi chỉ có tâm. Kẻ mê thì ngoài tâm chạy tìm pháp. Người mê không biết quay về tâm mình cứ chạy ra ngoài tìm pháp này pháp kia.

Người trí thì thấy cảnh chính là tâm. Cho nên nói kiến sắc minh tâm, là thấy cảnh tức là tâm. Vì sao thấy cảnh tức là tâm? Như chúng ta đang ngồi đây nhìn ra kia thấy có cây thông, cây thông có phải tâm mình không? Nếu cây thông là tâm mình, có ai bẻ một nhánh mình có đau không? Những người ngoại cuộc không đau, chứ tôi đau, vì tôi trồng nên ai bẻ tôi đau. Vậy thấy được cây thông, biết được cây thông, nếu không có tâm thì thấy được, biết được không? Như vậy biết cây thông đó là tâm, nên nói thấy sắc tức là biết được tâm, chứ không có gì khác. Nếu không tâm thì làm sao thấy sắc, biết sắc, vì vậy nên nói kiến sắc là minh tâm. Nghĩa là thấy được hình tướng liền rõ được tâm, nếu không có tâm làm sao biết được hình tướng, thấy được hình tướng. Đó là những câu rất khó hiểu, nhưng khéo tu rồi sẽ nhận ra được lẽ đó. Nếu thấy sắc biết được tâm thì mình còn thấy sắc nào quan trọng không, vì cái nào cũng từ tâm mình hết thì còn gì nữa mà quan trọng. Cho nên ở đây nói “người trí thấy cảnh chính là tâm”. Cảnh nào cũng không ngoài tâm mình, nếu ngoài tâm mình thì mình không biết, mà mình biết thì không thể ngoài tâm mình được. Thế nên chỗ này đôi khi tôi nói có nhiều người thấy khó hiểu. Đây tôi nói như tôi thấy được cái ly thì cái ly có ngoài phạm vi cái thấy của tôi không? Nếu ngoài phạm vi cái thấy, tôi có thấy nó không? Nó cùng cái sức thấy của tôi, nếu ngoài sức thấy của tôi thì tôi đâu thấy nó, mà tôi thấy nó thì nó ở trong cái thấy của tôi. Vậy tôi thấy cái ly thì cái ly đó chính là tôi thấy, cái thấy của tôi trùm cả cái ly rồi. Đó là thấy sắc tức là thấy tâm, nghĩa là cái ly là sắc nhưng biết rằng cái sắc này không ngoài tâm mình, nếu ngoài tâm mình thì mình không thấy. Như vậy cả bầu trời, cả núi non mình đều thấy tới, không có cái nào ngoài mình hết, nếu ngoài mình thì mình không thấy, mình thấy thì không phải ngoài mình. Đó là cái thấy, còn cái biết nữa. Như chúng ta biết đến cung trăng, thì cung trăng có ngoài cái biết của mình không? Rồi tất cả những chỗ khác mình biết, thì cái gì mình biết được nó, nó không ngoài tâm mình. Thế nên cái thấy cái biết của mình đến đâu thì cảnh vật đó đều không ngoài tâm mình hết. Vì vậy nên hiểu tất cả sự vật không có gì ngoài tâm. Cảnh tức là cảnh của tâm, tâm tức là tâm của cảnh. Như vậy cảnh không ngoài tâm nên cảnh tức là tâm, mà từ tâm mình biết được cảnh cho nên tâm cũng tức là cảnh. Cảnh với tâm không rời nhau.

Đối cảnh chẳng mê, gặp duyên chẳng động, năng sở làm thành lẫn nhau, một thể không khác. 

Đây là chỗ đặc biệt của người tu. Đối cảnh chẳng mê là sao? Tức là gặp cảnh mà mình không quên. Vậy không quên cái gì? Biết cảnh không ngoài tâm là không mê, còn thấy cảnh ở ngoài tâm đó là mê. Mà nếu thấy cảnh không ngoài tâm thì gặp duyên chẳng động, vì có cảnh nào, đẹp xấu gì cũng không ngoài tâm, thì dù đẹp cũng không dấy động, xấu cũng không dấy động, nên gặp duyên chẳng động. Năng sở làm thành lẫn nhau. Năng là mình, là tâm, sở là cảnh, hai cái đó làm thành lẫn nhau. Một thể không khác. Tâm cảnh không hai. Tôi thấy cái ly thì cái ly và cái thấy của tôi không hai phải không? Nếu là hai thì tách rời, mà tách rời thì không thấy, không biết. Như vậy là lối nhìn tường tận.

Nếu hay đạt cảnh chỉ là tâm, liền đó ngộ tâm thành đạo. Nếu người thấu suốt được cảnh chỉ là tâm, không có cảnh ngoài tâm, liền đó ngộ tâm thành đạo. Khi đó mới thấy tâm mình trùm khắp, nó không còn giới hạn như cái tâm suy nghĩ lăng xăng, như thân tứ đại này nữa. Như vậy thấy cảnh và tâm không hai là đạt đạo.

Giác tột vọng niệm từ vô thủy, nhiếp thu cảnh trở về tâm, chân như ra khỏi trói cột (xuất triền), lìa cấu nhiễm được giải thoát.

Giác tột vọng niệm từ vô thủy. Giác ngộ tột cùng tất cả vọng niệm từ vô thủy. Nhiếp thu cảnh trở về tâm. Nghĩa là tất cả cảnh đều thấy không ngoài tâm, tức là gom nó trở về tâm. Chân như ra khỏi trói cột. Như vậy tâm chân như không bị trói cột nữa. Lìa cấu nhiễm được giải thoát. Sở dĩ chúng ta ngày nay nhiễm là nhiễm cái gì? Nhiễm tâm hay nhiễm cảnh? Hầu hết là nhiễm cảnh vì thấy cảnh có ngoài tâm, nên nói cảnh này đẹp, cảnh kia xấu, cảnh này mình ưa thích, cảnh kia mình không ưa v.v... Tất cả cái ưa thích hay không ưa thích đó gọi là cấu nhiễm, mà những cấu nhiễm mình biết không ngoài mình mà có, thì tự nhiên ưa cảnh là ưa tâm phải không? Vì nó không ngoài mình có, cảnh tức là tâm mà tâm cũng tức là cảnh, thì còn gì nữa mà phải theo cảnh, mê cảnh. Không theo cảnh, không mê cảnh thì cảnh làm gì trói buộc mình được, nên không bị sáu trần lôi kéo, mà sáu trần không lôi kéo thì mình được giải thoát sanh tử. Thật đơn giản! Như vậy cũng một cái nhìn, nếu nhìn thấy cảnh có ngoài mình, ngoài tâm thì dễ bị cảnh lôi cuốn. Còn thấy cảnh không ngoài tâm thì cảnh không lôi cuốn mình được. Nếu cảnh lôi cuốn thì dẫn mình đi luân hồi sanh tử, nếu thu nhiếp được cảnh là mình thoát ly sanh tử.

Hằng hợp với thanh tịnh bản nhiên, thì chẳng còn sanh trở lại. Nếu mình hợp với tâm thanh tịnh sẵn vậy thì chẳng còn trở lại sanh tử hay trần lao này nữa. Và núi sông, quả đất, mọi tướng hữu vi, như vàng ra khỏi quặng, trọn chẳng còn dính bụi đất. Nếu thấy tất cả cảnh đều không ngoài tâm, thì cảnh không còn gì để quyến rũ lôi cuốn tâm, mà không quyến rũ lôi cuốn tâm thì mọi cảnh không có gì làm dính bận hay làm mình rối loạn. Do đó cũng giống như vàng ra khỏi quặng là vàng ròng nên không còn dính bụi đất. Dường như cây đã cháy thành tro, đâu có mọc cành lá lại nữa. Được như vậy cũng giống như cây đã cháy thành tro thì không còn mọc lên cành lá nữa được. Một phen được là được mãi, tột đến mé vị lai thoát hẳn cảnh giam giữ, ở mãi nơi cõi thánh vậy. Nếu ai nhìn người, nhìn vật đều biết không ngoài mình, không ngoài tâm mình mà có, thì người đó không bị cảnh lôi kéo, người đó sẽ được tự tại, được giải thoát. Và khi được một lần là được mãi không mất. Đó là lời giải thích rất sâu xa của ngài.

Song đại đạo Nhất thừa tối thượng này, nếu người căn khí lanh lợi, một nhảy liền thẳng vào đất Như Lai. Chỗ đại đạo Nhất thừa tối thượng này tức là thiền tông. Nếu người căn khí lanh lợi thì chỉ một cái nhảy là thẳng vào đất Như Lai, chứ không có cái nửa chừng. Nếu người căn khí chậm lụt thì phải làm thế nào? Hẳn phải do công phu học từ dưới lên trên, thứ lớp dẫn vào pháp môn, mới có thể được. Những người chậm lụt thì phải do công phu học từ dưới lần lần lên trên, cứ thứ tự mà vào pháp môn mới có thể được.

Khiến cho họ đi một bước tự có hiệu nghiệm một bước, lên một cấp tự có khuôn khổ một cấp. Đó cũng chính là ý đi xa thì từ gần, lên cao thì từ thấp. Đây chính là chỗ mà hiện giờ tôi có trách nhiệm phải hướng dẫn. Như nói về thiền tông có dạy chúng ta tu đếm hơi thở không? Đâu có, chỉ cần nhảy một nhảy liền thẳng vào đất Như Lai rồi. Còn bây giờ tôi dạy đếm hơi thở chỉ là phương tiện để đi từ thấp lên cao. Chỗ nhảy một nhảy liền vào, đó là trường hợp như ngài Huệ Khả khi được tổ Bồ-đề-đạt-ma bảo: “Đem tâm ra ta an cho.” Ngài xoay lại tìm tột cùng không thấy, thưa: “Con tìm tâm không được.” Tổ Đạt-ma bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi.” Ngay đó ngài biết được đường vào. Đó là chỗ nhảy một nhảy được vào, không cần dùng phương tiện. Nhưng chúng ta ngày nay, người đến học tu thiền mà nói như thế họ đâu biết sao mà tu. Vì vậy phải bắt họ ngồi nghiêm chỉnh đếm hơi thở, hít vô thở ra đếm một, hít vô thở ra đếm hai... lâu dần tâm họ mới yên. Rồi từ từ tiến lên bỏ pháp này chuyển sang pháp khác cho đến lúc nào đó niệm khởi không theo. Như vậy đi từ bậc từ bậc, nhưng trong đây có nói mỗi bậc đều có khuôn khổ của nó, có hiệu nghiệm của nó. Thí dụ như đếm hơi thở phải làm đúng phép đếm hơi thở, từ đếm hơi thở lúc ban đầu còn loạn, còn lăng xăng, nhưng lần lần được an định, hết loạn. Khi ấy có hiệu nghiệm là không quên số nữa, tức là có kết quả, từ có kết quả đó mới bước qua pháp khác. Như vậy từng bước từng bước đều có hiệu nghiệm, đều có kết quả, rồi đi thẳng vào mới được, chứ không phải ai cũng đều nhảy một cái là tới nơi hết. Cho nên phương pháp dạy đó cũng như chính là ý muốn đi xa thì phải từ gần, muốn lên cao phải từ thấp. Không có thần thông mà muốn leo lên chót núi thì phải từ dưới đất bằng đi từ từ lên, lên mãi rồi sẽ đến chót núi. Còn người có thần thông chỉ cần nhảy một cái đã đến chót núi, tỷ dụ như Tôn Ngộ Không chẳng hạn. Mình không thể bì khi thấy người ta nhảy một cái đã tới núi, còn mình phải đi từng bước từng bước dưới chân núi đi lên có tủi thân không? Tuy mình đi từng bước từng bước lên nhưng cuối cùng cũng lên đến chót núi, còn người nhảy một nhảy tới nơi thì cũng đến chót núi vậy thôi, khác nhau chỉ có nhanh và chậm. Dù cho chậm mà cố gắng đi cũng tới nơi, chứ đừng thấy người ta nhảy một cái, còn mình đi lâu quá rồi buồn khổ, thất chí không nên. Phải tự hiểu, à, anh có thần thông cứ nhảy lên trước, tôi không thần thông cứ đi từ từ rồi cũng tới. Như vậy ai cũng làm được, chứ đừng thấy người ta thế ấy mình bì không nổi rồi thất chí, thối lui là không hay, không phải. 

Nếu chẳng biết ra tay thực hành công phu vào cửa thì đâu hay chóng đến địa vị xong xuôi tột bậc. Nếu chúng ta không biết cách tu để tiến vào cửa, mà không vào cửa được thì làm sao đến được địa vị cứu cánh. 

Nếu chưa thể tận tâm, thì đâu hay rõ tánh. Tận tâm nghĩa là sao? Thường chúng ta hay nói tận tâm tận lực, nghĩa là mình dùng hết sức, nhưng ở đây không phải vậy. Tận tâm là tột của tâm, tức là tất cả những tâm lăng xăng vọng tưởng hết sạch, khi đó mình mới rõ được tánh chân thật của mình. Nếu tâm lăng xăng chưa sạch, chưa tột thì tánh mình cũng không thấu rõ được.

Chưa thể minh tâm, thì đâu hay kiến tánh. Chữ tận tâm là một lối nói khác với minh tâm. Nếu mình chưa sáng được tâm thì đâu có thể thấy được tánh. Như chúng ta tu, nếu chưa biết cái nghĩ suy, cái tâm vọng lự là hư dối, thì chúng ta có thể nhận ra được bản tánh chân thật không? Cái hư dối, không biết nó hư dối thì không bao giờ nhận được cái thật. Vì vậy trước mình phải thấy rõ tâm hư dối, không lầm, không theo thì từ từ nó mới yên lặng, khi nó lặng thì tánh chân thật mới hiển bày. Cho nên nói “chưa thể minh tâm, thì đâu hay kiến tánh”. Kiến tánh là phải thấy rõ được tâm rồi sau mới biết được tánh, chứ không phải bước vào là liền thấy tánh. Thật ra nói tâm, nói tánh dường như hai mà không phải hai. Tâm có khi nó trùm cả tâm vọng và tâm chân, nên nói tâm mang cả hai mặt vọng và chân. Còn tánh là chỉ cho cái chân thật bất di bất dịch. Nếu nói thật trắng ra thì tâm là cái biết của mình, cái biết do suy nghĩ và cái biết tự nhiên, vì vậy nên nói tâm lẫn cả vọng và chân. Cái biết do suy nghĩ là cái biết lăng xăng trong đầu, còn cái biết tự nhiên là thấy người biết người, nghe tiếng đàn biết tiếng đàn, tiếng trống biết tiếng trống, v.v... cái biết đó không có suy nghĩ. Như vậy sáu căn mình đều có cái biết tự nhiên, rồi trong đó có cái biết suy nghĩ. Cái biết suy nghĩ đó gọi là vọng thức hay vọng tâm, cái biết này có lăng xăng, còn cái biết tự nhiên không lăng xăng. Có ai thấy cái biết tự nhiên này ra làm sao không? Nó có bóng có hình gì không? Nó không có bóng hình, còn cái biết suy nghĩ thì có bóng. Suy nghĩ về cây thì có bóng cây, suy nghĩ về con người thì có bóng con người. Cái biết tự nhiên không có bóng dáng nào hết, tự nó hiện tiền sẵn vậy. Cái biết suy nghĩ là cái bóng sanh diệt, vậy mà khi nói tâm là mình nhận cái suy nghĩ theo bóng đó, chứ không nhận ra cái biết tự nhiên. Vì vậy mà cái biết suy nghĩ là cái biết hư dối, không thật, còn cái biết chân thật không có bóng, bởi không có bóng nên nó thật, bởi không suy nghĩ nên nó không sanh diệt. Nếu nhận ra thì cái biết này là tánh, còn cái biết lăng xăng là cái biết trùm cả tâm và tánh hay là tâm chân tâm vọng ở trong đó. Cho nên nói tâm là kiêm cả chân vọng, nói tánh là chỉ cho cái tâm chân thật.

Tóm lại, đoạn này ngài muốn nói cho tất cả chúng ta hiểu rằng người tu thiền, đúng ra những bậc túc duyên đầy đủ, nghe một câu, một hành động của các thiền sư liền ngộ, liền thấy, cho nên nói “một nhảy liền thẳng vào đất Như Lai”. Còn chúng ta ngày nay vì không đủ duyên nhiều đời nên phải đi thứ tự từ thấp lần lên. Nếu chúng ta có ý chí, có quyết tâm, thì chúng ta cũng đến nơi đến chốn được vậy.

Nên biết, minh tâm chính là mái chèo trí tuệ trong biển sanh tử. Kiến tánh chính là thuốc hay trong bệnh phiền não. 

Hai câu này hết sức quan trọng. 

Minh tâm chính là mái chèo trí tuệ trong biển sanh tử. Con thuyền đi trong biển sanh tử nếu không có mái chèo, đó là nói theo ngày xưa, còn bây giờ phải nói là nếu không có máy nổ thì sẽ bị sóng gió dồn dập, chắc không bao giờ đến được đích. Muốn đến được đích phải có mái chèo, mới chèo con thuyền đưa mình đi đến nơi tức là ra khỏi sanh tử. Như vậy minh tâm là thấy tột được lẽ thật của tâm mình, biết cái nào vọng cái nào chân, đó là cái gốc để đưa mình vượt ra khỏi biển sanh tử. Kiến tánh chính là thuốc hay trong bệnh phiền não. Ở trên là trong biển sanh tử, ở dưới là trong bệnh phiền não, lý đáng phải nói trong rừng phiền não, vì nói bệnh phiền não nó không hợp với chữ biển sanh tử. Kiến tánh chính là thuốc hay trong rừng phiền não. Bởi phiền não đối với chúng ta quá nhiều, nếu mình không kiến tánh thì không biết chừng nào mới sạch hết rừng phiền não này. Nếu phiền não không sạch thì không bao giờ chúng ta thoát khỏi sanh tử. Như vậy muốn trị bệnh phiền não phải nhờ kiến tánh, muốn ra khỏi biển sanh tử phải nhờ minh tâm. Nhưng tại sao kiến tánh trị bệnh phiền não? Nếu tất cả buồn thương giận ghét là chúng ta, thì chúng ta sống với tâm nào? Nghĩa là nếu không có nghĩ tưởng suy tính thì đâu có buồn thương giận ghét. Buồn thương giận ghét là do cái nghĩ tưởng suy tính, đó là sống với tâm vọng. Bởi sống với tâm vọng nên chúng ta sanh ra tất cả các thứ phiền não. Ngày nay chúng ta kiến tánh tức là nhận ra được bản tánh hay nhận ra được tâm chân thật trùm khắp, thì chúng ta đâu có suy tính nghĩ tưởng nữa mà còn phiền não, cho nên mới trị được bệnh phiền não. Như vậy người tu muốn ra khỏi sanh tử thì nhờ minh tâm, muốn sạch hết phiền não phải nhờ kiến tánh.

Nếu như sau khi được minh tâm kiến tánh rồi, lúc đó mới dùng cảnh giới trị sạch tự tâm, dùng tinh tấn làm cho tự tâm kiên cố, dùng nhẫn nhục làm cho tự tâm phẳng lặng, dùng giác chiếu làm cho tự tâm trong sạch, dùng trí tuệ làm cho tự tâm bén nhạy sáng suốt, dùng tri kiến Phật làm cho tự tâm mở bày, dùng bình đẳng Phật làm cho tự tâm rộng lớn. 

Ngài dạy sau khi chúng ta tu được minh tâm kiến tánh rồi, đừng nghĩ ngang đó là xong, mà còn phải dùng cảnh giới trị sạch tự tâm. Dùng cảnh giới trị sạch tự tâm là sao? Như ở trên đã nói, không có cảnh ở ngoài tâm, cũng như không có tâm nào ngoài cảnh, cảnh tức là tâm nên thấy cảnh tức là thấy tâm. Lúc đó tâm mình đâu có duyên lự mà làm cho phiền não, cho nên nói “dùng cảnh giới trị sạch tự tâm”.

Dùng tinh tấn làm cho tự tâm kiên cố. Tuy rằng đã minh tâm kiến tánh mà vẫn phải tinh tấn để cho tâm càng kiên cố, chứ không phải nói minh tâm kiến tánh rồi đi nói dóc cho nhiều, thấy đó là tốt, là đủ rồi, mà phải luôn luôn tinh tấn. Nhưng tinh tấn không cũng chưa được mà phải dùng nhẫn nhục làm cho tự tâm phẳng lặng. Nghĩa là dù cho mình có minh tâm kiến tánh nhưng nếu có ai biết, họ muốn chọc phá chơi nên nói: “Thầy đó nói dóc chứ minh tâm kiến tánh gì, nói để lòe thiên hạ, lừa bịp thiên hạ vậy thôi.” Nghe họ nói như vậy rồi mình dấy phiền não lên, tâm mình bị xáo động. Cho nên mặc kệ họ nói gì, chê gì mình vẫn nhẫn nhục bỏ qua hết thì tâm mình mới phẳng lặng, mới yên ổn. Nếu không khéo, tâm mình cũng sôi động lên rồi cũng phiền não. Như vậy tuy minh tâm kiến tánh mà vẫn phải “dùng nhẫn nhục làm cho tự tâm phẳng lặng”.

Dùng giác chiếu làm cho tự tâm trong sạch. Như thấy cảnh, thấy người mà có những gì làm cho mình hơi bận rộn thì phải giác chiếu rõ ràng cảnh không thật, người không thật, không ngoài tâm mình có, luôn luôn nhắc như vậy khiến cho tự tâm mình trong sạch, không nhiễm, không nhơ. Dùng trí tuệ làm cho tự tâm bén nhạy sáng suốt. Lúc nào cũng dùng trí để quán chiếu, nhìn sự vật, không nên bỏ cho nó lu mờ. Dùng tri kiến Phật làm cho tự tâm mở bày. Phải nhận ra nơi mình có tri kiến Phật, mà thấy được mình có tri kiến Phật thì tâm mình càng mở bày, càng rộng. Dùng bình đẳng Phật làm cho tự tâm rộng lớn. Tâm Phật là tâm bình đẳng rộng khắp, cho nên nhờ tâm bình đẳng này mà lần lần tâm mình càng mở rộng, không bị hạn cuộc.

Nếu sáng tỏ được tâm này, thì chóng vượt khỏi sanh tử, viên chứng Niết-bàn. Nếu người nào sáng tỏ được tâm này tức là tâm thênh thang rộng lớn bất sanh bất diệt, thì người đó chóng vượt khỏi sanh tử, đều viên chứng Niết-bàn, tức là tròn chứng được quả vị Niết-bàn. Nếu mê mờ tâm này thì luân hồi mãi mãi, bỏ mất tánh chân. Nếu người nào đối với tâm chân thật của mình mà mê mờ không biết, thì người đó phải luân hồi mãi mãi, người đó bỏ mất tánh chân thật của chính mình. Cho nên trọn chẳng ra ngoài tâm này. Rốt cuộc chẳng ra ngoài tâm này. Nếu lìa tâm này thì không riêng có huyền diệu vậy. Về sau, dù có công phu thứ lớp, chẳng qua chính là thành tựu “cái ấy” mà thôi. Nếu rời tâm chân thật của chính mình thì không có cái gì gọi là huyền diệu hết. Về sau dù công phu thứ lớp mình tu để tiến, nhưng rốt cuộc tiến đến chỗ cuối cùng chỉ là cái tâm này thôi chứ không có gì khác. Đó là chỗ rõ ràng.

Những lời trên đây chính là phương pháp tu hành, là yếu thuật thành tiên chứng thánh, là cửa tròn đủ vào đạo, vào đức. Đây tôi thấy ngài Quảng Trí nói rất rõ, nhưng lâu lâu ngài cũng thích tiên một chút, chứ lẽ ra thì thành Phật chứng thánh hay thành Bồ-tát chứng thánh, còn ngài nói thành tiên chứng thánh. Bởi ngày xưa ảnh hưởng đạo Nho, đạo Lão nhiều. Như vậy những lời trên đây tức là lời chỉ thẳng cho chúng ta đường lối tu thấu suốt tâm tánh, đó là yếu thuật cho mình thành Phật, thành tổ, là cửa tròn đủ vào đạo đức.

Xưa ngài A-nan nhớ giỏi không sót điều gì (đa văn tổng trì) nhưng trải nhiều năm mà chẳng lên được thánh quả. Khi dừng duyên chiếu soi trở lại, liền chứng vô sanh. Bởi tâm phàm phu trọn ngày cứ chạy ra ngoài, thì mỗi lúc càng xa, càng trái đó thôi. 

Đến đây ngài nhắc chúng ta biết tu là phải quay lại, phải nhìn sâu tận ở nơi mình, chứ không nên chạy ra ngoài. Vì vậy ngài mới dẫn: Xưa ngài A-nan nhớ giỏi không sót điều gì (đa văn tổng trì). Như trong kinh diễn tả Phật thuyết pháp ngài A-nan nghe, giống như nước trong bình này rót qua bình kia, không rơi ra ngoài một giọt. Rót bình này bao nhiêu qua bình kia đủ bấy nhiêu không mất một giọt. Như vậy sức nhớ của ngài thế nào? Nghĩa là Phật nói bao nhiêu ngài nghe hết bấy nhiêu không sót một chữ nào. Vậy mà nhiều năm cũng không chứng được quả A-la-hán. Ngài thông minh thế ấy mà cũng không chứng quả là tại sao? Bởi vì cái đó chỉ nhận bên ngoài chứ không quay về mình. Đến khi Phật nhập Niết-bàn, ngài Ca-diếp mới đứng ra triệu tập năm trăm vị chứng quả A-la-hán đến, để đọc những lời Phật dạy kết tập kinh điển lần thứ nhất. Khi triệu tập lại, các ngài đồng ý cử A-nan nói lại những bài pháp của Phật. Chỗ này có người đã nghi, bởi vì nói rằng ngài A-nan thuyết lại những lời của Phật dạy từ đầu đến cuối, nhưng thật tình khi Phật thành đạo thì ngài A-nan mới sanh, tên là Khánh Hỷ, nghĩa là mừng. Vậy Phật thành đạo rồi đi thuyết pháp đã lâu ngài A-nan mới được theo, như vậy khoảng trước đó ngài A-nan không có mặt làm sao ngài nghe được. Nhưng trong kinh có câu chuyện thế này. Khi chọn người làm thị giả thì lúc đó Phật đã yếu rồi, nên các vị đệ tử lớn mới đề nghị, nay Thế Tôn đã lớn tuổi, đi đứng một mình cũng khó khăn, phải có người giúp đỡ. Vậy phải chọn người làm thị giả. Khi ấy ngài Mục-kiền-liên, ngài Xá-lợi-phất đều xin Phật làm thị giả, nhưng Phật đều từ chối nói các ông có thể còn yếu hơn tôi nữa. Cuối cùng các vị đề nghị ngài A-nan làm thị giả thì Phật chịu. Phật chọn ngài A-nan làm thị giả, vì lúc đó ngài mới hai mươi lăm tuổi. Nhưng khi hỏi A-nan thì ngài không chịu vì ngài bảo tôi chưa thông suốt những gì Phật dạy. Nếu Phật muốn dùng tôi làm thị giả thì xin cho tôi năm điều chấp thuận tôi mới làm. Trong năm điều đó có một điều là những bài kinh đức Phật đã nói trước mà tôi chưa được nghe, nay xin Phật nói lại cho tôi nghe, tôi mới chịu làm thị giả. Vì vậy sau này những lời kinh mà Phật đã nói trước đều nhắc lại cho ngài A-nan nghe, nên khi kết tập mới đầy đủ, chứ mỗi người nhớ một ít thì làm sao gom lại hết được. Bởi lẽ đó là phương tiện ngài A-nan nghĩ đến việc kết tập kinh điển sau này nên ngài xin Phật có điều kiện. Chúng ta thấy đối với ngài A-nan là một con người thông minh mà tu đến khi Phật nhập Niết-bàn ngài chưa chứng quả A-la-hán. Như vậy chỉ nhớ lời Phật, không thể chứng được đạo, vì lời Phật ở ngoài mà mình nhớ, thì cái nhớ đó chỉ giỏi về văn tự chứ không thể chứng đạo. Khi các vị trong buổi họp đề cử ngài A-nan phải kết tập kinh, tức là thuật lại các bài kinh Phật đã nói ngài nghe và thuộc, nhưng có một số vị trong đó có ngài Ca-diếp không đồng ý. Bởi vì ngài A-nan lúc đó chưa chứng quả A-la-hán, nên không cho vào trong hội. Khi ấy ngài A-nan tủi quá, vì ngài thuộc hết kinh Phật nói mà không được dự kết tập. Buồn quá, ngài đi vào núi trong một động ngồi thiền suốt đêm, đến khuya ngài chứng quả A-la-hán. Sáng ra tất cả những vị được dự họp vào trong hang núi Kỳ-xà-quật rồi đóng cửa hang lại. Ngài A-nan đến sau gõ cửa xin cho vào, ngài Ca-diếp trở ra nói, nếu ông chứng A-la-hán thì tự vào, cần gì phải mở cửa. Lúc bấy giờ ngài A-nan mới dùng thần thông để qua được cửa hang. Như vậy chúng ta thấy rõ trong hội kết tập lần đầu chỉ toàn là bậc A-la-hán, không có người phàm phu nào chen vào. Ở đây dẫn để thấy rằng dù bao nhiêu năm ngài A-nan theo Phật, học nhớ hết mà không chứng quả, chỉ một ngày đêm ngồi quay lại liền chứng A-la-hán. Như vậy mình thấy giá trị của người học và của người tu khác nhau chỗ nào. Bởi vì học là cái mình lượm lặt ở ngoài, mà tôi thường gọi là hữu sư trí, còn ngồi lại định tâm để trí vô sư phát ra, mà trí vô sư là trí chân thật cho nên chứng quả chứ không có gì lạ. Thế nên người ngồi tu cảm thấy như mình dốt, mà thật có dốt không? Nếu chứng quả thì đâu có dốt. Có ông Phật, hay A-la-hán nào không biết thuyết pháp không? Chỉ sợ tu không thành Phật, không chứng quả A-la-hán thôi. Nếu chứng quả A-la-hán hay thành Phật thì nói cái gì cũng thành pháp hết. Còn đi học, học mãi không biết bao giờ xong, học ông này rồi học ông kia, học triết đông lại sang triết tây, học đủ thứ, học suốt đời cũng không rồi, mà không chứng gì hết. Còn ở đây ngồi tu, chỉ cần quay lại tìm cho ra cái gì thật mình, tìm ra được cái đó thì chứng quả, mà chứng quả rồi nói cái gì cũng thành pháp cả. Như vậy cái nào gần hơn. Nói thế không có nghĩa là xúi đừng đi học. 

Khi dừng duyên chiếu soi trở lại, liền chứng vô sanh. Chứng vô sanh là chứng A-la-hán. Ngài A-nan chỉ dừng duyên chiếu soi trở lại trong một đêm là chứng được A-la-hán. Bởi tâm phàm phu trọn ngày cứ chạy ra ngoài, thì mỗi lúc càng xa, càng trái đó thôi. Đó là điều đáng thương. Tâm phàm phu trọn ngày cứ chạy ra ngoài, còn chúng ta trọn ngày có chạy ra ngoài hay trọn ngày xoay vô trong. Nếu tăng ni thời nay không bắt ngồi thiền thì cũng khó mà xoay trở lại phải không? Vì vậy ở đây khắt khe một chút là bắt ngày đêm phải sáu giờ xoay lại. Giờ đó muốn thấy cũng không thấy gì, muốn nghe cũng không nghe được gì, buộc phải xoay lại để phản chiếu. Nếu còn chạy ra ngoài thì càng chạy càng xa, càng xa càng trái mất cái chân thật của mình, rồi không biết chừng nào biết quay lại, chừng nào thấy được chính mình mới là quan trọng.

Là bậc học đạo, chẳng lo gì không thành tựu, chỉ lo chẳng siêng năng. Câu này ngài khuyến khích người học đạo. Học đạo chẳng lo gì không thành tựu, mà lo chẳng siêng năng. Ở đây có cái bệnh muốn cho thành tựu, muốn làm sao được ngộ đạo, làm sao được chứng quả mà không chịu cố gắng tu. Như vậy mong muốn đó có hão huyền không? Cho nên điều căn bản là phải siêng năng, cần mẫn là trên hết. Phải siêng năng cần mẫn thì tất cả công phu tu hành để đạt đạo sẽ đến. Không siêng năng cần mẫn dù cho có mong mỏi cũng vô ích.

Nếu hay ròng rặc và siêng năng, thì chưa có ai tham thiền mà chẳng ngộ. Chúng ta phải nhớ câu này cho kỹ.

Giả sử lập chí chẳng vững, niềm tin đạo chẳng mạnh, sớm làm chiều lại đổi thay, mới đầu siêng năng đến giữa chừng thì buông nghỉ, thích trong chốc lát, lại chán với thời gian lâu dài. 

Đây là nói bệnh của những người tu hiện nay. Lập chí thì chông chênh chưa vững, niềm tin đạo thì chẳng mạnh, chí không vững, tin không mạnh. Sớm làm chiều lại đổi thay. Sáng làm ra vẻ hăng hái lắm, tính ngày nay mình tu thật hay, tu thật giỏi. Nhưng sáng tính như vậy mà chiều ôm bồ đoàn lên rồi thôi kệ tu từ từ có gấp gì phải không? Mới đầu siêng năng đến giữa chừng thì buông nghỉ. Ban đầu thì siêng lắm, đến nửa chừng thì thả trôi.

Thích trong chốc lát, lại chán với thời gian lâu dài. Nếu tu chừng ba bữa đạt đạo thì hăng lắm, nhưng nói mười năm, hai mươi năm thì ngán quá, nên đó là một bệnh. Như vậy trên đường tu muốn thành công chúng ta phải ngược lại những điều này. Nghĩa là phải lập chí cho vững, niềm tin đạo phải cho mạnh, sớm chiều đều như một không đổi thay, mới đầu siêng cuối cùng cũng vẫn siêng, dù nói thời gian bao lâu cũng không chán. Được như vậy chúng ta sẽ thành công.

Như thế mà mong mỏi được cùng làm bạn với chư tổ, thật là ngông cuồng thay! Lời nhắc nhở này thật là quý giá để cho chúng ta tu. Muốn sánh vai với chư tổ thì chúng ta phải làm những điều ngược lại bệnh ở trên. Nếu mang bệnh đó mà đòi ngang hàng với chư tổ là điều ngông cuồng không bao giờ có.

Một pháp mới điều phục này, tạm trình bày ít lời, để lại cho người đồng chí hướng soi rọi. Đây ngài nói pháp mới điều phục này ngài tạm trình bày chút ít để người đồng chí hướng tu hành ráng soi lại cho kỹ. Được vậy, mới mong chẳng rơi vào không, kẹt theo tà kiến, thì pháp môn rất là may lắm! Mà tôi cũng may lắm! Nếu người nghe những lời trình bày này mà soi rọi được sáng tỏ, tu hành được tiến bộ thì mới không rơi vào không, không kẹt vào tà kiến. Không rơi vào không, không kẹt vào tà kiến thì pháp môn này rất là may lắm, mà tôi (ngài Quảng Trí) cũng may lắm, vì đã giúp đỡ và chỉ bảo cho người khỏi lạc lầm. Chỉ một bài điều phục trâu này, đại khái là như vậy, học giả cần biết rõ. Nói xong! Như vậy bài này chưa nói gì đến trâu, ngài chỉ phác họa cho chúng ta biết việc chuẩn bị điều phục trâu phải có những tư cách như thế này.

✵✵✵

LUẬN THẲNG VỀ MỚI ĐIỀU PHỤC

Xét bởi, tình trần từ bao thuở, biển ái trong nhiều đời. Giống hệt hoa rêu bám vào kiếm, tựa bùn nhơ nuốt hòn ngọc; không có đá mài thì chẳng nhả ra, trừ bỏ bợn nhơ thì mới sáng soi. Muốn được tâm thanh tịnh, không gì hơn là sạch hết cấu uế. Người ngộ cần luôn giác quán, kẻ mê siêng gia công chiết phục. Còn như đối với gông cùm tham ái, cũng phải hết lòng miên mật suốt cả năm tháng. Nên Khổng Tử nói: “Khốn cùng mà chẳng chịu học, đây là hạng thấp kém vậy.” Tất cả bậc hiền thánh đều xứng với tâm mà làm. Pháp tánh không bờ mé, biển hạnh khó đo lường. Vì vậy, hoặc trong một sát-na hành đủ vô số kiếp, hoặc hằng hà sa kiếp chưa hết một niệm. Đều bởi người có hiền ngu, căn cơ có lợi độn, mà ngộ có chậm mau vậy. Hoặc đã ngộ nhập thôi dứt quá sớm, trí chẳng vào tới đạo vi diệu, thì khó thắng nổi tập khí. Nếu một niệm chẳng hết sạch, tức là cội gốc sanh tử, sẽ bị gió nghiệp lôi đi, trở lại vào trong bào thai thân sau. Như Tô Đông Pha là thân sau của Ngũ Tổ Giới, Thảo Đường Thanh trở lại làm Lỗ Công. Sau khi đã tạo nên cái nhân thì theo duyên mà lưu chuyển. Nên nói: “Đạo có tiêu mà không có lớn, nghiệp có thêm mà không có bớt.” Hoặc kẻ có duyên sâu với Bát-nhã chẳng rơi vào ba đường dữ mà ra thai vào thai cũng rất khổ nhọc. Huống chi người thời mạt pháp hiện nay, căn khí phần nhiều thấp kém, nhân vì khó khổ mà đi xuất gia, phát tâm đã không chân chánh, công phu lại chẳng tinh thuần. Một phen tình cờ ở nơi cơ phong của Phật tổ hiểu biết được ngôn ngữ, hoặc ngộ được chỗ xưa nay thành Phật, chỗ ngay đó tức phải, chỗ ý thức nghĩ chẳng đến, ngôn ngữ nói chẳng kịp, chỗ tất cả chẳng thể được, tức cái chẳng thể được cũng chẳng thể được, đem hòa hội với câu nói của người xưa thảy đều tương tợ. Đã được cái hiểu tương tợ, liền tỏ vẻ lạ lùng nói: “Rong ruổi tìm kiếm đã thôi dứt, ta là đạo nhân vô sự.” Biết được phiền não là huyễn, thì cứ buông tình để cho phiền não tự do. Biết được tu hành vốn không, liền thả ý để làm hư hỏng việc tu hành. Bảo rằng bố thí vốn không, trái lại bỏ bố thí mà giữ lấy keo kiết. Bảo rằng nhẫn nhục vốn không, trái lại thuận theo tình mà bỏ nhẫn. Hoặc nói đến giới thì nói: “Vốn không trì phạm, cần gì trọng trì mà khinh phạm.” Hoặc nói đến thiền thì nói: “Vốn không định loạn, cần gì bỏ loạn mà giữ lấy định.” Thuận theo tình ý, bàn luận có không. Hãy nói, lửa yêu ghét, khen chê vừa chạm đến liền bốc cao, gió sanh già bệnh chết thổi nhẹ qua đã động, tranh nhân tranh ngã, nói phải nói quấy. Đến nỗi lấy tánh nóng làm khí phách, lấy ngã mạn làm thừa đương, lấy xảo quyệt làm cơ dụng, lấy vọng ngữ làm phương tiện, lấy buông lung làm du hý, lấy lời thô làm gỡ dính, ca ngợi kẻ phá giới luật không có công hạnh gì, khinh lờn bậc mẫu mực có thực hành. Chỉ nghiêng về một bên lý, nên đối với chỗ cùng huyền cực diệu (chỗ tột của đạo), không có dấu vết gì. Dứt bỏ sạch bên cửa thực hành, nên buông thả tâm ý, không còn quy củ. Miệng nói niệm Phật, tụng kinh, lễ lạy là Tiểu thừa chấp tướng; dạy người tu tập, còn chính mình thì ngồi chơi. Hoặc suốt năm chẳng lạy một vị Phật, chẳng một lần lễ sám hối, chẳng tụng một bộ kinh. Trái lại, những sách vở thế gian không cần thiết thì ghi chép, hạnh người tu không nên làm việc thế tục mà làm, xưng là bác học. Khinh rẻ quả Phật chẳng chịu tu, cũng không cần làm một chút điều lành. Khiến cho trẻ nhỏ hậu sanh ra vẻ thông minh, chỉ tìm kiến giải, vừa có chỗ hiểu biết liền cho là một nhảy thẳng vào, còn gì phải nói. Rồi ngông cuồng ngạo mạn, cống cao trừng trợn, miệng nói bừa bãi, thân không chọn bạn. Chẳng nghĩ đến tình dục thế gian vẫn đầy tràn không ngằn mé, thế nào lại dùng lời hoạt bát mà phá vỡ cửa nhân quả! Tự lầm làm lầm mọi người, đâu tránh khỏi bị chìm đắm. Nếu chẳng bị ma thâu nhiếp, nhất định phải đọa mãi nơi tam đồ, chịu cảnh núi đao rừng kiếm để đền lại cái nhân trước kia, và mang lông đội sừng để đáp trả cái quả sau đó.

Chớ nói “Ta là người đã giác xong, giải ngộ rồi, nghiệp không thể trói buộc.” Nói nghiệp không thể trói buộc, chẳng phải nói có mà thành không, chính do không mà tự không. Sống đã theo cảnh liền động, khi chết làm sao chẳng theo nghiệp thọ sanh? Nên nói: Trước mắt một niệm hiện tướng sân, chính là hình ảnh con rắn dữ. Trước mắt một niệm hiện tướng tham, chính là giống nòi ngạ quỷ. Cái nhân niệm không hình tướng thì rất nhỏ, mà quả báo có hình tướng lại rất lớn. Sự nhỏ nhiệm của một niệm được giữ gìn trong ruộng thức, dù trải qua ngàn muôn kiếp vẫn không mất. Nên cổ đức nói: “Bậc hiền triết ngày trước chí to tát, tâm tinh thuần, xét lý miên mật không quên một thời khắc nào, ngầm thực hành thần linh cũng khó lường; sớm tối như đi vào vực sâu, đạp trên băng mỏng, hẹn kỳ chứng ngộ, thì tự nhiên đủ cứu được mình; trọng thật chẳng trọng rỗng, quý làm mà chẳng quý nói, đi qua có mà chẳng trụ có, thực hành không mà chẳng kẹt không; từ điều thiện nhỏ mà chứa thành công đức thù thắng nương cái nhân tí xíu mà được thành cái quả to lớn.” Huống lại, người hiện nay vô minh phiền não hừng mạnh còn nguyên, mà muốn đem cái kiến giải tương tợ để làm tiêu hết nghiệp dữ kia, mong ra khỏi tam đồ, thật không có lẽ đó. Nhằm giúp cho hạng người này, chẳng thể lấy chút ít cho là đủ, thường theo như lời nói mà tu hành, trọn chẳng đuổi theo hạng thiền trên đầu môi.

Nếu đem chỗ thấy hiểu tương tợ mà lo nói cho sướng miệng, thì như trùng đục cây ngẫu nhiên thành chữ, hay tợ con chim học nói rỗng, hoàn toàn không có ý nghĩa gì. Phiền não đã chẳng bớt, ngã mạn lại thêm cao. Đó là chấp bậy tà không, chẳng phải khéo đạt pháp thể. Huống một mạch sống nơi cửa ngộ hiện nay, tuy nói là chẳng dứt, mà bậc thiền học ở Trung Quốc như lúa, mè, tre, lau nhưng người được diệu ngộ có mấy người? Như nói từ đời Đường, Tống trước kia đến nay có vài ba vị cư sĩ tại gia, lối đi ngay thẳng đáng dùng để lưu thông pháp này. Song đã là cư sĩ thì chẳng đồng với hàng Sa-môn Thích tử, còn có giới luật giữ chặt mình, mới đem thân vào trong nhà lửa, đưa tâm vào biển phiền não. Còn họ tuy thông thạo việc đời, hoặc có kẻ bên trong loáng thoáng được một cửa vào, nhưng đạo lực rất cạn. Hoặc có kẻ giỏi tài văn chương, rất mực phong lưu như Hoàng Lỗ Trực, Bạch Lạc Thiên, Tô Tử Chiêm; học đạo như Hồ Khang Hầu, Trương Tử Thiều... đều được xếp vào Truyền Đăng. Nói chung nhóm người trên đây, chưa nói là được tất cả vô ngại. Huống nữa, với kẻ cuồng giải thời nay, kẹt danh chấp tướng, chính là phàm phu hữu lậu, nếu bài bác nhân quả, thì đúng là hạng ngoại đạo chấp không.

Hoặc có kẻ, tự mình chướng sâu tuệ cạn, thầy truyền dạy cho mà chẳng sáng, bị tà nhập đến tận xương tủy, bỏ mất chân thật.

Hoặc có kẻ, giới pháp sơ sài, cương thường lộn xộn, phạm đến những điều ngăn cấm.

Hoặc có kẻ, giáo lý chưa sáng tỏ, bàn bậy nghĩa sai lầm, rơi vào ngoại đạo.

Hoặc có kẻ, hạnh nguyện đều chẳng tu, mê mờ vào nẻo tà, đọa nơi chấp trước của ma.

Than ôi! Muốn cho người không mê lầm thật khó! Tôi tuy không phải người mẫn tiệp mà thật tình thương xót họ lắm! Song tôi cũng đành chịu vậy thôi! Người xưa nói: “Nắm tay kéo người đi chẳng được, chỉ người tự chịu đi mới tương ưng.” Nên tổ Quy Sơn mở ý cho rằng: “Kính mong hãy dấy chí quyết liệt, mở lòng thông suốt, động dụng cần nhìn lên bậc trên, chớ chuyên theo hạng tầm thường. Đời nay phải quyết đoán ngay, toan tính chẳng do người khác.” Hoặc chỗ phồn hoa, huyên náo phải tránh xa; hoặc chỗ quán rượu, lầu ca, chỗ ân nghĩa quen thuộc dạo chơi, chỗ thi đàn, văn xã, hơn thua chữ nghĩa, chỉ trích xưa nay, so sánh hay dở; hoặc chỗ đạo học giảng nói đâu đâu không ý nghĩa gì, chỗ nhà nghĩa giải đua tranh danh tướng, khoe khoang tiểu trí, chỗ cuồng giải về tông thừa, vọng bàn đốn ngộ mà xem thường giới luật, mỗi mỗi đều phải tránh xa. Vì sao? Vì những nơi đó làm cho rối đạo, cùng với ma khác gì. Tránh xa những chỗ như trên thì tất cả đạo nghiệp sẽ thành tựu xong. 

Lại người xưa cũng nói: “Tất cả cơ ngộ, chẳng phải bạn lành thì chẳng phát được. Tất cả pháp ác, chẳng phải bạn lành thì chẳng ngăn dừng được.” Như nhà Nho nói: “do văn mà gặp bạn, do bạn mà giúp cho lòng nhân”, là ý đó. Ví như tánh gió tuy rỗng, từ rừng chiên-đàn thổi mùi hương tới, thì gió có mùi thơm lạ; hoặc do thổi qua đám phân nhơ mà bay tới, thì gió liền hôi thúi. Với bạn thì cũng như vậy. Do đó người tu hành tìm bạn, phải phân biệt thật kỹ giữa nhơ và sạch: Một là bạn bè ở chốn rừng núi thảnh thơi, vì hay ngăn được tâm nóng bức. Hai là bạn bè giữ kỹ giới luật, vì hay lợt lạt về ngũ dục. Ba là bạn bè trí tuệ rộng lớn, vì hay ra khỏi bến mê. Bốn là bạn bè nhớ giỏi hiểu rộng, vì hay giải quyết những nghi ngờ nạn vấn. Năm là bạn bè sống yên vắng khắc khổ, vì hay nương nhờ để tiến thủ. Sáu là bạn bè khiêm hạ nhẫn nhục, vì hay làm tiêu mòn ngã mạn. Bảy là bạn bè lòng thẳng nói ngay, vì hay đè bẹp các lỗi. Tám là bạn bè dõng mãnh tinh tấn, vì hay thành tựu đạo quả. Chín là bạn bè xem nhẹ của cải ưa bố thí, vì hay phá lòng keo kiệt to. Mười là bạn bè nhân từ che trùm các vật, vì hay xô dẹp những chấp ngã nhân. 

Nếu không có bạn trong sạch như thế, tức phải lui về ở một mình, tự lo cho xong đạo nghiệp. Dùng tượng Phật làm thầy, dùng kinh luận làm bạn, ngoài ra những kẻ đùa chơi khác, thà dứt tuyệt chớ kết giao. Như vào trong vườn, dù không có hoa đẹp, cũng chẳng trồng thứ cỏ hôi, không ích gì cho tâm thưởng ngoạn, chỉ luống thêm sự chán ghét thôi. Nên hòa thượng Vĩnh Minh nói: “Thân ở trong biển khổ, cậy có thiết La-hán. Đã ra khỏi biển khổ, thì bỏ bè lên bờ kia.” Nên nói: “Nếu người bên trong mang thánh thai thì nói ra lời quả cảm, khác thường, lời nói không do dự.”

Hoặc giả có người xem qua luận này, cho lời tôi nói là xác đáng, thì chóng nên ăn năn sửa đổi, sanh lòng rất hổ thẹn, phát đại dõng mãnh, tự nhận gánh vác lấy. Đời nay chẳng rõ xong, còn đợi đến bao giờ? Nên nói: “Từ phàm vào thánh chưa có ai chẳng tu mà được.” Nếu muốn sáng được việc trên bổn phận, đời nay chẳng nhận lấy xong xuôi, thì hãy xem văn dưới đây, giải thẳng mười bài tụng rành rẽ cả đầu đuôi.

Giảng:

Xét bởi, tình trần từ bao thuở, biển ái trong nhiều đời. Giống hệt hoa rêu bám vào kiếm, tựa bùn nhơ nuốt hòn ngọc; không có đá mài thì chẳng nhả ra, trừ bỏ bợn nhơ thì mới sáng soi. 

Người mới điều phục phải thế nào? Phải nhớ rằng: tình trần từ bao thuở, biển ái trong nhiều đời, chúng ta dính mắc với trần cảnh không biết từ bao giờ, lặn chìm trong biển ái không biết bao nhiêu kiếp. Như vậy tình trần biển ái làm đắm chìm chúng ta từ bao thuở bao đời. Giống hệt hoa rêu bám vào kiếm, tựa bùn nhơ nuốt hòn ngọc; không có đá mài thì chẳng nhả ra, trừ bỏ bợn nhơ thì mới sáng soi. Đây dùng thí dụ: Như cây kiếm bén để dưới sông dưới biển lâu ngày bị rêu bám vào, thì kiếm còn bén không? Như hòn ngọc sáng bị lấp dưới vũng bùn, thì ngọc còn sáng không? Cho nên tuy có kiếm bén, tuy có ngọc quý nhưng kiếm bén bị rêu bám, ngọc quý bị bùn phủ, thì đều không có giá trị. Cần phải có đá mài thì kiếm mới nhả hết rong rêu, cần phải gạt bỏ bùn đất thì hòn ngọc mới sáng. Cũng thế, người tu tuy nhận ra nơi mình có tánh thật, có tâm chân, nhưng nếu không khéo tu, không khéo mài giũa thì tánh thật tâm chân giống như kiếm bén bị hoa rêu bao phủ, như ngọc quý bị bùn nhơ nuốt lấp.

Muốn được tâm thanh tịnh, không gì hơn là sạch hết cấu uế. Ở đây nói rất là cụ thể, nghĩa là cái thanh tịnh với cái cấu uế không có dung nhau. Nếu trong tâm đầy cấu uế thì không thanh tịnh. Muốn thanh tịnh thì phải sạch hết cấu uế. Cấu uế tức là tâm điên đảo vọng tưởng của mình. Người ngộ cần luôn giác quán, kẻ mê siêng gia công chiết phục. Người đã ngộ được bản tánh rồi, cũng cần phải luôn luôn giác quán, kẻ còn mê chưa ngộ thì phải siêng năng gia công chiết phục những vọng tưởng của mình. Còn như đối với gông cùm tham ái, cũng phải hết lòng miên mật suốt cả năm tháng. Bệnh tham ái của con người giống như gông cùm, nó xiềng xích không cho mình tự do. Muốn dẹp nó thì phải miên mật tu hành suốt cả năm tháng, nên ngài dẫn lời của Khổng Tử: Khốn cùng mà chẳng chịu học, đây là hạng thấp kém vậy. 

Tất cả bậc hiền thánh đều xứng với tâm mà làm. Những bậc hiền thánh, tâm như thế nào thì các ngài ứng dụng thực hành đúng như thế ấy, gọi là xứng với tâm mà làm. Pháp tánh không bờ mé, biển hạnh khó đo lường. Pháp tánh của mọi loài chúng sanh thênh thang không bờ mé. Cho nên người tu phải dùng công hạnh nhiều như biển không thể lường được mới có thể phù hợp.

Vì vậy, hoặc trong một sát-na hành đủ vô số kiếp, hoặc hằng hà sa kiếp chưa hết một niệm. Đều bởi người có hiền ngu, căn cơ có lợi độn, mà ngộ có chậm mau vậy. Có những vị đã làm Bồ-tát hạnh nhiều đời, cho nên khi ra đời chỉ trong chốc lát có thể hành đủ vô số kiếp. Có người hành vô số kiếp cũng chỉ bằng trong một niệm của người. Tại sao? Bởi vì người có hiền có ngu, căn cơ có lợi và độn, nên khi ngộ khi hành có chậm và mau. Hoặc đã ngộ nhập thôi dứt quá sớm, trí chẳng vào tới đạo vi diệu, thì khó thắng nổi tập khí. Đây ngài nói riêng những người đã ngộ đạo rồi, nhưng chưa sạch hết tập khí, mà ngang đó tự thấy mình đủ, nên thôi dứt quá sớm, tức là bỏ không hành công phu nữa. Thế nên trí chưa tới chỗ vi diệu, thì khó thắng nổi tập khí, bị tập khí lôi đi không làm chủ được. Nếu một niệm chẳng hết sạch, tức là cội gốc sanh tử, sẽ bị gió nghiệp lôi đi, trở lại vào trong bào thai thân sau. Người nào ngộ rồi mà thôi dứt quá sớm, trí không vào tới chỗ đạo vi diệu thì không chống đỡ nổi tập khí. Nếu trong tâm còn một niệm chưa hết sạch, đó tức là cội gốc sanh tử. Còn cội gốc sanh tử thì sẽ bị gió nghiệp lôi đi, trở lại vào trong bào thai thân sau.

Đến đoạn này, ngài dẫn:

Như Tô Đông Pha là thân sau của Ngũ Tổ Giới, Thảo Đường Thanh trở lại làm Lỗ Công. Sau khi đã tạo nên cái nhân thì theo duyên mà lưu chuyển. Nên nói: Đạo có tiêu mà không có lớn, nghiệp có thêm mà không có bớt.

Ngài giải thích: Nếu ngộ đạo mà chưa tới chỗ cứu cánh sạch hết muôn niệm thì cũng vẫn còn phải tái sanh. Như Tô Đông Pha là thân sau của Ngũ Tổ Giới. Trong nhà thiền hay nói ông Tô Đông Pha đời Tống là thân sau của Ngũ Tổ Giới, tức là thiền sư Giới ở núi Ngũ Tổ. Ngũ Tổ Giới ngộ đạo rồi mà chưa sạch niệm, cho nên phải tái sanh làm Tô Đông Pha.

Ông Tô Đông Pha làm quan nội hàn, tên là Tô Thức, tự là Tử Chiêm nổi tiếng văn hay đời Tống, sau ông cũng ngộ đạo và tu. Thảo Đường Thanh trở lại làm Lỗ Công. Thảo Đường Thanh tức là thiền sư Thiện Thanh ở Thảo Đường trở lại làm Lỗ Công. Thảo Đường Thanh sanh năm 1057, tịch năm 1142, hiệu là Thảo Đường tên là Thiện Thanh, nối pháp ngài Hối Đường Tổ Tâm dòng Lâm Tế. Ngài có để lại quyển Thảo Đường Thiện Thanh Hòa Thượng Ngữ Yếu.

Lỗ Công tên là Hoàng Đình Kiên, tự là Lỗ Trực, làm chức thái sử ở Sơn Cốc, ông viết văn rất hay. Sau ông gặp thiền sư Hối Đường, Hối Đường hỏi:

- Ông có nghe mùi thơm hoa quế chăng?

- Thưa nghe.

- Ta không giấu giếm ông gì cả.

Ngay đó ông chợt tỉnh ngộ.

Những sự tích này cho chúng ta biết rằng những vị tuy là thiền sư ngộ đạo, nhưng vì chưa sạch hết niệm cho nên còn phải tái sanh, người làm Tô Đông Pha, người làm Lỗ Trực. Các vị này đều là những người văn hay chữ tốt, ra làm quan, nhưng cuối cùng khi ngộ trở lại, cũng đều tu hành.

Sau khi đã tạo nên cái nhân thì theo duyên mà lưu chuyển. Nghĩa là khi còn một chút nhân thì phải theo duyên để lưu chuyển. Nên nói: “Đạo có tiêu mà không có lớn, nghiệp có thêm mà không có bớt.” Như vậy đạo không tăng trưởng mà nghiệp lại còn nguyên vẹn. Hoặc kẻ có duyên sâu với Bát-nhã chẳng rơi vào ba đường dữ mà ra thai vào thai cũng rất khổ nhọc. Đây nói những người tu hành có duyên với Bát-nhã, tức là đã có trí tuệ Bát-nhã, tuy chẳng rơi vào ba đường dữ, nhưng còn ra vào trong sanh tử thì còn phải khổ nhọc.

Huống chi người thời mạt pháp hiện nay, căn khí phần nhiều thấp kém, nhân vì khó khổ mà đi xuất gia, phát tâm đã không chân chánh, công phu lại chẳng tinh thuần. Ngài chê những người thời mạt pháp hiện nay, căn khí phần nhiều thấp kém, vì khó khổ mà đi xuất gia, tỷ dụ như vì thiếu cơm ăn áo mặc rồi chán vào chùa tu. Như vậy sự phát tâm đã không chân chánh, mà công phu lại chẳng tinh thuần, thì làm sao tu cho có kết quả! 

Một phen tình cờ ở nơi cơ phong của Phật tổ hiểu biết được ngôn ngữ, hoặc ngộ được chỗ xưa nay thành Phật, chỗ ngay đó tức phải, chỗ ý thức nghĩ chẳng đến, ngôn ngữ nói chẳng kịp, chỗ tất cả chẳng thể được, tức cái chẳng thể được cũng chẳng thể được, đem hòa hội với câu nói của người xưa thảy đều tương tợ. Đã được cái hiểu tương tợ, liền tỏ vẻ lạ lùng nói: “Rong ruổi tìm kiếm đã thôi dứt, ta là đạo nhân vô sự.” Thời mạt pháp hiện nay có người ngộ được những câu Phật tổ nói, họ thấy như vậy biết như vậy, và đem so sánh với lời người xưa thấy cũng đúng, liền nói: Phần rong ruổi tìm đạo tới đây dứt nghỉ rồi, không còn tìm kiếm nữa. Ta là đạo nhân vô sự, thảnh thơi đi chơi. Bệnh đạo nhân vô sự này cũng thường gặp lắm! 

Biết được phiền não là huyễn, thì cứ buông tình để cho phiền não tự do. Biết được phiền não là huyễn, thôi cứ mặc kệ, phiền não có gì quan trọng đâu! Nếu ai hỏi: “Sao Thầy tu mà còn phiền não”, thì đáp: “Phiền não là huyễn mà!” Đó là thêm một bệnh. Biết được tu hành vốn không, liền thả ý để làm hư hỏng việc tu hành. Thấy đạo rồi nên biết được việc tu hành vốn không. Đứng về mặt thể tánh thì không thêm không bớt, làm gì có tu hành, cho nên nói tu hành vốn không. Rồi mặc tình thả cho ý mình chạy làm hư hỏng cả việc tu hành. Bảo rằng bố thí vốn không, trái lại bỏ bố thí mà giữ lấy keo kiết. Nói bố thí vốn là không, cái gì cũng không, rồi không bố thí mà giữ keo kiết. Bảo rằng nhẫn nhục vốn không, trái lại thuận theo tình mà bỏ nhẫn. Nói nhẫn nhục vốn là không, nhưng ai động đến thì nổi sân la lối.

Hoặc nói đến giới thì nói: “Vốn không trì phạm, cần gì trọng trì mà khinh phạm.” Về giới luật thì nói rằng giới không có trì phạm, đã không trì phạm thì cần gì trọng trì giới, khinh phạm giới.

Hoặc nói đến thiền thì nói: “Vốn không định loạn, cần gì bỏ loạn mà giữ lấy định.” Thuận theo tình ý, bàn luận có không. Hãy nói, lửa yêu ghét, khen chê vừa chạm đến liền bốc cao, gió sanh già bệnh chết thổi nhẹ qua đã động, tranh nhân tranh ngã, nói phải nói quấy. Đến nỗi lấy tánh nóng làm khí phách, lấy ngã mạn làm thừa đương, lấy xảo quyệt làm cơ dụng, lấy vọng ngữ làm phương tiện, lấy buông lung làm du hý, lấy lời thô làm gỡ dính, ca ngợi kẻ phá giới luật không có công hạnh gì, khinh lờn bậc mẫu mực có thực hành.

Đoạn này ngài quở trách những người tu chưa tới mà cứ nói lý, bỏ hết tất cả công hạnh, miệng nói thì hay, nhưng gặp việc thì dở. Như vậy là tự mình đào huyệt chôn mình chứ không đi tới đâu, như nói: vốn không định loạn, cần gì bỏ loạn mà giữ lấy định.

Thuận theo tình ý bàn luận có không. Hãy nói, lửa yêu ghét, khen chê vừa chạm đến liền bốc cao, gió sanh già bệnh chết thổi nhẹ qua đã động. Nghĩa là tuy nói như vậy mà ai chê thì nổi giận, khi già bệnh chết tới thì hoảng hốt sợ hãi. Cái gì cũng nói không mà tranh nhân tranh ngã, nghĩa là tranh cãi để giành phần hơn về mình. Nói phải nói quấy là lối nói dối gạt chứ không có lẽ thật. Đến nỗi lấy tánh nóng làm khí phách. Nghe ai nói trái tai liền nổi nóng la lên, nói: “Tôi thẳng tánh lắm, thấy là nói, giận thì la chứ không có đè không có giấu. Ai nghe trái tai mà ráng nhịn ráng dằn là yếu, không thẳng tánh.” Mới nghe dường như hay nhưng rốt cuộc lại là dở. Lấy ngã mạn làm thừa đương. Sống trong cuộc đời thì tự cao tự đại, không chịu nhường nhịn một ai. Lấy xảo quyệt làm cơ dụng, lấy vọng ngữ làm phương tiện. Hiện nay những việc này có rất nhiều. Lấy buông lung làm du hý. Là ăn chơi tự do. Lấy lời thô làm gỡ dính. Dùng những lời thô tháo để đáp lại câu hỏi của người cho đó là gỡ chấp phá chấp cho họ. Ca ngợi kẻ phá giới luật không có công hạnh gì, khinh lờn bậc mẫu mực có thực hành. Khen kẻ phá giới luật, thong thả chơi bời, chê người mẫu mực tu hành.

Chỉ nghiêng về một bên lý, nên đối với chỗ cùng huyền cực diệu (chỗ tột của đạo), không có dấu vết gì. Dứt bỏ sạch bên cửa thực hành, nên buông thả tâm ý, không còn quy củ. Miệng nói niệm Phật, tụng kinh, lễ lạy là Tiểu thừa chấp tướng; dạy người tu tập, còn chính mình thì ngồi chơi. Dạy người phải tu tập, ngồi thiền, còn mình cho là xong rồi, thảnh thơi tự do. Đây là bệnh, cần phải nhớ thật kỹ. 

Hoặc suốt năm chẳng lạy một vị Phật, chẳng một lần lễ sám hối, chẳng tụng một bộ kinh. Có những người tu khi được chút ít đạo lý, rồi cố chấp không chịu tu hành, lại tìm lý này lẽ kia để không tụng kinh lạy Phật, không ngồi thiền, mà cứ rong chơi tự do.

Trái lại, những sách vở thế gian không cần thiết thì ghi chép, hạnh người tu không nên làm việc thế tục mà làm, xưng là bác học. Bệnh này hiện giờ có rất nhiều trong nhà chùa. Những kinh điển thiết yếu cần học hiểu để tu thì không học, trái lại sách vở thế gian như tiểu thuyết hay những chuyện đâu đâu thì thích đọc. Những việc làm trong đạo thì không làm, còn những hạnh thế tục không nên làm thì làm, còn xưng là bác học, là người thông minh học rộng.

Khinh rẻ quả Phật chẳng chịu tu, cũng không cần làm một chút điều lành. Những người này coi thường quả Phật, nói rằng Phật hiện tại đây, đâu phải tìm cầu cố gắng, cho nên không nỗ lực tu, cũng không chịu làm những điều lành.

Khiến cho trẻ nhỏ hậu sanh ra vẻ thông minh, chỉ tìm kiến giải, vừa có chỗ hiểu biết liền cho là một nhảy thẳng vào, còn gì phải nói. Những kẻ hậu học chưa có hiểu gì, lâu lâu đọc một đoạn kinh, hoặc nghe một đoạn sử, nhận cho là đạo lý thấu đáo. Đem trình kiến giải, nói là đủ rồi, vậy thì nhảy thẳng vào không còn việc gì phải nói. 

Rồi ngông cuồng ngạo mạn, cống cao trừng trợn, miệng nói bừa bãi, thân không chọn bạn. Tự cho mình đã hiểu được chút phần đạo lý, rồi ngông cuồng nói bậy làm càn, không kể gì là hạnh của người tu, là đức của người học đạo. Lại ngạo mạn coi thường tất cả hàng tôn túc. “Cống cao trừng trợn, miệng nói bừa bãi.” Ai động tới thì trợn mắt làm dữ, không nói những lời đức hạnh, lại nói những lời thế tục làm cho ai nấy không muốn bàn chuyện với họ. Những người ấy lại không biết chọn bạn tốt để gần gũi cho nên hư thân một đời.

Chẳng nghĩ đến tình dục thế gian vẫn đầy tràn không ngằn mé, thế nào lại dùng lời hoạt bát mà phá vỡ cửa nhân quả! Bởi vì ở thế gian, tâm tham đắm dục lạc không ngằn mé, cho nên giành giật nhau, chém giết nhau không sợ tội lỗi. Thế mà lại bác nhân quả! Nếu con người còn hiểu biết nhân quả thì còn biết chỗ tu để tránh nhân dữ làm nhân lành, do đó mà tránh tội ác được phước lành. Nay nếu bác nhân quả thì còn gì để tu, còn gì để làm!

Tự lầm làm lầm mọi người, đâu tránh khỏi bị chìm đắm. Nếu chẳng bị ma thâu nhiếp, nhất định phải đọa mãi nơi tam đồ, chịu cảnh núi đao rừng kiếm để đền lại cái nhân trước kia, và mang lông đội sừng để đáp trả cái quả sau đó. Những người bài bác nhân quả tự mình đã lầm, rồi làm lầm người khác, đâu tránh khỏi bị chìm đắm.

Lời ngài Quảng Trí răn nhắc rất là chí tình chí thiết. Tất cả chúng ta tu nếu không biết dè dặt, không biết bòn mót công đức thì sự tu hành dễ bị thối chuyển, dễ bị đổ ngã. Do đó khi phát tâm tu phải cẩn thận, lời lành thì nói lời dữ thì chừa, điều lành dù nhỏ cũng cố gắng làm điều dữ dù nhỏ cũng phải cố tránh, như vậy mới gọi là người biết tu. Trái lại nói những điều để phá lòng tin nhân quả của người làm cho người phải chịu tội lỗi đọa trong tam đồ, thì mình đã lầm, còn làm cho nhiều người khác phải lầm. Bởi vậy nên có câu chuyện tổ Bá Trượng kể lại: Một hôm tổ Bá Trượng thượng đường dạy chúng. Mãn buổi giảng, chúng ra hết, chỉ còn một ông già ở lại. Tổ hỏi: “Ông là người gì, sao không ra về?” Ông già thưa: “Con không phải là người, con là hồ tinh biến thành người. Thuở xưa con làm tăng tu ở núi này. Nhân có người hỏi: Người đại tu hành có rơi vào nhân quả không? Con đáp: Không rơi vào nhân quả. Do đó phải đọa làm thân chồn năm trăm kiếp.”

Người đại tu hành tức là người tu hành cao, có rơi vào nhân quả không? Chỉ một câu đáp: “người tu hành cao không còn rơi vào nhân quả”, mà phải đọa làm thân chồn năm trăm kiếp. Huống nữa là hiện đời này mình lại bài bác lý nhân quả thì đọa chừng bao nhiêu kiếp? Chắc cũng gấp đôi gấp ba lần! Cho nên chúng ta phải cẩn thận dè dặt chớ xem thường luật nhân quả.

Đây là lời răn nhắc những người tu, nếu có được chút ít phước đức, hiểu được một vài lý lẽ cao siêu của Phật, nhưng tập khí còn sâu dày, thì phải lặng lẽ cố gắng tu. Đừng bài bác nhân quả, rồi nói những lời cao xa mà khi ai động đến thì sân hận đủ điều. Không tụng kinh, không lễ Phật, rồi nói Phật ở trên bàn là Phật gỗ, Phật xi-măng, lại đem Phật thật của mình lạy Phật gỗ, Phật xi-măng, như vậy có phải tội không? Thử hỏi khi chúng ta lạy Phật là đem Phật thật lạy hay đem Phật giả lạy? Thật ra thân này là giả, đem thân giả lạy Phật giả thì có tội gì mà không lạy. Đó là do lười biếng rồi tìm cách nói cho hay để tín đồ nể mình là cao siêu, chứ sự thật đó là tội lỗi. Nhắc lại câu chuyện khi xưa, ngài Hoàng Bá một hôm vào chùa lạy Phật. Vị thư ký hỏi ngài: “Còn lạy Phật nữa sao?” Ngài bảo: “Phật mà không lạy thì lạy ai?” Vị thư ký nói: “Như vậy cũng còn chấp tướng.” Ngài liền tát thư ký một cái. Chúng ta cứ nghĩ tu hiểu đạo rồi không cần lạy Phật, không cần ăn chay, không cần làm lành..., đó là sai lầm lớn. Dù chúng ta ngộ đạo tới đâu, nhưng lạy Phật vẫn lạy, ăn chay phải ăn, làm lành cố gắng làm, những điều phải điều tốt không bỏ một chút nhỏ nào, đó mới là người đạo đức thật. Còn người mới hiểu chút ít rồi nói càn nói bướng không chịu tu hành, đó là người lợi dụng lời của Phật của tổ, nói lý đạo cao siêu để che lấp lỗi lầm của mình, đó là tội lớn.

Chớ nói: “Ta là người đã giác xong, giải ngộ rồi, nghiệp không thể trói buộc.” Đừng nói rằng ta đã giác ngộ rồi, nghiệp không thể nào trói buộc được.

Nói nghiệp không thể trói buộc, chẳng phải nói có mà thành không, chính do không mà tự không. Trong kinh có nói: Nghiệp không thể trói buộc những người đạt đạo. Tại sao? Ở đây mới giải thích: Chẳng phải nói có mà thành không, chính do không mà tự không. Nghĩa là không phải nghiệp trước có thật rồi sau do mình tu mà nghiệp biến thành không. Bởi vì nghiệp trước không có thật, cho nên nói chính do không mà tự không. Nghiệp từ đâu mà có? Từ ý niệm, mà ý niệm là thật có hay thật không? Thể của vọng tưởng, của niệm khởi, bản chất nó là không. Như chúng ta đang ngồi, bỗng nhớ chuyện hôm qua, nhìn lại xem cái nhớ đó ở đâu? Vừa nhìn lại thì nó tan mất. Như vậy cái nhớ đó, thể nó là có hay không? Nếu là có thì cái nhớ lại hiện cụ thể, đầy đủ. Nhưng nhìn nó thì nó mất tiêu, nó tan hoang. Thế thì thể của nó là không cho nên mới nói: Không phải trước có sau mới thành không, chính do thể nó là không cho nên nó tự không. Biết rõ thể của vọng tưởng là không mà vọng tưởng là nhân tạo nghiệp, nhân không thì quả cũng không. Nhưng nếu cái nhân không mà chúng ta theo nó, nuôi dưỡng nó thì thế nào? Ngài Khuê Phong nói: “Thể không mà thành sự.” Vọng niệm là thể không, nhưng theo nó thì thành sự. Ví dụ như đang nói chuyện, vừa nghe ai kích bác mình một câu thì nổi giận ngay. Trước khi nghe kích bác niệm nổi giận có hay không? Nó không có. Nhưng sau khi nghe kích bác nó liền nổi dậy. Ngay khi ấy, chúng ta biết chiếu soi lại, nhìn nó một lúc thì nó tan, nó thành không. Nếu niệm giận vừa dấy khởi, chúng ta nghĩ phải trừng phạt người kích bác mình, tức thì miệng nói quấy, tay làm quấy. Người ta không tha mình, người ta trừng phạt lại, thế là hai bên đều bị thương tích. Đó là thể không mà thành sự, tức là thành có mất rồi. Đây là chỗ chí yếu để chúng ta tu. 

Tóm lại niệm khởi thể nó là không, song nếu chúng ta nuôi dưỡng theo nó thì nó thành sự, thành nghiệp. Nếu ngay khi niệm vừa khởi, chúng ta biết quán chiếu ngăn chặn thì nó mất, tức là thể không trở về không, thì không thành nghiệp. Như vậy để biết khi nổi giận chúng ta quán chiếu xem cái giận từ đâu có, tìm một lúc nó mất, thôi thì hòa, không làm gì ai không hại ai, thì không ai hại mình, mọi việc đều êm xuôi, đó là tu. 

Tu lúc nào, tu làm sao? Ngày đêm ngồi thiền được sáu tiếng, sáu tiếng ngồi thiền là sáu tiếng tu, còn ngoài sáu tiếng ngồi thiền ra, ai động tới thì nổi giận gây sự, có phải là tu chưa? Đâu phải chỉ sáu tiếng ngồi thiền mới là tu, mà chính khi làm việc gì, đứng ở đâu, tiếp xúc với ai, lúc nào cũng là lúc tu. Vì biết tu cho nên những phản ứng hoặc giận hoặc thương hoặc ghét vừa dấy lên thì chúng ta chặn đứng liền, như thế mới dừng được nghiệp, đó mới thật là tu. Còn ngoài giờ ngồi thiền ra, gặp việc gì thì theo việc ấy, nghĩa là gặp việc giận thì giận, gặp việc thương thì thương, gặp việc ghét thì ghét, như vậy chưa phải là thật tu. Sáu giờ ngồi thiền là sáu giờ dụng công miên mật, ngoài ra tất cả giờ khác cũng phải tu, tuy có hơi yếu nhưng luôn luôn là phải tu.

Nếu là tu sĩ, như khi đi đường nghe ai nói nặng mình một câu, vừa muốn phản ứng cự lại, liền chặn ngay làm cho nó tiêu mất, đó là đang đi mà vẫn tu.

Còn Phật tử thì thế nào? Ngày nào ăn chay thì ngày đó tu, giờ nào tụng kinh niệm Phật thì giờ đó tu. Còn ngoài các giờ đó ra thì ai sao mình vậy, phải không? Nếu tu cách đó thì chắc Phật cũng lắc đầu. Trước bàn Phật thì rất trang nghiêm, lạy Phật tụng kinh rất thành kính, nhưng ra ngoài gặp ai nói trái tai thì nổi nóng la to. Như vậy trước bàn Phật là đệ tử Phật, mà ra ngoài nổi sân la ầm, lúc đó là đệ tử của ma mất rồi. Thế nên chúng ta tu chẳng những trong giờ tụng kinh niệm Phật, mà tu trong tất cả công tác hoạt động, một phản ứng nào vừa xảy ra ở nội tâm, chúng ta liền chặn đứng lại. Nhờ đó mà có thể tránh được những tai họa bất trắc và chúng ta được an ổn.

Với người tu, giờ nào cũng là giờ tu, người xuất gia tu rất chín chắn miên mật. Người tại gia tuy không tế nhị bằng, nhưng cũng phải tu, không nên nói rằng giờ nào rảnh niệm Phật tụng kinh là giờ tu, còn giờ làm ăn thì không tu được. Nếu làm ăn mà không tu thì tạo tội rất nhiều, tụng một thời kinh không biết có trôi hết tội không? Nếu có trôi chắc độ phân nửa, còn lại phân nửa mình phải lãnh chịu. Thế nên người Phật tử trong giờ rảnh rỗi tụng kinh niệm Phật, phải chí thành dồn tâm lực mà tu, để khi ra làm các công việc cũng nhớ tu, tránh lời nói dữ, tránh hành động dữ để không tạo nghiệp ác.

Sống đã theo cảnh liền động, khi chết làm sao chẳng theo nghiệp thọ sanh? Sống chạy theo cảnh nên tâm dấy động, thì khi chết nhất định phải theo nghiệp thọ sanh. Nếu tâm dấy động lành thì thọ sanh chỗ lành, dấy động dữ thì thọ sanh chỗ dữ, chứ không tránh khỏi được.

Nên nói: Trước mắt một niệm hiện tướng sân, chính là hình ảnh con rắn dữ. Trước mắt một niệm hiện tướng tham, chính là giống nòi ngạ quỷ. Cái nhân niệm không hình tướng thì rất nhỏ, mà quả báo có hình tướng lại rất lớn.

Trước mắt một niệm hiện tướng sân, chính là hình ảnh con rắn dữ. Trước mắt chúng ta dấy lên một niệm sân, đó là chúng ta hiện tướng sân, tức là hiện hình ảnh con rắn độc. Khi nổi sân lên thì cái gì cũng dám làm, dùng tay đánh, dùng miệng chửi, giống như rắn độc hại người, nên nói là hình ảnh con rắn dữ. Trước mắt một niệm hiện tướng tham, chính là giống nòi ngạ quỷ. Một niệm tham dấy lên hiện ra tướng tham, chính là giống nòi ngạ quỷ hay quỷ đói. Gặp thức ăn thì giành giật nhau cũng giống như những đứa trẻ ham ăn, khi cúng cô hồn xong liền nhào vào giành giật, đó là hiện tướng quỷ đói. Cái nhân niệm không hình tướng thì rất nhỏ, mà quả báo có hình tướng lại rất lớn. Như cái nhân khởi tham hay khởi nóng giận thì rất nhỏ, nó không hình tướng, nhưng nếu chúng ta theo nó thì tạo thành quả có hình tướng rất là lớn. Như nói tâm sân thì xuống địa ngục, tâm tham thì làm ngạ quỷ, đó là thấy xa. Giờ đây nói thí dụ gần hơn. Như có người đi chiếc xe đạp mới ra chợ, dựng xe đi mua thức cần dùng. Một chú nhỏ nhìn thấy chiếc xe đạp mới liền khởi niệm thích muốn lấy. Niệm thích đó không có lớn, nếu ngay đó mà biết chặn lại thì mọi việc êm xuôi, không có chuyện gì xảy ra. Nhưng vừa khởi niệm thích rồi nghĩ đi được xe đạp mới này thì sung sướng lắm, liền giật chiếc xe đạp chạy, người ta tri hô lên, chú nhỏ bị bắt. Như vậy cái nhân khởi thích chiếc xe đạp rất nhỏ, nhưng khi bị bắt dẫn vô khám thì thành quả lớn, có thể bị ở tù. Cái nhân nhỏ chút xíu, nếu không chặn được thì thành quả rất to.

Cũng vậy, niệm sân khi mới dấy khởi, chỉ có chút xíu, nếu khéo điều hòa và tiêu hóa nó đi thì rất dễ, mọi việc đều êm xuôi. Nhưng nếu để nổi sân lên rồi miệng nói quấy tay làm quấy, thì người lỗ đầu người dập mũi, còn va chạm mạnh hơn nữa có khi người chết, người bị tù suốt đời. Như vậy để chúng ta thấy rằng, nếu đuổi theo cái nhân tham, cái nhân nóng giận thì tạo thành nghiệp, nhân thì nhỏ mà quả rất là to.

Sự nhỏ nhiệm của một niệm được giữ gìn trong ruộng thức, dù trải qua ngàn muôn kiếp vẫn không mất. Một niệm khởi xấu hay tốt, được nuôi trong ruộng thức của mình, tuy nhỏ nhưng rất khó tiêu hóa. Tại sao? Thí dụ như chúng ta có niệm ghét ai hay hờn ai, niệm đó không phải là lớn, nhưng nó được chôn trong ruộng thức của mình, cho nên năm mười ngày, hoặc đôi ba tháng sau, khi gặp lại người đó thì gương mặt mình không vui. Tại sao? Bởi vì cái nhân ghét hờn còn chôn ở trong ruộng thức, nên khi gặp lại người đó thì nó liền hiện ra nơi nét mặt, nơi cử chỉ. Nếu chúng ta không biết tìm cách tiêu hóa nó thì có khi chôn nó suốt cả đời trong ruộng thức.

Nên cổ đức nói: “Bậc hiền triết ngày trước chí to tát, tâm tinh thuần, xét lý miên mật không quên một thời khắc nào, ngầm thực hành thần linh cũng khó lường; sớm tối như đi vào vực sâu, đạp trên băng mỏng, hẹn kỳ chứng ngộ, thì tự nhiên đủ cứu được mình; trọng thật chẳng trọng rỗng, quý làm mà chẳng quý nói, đi qua có mà chẳng trụ có, thực hành không mà chẳng kẹt không; từ điều thiện nhỏ mà chứa thành công đức thù thắng, nương cái nhân tí xíu mà được thành cái quả to lớn.”

Người xưa nói: Bậc hiền triết ngày trước chí to tát, tâm tinh thuần, nghĩa là người tu hay là bậc hiền triết đều nuôi dưỡng ý chí to tát, “tâm tinh thuần” tức là tâm luôn luôn gạn lọc, lóng lặng cho tinh thuần. Chí thì to, tâm thì thuần, hai điều này rất quan trọng. Xét lý miên mật không quên một thời khắc nào là luôn luôn khi thấy nghe hoặc lúc dấy niệm đều xét tường tận không để nó lôi dẫn mình đi. Ngầm thực hành thần linh cũng khó lường. Người thầm lặng tu, thần linh cũng không biết. Người xưa tu mà không ai hay biết. Còn chúng ta hiện giờ tu mà hay khoe như nói hôm đó tôi ráng nhịn được, nếu không thì tôi tát tai người ấy rồi. Chúng ta tu mà làm được chút ít điều tốt thì khoe, còn làm điều xấu thì che giấu mất. Vì hay khoe điều tốt, tưởng như mình làm nhiều điều thiện nên không làm thêm nữa, còn giấu kín điều xấu không cho ai biết, nên cứ làm điều xấu hoài. Rốt cuộc suốt đời cộng lại thì điều xấu nhiều hơn điều tốt, kết quả là đi đường khổ, chứ khó đi đường vui.

Các ngài khi xưa tu mà quỷ thần còn không biết huống nữa là người thường. Các ngài tu sớm tối như đi vào vực sâu, đạp trên băng mỏng, hẹn kỳ chứng ngộ, thì tự nhiên đủ cứu được mình. Sớm tối như đi vào vực sâu, đi vào vực sâu bờ thẳm, lúc nào cũng phải cẩn thận nên không bị té. Các ngài tu cũng như vậy, sớm tối gì cũng rất dè dặt, rất cẩn thận, làm một việc gì, nói một lời nào cũng dè dặt, không tạo buồn khổ cho người. Đạp trên băng mỏng. Ở các xứ lạnh, vào mùa đông, trên mặt hồ nước đóng thành băng. Chỗ nào băng mỏng thì người đi phải nhón chân cho nhẹ không dám đạp mạnh sợ băng lủng mình rơi xuống nước. Cũng như vậy, người tu lúc nào cũng dè dặt cẩn thận như đi trên băng mỏng, không để sót một lỗi nhỏ, không để sơ sẩy một chút lạc lầm, như vậy việc tu mới có kết quả, mới hẹn kỳ chứng ngộ, tu như vậy mới mong có ngày chứng ngộ. Thì tự nhiên đủ cứu được mình, chứng ngộ rồi mới cứu được mình. 

Đoạn trên có nói những niệm được chôn sâu trong tâm thức rất khó diệt, nếu tu không cẩn thận, thiếu miên mật thì nó không tiêu được. Một niệm vừa mống lên là phải tiêu diệt ngay thì nó mới hết, còn thả cho nó tự do thì không bao giờ hết được.

Trọng thật chẳng trọng rỗng, quý làm mà chẳng quý nói. Trọng thật chẳng trọng rỗng, nghĩa là cần lẽ thật, chứ không cần những cái rỗng. Rỗng tức là cái tu ngoài miệng. Như mình tu sơ sơ mà gặp ai thì nói tôi lúc này miên mật lắm, không có phí thì giờ. Nhưng khách đi rồi thì ở đây giỡn chơi, đó là rỗng chứ không phải thật. 

Quý làm mà chẳng quý nói, nghĩa là mình phải tu thật chứ không phải chỉ tu bằng ngôn ngữ, nói toàn những lời đạo đức thâm trầm mà không làm được gì cả.

Đi qua có mà chẳng trụ có, thực hành không mà chẳng kẹt không. Tất cả những sự vật hiện có chúng ta đều không dính không mắc, gọi là đi qua có mà chẳng trụ có. Thực hành không mà chẳng kẹt không, nghĩa là đạt được lý không của Bát-nhã, biết rõ các pháp tự tánh là không, mà không kẹt vào chấp không. Thế là không dính có, chẳng kẹt không, tức là không mắc kẹt ở hai bên.

Từ điều thiện nhỏ mà chứa thành công đức thù thắng. Một việc thiện nhỏ xíu là cái có rất nhỏ mà chúng ta cũng vẫn làm chứ không dám bỏ qua, nhờ vậy lâu ngày tích lũy thành công đức lớn. Nương cái nhân tí xíu mà được thành cái quả to lớn. Từ một việc nhỏ mà chúng ta biết làm cho tốt, nghĩ cho tốt thì lâu ngày thành quả lớn.

Huống lại, người hiện nay vô minh phiền não hừng mạnh còn nguyên, mà muốn đem cái kiến giải tương tợ để làm tiêu hết nghiệp dữ kia, mong ra khỏi tam đồ, thật không có lẽ đó. 

Ngài Quảng Trí quở: Huống lại, người hiện nay tức là người đương thời, vô minh phiền não hừng mạnh còn nguyên là vô minh phiền não lúc nào cũng hừng hực trong lòng, còn nguyên vẹn không thiếu một chút nào, mà muốn đem cái kiến giải tương tợ để làm tiêu hết nghiệp dữ kia, kiến giải tương tợ tức là cái thấy biết hơi giống giống, nói rằng hiểu vậy là hết nghiệp, đó là chuyện vô lý, mong ra khỏi tam đồ, thật không có lẽ đó, họ nghĩ rằng có được chút kiến giải rồi sẽ ra khỏi ba đường ác, địa ngục ngạ quỷ súc sanh, thật không có lẽ đó.

Nhằm giúp cho hạng người này, chẳng thể lấy chút ít cho là đủ, thường theo như lời nói mà tu hành, trọn chẳng đuổi theo hạng thiền trên đầu môi. 

Nhằm giúp đỡ cho hạng người này, cho nên ngài bảo họ đừng thấy được chút ít cho là đủ, phải thường theo như lời nói mà tu hành, nói được thì phải làm được. Trọn chẳng đuổi theo hạng thiền trên đầu môi là đừng bắt chước theo những người nói thiền ở ngoài miệng, chỉ nói lý trên trời trên mây mà tu hành thì không ra gì, gặp rượu thì uống rượu, gặp thịt thì ăn thịt. Nếu có ai nói gì thì bảo: “Vậy chứ Tuệ Trung thượng sĩ đó, gặp cá thịt thì gắp cá thịt, gặp chay thì ăn chay, vậy có lỗi gì?” Như vậy là lấy sự việc của người xưa làm cái cớ để bao che cái tham lam mê theo dục lạc của mình. Những hạng người đó là hạng thiền trên đầu môi.

Qua đoạn này chúng ta thấy lời răn nhắc của thiền sư Quảng Trí rất là tha thiết. Không muốn để cho chúng ta khi tu có được chút ít công phu rồi tự hài lòng thỏa mãn chấp vào đó mà không chịu cố gắng đi cho đến nơi đến chốn. Trái lại do chấp mà trở thành bệnh, rồi nói những điều không đúng lẽ thật, làm những việc không đúng chân lý, mà tạo thành nghiệp chịu khổ. Cho nên ngài khuyên phải ráng sửa, ráng hành, chứ đừng bắt chước hạng thiền trên đầu môi.

Nếu đem chỗ thấy hiểu tương tợ mà lo nói cho sướng miệng, thì như trùng đục cây ngẫu nhiên thành chữ, hay tợ con chim học nói rỗng, hoàn toàn không có ý nghĩa gì. 

Nếu chúng ta đem cái thấy hiểu tương tợ, tức là giống giống thôi chứ không phải thật, mà nói cho sướng miệng, khoe mình đủ thứ, thì giống như mấy con mối ăn cây ngẫu nhiên thành chữ, chứ không có ý nghĩa gì. Hay tợ như con chim học nói rỗng, mình kêu cha, nó cũng kêu cha, nói mô Phật, nó cũng mô Phật, mình nói sao nó cũng nói lại như vậy. Dù cho nó có chửi mình cũng không giận, vì nó nói rỗng, hoàn toàn không có ý nghĩa gì cả. Nếu chúng ta chỉ nói mà không chịu tu thì dù có nói hay bao nhiêu cũng là vô nghĩa.

Phiền não đã chẳng bớt, ngã mạn lại thêm cao. Khoe hay nói giỏi thì phiền não ở mình không bớt mà ngã mạn lại thêm cao, vì thấy ta hơn người!

Đó là chấp bậy tà không, chẳng phải khéo đạt pháp thể. Người như vậy là người chấp bậy theo tà không tức là chấp không, chứ chẳng phải thấu suốt được pháp thể.

Huống một mạch sống nơi cửa ngộ hiện nay, tuy nói là chẳng dứt, mà bậc thiền học ở Trung Quốc như lúa, mè, tre, lau nhưng người được diệu ngộ có mấy người? Ngài nói rằng: Mạch thiền từ xưa mãi đến ngày nay liên tục không dứt. Những bậc thiền học ở Trung Quốc nhiều như lúa, mè, tre, lau nhưng được diệu ngộ có mấy người? Tu thì rất nhiều mà diệu ngộ không có bao nhiêu.

Như nói từ đời Đường, Tống trước kia đến nay có vài ba vị cư sĩ tại gia, lối đi ngay thẳng đáng dùng để lưu thông pháp này. Đời Đường đời Tống có nhiều vị cư sĩ tại gia tu cũng ngộ đạo đáng để truyền bá pháp thiền.

Song đã là cư sĩ, thì chẳng đồng với hàng Sa-môn Thích tử, còn có giới luật giữ chặt mình, mới đem thân vào trong nhà lửa, đưa tâm vào biển phiền não. Theo cái nhìn của ngài Quảng Trí, dù cho cư sĩ tu được như vậy, nhưng đã là cư sĩ thì không đồng với hàng Sa-môn Thích tử, tức là những người xuất gia. Tại sao? Bởi vì người xuất gia còn có giới luật giữ chặt mình, nghĩa là luôn luôn lấy giới luật làm nền tảng bảo đảm cho mình không phạm lỗi, không gây tội. Có giới luật giữ chặt mình, mới đem thân vào trong nhà lửa, đưa tâm vào biển phiền não. 

Ngài nói như vậy nhưng nhìn lại thì cũng phải dè dặt. Đúng ra, giới luật người xuất gia thì nghiêm nhặt hơn người cư sĩ tại gia. Cư sĩ tại gia giữ năm giới, còn người xuất gia tối thiểu cũng phải giữ mười giới. Như vậy người xuất gia giữ giới bằng hai người cư sĩ thì phải tu bằng hai hoặc bằng ba bằng bốn. Thí dụ người Phật tử giữ giới không được uống rượu, rượu mạnh không được uống, nhưng rượu nhẹ nhẹ như bia thì thỉnh thoảng cũng uống chút chút. Còn người tu sĩ giữ giới bằng hai thì cấm rượu mạnh, mà rượu nhẹ cũng phải cấm luôn. Thật ra người tu phải giữ giới luật, giữ đạo đức bằng năm bằng mười lần người cư sĩ mới hợp lý. Xuất gia rồi đâu có quyền bằng người cư sĩ, nhất định phải hơn thôi. Vì thế ngài Quảng Trí nói rằng hàng Sa-môn Thích tử còn có giới luật giữ chặt mình, mới đem thân vào trong nhà lửa, đưa tâm vào biển phiền não. Không biết hiện nay hàng Sa-môn Thích tử chúng ta có vào nhà lửa hay vào biển phiền não được không? Người cư sĩ không dám vào nhà lửa vì còn phải nuôi sống gia đình, không dám vào biển phiền não vì họ chưa hết phiền não. Còn người tu không có gia đình thì có thể hy sinh vào nhà lửa để cứu chúng sanh, hoặc vào biển phiền não mà không sợ bị đắm chìm nếu mình đã sạch phiền não. Việc này đối với người tu khi xưa không biết thế nào, chứ hiện giờ thấy hơi khó.

Còn họ tuy thông thạo việc đời, hoặc có kẻ bên trong loáng thoáng được một cửa vào, nhưng đạo lực rất cạn. Hoặc có kẻ giỏi tài văn chương, rất mực phong lưu như Hoàng Lỗ Trực, Bạch Lạc Thiên, Tô Tử Chiêm; học đạo như Hồ Khang Hầu, Trương Tử Thiều... đều được xếp vào Truyền Đăng. Nói chung nhóm người trên đây, chưa nói là được tất cả vô ngại. Huống nữa, với kẻ cuồng giải thời nay, kẹt danh chấp tướng, chính là phàm phu hữu lậu, nếu bài bác nhân quả, thì đúng là hạng ngoại đạo chấp không.

Nói tóm lại, người cư sĩ và người xuất gia hai bên có khác, người cư sĩ tuy có hiểu, có được chút ít đạo lực nhưng chưa sâu, chưa lớn, còn người tu thì có lẽ cao hơn.

Đến đây ngài dẫn chứng những người văn chương tài giỏi như Hoàng Lỗ Trực, Bạch Lạc Thiên, Tô Tử Chiêm. Hoàng Lỗ Trực tức là Lỗ Công, Tô Tử Chiêm tức là ông Tô Đông Pha tôi đã giảng ở đoạn trước. Bạch Lạc Thiên là ông Bạch Cư Dị, tự là Bạch Lạc Thiên, sanh năm 772 tịch năm 846 đời Đường. Ông Bạch Cư Dị thâm hiểu về đạo cho nên sự tích của ông có ghi trong các quyển sách của nhà Phật như: Phật Tổ Thánh Ký, quyển 42, Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải, quyển 15-16...

Ngài Quảng Trí dẫn thêm những vị học đạo như: Hồ Khang Hầu, Trương Tử Thiều.

Hồ Khang Hầu tức là Hồ An Quốc, sanh năm 1074 tịch năm 1138 tự là Khang Hầu, hiệu là Thảo Am cư sĩ. Người quê ở Sùng An, Kiến Ninh nay thuộc tỉnh Phước Kiến. Ông đỗ tiến sĩ niên hiệu Thiệu Thắng, từng nhậm chức thái học bác sĩ cấp sự trung thư xá nhân kiêm thị giảng Bảo Văn Các học sĩ. Khi mất được tên thụy là Văn Định. Ông từng tham thiền và được yếu chỉ nơi thiền sư Tú ở Thượng Phong.

Trương Tử Thiều tức là Trương Cửu Thành sanh năm 1092 tịch năm 1159 tự là Tử Thiều, người quê ở Tiền Đường thời Nam Tống, nay là Hàng Châu tỉnh Chiết Giang, hiệu là Hoành Phố cư sĩ. Vốn là đệ tử nhà Lý học đương thời. Đỗ tiến sĩ niên hiệu Thiên Hưng thứ hai, từng làm quan trứ tác lang phong chánh thiếu khanh, quyền Lễ bộ thị lang. Do phản đối nghị hòa với quân Kim, bị Tần Cối đày ra Nam An quận mười bốn năm. Sau khi Tần Cối chết, ông được trở về. Ông từng tham thiền và ngộ đạo với thiền sư Đại Huệ Tông Cảo.

Như vậy những vị này là những người văn hay chữ giỏi, tham thiền ngộ đạo có ghi trong sử. Nhưng với cái nhìn của ngài Quảng Trí cũng chưa phải là những người đến nơi đến chốn.

Hoặc có kẻ, tự mình chướng sâu tuệ cạn, thầy truyền dạy cho mà chẳng sáng, bị tà nhập đến tận xương tủy, bỏ mất chân thật. Có những người tu mà nghiệp chướng sâu dày, trí tuệ cạn mỏng, thầy có truyền dạy mà không thấu hiểu, bị những pháp tà đi sâu trong xương tủy, cho nên tu không đúng chánh pháp, bỏ mất cái chân thật.

Hoặc có kẻ, giới pháp sơ sài, cương thường lộn xộn, phạm đến những điều ngăn cấm. Có những người tu mà giới luật quá sơ sài, lại làm những việc tội lỗi, phạm đến những điều ngăn cấm trong giới luật.

Hoặc có kẻ, giáo lý chưa sáng tỏ, bàn bậy nghĩa sai lầm, rơi vào ngoại đạo. Những người tu không hiểu rõ giáo lý, bàn nghĩa sai lầm, rơi vào ngoại đạo.

Hoặc có kẻ, hạnh nguyện đều chẳng tu, mê mờ vào nẻo tà, đọa nơi chấp trước của ma. Có những người hạnh nguyện đều không chịu tu, mê mờ vào đường tà, đọa vào chỗ chấp trước của ma. Tóm lại đây đều là những người bệnh.

Than ôi! Muốn cho người không mê lầm thật khó! Tôi tuy không phải người mẫn tiệp mà thật tình thương xót họ lắm! Song tôi cũng đành chịu vậy thôi!

Than ôi! Muốn cho người không mê lầm thật khó! Muốn chỉ cho người tu đi đúng chánh pháp, đừng có mê lầm, thật là chuyện hết sức khó! Tôi tuy không phải người mẫn tiệp mà thật tình thương xót họ lắm! Ngài tự thấy mình không phải là người tài ba nhanh nhẹn, nhưng thấy kẻ sai lầm ngài rất là thương xót. Song tôi cũng đành chịu vậy thôi. Tuy là thương nhưng không biết làm sao! Mình dạy mà họ chẳng nghe, mình bảo mà họ không làm, vậy biết làm sao!

Người xưa nói: “Nắm tay kéo người đi chẳng được, chỉ người tự chịu đi mới tương ưng.” Bây giờ vì thương, biết đường đó là lầm, nắm tay lôi họ bảo đừng đi, nhưng buông tay ra họ cũng trở lại đường đó nữa! Chỉ có cách là người đó tự chịu đi mới tương ưng, nghĩa là họ tự biết lỗi đi đường đó là sai, rồi họ đi theo mình, như thế mới tương ưng, tức là mới thích hợp, mới được kết quả.

Nên tổ Quy Sơn mở ý cho rằng: “Kính mong hãy dấy chí quyết liệt, mở lòng thông suốt, động dụng cần nhìn lên bậc trên, chớ chuyên theo hạng tầm thường. Đời nay phải quyết đoán ngay, toan tính chẳng do người khác.”

Đây là dẫn lời cảnh sách của tổ Quy Sơn. Mong cho mỗi tăng mỗi ni tu hành phải khởi chí quyết liệt, mở rộng tâm thông suốt, động dụng cần nhìn lên bậc trên, nghĩa là tất cả các hành động của mình đều bắt chước những người hơn mình, chứ đừng học theo những kẻ thua mình. Như ở trong chúng, chúng ta thích học theo người trên mình, hay học theo người dưới? Thí dụ người trên tu hành miên mật, ngày giờ rất khít khao. Còn một hai người dưới khi rảnh thì cười giỡn nói dóc. Kiểm tra lại coi chúng ta thích học theo người nghiêm chỉnh tu hành hay người đùa cợt ca hát? Ngồi yên tu có vẻ cực quá, lúc nào bị kìm chế bắt tu thì tu, buông ra thì nhập vào đám ca hát dễ hơn, bệnh của chúng ta là ở chỗ đó. Lý đáng chúng ta phải học với người trên, chứ không theo kẻ tầm thường. Nhìn theo người trên để học những điều hay thì nhất định chúng ta sẽ tiến lên. Còn nếu nhìn theo kẻ tầm thường thì chắc là đi xuống. Người trên ngoài giờ tu chánh, khi rảnh thì ngồi thiền, đó là người hơn mình. Còn người tầm thường, ngoài giờ ngồi thiền bắt buộc thì tìm chỗ vắng để cười giỡn nói dóc, chúng ta chớ nên bắt chước. Đời nay phải quyết đoán ngay, toan tính chẳng do người khác. Tổ Quy Sơn nhắc chúng ta tu, ngay đời này phải quyết đoán cho xong, không để chần chờ kéo dài nhiều đời, toan tính chẳng do người khác mà chính chúng ta phải quyết định, chứ không cầu cứu với ai được.

Hoặc chỗ phồn hoa, huyên náo phải tránh xa; hoặc chỗ quán rượu, lầu ca, chỗ ân nghĩa quen thuộc dạo chơi, chỗ thi đàn, văn xã, hơn thua chữ nghĩa, chỉ trích xưa nay, so sánh hay dở; hoặc chỗ đạo học giảng nói đâu đâu không ý nghĩa gì, chỗ nhà nghĩa giải đua tranh danh tướng, khoe khoang tiểu trí, chỗ cuồng giải về tông thừa, vọng bàn đốn ngộ mà xem thường giới luật, mỗi mỗi đều phải tránh xa. Vì sao? Vì những nơi đó làm cho rối đạo, cùng với ma khác gì. Tránh xa những chỗ như trên thì tất cả đạo nghiệp sẽ thành tựu xong.

Đến đây ngài Quảng Trí giải thích thêm. Chúng ta cần phải tránh: một là chỗ phồn hoa đô hội, hai là chỗ huyên náo ồn ào. Kế đó là tránh quán rượu lầu ca, chỗ ân nghĩa quen thuộc dạo chơi tức là chỗ tiệc tùng đãi đằng bè bạn lâu ngày gặp lại. Cũng cần tránh chỗ thi đàn, văn xã, chỗ hơn thua chữ nghĩa. Chỉ trích xưa nay là chỉ trích người xưa người nay, ai mình cũng chê cũng chỉ trích, so sánh hay dở tức là so sánh người này hay người kia dở v.v... Hoặc chỗ đạo học giảng nói đâu đâu không ý nghĩa gì. Tức là giảng dạy đạo mà nói trên trời trên mây không đúng với nghĩa đạo. Chỗ nhà nghĩa giải đua tranh danh tướng. Là những người học kinh học sách rồi đem các danh từ ra chia chẻ theo danh tướng làm cho rối bời lên. Khoe khoang tiểu trí là khoe khoang trí thông minh của mình. Chỗ cuồng giải về tông thừa, vọng bàn đốn ngộ mà xem thường giới luật. Những người tu thiền có những cuồng giải và cho rằng tôi ngộ nên không cần giữ giới luật gì cả. Mỗi mỗi đều phải tránh xa. Những nơi đó người tu phải tránh xa. Vì sao? Vì những nơi đó làm cho rối đạo, cùng với ma khác gì. Nghĩa là những nơi đó làm cho tâm mình bận rộn điên đảo, như vậy chúng ta cũng không khác gì ma. Tránh xa những chỗ như trên thì tất cả đạo nghiệp sẽ thành tựu xong. Biết tránh xa những chỗ đó thì dễ thành tựu đạo nghiệp. Bằng không tránh thì đạo nghiệp sẽ tan hoang.

Lại người xưa cũng nói: “Tất cả cơ ngộ, chẳng phải bạn lành thì chẳng phát được. Tất cả pháp ác, chẳng phải bạn lành thì chẳng ngăn dừng được.” Người xưa có nói: Tất cả cơ ngộ nếu chẳng phải thiện hữu tri thức hướng dẫn thì khó mà ngộ được. Còn tất cả những pháp ác nếu không phải thiện hữu tri thức gần gũi để nhắc nhở thì cũng khó mà ngăn dừng được. Cho nên gọi thiện hữu tri thức là người bạn lành.

Như nhà Nho nói: “do văn mà gặp bạn, do bạn mà giúp cho lòng nhân”, là ý đó. Do được nghe giảng giải về sách vở mà gặp được bạn lành. Do bạn lành giúp cho mình tăng trưởng lòng thương yêu, là lý do đó.

Ví như tánh gió tuy rỗng, từ rừng chiên-đàn thổi mùi hương tới, thì gió có mùi thơm lạ; hoặc do thổi qua đám phân nhơ mà bay tới, thì gió liền hôi thúi. Với bạn thì cũng như vậy. 

Như gió có mùi gì? Nếu từ chỗ thơm thổi tới thì có mùi thơm, từ chỗ hôi thổi tới thì có mùi hôi. Gió nguyên không có mùi, miễn thổi qua chỗ nào thì nó mang mùi của chỗ đó đi. Với bạn thì cũng như vậy. Khi trước chúng ta chưa huân tập cái tốt hay cái xấu. Nếu bây giờ gần được bạn lành thì chúng ta huân tập được cái tốt, gần bạn dữ thì chúng ta huân tập cái xấu. Thế thì bạn lành hay bạn dữ có tác dụng chuyển chúng ta từ xấu thành tốt hay từ tốt thành xấu. Ngài răn nhắc thêm: 

Do đó người tu hành tìm bạn phải phân biệt thật kỹ giữa nhơ và sạch. Ngài chỉ bạn lành có rất nhiều hạng:

Một là bạn bè ở chốn rừng núi thảnh thơi, vì hay ngăn được tâm nóng bức. Hai là bạn bè giữ kỹ giới luật, vì hay lợt lạt về ngũ dục. Ba là bạn bè trí tuệ rộng lớn, vì hay ra khỏi bến mê. Bốn là bạn bè nhớ giỏi hiểu rộng, vì hay giải quyết những nghi ngờ nạn vấn. Năm là bạn bè sống yên vắng khắc khổ, vì hay nương nhờ để tiến thủ. Sáu là bạn bè khiêm hạ nhẫn nhục, vì hay làm tiêu mòn ngã mạn. Bảy là bạn bè lòng thẳng nói ngay, vì hay đè bẹp các lỗi. Tám là bạn bè dõng mãnh tinh tấn, vì hay thành tựu đạo quả. Chín là bạn bè xem nhẹ của cải ưa bố thí, vì hay phá lòng keo kiệt to. Mười là bạn bè nhân từ che trùm các vật, vì hay xô dẹp những chấp ngã nhân.

Một là bạn bè ở chốn rừng núi thảnh thơi, vì hay ngăn chặn được tâm nóng bức. Những người ở chốn rừng núi thảnh thơi, nếu chúng ta ở gần những bạn lành này thì họ có thể ngăn chặn được tâm nóng bức của mình.

Hai là bạn bè giữ kỹ giới luật, vì hay lợt lạt về ngũ dục. Những người khéo giữ giới luật, gần gũi những người bạn này chúng ta sẽ được họ nhắc nhở mà lợt lạt đối với ngũ dục thế gian.

Ba là bạn bè trí tuệ rộng lớn, vì hay ra khỏi bến mê. Những người bạn có trí tuệ rộng lớn luôn luôn nhắc chúng ta khéo tu để ra khỏi chỗ mê lầm, bước lên bờ giác.

Bốn là bạn bè nhớ giỏi hiểu rộng, vì hay giải quyết những nghi ngờ nạn vấn. Gần gũi được người hiểu rộng nhớ nhiều thì những gì chúng ta nghi ngờ đều được họ chỉ cho giải quyết không còn nghi ngờ nữa.

Năm là bạn bè sống yên vắng khắc khổ, vì hay nương nhờ để tiến thủ. Những người sống khắc khổ nơi vắng vẻ không có buông lung là người bạn tốt, gần họ thì càng ngày chúng ta càng tiến thêm.

Sáu là bạn bè khiêm hạ nhẫn nhục, vì hay làm tiêu mòn ngã mạn.  Trong chúng nếu thấy người nào khiêm hạ nhẫn nhục thì chúng ta phải làm bạn thân, vì gần những người đó thì ngã mạn của mình lần lần tiêu mòn.

Bảy là bạn bè lòng thẳng nói ngay, vì hay đè bẹp các lỗi. Trong chúng có những người bạn lòng thẳng nói ngay, thấy cái gì dở thì rầy, thấy cái gì sai thì nhắc, không vị nể, cũng không bỏ qua. Gần những vị này lần lần những lỗi lầm của mình bị đè bẹp, bị sửa đổi hết.

Tám là bạn bè dõng mãnh tinh tấn, vì hay thành tựu đạo quả. Trong chúng có những người tu hành dõng mãnh tinh tấn, luôn luôn chuyên cần, nếu chúng ta gần gũi làm bạn với những vị ấy thì lần lần cũng được thành tựu đạo quả.

Chín là bạn bè xem nhẹ của cải ưa bố thí, vì hay phá lòng keo kiệt to. Ở trong chúng, người bạn nào coi nhẹ của cải, thích làm việc bố thí, gần được họ thì lâu ngày lòng keo kiệt của mình cũng hết.

Mười là bạn bè nhân từ che trùm các vật, vì hay xô dẹp những chấp ngã nhân. Những người bạn hiền lành nhân từ, đối với mọi người trong chúng, họ đều thương mến giúp đỡ, không phân biệt kia đây. Gần được họ lâu ngày thì phá được cái chấp ngã chấp nhân của mình.

Ngài Quảng Trí nhắc bảo chúng ta ở trong chúng tu hành phải lựa những người bạn lành trong mười hạng như vừa kể. Gần được những người này chúng ta dễ thành tựu đạo quả.

Nếu không có bạn trong sạch như thế, tức phải lui về ở một mình, tự lo cho xong đạo nghiệp. Nếu không chọn được bạn lành thì tốt hơn ở một mình cho yên. Như vậy thì hay, nhưng không khéo thành dở. Nếu không có người hơn mình, chỉ bằng mình hay dưới mình thì ở gần lâu ngày mình tuột xuống dốc. Cho nên người có ý chí thà ở một mình để giữ nguyên vị trí của mình, còn nếu người không có ý chí mà đi ở riêng một mình thì một thời gian sau ma dẫn đi lúc nào không hay. Đây là điều phải rất dè dặt.

Dùng tượng Phật làm thầy, dùng kinh luận làm bạn, ngoài ra những kẻ đùa chơi khác, thà dứt tuyệt chớ kết giao. Nếu trường hợp ở một mình thì phải dùng tượng Phật làm thầy, dùng kinh luận làm bạn, ngoài ra những kẻ đùa chơi khác, thà dứt tuyệt chớ kết giao. 

Như vào trong vườn, dù không có hoa đẹp, cũng chẳng trồng thứ cỏ hôi, không ích gì cho tâm thưởng ngoạn, chỉ luống thêm sự chán ghét thôi. Như ở trong vườn nếu không trồng được hoa đẹp thì thôi, còn cỏ hôi thì trồng làm chi cho vô ích.

Nên hòa thượng Vĩnh Minh nói: “Thân ở trong biển khổ, cậy có thiết La-hán. Đã ra khỏi biển khổ, thì bỏ bè lên bờ kia.” Nên nói: “Nếu người bên trong mang thánh thai thì nói ra lời quả cảm, khác thường, lời nói không do dự.”

Ngài dẫn lời của hòa thượng Vĩnh Minh: Thân mình đang lang thang trong biển khổ, cậy có thiết La-hán tức là La-hán sắt. Nghĩa là nếu chúng ta đang ở trong biển khổ thì cần phải có ý chí quả cảm cũng như tượng La-hán sắt mọt mối không đục nổi. Thế nên, nếu chúng ta không có bạn bè, mà đang trong hoàn cảnh tu hành khó khăn, chúng ta phải lập chí vững chắc như thiết La-hán thì không cái gì phá mình được. Đã ra khỏi biển khổ thì bỏ bè lên bờ kia. Khi chúng ta ra khỏi biển khổ thì mới bỏ bè, vì đã đến được bờ kia. Nên nói: Nếu người bên trong mang thánh thai, thì nói ra lời quả cảm, khác thường, lời nói không do dự. Nếu chúng ta có được thai thánh ở trong rồi thì nói lời khẳng định, chứ không có do dự. Người nào còn nói do dự, dè dặt, đó là họ chưa có cái thật ở trong. Ngài bàn thêm:

Hoặc giả có người xem qua luận này, cho lời tôi nói là xác đáng, thì chóng nên ăn năn sửa đổi, sanh lòng rất hổ thẹn, phát đại dõng mãnh, tự nhận gánh vác lấy. Đời nay chẳng rõ xong, còn đợi đến bao giờ? Nên nói: “Từ phàm vào thánh chưa có ai chẳng tu mà được.” Nếu muốn sáng được việc trên bổn phận, đời nay chẳng nhận lấy xong xuôi, thì hãy xem văn dưới đây, giải thẳng mười bài tụng rành rẽ cả đầu đuôi.

Từ trước đến đây là phần Luận Thẳng Về Mới Điều Phục của thiền sư Quảng Trí, chứ chưa giải thẳng mười bài tụng tranh chăn trâu. 

Qua bài luận này, chúng ta thấy rõ ngài Quảng Trí chí tình nói với người tu phải ráng tu cho chân chánh, đừng tu lừng chừng, đừng tu ở miệng mà không có trong lòng. Tu như vậy thì không đến đâu chẳng lợi cho mình, còn hại cho người khác, cho nên phải ráng tu cho đúng. Đồng thời phải ráng tìm bạn lành bạn tốt để nương cậy. Nếu không có bạn lành bạn tốt hơn mình thì phải lập chí cho vững, tu hành cho đến nơi đến chốn, như vậy mới thành tựu được kết quả tốt đẹp.

Mục Lục
Thanh Từ Toàn Tập 28 - Thiền Tông Việt Nam 5