Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 36 - Hành Trạng Thiền Sư 7
Sơ Tổ Thiền Phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông

SƠ TỔ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM TRẦN NHÂN TÔNG

(1258 - 1308)

Ngài tên húy là Khâm, con trưởng vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh hoàng thái hậu. Ngài tuy ở vị sang cả mà tâm hâm mộ Thiền tông từ thuở nhỏ. Năm mười sáu tuổi được lập làm Hoàng thái tử, ngài cố từ để nhường lại cho em mà vua cha không chịu. Vua cưới trưởng nữ của Nguyên Từ quốc mẫu cho ngài tức là Khâm Từ thái hậu sau này. Sống trong cảnh vui hòa hạnh phúc ấy mà tâm ngài vẫn thích đi tu.

Một hôm vào lúc giữa đêm, ngài trèo thành trốn đi, định vào núi Yên Tử. Đến chùa Tháp ở núi Đông Cứu thì trời vừa sáng, trong người mệt nhọc quá, ngài bèn vào nằm nghỉ trong tháp. Vị sư trụ trì ở đây thấy ngài tướng mạo khác thường, liền làm cơm thết đãi. Vua cha hay tin, sai các quan đi tìm thấy, ngài bất đắc dĩ phải trở về.

Phần đầu kể sơ lược về cuộc đời Sơ tổ Trúc Lâm. Lúc còn trẻ, ngài đã có tâm hướng về đạo không lúc nào quên. Vì vậy giữa đêm, ngài trèo thành trốn lên Yên Tử để tu. Nhưng vua cha hay tin, sai các quan đi tìm, bất đắc dĩ ngài phải trở về. 

Năm hai mươi mốt tuổi, ngài lên ngôi Hoàng đế (1278). Tuy ở địa vị cửu trùng, mà ngài vẫn giữ mình thanh tịnh để tu tập. Thường ngày, ngài đến chùa Tư Phúc trong đại nội tu tập. Một hôm nghỉ trưa, ngài thấy trong rốn mọc lên một hoa sen vàng lớn bằng bánh xe, trên hoa sen có đức Phật vàng. Có người đứng bên cạnh chỉ ngài nói: “Biết ông Phật này chăng? Là đức Phật Biến Chiếu.” Tỉnh giấc, ngài đem việc đó tâu lên vua cha. Vua Thánh Tông khen là việc kỳ đặc.

Ngài thường ăn chay lạt thân thể gầy ốm. Thánh Tông thấy thế lấy làm lạ, nên hỏi nguyên do. Ngài trình thật với cha. Thánh Tông khóc bảo: “Nay ta đã già, chỉ trông cậy một mình con, con lại làm như thế, làm sao gánh vác được sự nghiệp của Tổ tiên?” Ngài nghe dạy cũng rơi nước mắt.

Ngài ở địa vị vua mà thích ăn chay lạt và tu hành, không thích thụ hưởng theo thế gian. Vua cha thấy ngài là người đủ đức hạnh nên lúc nào cũng trông cậy nơi ngài. Song ngài muốn được tu nên vua cha than khóc. Là người con chí hiếu, nghe cha than trách, ngài cũng rơi nước mắt. 

Tư chất ngài rất thông minh hiếu học, đọc hết các sách vở, suốt thông nội điển (kinh) và ngoại điển (sách đời). Những khi nhàn rỗi, ngài mời các thiền khách bàn giải về tâm tông (thiền), tham học thiền với Thượng sĩ Tuệ Trung thâm đắc đến chỗ thiền tủy. Đối với Thượng sĩ, ngài kính lễ làm thầy.

Những khi giặc Nguyên sang quấy rối, ngài phải xếp việc kinh kệ để lo giữ gìn xã tắc. Nhờ tình đoàn kết quân dân, ngài đã hai lần đuổi được quân Nguyên giữ gìn trọn vẹn đất nước.

Năm Quý Tỵ (1293), ngài nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông, lên làm Thái thượng hoàng. Ở ngôi Thái thượng hoàng để chỉ dạy cho con được sáu năm, ngài sắp đặt việc xuất gia.

Đến tháng mười, năm Kỷ Hợi (1299), ngài xuất gia vào tu ở núi Yên Tử. Ở đây, ngài chuyên cần tu tập theo hạnh đầu-đà (khổ hạnh) lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu-đà. Sau đó ngài lập chùa, cất tịnh xá, khai giảng để tiếp độ chúng tăng. Học chúng đua nhau đến rất đông. Sau, ngài đến chùa Phổ Minh ở phủ Thiên Trường lập giảng đường, giảng dạy mấy năm. Ngài lại vân du đến trại Bố Chánh lập am Tri Kiến rồi ở đó.

Đến năm Giáp Thìn (1304), ngài dạo đi khắp nơi khuyên dân dẹp bỏ những dâm từ (miếu thờ thần không chánh đáng), và dạy họ tu hành Thập thiện. Vào mùa đông năm ấy, vua Anh Tông dâng biểu thỉnh ngài về đại nội để truyền giới Bồ-tát tại gia.

Sau đó, ngài chống gậy đến chùa Sùng Nghiêm ở núi Linh Sơn để truyền bá Thiền tông.

Mở đầu pháp hội, ngài niêm hương báo ân xong bước lên tòa. Vị Thượng thủ bạch chùy v.v... rồi ngài nói: 

- Thích-ca Văn Phật vì một đại sự mà xuất hiện giữa cõi đời này, suốt bốn mươi chín năm chuyển động đôi môi mà chưa từng nói một lời. Nay ta vì các ngươi lên ngồi tòa này, biết nói chuyện gì đây?

Ngồi giây lâu, ngài ngâm:

Âm:

Thân như hô hấp tỹ trung khí,

Thế tự phong hành lãnh ngoại vân,

Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú,

Bất thị tầm thường không quá xuân.

Dịch:

Thân như hơi thở ra vào mũi,

Đời giống mây trôi đỉnh núi xa,

Tiếng quyên từng chặp vầng trăng sáng,

Đâu phải tầm thường qua một xuân.

Ngài vỗ bàn một cái, nói: 

- Không có gì sao? Ra đây! Ra đây!

Thân như hơi thở ra vào mũi,

Đời giống mây trôi đỉnh núi xa.

Đời người dài mấy mươi năm, nhưng với cách nhìn của ngài thì chỉ như một hơi thở, thở ra không hít vào là hết. Lời này đúng với tinh thần Phật dạy mạng sống trong hơi thở. 

Cuộc đời giống như mây bay trên đỉnh núi. Những đám mây trôi không dừng lại một chỗ, nó tan từ từ, không có thật, không bền chắc. Chúng ta nhìn lại những người chung quanh, bây giờ kẻ mất người còn, người ở xứ này người đi xứ nọ, không có gì cố định. Đó là lẽ thật của cuộc đời. 

Tiếng quyên từng chặp vầng trăng sáng,

Đâu phải tầm thường qua một xuân.

Khi chim kêu từng hồi, nhìn lên trời thấy vầng trăng sáng, đâu phải tầm thường để bỏ qua một đời. Bên cạnh pháp sanh diệt có cái bất sanh bất diệt, bên cạnh vô thường có cái chân thường. 

Bài thơ thức tỉnh chúng ta thân này tạm bợ, cuộc đời vô thường. Nhưng trong vô thường tạm bợ lại có cái chân thường hằng hữu nơi mình mà ta bỏ quên. Thiên hạ lắng nghe chim kêu, còn vầng trăng sáng trên trời thì không để ý, tức đã quên đi cái quý báu chân thật mà chạy theo pháp vô thường sanh diệt.

Có vị tăng hỏi: 

- Thế nào là Phật?

Ngài đáp: 

- Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.

- Thế nào là Pháp?

- Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.

- Thế nào là Tăng?

- Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.

- Cứu cánh thế nào?

- Chữ bát đã bày trao hết sạch,

Đâu còn có việc nói cùng ngươi.

(Bát tự đả khai phân phó liễu,

Cánh vô dư sự khả trình quân.)

Tăng hỏi ba câu: Thế nào là Phật, thế nào là pháp, thế nào là tăng, ngài chỉ dùng một câu đáp: Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải. Bởi vì lâu nay chúng ta nghe nói Phật là nhớ Phật Thích-ca ở Ấn Độ, pháp là pháp Phật nói ở vườn Lộc Uyển, tăng là những vị tăng hồi Phật còn tại thế. Phật pháp tăng đó là Phật pháp tăng bên ngoài, không phải Phật pháp tăng nơi mình. 

Khi tụng kinh, sau bài sám hối là tam tự quy y. Tự quy y Phật, Pháp, Tăng là nguyện độ cho chúng sanh nhận được Phật tánh của mình, pháp nơi mình, tăng cũng nơi mình. Phật pháp hòa hợp gọi là tăng. Thế nên, khi nói tới Phật chúng ta phải hiểu Phật ở ngoài và Phật nơi mình. Phật ở ngoài là Phật quá khứ, Phật nơi mình là Phật hiện tại. Nếu không nhớ Phật hiện tại thì nhận đến như xưa vẫn chẳng phải. 

Vị tăng hỏi thêm: Cứu cánh thế nào?

Ngài dạy:

Chữ bát đã bày trao hết sạch,

Đâu còn có việc nói cùng ngươi.

Chữ bát đã mở ra trao hết sạch, đâu còn việc gì giấu giếm để nói với ngươi nữa. Đôi chân mày chúng ta giống hình chữ bát đã mở ra, lỗ mũi nằm ngay dưới chân mày lại không chịu nắm, còn gì nữa mà chỉ. Đôi chân mày chỉ cho phương tiện, mũi chỉ cho cái chân thật. Phương tiện đã vạch rồi, cái chân thật nằm sẵn ngay đó lại không nhận. Thật tội nghiệp!

Lại hỏi: - Thế nào là một việc hướng thượng?

Ngài đáp: - Đầu gậy khêu nhật nguyệt.

- Dùng công án cũ làm gì?

- Một lần nhắc lại một lần mới.

- Thế nào là giáo ngoại biệt truyền?

- Ễnh ương nhảy không khỏi đấu.

- Sau khi ra khỏi đấu thì thế nào?

- Lại theo con ếch nhảy xuống bùn.

- Vẫn là nhảy chẳng khỏi.

Ngài bèn lớn tiếng nạt: 

- Kẻ mù! Thấy cái gì?

- Đại tôn đức lừa người làm gì?

Ngài liền “hừ, hừ”.

Vị tăng suy nghĩ. Ngài liền đánh. 

Vị tăng lại suy nghĩ để hỏi. Ngài liền hét. 

Vị tăng cũng hét. Ngài hỏi:

- Lão tăng bị một cái hét, hai cái hét của ngươi, rốt cuộc thế nào? Nói mau! Nói mau!

Vị tăng suy nghĩ. Ngài lại hét một tiếng, nói: 

- Con chồn hoang quỷ quái! Vừa rồi tinh lanh giờ ở chỗ nào?

Vị tăng lễ bái lui ra.

Tăng hỏi: Thế nào là một việc hướng thượng? Tức là việc chuyển phàm thành thánh. Ngài đáp: Đầu gậy khêu nhật nguyệt. Chuyển phàm thành thánh giống như cầm gậy chọc lên mặt trăng vậy. Mặt trăng ở tít mù, làm sao đưa cây chạm được mặt trăng, đó là chuyện vô ích. Việc hướng thượng chuyển phàm thành thánh là việc ngay nơi mình, lặng tâm vọng tưởng liền thành thánh, đâu cần phải hỏi đến làm gì.

Tăng chê: Dùng công án cũ làm gì? Câu đó là câu người xưa nói, nay ngài đem câu cũ nói với con làm gì? Ngài đáp: Một lần nhắc lại một lần mới. Tuy đó là việc cũ, nhưng nhắc lại có thể khiến người tỉnh sáng thì là việc mới. 

Lại hỏi: Thế nào là giáo ngoại biệt truyền? Khi tổ Đạt-ma truyền tâm ấn cho ngài Huệ Khả có đọc bốn câu kệ:

Bất lập văn tự

Giáo ngoại biệt truyền

Trực chỉ nhân tâm

Kiến tánh thành Phật. 

Thiền tông là giáo ngoại biệt truyền, nghĩa là truyền riêng ngoài giáo lý. 

Ngài đáp: Ễnh ương nhảy không khỏi đấu. Ý nói chỗ đó không có gì phải suy gẫm, không có chỗ để bám víu nghĩ suy, nếu ngay đó lãnh hội được thì đúng, không lãnh hội được thì sai. 

Tăng hỏi thêm: Sau khi ra khỏi đấu thì thế nào? Ngài đáp: Lại theo con ếch nhảy xuống bùn. Ễnh ương khi ra khỏi đấu thì nhảy xuống bùn, chứ đi đâu nữa! Chỗ này chúng ta phải hiểu cho tường tận. Giáo ngoại biệt truyền là chỗ chân thật ngoài ngôn ngữ văn tự, buông xả vọng tưởng thì cái chân thật hiện ra. 

Vị tăng còn chấp ngôn ngữ nên nói: Vẫn là nhảy chẳng khỏi! Nhảy xuống bùn tức là nhảy chưa khỏi. Ngài bèn lớn tiếng nạt: Kẻ mù! Thấy cái gì? Nếu nói như thế là ông không thấy gì cả.

Tăng lại thưa: Đại tôn đức lừa người làm gì? Ngài nói như thế là một cách lừa người, chứ không nói lẽ thật. Ngài liền “hừ, hừ”. Tăng suy nghĩ, ngài liền đánh. Vị tăng lại suy nghĩ để hỏi, ngài liền hét. Bởi vì giáo ngoại biệt truyền là chỗ không lời diễn đạt, chỗ tột cùng đó là chỗ buông xả suy nghĩ, càng suy nghĩ càng bị đánh bị hét. 

Đến đây, vị tăng nhạy bén một chút liền hét lại. Ngài hỏi: Lão tăng bị một cái hét, hai cái hét của ngươi, rốt cuộc thế nào? Nói mau! Nói mau! Vị tăng suy nghĩ. Ngài lại hét một tiếng, nói: Con chồn hoang quỷ quái! Vừa rồi tinh lanh giờ ở chỗ nào? Cái tinh lanh khi nãy, giờ đâu mất rồi. Vị tăng không đáp được, đành lễ bái lui ra. Lối đối đáp phá tất cả cái chấp của người thế gian, rất tài tình. 

Tăng hỏi: 

- Đại tôn đức khổ nhọc tu hành, đã trải qua nhiều năm, đối với sáu thông của Phật, Ngài đã được mấy thông?

Ngài đáp: - Cũng được sáu thông.

- Năm thông kia gác qua, thế nào là tha tâm thông?

- Đầy cả quốc độ, có bao nhiêu thứ tâm Như Lai đều biết, Như Lai đều thấy.

Vị tăng liền đưa nắm tay lên nói: 

- Đã biết hết thấy hết, vậy biết cái này có vật gì?

Ngài đáp: 

- Như có như không, chẳng phải không chẳng phải sắc.

- Xưa tăng hỏi hòa thượng Lang Gia: “Thanh tịnh bản nhiên, vì sao chợt sanh sơn hà đại địa?” Ý chỉ thế nào?

- Thật giống thuyền chài ra biển.

- Ý này thế nào?

- Ai biết nơi khói sóng xa khơi kia, riêng có chỗ nên suy nghĩ.

Một vị tăng khác hỏi: Đại tôn đức khổ nhọc tu hành, đã trải qua nhiều năm, đối với sáu thông của Phật, Ngài đã được mấy thông? Chịu khổ tu hành, Phật được sáu thông, nay ngài được mấy thông rồi?

Ngài đáp: Cũng được sáu thông. Phật được sáu thông, ta cũng được sáu thông. Lục thông của Phật là thiên nhĩ thông, thiên nhãn thông, tha tâm thông, thần túc thông, túc mạng thông, lậu tận thông. Nhà thiền nói nếu mê thì sáu căn thành lục tặc, nếu ngộ thì sáu căn thành lục thông. Lục thông của ta là như vậy.

Vị tăng hỏi tiếp: Năm thông kia gác qua, thế nào là tha tâm thông? Người học đạo khi tu luôn muốn đạt được thần thông, nhưng đối với người tu thiền, thần thông không phải cứu cánh, giác ngộ mới là cứu cánh. Thế nên, ngài liền đáp: Đầy cả quốc độ, có bao nhiêu thứ tâm Như Lai đều biết, Như Lai đều thấy. Ngài không nói thẳng mà dẫn kinh Kim Cang, Phật nói: “Đầy cả quốc độ, chúng sanh có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai thảy đều biết.” Ngài có sáu thông như Phật nên ngài cũng biết, cũng thấy. 

Vị tăng liền đưa nắm tay lên nói: Đã biết hết thấy hết, vậy biết cái này có vật gì? Ngài đáp: Như có như không, chẳng phải không chẳng phải sắc. Sự vật duyên hợp tạm thấy như có, nhưng thể tánh là không. Thấy như có mà là như không, nhưng nó cũng không phải không, cũng không phải sắc. Câu trả lời đơn giản mà thế nhân không sao hiểu nổi. 

Vị tăng liền hỏi: Xưa tăng hỏi hòa thượng Lang Gia: “Thanh tịnh bản nhiên, vì sao chợt sanh sơn hà đại địa?” Ý chỉ thế nào? Trong kinh Lăng-nghiêm, Phật nói chúng sanh có tâm thể thanh tịnh sẵn có, vì dấy tâm động niệm mà khởi ra sơn hà đại địa. Ý chỉ thế nào? Ngài đáp: Thật giống thuyền chài ra biển. Thuyền đậu trong bến rất bình yên, giong thuyền ra khơi thì gặp hiểm nguy sóng gió. Cũng vậy, thể thanh tịnh bản nhiên vốn thanh tịnh không sanh diệt, nếu rời chỗ đó thì sanh diệt luân hồi, muôn kiếp trầm luân khổ sở. Như người trên thuyền đang bình yên trong bến, chợt nhổ neo ra khơi, dồn dập sóng gió. 

Tăng lại hỏi: Ý này thế nào? Ngài đáp: Ai biết nơi khói sóng xa khơi kia, riêng có chỗ nên suy nghĩ. Trong chỗ ầm ỹ, sóng gió lại có cái nên suy nghĩ. Nghĩa là rời tánh thanh tịnh bản nhiên, đi theo dòng nghiệp sanh tử luân hồi thì vẫn có cái chúng ta phải nhớ phải biết, chứ không mất hết. 

Hỏi: 

- Thế nào là gia phong Phật quá khứ?

Đáp:

- Vườn rừng vắng vẻ ai chăm sóc,

Lý trắng đào hồng hoa tự nhiên.

- Thế nào là gia phong Phật hiện tại?

- Gia phong sóng bạc mê yến sớm,

Tiên uyển đào hồng say gió xuân.

- Thế nào là gia phong Phật vị lai?

- Bãi biển chờ triều trời đợi nguyệt,

Xóm chài nghe sáo khách nhớ nhà.

- Gia phong Hòa thượng thế nào?

- Áo rách che mây, sáng ăn cháo,

Bình xưa tưới nguyệt, tối uống trà.

Hỏi: Thế nào là gia phong Phật quá khứ? Phong thái của Phật quá khứ thế nào? Ngài đáp:

Vườn rừng vắng vẻ ai chăm sóc,

Lý trắng đào hồng hoa tự nhiên.

Phật quá khứ là Phật đã qua, giống như vườn rừng vắng vẻ không có người săn sóc. Nhưng cây lý vẫn trổ hoa trắng, cây đào vẫn trổ hoa hồng một cách tự nhiên. Phật quá khứ không còn để nhắc nhở chúng ta công phu, nỗ lực tu tập, mà sự tu tập của chúng ta là tự nhiên.

Hỏi: Thế nào là gia phong Phật hiện tại? Ngài đáp:

Gia phong sóng bạc mê yến sớm,

Tiên uyển đào hồng say gió xuân.

Gia phong Phật hiện tại là hình ảnh chim yến say mê theo làn sóng bay đi kiếm mồi, gió xuân say mê theo vườn đào trổ hoa. Tất cả sự việc hiện tiền sinh động, không có tâm dính mắc. Chim yến không suy nghĩ về bọt nước, gió xuân không nghĩ suy đến vườn tiên uyển. Cũng vậy, chúng ta đối với sáu trần mà không khởi một niệm nghĩ suy, không chạy theo dính mắc, đó là gia phong Phật hiện tại. 

Hỏi: Thế nào là gia phong Phật vị lai? Ngài đáp:

Bãi biển chờ triều trời đợi nguyệt,

Xóm chài nghe sáo khách nhớ nhà.

Vị lai là chưa đến, giống như bãi biển chờ nước lớn, bầu trời đợi trăng mọc, những người thuyền chài nghe tiếng sáo thổi nhớ nhà. Tất cả chỉ là sự mơ ước, trông chờ. Như thế nói đến Phật vị lai là nói đến sự mong chờ, vì hiện tại chưa có. Đó là gia phong ba đời chư Phật.

Lại hỏi: Gia phong Hòa thượng thế nào? Ngài đáp:

Áo rách che mây, sáng ăn cháo,

Bình xưa tưới nguyệt, tối uống trà.

Gia phong của ta là sáng mặc áo rách ăn cháo, chiều cầm bình tưới, tối uống trà, là những sự việc hiện tại, không có gì xa xôi. 

Lại hỏi: 

- Ngài Linh Vân khi xem hoa đào ngộ thì thế nào?

Đáp:

- Tự nở tự tàn theo thời tiết,

Đông quân bị hỏi cũng khôn lời.

- Khi giết người không nhìn lại thì sao?

- Gan dạ cùng mình.

- Người đại tu hành lại rơi vào nhân quả hay không?

- Miệng dường chậu máu chê Phật tổ,

Răng như kiếm bén gặm rừng thiền.

Một mai chết đọa A-tỳ ngục,

Cười ngất, Nam-mô Quán Thế Âm.

Thiền sư Linh Vân là đệ tử của tổ Quy Sơn Linh Hựu. Khi nhìn thấy hoa đào nở, bỗng dưng ngài ngộ đạo. Vị tăng nghi nên hỏi, Sơ Tổ đáp: 

Tự nở tự tàn theo thời tiết, 

Đông quân bị hỏi cũng khôn lời. 

Tức là hoa đào tùy theo thời tiết mà có nở có tàn. Nếu hỏi tại sao xem hoa đào ngộ đạo, Đông quân cũng không đáp được. Đông quân là chỉ thần mặt trời hay thần mùa xuân. Việc tu hành của mỗi người mỗi khác, tùy theo thời tiết nhân duyên, khi chín muồi chợt gặp thì ngộ. Việc này không ai giải thích được.

- Khi giết người không nhìn lại thì sao?

- Gan dạ cùng mình. 

Trong nhà thiền, cụm từ giết người không nhìn lại dùng để chỉ cho các bậc tu hành khi đến được chỗ chân thật rồi thì tất cả tâm nghĩ thiện nghĩ ác đều bỏ, không chút hối tiếc. Đó mới là người gan dạ cùng mình. Chúng ta bây giờ bỏ suy nghĩ ác được, còn nghĩ đến kinh điển hay quá thì bỏ không đành. Đó chưa phải là gan dạ, là giết người mà còn ngó lại, nên không đến được chỗ cứu cánh. 

Người nghĩ thiện đi đường lành, nghĩ ác đi đường dữ, nếu không nghĩ gì hết thì đi đường nào? Là giải thoát sanh tử. Đơn giản làm sao. Một niệm dấy động là còn sanh diệt. Nghĩ thiện cũng là một duyên nghiệp nên mới có luân hồi trong lục đạo. Ba đường ác là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; ba đường lành là cõi trời, cõi người, a-tu-la. Hiện giờ chúng ta đang sống trong cảnh giới lành, thế mà lại có những người muốn tạo nghiệp để đi vào đường dữ. Thật là dại khờ. Người tu đạo gặp cảnh bức xúc mà tự tử là điều rất không nên. Phật nói con trâu bị gác cái ách kéo cày, nó lấy cái sừng quật gãy cái ách để hết kéo. Ai ngờ gãy cái ách này, ông chủ làm cái ách khác chắc hơn. Chúng ta cũng vậy, chán ngán thân này rồi hủy hoại nó thì đọa thân sau còn khổ hơn nữa. Cho nên, chúng ta đang ở chỗ lành thì phải ráng tu để vươn lên chỗ tốt hơn, không nên tụt xuống. 

- Người đại tu hành lại rơi vào nhân quả hay không?

- Miệng dường chậu máu chê Phật tổ,

Răng như kiếm bén gặm rừng thiền.

Một mai chết đọa A-tỳ ngục,

Cười ngất, Nam-mô Quán Thế Âm.

Trong pháp hội tổ Bá Trượng, một hôm sau buổi tham vấn, toàn chúng ra về chỉ còn một ông già ở lại. Tổ hỏi: 

- Sao ông chưa về? 

Ông thưa: 

- Con không phải là người. Thời quá khứ thuở đức Phật Ca-diếp, con là một vị Tỳ-kheo ở núi này, nhân có người hỏi “Người đại tu hành có rơi vào nhân quả không?”, con đáp “Không rơi vào nhân quả”, do đó phải đọa làm thân chồn đến năm trăm kiếp. Nay xin Hòa thượng nói cho một chuyển ngữ để con thoát khỏi kiếp chồn.

Tổ bảo: 

- Ông hỏi lại ta đi. 

Ông già hỏi: 

- Người đại tu hành có rơi vào nhân quả không? 

Tổ đáp: 

- Không lầm nhân quả. 

Ngay câu nói ấy ông đại ngộ, làm lễ thưa: 

- Con đã thoát thân chồn. Con ở sau núi, dám xin Hòa thượng theo lễ tống táng con như một vị tăng.

Tổ vào trong kêu Duy-na đánh kẻng bảo chúng ăn cơm xong đưa đám một vị tăng, đại chúng nhóm nhau bàn tán: “Đại chúng đều mạnh, nhà dưỡng bệnh không có người nào nằm, tại sao có việc này?” Sau khi cơm xong, Tổ dẫn chúng đến hang núi phía sau, lấy gậy khơi lên thấy xác một con chồn vừa chết, bèn làm lễ thiêu như vị tăng.

Người đại tu hành có rơi vào nhân quả không? Câu hỏi này hết sức quan trọng đối với người tu. Người đại tu hành là những bậc đã ngộ đạo. Ông già trả lời: Không rơi vào nhân quả, tức là ngộ đạo rồi thì không còn bị kẹt trong nhân quả nữa. Như vậy là trái với giáo lý đức Phật dạy. Người đại tu hành không ai bằng Phật, thế mà đức Phật còn bị nạn kim thương mã mạch, nghĩa là ngài còn chưa ra khỏi nhân quả. 

Miệng dường chậu máu chê Phật tổ,

Răng như kiếm bén gặm rừng thiền.

Nếu nói rằng người đại tu hành không rơi vào nhân quả là chê Phật chê tổ, miệng ông giống như chậu máu, răng như kiếm bén gặm mòn rừng thiền. 

Một mai chết đọa A-tỳ ngục,

Cười ngất, Nam-mô Quán Thế Âm.

Người đại tu hành khi nói lầm, chết đọa ngục A-tỳ, nhưng trong ngục vẫn cười ngất Nam-mô Quán Thế Âm, tức là vẫn có Phật chứ không mất. 

Hỏi:

- Dưới ruộng bầy cò ngàn điểm tuyết

Trên cây oanh đậu một nhành hoa thì thế nào?

Đáp: 

- Lầm!

- Theo Đại tôn đức thì thế nào?

- Dưới ruộng bầy cò ngàn điểm tuyết,

Trên cây oanh đậu một nhành hoa.

- Đó là câu nói của tôi.

- Muốn biết thần tiên lò luyện thuốc,

Linh đơn vốn thật tử châu sa.

Vị tăng dẫn hai câu thơ: 

Dưới ruộng bầy cò ngàn điểm tuyết,

Trên cây oanh đậu một nhành hoa.

Dưới thửa ruộng trống bầy cò trắng đậu trông như ngàn điểm tuyết trên đồng cỏ; trên cành chim oanh vàng đậu, nhìn thấy như đóa hoa nở trên cây. Khi vị tăng hỏi như vậy, ngài đáp: Lầm! Bởi vì đây là hình ảnh mà văn sĩ khéo tưởng tượng viết ra, chứ không phải chân thật. Tăng hỏi tiếp: Theo Đại tôn đức thì thế nào? Ngài liền lặp lại hai câu thơ trên: 

Dưới ruộng bầy cò ngàn điểm tuyết,

Trên cây oanh đậu một nhành hoa.

Trước sau không khác, đó mới là thật. Vị tăng không hiểu nổi ý này, thưa: Đó là câu nói của tôi. Ngài liền đáp:

Muốn biết thần tiên lò luyện thuốc,

Linh đơn vốn thật tử châu sa.

Người tu tiên lấy tử châu sa để trong lò luyện thành linh đơn, như vậy linh đơn gốc từ tử châu sa chứ không có gì lạ. Cái lầm của ông qua ta thì hết lầm. Vậy thôi.

Hỏi: 

- Thế nào là Thanh tịnh pháp thân?

Đáp:

- Đục vàng rơi trong phân sư tử,

Người đen đúa vác bó hương thơm.

- Học nhân không hiểu?

- Chớ học thói hồ đồ trả giá,

Cười người chân thật dối lầm nhau.

- Thế nào là Viên mãn báo thân?

- Cánh bằng bay bổng dừng cơn gió,

Ly châu lắng lạnh biển trong ngần.

Vị tăng lễ bái. Ngài bảo:

- Nguyên lai đầy đủ nhiều công dụng,

Bởi chú quàng xiên chẳng được thành.

Hỏi: 

- Thế nào là thiên bách ức hóa thân?

Đáp:

- Mây dồn sương phủ trời mù mịt

Tấc nước như xưa trước đỉnh đầu.

Tăng thưa: - Đúng thế.

Ngài bảo:

- Cười ngất kẻ gom mây dưới đảnh,

Bốn bề nuốt lấy hòn sắt tròn.

Vị tăng lễ bái lui ra.

Tăng hỏi về ý nghĩa pháp thân, ngài trả lời:

- Đục vàng rơi trong phân sư tử,

Người đen đúa vác bó hương thơm.

Cây đục là tầm thường nhưng vàng là quý, phân là xấu nhưng sư tử là quý. Người đen đúa xấu xí mà vác bó hương thơm, tức là trong cái nhơ nhớp có cái thanh tịnh, đừng tìm đâu xa. 

- Học nhân không hiểu?

- Chớ học thói hồ đồ trả giá,

Cười người chân thật dối lầm nhau.

Người nói thật mà ông bảo người nói dối. Thế thì ông chỉ là kẻ hồ đồ hay tìm gẫm suy xét rồi trả giá hơn thua mà thôi.

- Thế nào là Viên mãn báo thân?

- Cánh bằng bay bổng dừng cơn gió,

Ly châu lắng lạnh biển trong ngần.

Vị tăng lễ bái. Ngài bảo:

- Nguyên lai đầy đủ nhiều công dụng,

Bởi chú quàng xiên chẳng được thành.

Khi hỏi về báo thân, ngài trả lời: 

Cánh bằng bay bổng dừng cơn gió, 

Ly châu lắng lạnh biển trong ngần. 

Cánh chim đại bàng bay bổng trên không làm cho gió phải dừng lại, hạt ngọc ở dưới cằm ly long làm lắng hết cặn bã ở dưới biển, khiến cho nước biển mát mẻ và trong ngần. Hai câu này nói lên diệu dụng của báo thân. Khi được viên mãn báo thân thì ở đâu cũng thanh tịnh an lành, giống như chim đại bàng cất cánh bay lên cao làm cho gió phải đứng lại, như ly châu dưới biển làm cho nước biển mát và trong.

Vị tăng nghe liền lễ bái. Ngài nói thêm:

Nguyên lai đầy đủ nhiều công dụng,

Bởi chú quàng xiên chẳng được thành.

Xưa nay đầy đủ nhiều công dụng như vậy mà bởi quàng xiên nghĩ bậy nên không có kết quả, không được viên mãn báo thân. 

Hỏi: - Thế nào là thiên bách ức hóa thân?

Đáp:

- Mây dồn sương phủ trời mù mịt

Tấc nước như xưa trước đỉnh đầu.

Tăng thưa: - Đúng thế.

Ngài bảo:

- Cười ngất kẻ gom mây dưới đảnh,

Bốn bề nuốt lấy hòn sắt tròn.

Vị tăng lễ bái lui ra.

Tăng hỏi: Thế nào là Thiên bách ức hóa thân? 

Ngài đáp:

Mây dồn sương phủ trời mù mịt,

Tấc nước như xưa trước đỉnh đầu.

Mây dồn sương phủ, bầu trời mù mịt che cả không gian. Hóa thân cũng chỉ tạm bợ như sương, như mây vậy thôi. Cái chân thật mới là trước sau nguyên vẹn, không đổi thay.

Tăng thưa: Đúng thế. Ngài bảo:

Cười ngất kẻ gom mây dưới đảnh,

Bốn bề nuốt lấy hòn sắt tròn.

Dưới đỉnh núi không thể gom mây lại thành đống. Ông nói đúng nhưng thật sự ông là kẻ ngớ ngẩn, chưa thấy gì, giống như người gom mây dưới đỉnh núi, như người nuốt hòn sắt vậy thôi.

Vị tăng lễ bái lui ra.

Pháp Loa hỏi: 

- Nói huyền nói diệu, luận cổ bàn kim, đều thuộc thứ nói đùa, một câu không kẹt trong ngôn ngữ làm sao nói được?

Ngài đáp:

- Gió đông dìu dịu ngàn hoa nở,

Lách cách vành xe một tiếng vang.

Pháp Loa toan mở miệng nói, ngài liền bảo:

- Chim hót máu tuôn vẫn vô dụng,

Non tây như trước phủ mây chiều.

- Khi muôn dặm mây tạnh thì thế nào?

- Mưa tầm tã.

- Khi muôn dặm mây che kín thì thế nào?

- Trăng vằng vặc.

- Cứu cánh thế nào?

- Chớ động đến, động đến ăn ba mươi gậy.

- Thế nào là bản lai diện mục?

Ngài im lặng giây lâu hỏi: 

- Hiểu chăng?

- Chẳng hiểu.

Ngài liền đánh.

Pháp Loa hỏi: Nói huyền nói diệu, luận cổ bàn kim, đều thuộc thứ nói đùa, một câu không kẹt trong ngôn ngữ làm sao nói được? Luận bàn hay suy xét đều là chuyện sanh diệt tạm bợ, không phải thật. Như vậy làm sao diễn tả cái thật đó được? Nói mà không kẹt trong ngôn ngữ, làm sao nói? 

Ngài đáp:

Gió đông dìu dịu ngàn hoa nở,

Lách cách vành xe một tiếng vang.

Gió đông nhẹ nhàng mát mẻ, tiết xuân sang, hoa nhân đó được nở. Gió đông đâu có muốn vuốt ve cho hoa nở, nhưng gió thổi nhè nhẹ thì hoa nở. Vành xe lăn khua nghe lách cách, không muốn làm tiếng vang mà phát ra tiếng vang. Thế nên, nói huyền nói diệu, luận cổ bàn kim tuy đều thuộc thứ nói đùa, nhưng nhờ đó mà có cơ hội để thấy.

Pháp Loa toan mở miệng nói, ngài liền bảo:

Chim hót máu tuôn vẫn vô dụng,

Non tây như trước phủ mây chiều.

Dù cho chim hót, hót mãi đến ra máu cổ cũng chẳng có lợi ích, ngọn núi phía tây buổi chiều mây đã phủ che. Ý nói tất cả hình ảnh, ngôn ngữ truyền đạt chỗ đó đều không nói đến nơi được. 

Hỏi: Khi muôn dặm mây tạnh thì thế nào?

Ngài đáp: Mưa tầm tã. Ngược lại mây tạnh thì mưa.

Hỏi: Khi muôn dặm mây che kín thì thế nào?

Ngài đáp: Trăng vằng vặc. Phải nhìn ngược lại, chứ không nên đi theo chiều nói.

Hỏi: Cứu cánh thế nào?

Ngài đáp: Chớ động đến, động đến ăn ba mươi gậy. Cứu cánh là vô ngôn, vừa mở miệng liền ăn đòn.

Lại hỏi thêm: Thế nào là bản lai diện mục? Bản lai diện mục là chỗ không lời không nghĩ thì còn gì nói? Thế nên ngài im lặng giây lâu rồi hỏi: Hiểu chăng? 

Tăng thưa: Chẳng hiểu. Ngài liền đánh.

Pháp Loa hỏi: 

- Thế nào là ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp?

Ngài đáp:

- Nếu dùng sắc thấy ta,

Dùng âm thanh cầu ta,

Người ấy hành đạo tà,

Không thể thấy Như Lai.

Ngài dẫn trong kinh Kim Cang ở đoạn Phật giải thích về pháp thân. Như Lai không phải là sắc tướng hay âm thanh, nếu dùng sắc tướng âm thanh thì không bao giờ thấy được Như Lai, tức Phật pháp thân. Ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp là điều mà chúng ta hằng khao khát, trông đợi để được biết được thấy. Nhưng với ngài, chỉ là ảo hóa mà thôi. 

- Thế nào là Phật?

- Tấm cám ở dưới cối.

- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn sang?

- Bánh vẽ.

- Thế nào là đại ý Phật pháp?

- Cùng hầm, đất không khác.

- Xưa có vị tăng hỏi Triệu Châu “con chó có Phật tánh không” Triệu Châu nói “không” ý chỉ thế nào?

- Chất muối ở trong nước,

Keo xanh ở trong sắc.

Tăng hỏi: Thế nào là Phật?

Ngài đáp: Tấm cám ở dưới cối.

Khi chúng ta giã gạo, trong cối có tấm cám. Tấm cám là cái như thật trước mắt, chứ không có gì lạ. 

Lại hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn sang?

Ngài đáp: Bánh vẽ.

Xưa ngài Lâm Tế hỏi tổ Hoàng Bá câu này liền bị ăn đòn. Ở đây, ngài Điều Ngự không đánh mà nói: Bánh vẽ. Bánh vẽ thì không no bụng. Vì chúng ta cứ tìm ý Tổ sư từ Ấn Độ sang, mà không tìm lại nơi mình xem cái gì là chân thật nên ngài bảo bánh vẽ. 

Hỏi: Thế nào là đại ý Phật pháp?

Ngài nói: Cùng hầm, đất không khác. Đất cùng một hầm thì như nhau. 

Hỏi: Xưa có vị tăng hỏi Triệu Châu “con chó có Phật tánh không”, Triệu Châu nói “không”. Ý chỉ thế nào? Ngài đáp: 

Chất muối ở trong nước,

Keo xanh ở trong sắc.

Muối có sẵn trong nước mặn, keo xanh có sẵn trong nước sơn. Chữ “không” của ngài Triệu Châu mang sẵn cái chân thật, chứ không phải là không ngơ. Đừng hiểu lầm. 

- Hữu cú vô cú như bìm leo cây, khi ấy thế nào?

Ngài bèn nói kệ:

Hữu cú vô cú

Đằng khô thọ đảo

Cơ cá nạp tăng

Chàng đầu khái não.

Hữu cú vô cú

Thể lộ kim phong

Hằng hà sa số

Phạm nhẫn thương phong.

Hữu cú vô cú

Lập tông lập chỉ

Đả ngõa toản quy

Đăng sơn thiệp thủy.

Hữu cú vô cú

Phi hữu phi vô

Khắc chu cầu kiếm

Sách ký án đồ.

Hữu cú vô cú

Hỗ bất hồi hỗ

Lạp tuyết hài hoa

Thủ chu đãi thố.

Hữu cú vô cú

Tự cổ tự kim

Chấp chỉ vong nguyệt

Bình địa lục trầm.

Hữu cú vô cú

Như thị như thị

Bát tự đả khai

Toàn vô bả tỹ.

Hữu cú vô cú

Cố tả cố hữu

A thích thích địa

Náo quát quát địa.

Hữu cú vô cú

Đao đao phạ phạ

Tiệt đoạn cát đằng

Bỉ thử khoái hoạt.

Dịch:

Hữu cú vô cú  

Bìm khô cây ngã  

Mấy kẻ nạp tăng  

U đầu sứt trán.  

Hữu cú vô cú  

Thể lộ gió thu  

Hằng hà sa số  

Va dao chạm bén.  

Hữu cú vô cú

Lập tông lập chỉ  

Đập ngói dùi rùa  

Trèo non lội nước.  

Hữu cú vô cú  

Chẳng có chẳng không  

Khắc thuyền mò kiếm  

Tìm ngựa cứ hình (bản đồ). 

Hữu cú vô cú

Hồi hỗ, hay không

Nón tuyết giày hoa

Ôm cây đợi thỏ.

Hữu cú vô cú

Tự xưa tự nay

Chấp tay quên trăng

Đất bằng chết chìm.

Hữu cú vô cú

Như thế như thế

Chữ bát mở ra

Sao không nắm mũi?

Hữu cú vô cú

Ngó tả ngó hữu

Lau chau mồm mép

Ồn ào náo động.

Hữu cú vô cú

Đau đáu lo sợ

Cắt đứt sắn bìm

Đó đây vui thích.

Ngài bèn bước xuống tòa.

Bài kệ này đã được giảng rõ trong quyển Tam Tổ Trúc Lâm nên ở đây tôi không giảng lại nữa. 

Ngày mùng một tháng giêng năm Mậu Thân (1308), ngài sai Pháp Loa đến huyện Siêu Loại tại Báo Ân thiền tự khai giảng trụ trì. Tháng tư năm ấy, ngài đến chùa Vĩnh Nghiêm ở Lạng Giang kiết hạ và sai Pháp Loa khai giảng trụ trì. Chính ngài giảng Truyền Đăng Lục, bảo quốc sư Đạo Nhất vì chúng giảng kinh Pháp Hoa. Bãi hạ, ngài vào núi Yên Tử, đuổi hết những người cư sĩ theo hầu hạ và những kẻ nô dịch trong chùa, không được chực hầu như trước. Chỉ để lại mười vị thị giả thường theo ngài. Ngài lên ở am Tử Tiêu, vì Pháp Loa giảng Truyền Đăng Lục. Thị giả xuống núi gần hết, duy có đệ tử thượng túc là Pháp Loa còn ở thôi.

Đường lối chủ trương của chúng ta ngày nay không khác với chư tổ ngày xưa. Sơ tổ Trúc Lâm dạy thiền mà vẫn đem kinh giảng cho các đồ đệ nghe. Ngài bảo quốc sư Đạo Nhất vì chúng giảng kinh Pháp Hoa, ngài Pháp Loa giảng Truyền Đăng Lục v.v... Như vậy Phật giáo thời Trần, kinh và thiền hỗ tương qua lại chứ không tách rời nhau. Từ kinh mà hiểu thiền, từ tu thiền hiểu rộng hơn kinh. Cho nên chúng ta chủ trương giảng kinh và thiền là đúng với người xưa đã làm.

Từ đây, ngài leo khắp các núi, tìm kiếm các hang động, ở tại thạch thất. Pháp Loa thấy thế bạch: 

- Tôn đức tuổi đã già yếu, mà xông pha trong sương tuyết, lỡ có bề gì thì mạng mạch Phật pháp trông cậy vào ai?

Ngài bảo: 

- Ta thời tiết đã đến, muốn tạo cái kế lâu dài vậy.

Trong thời gian này, ngài leo khắp núi Yên Tử, chẳng ngại nhọc nhằn, qua lại trên các ngọn núi để tìm những chỗ kỳ đặc. Pháp Loa sợ ngài bệnh nên khuyên can: Tôn đức tuổi đã già yếu, mà xông pha trong sương tuyết, lỡ có bề gì thì mạng mạch Phật pháp trông cậy vào ai? Ngài bảo: Ta thời tiết đã đến, muốn tạo cái kế lâu dài vậy. Ngài tự biết đến lúc sắp ra đi, muốn tìm chỗ để tạo kế lâu dài.

Ngày mùng năm tháng mười năm ấy, người nhà của công chúa Thiên Thụy lên núi bạch ngài: 

- Công chúa Thiên Thụy bệnh nặng mong được thấy Tôn đức rồi chết.

Ngài bùi ngùi bảo: 

- Thời tiết đã đến vậy.

Ngài bèn chống gậy xuống núi, chỉ cho theo một người thị giả. Ngày mùng mười, ngài về đến kinh, dặn dò xong, ngày rằm ngài trở về núi. Ngài dừng nghỉ ở chùa Siêu Loại. Hôm sau vừa rạng đông, ngài đi bộ đến chùa làng Cổ Châu, tự đề bài kệ rằng:

Âm:

Thế số nhất tức mặc,

Thời tình lưỡng hải ngân,

Ma cung hồn quản thậm,

Phật quốc bất thắng xuân.

Dịch:

Số đời một hơi thở,

Lòng người hai biển vàng,

Cung ma dồn quá lắm,

Cõi Phật vui nào hơn.

Số đời một hơi thở, thở ra không hít vào là chết ngay. Lòng người hai biển vàng, câu này tôi dịch hơi xa là vì âm vận. Thời tình lưỡng hải ngân. Thời tình là tình đời hay lòng người, lưỡng hải ngân là hai biển bạc. Mạng sống của con người chỉ trong hơi thở, mà lòng tham muốn rộng như hai biển bạc. Tính toán trăm mưu ngàn kế làm sao để có danh lợi mà không nhớ mạng sống ngắn trong hơi thở! Do vậy, tuổi thọ không theo kịp với lòng ham muốn của con người. Nhiều người sắp tắt thở mà công việc sắp đặt cũng chưa rồi, hết lo cho con rồi lo cho cháu. Thật đáng thương!

Cung ma dồn quá lắm, cõi Phật vui nào hơn. Có hai con đường, đi xuống nơi cung ma tối tăm khổ sở và về cõi Phật tốt đẹp an vui. Chúng ta có ai can đảm chọn đường xuống địa ngục không? Tuy không ai can đảm nhưng tâm lúc nào cũng hơn thua, muốn hại người này, hiếp đáp kẻ kia. Chính tâm tham lam đó đã đẩy xô chúng ta vào con đường địa ngục. 

Ngài nhắc nhở chúng ta rằng mạng sống của con người có giới hạn, sống rồi sẽ chết. Con đường chúng ta đang đi không phải con đường dài mãi, mà là con đường cùng. Nếu không khéo tu, không khéo chuẩn bị tư lương cho mình thì khi nhắm mắt sẽ không đi được con đường tốt. Cho nên, khi còn sống chúng ta phải nghĩ đến lúc chết để chuẩn bị cho mình, bằng không thì ngày ra đi rất đáng ngại. 

Đến ngày mười bảy, ngài dừng nghỉ ở chùa Sùng Nghiêm tại Linh Sơn, Tuyên Từ hoàng thái hậu thỉnh ngài vào am Bình Dương cúng trai. Ngài vui vẻ nói: 

- Đây là bữa cúng dường rốt sau.

Ngày mười tám, ngài lại đi bộ đến chùa Tú Lâm ở ngọn An Kỳ Sinh. Nghe nhức đầu, ngài gọi hai vị Tỳ-kheo trong chùa bảo: 

- Ta muốn lên ngọn Ngọa Vân mà chân không thể leo nổi, phải làm sao?

Hai vị Tỳ-kheo bạch: 

- Hai đệ tử có thể giúp được.

Đến am Ngọa Vân, ngài tạ hai vị Tỳ-kheo rằng: 

- Xuống núi tu hành đi, chớ xem thường việc sanh tử.

Việc sanh tử sắp đến với ngài. Ai cũng phải tới lúc đó, nếu chần chừ, tu lơ mơ thì tới khi sanh tử đuổi gấp, chừng đó trở tay không kịp. Vì vậy phải lo tu hành, chớ xem thường việc sanh tử.

Ngày mười chín, ngài sai thị giả Pháp Không lên am Tử Tiêu ở núi Yên Tử gọi Bảo Sát đến đây gấp.

Ngày hai mươi, Bảo Sát quảy gói sang, đi đến Doanh Tuyền thấy một vầng mây đen từ ngọn Ngọa Vân bay qua Lỗi Sơn và hạ xuống Doanh Tuyền, nước đầy tràn lên cao mấy trượng, giây lát lại bình xuống. Lại thấy hai con rồng đầu bằng đầu ngựa ngóc cao hơn trượng, hai con mắt như sao, chốc lát lại lặn xuống. Đêm ấy Bảo Sát nghỉ trong quán trọ dưới núi, mộng thấy điềm chẳng lành.

Ngày hai mươi mốt, Bảo Sát đến am Ngọa Vân. Ngài trông thấy mỉm cười bảo: 

- Ta sắp đi đây, nhà ngươi đến sao trễ vậy? Đối với Phật pháp, ngươi có chỗ nào chưa rõ hãy hỏi mau.

Bảo Sát hỏi: 

- Như khi Mã Tổ bệnh, Viện chủ hỏi: “Những ngày gần đây Tôn đức thế nào?” Mã Tổ bảo: “Nhật diện Phật, Nguyệt diện Phật.” Nói thế ý chỉ làm sao?

Ngài lớn tiếng đáp: 

- Ngũ đế Tam hoàng là vật gì?

Bảo Sát lại hỏi: 

- Chỉ như “Hoa sum suê chừ gấm sum suê, tre đất nam chừ cây đất bắc”, lại là sao?

Ngài đáp: 

- Làm mù mắt ngươi.

Bảo Sát bèn thôi.

Khi Mã Tổ bệnh, Viện chủ hỏi: “Những ngày gần đây Tôn đức thế nào?” Mã Tổ bảo: “Nhật diện Phật, Nguyệt diện Phật.” Câu này thật khó hiểu. Nếu dịch là mặt trời Phật, mặt trăng Phật tức là ngày đối diện Phật, đêm đối diện Phật. Nghĩa là sao? Để dễ nhận, chúng ta có thể hiểu ban ngày là Phật, ban đêm là Phật, lúc nào cũng là Phật. Mọi hành động đi đứng nằm ngồi trong các thời đều là Phật. 

Bảo Sát đem câu này hỏi ngài Điều Ngự. Ngài lớn tiếng đáp: Ngũ đế Tam hoàng là vật gì? Ngũ đế là năm vị vua ở Trung Hoa, Tam hoàng là ba vị vua thời cổ, các vị này rất được quý trọng. Thế nhân kính trọng Ngũ đế Tam hoàng, người tu đạo kính trọng Phật. Trọng Phật thì sáng gặp Phật, chiều gặp Phật. 

Bảo Sát lại hỏi: Chỉ như “Hoa sum suê chừ gấm sum suê, tre đất nam chừ cây đất bắc”, lại là sao? Ngài đáp: Làm mù mắt ngươi. Vì hoa gấm, cây tre... là hình ảnh bên ngoài. Nếu mắc kẹt vào những hình ảnh đó sẽ bị chúng làm mù mắt. Chỉ khi tâm hiện tiền, sống được như thật mới thấy hoa thấy tre như nhau, không có gì khác. 

Bảo Sát thôi không hỏi nữa.

Suốt mấy hôm trời đất u ám, chim vượn kêu hót rất bi thảm.

Đến ngày mùng một tháng mười một, đêm nay trời trong sao sáng, ngài hỏi Bảo Sát: 

- Hiện giờ là giờ gì?

Bảo Sát bạch: - Giờ Tý.

Ngài lấy tay vén màn cửa sổ nhìn xem, nói: 

- Đến giờ ta đi.

Bảo Sát hỏi: 

- Tôn đức đi đến chỗ nào?

Ngài nói kệ đáp:

Âm:

Nhất thiết pháp bất sanh

Nhất thiết pháp bất diệt

Nhược năng như thị giải

Chư Phật thường hiện tiền.

Dịch:

Tất cả pháp chẳng sanh

Tất cả pháp chẳng diệt

Nếu hay hiểu như thế

Chư Phật thường hiện tiền.

Nào có đến đi ấy vậy.

Bốn câu kệ này dẫn trong kinh Hoa Nghiêm: 

Tất cả pháp chẳng sanh

Tất cả pháp chẳng diệt

Nếu hay hiểu như thế

Chư Phật thường hiện tiền.

Chúng ta quen nhìn tất cả các pháp trên sanh diệt nên nói các pháp sanh diệt. Ví như cái đồng hồ, khi chưa ráp các bộ phận lại thì không phải đồng hồ, ráp các bộ phận lại mới là đồng hồ. Thật ra thể tánh đồng hồ là không, đủ duyên mới có. Căn cứ trên thể tánh của đồng hồ thì không sanh diệt, trên giả tướng duyên hợp mới có sanh diệt. Hoặc như cắm hoa vào bình mới có bình hoa, nếu tách rời ra thì không có bình hoa. Như vậy cái sanh diệt của bình hoa cũng không thật, tánh nó cũng là không. Cho nên, tất cả pháp không sanh diệt là căn cứ trên thể tánh chứ không phải căn cứ trên giả tướng duyên hợp. Nếu sống theo giả tướng, tướng tụ họp là có, tướng ly tán là không. Nếu sống theo thể tánh, tụ họp hay ly tán cũng đều là không, vì tánh không vốn không sanh diệt. 

Tất cả pháp chẳng sanh, tất cả pháp chẳng diệt. Nếu hay hiểu như thế, chư Phật thường hiện tiền. Người thấy được như vậy là người giác ngộ, thấy chân lý lẽ thật. Giác ngộ khó hay không khó? Chính mình khéo nhận định, khéo thấy đúng sự thật là giác, giác là Phật. Ví dụ biết đồng hồ là hư giả thì đồng hồ của mình xấu hay đẹp cũng không quan trọng, đã là giả thì không có xấu tốt. Nếu thấy xấu đẹp rồi vui buồn theo nó là cố chấp. Cho đến thân này là các lóng xương ráp nối có dây gân cột lại, bên ngoài là một lớp thịt được bao bọc bởi lớp da. Thân giả tạm mà chúng ta cứ ngỡ là thật. Nếu chúng ta biết thân là giả thì không cần nói tu nhiều hay tu ít. Chỉ cần luôn thấy thân này là giả, tới giờ cuối cùng ra đi vẫn thấy giả, không lo sợ, luôn tỉnh sáng. Như vậy là hiểu được đạo lý, thấy được cái chân thật. Được vậy thì an ổn tự tại. 

Bảo Sát hỏi: 

- Chỉ như khi chẳng sanh chẳng diệt là thế nào?

Ngài liền nhằm miệng Bảo Sát tát cho một cái, nói: 

- Chớ nói mớ.

Chớ nói mê nói mộng. Ngay chỗ chẳng sanh chẳng diệt mà còn hỏi thế nào, đó là bày thêm chuyện. 

Nói xong, ngài bèn nằm như sư tử lặng lẽ mà tịch. Vào niên hiệu Hưng Long thứ mười sáu (1308), thọ 51 tuổi.

Pháp Loa theo lời di chúc của ngài làm lễ hỏa táng, lượm ngọc cốt có năm màu để vào bình. Vua Anh Tông cùng đình thần đem long giá rước ngọc cốt về tôn thờ nơi Đức Lăng và xây tháp ở chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, để hiệu là Huệ Quang Kim Tháp và dâng tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu-đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật.

Ngài còn lưu lại những tác phẩm:

1. Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục và Hậu Lục.

2. Đại Hương Hải Ấn Thi Tập.

3. Tăng-già Toái Sự.

4. Thạch Thất Mỵ Ngữ, do Pháp Loa soạn lại lời của ngài.

Sơ tổ Trúc Lâm ra đi nhẹ nhàng, tỉnh táo sáng suốt, thọ 51 tuổi. Ngài để lại rất nhiều tác phẩm. Những tập sách này hiện nay chỉ còn rải rác chút ít, không nguyên vẹn đầy đủ. Tác phẩm Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục cũng tìm không ra.

✵✵✵

PHỤ BẢN 

SƠ TỔ TRÚC LÂM

Phụ trích vài bài thơ của Điều Ngự Giác Hoàng:

Âm:

ĐĂNG BẢO ĐÀI SƠN

Địa tịch đài du cổ,

Thời lai xuân vị thâm.

Vân sơn tương viễn cận,

Hoa kính bán tình âm.

Vạn sự thủy lưu thủy,

Bách niên tâm ngữ tâm.

Ỷ lan hoành ngọc địch,

Minh nguyệt mãn hung khâm.

Dịch:

LÊN NÚI BẢO ĐÀI

Đất vắng, đài thêm cổ,

Ngày qua, xuân chửa nồng.

Gần xa, mây núi ngất,

Nắng rợp, ngõ hoa lồng.

Muôn việc nước trôi nước,

Trăm năm lòng nhủ lòng.

Tựa hiên, nâng sáo ngọc,

Đầy ngực ánh trăng trong.

                   (Ngô Tất Tố)

***

Âm:

XUÂN VÃN

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,

Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.

Như kim khám phá Đông hoàng diện,

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.

Dịch:

CUỐI XUÂN

Thuở bé chưa từng rõ sắc không,

Xuân về hoa nở rộn trong lòng.

Chúa xuân nay bị ta khám phá,

Chiếu trải giường thiền ngắm cánh hồng.

Thuở bé chưa từng rõ sắc không, xuân về hoa nở rộn trong lòng. Thuở nhỏ chưa hiểu được lý sắc không nên khi xuân đến hoa nở thì lòng mình cũng rộn rã thích thú. Như người si mê chưa tỉnh, đối với cảnh đẹp thì vừa ý, cảnh xấu thì không ưng, tốt xấu hơn thua đủ thứ. 

Chúa xuân nay bị ta khám phá. Chúa xuân không phải là vị thần bên ngoài mà chỉ cho tâm chân thật của chính mình, ngày nay đã nhận ra được nó rồi. 

Chiếu trải giường thiền ngắm cánh hồng. Khi nhận ra có cái chân thật ngay nơi mình thì lúc đó trải chiếu, ngồi trên giường thiền ngắm bao nhiêu thứ hoa nở hoa tàn rơi rụng từng cánh, lòng vẫn an nhiên không động. 

Như vậy khi chúng ta tìm ra được cái chân thật rồi thì tất cả những được mất, tốt xấu, hơn thua không còn làm rộn lòng mình, thảnh thơi tự tại. Vì những điều đó chỉ là giả dối tạm bợ mà thôi. Đạo Phật là đạo giác ngộ. Thấy đúng như thật liền giác ngộ, tự tại ngay trong đời này chứ chẳng ở đâu xa. Chúng ta đang bị cột trói trong thế gian, thành công thì mừng vui, thất bại thì buồn khổ, lo lắng đủ thứ, hiểu đạo rồi mới thấy tất cả chỉ là trò chơi. Làm ăn thành công thì có tiền làm việc thiện, thất bại thì sống đơn sơ, ăn cơm với muối cũng thấy vui. Được như vậy mới thảnh thơi nhẹ nhàng.

Thời đại bây giờ có người khổ vì thiếu ăn thiếu mặc, người vui vì dư dả. Song, người có nhiều tiền chưa chắc đã vui và người nghèo chưa hẳn đã khổ. Cái vui cái khổ chỉ từ mê và tỉnh thôi. Ví như chúng ta không đủ tiền mua một món đồ tốt, nếu buồn là chưa tỉnh, nếu tỉnh thì thấy nó giả, không quan trọng. Chỉ cần chúng ta thay đổi cách nhìn thì mọi cái khổ theo đó hết, chuyển phiền não thành Bồ-đề. 

Chúng ta được nghe, được học lời Phật tổ dạy mà không chịu hành, đối với việc thế gian cứ đeo đẳng, tới chừng sắp chết mới giật mình thì trở tay không kịp. Người xưa thấy liền tỉnh, chúng ta thấy mà không chịu tỉnh, nên cứ chìm trong chỗ mê. 

***

Âm:

SƠN PHÒNG MẠN HỨNG

I

Thùy phược cánh tương cầu giải thoát,

Bất phàm hà tất mịch thần tiên.

Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão,

Y cựu vân trang nhất tháp thiền.

II

Thị phi niệm trục triêu hoa lạc,

Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn.

Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch,

Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn.

Dịch:

PHÒNG NÚI KHỞI HỨNG

I

Ai trói lại mong cầu giải thoát,

Chẳng phàm nào phải kiếm thần tiên,

Vượn nhàn, ngựa mỏi, người đã lão,

Như cũ vân trang một chõng thiền.

II

Phải quấy niệm rơi hoa buổi sớm,

Lợi danh tâm lạnh với mưa đêm.

Mưa tạnh, hoa trơ, non vắng lặng,

Chim kêu một tiếng lại xuân tàn.

Hai bài thơ nói lên niềm vui ở thất nhỏ trên núi, rất lý thú và thật thiết yếu với người tu. 

Ai trói lại mong cầu giải thoát. Chúng ta tu để cầu giải thoát, nhưng mình bị ai trói mà mong cầu mở? Người bị cột vô gốc cây thì kêu la nhờ mở dây trói, không bị cột thì kêu làm gì? Chúng ta cứ than thở tôi khổ quá, cái khổ đó là ai đem đến cho mình? Tại mình đa sự nên mới khổ. 

Thiền sử Trung Hoa có câu chuyện tổ Tăng Xán gặp một Sa-di mới mười bốn tuổi là ngài Đạo Tín. Đạo Tín biết Tổ là người đạt đạo liền chắp tay bạch: 

- Bạch Hòa thượng, dạy cho con pháp môn giải thoát. 

Tổ Tăng Xán nhìn thẳng vào mặt ngài Đạo Tín nói: 

- Ai trói buộc ngươi? 

Câu hỏi của Tổ làm cho ngài Đạo Tín sửng sốt, tìm kỹ lại một lúc rồi ngài thưa với Tổ: 

- Không ai trói buộc con. 

Tổ bảo: 

- Đã không trói buộc, đâu cần cầu giải thoát. 

Ngay câu nói đó ngài Đạo Tín ngộ đạo. 

Đơn giản vậy thôi! Không ai trói buộc thì cầu giải thoát cái gì? Không trói mà kêu mở thì quá mê rồi. Học chỗ này mới thấy đạo Phật rất gần gũi và thực tế. Ví như người mẹ có con đi xa, cứ ngồi nhớ trông nên buồn khổ. Tự mình nhớ trông là tự mình trói buộc mình vào đau khổ, muốn hết khổ thì đừng nhớ trông nữa. Hoặc như gia đình mình vừa đủ ăn, thấy nhà người khá giả, có nhà lầu xe hơi thì than trách sao phận mình nghèo quá. Người giàu lại than khổ chuyện tiền bạc nhiều, bạn bè rủ rê ăn nhậu hoài, không có thời giờ nghỉ ngơi. Mỗi người khổ mỗi cách. Giàu cũng khổ, nghèo cũng khổ. Chỉ cần biết sống là hết khổ. Biết sống tức là tỉnh sáng, tâm biết đủ với những gì chung quanh. Biết sống thì không gì có thể làm cho mình khổ. 

Chẳng phàm nào phải kiếm thần tiên. Nghĩa là không phải phàm thì đâu cần tìm kiếm thần tiên làm gì. Tất cả chúng ta có mặt ở đây là phàm hay chẳng phải phàm? Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều sẽ thành Phật. Sở dĩ là phàm vì chúng sanh trùm lốt phàm bên ngoài, che phủ tánh giác. Nếu lột cái bao che đậy đó ra thì tánh giác hiển hiện, đâu còn là phàm. Chúng ta si mê tưởng giả là thật rồi chấp chặt theo đó mà khổ, nên là phàm. Nếu biết là giả, nhận ra lẽ chân thật thì thánh hiện, đó mới là chính mình. Phàm với thánh ở gần một bên. 

Ở cõi này, nếu chúng ta không mê chấp thì đã là sung sướng rồi. Có thức ăn ngon thì ăn ngon, thức ăn dở thì ăn dở, không có gì quan trọng. Ăn uống đạm bạc mà sống dai, sống khỏe, thảnh thơi tự tại. Ăn uống sung sướng mà cơ thể nặng nề, đi không nổi còn khổ hơn nữa. Như vậy thiếu cũng khổ, dư cũng khổ như thường, chỉ có biết trung hòa mới không khổ. Thế gian này vốn không có cái khổ thật, tùy cách nhìn và tùy hoàn cảnh mà thấy khổ. Hiểu được lẽ thật đó thì ngay cõi này chúng ta đã là thần tiên rồi, chẳng cần đi đâu xa. 

Vượn nhàn, ngựa mỏi, người đã lão. Vượn, ngựa, người, tất cả đều hiện tướng nhọc nhằn, mệt mỏi do sự biến chuyển đưa đến gần chỗ cuối cùng là tướng già. Tóm lại, ba hình ảnh trên nói lên tất cả hiện tượng có mặt trên thế gian này đều bị vô thường chi phối. 

Như cũ vân trang một chõng thiền. Vân trang là nhà nhỏ trên núi, trong nhà để một giường thiền, dù cho cuộc đời biến chuyển, dù cho con người bị đổi thay từ trẻ đến già nhưng nơi vân trang, người ngồi trên giường thiền tâm vẫn không có gì đổi thay. Điều này nói lên dù cuộc đời có muôn ngàn biến chuyển, nhưng người đạt được tâm chân thật thì trước sau như một, không chút đổi thay. Được vậy thì giải thoát sanh tử, ngược lại thì luân hồi sanh tử.

Cái chân thật luôn sẵn có nơi mình mà chúng ta không chịu dùng, lại chạy theo những tạm bợ hư ảo bên ngoài, rồi chìm đắm trong sanh tử không có ngày ra khỏi. Nếu biết các pháp là sanh diệt, không chìm đắm trong đó, chỉ luôn phản quan tìm ra cái thật của mình thì tự tại giải thoát giữa cõi sanh diệt này. Đây là việc làm hết sức phi thường, đi ngược với thế gian, thể hiện rõ rệt tinh thần của người tu. 

Chỉ qua bốn câu kệ mà chúng ta thấy bao nhiêu đạo lý trong đó. Không ai trói buộc thì không cần cầu giải thoát, chẳng phải phàm thì tìm thần tiên làm gì! Tại vì chúng ta mê nên quên, không bị trói mà ngỡ bị trói, có sẵn Phật trong tâm mà ngỡ mình là phàm ngu, rồi cứ đuổi theo những ma quái ở thế gian. Chỉ cần ngay đó dừng lại, xoay lại chính mình, nhận ra lẽ thật thì không còn khổ nữa, giác ngộ giải thoát tức thì. Việc tu hành rõ ràng như vậy. 

Phải quấy niệm rơi hoa buổi sớm, 

Lợi danh tâm lạnh với mưa đêm. 

Sáng sớm nhìn ra ngoài thấy các đóa hoa rơi từng cánh xuống đất thì niệm thị phi của chúng ta cũng theo đó mà rụng, buông rơi xuống hết. Tâm danh lợi cũng theo trận mưa đêm mà lạnh đi. 

Mưa tạnh hoa trơ non vắng lặng, 

Chim kêu một tiếng lại xuân tàn. 

Hoa đã hết, mưa đã tạnh, núi non vắng lặng. Một tiếng chim kêu, mùa xuân đã qua. Hai câu này nghe khó hiểu nhưng ý nghĩa rất thâm trầm. Khi niệm thị phi của chúng ta rơi rụng hết, tâm danh lợi cũng lạnh rồi, lúc đó giống như hoa hết, mưa tạnh, chỉ còn một ngọn núi lặng lẽ mà thôi. 

Hoa và mưa là vô thường. Dù chúng ta cố giữ thì hoa cũng rụng, mưa rồi cũng tạnh, chứ đâu phải mưa mãi, nhưng ngọn núi vẫn nguyên vẹn, không mất chút nào. Cũng vậy, tất cả danh lợi, niệm phải quấy là tạm bợ, qua rồi mất chứ không còn. Khi chúng ta buông hết những niệm phải quấy, những tâm danh lợi thì cái chân thật đầy khắp trong đó. Trong cảnh im ắng của núi rừng, bỗng nhiên có một tiếng chim kêu, chừng đó mới thấy mùa xuân qua mất. Bởi vì tâm thể không phải vô tri vô giác, mà hiện bày trong đó không còn bị chi phối bởi thời gian. 

Chỗ này học đến mười mục chăn trâu trong nhà thiền, chúng ta sẽ thấy rõ. Khi trâu thả tự tại, không cần phải bận chăn giữ thì đóng cửa thất, đi vào nhân gian, tùy duyên làm lợi ích cho người. Đây là giai đoạn ứng thân nhập thế. 

Trong đạo Phật, ứng thân có hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất là người tu tới chỗ hoàn toàn thanh tịnh, thấy còn những duyên trần nào để đền trả thì các ngài đền trả. Như tổ Huệ Khả sau khi xong việc, ngài đổi đạo phục, giả dạng thế gian, có khi vào quán rượu, lúc đến hàng thịt, hoặc ở giữa đám đông thuyết pháp, làm người khuân vác... để giáo hóa chúng sanh. Trường hợp thứ hai là nhập pháp thân thanh tịnh rồi liền có ứng thân và hóa thân, tùy duyên hóa độ chúng sanh, chứ không phải tới đó rồi ngồi im không làm gì hết. Đó là ý nghĩa rất sâu xa. Chớ nghĩ rằng nhập Niết-bàn rồi thì vĩnh viễn ở trong đó, thiên hạ làm sao mặc họ; mà phải phát tâm cứu độ chúng sanh. 

Tâm thanh tịnh thì làm việc gì cũng thanh tịnh, dù cho cầm bầu rượu vào quán uống rượu thì vẫn thanh tịnh, đem cái trong sạch sáng suốt đi vào chỗ u mê giáo hóa người. Nhà Phật gọi là hòa quang đồng trần, tức là đem ánh sáng hòa vào trong bụi. Lúc mặt trời lên, ánh sáng rọi vào nhà, chúng ta thấy bụi bặm lăng xăng trong hư không qua làn ánh sáng rọi, còn chỗ không ánh sáng rọi thì không thấy bụi. Chỗ nào cũng có bụi, nhưng chỗ có ánh sáng rọi mới thấy bụi lăng xăng. Bụi và ánh sáng hòa lẫn nhau, hòa mà không hòa, vì bụi không phải là ánh sáng và ánh sáng không kết thành bụi, nhưng bụi không ngoài ánh sáng. Như vậy người tu tới chỗ thanh tịnh thì phải xông vào cuộc đời để đánh thức mọi người; chứ không phải im lìm an hưởng Niết-bàn, đó là ích kỷ, chưa phải tinh thần người tu. 

***

Âm:

ĐỀ PHỔ MINH TỰ THỦY TẠ

Huân tận thiên đầu mãn tọa hương,

Thủy lưu sơ khởi bất đa lương,

Lão dung ảnh lý tăng quan bế,

Đệ nhất thiền thanh thu tứ trường.

Dịch:

ĐỀ NHÀ THỦY TẠ CHÙA PHỔ MINH

Nghìn hương thắp hết ngát đầy tòa,

Làn nước nhẹ nhàng gió lạnh qua,

Dưới bóng đa già chùa cửa đóng

Ve ngâm dấy khởi tứ thu xa.

***

Chẳng những Trúc Lâm Đầu-đà làm thơ chữ Hán mà còn làm phú, ca chữ Nôm nữa. Như Cư Trần Lạc Đạo Phú và Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca... Ở đây chúng ta chỉ trích bài kệ cuối trong Cư Trần Lạc Đạo để thấy rõ tinh thần của ngài. 

Âm:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên,

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Dịch:

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,

Đói đến thì ăn nhọc ngủ liền,

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.

Bài kệ này rất thiết yếu, tóm lược ý của toàn bài phú Cư Trần Lạc Đạo. 

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên. Cư trần lạc đạo là ở trong vòng bụi bặm mà vui với đạo. Tuy ở thế gian, sống trong cảnh trần tục mà vẫn vui với đạo là điều rất đặc biệt. Muốn được vui với đạo thì hãy tùy duyên. Thế nào gọi là tùy duyên? 

Đói đến thì ăn nhọc ngủ liền. Tùy duyên như vậy thì tu thật dễ, phải không? Thật ra nói dễ nhưng không phải dễ. Tại sao? Vì người đời đói không chịu ăn, mệt không chịu ngủ. Nếu có ăn cũng chỉ ăn gượng mà không vui. Hoặc gặp khi cơm nguội canh lạnh, ngồi buồn một lúc rồi mới chịu ăn. Tuy bụng đói mà chúng ta đâu có ăn ngay. Còn mệt thì ngủ, nhưng nhiều khi chúng ta mệt mà có chịu ngủ đâu. Như hôm nào có việc gì quan trọng, tuy mệt nằm xuống nghỉ mà cứ nhớ đến chuyện đó mãi, không sao ngủ được. Tùy duyên nghĩa là đói ăn mệt ngủ. Muốn ở cõi trần vui với đạo là phải biết tùy duyên, đói ăn mệt ngủ, đừng đòi hỏi thêm điều gì khác. 

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm. Trong nhà đã có sẵn viên ngọc quý, đừng đi tìm kiếm ở đâu xa. Nơi mỗi người chúng ta đều có tâm sáng suốt, đó là tánh giác. Tánh giác có sẵn nơi mọi người, giống như viên ngọc minh châu có sẵn ở trong nhà mình, chúng ta phải tự nhận ra, đừng chạy tìm kiếm ở đâu. Câu này dạy chúng ta phải quay lại mình, đừng tìm bên ngoài, vì Phật ở ngay trong nhà.

Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền. Đối với ngoại cảnh, dù đẹp xấu, thuận nghịch... tâm mình đều không dấy động. Được như vậy thì đừng hỏi thiền chi nữa. Chúng ta thấy Sơ Tổ định nghĩa thiền hết sức là giản đơn. Thiền là sáu căn đối với sáu trần mà tâm không dấy động. Tâm không dính với sáu trần đó là tu thiền, chứ không phải chỉ ngồi thiền mới là thiền, nhưng chúng ta còn dính quá nên buộc lòng phải ngồi. Ngồi cho đỡ dính rồi gỡ lần lần, nếu ai không dính thì không cần phải ngồi. Bài kệ kết thúc rất hay, đủ cho chúng ta biết đường lối để tu. 

Trần Nhân Tông khi còn ở ngôi vua đã liễu ngộ được lẽ thật của đạo, mới cảm khái viết bài phú này. Sau khi trao ngai vàng lại cho con, ngài lên làm Thái thượng hoàng, vừa dạy con trông coi việc nước, vừa nghiên cứu kinh điển. Đến khi Anh Tông đã rành rẽ việc nước, ngài mới đi tu. Năm năm trên Yên Tử, ngài ngộ đạo và cảm tác bài Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca. Đọc bài ca thành đạo của ngài, chúng ta sẽ thấy được công phu tu hành tuyệt vời của Sơ Tổ và hiểu rõ đường lối tu của thiền phái Trúc Lâm.

Ở Ấn Độ có thái tử Tất-đạt-đa sống trong nhung lụa mà không nghĩ đến danh vọng tài sắc thế gian, chỉ làm sao giải quyết được vấn đề sanh tử cho con người. Đến khi đi dạo bốn cửa thành, thấy cảnh già, bệnh, chết, ngài thức tỉnh bỏ ngai vàng đi tu và thành đạo dưới cội bồ-đề. 

Ở Việt Nam có vua Trần Nhân Tông, sau khi xông pha chiến trận, bình ổn quốc dân, ngài không ở trên ngai vàng để thụ hưởng mà bỏ đi tu, cũng vì giải quyết vấn đề sanh tử cho mình và người. Như vậy tinh thần của vua cũng không thua kém tinh thần của Thái tử ngày xưa.

Tuy nhiên, Thái tử đi tu khi chưa có người biết đạo lý nên ngài quyết tìm cho thấu đáo, cuối cùng thành tựu viên mãn nên gọi là Phật. Còn vua đi tu đã có sẵn đường lối của người xưa để lại, chỉ nương theo mà tu để đạt được kết quả. Người đi đầu giác ngộ viên mãn gọi là Phật, những người sau đi theo con đường đó mà giác ngộ thì gọi là Tổ.

Lúc ở Yên Tử, ngài Điều Ngự lấy hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu-đà. Trúc Lâm là rừng trúc, Đại Đầu-đà là người khổ hạnh bậc nhất. Hồi xưa đọc đến chỗ này, tôi không tin lắm, bởi vì ông vua đi tu thì kẻ hầu người hạ đâu thiếu mà nói Đầu-đà. Đến khi tôi đích thân lên tới Ngọa Vân Am mới thấy quả là không ngờ. Đi từ dưới chân núi lên tới Ngọa Vân Am, người chân giỏi đi mất bốn tiếng, người chân dở đi mất năm tiếng, dở như tôi thì đi tới sáu tiếng rưỡi. Vậy mà một ông vua leo tới núi đó để tu. Huống nữa Ngọa Vân Am nằm cheo leo trên lưng chừng núi, vắng vẻ không xóm làng. Quả thật rất đáng khâm phục. 

Ngọa Vân Am nằm ở rừng trúc, bên kia là núi Yên Tử, nên phái thiền do ngài sáng lập có tên là Trúc Lâm Yên Tử. Đó là ý chỉ rất quan trọng. Tôi chủ trương khơi dậy đường lối tu của Tổ vì chúng ta là người Việt Nam, được hấp thụ sự chỉ dạy của các bậc tiền bối thì phải biết lưu tâm đến người sáng lập hệ phái thiền Việt Nam, đó là Sơ tổ Trúc Lâm. Chúng ta phải nghiền ngẫm, hiểu cho thấu đáo đường lối của ngài để tu cho có căn bản. Ngược lại, học lóm chỗ này chỗ kia thì không thể nắm vững. 

***

ĐẮC THÚ LÂM TUYỀN

THÀNH ĐẠO CA

Sanh có nhân thân,

Ấy là họa cả;

Ai hay cốc được,

Mới ốc là đã.

Tuần này mà ngẫm,

Ta lại xá ta; 

Đắc ý cong lòng,

Cười riêng ha hả. 

Công danh chẳng trọng,

Phú quý chẳng màng; 

Tần Hán xưa kia,

Xem đà nhèn hạ.

Yên bề phận khó,

Kiếm chốn dưỡng thân; 

Khuất tịch non cao, 

Náu mình sơn dã. 

Vượn mừng hủ hỷ,

Làm bạn cùng ta; 

Vắng vẻ ngàn kia, 

Thân lòng hỷ xả. 

Thanh nhàn vô sự,

Quét tước đài hoa; 

Thờ phụng Bụt trời,

Đêm ngày hương hỏa.

Tụng kinh niệm Bụt,

Chúc thánh khẩn cầu;

Tam hữu tứ ân,

Ta nguyền được bả.

Niềm lòng vằng vặc,

Giác tánh quang quang;

Chẳng còn bỉ thử,

Tranh nhân chấp ngã.

Trần duyên rũ hết,

Thị phi chẳng hề;

Rèn một tấm lòng,

Đêm ngày đon đả.

Ngồi cong trần thế,

Chẳng quản sự thay;

Văng vẳng ngàn kia,

Dầu lòng dong thả. 

Học đòi chư Phật,

Cho được viên thành;

Xướng khúc vô sanh,

An thiền tiêu sá (sái).

Ai ai xá cốc,

Bằng huyễn chiêm bao;

Xảy tỉnh giấc hòe,

Châu rơi lã chã.

Cốc hay thân huyễn,

Chẳng khác phù vân;

Vạn sự giai không,

Tựa dường bọt bể.

Đem mình náu tới,

Cảnh vắng ngàn kia;

Dốc chí tu hành,

Giấy sồi vó vá.

Lành người chăng chớ,

Dữ người chăng hay;

Ngậm miệng đắp tai, 

Hề chi họa cả.

An thân lập mệnh.

Thời tiết nhân duyên;

Cắt thịt phân cho,

Dầu là chim cá.

Thân này chẳng quản,

Bữa đói bữa no;

Địa thủy hỏa phong,

Dầu là biến hóa.

Pháp thân thường trụ,

Phổ mãn thái hư;

Hiển hách mục tiền,

Viên dung lõa lõa.

Thiền tông chỉ thị,

Mục kích đạo tồn;

Không cốc truyền thanh,

Âm hưởng ứng dã.

Phô người học đạo,

Vô số nhiều thay;

Trúc hóa nên rồng,

Một hai là họa.

Bởi lòng vờ vịt, 

Trỏ bắc làm nam;

Nhất chỉ đầu thiền,

Sát-na hết cả.

Kệ rằng:

Cảnh tịch an cư tự tại tâm,

Lương phong xuy đệ nhập tùng âm.

Thiền sàng thụ hạ nhất kinh quyển,

Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn câm (kim).

Dịch:

Sống yên giữa cảnh lặng lòng không,

Gió mát hiu hiu lọt bóng thông.

Dưới gốc, giường thiền, kinh một quyển,

Thanh nhàn hai chữ, đáng muôn đồng.

                                        (Huệ Chi)

Kế tiếp là bài Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca, chúng ta học để thấy tinh thần của người xưa mà noi theo tu tập. Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca là bài ca thành đạo của Tổ. Thú là đến, lâm là rừng, tuyền là suối, tức là Tổ lên núi rừng, qua suối ngàn, tu rồi thành đạo nên làm bài ca này. 

Sanh có nhân thân,

Ấy là họa cả;

Ai hay cốc được, 

Mới ốc là đã.

Phàm người sanh ra, có thân này ấy là họa lớn. Có thân là họa, dù là thân một ông vua cũng họa như thường. Tại sao? Vì có thân thì có bệnh, già, chết, đó là họa. Thế mà con người lại quên họa ấy, cứ nghĩ thân này quý trọng, nhất là khi được địa vị cao sang, làm vua làm quan, lại càng quý trọng thân hơn nữa. Nhưng với cái nhìn của ngài, có thân là họa, làm vua cũng họa, làm dân cũng họa. 

Ai hay cốc được, là ai hay biết được như vậy. Mới ốc là đã. Ốc là gọi, đã là thấu suốt, thông hiểu. Người nào khéo biết rõ thân này là họa, ấy là người thấu suốt, hiểu thông được nghĩa đạo. 

Qua bốn câu này, ngài nói với chúng ta: Ai sanh ra có thân đều phải khổ vì sanh già bệnh chết, nên đó là họa chứ không phải điều sung sướng hạnh phúc. Người tu phải giải thoát sanh tử mới hết khổ, còn trong sanh tử là không bao giờ chấm dứt khổ đau. Người thấu hiểu được lẽ này mới gọi là người thông hiểu lý đạo. 

Tuần này mà ngẫm,

Ta lại xá ta;

Đắc ý cong lòng,

Cười riêng ha hả.

Tuần này mà ngẫm là thời gian được lên ở núi rừng này mà suy ngẫm, Ta lại xá ta, xá là phục, là kính, là quý. Nghĩa là ở trong hoàn cảnh sang cả, hưởng đủ hạnh phúc thế gian mà không màng, bỏ cả ngai vàng, bỏ hết sang giàu phú quý, đi lên rừng núi tu, ngẫm lại ta cũng phục ta. 

Đắc ý cong lòng, cười riêng ha hả. Cong là trong. Ngẫm như thế rồi, trong lòng đắc ý nên ngồi cười ha hả. Ngài thấy mình thắng được mình nên trong lòng rất vui. Chúng ta bây giờ đang sống sung túc mà bắt lên núi ở cô đơn một mình chắc là nhớ nhà khóc òa lên. 

Một vị vua đang ở triều đình, ngồi trên ngai vàng đủ cả quyền uy mà gan dạ bỏ lên rừng núi yên tu. Ngẫm lại, ngài phục mình quá nên ngồi cười ha hả. Trái lại chúng ta lên rừng núi rồi, nhiều khi cũng còn tiếc thành thị. Thành thị của ai mà tiếc? Chính ngài là người làm chủ, trong địa vị vua chúa mà bỏ lên rừng núi, ngẫm lại đắc ý cười thích thú. Tâm niệm đó thật là ít có!

Công danh chẳng trọng,

Phú quý chẳng màng;

Tần Hán xưa kia,

Xem đà nhèn hạ.

Ngài xét thấy đối với công danh không trọng, đối với phú quý cũng chẳng màng. Tại sao? Vì thuở xưa đời Tần đời Hán bên Trung Hoa, vua nào cũng gồm thâu thiên hạ, rốt cuộc đều hèn hạ, đều chết không ra gì. Nhèn hạ tức là không còn gì hết. Xét thế, ngài thấy công danh phú quý không đáng cho mình phải bận tâm. 

Yên bề phận khó,

Kiếm chốn dưỡng thân;

Khuất tịch non cao,

Náu mình sơn dã.

Yên bề phận khó, yên bề là yên với bổn phận của mình, khó là nghèo, yên bề làm kẻ nghèo hèn. Kiếm chốn dưỡng thân là tìm lên núi rừng ở tu. Khuất tịch non cao là ở trên non cao vắng vẻ. Náu mình sơn dã, náu là ẩn mình nơi núi rừng. Xét thấy công danh phú quý không ra gì nên ngài bỏ hết danh lợi của thế gian, làm một người tu nghèo khó trên núi. 

Vượn mừng hủ hỷ,

Làm bạn cùng ta;

Vắng vẻ ngàn kia,

Thân lòng hỷ xả.

Vượn mừng hủ hỷ. Ở rừng núi làm bạn thân với khỉ vượn, hủ hỷ qua ngày chứ không còn ai khác. Vắng vẻ ngàn kia, thân lòng hỷ xả. Ngàn là rừng, nhờ ở trong cảnh yên vắng nơi rừng núi mà thân và tâm vui vẻ, buông bỏ hết, không còn bận bịu điều gì. Một ông vua ở trong triều với bao nhiêu cung phi mỹ nữ, những cảnh đẹp những thú vui đầy tràn trước mắt nhưng không thích hưởng, lại lên rừng núi vui với khỉ vượn, lòng thanh thản nhẹ nhàng, buông bỏ tất cả. Thật đáng khâm phục.

Thanh nhàn vô sự,

Quét tước đài hoa;

Thờ phụng Bụt trời,

Đêm ngày hương hỏa.

Ngài lên trên núi làm gì? Làm kẻ thanh nhàn vô sự, không phải bận bịu lo nghĩ điều gì. Việc làm của ngài là quét đài sen thờ Phật, ngày đêm thắp hương đốt đèn cúng Phật. 

Tụng kinh niệm Bụt,

Chúc thánh khẩn cầu;

Tam hữu tứ ân,

Ta nguyền được bả.

Tam hữu là ba cõi: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Tứ ân là bốn ơn: ơn cha mẹ, ơn thầy tổ, ơn đàn-na thí chủ, ơn quốc gia. Chữ bả là trả. Ngày đêm tụng kinh niệm Phật, nguyện trả được bốn ơn ba cõi. Đó là sở nguyện của ngài, chứ không phải tu cho có phước để đời sau hưởng. 

Niềm lòng vằng vặc,

Giác tánh quang quang;

Chẳng còn bỉ thử,

Tranh nhân chấp ngã.

Niềm lòng vằng vặc, niềm là niệm, vằng vặc là sáng. Nghĩa là những niệm khởi trong lòng đều lặng lẽ, không còn lăng xăng che lấp nữa. Giác tánh quang quang tức là tánh giác sáng rỡ. Khi tu, ngài vận dụng khả năng của mình để dẹp sạch hết tất cả những vọng niệm. Vọng niệm vắng lặng thì tánh giác được sáng rỡ. 

Trong kinh Bát-nhã nói các pháp tự tánh không, đợi duyên hợp mới thành, tuy có mà không thật, không sẵn. Còn tánh giác là cái sẵn có nơi mình nên không đợi duyên hợp. Chúng ta không thấy tánh giác bởi vọng niệm phủ che, chỉ cần buông vọng niệm là tánh giác hiện tiền. Con người thường sống bằng tưởng tượng nhiều hơn sống thật, nên bị những hình bóng đó ám ảnh, che lấp mất tánh giác của mình. Nếu dừng bóng dáng tưởng tượng đó lại, làm tan hoang hết thì tánh giác hiện ra, càng sáng thêm. Đó là chân lý, là lẽ thật. 

Nhiều khi chúng ta có những ý nghĩ thật sai lầm, cứ nghĩ rằng mình thấy cái gì hay tốt thì cũng muốn người ta được như mình. Đến khi giải thích, họ không thèm nghe thì nổi giận rồi mắng chửi người ta. Từ tốt biến thành xấu. Đó là điều không nên. 

Đạo Phật không như thế. Đức Thế Tôn ngồi thiền dưới cội bồ-đề bốn mươi chín ngày đêm, ngài thành tựu được trí tuệ vô sư, tự thấy tự biết các pháp là hư ảo, lại thấy được hằng hà sa thế giới nhiều như cát sông Hằng. Ngài còn thấy trong thế giới đó, chúng sanh vì nghiệp chẳng tương đồng mà sanh ra ở các cõi khác nhau. 

Ví như chúng sanh hưởng hết phước ở cõi trời, sanh xuống nhân gian thì vẫn còn dư báo nên thân thể đẹp, khôn ngoan lanh lợi. Chúng sanh thọ hết nghiệp quả trong địa ngục, được sanh trở lại cõi người, do vẫn còn dư báo nên bị làm người tật nguyền bệnh hoạn. Chúng sanh đời trước biết tu nên được sanh lại làm người, nhưng người tu nhiều người tu ít nên căn cơ trình độ cũng sai biệt. Do vậy, Phật nói vô lượng pháp môn để tùy phương tiện mà giáo hóa, hoặc tu phước hoặc tu tuệ để độ người. 

Thế gian có rất nhiều hạng người, chúng ta không thể bắt họ sống theo ý mình. Chúng ta nói mà người nghe không hiểu là vì nghiệp duyên của họ đời trước quá nặng nề. Người như thế đáng thương chứ không đáng giận. Hiểu như vậy mới thấy đạo Phật rất cởi mở, không bắt buộc ai hết. Đây là chỗ chư Tổ chỉ thẳng cho người học đạo. 

Chẳng còn bỉ thử là chẳng còn kia đây, tranh nhân chấp ngã là không còn tranh chấp qua lại giữa ta và người nữa. Qua bốn câu này chúng ta thấy được nội tâm của ngài khi tu trên núi, lòng lặng lẽ trong sáng, tánh giác hiện tiền sáng rỡ, dứt sạch tâm bỉ thử nhân ngã, chấp mình khinh người.

Trần duyên rũ hết,

Thị phi chẳng hề;

Rèn một tấm lòng,

Đêm ngày đon đả.

Trần duyên rũ hết là những duyên trần rũ sạch, không còn đeo mang nữa. Thị phi chẳng hề là chuyện phải quấy cũng không nghĩ bàn, không bận lòng. Khi những vọng niệm vắng bặt và tánh giác hiện ra thì không còn chấp ngã, duyên trần rũ hết, phải quấy đều buông sạch.

Rèn một tấm lòng, đêm ngày đon đả. Đon đả là săn đón, là sốt sắng. Nghĩa là đêm ngày luôn luôn sốt sắng rèn tấm lòng mình được trong sạch. 

Ngồi cong trần thế,

Chẳng quản sự thay;

Văng vẳng ngàn kia,

Dầu lòng dong thả.

Ngồi cong trần thế, chẳng quản sự thay là ngồi trong cõi đời mà chẳng quan tâm sự đời thay đổi, mặc nó hay mặc nó dở, không màng tới. Văng vẳng ngàn kia, dầu lòng dong thả. Dong là thong, dầu lòng là mặc tình. Tức là khi buông tất cả những phải quấy của thế tục thì chỉ nghe tiếng văng vẳng trong rừng, gió khua lá cây xào xạc, mặc tình thong dong tự tại không có gì ràng buộc. 

Ngày xưa, cụ Ngô Thì Nhậm nói ngài lên núi với mục đích trông chừng giặc ở phương Bắc để báo động về triều. Đó là cái lầm lẫn của cụ. Vì thật tâm của Sơ Tổ, lúc ấy đã không còn mắc kẹt trong thị phi nhân ngã, tất cả mọi việc trên đời không còn bận rộn lòng ngài nữa. 

Học đòi chư Phật,

Cho được viên thành;

Xướng khúc vô sanh,

An thiền tiêu sá (sái).

Ngài học theo ai? Học đòi chư Phật, cho được viên thành. Khi ấy xướng khúc vô sanh, nghĩa là thổi bản nhạc vô sanh. An thiền là cảnh thiền được an, tiêu sá là tiêu sái tức là tự do tự tại. An thiền tiêu sá là nơi cảnh thiền được an tĩnh, thảnh thơi tự tại. 

Ai ai xá cốc,

Bằng huyễn chiêm bao;

Xảy tỉnh giấc hòe,

Châu rơi lã chã. 

Ai ai xá cốc là mỗi người phải nên biết. Bằng huyễn chiêm bao, cuộc sống trên thế gian này giống như giấc mộng, như huyễn thuật, không có gì thật. Câu này nói nghe hơi bi quan, nhưng xét cho cùng đời người chỉ như giấc chiêm bao qua mất mà thôi. 

Xảy tỉnh giấc hòe là chợt tỉnh giấc mộng. Giấc hòe là chuyện một người ngủ mê dưới gốc hòe, mộng thấy thi đỗ, được vua chọn làm phò mã, được làm quan... Nhưng khi thức tỉnh rồi thì thấy mình nằm trơ trơ dưới gốc hòe, bị kiến cắn đau buốt, chẳng có gì cả. Châu rơi lã chã, nghĩa là nước mắt rơi lã chã, thấy cuộc đời là chiêm bao là ảo mộng, có gì thật đâu. 

Người tu đến được chỗ vô sanh rồi thì chừng đó mới tự tại, mới nói cho người biết cuộc đời là huyễn mộng, giống như anh chàng ngủ mơ dưới gốc hòe thấy mình sung sướng cao sang, nhưng giật mình thức dậy thì chỉ còn trơ trọi là chú học trò nghèo thôi. Rõ ràng tinh thần của Tổ là tu cho đến nơi đến chốn, quên hết mọi việc, không còn vướng víu bận bịu gì.

Cốc hay thân huyễn,

Chẳng khác phù vân;

Vạn sự giai không,

Tựa dường bọt bể.

Cốc hay thân huyễn là biết thân này như huyễn như hóa, chẳng khác phù vân, chẳng khác mây nổi, chợt thấy đó rồi tan đó, không có gì lâu dài. Vạn sự giai không là muôn việc đều trở thành không, tựa dường bọt bể, giống như bọt ngoài biển cả, thấy một chùm một khối, rồi một cơn sóng vỗ nó tan nát, không có gì thật. Đã biết thế thì phải làm sao?

Đem mình náu tới,

Cảnh vắng ngàn kia;

Dốc chí tu hành, 

Giấy sồi vó vá.

Vó vá là may vá hay chắp vá. Nghĩa là đem mình ẩn nơi cảnh rừng núi vắng vẻ yên tĩnh dốc chí tu hành, có khi lấy giấy dán, có khi dùng chỉ gai thô kết lại để mặc, chứ không dùng y phục tốt đẹp. Ngài biết rõ cuộc đời huyễn hóa như đám mây bay, không có gì thật, nên mới bỏ lên núi quyết chí tu kham khổ, mặc áo giấy áo gai chắp vá để tu thôi.

Lành người chăng chớ,

Dữ người chăng hay;

Ngậm miệng đắp tai,

Hề chi họa cả.

Lành người chăng chớ, dữ người chăng hay. Chăng chớ là chẳng để ý đến. Cái hay của người không màng, cái dở của người cũng không cần biết. 

Ngậm miệng đắp tai, ngậm miệng im lìm không nói, đắp tai không thèm nghe, hề chi họa cả, có gì là họa đâu. Chúng ta hiện nay thế nào? Vì lanh lợi quá, miệng chưa câm, tai không chịu điếc nên họa đến liên tục. Nếu chúng ta miệng câm tai điếc được như ngài dạy thì họa không đến với mình. 

An thân lập mệnh,

Thời tiết nhân duyên;

Cắt thịt phân cho,

Dầu là chim cá.

Người tu tìm được nơi non cao yên ẩn tu hành, đó là an thân lập mệnh. Tùy theo thời tiết nhân duyên cố gắng tu rồi có ngày được sáng. Khi ấy đối với chúng sanh chung quanh, dù là chim cá... mình cũng sẵn lòng cắt thịt phân cho, sẵn sàng bố thí cả thân mạng. Đã quyết tâm ẩn tu nơi rừng núi thì không còn quý tiếc thân nữa. 

Thân này chẳng quản,

Bữa đói bữa no;

Địa thủy hỏa phong,

Dầu là biến hóa.

Người tu đến nơi đến chốn rồi thì thân này chẳng quản, bệnh đau gì cũng mặc nó, không quan trọng. Bữa đói bữa no cũng chẳng sao. Địa thủy hỏa phong, dầu là biến hóa. Thân này do bốn đại đất nước gió lửa hợp thành. Khi thân tan rã, đất nước gió lửa trả về cho đất nước gió lửa, nhưng tâm chân thật không mất. Ví như bóng đèn, bóng dụ cho vật chất, điện dụ cho tinh thần. Dù bóng hư điện vẫn không mất, thay bóng thì điện lại sáng. Cũng vậy, thân này hoại nhưng tâm thức không mất, tùy duyên mà đến với thân sau. 

Người tu khi hiểu được lẽ thật đó rồi thì thân này không quản, dù sống bữa đói bữa no cũng được. Chúng ta có được như thế chưa? Tứ đại vừa biến động đã khổ sở, rên rỉ. Tâm lăng xăng rối loạn trong đầu không lo, mà lo chuyện ăn uống thường tình. Thân này hoại thì quý, cái thường hằng lại bỏ qua. Đó là cách nhìn nông nổi. 

Muốn trở về với cái thường hằng thì phải buông hết vọng tưởng. Đây là chỗ thiết yếu của sự tu. Nếu chúng ta chỉ biết lo cho thân thì tới một ngày kia, thân rã rời, công này là công dã tràng. Ví dụ như người nuôi bốn con rắn độc trong một cái lồng, con này không ưa con kia, chúng cứ cắn nhau hoài. Chủ nhà phải can thiệp, giữ không cho chúng cắn nhau ngày này qua tháng nọ. Bỗng một hôm giỏ rách, mấy con rắn chui ra hết. Vậy là uổng công bao nhiêu ngày tháng. Thế mà người chủ nhà lại đi chỗ khác, tìm bắt bốn con rắn khác nuôi tiếp, rồi nó cũng đi. 

Cũng vậy, chúng ta nuôi thân tứ đại này là công dã tràng. Giữ gìn cho tốt rồi một ngày nó cũng tan, tan rồi lại tìm thân khác để giữ. Cứ như vậy, tan rồi giữ, giữ rồi tan. Luân hồi của chúng sanh cũng từ đó mà phát khởi. Chúng ta là người tu thì phải biết thân này là hư giả, chỉ dùng nó làm phương tiện để tìm cái chân thật vĩnh cửu. Đó mới là người khôn ngoan. 

Pháp thân thường trụ,

Phổ mãn thái hư;

Hiển hách mục tiền,

Viên dung lõa lõa.

Thân tứ đại còn mất không có gì quan trọng, việc quan trọng của chúng ta là phải nhận ra pháp thân thường trụ. Pháp thân thường trụ đó đầy dẫy khắp cả thái hư, rõ ràng trước mắt, viên dung đầy đủ, không chỗ nào vắng thiếu hay mờ tối. Thế mà chúng ta không chịu nhận, lại nhận cái thân tạm bợ này. Thật đáng tiếc!

Người đời quen nhận cái suy nghĩ phân biệt là tâm mình. Cái nghĩ suy phân biệt là sanh diệt chợt có chợt không, chứ không phải là mình thật. Nghĩ suy thì có giới hạn, còn tâm hằng tri hằng giác không có niệm nghĩ suy thì bủa khắp, không có tướng mạo mà thấy biết tất cả. Vậy mà chúng ta bỏ quên cái chân thật, chạy theo cái sanh diệt để rồi bị lôi kéo trong luân hồi muôn kiếp. Bây giờ dừng lại không chạy theo cái lăng xăng đó nữa thì rỡ ràng sáng suốt hiện tiền, không cần tìm Phật ở Tây phương hay Ấn Độ, mà trở về với ông Phật sẵn nơi mình. 

Chúng ta sống đúng như lời ngài dạy, đi chỉ biết đi, ăn chỉ biết ăn, không xen niệm nào khác, biết rõ ràng như vậy đó chính là cái biết hiện tiền. Cái biết ấy đã sẵn có đầy đủ, không cần suy nghĩ, suy nghĩ là lộn xộn lăng xăng dấy động. Tu thiền là lúc nào cũng thiền, đi thiền, ngồi thiền, đứng thiền, ăn thiền, tâm chuyên nhất không thêm một việc khác. Lúc đó có ai nói gì, mình biết không? Không biết làm sao biết mình đang nghe, đang nói, đang đi? Tu thiền thật đơn giản làm sao! 

Thiền tông chỉ thị,

Mục kích đạo tồn;

Không cốc truyền thanh,

Âm hưởng ứng dã.

Thiền tông chỉ thị, mục kích đạo tồn. Chỉ thị của thiền tông hiện tiền ở trước mắt, thấy nghe rõ ràng mà không suy nghĩ phân biệt, chứ không có gì xa lạ. 

Không cốc truyền thanh, âm hưởng ứng dã, nghĩa là âm hưởng từ hang trống dội lại. Đây chỉ là âm hưởng, không phải âm thanh thật. 

Phô người học đạo,

Vô số nhiều thay;

Trúc hóa nên rồng,

Một hai là họa.

Phô là đông. Vô số nhiều thay là nhiều vô số. Nghĩa là người học đạo tính ra thì rất nhiều, nhưng người được như cây trúc hóa nên rồng thì chỉ một hai cây. Người đi tu đông vô số mà người đạt đạo chỉ có một hai người. Tại sao? 

Bởi lòng vờ vịt,

Trỏ bắc làm nam;

Nhất chỉ đầu thiền,

Sát-na hết cả.

Bởi lòng vờ vịt, trỏ bắc làm nam. Vờ vịt tức là tối tăm. Bởi lòng tối tăm nên chỉ phương bắc mà hiểu phương nam, không thấy đúng lẽ thật. Tâm mờ mịt, hiểu sai lầm nên sự tu không có kết quả. 

Nhất chỉ đầu thiền, sát-na hết cả. Chỉ là ngón tay. Chỉ cần một ngón tay thiền trong khoảng sát-na thì hết sạch, không có gì cả. Đây là dẫn chuyện ngài Câu Chi. Học nhân hỏi thế nào là Phật, ngài đưa một ngón tay. Hỏi thế nào là đạo, ngài cũng đưa một ngón tay. Một ngón tay là gì? Là chân kinh nhất tự. Chỉ cần nhận ra thiền một ngón tay thì mọi nghi ngờ đều tan hết. Hiểu như thế mới thấy tại sao ai hỏi gì ngài cũng đưa một ngón tay. Đó là chân kinh nhất tự, đừng nghĩ là trò đùa. Muốn tu đến nơi đến chốn thì phải gan dạ buông hết hai bên. 

Tóm lại, ý ngài muốn nói người đạt đạo rất ít, còn tu loạng choạng ở giữa đường thì quá nhiều. Sở dĩ nhiều là vì đối với đạo, chúng ta còn mờ mịt lầm lẫn chưa nhận rõ. Nếu một phen nhận rõ được một ngón tay thiền rồi thì trong sát-na tan hết những nghi ngờ lo tính. Vì sao? Vì còn hai là còn phiền não dấy động, khi chỉ một ngón tay đâm thủng tất cả thì phiền não tan biến. Chỉ một tâm thôi, không dấy niệm bỉ thử nhân ngã nữa thì còn gì là khổ, còn gì là hệ lụy? Dễ dàng, đơn giản. Nhưng vì chúng ta quanh co quá thành ra việc tu trở thành khó khăn, không có kết quả. 

Ngài kết thúc bằng bốn câu kệ chữ Hán:

Cảnh tịch an cư tự tại tâm,

Lương phong xuy đệ nhập tùng âm.

Thiền sàng thụ hạ nhất kinh quyển,

Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn câm.

Bản dịch của Huệ Chi:

Sống yên giữa cảnh lặng lòng không, 

Gió mát hiu hiu lọt bóng thông.

Dưới gốc, giường thiền, kinh một quyển,

Thanh nhàn hai chữ đáng muôn đồng.

Người tu sống yên trong cảnh lặng lẽ, tâm rất tự tại, nghe gió mát thổi vào bóng tùng. Giường thiền dưới cây thông chỉ cần để một quyển kinh. Hai chữ thanh nhàn còn hơn muôn lượng vàng. Tâm nhẹ nhàng thảnh thơi, không bận bịu vướng mắc, cái đó còn quý hơn vàng bạc nữa. 

Chúng ta đã học xong hai bài Cư Trần Lạc Đạo Phú và Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca của Điều Ngự Giác Hoàng. Một bài ngài làm ở giai đoạn cư sĩ, khuyên nhắc kẻ tại gia tu tập; một bài ngài làm khi đã xuất gia, đạt đạo và dạy lại cho hàng xuất gia biết bổn phận của mình. Hai bài ca với hai giá trị rõ ràng, đầy đủ như thế, chúng ta cần phải nắm thật vững, hiểu thật rõ thì mới ứng dụng tu hành tới nơi tới chốn được.

Học qua hành trạng của Sơ tổ Trúc Lâm, chúng ta thấy ngài là một thiền sư gương mẫu, rất xứng đáng cho tăng ni noi theo tu tập. Một ông vua đã bỏ tất cả công danh phú quý để vào tu chốn rừng sâu. Một lần đi là một lần dứt khoát, không có thái độ lưng chừng. Chuyên tâm tu tập chỉ năm năm thì ngài đạt đạo, rồi hòa quang đồng trần, giáo hóa nhân dân trong nước, khuyên dân tu hành, đồng thời hướng dẫn chư tăng tu hạnh xuất gia. Đó là tâm hạnh cao quý của ngài. 

Chúng ta là người Việt Nam phải cố gắng sống cho được tinh thần đó, để thấy giá trị rất cao siêu phi thường của đạo Phật, vượt ngoài tất cả tầm thường của thế gian.

Mục Lục
Thanh Từ Toàn Tập 36 - Hành Trạng Thiền Sư 7