Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 36 - Hành Trạng Thiền Sư 7
Thiền Sư Pháp Loa

THIỀN SƯ PHÁP LOA

(1284 - 1330)

Tổ thứ hai thiền phái Trúc Lâm

Sư tên thật là Đồng Kiên Cương, sanh năm Thiệu Bảo thứ sáu (1284) ngày mùng bảy tháng năm, quê làng Cửu La, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Cha là Đồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cứu. Trước khi sanh Sư, thân mẫu nằm mộng thấy có người trao cho thanh thần kiếm, bà thích lắm nhận lấy. Từ đó, bà biết có thai. Vì trước kia bà sanh liền tám người con gái nên chán ngán, phen này bà cố tình uống thuốc phá thai, nhưng đều vô hiệu. Đến khi sanh ra Sư, bà mừng lắm, đặt tên là Kiên Cương. Sư thiên tư dĩnh ngộ, miệng không nói lời ác, ăn không thích thịt cá.

Tổ thứ hai phái Trúc Lâm là thiền sư Pháp Loa. Trước kia mẹ ngài sanh liền tám người con gái, đến ngài bà nghĩ rằng đứa con này cũng là gái nên uống thuốc phá thai nhưng đều vô hiệu. Ngài sanh ra, có những đặc điểm khác thường, không nói lời ác, không ăn thịt cá. 

Niên hiệu Hưng Long thứ mười hai (1304), Điều Ngự (Nhân Tông) dạo đi các nơi, phá dâm từ (miếu thờ thần không chánh đáng) và ban pháp dược, đến mạn sông Nam Sách. Sư đến lễ bái xin xuất gia, năm này Sư được hai mươi mốt tuổi. Điều Ngự trông thấy bằng lòng, nói: “Kẻ này có đạo nhãn, sau ắt làm pháp khí, vui vẻ tự đến đây.” Ngài bèn cho hiệu là Thiện Lai, dẫn về liêu Kỳ Lân ở Linh Sơn cạo tóc và thọ giới Sa-di. Ngài dạy đến tham vấn với hòa thượng Tánh Giác ở Quỳnh Quán. Ở đây, Sư tìm đủ cách thưa hỏi mà không được khai ngộ. Sư tự đọc bộ kinh Hải Nhãn (có lẽ kinh Lăng-nghiêm) đến bảy chỗ hỏi tâm và đoạn dụ khách trần ở sau, xem đi xem lại nhiều lần, bỗng nhiên Sư có chỗ vào. Sư từ tạ hòa thượng Tánh Giác, trở về tham yết với Điều Ngự.

Gặp lúc Điều Ngự thượng đường, Sư ra thưa hỏi liền được tỉnh. Điều Ngự nhận biết bèn cho Sư theo hầu hạ. Một hôm, Sư trình cả ba bài tụng, bị Điều Ngự chê cả. Sư thưa thỉnh mấy phen, Điều Ngự dạy phải tự tham. Sư vào phòng đầu óc nặng trĩu, thức đến quá nửa đêm, trông thấy bông đèn tàn rụng xuống, Sư chợt đại ngộ. Sư đem chỗ ngộ trình lên Điều Ngự, ngài thầm nhận ấn khả. Từ đây, Sư thệ tu theo mười hai hạnh đầu-đà (khổ hạnh).

Đến niên hiệu Hưng Long thứ mười ba (1305), Điều Ngự đem Sư lên liêu Kỳ Lân cho thọ giới Tỳ-kheo và giới Bồ-tát. Thấy chỗ tham học của Sư đã thành đạt, Điều Ngự cho hiệu là Pháp Loa.

Năm Hưng Long thứ mười lăm (1307), Sư được hai mươi bốn tuổi, Điều Ngự trụ am ở quán Thiên Bảo có bảy tám người thị giả mà Sư là đứng đầu. Điều Ngự vì Sư giảng Đại Huệ Ngữ Lục. Đến tháng năm, Điều Ngự lên ở am trên đảnh Ngọa Vân Phong. Ngày rằm làm lễ Bố-tát (sám hối tụng giới) xong, Điều Ngự đuổi mọi người xuống, lấy y bát và viết tâm kệ trao cho Sư, dạy khéo gìn giữ.

Điều Ngự lên đỉnh Ngọa Vân Phong cất am là Ngọa Vân Am. Tại đây, Điều Ngự trao y bát và tâm kệ cho ngài Pháp Loa. 

Năm Hưng Long thứ mười sáu (1308) vào ngày mùng một tháng giêng, Sư vâng lệnh Điều Ngự làm lễ nối pháp Trụ trì tại nhà Cam Lồ chùa Siêu Loại. Khai lễ có vua Anh Tông và đình thần đến dự. Điều Ngự lên đàn thuyết pháp rồi nhường chỗ cho Sư giảng đạo. Lễ xong, Điều Ngự đặt Sư kế thế trụ trì chùa Siêu Loại và làm chủ sơn môn Yên Tử, là đời thứ hai của phái Trúc Lâm. Điều Ngự còn trao cho Sư hơn hai trăm bộ kinh sử và bảo Anh Tông sung cúng vào chùa cả trăm khoảnh ruộng.

Tháng mười một năm ấy (1308), Điều Ngự tịch, Sư phụng mạng cung nghinh xá-lợi về kinh đô. Trở về núi, Sư soạn lại những bài tụng của Điều Ngự lúc ở Thạch Thất làm thành quyển Thạch Thất Mỵ Ngữ.

Năm Hưng Long thứ mười chín (1311), Sư phụng chiếu tiếp tục khắc bản Đại tạng kinh. Sư giao Bảo Sát làm chủ việc này. Tháng tư, Sư giảng Truyền Đăng Lục tại chùa Siêu Loại. Sau đó, Huyền Quang trình kiến giải, Sư đều chấp nhận.

Năm Hưng Long thứ hai mươi mốt (1313) vào tháng chín, Sư phụng chiếu đến chùa Vĩnh Nghiêm ở Lạng Giang định chức cho tăng đồ. Chúng tăng từ đây mới có sổ bộ, chính Sư là người cầm sổ bộ ấy. Lúc đó, Sư độ hơn một ngàn vị tăng. Về sau cứ ba năm một lần độ tăng như thế.

Năm Đại Khánh thứ tư (1317) đời Trần Minh Tông, vào tháng hai, Sư bệnh nặng. Sư đem y của Điều Ngự và viết bài tâm kệ trao cho Huyền Quang, pháp khí và gậy trao cho Cảnh Ngung, phất tử trao cho Cảnh Huy, gậy tre trao cho Huệ Quán, pháp thư và pháp cụ trao cho Huệ Nhiên, linh vàng trao cho Hải Ấn, sử vàng trao cho Huệ Chúc. Sau ít hôm, bệnh Sư được lành.

Những hàng thái hậu, công chúa, vương công, quý khanh đều thỉnh Sư truyền giới xuất gia hoặc giới Bồ-tát, cho đến vua Trần Anh Tông cũng xem như đệ tử. Họ đua nhau cúng đất, vàng, tiền để Sư lập chùa, đúc tượng Phật, in kinh quá nhiều, đến nỗi Sư phải tự xin giảm dần những số quyên cúng, thuyền của vua cấp cho Sư tiện việc đi lại và về kinh đô, Sư cũng từ chối không nhận.

Năm đầu Khai Hựu (1329) đời Trần Hiến Tông, Sư mở thêm cảnh Côn Sơn và Thanh Mai Sơn, làm thành danh lam thắng cảnh. 

Sư có làm bài thơ đề là Luyến Thanh Sơn:

Âm:

Sơ sấu cùng thu thủy,

Sàm nham lạc chiếu trung.

Ngang đầu khán bất tận,

Lai lộ hựu trùng trùng.

Dịch: 

Thưa gầy làn nước vút,

Chót vót ánh soi trong.

Ngẩng đầu coi chẳng hết,

Đường tới lại trùng trùng.

           (Trần Tuấn Khải)

Một hôm mở hội thuyết pháp, Sư lên tòa nói: 

- Đại chúng! Nếu nhắm thẳng vào đệ nhất nghĩa đế mà nói, thì động niệm liền sai, mở miệng là lầm, làm sao mà xét? Làm sao mà quán? Hôm nay căn cứ vào đầu thứ hai mà nói, cũng không được thế ấy.

Sư bèn nhìn hai bên nói: 

- Trong đây có người nào đầy đủ con mắt lớn chăng? Nếu có, hai cặp chân mày chẳng cần vén lên. Bằng không, bần đạo chẳng khỏi miệng nói ba hoa, đề ra những điều hủ mục, đáp những lời tạp nhạp. Chỉ vì các ông nhồi lại thành một khối hỗn độn. Lắng nghe! Lắng nghe!

Thường khi thiền sư chuẩn bị nói pháp, các ngài nói những lời vàng ngọc. Ngài Pháp Loa lại nói: Miệng nói ba hoa, đề ra những điều hủ mục, đáp những lời tạp nhạp. Chỉ vì các ông nhồi lại thành một khối hỗn độn. Lắng nghe! Lắng nghe! Vậy là sao? Những lời này có phải thứ hỗn độn đó không? Người xưa nói ra lời nào đều muốn chỉ thẳng chỗ chân thật cho người, chứ không bao giờ nói những điều quanh co. Nếu nói việc khác dù là Phật pháp vẫn xem là lời tạp nhạp.

Đại đạo rộng suốt nào có ràng buộc, bản tánh lặng lẽ không thiện không ác. Bởi do chọn lựa chợt sanh nhiều lỗi, vừa khởi mảy may đã cách xa trời đất. Phàm thánh vốn đồng một mối, phải quấy đâu có hai đường. Cho nên biết, tội phước vốn không, cứu cánh nhân quả chẳng thật. 

Đại đạo rộng suốt nào có ràng buộc, bản tánh lặng lẽ không thiện không ác. Nhiều người nghe lời này lầm tưởng đạo Phật không có thiện ác. Hiểu như vậy là chưa đúng. Về bản tánh thì không có thiện ác nhưng trên nghiệp tướng thì thiện ác rõ ràng.

Ví như nước không dậy sóng, nước chỉ là nước. Nước dậy sóng là do duyên với gió, gió thổi càng mạnh thì sóng càng to. Nước biển dụ cho tâm thể, sóng dụ cho vọng tưởng, gió dụ cho pháp trần. Nước vốn không dậy sóng tức tâm thể hằng hữu bất động. Song khi gió thổi, sóng nổi dậy, tức là pháp trần lưu trữ trong tàng thức gặp duyên dấy lên, ý thức liền duyên thành vọng tưởng. Cũng vậy, có nghiệp thiện ác là do duyên, chứ tâm vốn không thiện ác. Thấy người ác, chúng ta khuyên họ tránh điều ác là việc thiện. Người nghe hay không nghe là chuyện của họ, nếu chúng ta nổi giận thì việc thiện trở thành ác mất rồi. Làm việc thiện thì trước sau đều thiện, không phải lúc đầu khởi tâm thiện khuyên răn người, người không nghe lại nổi giận, nói lời sai trái tạo nghiệp ác; như vậy là thiệt thòi cho mình. Chúng ta cứ hết lòng khuyên, họ không nghe thì thôi. Những người như thế là người đáng thương chứ không đáng giận, nhưng thế tình lại giận mà không chịu thương, cũng vì chấp thiện là tốt, ác là xấu. Đó là chấp trên giả tướng, chứ bản tánh con người vốn không có thiện ác.

Khi chúng ta khởi tâm suy tính việc này việc nọ, nghĩ người có bóng dáng người, nghĩ vật có bóng dáng vật, tâm đó là tướng dấy động. Khi không suy nghĩ, gió thổi biết mát, người đi thấy người, chim kêu nghe chim kêu, tánh thấy nghe biết đó không có tướng mà đã sẵn nơi mình từ thuở nào. Thế mà chúng ta không biết, cứ chạy theo những thứ giả tạm bên ngoài rồi cho là mình, gặp duyên tốt nghĩ chuyện tốt, gặp duyên xấu nghĩ chuyện xấu. Vậy mà đòi thành Phật. Còn niệm thiện ác có thành Phật được không? 

Phật dạy người có tâm thiện được sanh ba cõi lành: trời, người, a-tu-la. Người mang tâm ác phải chịu sanh ba đường dữ: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chừng nào dứt niệm thiện ác mới giải thoát sanh tử. Phật cũng đã dạy rằng mỗi người chúng ta đều có tánh Phật, vậy mà ta cứ nghĩ tánh Phật đó của ai, chẳng phải của mình. Mình có đủ khả năng giải thoát sanh tử mà không chịu nhớ, cứ đuổi theo sanh tử rồi hài lòng với những cái đó. Rõ ràng chúng ta đang tự chuốc lấy khổ vào mình. 

Đức Phật muốn cứu chúng sanh thoát khổ mà nói gì họ cũng không nghe, buộc lòng ngài phải dùng nhiều phương tiện: thọ tam quy ngũ giới để đời sau được làm người sung sướng, tu thập thiện để lên cõi trời... Song, đó chỉ là những phương tiện chứ không phải thật. Cái thật sẵn có là bản tánh lặng lẽ hằng tri giác, không dấy niệm, không thiện không ác. 

Ngài nói bởi do chọn lựa, chợt sanh nhiều lỗi, vừa khởi mảy may đã cách xa trời đất. Chọn lựa là suy tính, vừa có một niệm rất nhỏ dấy lên là đã cách xa bản tánh của mình như trời với đất. Suy nghĩ là cách xa cái chân thật, không suy nghĩ là đang sống với cái chân thật. Suy nghĩ nhiều thì nhọc, không suy nghĩ thì thảnh thơi. Vậy mà chúng ta không ưng thảnh thơi, có quyền thảnh thơi nhưng không chịu hưởng, cứ rên rỉ, than thở sao cuộc đời khổ quá, không có phút giây nào yên ổn. Thật đáng thương!

Phàm thánh vốn đồng một mối, tức là đồng một tâm trong sáng yên lặng như nhau. Chúng ta bỏ quên cái đó nên là phàm, biết sống trở lại với cái đó là thánh. Vậy phàm thánh cách nhau bao xa? Ai cũng có quyền làm thánh mà không ưng, cứ cắm đầu lạy Phật, xin Phật cho con cái này cái kia. Đó là tự mình chuốc khổ, chứ Phật không bắt buộc.

Phải quấy không có hai đường. Chỗ này chúng ta phải thấy cho tường tận. Ví như ngày xưa râu tóc để dài thì tốt, bây giờ để dài khó coi. Như vậy cái phải của ngày xưa là cái quấy của ngày nay. Và ngược lại, cái phải của ngày nay là cái quấy của ngày xưa. 

Có hai vợ chồng tính chuyện làm ăn, người vợ tính thế này, người chồng tính thế kia. Ai cũng cho mình là phải, không ai chịu nhường ai. Đến khi mỗi người thực thi việc làm ăn của mình thất bại, chừng đó mới biết suy nghĩ của mình chưa đúng. Thế nên trong việc làm ăn, gặp thời thì việc đó là phải, không gặp thời thì thành quấy. Tóm lại, phải quấy là tạm bợ hư dối, không có thật. 

Chúng ta biết phải quấy là tạm bợ rồi thì không nên giận dỗi khi suy nghĩ của mình và người chẳng tương đồng. Bằng không chúng ta sẽ sống trong sự giành giật cãi vã hoài, không bao giờ yên ổn. Suy nghĩ của chúng ta chỉ là những kinh nghiệm đã qua, không phải chân lý. Ngày hôm qua làm sao giống được với ngày hôm nay, thế mà chúng ta cứ bám vào đó rồi chịu khổ. Đó là điều không nên. Người hiểu biết chân chánh, không chấp vào phải quấy mới có được cuộc sống an ổn và mối tương giao hòa hợp với mọi người.

Cho nên biết, tội phước vốn không, cứu cánh nhân quả chẳng thật. Chúng ta thường nghe nhân quả là lẽ thật, đã tạo nhân thì phải chịu quả. Đó là cách hiểu về nhân quả trên sự tướng thế gian. Song, nhân quả là sự biến chuyển sanh diệt, nếu nhân không thật, quả được hưởng cũng không thật. Cho nên nói cứu cánh nhân quả chẳng thật. Chẳng thật là đối với người ngộ, còn với người mê thì nhân quả rõ ràng, không sao tránh được.

Người người sẵn đủ, kẻ kẻ trọn thành. Phật tánh pháp thân như hình như bóng, tùy ẩn tùy hiện, chẳng tức chẳng ly. Lỗ mũi duỗi thẳng xuống, chân mày nằm ngang mặt, ở trên mắt mà không dễ gì nhìn thấy.

Người người sẵn đủ, tức là ai ai cũng có tâm tri giác thường hằng nơi mình. Tánh giác đó luôn hiện tiền, mê cũng có tỉnh cũng có. Chỉ vì chúng ta quên nên chịu làm người mê, nhận ra liền giác. Kẻ kẻ trọn thành, tức là biết quay về nhận lại cái sẵn đủ thì thành tựu. Thế nhưng có người biết quay về, có người không. Trong kinh Pháp Hoa, Phật nói chúng ta như con ông trưởng giả bỏ nhà đi lang thang, đến khi trở về, nhận lại cha thì có được của báu. Hoặc như có kẻ nghèo khổ được bạn tặng cho viên ngọc quý mà không biết, cứ lần mò đi ăn xin. Tới chừng người bạn chỉ cho viên ngọc quý đang cột trong chéo áo, anh mới hết lang thang. Rõ ràng chúng ta có sẵn của báu mà bỏ quên, không chịu lấy ra xài, đành chấp nhận làm kẻ cùng tử lang thang. Phật thương chúng sanh mê muội mà nói pháp đến bốn mươi chín năm không hề mệt mỏi. Chúng ta bây giờ muốn giúp đỡ người nào, nói hai ba ngày họ không nghe là bỏ liền. Vậy mới thấy tâm Phật từ bi rộng lớn dường nào. 

Người người sẵn đủ, kẻ kẻ trọn thành. Ai có đủ tỉnh giác, người đó sẽ thành Phật. Hiểu được điều này, chúng ta mới thấm ý nghĩa cao siêu của việc tu hành. Phật tánh, pháp thân như hình như bóng, tùy ẩn tùy hiện, chẳng tức chẳng ly. Phật tánh pháp thân đối với thân này như hình với bóng không tách rời nhau, nhưng tùy duyên khi ẩn khi hiện, chúng ta quên thì nó ẩn, nhớ ra thì nó hiện. Chẳng tức chẳng ly nghĩa là pháp thân không phải là thân quả báo nhưng cũng không lìa thân quả báo này. 

Lỗ mũi duỗi thẳng xuống, chân mày nằm ngang mặt, ở trên mắt mà không dễ gì nhìn thấy. Hình ảnh này cụ thể làm sao. Chân mày nằm ngang, mũi duỗi thẳng xuống, mày ngang mũi dọc ngay trên mặt mà không nhìn thấy, chỉ thấy mắt mũi của thiên hạ, không thấy mắt mũi của mình. Ý nói cái chân thật luôn hiện tiền, chúng ta lại không thấy không nhận, quên mất cái thật của chính mình, giống như quên chân mày và lỗ mũi vậy. 

Cần phải tìm xét, đâu chẳng nghe nói: “Ba ngàn pháp môn đồng về tấc vuông, hà sa diệu dụng đều ở nguồn tâm”? Nên nói: Cửa giới cửa định cửa tuệ, ông không thiếu sót, cần phải phản quán nơi mình. Phàm những tiếng ho tiếng tằng hắng, nhướn mày chớp mắt, tay cầm chân đi, ấy là tánh gì? Biết được tánh này, ấy là tâm gì? 

Ba ngàn pháp môn đồng về tấc vuông, hà sa diệu dụng đều ở nguồn tâm. Ba ngàn pháp môn Phật nói đều từ tâm, không từ nơi nào khác. Tất cả diệu dụng nhiều vô số như cát sông Hằng, cũng từ nguồn tâm. Cho nên giới, định, tuệ luôn đầy đủ, chúng ta phản quan nhìn lại mới nhận thấy được. Ba cửa giải thoát ngay nơi mình, chẳng ở đâu xa. 

Phàm những tiếng ho tiếng tằng hắng, nhướn mày chớp mắt, tay cầm chân đi, ấy là tánh gì? Biết được tánh này, ấy là tâm gì? Tiếng ho là tiếng tự nhiên, nhướn mày chớp mắt cũng không cần phải suy nghĩ. Tất cả biểu thị đó là tánh biết sẵn có nơi mỗi người. Nhận được tánh giác, ấy là tâm tỉnh giác.

Tâm tánh rỗng sáng, cái nào phải, cái nào chẳng phải? Pháp tức là tánh, Phật tức là tâm. Tánh nào chẳng phải là pháp? Tâm nào chẳng phải là Phật? Tức tâm tức Phật, tức tâm tức pháp. Pháp vốn chẳng phải pháp, pháp tức là tâm. Tâm vốn chẳng phải tâm, tâm tức là Phật.

Tâm tánh rỗng sáng, cái nào phải, cái nào chẳng phải? Vì tâm là rỗng sáng, không phân biệt phải quấy hơn thua, nên tâm không có phải quấy. 

Pháp tức là tánh, Phật tức là tâm. Tất cả pháp tánh là Không, cái Không là cái sẵn. Ví như cái đồng hồ là giả nên chúng ta có thể tháo hết các bộ phận của nó ra, nếu đồng hồ là thật thì không tháo được. Vậy các bộ phận của đồng hồ đều là duyên hợp tạm bợ, không phải cái sẵn có, mà cái sẵn có của đồng hồ là Không. Người nào nhìn đồng hồ thật là mê. Người biết đồng hồ không thật là tỉnh. Thế thì chúng ta đang tỉnh hay mê?

Chúng ta biết thân này giả tạm không thật. Nhưng đến khi gặp việc tốt xấu thì thân này liền thật, quay lại tuồng mê của chính mình, không thoát ra được. Bởi do không thấy đúng như thật, chỉ thấy qua sách vở và nghe giảng. Nếu muốn thấy đúng như thật, phải huân tu lâu ngày nhiều tháng, bằng không gặp cảnh liền quên mất. 

Tánh nào chẳng phải là pháp? Tâm nào chẳng phải là Phật? Tất cả tánh đều chỉ cho cái sẵn có. Tâm là cái biết, tâm biết là tâm Phật. 

Tức tâm tức Phật, tức tâm tức pháp. Pháp tức là tánh, Phật tức là tâm. Cái sẵn là Không, nên pháp tánh là Không. Cái biết pháp tánh Không chính là tâm giác, tức tâm Phật. Ngay nơi tâm mình không có nghĩ suy lăng xăng thì tâm đó là Phật. Vì tâm không hình tướng nên tức là pháp. 

Pháp vốn chẳng phải pháp, pháp tức là tâm. Tâm vốn chẳng phải tâm, tâm tức là Phật. Tất cả pháp không có gì thật, do tâm biết mới có các pháp. Tất cả tâm biết đều không phải tâm, mới là tâm Phật.

Các nhân giả! Ngày tháng dễ dàng qua, mạng người không chờ đợi, sao cam ăn cháo ăn cơm mà chẳng rõ việc bát việc muỗng? Tham!

Ngài khuyên: Các nhân giả! Ngày tháng dễ dàng qua, mạng người không chờ đợi, sao cam ăn cháo ăn cơm mà chẳng rõ việc bát việc muỗng? Việc bát việc muỗng là đồ dùng để ăn mà không biết. Chỗ này chúng ta phải nhìn cho thấu đáo. Hằng ngày mình biết đi biết nói, biết làm tất cả, đó là có cái chân thật hiện tiền. Thế mà chúng ta không biết tâm thì chẳng khác nào ăn cơm mà không biết bát muỗng.

Có vị tăng bước ra nói: 

- Mặc áo ăn cơm là việc tầm thường, đâu cần phải sanh nghi ngờ?

Ông lễ bái xong, đứng dậy hỏi: 

- Cõi Thiền không dục là khỏi hỏi, cõi Dục không thiền xin nói cho một câu.

Sư lấy tay điểm trong hư không. Vị tăng nói: 

- Dùng đàm dãi cổ nhân làm gì?

- Mỗi lần nhắc lại mỗi lần mới.

Chỗ này đối đáp có hơi lạ thường. Tăng hỏi: Cõi Thiền không dục là khỏi hỏi, cõi Dục không thiền xin nói cho một câu. Ngài lấy tay điểm trong hư không. Bởi vì chúng sanh mê muội, quên đi cái thật của mình nên cõi Dục là không thiền. Cũng như lấy tay điểm vào hư không, không ai để ý tới, đó là cõi Dục không thiền. 

Vị tăng nói: Dùng đàm dãi cổ nhân làm gì? Người xưa đã làm như vậy, ngài bắt chước theo làm chi? Ngài nói: Mỗi lần nhắc lại mỗi lần mới. Tuy người xưa đã làm nhưng hôm nay ta nhắc lại cho ông, đó là cái mới chứ không phải cái cũ của cổ nhân.

Vị tăng thưa: 

- Cổ nhân đều hỏi: “Thế nào là Phật, thế nào là Pháp, thế nào là Tăng?” Chỉ đây thế nào? Việc ấy thế nào?

Sư đáp: 

- Thế nào? Việc ấy thế nào?

Vị tăng thưa: 

- Trên đàn không dây tri âm ít,

Cao vút tiếng đàn cha con hòa...

(Một huyền cầm thượng tri âm thiểu,

Phụ tử đàn lai cách điệu cao...)

Khi vị tăng hỏi việc ấy thế nào, ngài hỏi lại thế nào, chứ không đáp thêm nữa. Câu nói ấy cũng là trả lời. Vì tất cả cái hỏi đều là cái biết.

Vị tăng thưa:

Trên đàn không dây tri âm ít,

Cao vút tiếng đàn cha con hòa…

Đàn không dây mà thầy trò hòa được rồi. Vị tăng tỏ ra đã ngộ, đã hiểu. 

Một hôm Sư nghe đồ chúng tụng kinh, bèn hỏi:

- Chúng làm gì?

Có vị tăng ra thưa: 

- Chúng niệm Phật tâm.

Sư bảo: 

- Nếu nói là tâm, tâm tức không Phật. Nếu bảo là Phật, Phật tức không tâm. Thế gọi cái gì là tâm?

Vị tăng ấy đáp không được.

Thấy chúng tụng kinh, ngài hỏi: Chúng làm gì? Có vị tăng thưa: Chúng niệm Phật tâm, nên ngài hỏi lại: Nếu nói là tâm, tâm tức không Phật. Nếu bảo là Phật, Phật tức không tâm. Thế gọi cái gì là tâm? Vị tăng không đáp được. 

Sư lại hỏi vị tăng khác: 

- Chúng làm gì?

Tăng thưa: 

- Niệm Phật.

Sư bảo: 

- Phật vốn không tâm thì niệm cái gì?

Tăng thưa: - Chẳng biết.

Sư bảo: 

- Ngươi đã chẳng biết, vậy nói đó là ai?

Tăng không đáp được.

Ngài bảo: Phật vốn không tâm thì niệm cái gì? Tăng thưa: Chẳng biết. Tưởng đáp như vậy là ổn, nhưng ngài hỏi lại: Ngươi nói chẳng biết, vậy nói đó là ai? Nói chẳng biết thì người nói đó là ai nói? Chúng ta thường bị lầm như vậy, biết rõ ràng mà nói chẳng biết. Vị tăng không đáp được. 

Gần mãn đời Sư, kiểm những công tác Phật sự: đúc tượng Phật kể cả lớn và nhỏ có hơn một ngàn ba trăm (1300) vị; tạo đại già-lam được hai ngôi. Xây tháp được năm ngọn; lập tăng đường hơn hai trăm (200) sở; độ tăng và ni hơn một muôn năm ngàn (15000) người; in được một bộ Đại tạng kinh; đệ tử đắc pháp hơn ba ngàn (3000) người; thành Đại pháp sư có sáu vị.

Năm Khai Hựu thứ hai (1330) ngày mùng năm tháng hai, Sư phát bệnh, trong hội giảng kinh Hoa Nghiêm tại An Lạc tàng viện. Đến ngày mười một thì bệnh rất nặng. Ban đêm Huyền Quang đứng hầu, thấy Sư ngủ mà nói ra tiếng: “Hồng! Hồng!” Huyền Quang liền thưa: 

- Tôn giả nói mớ chăng?

Sư đáp: 

- Ngủ thì nói mớ, chẳng ngủ thì chẳng nói mớ.

Huyền Quang: - Đâu thể ngủ với thức là một?

Sư bảo: 

- Ngủ với thức là một.

Huyền Quang: 

- Đâu thể bệnh cùng chẳng bệnh là một?

Sư bảo: 

- Bệnh cũng chẳng có can gì y, chẳng bệnh cũng chẳng can gì y.

Huyền Quang: 

- Tại sao lại có tiếng nói ra ngoài?

Sư bảo: 

- Nghe tiếng gió thổi cây thì thế nào?

Huyền Quang: 

- Tiếng gió thổi cây, người nghe chẳng lầm, trong khi ngủ mà nói mớ thì dễ lầm người.

Sư bảo: 

- Người ngu cũng vẫn lầm tiếng gió thổi cây.

Huyền Quang: 

- Chỉ một bệnh này đến chết cũng chẳng mạnh.

Sư bèn đạp. Huyền Quang lui ra.

Đọc đoạn này có nhiều người hiểu lầm, cho rằng ngài Huyền Quang hay hơn ngài Pháp Loa. Ngài Pháp Loa bị Huyền Quang hỏi một hồi giận quá đạp một cái! Vậy ngài Pháp Loa không tới đâu, chỉ Huyền Quang là cao siêu. Hiểu như vậy thật quá lệch lạc. 

Khi ngài Pháp Loa ngủ thốt ra những tiếng “Hồng! Hồng!”, ngài Huyền Quang hỏi: Tôn giả nói mớ chăng? Pháp Loa đáp: Ngủ thì nói mớ, chẳng ngủ thì chẳng nói mớ. Nếu ngủ tức là mê thì có mớ, còn không mê thì đâu có mớ. Huyền Quang hỏi: Đâu thể ngủ với thức là một. Pháp Loa bảo: Ngủ với thức là một. Khi chúng ta tu chưa đến nơi đến chốn thì ngủ khác, thức khác. Nếu tu đến nơi rồi thì ngủ với thức không hai. 

Huyền Quang nói: Đâu thể bệnh cùng chẳng bệnh là một? Ngài Pháp Loa không nói một mà nói: Bệnh cũng chẳng có can gì y, chẳng bệnh cũng chẳng can gì y. Câu trả lời rất hay. Bệnh là thân tứ đại bệnh, còn cái kia không bệnh nên không can gì y.

Thiền sư Đức Sơn Tuyên Giám khi có bệnh, tăng đến thăm hỏi: “Thế nào là cái chẳng bệnh?” Ngài liền bảo: “Ui da! Ui da!” Thân này bệnh, chứ cái biết rên “ui da” không có bệnh. Chúng ta hiểu được lẽ này và ứng dụng vào sự tu, nếu không may gặp bệnh cũng không sợ hãi. Thân này là tướng duyên hợp tạm bợ, tâm thường hằng tựa bên trong, khi thân tan rã thì tâm không còn tựa vào nữa. Cho nên nói “gá thân mộng, dạo cảnh mộng” là vậy.

Ở Trung Hoa có thiền sư Đả Táo Đọa do đập bể ông Táo rơi xuống đất mà thành danh. Ngài tu ở vùng núi Xuân Sơn với một số đồ chúng. Một hôm, ngài dẫn chúng đi dạo núi, đến gần thung lũng thấy một miếu thờ, dân chúng làm thịt bò trâu heo dâng cúng liên miên. Hỏi ra mới biết vị thần Táo ở miếu này rất linh, cầu gì được nấy. Nghe rồi, ngài cầm gậy vô miếu, thấy trên bàn thờ có để ba viên gạch, ngài lấy gậy gõ vào đó, nói: “Đây là do gạch đất hợp thành, linh từ đâu lại, thiêng ở chỗ nào?” Nói xong, ngài đập một gậy, ba viên gạch bể nát rơi xuống đất. Lát sau trên đường đi, ngài gặp một vị mũ xanh áo xanh quỳ trước mặt. Ngài hỏi:

- Ông là ai?

- Con là thần Táo trong miếu đến tạ ơn Hòa thượng.

Ngài nói:

- Ta đã làm gì mà ngươi tạ ơn?

- Nhờ ơn Hòa thượng nói lý vô sanh mà con tỉnh ngộ, thác sanh lên cõi trời, bỏ thân đọa đày trong bao nhiêu đời ở tại miếu này. 

Nói xong, ông đảnh lễ rồi biến mất. 

Chúng ta gá vào thân này giống như thần Táo gá vào ba cục gạch vậy. Gá cái biết vào tứ đại đất nước gió lửa để phát ra công dụng, rồi bám vào đất nước gió lửa cho là mình. Vậy khi đất nước gió lửa tan rã thì hết cái mình không? Cái biết đó mới thật là mình, không bị sanh diệt theo đất nước gió lửa. Vậy mà chúng ta không nhớ, cứ bám vào thân này cho là mình rồi chấp giữ, giữ không được thì khóc lóc khổ sở. Rõ ràng chúng ta quên đi cái thật, đeo đẳng cái giả mà không tự biết.

Tóm lại, bệnh là thân bệnh, chứ cái biết không bệnh. Cho nên nói dù bệnh hay không bệnh cũng không can gì y.

Huyền Quang hỏi: Tại sao lại có tiếng nói ra ngoài? Nếu không can gì y, tại sao lại nói mớ, tức là có tiếng nói ra ngoài? Pháp Loa bảo: Nghe tiếng gió thổi cây thì thế nào? Khi chúng ta ở rừng thông, nghe gió thổi lá thông reo. Người bệnh khi thở ra có tiếng động cũng giống như tiếng gió thổi ngoài cây, có gì lạ đâu. Huyền Quang nói: Tiếng gió thổi cây, người nghe chẳng lầm, trong khi ngủ mà nói mớ thì dễ lầm người. Nghe gió thổi cây, biết tiếng gió thổi cây, còn khi ngủ thốt ra những tiếng lại làm người lầm tưởng muốn nói cái gì. 

Sư bảo: Người ngu cũng vẫn lầm tiếng gió thổi cây. Huyền Quang nói: Chỉ một bệnh này đến chết cũng chẳng mạnh. Tức là bệnh của Thầy đến chết cũng chẳng mạnh. Đây là lời khen hay chê? Đối với trong đạo, lời nói đó là khen, cho nên ngài Pháp Loa mới lấy chân đạp, ngài Huyền Quang lui ra, đó là một hình ảnh đẹp vô cùng. Nhưng người sau không hiểu tưởng ngài Huyền Quang chê ngài Pháp Loa: chỉ một bệnh này đến chết cũng chẳng mạnh, nên ngài Pháp Loa giận đạp một cái. Hiểu như vậy là sai lầm. 

Nhớ ngày xưa khi đức Phật nhập Niết-bàn, ngài Ca-diếp đang ở xa nên không có mặt khi nhục thân Phật được đặt vào kim quan chờ ngày trà-tỳ. Ngài Ca-diếp hay tin Phật Niết-bàn mới dẫn đồ chúng đi về, nhiễu kim quan Phật ba vòng rồi đảnh lễ. Khi ấy hai bàn chân Phật duỗi ra khỏi kim quan, ngài Ca-diếp quỳ xuống vuốt bàn chân Phật. Đó là hình ảnh truyền tâm trong giờ phút cuối cùng. Như vậy cái đạp của tổ Pháp Loa chính là lời phó chúc. 

Từ đây bệnh lại giảm xuống. Đến ngày mười ba, Sư trở về viện Quỳnh Lâm nơi phương trượng cũ mà nằm. Đệ tử các nơi dồn về thưa hỏi xin kệ. Sư vẫn đối đáp và tùy người cho kệ, không biết mệt mỏi.

Đến ngày mùng một tháng ba, thượng hoàng Trần Minh Tông đích thân đến thăm bệnh và gọi thái y đến trị cho Sư.

Đến tối mùng ba bệnh Sư trở lại nặng.

Huyền Quang thưa: 

- Xưa nay đến chỗ ấy, buông đi là tốt hay nắm lại là tốt?

Sư bảo: - Thảy đều không can hệ.

Huyền Quang: 

- Khi thảy đều không can hệ thì thế nào?

Sư bảo: - Tùy xứ tát-bà-ha.

Đệ tử đồng đến thỉnh: 

- Người xưa lúc sắp tịch đều có để kệ dạy đệ tử sao riêng Thầy không có?

Sư quở trách họ. Giây lâu bèn ngồi dậy bảo đem giấy viết lại. Sư viết một bài kệ:

Âm:

Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn,

Tứ thập dư niên mộng huyễn gian,

Trân trọng chư nhân hưu tá vấn,

Na biên phong nguyệt cánh man khoan.

Dịch:

Muôn duyên cắt đứt, một thân nhàn,

Hơn bốn mươi năm giấc mộng tràng,

Nhắn bảo mọi người thôi chớ hỏi,

Bên kia trăng gió rộng thênh thang.

Muôn duyên cắt đứt, một thân nhàn, cắt đứt được muôn duyên thật là nhàn hạ thảnh thơi.

Hơn bốn mươi năm giấc mộng tràng, hơn bốn mươi năm, vì ngài thọ được bốn mươi bảy tuổi, chỉ là giấc mộng dài thôi. 

Nhắn bảo mọi người thôi chớ hỏi, khuyên các ông đừng hỏi ta chi nữa.

Bên kia trăng gió rộng thênh thang, bên đây là sanh diệt, bên kia là vô sanh. Khi nhắm mắt về bên kia thì mênh mông, chẳng có gì lo bận. Ra đi như vậy thật thảnh thơi. 

Viết xong, Sư ném bút, an nhiên thị tịch, thọ 47 tuổi. Đệ tử theo lời phó chúc của Sư, đem nhục thể lên nhập tháp tại Thanh Mai Sơn.

Hiện giờ Thanh Mai Sơn vẫn còn chân tháp của ngài, trong tháp có nhục thân thiền sư Pháp Loa. 

Đến ngày mười một tháng ba, Thái thượng hoàng ngự bút ban hiệu Sư là Tịnh Trí Tôn Giả, tháp tên Viên Thông, tặng mười lượng vàng để xây tháp và đề một bài thi vãn:

Âm:

Thùy thủ trần hoàn dĩ liễu duyên,

Giác Hoàng kim lũ đắc nhân truyền.

Thanh Sơn mạn thảo quan tàng lý,

Bích thọ thâm sương xác thuế thiền.

Dạ yểm giảng đường kim cổ nguyệt,

Hiểu mê trượng thất hữu vô yên.

Tương đầu châm giới ta phi tích,

Trác tựu ai chương phí lệ huyền.

Dịch:

Đã hết duyên trần thõng tay đi,

Giác Hoàng kim tuyến được truyền y.

Thanh Sơn cỏ mọc che phần mộ,

Cây biếc trong sương để xác ve.

Đêm phủ giảng đường trăng kim cổ,

Ngày ngày trượng thất khói mờ che.

Thân mến biết bao, ôi luyến tiếc!

Nhớ công giáo hóa lệ đầy mi.

Những tác phẩm của Sư còn lưu truyền lại có:

- Đoạn Sách Lục.

- Tham Thiền Chỉ Yếu. (Thiền Đạo Yếu Học?)

- Kim Cương Đạo Tràng Đà-la-ni Kinh.

- Tán Pháp Hoa Kinh Khoa Sớ.

- Bát-nhã Tâm Kinh Khoa.

Và một bài kệ thị tịch...

Cuộc đời ngài đến bốn mươi bảy tuổi là viên mãn. Tuy tuổi thọ ngắn, nhưng việc làm của ngài đã thành tựu rất nhiều: độ tăng ni tu hơn mười lăm ngàn người, độ Phật tử thì nhiều vô số khó mà đếm hết, khắc bản in Đại tạng kinh, cất chùa đắp tượng, làm rất nhiều Phật sự.

***

PHỤ LỤC

Chúng tôi trích dịch vài bài trong tập Thiền Đạo Yếu Học của Sư để chúng ta hiểu phần nào tư tưởng Sư đối với Thiền đạo.

PHÁP NGỮ

Chúng tôi giảng giải về những lời dạy của ngài Pháp Loa để cho quý vị biết rõ tinh thần của chư tổ Trúc Lâm từ Sơ Tổ tới Nhị Tổ. 

Đầu tiên là bài Khuyến Xuất Gia Tiến Đạo Ngôn.

Dịch:

LỜI KHUYÊN XUẤT GIA TIẾN ĐẠO

Kính khuyên chúng xuất gia học đạo, hãy xét kỹ những lời này: 

Chúng ta nghiệp dày phước mỏng, ra đời chẳng gặp thời chánh pháp, đức Thích-ca đã nhập diệt, đức Di-lặc chưa sanh, thánh hiền ẩn bóng, tà pháp thịnh hành, than ôi buồn thay!

Những vị xuất gia, vốn vì đền đáp bốn trọng ân, nghĩ cứu giúp ba đường khổ. Nếu muốn đạt được tâm Phật ý Tổ, biết sanh hiểu tử, trước phải học hai pháp. Thế nào là hai? Một, phải học ba thứ pháp. Hai, phải học pháp cầu thầy.

1. Ba thứ pháp là: Rõ tông sư, biện pháp chân ngụy, biết thiện ác.

a. Rõ tông sư - Kinh Bản Hạnh nói: Từ trước Tổ sư thuyết pháp những gì? Có bao nhiêu người đắc đạo nối pháp truyền tông, đến nay thầy nào, chúng nào đáng học?

b. Biện pháp chân ngụy - Nếu pháp chân là thường giữ giới luật, y pháp tiến tu. Nếu pháp ngụy, như trong lời lục của Đại Huệ nói: Bàn luận ngoại đạo, phỏng đoán nghĩa lý, lập làm tông chỉ, rồi trao truyền cho nhau.

c. Biết thiện ác - Nếu gần gũi bạn lành là thường khuyên mình sám hối để diệt những tội lỗi trước, siêng năng tìm thiện tri thức, tu hành tinh tấn... Nếu gần gũi bạn ác thì miệng nói xuất gia mà tâm làm theo nghiệp thế tục, tự làm và dạy người làm, tâm không biết hổ thẹn.

Trên là ba pháp nên gần gũi và không nên gần gũi.

2. Phải học pháp cầu thầy - Như trong Lễ Tán nói: “Thường ở trong tùng lâm của thiện tri thức, hằng nằm trong khuôn vức của tổ sư. Đó là phương pháp chọn bạn tìm thầy vậy.”

Nếu người đầy đủ cả hai pháp trên, tức là đã đạt được tâm Phật ý Tổ và biết sanh hiểu tử.

Này các người! Bên trong đã bỏ cha mẹ, bên ngoài thì không thông Phật pháp, tự xưng là tu hành, vậy tu hành là cái đạo gì? Các người nên xét kỹ lời nói này. Trong kinh Đại Báo Phụ Mẫu Ân nói: “mười tháng mang thai, ba năm bú sú, ân nào sánh bằng” mà các người còn bỏ được, huống là những kẻ bên ngoài? Thế lại bo bo chấp tình thầy trò, không thể cởi bỏ, không phược trở lại tìm phược, không trói lại cầu trói. Chỉ vì tham cầu lợi dưỡng, chẳng sợ trầm luân. Hoặc đắm mê danh vọng ở đời, hoặc tự mình không hiểu không biết, ấy đều là bọn vô minh vậy.

Từ trước, các tổ sư hành đạo tu thiền, tâm đồng với hư không, mặc đến mặc đi, hoặc nam hoặc bắc, tham thiền hỏi đạo, nhân duyên hội ngộ thì tự lợi lợi tha, ấy mới thật là Phật pháp. 

✵✵✵

LỜI KHUYÊN XUẤT GIA TIẾN ĐẠO

(Khuyến xuất gia tiến đạo ngôn)

Giảng:

Kính khuyên chúng xuất gia học đạo, hãy xét kỹ những lời này: Chúng ta nghiệp dày phước mỏng, ra đời chẳng gặp thời chánh pháp, đức Thích-ca đã nhập diệt, đức Di-lặc chưa sanh, thánh hiền ẩn bóng, tà pháp thịnh hành, than ôi buồn thay!

Ngài khuyên nhắc chúng ta phải ý thức được thân phận của mình sanh ra nhằm thời nào. Vì chúng ta nghiệp dày phước mỏng, nên khi ra đời, đức Phật Thích-ca đã nhập diệt, chẳng gặp thời chánh pháp. Giáo pháp của đức Phật được chia ra ba thời: chánh pháp, tượng pháp và mạt pháp. Thời chánh pháp là năm trăm năm đầu từ khi Phật còn tại thế, thời tượng pháp là năm trăm năm kế tiếp, và sau đó là thời mạt pháp. 

Hiện nay chúng ta sanh ra nhằm thời mạt pháp, việc tu tập thật quá muộn màng. Phật Thích-ca đã nhập diệt, Phật Di-lặc chưa sanh, ở khoảng giữa này thánh hiền ẩn bóng, tà pháp thịnh hành, than ôi buồn thay! Các bậc thánh hiền đã ẩn, pháp tà lại thịnh, thật đáng buồn cho thân phận người xuất gia trong thời này. 

Những vị xuất gia, vốn vì đền đáp bốn trọng ân, nghĩ cứu giúp ba đường khổ. 

Là người xuất gia, chúng ta phải hiểu rõ lý tưởng của người tu là muốn trên đền đáp bốn trọng ân, dưới cứu giúp ba đường khổ. Bốn trọng ân là ân cha mẹ, ân thầy tổ, ân quốc gia và ân đàn-na thí chủ. Ba đường khổ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. 

Nếu muốn đạt được tâm Phật ý Tổ, biết sanh hiểu tử, trước phải học hai pháp. Thế nào là hai? Một, phải học ba thứ pháp. Hai, phải học pháp cầu thầy.

1. Ba thứ pháp là: rõ tông sư, biện pháp chân ngụy, biết thiện ác.

a. Rõ tông sư - Kinh Bản Hạnh nói: Từ trước Tổ sư thuyết pháp những gì? Có bao nhiêu người đắc đạo nối pháp truyền tông, đến nay thầy nào, chúng nào đáng học?

Muốn đạt được tâm ý Phật tổ, chúng ta phải biết rõ cuộc sống hiện đời của mình thế nào, sau khi chết sanh về đâu... Hiểu cho tường tận mới đúng tinh thần người xuất gia cầu đạo giải thoát. Người muốn học đạo, trước hết phải tìm thầy. Ngài không nói ý riêng mà dẫn kinh làm chứng. Kinh Bản Hạnh dạy: Từ trước Tổ sư thuyết pháp những gì? Có bao nhiêu người đắc đạo nối pháp truyền tông, đến nay thầy nào, chúng nào đáng học? Chúng ta phải hiểu từ đức Phật đến chư tổ truyền đạo thế nào, và hiện nay thầy nào chúng nào đáng cho mình đến học. Đây là điều hết sức quan trọng. 

Nhiều người ham tu nhưng không biết rõ đâu là tà, đâu là chánh, gặp ai cũng tu theo. Rốt cuộc từ tâm chân chánh tốt đẹp, lâu ngày biến thành lôi thôi, đạo lý sơ sài, có khi phải rơi vào đường tà. Đó là điều rất đáng lo ngại. Thế nên bước đầu vào đạo là phải tìm những bậc tông sư nắm vững đường lối của Phật tổ chỉ dạy, nương theo tu học. Như vậy mới không đi lệch đường. 

b. Biện pháp chân ngụy - Nếu pháp chân là thường giữ giới luật, y pháp tiến tu. Nếu pháp ngụy, như trong lời lục của Đại Huệ nói: Bàn luận ngoại đạo, phỏng đoán nghĩa lý, lập làm tông chỉ, rồi trao truyền cho nhau.

Biện pháp chân ngụy tức là phân biệt pháp nào chánh, pháp nào tà, chứ không phải người nào dạy đạo Phật cũng là chánh. Cho nên phải chú tâm theo dõi để phân biệt rành rẽ chánh tà. Nếu là pháp chân thật thì pháp đó dạy chúng ta phải giữ gìn giới luật, y theo chánh pháp tiến tu. Nếu pháp ngụy, như trong lời lục của Đại Huệ nói: Luận bàn giáo lý của ngoại đạo, rồi phỏng đoán nghĩa lý, nghĩ thế nào nói thế ấy mà không y cứ vào kinh điển, vào giới luật, đó là pháp ngụy. Cứ như vậy mà truyền dạy cho nhau. Chúng ta đi tu là muốn tiến lên thành người hay người tốt, nay tu nhầm tà pháp thì tự nhiên đi lệch hướng, thật là uổng đi một đời tu.

c. Biết thiện ác - Nếu gần gũi bạn lành là thường khuyên mình sám hối để diệt những tội lỗi trước, siêng năng tìm thiện tri thức, tu hành tinh tấn... Nếu gần gũi bạn ác thì miệng nói xuất gia mà tâm làm theo nghiệp thế tục, tự làm và dạy người làm, tâm không biết hổ thẹn.

Trên là ba pháp nên gần gũi và không nên gần gũi.

Ngài dạy chúng ta về pháp thiện và pháp ác. Bạn lành thường khuyên mình ăn năn sám hối, chừa những lỗi trước. Siêng năng tìm thiện tri thức là siêng năng tìm những người bạn lành, những thầy giỏi khuyến khích mình tu hành tinh tấn. Khi tìm được rồi thì phải tu hành tinh tấn, không bê trễ, đó là pháp thiện. 

Bạn ác là những người tuy xuất gia mà tâm làm theo nghiệp thế tục. Mình đã làm chuyện thế tục, còn dạy người khác làm theo mà tâm không biết hổ thẹn, lại thấy hài lòng thỏa mãn, đó là pháp ác. Trường hợp này hiện nay rất phổ biến. Cho nên, chúng ta phải khéo nhìn cho kỹ để nương theo tu tập. 

2. Phải học pháp cầu thầy - Như trong Lễ Tán nói: Thường ở trong tùng lâm của thiện tri thức, hằng nằm trong khuôn vức của Tổ sư. Đó là phương pháp chọn bạn tìm thầy vậy.

Thường ở trong tùng lâm của thiện tri thức, tức là phải luôn luôn ở trong chỗ đông đảo có những bậc thầy đáng tin tưởng để hướng dẫn mình. Hằng nằm trong khuôn vức của Tổ sư, tức là tu theo Phật theo Tổ. Phật đã nhập Niết-bàn rồi thì chư tổ truyền thừa, chúng ta nương theo các ngài mà tu hành, không nên nương theo những người có hình thức tu mà tâm không tu. Đó là phương pháp chọn bạn tìm thầy vậy. 

Nếu người đầy đủ cả hai pháp trên, tức là đạt được tâm Phật ý Tổ và biết sanh hiểu tử.

Biết sanh là mỗi ngày làm cái gì nắm vững cái đó, không sai chạy. Chúng ta biết rõ mình đang đi con đường nào, đang sống theo chánh pháp hay tà pháp, ngay nơi cuộc sống này nắm vững không nghi ngờ, đó là biết trong lúc sanh. Khi hết duyên ra đi thì biết rõ mình sẽ đi đường nào, trở lại làm người hay tiến lên làm trời, hay đời sau tiếp tục tu hành để được giác ngộ. Đó là biết tử. Chúng ta tu theo đạo Phật, giữ tròn năm giới thì biết sẽ trở lại làm người, tu thập thiện thì đời sau sanh lên cõi trời, nếu tu để được giác ngộ thì sau này tiếp tục đi trên con đường giác ngộ. Nắm vững được lẽ thật này, chúng ta biết mình đang làm gì và chết đi về đâu. Biết rõ ràng không nghi đó là biết rõ sanh tử. 

Này các người! Bên trong đã bỏ cha mẹ, bên ngoài thì không thông Phật pháp, tự xưng là tu hành, vậy tu hành là cái đạo gì? 

Người chí thân bên trong là cha mẹ, chúng ta đã bỏ; bên ngoài là đạo lý, chúng ta học cũng không thông; thế mà tự xưng là tu hành, vậy tu cái đạo gì? Nếu nói tu Phật thì phải thông hiểu Phật pháp. Nếu không hiểu thì mang hình thức người tu mà chẳng xứng đáng là người tu. Câu hỏi này phải đáp như thế nào? 

Các người nên xét kỹ lời nói này. Các người phải tự vấn và tự trả lời, người khác không đáp thế được.

Trong kinh Đại Báo Phụ Mẫu Ân nói: “mười tháng mang thai, ba năm bú sú, ân nào sánh bằng” mà các ngươi còn bỏ được, huống là những kẻ bên ngoài? Thế lại bo bo chấp tình thầy trò, không thể cởi bỏ, không phược trở lại tìm phược, không trói lại cầu trói. 

Công ơn cha mẹ sâu dày, người xuất gia còn bỏ, huống là kẻ bên ngoài. Thế mà lại chấp tình thầy trò, chấp tình huynh đệ, không thể cởi bỏ, không bị buộc trói mà trở lại tìm cầu buộc trói! Chúng ta vào đạo tu hành với mục đích là giải thoát sanh tử, thế mà vào đạo lỡ gặp những vị thầy không chân chánh thì không dám bỏ, để tìm thầy chân chánh học đạo. Đó là bo bo chấp tình thầy trò, dám bỏ cha mẹ mà không dám bỏ thầy, không dám bỏ huynh đệ. Thật là đáng trách. 

Chỉ vì tham cầu lợi dưỡng, chẳng sợ trầm luân. Hoặc đắm mê danh vọng ở đời, hoặc tự mình không hiểu không biết, ấy đều là bọn vô minh vậy.

Đi tu chỉ vì tham cầu lợi dưỡng, sợ thiếu thốn đói khát mà không sợ rơi trong ba đường khổ hay trầm luân trong tam giới. Đi tu mà chỉ tham danh tham lợi, không hiểu biết chi cả! Ấy đều là bọn vô minh chứ không phải là người quyết chí tu hành. 

Từ trước, các Tổ sư hành đạo tu thiền, tâm đồng với hư không, mặc đến mặc đi, hoặc nam hoặc bắc, tham thiền hỏi đạo, nhân duyên hội ngộ thì tự lợi lợi tha, ấy mới thật là Phật pháp.

Chư tổ ngày xưa tu hành, tâm đồng với hư không, không dính mắc, cho nên mặc tình đến mặc tình đi, không có gì ràng buộc. Hoặc đi phương nam hoặc đi phương bắc, cốt làm sao tìm hỏi cho ra đạo lý, nhân duyên hội ngộ thì tự lợi lợi tha. Được như vậy mới thật là người ở trong Phật pháp, bằng không tức là bọn vô minh. 

Đó là lời khuyên thiết tha của tổ Pháp Loa đối với người xuất gia vậy. 

***

Dịch:

KHUYÊN CHÚNG THƯỢNG THỪA TAM HỌC 

(Thượng Thừa Tam Học Khuyến Chúng Phổ Thuyết)

Là người học Phật trước phải thấy tánh. Thấy tánh, không phải có tánh bị thấy. Nói thấy, là thấy chỗ không thể thấy mà thấy vậy. Cho nên nói thấy, thấy không phải thấy, thì chân tánh hiện. Tánh thấy là vô sanh, sanh thấy thì chẳng phải có, chẳng có cái tánh thật, mà thấy thật không dời đổi. Thế nên gọi là chân thật thấy tánh.

Sau khi thấy tánh, phải gìn giữ giới cho thanh tịnh. Thế nào là giới thanh tịnh? Nghĩa là trong mười hai giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn. Vì tâm không loạn động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Mắt không vì cái sở duyên của thức mà chạy ra, thức không vì cái sở duyên của cảnh mà chun vào. Ra vào không giao thiệp nên gọi là ngăn chặn. Tuy nói ngăn chặn mà không phải ngăn chặn. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Đó gọi là giới Đại thừa, là giới vô thượng cũng gọi là giới vô đẳng đẳng. Tịnh giới này, dù Tiểu tăng cho đến bậc Đại tăng đều phải gìn giữ.

Nhân giữ giới vững chắc không động, kế đó mới tập thiền. Cái yếu chỉ của thiền định là thân tâm đều xả. Trước tập định tâm, thường tự suy xét: thân này từ đâu mà đến, tâm này từ đâu mà có? Tâm không thật có thì từ đâu có thân? Thân tâm đều không thì pháp từ đâu mà có? Pháp không thật có, vì không có cái có, cái có có đó từ đâu mà có? Cái có có đó đã không thì không có pháp có. Mỗi pháp chẳng phải pháp thì mỗi pháp nương vào đâu? Không có chỗ dựa nương thì pháp không phải mỗi pháp. Pháp này không thật cũng chẳng phải không thật. Chứng được thật pháp mới hay chứng nhập thiền.

Người tu tập thiền định không được chấp dụng công; dụng mà không có chỗ dụng, gọi là Thiền thượng thừa. Ngoài tham thoại đầu không cho gián đoạn, miên mật liên tục không có kẽ hở, cũng không điên đảo, không trạo cử cũng không hôn trầm. Phải trong sáng như viên ngọc lăn trên mâm, phải sáng suốt như gương trên đài. Đến chỗ đất này, đi cũng được, đứng cũng được, ngồi cũng được, nằm cũng được, nói hay nín đều cũng được, có chỗ nào lại không được?

Đã được thế rồi, về sau mới nêu lên những câu ngộ: tam quan, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tứ liệu giản, tứ tân chủ, tứ chiếu dụng v.v... các cơ quan của thiền tổ. Bảy phen soi tám phen dùi, nhồi đi ép lại, thấu triệt chân nguyên. Chừng đó, mới hay mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương, nắm sừng thỏ, nhổ lông rùa, tay hoa một phen chuyển, bốn chúng thảy mịt mờ. Phát sanh vô thượng diệu tuệ, chiếu soi không cùng. Đối với tứ vô lượng tâm, tứ niệm xứ, tứ vô úy, bát chánh đạo, thập lực của Phật, mười tám pháp bất cộng, cho đến tám muôn bốn ngàn môn đà-la-ni, trần trần sát sát, tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình lưu xuất mỗi mỗi đều đầy đủ.

Tuệ đã đầy đủ, ban cho chúng sanh, nguyện lực không cùng tận, tự giác giác tha, tứ sanh và cửu loại, tất cả đều được thấm nhuần. Nếu tuệ mà không định gọi là càn tuệ (tuệ khô), định mà không tuệ gọi là si thiền. 

Thiền có chia làm năm: 1- Phàm phu thiền, 2- Ngoại đạo thiền, 3- Tiểu thừa thiền, 4- Đại thừa thiền, 5- Thượng thừa thiền. Đây nói thiền, chính là Thượng thừa thiền vậy. Thiền này, từ đức Phật Tỳ-lô-giá-na trải qua số kiếp bất khả thuyết bất khả thuyết đến đức Phật Thích-ca-mâu-ni. Đức Thích-ca truyền xuống cho hai mươi tám vị tổ ở Ấn Độ và sáu vị tổ ở Trung Hoa, rồi tổ tổ trao tay cho nhau truyền bá khắp nơi, tính không thể hết được. Các vị đều do giới này, định này, tuệ này mà được chứng ngộ, thật không có pháp nào khác.

Các chú! Các chú đã vào trong chùa làm ông đạo, làm học trò, chỉ cầu danh dự mà chẳng chịu tham đến chỗ, cái gì là chỗ hạ thủ của Phật tổ? Cái gì là chỗ dụng tâm của ngoại đạo, Tiểu thừa? Luống để cho ngày lại tháng qua, lăng xăng tìm cầu bên ngoài. Một phen cái chết đến rồi phải làm sao? Đâu là nơi an thân lập mạng? Vả lại, ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, chính mình không có một mảy may. Một hôm nào đó, vua Diêm-la đến ắt không thể tha cho ngươi. Ngươi sao chẳng chịu xét lại, chớ lấy các việc trong mộng, rồi bác không nhân quả, mênh mang bát ngát chiêu ương họa. Như thế chẳng những làm đồi bại tông môn, mà cũng khiến suy tàn chánh pháp.

Ôi! Tôi còn biết nói gì hơn!

KHUYÊN CHÚNG THƯỢNG THỪA TAM HỌC

(Thượng thừa tam học khuyến chúng phổ thuyết)

Giảng:

Khuyên chúng Thượng thừa tam học. Tam học là giới định tuệ. Đây nói về giới định tuệ của Thượng thừa, không phải của Nhị thừa hay Bồ-tát thừa. 

Là người học Phật, trước phải thấy tánh. Thấy tánh, không phải có tánh bị thấy. Nói thấy, là thấy chỗ không thể thấy mà thấy vậy. Cho nên nói thấy, thấy không phải thấy, thì chân tánh hiện. Tánh thấy là vô sanh, sanh thấy thì chẳng phải có, chẳng có cái tánh thật, mà thấy thật không dời đổi. Thế nên gọi là chân thật thấy tánh.

Là người học Phật, trước phải thấy tánh. Phàm người học Phật thì phải thấy tánh. Thấy tánh, không phải có tánh bị thấy. Ví dụ như chúng ta nói “tôi thấy bình hoa” thì bình hoa là cái bị thấy, còn tôi là cái hay thấy, như vậy tôi và bình hoa là hai. Cũng vậy, mình muốn thấy tánh thì tánh là cái bị thấy và mình là cái hay thấy, cái bị thấy và mình là hai. 

Tánh thấy là sẵn có. Thấy tánh nghĩa là chúng ta nhận nơi mình có tánh tri giác bất sanh bất diệt, nhận rõ không chút nghi ngờ, đó gọi là thấy tánh. Nhiều người không hiểu cứ nghĩ thấy tánh là thấy tánh mình bằng mắt, nếu tánh mình mà thấy được thì vô lý. Nếu là tánh mình thì người ngoài thấy chứ mình không thấy, còn mình thấy là thấy tánh của người khác chứ không phải tánh mình. 

Nói thấy, là thấy chỗ không thể thấy mà thấy vậy. Tánh vốn không hình tướng nên không thể thấy, nhưng chúng ta nhận ra được gọi là thấy tánh. Thấy tánh là nhận ra nơi mình có cái chân thật không hình tướng mà hằng liễu tri. Cho nên nói thấy, thấy không phải thấy, thì chân tánh hiện. Thấy mà không thể thấy vì nó không có hình tướng, nên không thể thấy. 

Tánh thấy là vô sanh, sanh thấy thì chẳng phải có. Tánh thấy là vô sanh vì chân tánh không sanh không diệt. Chẳng có cái tánh thật, mà thấy thật không dời đổi. Chẳng có tánh thật vì tánh không hiện tướng để thấy, thấy thật không dời đổi vì tánh luôn hằng biết. Thế nên gọi là chân thật thấy tánh. Chân thật thấy tánh là như vậy.

Sau khi thấy tánh, phải gìn giữ giới cho thanh tịnh. Thế nào là giới thanh tịnh? Nghĩa là trong mười hai giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn. Vì tâm không loạn động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Mắt không bị thức duyên mà chạy ra, thức không bị cảnh duyên mà đem vào. Ra vào không giao thiệp nên gọi là ngăn chặn. Tuy nói ngăn chặn mà không phải ngăn chặn. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Đó gọi là giới Đại thừa, là giới Vô thượng cũng gọi là giới Vô đẳng đẳng. Tịnh giới này, dù Tiểu tăng cho đến bậc Đại tăng đều phải gìn giữ.

Khi nhận ra được bản tánh rồi thì bên ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn động. Vì tâm không loạn động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Cảnh đến là cảnh gì? Vì tâm không loạn động nên mắt thấy sắc, tai nghe tiếng mà chúng ta vẫn không chạy theo, vẫn an nhàn.

Mắt không bị thức duyên mà chạy ra, thức không bị cảnh duyên mà đem vào. Mắt thấy sắc mà thức không chạy ra phân biệt thương ghét, sắc cũng không chun vào con mắt để mình nhớ. Bởi vì thức không chạy ra để phân biệt dính mắc nên nó cũng không chun vào. Như vậy sáu căn mắt tai mũi lưỡi thân ý duyên với sáu trần sắc thanh hương vị xúc pháp mà không chạy ra cũng không chun vào, bình thản tự tại. Khi sáu căn không dính với sáu trần là giữ giới thanh tịnh trọn vẹn. Giới trong nhà thiền chỉ như vậy. 

Ra vào không giao thiệp nên gọi là ngăn chặn. Tuy nói ngăn chặn mà không phải ngăn chặn. Thật ra đâu có gì ngăn chặn. Thấy cảnh, nghe tiếng không chạy theo thì có ngăn chặn gì đâu. Thế nhưng chúng ta quá bén nhạy, mắt thấy sắc liền phân biệt đẹp xấu, tai nghe tiếng liền phân biệt phải quấy. Cả ngày chúng ta mắc kẹt trong đó nên phải ráng giữ giới. Nếu thấy cảnh không chạy theo, không vướng mắc thì giới tự tròn đủ. Giữ giới là giữ cội rễ của giới chứ không phải là cái bên ngoài. Giữ bên ngoài có thể sơ sót nhưng chặn đứng cái gốc của nó thì hết sơ sót. 

Trong kinh A-hàm, Phật nói có một bầy khỉ đi ăn, khỉ chúa luôn kêu gọi các khỉ con trong đàn phải theo đàn, đừng đi riêng lẻ sẽ bị nguy hiểm. Nhưng có một con khỉ đi theo đàn kiếm ăn không được nhiều nên nó buồn và nghĩ rằng: “Thôi mình tách đàn đi riêng, biết đâu kiếm được mồi nhiều, ăn ngon hơn, theo đàn không đủ chia.” Thế là nó tách đàn đi riêng. 

Khỉ con đi đến đúng chỗ thợ săn đặt mồi, mồi thật là ngon nhưng bên cạnh có mấy cây nhựa làm bẫy. Con khỉ thấy mồi, vì còn nhỏ chưa kinh nghiệm nên nhảy vào chụp mồi. Tay thứ nhất vừa đưa vào liền trúng bẫy nên dính nhựa, nó lúng túng lấy tay thứ hai gỡ, nhưng vừa đưa vào liền dính luôn, còn lại hai chân sau, nó lấy chân thứ ba quào cho tróc không ngờ cũng dính vào bẫy, còn chân sau cùng nó nghĩ là còn có thể cứu được nên đưa chân đạp mạnh cho bẫy rớt ra, không ngờ lại dính sâu hơn nữa. Tay chân đều dính vào bẫy, chỉ còn hy vọng dùng miệng gỡ nên nó hả miệng cạp để gỡ tay chân, nhưng miệng lại dính luôn. Không biết làm sao, chỉ còn có cái đuôi ngúc ngoắc, nó vận dụng hết sức lấy đuôi giật ra không ngờ dính luôn cái đuôi. Như vậy sáu bộ phận của con khỉ đều dính chặt vào bẫy nhựa, gã thợ săn đến nhẹ nhàng cột nó quảy về. 

Phật nói bẫy nhựa là sáu trần, sáu bộ phận của khỉ là sáu căn, thợ săn là ma vương. Một khi chúng ta lọt vào bẫy ma và bị dẫn đi rồi thì hết vùng vẫy. Mỗi người tự kiểm xem sáu căn của mình có dính với sáu trần không? Nếu dính thì ma vương dẫn đi ngay, không thoát khỏi. 

Tu hết sức giản đơn, chỉ cần giữ sáu căn không dính với sáu trần thì không ai phá mình nổi. Nhưng chúng ta thường dính nhiều thứ, không buông bỏ được. Vì sáu căn dính với sáu trần nên chúng sanh đi trong luân hồi sanh tử không có ngày cùng. Ví dụ bây giờ mình không muốn làm phiền ai nhưng có người cứ tìm cách nặng nhẹ mình hoài. Chúng ta nghe những lời nặng nhẹ đó mà thản nhiên tự tại thì không dính bẫy, còn chịu không nổi là dính liền. Ngay khi tai nghe mà không bị lời nói lôi cuốn làm cho mắc kẹt là chúng ta đã giữ giới rồi.

Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Đó gọi là giới Đại thừa, là giới Vô thượng cũng gọi là giới Vô đẳng đẳng. Tịnh giới này, dù Tiểu tăng cho đến bậc Đại tăng đều phải gìn giữ. Từ mắt rồi nghiệm qua tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Tức là sáu căn đối với sáu trần, không chạy ra không chun vào. Giới này Tiểu tăng hay Đại tăng cũng đều phải giữ. Giới Đại thừa hay giới Vô thượng tức là giới không gì hơn, Vô đẳng đẳng là không có gì sánh bằng. Đây là chỉ cho giới cao tột. 

Đối với người tu thiền, giữ giới là ở chỗ sáu căn đối với sáu trần không cho chạy ra, không cho chun vào. Tức là giữ sáu căn không bị thức duyên ra, cảnh chun vào, đó gọi là giới Đại thừa, giới Vô thượng, giới Vô đẳng đẳng, không còn gì hơn, không có gì sánh bằng. 

Nhân giữ giới vững chắc không động, kế đó mới tập thiền. Cái yếu chỉ của thiền định là thân tâm đều xả. Trước tập định tâm, thường tự suy xét: Thân này từ đâu mà đến? Tâm này từ đâu mà có? Tâm không thật có thì từ đâu có thân? Thân tâm đều không thì pháp từ đâu mà có? Pháp không thật có, vì không có cái có, cái có có đó từ đâu mà có? Cái có có đó đã không thì không có pháp có. Mỗi pháp chẳng phải pháp thì mỗi pháp nương vào đâu? Không có chỗ dựa nương thì pháp không phải mỗi pháp. Pháp này không thật cũng chẳng phải không thật. Chứng được thật pháp mới hay chứng nhập thiền.

Nhân giữ giới vững chắc không động, kế đó mới tập thiền. Cái yếu chỉ của thiền định là thân tâm đều xả. Chúng ta thấy được thật pháp, chừng đó mới chứng được thiền. Muốn tâm an định, thân tâm đều phải buông xả. Tâm không hình tướng thì xả được, thân tứ đại mấy chục ký này làm sao xả?

Trước tập định tâm, thường tự suy xét: Thân này từ đâu mà đến? Thân này không phải sẵn có mà đợi duyên cha mẹ mới có nên thân này không thật. Ví như bình hoa không có sẵn, cắm hoa vào mới có bình hoa, bỏ những cành hoa đi thì bình hoa cũng không còn. Đã là duyên hợp thì tự nó không sẵn có, không sẵn có thì không thật. Như vậy xét cho cùng, thân này từ duyên mà đến. 

Tâm này từ đâu mà có? Gặp cảnh liền dấy niệm khởi ra phân biệt tốt xấu hơn thua. Vậy thì tâm này cũng từ duyên mà có, là hư dối, không thật. Tâm không thật có thì từ đâu có thân? Tâm này là tâm phân biệt hơn thua phải quấy, chúng ta tìm xem tâm phân biệt từ đâu mà có, tìm cho kỹ thì tâm phân biệt không có. Nên nói tâm không thật có, thì từ đâu có thân? Tâm đã không thật có thì thân này thật có được chăng?

Thân tâm đều không thì pháp từ đâu mà có? Xét kỹ thân tâm đều không thật thì các pháp, tức sự vật bên ngoài có thật hay không? Thân do duyên hợp, tâm do duyên hợp nên không thật, thế thì sự vật bên ngoài do duyên hợp cũng không thật. Pháp không thật có, vì không có cái có, cái có có đó từ đâu mà có? Cái có có đó đã không thì không có pháp có. Pháp tức là sự vật, không thật có. Đã không thật có thì cái có có đó từ đâu mà có? Đều là duyên hợp, đều không thật. 

Mỗi pháp chẳng phải pháp, thì mỗi pháp nương vào đâu? Mỗi pháp, mỗi vật đã không thật, thì nương vào đâu mà gọi là có cái này, có cái kia? Đã là hư giả thì lấy cái gì làm gốc của các pháp? Không có chỗ dựa nương thì pháp không phải mỗi pháp. Vì không có chỗ nương thật, nên mỗi sự vật đều là không thật. Ví dụ đây là quyển sách, kia là đồng hồ, mỗi pháp đều không có chỗ nương thì mỗi pháp đều là không thật. 

Pháp này không thật cũng chẳng phải không thật. Sự vật hiện hữu là không thật, nhưng cũng chẳng phải không thật, tại sao? Đứng về giả tướng duyên hợp thì các pháp là không thật, nhưng thật tánh hay tánh không của tất cả pháp đâu phải là không! Chứng được thật pháp, mới hay chứng nhập thiền. Tất cả pháp là không, không thật, duyên hợp hư giả, tánh nó là không. Thấy được tánh không đó rồi, mới đi tới chỗ chứng nhập thiền. 

Chúng ta tu đến khi nhìn thấy các sự vật đều không có tự tánh, tánh nó là không, duyên hợp hư giả, thì chúng ta không còn bận tâm với các pháp nữa. Thế nên phải thâm nhập lý Bát-nhã rồi mới nhập được thiền. Muốn bước vào cảnh giới thiền, trước phải thấu suốt lý Bát-nhã, thấy rõ thân tâm và cảnh cả ba đều không thật. Thấy được lẽ thật đó thì sự tu mới dễ dàng. 

Người tu tập thiền định không được chấp dụng công, dụng mà không có chỗ dụng, gọi là Thiền thượng thừa. 

Người tu thiền không được chấp dụng công. Nếu khi đi cứ một bề ngó xuống, không cho ai đối diện với mình, thấy ai cũng tránh né, đó là chấp dụng công, chưa phải thật thiền. Người tự tại thì đi chơi cũng tự tại, đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói nín thảy đều an nhiên, không cần ngồi yên mới tự tại.

Thiền là thấy người, thấy cảnh, thấy vật mà tâm không dính mắc. Dụng công mà không chỗ dụng tức là không cho tâm dính mắc nhưng thấy vẫn thấy, nghe vẫn nghe, đó là Thiền thượng thừa. 

Ngoài tham thoại đầu không cho gián đoạn, miên mật liên tục không có kẽ hở, cũng không điên đảo, không trạo cử cũng không hôn trầm. Phải linh hoạt như viên ngọc lăn trên mâm, phải sáng suốt như gương trên đài. Đến chỗ đất này, đi cũng được, đứng cũng được, ngồi cũng được, nằm cũng được, nói hay nín đều cũng được, có chỗ nào lại không được?

Ngài Pháp Loa được Sơ Tổ chấp nhận cho xuất gia rồi, liền được gửi đến thiền sư Tánh Giác. Cho nên, có lẽ ban đầu ngài tập tu thoại đầu. Theo lối tu thoại đầu, muốn cho được miên mật thì ứng dụng phương tiện là tham thoại đầu, cốt làm sao linh hoạt như viên ngọc lăn trên mâm, sáng như gương trên đài. Đến chỗ đó thì đi đứng nằm ngồi đều tự tại. Chúng ta bây giờ không tu theo thoại đầu, chỉ cần thấy các pháp không thật, tâm vừa dấy niệm liền bỏ không chạy theo, thế thì đi đứng nằm ngồi cũng an nhiên. Tâm không chạy theo cảnh mà vẫn sáng suốt rõ ràng không tối tăm, đó là thiền chân thật. 

Đã được thế rồi, về sau mới nêu lên những câu ngộ: tam quan, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tứ liệu giản, tứ tân chủ, tứ chiếu dụng v.v... các cơ quan của thiền tổ. Bảy phen soi tám phen dùi, nhồi đi ép lại, thấu triệt chân nguyên. Chừng đó, mới hay mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương, nắm sừng thỏ, nhổ lông rùa, tay hoa một phen chuyển, bốn chúng thảy mịt mờ. Phát sanh vô thượng diệu tuệ, chiếu soi không cùng. Đối với tứ vô lượng tâm, tứ niệm xứ, tứ vô úy, bát chánh đạo, thập lực của Phật, mười tám pháp bất cộng, cho đến tám muôn bốn ngàn môn đà-la-ni, trần trần sát sát, tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình lưu xuất mỗi mỗi đều đầy đủ.

Đoạn trên ngài nói về giới và thiền định, đến đây là phần tuệ. 

Đã được thế rồi, về sau mới nêu lên những câu ngộ: tam quan, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tứ liệu giản, tứ tân chủ, tứ chiếu dụng v.v... các cơ quan của thiền tổ. Bảy phen soi tám phen dùi, nhồi đi ép lại, thấu triệt chân nguyên. Người tu thiền khi nắm được những cơ quan thiền tổ thì phải chịu khó soi cho phủng, dùi cho thấu và xét tới xét lui, đây gọi là nhồi đi ép lại để thấu triệt nguồn chân. Chừng đó mới được tự tại, như ngài Duy-ma-cật mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương, như nắm sừng thỏ nhổ lông rùa, biến cái có thành không, cái không thành có. 

Đối với tứ vô lượng tâm, tứ niệm xứ, tứ vô úy, bát chánh đạo, thập lực của Phật, mười tám pháp bất cộng, cho đến tám muôn bốn ngàn môn đà-la-ni, trần trần sát sát, tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình lưu xuất mỗi mỗi đều đầy đủ. Người đạt đạo rồi, đối với tất cả pháp của Phật dạy đều soi thấu. Và tất cả pháp của Phật dạy đều nằm trong cái thấy cái biết, cái trình bày của chính mình. 

Ngài nói một loạt các danh từ, nhưng không nằm ngoài ba môn giới định tuệ. Giới là giữ sáu căn không dính với sáu trần. Nhờ pháp tu thoại đầu hoặc biết vọng mà tâm được yên tịnh trong sáng. Tâm không nghĩ tưởng mà vẫn rõ ràng thường biết, đó là định. Từ đó, chúng ta thấu suốt lời dạy của chư Tổ, nắm vững pháp Phật không có nghi ngờ, đó là tuệ.

Tuệ đã đầy đủ, ban cho chúng sanh, nguyện lực không cùng tận, tự giác giác tha, tứ sanh và cửu loại, tất cả đều được thấm nhuần. Nếu tuệ mà không định gọi là càn tuệ (tuệ khô), định mà không tuệ gọi là si thiền.

Người tu thiền phải có đủ định và tuệ. Nếu định mà không tuệ đó là định si, tuệ mà không định là tuệ khô. 

Thiền có chia làm năm: 1- Phàm phu thiền, 2- Ngoại đạo thiền, 3- Tiểu thừa thiền, 4- Đại thừa thiền, 5- Thượng thừa thiền. Đây nói thiền, chính là Thượng thừa thiền vậy. Thiền này, từ đức Phật Tỳ-lô-giá-na trải qua số kiếp bất khả thuyết bất khả thuyết đến đức Phật Thích-ca-mâu-ni. Đức Thích-ca truyền xuống cho hai mươi tám vị tổ ở Ấn Độ và sáu vị tổ ở Trung Hoa, rồi tổ tổ trao tay cho nhau truyền bá khắp nơi, tính không thể hết được. Các vị đều do giới này, định này, tuệ này mà được chứng ngộ, thật không có pháp nào khác.

Phật Tỳ-lô-giá-na là chỉ Phật pháp thân. Phật pháp thân đã có sẵn từ vô số kiếp, đức Phật Thích-ca-mâu-ni đã phát hiện và ngài đã sống được rồi chỉ dạy lại, truyền cho hai mươi tám vị tổ ở Ấn Độ, sáu vị tổ ở Trung Hoa và trao lần cho đến sau này. 

Thiền tông là thiền Tối thượng thừa. Vì sao? Ở thiền Nguyên thủy, Phật dạy người tu nếu tâm ái dục nặng thì phải quán bất tịnh, tâm sân hận nặng thì tu pháp nhẫn nhục hoặc từ bi. Mỗi pháp trị mỗi tâm bệnh, trị hết bệnh này rồi qua bệnh kia. Phật nói chúng sanh có tám muôn bốn ngàn bệnh, ngài cũng có đủ tám muôn bốn ngàn pháp để trị bệnh cho chúng sanh. Như vậy tu đủ tám muôn bốn ngàn pháp đó thì bao lâu mới thành Phật? Có khi phải trải qua vô số kiếp. 

Thiền tông tu từ gốc tham sân si. Biết rõ tham sân si từ đâu dấy khởi thì buông ngay. Đó là “bóp chết từ trong trứng nước”, chứ không để nó có hình tướng rồi mới giết. Chặn ngay từ ban đầu thì tất cả bệnh kia không thể có. Vì không bệnh nào ngoài niệm khởi nghĩ tưởng mà có. Khởi niệm diệt mất rồi, đâu còn bệnh nữa.

Thiền là một phương thuốc ngăn ngừa tất cả bệnh, vì vậy gọi là Tối thượng thừa. Tiểu thừa dùng tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc... để quán chiếu tu tập, Đại thừa tu lục độ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục... Người tu thiền chỉ cần sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà tâm không dấy động là đủ. Trong kinh Kim Cang, Phật dạy: Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Nghĩa là không nên trụ nơi sắc sanh tâm, không nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, nên không có chỗ trụ mà sanh tâm kia. Không kẹt vào sáu trần, đó mới là cứu cánh. Sau này, Ngũ Tổ giảng cho Lục tổ Huệ Năng kinh Kim Cang tới đây, ngài Huệ Năng liền ngộ. 

Đức Phật Thích-ca khi thành đạo, ngài nhận thấy giáo pháp mà ngài đã chứng ngộ rất thâm sâu và vi diệu, khó lãnh hội mà chúng sanh còn mang nặng tham ái và sân hận nên không dễ gì thấu triệt. Do vậy ngài không có ý định truyền bá giáo pháp. Đến khi chư thiên cầu thỉnh ba phen, xin dùng phương tiện giáo hóa, Phật mới ưng thuận. Cho nên, kinh Kim Cang nói: Tỳ-kheo các ông nên biết, ta nói pháp ví dụ như chiếc bè, pháp còn nên bỏ, huống là phi pháp. Lời Phật nói dụ như chiếc bè giúp người qua sông. Khi chưa qua khỏi bờ mê thì chiếc bè rất quý, nương chiếc bè qua đến bờ giác rồi, chiếc bè có còn giá trị gì nữa không? 

Kinh Viên Giác nói: Kinh giáo như ngón tay chỉ mặt trăng, nếu thấy được mặt trăng thì biết rõ ngón tay rốt ráo không phải là mặt trăng. Pháp tu là phương tiện như ngón tay chỉ mặt trăng, nhân ngón tay mà thấy mặt trăng, chứ đừng chấp ngón tay là mặt trăng. Kinh điển chỉ là phương tiện, ngộ mới là cứu cánh, nếu thấy mặt trăng rồi thì ngón tay trở nên vô nghĩa. Thế mà chúng ta bây giờ cứ bám lấy ngón tay mà không chịu tìm mặt trăng. Thật đáng trách! Chỗ tột cùng không còn pháp gì để chúng ta chấp giữ, buông tất cả mới thấy đủ hết muôn pháp trong đó. Cho nên thiền là một phương thuốc ngăn ngừa tất cả bệnh, trị thẳng nơi gốc. 

Thiền là pháp môn đốn giáo, nghĩa là đi thẳng tắt chứ không quanh co. Hiểu được điều này chúng ta mới thấy con đường Phật dạy hết sức giản đơn, mà chúng sanh mê chấp quá nặng nên không dám đi. Chúng ta ngày nay được tu thiền là có túc duyên thấy hiểu được lời Phật tổ thì cứ đi thẳng, quanh co làm gì để mất thời giờ vô ích. 

Các chú! Các chú đã vào trong chùa làm ông đạo, làm học trò, chỉ cầu danh dự mà chẳng chịu tham đến chỗ, cái gì là chỗ hạ thủ của Phật tổ? Cái gì là chỗ dụng tâm của ngoại đạo, Tiểu thừa? Luống để cho ngày lại tháng qua, lăng xăng tìm cầu bên ngoài. Một phen cái chết đến rồi phải làm sao? Đâu là nơi an thân lập mạng? Vả lại, ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, chính mình không có một mảy may. Một hôm nào đó, vua Diêm-la đến ắt không thể tha cho ngươi. Ngươi sao chẳng chịu xét lại, chớ lấy các việc trong mộng, rồi bác không nhân quả, “mênh mang bát ngát chiêu ương họa”. Như thế chẳng những làm đồi bại tông môn, mà cũng khiến suy tàn chánh pháp.

Ôi! Tôi còn biết nói gì hơn!

Đây là lời nhắc nhở thiết tha của ngài. Là người tu đạo, chúng ta phải làm sao thấu hiểu lời Phật tổ dạy, hạ thủ công phu tu hành. Từ đó, chúng ta mới thấy được chỗ cao siêu của đạo Phật, nắm vững đường lối tu mà đi cho đúng. Nếu không biết không hiểu, chạy theo những thứ tầm thường thì luống uổng cả đời tu, có hối cũng không kịp.

Mục Lục
Thanh Từ Toàn Tập 36 - Hành Trạng Thiền Sư 7