Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 36 - Hành Trạng Thiền Sư 7
Thiền Sư Huyền Quang

THIỀN SƯ HUYỀN QUANG

(1254 - 1334)

Tổ thứ ba thiền phái Trúc Lâm

Sư tên Lý Đạo Tái, sanh năm Giáp Dần (1254) ở làng Vạn Tải thuộc lộ Bắc Giang. Thân phụ là Huệ Tổ dòng dõi quan liêu, nhưng đến đời ông thì không thích công danh, chỉ ưa ngao du sơn thủy. Tuy có công dẹp giặc Chiêm Thành, mà ông không nhận chức quan. Thân mẫu họ Lê là người hiền đức. 

Nhà Sư ở phía nam chùa Ngọc Hoàng. Năm Sư sanh, một hôm thầy trụ trì chùa Ngọc Hoàng là thiền sư Huệ Nghĩa, tối tụng kinh trên chùa xong, xuống phòng ngồi trên trường kỷ, chợt ngủ quên mộng thấy trên chùa đèn đuốc sáng trưng, chư Phật tụ hội đông vầy, Kim cang Long thần chật ních, Phật chỉ tôn giả A-nan bảo: “Ngươi thác sanh làm pháp khí cõi Đông.” Chợt có ông đạo gõ cửa, Thầy chợt tỉnh giấc, làm bài kệ viết trong vách chùa:

Âm:

Nhân chi vị đạo khởi tha tầm,

Tâm tức Phật hề Phật tức tâm.

Tuệ địch kiết tường vi ảnh hưởng,

Thử sanh tất kiến hảo tri âm.

Dịch:

Người mà vì đạo chớ tìm đâu,

Phật vốn tâm mình, tâm Phật sâu.

Mộng thấy điềm lành là ảnh hưởng,

Đời này ắt gặp bạn tâm đầu.

Thiền sư Huyền Quang sanh năm 1254 tịch năm 1334, là Tổ thứ ba phái Trúc Lâm. Khi ngài sanh ra, thầy trụ trì chùa gần nhà mộng thấy trên chùa đèn đuốc sáng trưng, chư Phật tụ hội đông vầy, Kim cang Long thần chật ních, Phật chỉ tôn giả A-nan bảo: “Ngươi thác sanh làm pháp khí cõi Đông.” Chợt có ông đạo gõ cửa, ông chợt tỉnh giấc, làm bài kệ viết trong vách chùa. Bài kệ đó được ghi lại đến ngày nay, như vậy giấc mộng này không phải chuyện tưởng tượng, nhưng có phần huyền bí. 

Thuở nhỏ Sư dung nhan kỳ lạ, ý chí cao vời, cha mẹ mến yêu dạy các học thuật. Sư học một biết mười, biện tài hiển thánh. Niên hiệu Bảo Phù thứ hai (1274), đời vua Trần Thánh Tông, Sư thi đỗ Tiến sĩ (Trạng nguyên), lúc ấy được hai mươi mốt tuổi. Cha mẹ tuy đã định hôn cho Sư, nhưng chưa cưới. Sau khi thi đậu, nhà vua gả công chúa cho, Sư vẫn từ chối.

Thuở nhỏ, ngài rất thông minh, học một biết mười. Do vậy, người đời càng nghi ngài là hậu thân của tôn giả A-nan.

Sư được bổ làm quan ở Hàn lâm viện và phụng mạng tiếp đón sứ Trung Hoa. Văn chương ngôn ngữ của Sư vượt hơn sứ Trung Hoa, khiến họ phải nể phục.

Một hôm, Sư theo vua Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm ở huyện Phượng Nhãn nghe thiền sư Pháp Loa giảng kinh, Sư chợt tỉnh ngộ duyên trước, khen ngợi quý mến, tự than: “Làm quan được lên đảo Bồng, đắc đạo thì đến Phổ-đà, đảo trên nhân gian là bậc tiên, cảnh giới Tây thiên là cõi Phật. Sự giàu sang phú quý như lá vàng mùa thu, mây trắng mùa hạ, đâu nên mến luyến!”

Sự giàu sang phú quý như lá vàng mùa thu, mây trắng mùa hạ, đâu nên mến luyến. Câu này chúng ta phải thuộc lòng. Mùa thu lá vàng chẳng bao lâu thì lá rụng hết. Mùa hạ mây trắng đổi chiều bay đi rồi tan mất, không có gì lâu bền. Giàu sang phú quý chỉ tạm bợ như lá vàng mùa thu, mây trắng mùa hạ thôi. Giác ngộ lý vô thường của cuộc đời nên ngài từ quan đi tu.

Sư mấy phen dâng biểu xin từ chức để xuất gia tu hành. Chính nhà vua rất mến trọng Phật giáo, nên sau cùng mới cho. Đến niên hiệu Hưng Long thứ mười ba (1305), Sư xuất gia thọ giới tại chùa Vĩnh Nghiêm, theo làm thị giả Điều Ngự, được pháp hiệu là Huyền Quang.

Niên hiệu Hưng Long thứ mười bảy (1309), Sư theo hầu Pháp Loa y theo lời phó chúc của Điều Ngự. 

Sau khi xuất gia, ngài theo Điều Ngự làm thị giả được hai năm, được Điều Ngự ban hiệu là Huyền Quang. Điều Ngự tịch, Huyền Quang theo hầu Pháp Loa đúng theo lời dặn bảo của Điều Ngự. 

Năm Đại Khánh thứ tư (1317), Sư được Pháp Loa truyền y của Điều Ngự và tâm kệ. Sư vâng lệnh trụ trì chùa Vân Yên trên núi Yên Tử. Do Sư đa văn bác học, tinh thâm đạo lý, nên học đồ bốn phương nghe danh tụ hội về tham vấn thường xuyên không dưới ngàn người.

Trên núi Yên Tử, người tới hỏi đạo tu tập không dưới ngàn người, chứng tỏ tinh thần học đạo bấy giờ rất thiết tha. Cuối đời Lý, Yên Tử có thiền sư Hiện Quang, đầu đời Trần có thiền sư Đạo Viên tức người mà vua Trần Thái Tông đã tới hỏi đạo. Kế tiếp là quốc sư Đại Đăng, thầy của vua Trần Thánh Tông. Tiếp đó là thiền sư Huệ Tuệ, rồi tới tam tổ Trúc Lâm. Một hệ phái có đến bảy tám vị đắc đạo trên Yên Tử. Cho nên tôi rất tha thiết muốn gầy dựng lại hệ phái Trúc Lâm Yên Tử. 

Tại Việt Nam, gốc của người Việt tu hành ngộ đạo rất khó tìm, nếu có cũng chỉ rải rác một vài vị. Ở Yên Tử lại có gần chục vị tu hành ngộ đạo, nên Yên Tử được xem là nền tảng của Phật giáo Việt Nam. Vì vậy, chúng tôi muốn gầy dựng lại hệ phái Trúc Lâm Yên Tử để làm nền cho Phật giáo Việt Nam phát triển. Thế nên, khi chính quyền cho phép kiến thiết lại Yên Tử, chúng tôi muốn góp sức vào đó, xây dựng một thiền viện có người tu hành đàng hoàng, giảng dạy đạo lý. Như vậy mới giữ gìn được giá trị Yên Tử, mới có chỗ cho Phật tử trở về tựa nương, chứ có chùa mà người tu lôi thôi thì thật đáng buồn.

Biết được giá trị của thời trước thì chúng ta phải chuẩn bị giá trị cho thời này. Thời trước có giá trị mà thời nay chỉ là số không thì thật đáng tiếc. Người xưa đã làm nên và gầy dựng giá trị đạo đức như thế, chúng ta là con cháu sau này mà bỏ quên thì thật là có lỗi. 

Khi Trần Nhân Tông xuất gia đến Yên Tử tu hành có một điểm đáng nhớ. Đó là các cung phi trước đó hầu hạ ngài ở cung vua, cũng lặn lội tìm đường đến Yên Tử xin theo. Nhưng vua cương quyết không về mà khuyên họ trở về làm lại cuộc đời. Để tỏ lòng trung với vua, các cung phi liền trầm mình xuống suối Hổ Khê dưới chân núi Yên Tử. Một số cung phi bị chết đuối. Để giải oan cho linh hồn họ, vua cho dựng chùa thờ cúng, chùa ấy gọi là chùa Giải Oan. Suối Hổ Khê nơi các cung phi trầm mình, cũng từ đó mang tên Giải Oan. Số cung phi cứu được thoát chết, vua cho tập trung dưới chân núi, làm nhà cho ở, cấp ruộng đất cho cày cấy, cho lấy chồng sanh con, lập thành làng Nường, làng Mụ.

Một ông vua trao hết sự nghiệp cho con, quyết chí tu hành. Cung phi mỹ nữ rất quý mến xin ngài trở lại. Nếu ngài hơi yếu một chút, không biết có tiếp tục ở núi được không! Diễn tả lại khung cảnh đó thì thật là bi thống mà hào hùng, các bà phi bi thống, riêng vua lại hào hùng. 

Vua Trần Nhân Tông khi còn ở ngôi vua đã lãnh hội được yếu chỉ của thiền, nên cảm tác bài Cư Trần Lạc Đạo Phú. Tuy nói được mà sống chưa được, vì còn bận việc nước. Đến khi buông hết việc, ngài lên núi tinh chuyên ròng rã suốt năm năm, chừng đó mới chứng đạo, viết nên bài Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca, tức là bài ca thành đạo. 

Tại Yên Tử, người tới lui đông nên ngài sang rừng trúc cất Ngọa Vân Am ẩn tu, đạt đạo rồi mới xuống núi truyền bá. Chúng ta thấy con người Sơ Tổ rất dứt khoát, làm cái gì ra cái nấy, lúc cầm quân khiển tướng thì hết lòng không để đất nước bị xâm lăng, khi đi tu thì tu đến nơi đến chốn, không có lưng chừng. 

Ngài đang ở địa vị cao tột mà dám bỏ, chúng ta ngày nay cất được cái am hay ngôi chùa là tiếc, đi không nổi. Bởi vậy tu hoài không có kết quả. Người tu dám cạo tóc xuất gia thì phải coi đời mình như trò chơi, không đáng kể. Chỉ làm sao tu cho có kết quả, đúng với sở nguyện của mình là thấy được đạo để làm lợi ích chúng sanh. 

Tôi nhắc lại gương hạnh người xưa để chúng ta cố gắng nương theo tu tập, chứ còn rày đây mai đó, lang thang vô ích thì uổng cả một đời. 

Sư thường phụng chiếu đi giảng kinh dạy các nơi và tuyển chư phẩm kinh, công văn v.v... Những khoa giáo trong nhà thiền mỗi mỗi đều phải qua tay Sư cả.

Ngày rằm tháng giêng năm Quý Sửu (1313) vua Anh Tông mời về kinh ở chùa Báo Ân giảng kinh Lăng-nghiêm. Sau đó, Sư dâng chiếu xin về quê thăm viếng cha mẹ. Nhân đây, lập ngôi chùa phía tây nhà Sư để hiệu là chùa Đại Bi.

Sư trở về chùa Vân Yên, lúc đó đã sáu mươi tuổi. Nhà vua muốn thử lòng Sư nên cho Điểm Bích là một cung nhân tìm cách gần Sư để lấy bằng chứng đem về dâng vua. Điểm Bích dùng man kế gợi lòng từ bi của Sư, rồi về tâu dối với vua. Vì thế, Sư bị tai tiếng không tốt. Nhưng sau cuộc lễ chẩn tế của Sư, thấy những sự linh nghiệm lạ thường, nhà vua không còn nghi ngờ. Vua liền phạt Điểm Bích làm kẻ nô bộc quét chùa trong cung Cảnh Linh ở nội điện.

Vì ngài là nhà văn nổi tiếng nên tất cả sách vở đều phải qua ngài tuyển tập.

Vua Anh Tông muốn thử ngài Huyền Quang bèn lặng lẽ sắp đặt cơ mưu, không để tiết lộ, ngầm chọn người cung nữ tuổi dưới hai mươi, là cung nhân Điểm Bích hiệu là Tam Nương. Cô này trường thiên ngũ ngôn hễ mở miệng là thành chương, nhưng sở trường nhất là quốc ngữ, vua nói đó là bé gái thần đồng. Khi ấy vua gọi Điểm Bích vào nội điện, ban cho một thẻ bài cầm tay và căn dặn: 

- Vị tăng ấy vốn không ưa sắc dục, tánh tình rất cương trực, giới hạnh lại cao nghiêm, ngươi có nhan sắc lại có tài ăn nói và thông hiểu sử kinh, vậy hãy đến thử Thầy. Nếu Thầy còn động lòng quyến luyến tình dục, ngươi hãy dụ lấy cho được kim tử làm bằng chứng, bằng gian trá sẽ có tội, ngươi phải kính cẩn vâng lời. 

Điểm Bích vâng lệnh ra đi đem theo một đứa tỳ nữ đến chùa Vân Yên gặp một Tỳ-kheo-ni già, tự khai quê quán của mình cầu xin xuất gia học đạo tu hành, nhờ bà tiến dẫn với ngài Huyền Quang. Vị Tỳ-kheo-ni già thường sai Điểm Bích sớm chiều dâng trà nước, ngài thấy người ấy đi đứng có cử chỉ lẳng lơ đùa cợt, không phải là người Phật tử chân chánh cầu đạo, bèn ra lệnh tăng ni khiển trách vị Tỳ-kheo-ni già, bảo Điểm Bích trở về nhà lo việc lấy chồng, kiếm nghề sinh sống, đợi đến tuổi già sẽ cho đến học đạo. Điểm Bích thấy ngài giới hạnh tinh nghiêm, uy nghi lẫm liệt, khó dùng sắc đẹp cám dỗ, chợt nảy ra một kế, ban đêm đến vị Tỳ-kheo-ni già khóc và nói: 

- Thiếp vốn là con nhà vọng tộc ở Đường An, gia đình nhiều đời đỗ đạt làm quan, từng truyền lại cái học về thi lễ. Cha thiếp tập ấm theo thứ tự được làm chức Huyện thừa ở huyện Cảm Hóa, đạo Ninh Sóc. Khi thu thuế ruộng hằng năm tính thành vàng ròng được một trăm mười lăm dật, ông đem cất vào một cái túi, mang về kinh để nạp vào kho của quan. Trên đường đi ông nghỉ tạm tại phường Toán Viên Bắc phủ, bị bọn gian manh lập mưu cướp sạch, không lấy gì để ứng nạp. Ông bèn làm đơn trình bày rõ với quan bộ Hộ, quan bộ Hộ thương tình cho hẹn đến cuối năm sẽ mang đủ số vàng đến nạp. Nếu quá kỳ hạn, quan sẽ tâu mọi việc lên triều đình và vợ con điền sản sẽ sung công tất cả. Do đó thiếp mới phổ khuyến thập phương các châu lộ phủ huyện những nhà giàu có mong giúp công đức, đồng thời bán gia tài điền sản để góp vào khoản vàng còn thiếu. Nghe Tôn sư đức trọng đạo cao, lòng sẵn từ bi thiếp mới hỏi chỗ ở, lần bước đến đây, đợi lúc thong dong nhàn hạ thiếp mới bày tỏ sự tình, trình thư phổ khuyến, mong được công đức trong muôn một. Nếu được may mắn chẳng những riêng cha thiếp khỏi bị tội nặng, mà nam nữ toàn gia của thiếp cũng được giải thoát. Đó là điều mà người xưa gọi là ân sanh tử cốt nhục vậy. 

Các tăng ni môn đồ nghe thấy lời nói ấy xót thương cho tình cảnh nàng, không ai là không rướm lệ, đồng thưa với ngài Huyền Quang xin góp vàng bạc công đức để cứu tính mạng của một gia đình. Ngài trầm ngâm hồi lâu nói: 

- Ngày xưa Hán Văn Đế cảm thương lời tâu của nàng Đề Oanh mà bỏ nhục hình, Đường Thái Tông xem bản đồ Minh Đường mà dẹp cấm đài. Hai vua ấy đều thể theo đức hiếu sinh của Thượng đế, nên cho con cháu hưởng lộc trời lâu dài đến ba bốn trăm năm, không có ân đức mà được như thế sao! Ta phải vì ngươi về triều tâu rõ việc ấy, ngõ hầu quảng bá đức hiếu sinh của hoàng đế mà cũng là phương tiện cứu khổ tốt đẹp vậy. 

Có một tiểu tăng đứng bên cạnh ứng tiếng bạch với ngài: 

- Pháp luật là việc công của thiên hạ, ông ta không giữ cẩn thận, pháp luật bắt tội là đúng theo luật công vậy. Chúng ta có vàng bạc đem cho là sự giúp đỡ riêng. Nếu vì muốn giúp riêng mà bỏ công pháp thì có nên không? 

Ngài bảo: 

- Tiểu tăng này nói đúng. 

Ngài bèn lấy một dật vàng cho Điểm Bích để đem về chuộc tội cho cha, chư tăng ni cũng lấy tiền của ra cho.

Điểm Bích được kim tử bèn từ biệt về nhà. Rồi đến ngay triều đình vào trước vua quỳ tâu: 

- Thiếp phụng chỉ tới thử thiền sư Huyền Quang, khi đến chùa Vân Yên nói dối với một vị Tỳ-kheo-ni già rằng thiếp là con gái nhà thường dân đến xin làm đệ tử học đạo với Tôn sư. Vị Tỳ-kheo-ni già ấy thường sai thiếp dâng trà nước lên Sư. Trải hơn một tháng, Sư chưa từng ngó thiếp hay hỏi han điều gì. Một ngày kia vào lúc ban đêm Sư lên chùa tụng kinh, đến canh ba Sư và tăng ni đều trở về liêu phòng an nghỉ, thiếp bèn lén đến cạnh tăng phòng nghe động tịnh, thấy Sư ngâm kệ rằng: 

Vằng vặc trăng mai ánh nước, 

Hiu hiu gió trúc ngâm sênh, 

Người hòa tươi tốt cảnh hòa lạ, 

Mâu-thích-ca nào thửa hữu tình! 

Sư ngâm đi ngâm lại đến ba lần, thiếp bèn vào phòng từ biệt Sư, xin trở về nhà thăm cha mẹ, hẹn năm sau sẽ trở lên xin học đạo. Sư bèn lưu thiếp lại một đêm, tặng thiếp một dật kim tử. 

Vua nghe nói lòng buồn không vui, than rằng: 

- Việc này nếu có thật thì đó là cái kế ngang qua cửa mà giăng lưới bắt chim của ta. Còn nếu không thì ông ta cũng khó tránh mối ngờ ngồi xỏ giày nơi đám ruộng dưa. 

Vua bèn mở đại hội Vô Già ở phía tây kinh thành, khiến sứ giả đi mời ngài Huyền Quang, bí mật bày trên bàn cúng ca-sa y bát pháp khí lẫn lộn với cả đồi mồi vàng bạc châu ngọc. 

Ngài thấy sứ thỉnh, liền về triều yết kiến. Sáng sớm hôm sau, ngài vào đàn tràng thấy bốn bên bọc lụa vàng, trên bàn bày các tạp vật cùng hương đăng lục cúng, ngài biết là do việc cung nữ thử mình ngày trước, liền ngửa mặt lên trời than thầm, rồi lên đàn ba lần, xuống đàn ba lần, đứng ngay giữa đàn vọng bái thánh hiền mười phương, tay trái cầm bình bạch ngọc, tay phải cầm nhánh dương xanh, mật niệm và tẩy tịnh trên dưới và trong ngoài đàn tràng. Bỗng thấy một đám mây đen hiện lên từ hướng đông nam, bụi bay mù mịt ngất trời, một lát liền dứt, các thứ tạp vật bị cuốn bay đi hết chỉ còn lại hương đăng lục cúng. Các đạo tràng và những người xem hội ai nấy thất sắc kinh hoàng. Vua thấy hạnh pháp của ngài thấu đến trời đất liền rời chỗ ngồi lạy xuống để tạ lỗi rồi phạt Điểm Bích, bắt làm tỳ nữ quét tước một ngôi chùa trong nội điện cung Cảnh Linh. 

Đây là một câu chuyện huyền bí, khó tin trong cuộc đời ngài.

Sau, Sư trụ trì ở Thanh Mai Sơn sáu năm. Kế sang Côn Sơn giáo hóa đồ chúng. Đến ngày hai mươi ba tháng giêng năm Giáp Tuất (1334) Sư viên tịch tại Côn Sơn, thọ 80 tuổi.

Vua Trần Minh Tông phong thụy là Trúc Lâm Thiền Sư Đệ Tam Đại, đặc phong Từ Pháp Huyền Quang Tôn Giả.

Những tác phẩm của Sư:

- Ngọc Tiên Tập

- Chư Phẩm Kinh

- Công Văn Tập

- Phổ Tuệ Ngữ Lục. 

Sử liệu về ngài Huyền Quang khá nhiều, ghi chép lại cũng đầy đủ. 

***

PHỤ BẢN

Âm:

CÚC HOA

Vong thân vong thế dĩ đô vong,

Tọa cửu tiêu nhiên nhất tháp lương.

Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật,

Cúc hoa khai xứ tức trùng dương.

Dịch:

HOA CÚC

Bẵng quên thân thế chẳng hề vương,

Lặng lẽ ngồi lâu lạnh thấu giường.

Năm hết trong non không sẵn lịch,

Nhìn xem cúc nở biết trùng dương. 

***

Âm:

SƠN VŨ

Thu phong ngọ dạ phất thiềm nha,

Sơn vũ tiêu nhiên chẩm lục la.

Dĩ hỹ thành thiền tâm nhất phiến,

Cung thanh tức tức vị thùy đa.

Dịch:

CHÙA NÚI

Gió thu đêm vắng thổi hiên ngoài,

Chùa núi im lìm gối cỏ may.

Đã được thành thiền tâm một khối,

Rè rè tiếng dế gọi kêu ai?

***

Âm:

THẠCH THẤT

Bán gian thạch thất hòa vân trụ,

Nhất lĩnh thuế y kinh tuế hàn.

Tăng tại thiền sàng kinh tại án,

Lô tàn cốt đột nhật tam can.

Dịch:

THẤT ĐÁ

Nửa gian nhà đá lẫn trong mây,

Một mảnh áo lông trải tháng ngày.

Tăng ở giường thiền, kinh tại án,

Lò hương tàn lụn, mặt trời lên.

***

Âm:

TẶNG SĨ ĐỒ TỬ ĐỆ

Phú quý phù vân trì vị đáo,

Quang âm lưu thủy cấp tương thôi.

Hà như tiểu ẩn lâm tuyền hạ,

Nhất tháp tùng phong, trà nhất bôi.

Dịch:

TẶNG CON EM LÀM QUAN

Giàu sang mây nổi đến dần dà,

Ngày tháng trôi nhanh chẳng đợi mà.

Chi bằng tiểu ẩn nơi rừng suối,

Một giường gió mát, một chung trà. 

Bài thơ này ngài tặng sĩ đồ tử đệ, tức là những đồ đệ đi thi làm quan.

Tiểu ẩn là ở nơi rừng núi, trung ẩn là làm quan nhỏ, đại ẩn là ở triều đình.

Giàu sang đối với ngài không có giá trị thật, chẳng bằng về ẩn nơi vắng vẻ, ngồi trên giường thiền, gió thổi mát, uống một chung trà. Cuộc đời thanh thản an lành làm sao! Đuổi theo đám mây nổi làm chi cho khổ. Đó là lời ngài nhắc nhở những người còn hiếu danh hiếu lợi. 

***

Âm:

YÊN TỬ SƠN CƯ AM

Am bức thanh tiêu lãnh,

Môn khai vân thượng tằng.

Dĩ can Long Động nhật,

Do xích Hổ Khê băng.

Bão chuyết vô dư sách,

Phù suy hữu sấu đằng.

Trúc Lâm đa túc điểu,

Quá bán bạn nhàn tăng.

Dịch:

Ở AM YÊN TỬ

Cao ngất am lạnh lẽo,

Cửa mở tận tầng mây.

Mặt trời soi Long Động,

Tuyết dày che Hổ Khê.

Vụng về không mưu lược,

Nương gậy đỡ thân gầy.

Trúc Lâm nhiều chim ngủ,

Quá nửa bạn với thầy.

Cao ngất am lạnh lẽo, trên đỉnh ngọn Yên Tử có tuyết phủ nên rất lạnh. Cửa mở tận tầng mây, am như hiện ra tận trên mây, vì mây luôn luôn ấp núi. 

Mặt trời soi Long Động, mặt trời lên soi sáng Long Động, một động trên Yên Tử. Tuyết dày che Hổ Khê, Hổ Khê cũng là một cái khe ở núi Yên Tử. 

Vụng về không mưu lược, người tu vụng về không có mưu lược tài ba gì cả. Nương gậy đỡ thân gầy, già rồi khi đi nhờ cây gậy đỡ tấm thân gầy. 

Trúc Lâm nhiều chim ngủ, tối nào chim cũng bay về ngủ rất đông đảo. Quá nửa bạn với thầy, hơn phân nửa số chim đều là bạn với thầy. 

Hai câu này tôi thích nhất. Người tu ở núi non chỉ làm bạn với khỉ vượn chim chóc là vui rồi, chứ không phải có đông người để cười giỡn như ở thế tục. Người tu là người bạn thâm giao nhất với các loài chim loài thú, bởi vì đất lành chim đậu, chỗ nào hiền lành thì chim bay tới ở. Giữa người và thú có sự cảm thông rõ ràng, chim kêu nghe vui tai, chứ không phiền.

Ở thiền viện Trúc Lâm có bầy chim sáo, cưỡng, làm tổ trên mấy cây thông cao. Mỗi sáng năm giờ là nó kêu, ngồi thiền nghe tiếng chim là biết sắp mãn giờ. Đến tối khoảng sáu giờ chim tụ về, nó cũng kêu. Vui tai lắm. 

Thú vui của người đời mang tính cách tạm bợ nên vui rồi khổ. Mới họp nhau nói điều gì không hợp ý là cãi liền. Cái vui của người tu là nghe chim kêu vượn hót, đâu có gì khổ. Nghe chim kêu biết nó vui mừng khi trời rạng đông, và rủ đàn về khi trời sập tối. 

Cho nên, người học đạo thường thích ở chốn núi rừng, sống vui trong tĩnh lặng, tâm ít xao động. Các thiền sư cũng thường chọn chỗ vắng để ẩn tu.

***

Âm:

NHÂN SỰ ĐỀ CỨU LAN TỰ

Đức bạc thường tàm kế Tổ đăng,

Không giao Hàn Thập khởi oan tăng.

Tranh như trục bạn quy sơn khứ,

Điệp chướng trùng sơn vạn vạn tằng.

Dịch:

NHÂN VIỆC ĐỀ CHÙA CỨU LAN

Đức mỏng thẹn mình nối Tổ đăng,

Luống cho Hàn, Thập dấy hờn căm.

Chi bằng theo bạn về non quách,

Núi chất chập chùng muôn vạn tầng.

Đức mỏng thẹn mình nối Tổ đăng, đức của mình kém nên hổ thẹn khi được trao cho trách nhiệm nối ngọn đèn Tổ. Luống cho Hàn, Thập dấy hờn căm, luống làm cho Hàn Sơn, Thập Đắc nổi giận. Tại sao? Vì hai vị đều không ưa thích danh lợi, thế mà nay ngài lãnh trách nhiệm này tức là kẹt trong danh lợi, e hai vị giận mình. 

Chi bằng theo bạn về non quách là về núi ở luôn cho xong. Núi chất chập chùng muôn vạn tầng. 

Đây là bài kệ nói lên tâm tư của ngài Huyền Quang khi ngài tự thấy mình không đủ sức gánh vác việc lớn. Lúc ngài Pháp Loa tịch, ngài Huyền Quang đã bảy mươi bảy tuổi. Thấy mình quá già, không làm được việc gì nên ngài trao trách nhiệm cho những người nhỏ, rồi trở về núi yên tu. Vì vậy, dưới ngài cũng không còn bao nhiêu vị để kế thừa cho hệ phái Trúc Lâm Yên Tử được lâu dài. 

***

Âm:

XUÂN NHẬT TỨC SỰ

Nhị bát giai nhân thích tú trì,

Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.

Khả liên vô hạn thương xuân ý,

Tận tại đình châm bất ngữ thì.

Dịch:

TỨC CẢNH NGÀY XUÂN

Thêu gấm thưa tay dáng mỹ nhân,

Líu lo oanh hót, khóm hoa gần.

Đáng thương vô hạn, thương xuân ý,

Chỉ tại dừng kim, chẳng nói năng. 

Bài thơ này bị nhiều người phê bình là một thiền sư lại làm bài thơ quá dồi dào tình cảm.

Cô gái đẹp mười sáu tuổi ngồi thêu nên nói thêu gấm thưa tay dáng mỹ nhân. Líu lo oanh hót khóm hoa gần. Một mỹ nhân đang thêu gấm, ngoài kia chim hoàng oanh hót dưới một khóm hoa tử kinh nở. Đây là những cảnh đẹp của thế gian. 

Đáng thương vô hạn, thương xuân ý. Rất là thương, thương ý xuân, thương ở điểm nào? Chỉ tại dừng kim, chẳng nói năng. Người đọc ngỡ rằng ngài thương cô gái đang thêu, nhưng không ngờ câu cuối: chỉ ở chỗ dừng kim, không còn thêu và không nói.

Niết-bàn là không thêu dệt. Thêu dệt là dùng từng sợi chỉ kết thành một miếng vải, giống như người tạo từng nghiệp nhỏ, kết lại thành nghiệp to, rồi kết thành sức mạnh lôi mình đi trong luân hồi sanh tử. Niết-bàn là dừng hết sự thêu dệt, tức là dừng nghiệp. Còn nghiệp thì còn sanh tử, hết nghiệp thì vô sanh. Cho nên nói Đáng thương vô hạn, thương xuân ý. Ngài diễn tả người đẹp, cảnh đẹp và lòng mình thương dạt dào, nhưng thương là thương chỗ dừng kim, thương chỗ không mở lời. Chỗ cứu cánh vừa mở lời là hai bên, là kẹt sanh tử; chỗ không mở lời đó mới thoát ly sanh tử. Như vậy dừng kim là không kết nghiệp, không mở lời tức là chỗ không còn đối đãi. Đó là chỗ thương quý nhất. 

Tổ muốn diễn tả cho người ta thấy hình ảnh đẹp nên dùng những từ ngữ thế gian, nhưng kết thúc chỉ chỗ cứu cánh của thiền là chỗ dừng kim, không còn đan dệt nghiệp, không còn đối đãi. Vậy mà thế nhân không nhớ hai câu này, chỉ nhớ hai câu trên để rồi có những hiểu lầm lệch lạc. 

Bài thơ này khiến nhiều học giả hiểu lầm: Tác giả là một thiền sư, lại là Tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mà còn tình cảm dồi dào ướt át như thế, thì làm sao được giải thoát? Song, nhận xét như vậy là một hiểu lầm đáng tiếc. Bởi vì tác giả tả cảnh xuân, nên mượn hình ảnh người con gái đẹp, hoa nở, chim hót để làm nổi bật ngày xuân. Nhưng đến kết thúc, tác giả nói lên lòng thương vô hạn của mình, chính là khi “dừng kim, không nói”. Đâu không phải câu “ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”, bặt đường ngôn ngữ, dứt lối tâm hành, đây là chỗ kết quả của người tu thiền. Người tu đến đây mới giải thoát đường sanh tử, mà không thương tha thiết sao được? Chỗ này chính là mùa xuân bất tận của người tu.

***

Sư còn làm phú chữ Nôm, như bài:

VỊNH VÂN YÊN TỰ PHÚ

Buông niềm trần tục;

Náu tới Vân Yên.

Chim thụy dõi tiếng ca chim thụy;

Gió tiên đưa đôi bước thần tiên.

Bầu đủng đỉnh giang hòa thế giới;

Hài thong thả dạo khắp sơn xuyên.

Đất phúc địa nhận xem luống kể, 

kể bao nhiêu dư trăm phúc địa;

Trời Thiền thiên thập thu thửa lạ, 

lạ hơn ba mươi sáu Thiền thiên.

Thấy đây:

Đất tựa vàng liền;

Cảnh bằng ngọc đúc.

Mây năm thức che phủ đền Nghiêu;

Núi nghìn tầng quanh co đường Thục.

La đá tầng thang dốc, 

một hòn ướm vịn một hòn;

Nước suối chảy làn sâu, 

đòi khúc những dò đòi khúc.

Cỏ chiều gió lướt, dợm vui vui;

Non tạnh mưa dầm, màu thúc thúc.

Ngàn cây phơi cánh phượng, 

vườn thượng uyển đóa tốt rờn rờn;

Hang nước tưới hàm rồng, 

nhả ly châu hột săn mục mục.

Nhựa đông hổ phách, sáng khắp rừng thông;

Da điểm đồi mồi, giống hòa vườn trúc.

Gác vẽ tiếng bồ lao thốc, gió vật đoành đoành;

Đền ngọc phiến bối diệp che, mưa tuôn túc túc.

Cảnh tốt và lành;

Đồ tựa vẽ tranh.

Chỉn ấy trời thiêng mẽ khéo;

Nhèn chi vua Bụt tu hành.

Hồ sen trương tán lục;

Suối trúc bấm đàn tranh.

Ngự sử mai hai hàng chầu rập;

Trượng phu tùng mấy chạnh phò quanh.

Phỉ thúy sắp hai hàng loan phượng;

Tử vi bày liệt vị công khanh.

Chim óc bạn cắn hoa nâng cúng;

Vượn bồng con kề cửa nghe kinh.

Nương am vắng Bụt hiện từ bi, 

gió hiu hiu mây nhè nhẹ;

Kề song thưa thầy ngồi thiền định, 

trăng vặc vặc núi xanh xanh.

Huống chi,

Vân thủy bằng lòng;

Yên hà phải thú.

Vui thay cảnh khác cảnh hoàng kim;

Trọng thay đường hơn đường cẩm tú.

Phân ân ái, am Não am Long;

Dứt nhân duyên, làng Nường làng Mụ.

Mặc ca-sa nằm trướng giấy, 

màng chi châu đầy lẫm ngọc đầy rương;

Quên ngọc thực bỏ hương giao, 

cắp nạnh cà một vò tương một hũ.

Chặp tiết dương tiếng nhạc dõi truyền;

Voi la đá tính từ chẳng đố.

Xem phong cảnh hơn cảnh Bà Roi;

Phóng tay cầu chưng cầu Thằng Ngụ.

Bao nhiêu phong nguyệt, vào cõi vô tâm;

Chơi dấu nước non, dưỡng đời thánh thọ.

Ta nay:

Ngồi đỉnh Vân Tiêu;

Cưỡi chơi Cánh Diều.

Coi đông sơn tựa hòn kim lục;

Xem đông hải tựa miệng con ngao.

Nức đài lan nghĩ hương đan quế;

Nghe Hằng Nga thiết khúc tiêu thiều.

Quán thất bảo vẽ bao Bụt hiện;

Áo lục thù tiếng gió tiên phiêu.

Thầy tu trước đã nên Phật quả;

Tiểu tu sau còn vị Tỳ-kheo.

Thấy đây:

Hồ thiên lẻ lẻ;

Xem lâu có nhẹ.

Tuy rằng học đạo hư vô;

Ngậm ngụt hỏi thiền ngôn nghĩ.

Mê một tấm lòng xét chẳng cùng;

Chác tấc bóng nghìn vàng còn rẻ.

Hẹn đến lâm tuyền làm bạn, [x] [x] [x] [x];

Bảo rằng [x] [x] [x], [x] [x] ừ hễ.

Đua khoái lạc, chân bước lăm chăm;

Nhuốm phồn hoa, đầu đà bạc tỷ.

Chẳng những vượn hạc thốt thề;

Lại phải cỏ hoa cười thỉ.

Từ đến đây!

Non nước đà quen;

Người từng mấy phen.

Đầu khách dễ nên biến bạc;

Mặt non hãy một xanh đen.

Hồ nước giá lựa là lọc nước,

Cửa tráu cây phên trúc cài then.

Đàn khúc nhạc tiếng khong tiêu đính.

Vỗ tay ca cách lễ lạ liền.

Lạ những ôi!

Tây Trúc dường nào;

Nam châu có mấy.

Non Linh Thứu ai đem về đây;

Cảnh Phi Lai mặt đà thấy đấy.

Vào chưng cõi thánh thênh thênh;

Thoát rẽ lòng phàm phây phấy.

Bao nhiêu phong nguyệt, thề thốt chẳng cùng;

Hễ cảnh giang sơn, ai nhìn thấy đấy.

Từ trước nhẫn sau;

Thấy sao chép vậy.

Kệ rằng:

Rũ không thay thảy ánh phồn hoa,

Lấy chốn thiền lâm làm cửa nhà.

Khuya sớm sáng choang đèn Bát-nhã,

Hôm mai rửa sạch nước Ma-ha.

Lòng thiền vằng vặc trăng soi giại,

Thế sự hiu hiu gió thổi qua.

Cốc được tính ta nên Bụt thật,

Ngại chi non nước cảnh đường xa.

        (Huệ Chi phiên quốc ngữ)

Mục Lục
Thanh Từ Toàn Tập 36 - Hành Trạng Thiền Sư 7