|
Thanh Từ Toàn Tập 36 - Hành Trạng Thiền Sư 7
Thiền Sư Hương Hải
THIỀN SƯ HƯƠNG HẢI (1628 - 1715) Thiền phái Trúc Lâm Hệ phái Trúc Lâm Yên Tử được thành lập vào đầu thế kỷ XIII, các vị kế thừa rải rác vào đầu thế kỷ XIV. Mãi đến thế kỷ XVI, tức là hơn hai trăm sau mới xuất hiện vị kế thừa là thiền sư Hương Hải. Hai trăm năm im hơi lặng tiếng làm người ta tưởng hệ phái Trúc Lâm Yên Tử như mất, song vẫn thầm thầm truyền trao mãi đến thời nay. Bởi vì thời đó các vị thiền sư ẩn tu trên rừng sâu non cao nên ít người biết tới. Tổ tiên Sư quê ở làng Áng Độ, huyện Châu Phúc. Ông tổ năm đời của Sư làm quan Quản chu tượng coi thợ đóng thuyền cho triều đình. Ông sanh được hai người con trai, con cả trông coi Lãng doanh, tước Hùng Quận Công, quản đốc ba trăm lính thợ. Con thứ làm chức Phó cai quan tước Trung Lộc Hầu, là ông tổ bốn đời của Sư. Khoảng niên hiệu Chánh Trị đời vua Lê Anh Tông (1558-1571), Trung Lộc Hầu theo Đoan quốc công Nguyễn Hoàng vào trấn Quảng Nam. Ông được Nguyễn Hoàng tin dùng nên thăng chức Chánh cai quan, quản lãnh các lính thợ đóng thuyền. Nguyễn Hoàng lại dâng sớ về triều kể rõ công trạng, vua Lê phong cho ông hiệu Khởi Nghĩa Kiệt Tiết Công Thần, cấp cho ba mươi mẫu ruộng, và con cháu được thế tập. Sư thuở nhỏ đã thông minh tài giỏi, năm mười tám tuổi thi đỗ Hương tiến (Cử nhân) được chọn vào làm Văn chức trong phủ chúa Nguyễn. Sau lại bổ Sư ra làm Tri phủ phủ Triệu Phong (nay là tỉnh Quảng Trị). Năm Sư hai mươi lăm tuổi rất hâm mộ Phật pháp nên tìm vào học đạo với thiền sư Lục Hồ Viên Cảnh. Được thiền sư đặt pháp danh là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự Minh Châu Hương Hải. Sau, Sư lại tìm đến thiền sư Đại Thâm Viên Khoan để tham học. Thiền sư Viên Cảnh và thiền sư Viên Khoan là hai vị tu theo Thiền tông đời Trần mà đến ngày nay mới xuất hiện. Ngài Hương Hải tìm đến các ngài để tham học nên cũng tu theo đường lối này. Hơn ba năm sau, Sư từ quan xin xuất gia, rồi giong thuyền ra biển Nam Hải trụ trên ngọn núi Tim Bút La, cất ba gian nhà tranh ở tu. Ở đây, Sư chuyên tu thiền định và gìn giữ giới luật tinh nghiêm được hơn tám tháng. Gần đó có biển tên là Ngọa Long Hải và cù lao Đại Lãnh, hai nơi này ít người đi đến, là chỗ hang ổ của ma quái. Chúng ma đã nhiều lần kéo đến làm ngăn trở sự tu hành của Sư, mà tâm Sư vẫn không lay động. Một đêm vào lúc canh hai, những đồ đệ của Sư bỗng trông thấy một con ma lớn đen sì cao chừng hai trượng (khoảng 6,7m) sồng sộc chạy vào, một lúc rồi biến đi đâu mất. Đến cuối canh ba, bỗng có một con rắn lớn bò đến quấn chặt mình Sư, Sư không cựa động được, cố nhích mình lần tới bàn Phật, niệm chú thần đao, một lát con rắn ấy biến mất. Lại một hôm, đang giữa ban ngày bỗng mây đen kéo đến trước sân mù mịt, gió cuốn ầm ầm, cây gãy cát bay, mái nhà bung tốc. Bỗng nghe tiếng như ngàn muôn con mèo kêu ran lên một chặp. Sư vẫn điềm nhiên không chút sợ hãi. Lại một lần, canh vắng đêm khuya, Sư đang ngồi thiền trước điện Phật, hương đèn sáng choang. Bỗng thấy quân ma vừa trai vừa gái đứng vây tứ phía, đứa cầm giáo đứa cầm mác, đứa dắt trâu đứa dắt ngựa đứa dắt voi, nhiều thứ quái tượng. Sư cảm thấy đau bụng, mắt mờ, không thấy ánh sáng của đèn. Sư liền lập chí Kim Cương tưởng lửa tam-muội, quyết đốt cháy thân mình và thiêu cả thế giới. Một lát chúng ma biến đâu mất, cảnh sắc lại quang minh như trước. Sư cho rằng đất này là ác địa, khó giáo hóa được, bèn trở về quê cũ là làng Bình An thượng, phủ Thăng Hoa xứ Quảng Nam. Một đêm có người Mán lại gõ cửa Sư và thiết tha mời Sư ra đảo Tim Bút La lại. Hỏi nguyên do, người Mán thưa: - Sư cụ về được bốn ngày, thì cả ba đền ở đảo Tim Bút La, đền Cao Các Đại Vương, đền Phục Ba Đại Vương và đền Bô Bô Đại Vương đều phục đồng lên nói rằng: “Hôm nọ bọn ma tinh tác quái mấy lần để làm não hại Pháp sư, chúng ta ngồi yên xem thử coi ai thắng ai bại. Chúng ta thấy Pháp sư biến hình biến tướng chẳng biết ở đâu, khiến chúng ma tinh phải lui hết. Chúng ta thấy Pháp sư thật là đạo hạnh kiêm toàn, vì vậy nên báo cho dân làng biết đi thỉnh Sư về trụ trì ở đây.” Sư lại một phen cùng đệ tử xuống thuyền trở ra đảo Tim Bút La. Từ đây Sư ở chuyên tu hơn tám năm mà không có gì chướng ngại. Nhân dân rất ngưỡng mộ. Chúng ta thường nghe nói người tu bị ma phá. Lẽ ra ma phải thương và ủng hộ để người ta tu có phước, mình được hưởng. Đằng này tại sao lại phá người tu? Bởi vì tà không ưa chánh, người xấu không thích người tốt, đó là lẽ thường. Song, tà không hại được chánh nên không thể phá được. Người tu chân chánh khi gặp cảnh lạ thì không sợ mà thản nhiên tự tại. Ví như đang ngồi thiền mà bị ma đến phá, hóa thành con rắn to quấn vào mình giống như thiền sư Hương Hải, thì phải làm sao? Thấy những cảnh tượng khủng khiếp đó, không nên hoảng sợ, chỉ cần bình tĩnh, dùng trí tuệ quán thân này không thật. Thân không thật thì con rắn cũng không thật. Quán cho thật kỹ, thật sâu thì con rắn tự mất. Đó là thuật của người tu thiền. Thật ra tu thiền ở núi khó tránh khỏi mấy chuyện lộn xộn đó, vì tôi từng ở núi một mình. Có khi những tiếng động sột soạt hoặc những luồng gió lạnh rởn ốc sau lưng... lúc đó nếu sợ mà đứng dậy đi là chưa can đảm. Phải bình tĩnh, quán thân này là hư giả, không quan trọng. Trong kinh Kim Cang có bài kệ: Nhất thiết hữu vi pháp Như mộng, huyễn, bào, ảnh, Như lộ diệc như điện, Ưng tác như thị quán. Tất cả pháp hữu vi đều như mộng huyễn, không thật. Tỉnh táo quán chiếu thì ma không hại mình được, sợ sệt chạy la là thua trận rồi. Tâm tà không hại được tâm chánh, chỉ tâm tà mới dễ bị hại. Cho nên người tu có tâm chân chánh thì không gì có thể làm hại được, chứ không phải ở chỗ đông để ma không phá. Thật ra ở đông hay một mình cũng không quan trọng. Một khi đã hiểu rõ đường lối tu và biết lẽ thật của các pháp thì không còn sợ nữa, dùng mũi tên trí tuệ và cây cung thiền định để dẹp phá quân ma. Nếu không định tâm được, nghe la hét bao vây, rợn người rút chạy là thua cuộc. Nếu ma hại được người tu một mình trên núi non thì chắc không có người tu đạt đạo. Hiểu được điều này rồi, chúng ta an tâm tu hành, cái gì đến cũng không sợ. Nhiều vị phải học chú trị ma để ngồi thiền không sợ. Điều đó không quan trọng, quan trọng là ở trí tuệ quán chiếu của mình, sáng suốt thì tất cả đều tan hết. Học chú lo trị ma rồi quên đi sự tu của mình, như vậy rất là đáng tiếc. Thuần quận công trấn thủ Quảng Nam có bà vợ đau đã lâu mà không trị lành, nghe danh tiếng của Sư cho người đến rước. Sư lập đàn tụng kinh bảy ngày đêm thì bệnh bà lành. Cả nhà đều kính phục, đồng xin quy y với Sư. Xong việc, Sư trở lại đảo Tim Bút La. Hơn nửa năm sau, quan Tổng thái giám là Hoa Lễ Hầu ở Quảng Nam mắc bệnh lao đã ba năm, nghe danh Sư cho thuyền ra đón về trị hộ. Sư về lập đàn Đại sám hối trong vòng mười ngày bệnh được khỏi. Hoa Lễ Hầu về Thuận Hóa đem việc đó kể lại cho Dũng quốc công Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền 1648-1687) nghe. Quốc công ngưỡng mộ sai sứ ra thỉnh Sư về doanh phủ. Quốc công ra cửa đón Sư vào, thăm hỏi và luận bàn đạo lý rồi lập Thiền Tĩnh Viện ở núi Quy Kính mời Sư trụ trì. Sư ở núi Quy Kính hoằng hóa, bà Quốc thái phu nhân cùng ba công tử là Phúc Mỹ, Hiệp Đức và Phúc Tộ đều xin quy y, quan dân quân lính đều kính mộ, xin quy y có đến một ngàn ba trăm người. Bấy giờ có quan thị nội giám là Gia quận công người làng Thụy Bái huyện Gia Định ngoài Bắc, tòng quân vào đánh Thuận Hóa bị Phúc Tần bắt được, nhưng tha cho để ra vào dạy nội cung. Gia quận công thường tới lui nghe Sư thuyết pháp. Có kẻ ganh ghét tâu với chúa Nguyễn là hai người âm mưu định trốn về Bắc. Chúa Nguyễn sanh nghi, liền bắt Sư và Gia quận công đem tra tấn, nhưng rốt cuộc không có bằng chứng gì. Chúa Nguyễn ra lệnh cho Sư về Quảng Nam. Bởi lý do ấy, Sư quyết chí trở về Bắc thật sự. Sư ngầm dự bị một chiếc thuyền cùng năm mươi đồ đệ vượt biển. Về đến đồn Trấn Lao đến yết kiến quan Đốc sư là Yên quận công Trịnh Na. Trịnh Na dâng sớ về triều tâu cho vua Lê hay. Bấy giờ là tháng ba năm Nhâm Tuất, năm thứ ba niên hiệu Chính Hòa (1682). Chúa Trịnh (Trịnh Tạc) sai Đường quận công đem thuyền đón Sư về kinh. Sư đến kinh ở tạm lại công quán, Chúa Trịnh sai Nội giám là Nhương quận công và Bồi tụng là Lê Hy đến hỏi tra lý lịch, lại đòi người làng Áng Độ đến nhận thật. Biết đúng lẽ thật rồi, Chúa Trịnh cho mời Sư vào triều thăm hỏi và phong cho chức Vụ sử, thưởng ba trăm quan tiền, mỗi năm cấp hai mươi bốn lâu thóc, ba mươi sáu quan tiền, một tấm vải trắng. Đồ đệ của Sư mỗi người một năm cấp mười hai lâu thóc, mười hai quan tiền. Chúa sai Sư vẽ địa đồ của hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam, Sư vâng lệnh vẽ rất rõ ràng dâng lên. Chúa khen ngợi thưởng hai ngàn quan tiền. Tháng tám năm ấy, Chúa Trịnh sai đưa Sư về ở nhà công quán trấn Sơn Tây. Ở đây hơn tám tháng, Chúa lại dời Sư về ở trấn Sơn Nam và ra lệnh quan trấn thủ là Lê Đình Kiên đo ba mẫu quan thổ cất am cho Sư, lúc này Sư được năm mươi sáu tuổi. Sư về am này lại càng tinh tấn, hằng giữ tâm chánh định, giới luật tinh nghiêm, sớm hôm không khi nào lười mỏi. Sư lại chú giải các kinh ra chữ Nôm được ba mươi thiên, khắc bản ấn hành. Năm Canh Thìn niên hiệu Chính Hòa (1700), Sư sang ở chùa Nguyệt Đường, học trò theo hơn bảy mươi người đều tinh thông kinh luật. Sư xây dựng lại ngôi chùa Nguyệt Đường rất rộng rãi và đẹp đẽ. Chính nơi đây, Sư làm hưng thịnh lại phái Trúc Lâm. Đây là thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Ngài là người chân tu mà bị sự nghi ngờ của chúa Nguyễn, nên nghĩ ở đó chắc không ổn nên lén về Bắc. Khi về Bắc rồi, ngài mới được yên ổn tu hành. Vua Lê Dụ Tông vì hiếm hoi con, mời Sư vào nội điện lập đàn cầu tự, bấy giờ Sư đã bảy mươi tám tuổi. Lúc vào chầu, vua rất kính trọng, hỏi Sư rằng: - Trẫm nghe Lão sư học rộng nhớ nhiều, vậy xin Lão sư thuyết pháp cho trẫm nghe để trẫm được liễu ngộ. Sư tâu: - Xin bệ hạ chí tâm nghe cho thật hiểu bốn câu kệ này: Âm: Phản văn tự kỷ mỗi thường quan, Thẩm sát tư duy tử tế khan. Mạc giáo mộng trung tầm tri thức, Tương lai diện thượng đổ sư nhan. Dịch: Hằng ngày quán lại chính nơi mình, Xét nét kỹ càng chớ dễ khinh. Trong mộng tìm chi người tri thức, Mặt thầy sẽ thấy trên mặt mình. Bài kệ đã chứng minh ngài là con cháu của hệ phái Trúc Lâm Yên Tử. Bởi vì vua Trần Nhân Tông khi còn làm thái tử, hỏi về yếu chỉ thiền được Tuệ Trung thượng sĩ dạy: Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc. Tức là xoay lại chính mình là phận sự gốc, không từ bên ngoài mà được. Vua lấy câu đó làm căn bản tu hành và ngộ đạo. Hằng ngày quán lại chính nơi mình. Chữ phản văn tự kỷ tức là phải xoay lại, xem xét hay là nhìn thấu suốt ở chính mình. Hằng ngày mình phải quán chiếu lại ngay nơi bản thân mình. Xưa ngài Thần Quang đến xin tổ Đạt-ma pháp an tâm, Tổ nói: - Ngươi đem tâm ra đây, ta an cho. Ngài Thần Quang xoay lại tìm tâm không thấy, thưa: - Con tìm tâm không thể được. - Ta đã an tâm cho ngươi rồi. Ngài Thần Quang nhân đây được khế ngộ, Tổ đổi tên là Huệ Khả. “Ta đã an tâm cho ngươi rồi.” Một câu nói hết sức đơn giản mà là yếu chỉ trong nhà thiền. Thiền là phản quan, tức là tìm lại tâm mình. Trong mười mục chăn trâu, bước đầu chú mục đồng phải đi tìm trâu, thấy trâu rồi thì cột mũi giữ lại. Chúng ta tu thiền là quay lại tìm tâm không an đó, nhưng càng tìm càng mất. Tại vì chúng ta cứ cho cái tôi nghĩ, tôi thương, tôi ghét, tôi buồn là tâm mình, rồi trung thành bảo vệ nó. Đến khi người ta phản bác liền nổi sân. Đó là chúng ta đang làm nô lệ cho cái bóng của mình, cho cái tạm bợ hư giả, thật là sai lầm. Vì vậy, phải hằng ngày quán xét lại nơi mình. Xét nét kỹ càng chớ dễ khinh, phải xét nét cho tường tận đừng có xem thường. Nhận chân cái gì là thật, cái gì là giả mới không còn mê lầm. Trong mộng tìm chi người tri thức, mặt thầy sẽ thấy trên mặt mình. Thiện tri thức sẽ thấy ngay nơi mình chứ không ở đâu xa. Người tu Phật không phải tìm thiện tri thức ở ngoài mà tìm ngay nơi mình. Nói thiện tri thức là nói theo lẽ thường, nếu nói cao hơn chút nữa là Phật. Trong mộng đừng tìm Phật mà phải thấy Phật ở ngay nơi mình. Chúng sanh còn mê nên không thấy Phật, chỉ thấy những thứ giả tạm rồi cho là thật, nên muôn đời không thấy được lẽ thật. Ví dụ có một người bạn thân đến nhà chơi, đang nói chuyện vui vẻ, bỗng dưng người đó lên cơn nhồi máu cơ tim, lăn đùng ra chết. Người đó là thật hay giả? Nếu thân này thật thì trước sau đều thật, nếu là giả thì trước sau cũng giả. Vậy mà người chết rồi thì thấy giả, còn người sống thì thấy thật. Thật là quá si mê. Bao giờ chúng ta thấy thân này đúng như thật thì mới hết mê. Về phần tâm, chúng ta thường cho tâm nghĩ suy là tâm mình, bây giờ phản quan nhìn lại xem nó có thật là tâm mình không? Như khi đang ngồi thiền, một niệm dấy lên, chúng ta nhìn nó. Nếu niệm dấy lên là mình thì ai nhìn nó? Nếu khởi nghĩ đó là mình thì ai biết được khởi nghĩ đó? Thế mà chúng ta chấp khởi nghĩ là mình rồi quên đi cái thấy biết khởi nghĩ. Cái thấy biết khởi nghĩ là thật, vọng tưởng là giả. Chúng ta đang sống với vọng tưởng hay sống với cái biết? Sống được với cái biết là sống ở chỗ siêu thoát, rất đáng quý mà người phàm tục không để ý, cứ một bề cho suy nghĩ hơn thua tốt xấu là tâm mình rồi chạy theo nó, quay cuồng cả ngày, nghĩ chuyện này nhớ chuyện kia, không lúc nào dừng. Xưa có người hỏi ngài Thần Hội: - Vô niệm thì pháp có, không chăng? Ngài đáp: - Chẳng nói có, không. - Khi ấy thế nào? - Cũng không khi ấy. Ví như gương sáng nếu không đối hình tượng, trọn không thấy hình tượng, nếu thấy không vật mới là thấy gương thật. Ví dụ của ngài thật hay đáo để. Như khi nhìn vào gương, thấy người thấy vật thì đâu thấy gương. Khi không có bóng hiện trong gương mới thấy gương thật. Như vậy mặt gương lúc nào cũng sáng, tại vì chúng ta thấy bóng rồi cho bóng là thật nên quên mất mặt gương. Mặt gương dụ cho tâm hằng hữu của mình. Niệm là bóng, tất cả cảnh tốt xấu vui buồn huân trong tâm là bóng. Chúng ta cho các thứ bóng đó là tâm mình, tôi nghĩ thế này, tôi tính thế kia đủ thứ. Từ đó sanh ra lầm mê. Khi biết rõ tất cả đều là bóng thì không có gì để chạy theo, không chạy theo tự nhiên sống an nhàn tự tại, không muốn thành Phật cũng thành như thường. Nói tới Phật là nói tới giác, còn mê tức là chưa giác. Thấy được lẽ thật đó rồi thì đối với những được mất của thế gian, chúng ta bình thản tự tại. Người ta khen ngợi hay chê bai, chúng ta cũng tươi cười. Vì đã không thật thì khen hay chê cũng vậy thôi. Người tu Phật lặng hết tâm suy nghĩ rồi liền phát khởi trí tuệ sáng suốt, thấy tất cả đúng như thật. Biết thân không thật tức là chúng ta đã có trí tuệ. Có trí tuệ thì thân không tham không sân không si, tâm không còn bị nhiễm ô của thế tục lôi kéo trói buộc. Chúng ta là những hành giả chứ không phải học giả. Học giả là lượm lặt lại từ người khác, nhưng tư tưởng của người xưa chỉ đúng vào một thời điểm, qua thời điểm khác là không phù hợp. Như ngày xưa quan điểm của đức Khổng Tử được người đời tôn trọng và noi theo. Bây giờ, nếu đưa ra ba điều: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử áp dụng với thời đại ngày nay, chắc không ai chịu. Hoặc là công dung ngôn hạnh, phụ nữ khuê môn bất xuất, nghĩa là cả ngày không cho ra ngoài thì không còn phù hợp nữa. Đức Phật nói đời người sanh, già, bệnh, chết, không ai thoát khỏi. Lại nói thân này là duyên hợp, tạm bợ hư dối, tâm là lăng xăng huyễn hóa. Những điều này chưa bao giờ lỗi thời. Vì trí tuệ do định phát sanh thì thấy đúng như thật muôn đời. Còn trí suy luận chỉ hiểu đúng trong một thời gian thôi. Chúng ta nghiệm lại sẽ thấy điều này rõ ràng. Những điều mà các nhà triết học đã nói bây giờ thường bị bác bỏ, không phải là chân lý miên viễn. Nhưng lời Phật dạy, từ xưa đến nay, không ai bác bỏ được. Ví dụ khi Phật chứng được Thiên nhãn minh, ngài thấy trong nước có vô số vi trùng, trong hư không có vô số thế giới. Đây là lẽ thật muôn đời. Khi tâm thanh tịnh, chúng ta thấy thân này là tạm bợ hư dối, thấy tâm mình là bóng, chợt có chợt không, chợt sanh chợt diệt. Khi tâm không thanh tịnh, có khi chúng ta nằm ngủ mà không ngủ được, nhớ đủ thứ. Buông được rồi mới thanh thản tự tại. Chúng ta thường quên đi cái thật, bám vào cái hư dối cho là mình, đó là mê. Bây giờ, thấy hư dối biết hư dối, thấy chân thật biết chân thật, đó là giác. Như vậy thành Phật khó hay dễ? Chúng ta tưởng Phật ở trên trời trên mây, nhưng Phật ở ngay nơi mình. Mặt Phật ở ngay nơi tâm mình, tâm mê là chúng sanh, tâm giác là Phật. Chân lý như vậy mà chúng ta không biết, suốt ngày chỉ tìm cầu bên ngoài, xin Phật gia hộ cho con cái này cái kia. Ví dụ Phật tử chuẩn bị đi đâu xa, đến bàn thờ thắp ba cây hương, lạy Phật gia hộ con đi đường được bình an. Nhưng vừa ra đường, ghé tiệm mua đồ, bị người ta nói mấy lời không vừa ý liền cự cãi, lúc đó có bình an không? Phật làm sao gia hộ kịp với tâm nóng giận của mình! Tại tâm mình hung dữ nên xảy ra chuyện không yên, chứ nào phải tại Phật. Chúng ta muốn được an ổn tốt đẹp thì bớt tham sân si, người ta nói gì cũng cười thôi. Người ta chửi mình là con bò cũng không tức giận. Mình uống sữa bò thì người ta nói mình là bò, có gì đâu mà không chịu, rồi cãi nhau ầm ỹ. Nhiều khi tôi thấy tội nghiệp cho người thế gian, sao mà mê muội, những lời của kẻ khùng kẻ điên mà cũng cự cãi. Như vô trong bệnh viện tâm thần, bị mấy bệnh nhân ra chặn đường chửi mình, lúc đó phải làm sao? Mình tức, chửi lại họ là mình cũng điên như họ rồi, có gì hơn đâu. Vậy mà không chịu nhịn, nhịn sợ người ra nói mình dại, nào ngờ cãi lại càng dại hơn. Chúng ta hiểu được đạo lý, thấy được lẽ thật rồi thì thương cho cái mê muội của chúng sanh chứ không nên giận. Tôi rất thấm lời Phật dạy trong kinh A-hàm: “Bị thiêu đốt trong địa ngục chưa phải là khổ, bị làm loài quỷ đói lang thang chưa phải là khổ, bị mang lông đội sừng làm trâu kéo xe, kéo cày chưa phải là khổ, chỉ những kẻ si mê không biết lối đi mới là khổ.” Tại sao si mê là gốc khổ? Ở địa ngục hết tội được lên, ở ngạ quỷ hết nghiệp được ra, súc sanh mãn kiếp được thoát, còn si mê dẫn mình liên miên trong sanh tử không có ngày ra khỏi. Đạo Phật cho si mê là đáng sợ hơn hết, nhưng chúng sanh chỉ sợ địa ngục, ngạ quỷ mà không sợ si mê! Cái đáng sợ thì không sợ, cái không đáng sợ lại sợ. Cho nên chúng ta cứ lẩn quẩn trong mê lầm, không thấy được lẽ thật. Lời Phật dạy một đàng, lại làm một ngả, thật là đáng thương. Vua lại hỏi: - Thế nào là ý của Phật? Sư liền đáp: Âm: Nhạn quá trường không, Ảnh trầm hàn thủy, Nhạn vô di tích chi ý, Thủy vô lưu ảnh chi tâm. Dịch: Nhạn bay trên không, Bóng chìm đáy nước, Nhạn không ý để dấu, Nước không tâm lưu bóng. Vua khen ngợi: - Lão sư thông suốt thay! Thiền sư dùng bốn câu Nhạn quá trường không, ảnh trầm hàn thủy, nhạn vô di tích chi ý, thủy vô lưu ảnh chi tâm, để trả lời về ý Phật ý Tổ. Phật tổ có sử dụng cái ý hay không? Nhạn không có ý để lại dấu vết trong hư không, qua rồi mất, không còn một dấu tích gì. Bóng nhạn hiện dưới đáy nước mà nước có tâm để giữ bóng đó không? Có bóng hiện nhưng nhạn bay qua thì bóng nó cũng theo đó mà mất, nước không có ý giữ bóng. Như vậy Phật tổ có ý không? Vua Trần Nhân Tông có câu: “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”, nghĩa là đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền. Như vậy chim nhạn bay trong hư không thì nó cứ bay, chứ không có ý để dấu. Nước hiện bóng chim nhạn, mà nước cũng không có ý giữ bóng chim nhạn. Chim nhạn là dụ cho người, nước dụ cho cảnh. Để thấy rằng người và cảnh đối diện nhau vô tâm, đó là ý Phật. Chứ không phải không cảnh. Cảnh là cảnh, mình là mình, không có một niệm vướng mắc. Trong kinh Kim Cang, Phật nói: Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Muốn sanh tâm chánh đẳng chánh giác thì đừng vướng mắc với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Đó là tâm Phật. Chúng ta không cần mắt mù tai điếc, đi trong tất cả cảnh mắt thấy vẫn thấy, tai nghe vẫn nghe, nhưng không cho vướng mắc, lúc đó ta đã là Phật rồi. Như vậy làm Phật khó hay dễ? Chỉ cần không vướng mắc, thấy mình không thật cảnh không thật, tâm đó là tâm Phật. Tất cả pháp hữu vi đều không thật, như bóng, như mộng, như huyễn thì có gì để vướng mắc? Chúng ta thấy thật là vì đa sự. Có khi đang đi trên đường, thấy người đằng trước nói chuyện cũng ráng nghe thử chuyện gì. Hoặc thấy người ta cãi nhau thì đứng nghe coi ai phải ai quấy. Chuyện của mình chưa xong, còn muốn ôm chuyện người ta vô nữa. Mình đâu phải cảnh sát, mà cứ đi ôm về chất thành đống như vậy. Người tu muốn ra khỏi trầm luân thì giữ tâm không vướng mắc với cảnh, chứ không phải trốn cảnh, vì cảnh ở đâu cũng có. Không vướng mắc với cảnh là tâm giác ngộ, kẹt với cảnh là tâm phàm phu chứ không có gì lạ. Từ phàm phu tới thành Phật dễ như trở bàn tay, phải không? Trong nhà thiền có kể câu chuyện: Ngày xưa anh chàng làm hàng thịt nọ buôn bán mấy chục năm ngoài chợ, bất thần hôm đó anh thức tỉnh bỏ nghề hàng thịt, xuất gia tu hành. Khi xuất gia rồi, sáng sờ đầu bỗng có tỉnh, anh làm bài kệ: Tạc nhật dạ-xoa tâm, Kim triêu Bồ-tát diện. Bồ-tát dữ Dạ-xoa, Bất cách nhất điều tuyến. Dịch: Hôm qua tâm dạ-xoa, Ngày nay mặt Bồ-tát. Bồ-tát cùng Dạ-xoa, Không cách nhau đường tơ. Mới hôm qua làm người hàng thịt là tâm dạ-xoa, nhưng khi thức tỉnh, cạo tóc tu thì bữa nay nhìn ra mặt Bồ-tát. Như vậy Bồ-tát và dạ-xoa cách nhau bao xa? Không cách một đường tơ, gần bên nhau chứ không xa chút nào hết. Như vậy muốn thành Phật chỉ cần chuyển tâm mê thành tâm Phật trong tích tắc, chứ đâu có xa xôi gì. Bây giờ quý Phật tử mỗi ngày tụng kinh đều khấn nguyện xin Phật cho con mạnh khỏe tu hành, thì chừng nào quý vị giác ngộ? Chỉ được chút duyên lành, rồi đời sau được thêm chút duyên lành, đến khi gặp thiện tri thức mới tỉnh. Cho nên tu mau hay chậm cũng do mình. Thánh là thấy đúng như thật, còn phàm là mê muội sai lầm, đâu có gì lạ. Tháng sáu năm Giáp Ngọ niên hiệu Vĩnh Thịnh (1714), Sư đã được tám mươi bảy tuổi, chúa Trịnh Cương (Hy Tổ) nhân đi kinh lý ghé thăm chùa, phát một ngàn quan tiền để cúng chùa. Bấy giờ học trò của Sư đông lắm. Sư sai làm sổ đặt pháp hiệu, được bảy mươi vị là pháp tử, dự vào hàng đệ nhất Thượng tọa nhiều lắm. Các pháp tử đặt pháp hiệu cứ theo thứ tự của những chữ mà Sư đã cho sẵn, như Viên Thông, Chân Lý v.v... Còn các pháp điệt (cháu trong đạo) thì đông lắm không thể kể xiết. Sư thường đọc lại những câu kệ xưa để dạy đồ chúng như: Âm: Sư tử quật trung sư tử, Chiên-đàn lâm lý chiên-đàn, Nhất thân hữu lại càn khôn khoát, Vạn sự vô ưu nhật nguyệt trường. Dịch: Sư tử trong hang sư tử, Chiên-đàn trong rừng chiên-đàn, Một thân nhờ có trời đất rộng, Muôn việc không lo ngày tháng dài. Sư tử trong hang sư tử, Chiên-đàn trong rừng chiên-đàn. Người quyết tâm tu hành thì ở chốn quyết tâm tu, người thanh tịnh thì ở nơi thanh tịnh, không lẫn lộn với những kẻ tầm thường. Một thân nhờ có trời đất rộng, Muôn việc không lo ngày tháng dài. Một thân này đã sẵn có trời đất rộng. Muôn việc mình bỏ hết thì mặc cho ngày tháng cứ trôi đi, chẳng có gì bận lòng. Âm: Long đắc thủy thời thiêm ý khí, Hổ phùng sơn sắc trưởng uy nanh, Nhân quy đại quốc phương tri quý, Thủy đáo Tiêu Tương nhất dạng thanh. Dịch: Được nước rồng càng thêm ý khí, Gặp non cọp mới trổ oai hùng, Người về đại quốc thành cao quý, Nước đến Tiêu Tương một sắc trong. Người tu hành gặp được nơi chốn tốt thì sự tu ngày càng tốt đẹp, như sông Tiêu Tương ở Trung Hoa là dòng nước sâu, nên các dòng sông đục chảy về đây đều trong. Người ở chỗ kia thì vô dụng nhưng về tới đây rồi là hữu dụng, là tốt. Đó là tâm trạng hài lòng của ngài khi trở về Bắc. Trên chỗ Sư ngồi thường viết ba bài tụng này: Âm: Phu Tử bất thức tự, Đạt-ma bất hội thiền, Huyền Sa vô thử ngữ, Thiết mạc vọng lưu truyền. Dịch: Khổng Tử không biết chữ, Đạt-ma chẳng hội thiền, Huyền Sa không lời nói, Cốt đừng dối lưu truyền. Khổng Tử không biết chữ, Đạt-ma chẳng hội thiền. Khổng Tử là ông tổ Nho mà không biết chữ. Tổ Đạt-ma là ông tổ Thiền mà nói không hiểu thiền. Câu nói nghe ngược ngạo làm sao! Nếu thấy Khổng Tử biết chữ, Đạt-ma hội thiền tức là còn thấy các ngài ở trong hình thức cứu cánh. Chỗ cứu cánh huyền diệu là vô ngôn. Đã vô ngôn thì nói gì là hội, là biết chữ? Khổng Tử không biết chữ, vì chỗ thánh của ngài không còn là chữ nghĩa. Chỗ tổ Đạt-ma được đạo lý thâm hậu không phải là những lời nói huyền diệu để người ta hiểu thiền. Trên chỗ chân thật cứu cánh không có ngôn ngữ, ngôn ngữ chỉ là phương tiện. Nói ra một câu không rơi vào bên này cũng kẹt vào bên kia. Lời nói của chúng ta luôn đặt ở hai phía, phải quấy tốt xấu, chứ không đến chỗ tuyệt đối chân thật. Huyền Sa không lời nói, cốt đừng dối lưu truyền. Huyền Sa tức là thiền sư Tông Nhất Sư Bị. Chỗ nhiệm mầu, huyền diệu dứt bặt nói năng. Đừng có truyền bá dối hay là truyền bá rỗng. Bài kệ này nêu lên ý nghĩa chân thật, vượt ngoài lý lẽ ngôn từ, phải tự thể nhận. Âm: Tầm ngưu tu phỏng tích, Học đạo quý vô tâm, Tích tại ngưu hoàn tại, Vô tâm đạo dị tầm. Dịch: Tìm trâu phải noi dấu, Học đạo quý vô tâm, Dấu còn trâu nào mất, Vô tâm đạo dễ tầm. Bài này chỉ thẳng cho chúng ta về hướng tu. Tìm trâu phải noi dấu. Chúng ta tìm theo dấu trâu đi, nó đi hướng nào thì mình tìm theo hướng đó. Học đạo quý vô tâm. Tức là không nghĩ hơn thua phải quấy, biết dừng tâm lăng xăng, đó là người biết học đạo. Phật dạy người tu niệm Phật phải niệm Phật nhất tâm, người tu thiền phải yên định, không cho tâm lăng xăng dấy động. Như chúng ta nhìn vào trong gương thấy bóng của mình, lúc đó không còn nhớ mặt gương nữa. Mặt gương dụ cho tâm thể, bóng dụ cho những dấy niệm lăng xăng. Bóng khi hiện khi mất, gương lúc nào cũng nguyên vẹn. Cũng vậy, khi duyên tốt đến thì vui, duyên xấu đến thì buồn, chỉ tâm thể là không vui không buồn, rỗng rang sáng suốt. Kinh Lăng-nghiêm gọi đó là chân tâm, tức tâm chân thật. Chúng ta có tâm chân thật mà quên, cứ chạy theo cái bóng. Bóng của tâm chân thật hiện ra trong lòng của tâm chân thật, giống như bóng của người hiện trong gương vậy. Cho nên, nhìn gương thấy bóng là do đối cảnh bên ngoài. Nếu cảnh bên ngoài không có thì gương cũng không có bóng. Người tu cốt làm sao dừng được tâm lăng xăng, đừng để bóng che khuất mặt gương chân thật của mình. Đạt đạo rồi thì tàng thức trở thành đại viên cảnh trí, gương trí tuệ tròn đầy. Mỗi chúng ta đều có sẵn gương tròn sáng đó mà không chịu nhận, ngày qua tháng lại cứ đuổi theo bóng cho là mình, rồi tạo nghiệp đi trong luân hồi sanh tử không có ngày cùng. Tâm thể không tạo nghiệp, chỉ tâm lăng xăng mới tạo nghiệp rồi dẫn mình đi trong luân hồi sanh tử. Muốn dừng luân hồi sanh tử thì phải buông xả tâm lăng xăng để sống với tâm thể chân thật của mình. Có người hỏi: “Người đọa địa ngục, Phật tánh có xuống địa ngục không?” Phật tánh không bao giờ bỏ chúng ta, chúng ta đi đâu cũng có tánh Phật. Nhưng chúng ta xuống địa ngục chịu hình phạt thì Phật tánh không chịu hình phạt. Vì mình buồn thương giận ghét rồi tạo nghiệp, chứ Phật tánh không buồn thương giận ghét nên không tạo nghiệp. Nhiều vị tu muốn đem tâm thiện giúp đời, vậy là đủ. Nhưng có tâm thiện thì sẽ có tâm ác. Chúng ta muốn đi tới những nơi thiếu thốn để giúp đỡ người nghèo, chuẩn bị sẵn một trăm phần quà. Đến nơi, người dân nghe nói có đoàn từ thiện, kéo đến gần hai ba trăm người. Thành ra không đủ chia, họ quay lại chửi mình. Lúc đó nếu mình nổi giận thì tâm thiện đã trở thành tâm ác mất rồi. Rõ ràng thiện với ác lẫn vào nhau. Chừng nào tâm chúng ta như như, không buồn thương giận ghét nữa, đó mới là tâm Bồ-tát. Học đạo quý ở chỗ vô tâm, chính là vô tâm lăng xăng, chứ không phải không tâm thể. Hiểu được lẽ thật này, đó là người biết học đạo. Dấu còn trâu đâu mất, vô tâm đạo dễ tầm. Như mục đồng chăn trâu, khi trâu đi lạc thì theo cái gì tìm? Thấy dấu đi hướng nào thì nhắm theo hướng đó mà tìm. Theo dấu thì nhất định gặp trâu. Chữ “dấu trâu” tượng trưng cho kinh điển của Phật hoặc lời chỉ dạy của thiện tri thức. Tâm là cái biết. Cái biết có biết sanh diệt và biết không sanh diệt. Cái biết sanh diệt là tâm vọng, cái biết thường còn là tâm chân. Tâm vọng thì dễ thấy, còn tâm chân làm sao thấy? Cái hay thấy gọi là tâm, ngay nơi mình đã có sẵn tâm đó. Nếu khởi suy nghĩ là đã qua tâm sanh diệt rồi, như nhìn bình hoa liền khởi nghĩ đẹp xấu. Rõ ràng chúng ta có cái thật mà không chịu dừng ở đó, cứ so sánh phân biệt rồi khen chê đẹp xấu. Chuyện của người thì mặc người, thương ghét là chuyện của mình. Ai bắt mình phải thương ghét mà mình dấy niệm thương ghét theo người? Vậy mà cả ngày chúng ta sống trong sanh diệt, tự chuốc lấy phiền não. Không sống với cái sanh diệt nữa thì hết phiền não. Nhiều Phật tử nói sao hồi chưa đi chùa phiền não ít, bây giờ đi chùa rồi phiền não nhiều hơn. Tại vì hồi chưa đi chùa thì ít gặp người, nên ít có khen chê, ít phiền não. Bây giờ đi chùa nhiều, gặp nhiều người quá nên thấy người này dễ thương người kia dễ ghét, như vậy rốt cuộc càng tu càng phiền não. Bây giờ dừng tâm nghĩ suy là giải thoát liền. Trên đường tu không khó, khó là vì mình lầm cái thật, chạy theo cái giả. Nếu chúng ta không suy nghĩ, chỉ có cái biết hiện tiền, đó là Phật rồi, kiếm tìm chi nữa. Thiền sư Nam Tuyền nói: “Bình thường tâm thị đạo.” Tâm bình thường không dấy khởi thì tâm đó là đạo. Người học đạo khi nào tâm sạch được vọng tưởng điên đảo, lúc đó đạo hiện tiền không phải đi kiếm ở đâu. Âm: Sanh tùng hà xứ lai? Tử tùng hà xứ khứ? Tri đắc lai khứ xứ, Phương danh học đạo nhân. Dịch: Sanh từ chỗ nào đến? Chết sẽ đi nơi nào? Biết được chỗ đi đến, Mới gọi người học đạo. Chúng ta tu bao nhiêu năm rồi có biết mình sanh từ đâu đến chưa, chết đi về đâu chưa? Khi thái tử Tất-đạt-đa đi tu, ngài thắc mắc những vấn đề ấy. Con người từ đâu mà đến, chết sẽ đi về đâu? Và làm sao giải quyết được vấn đề sanh tử. Đó là những vấn đề thắc mắc mà mỗi người tu ai cũng phải ôm ấp trong lòng. Bước đầu, Thái tử tìm đến những vị tu tiên, tu tập vài ngày cũng chứng được cảnh giới cao của thiền định, nhưng ngài thất vọng vì chưa thấu được chân lý tối thượng mà ngài hằng mong muốn. Ngài bèn bỏ đi, trải qua sáu năm tu khổ hạnh, thân thể và sức khỏe ngày càng suy yếu. Lúc đó ngài mới bừng ngộ pháp tu trung đạo. Ngài tìm đến cội Tất-bát-la ngồi thiền bốn mươi chín ngày đêm. Đến canh một đêm cuối, ngài chứng được Túc mạng minh, biết rõ tất cả các tiền kiếp của mình, sanh trưởng trong gia đình nào, giai cấp nào... Đến canh ba, ngài chứng được Thiên nhãn minh, biết được tất cả sự biến chuyển của sự vật, nhân duyên nghiệp báo của chúng sanh, từ đó có nhân quả luân hồi. Như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường, thấy người đi lại rõ ràng tường tận. Đến canh năm, sao mai vừa lên, ngài chứng Lậu tận minh, biết rõ tất cả các tiền kiếp của mình và chúng sanh. Ngài nhận thấy rõ ràng đâu là khổ, đâu là nguyên nhân của khổ, đâu là chỗ không còn sanh tử và làm thế nào để đến chỗ chân thật vĩnh cửu đó. Cho nên, người tu theo Phật phải thấu suốt được lẽ này. Ta từ đâu lại, chết đi về đâu và muốn thoát khỏi sanh tử phải làm sao? Chứ còn học đạo mà mù mù mịt mịt, không biết lối đi thì uổng phí một đời. Người biết chỗ đi và chỗ đến của mình mới thật là người học đạo. Tại sao chư Tổ không chấp nhận chỗ đi đến mà ở đây lại bảo chúng ta biết chỗ đi đến? Vì biết đi mà không có chỗ đi, đến mà không có chỗ đến. Thấy biết được như vậy mới là người học đạo chân thật. Phật dạy ngũ thừa Phật giáo gồm Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ-tát thừa. Thấp nhất là Nhân thừa, do giữ tròn năm giới mà đời sau được trở lại làm người. Thiên thừa do tu Thập thiện mà được sanh lên cõi trời. Thanh văn thừa tu theo pháp Tứ đế cầu đạt đến quả vị A-la-hán. Duyên giác thừa tu theo pháp Mười hai nhân duyên hoàn thành quả Bích-chi Phật. Bồ-tát thừa tu theo pháp Lục độ mà chứng được đạo mầu giải thoát. Phật đã chỉ rõ con đường cho chúng ta đi, tu nhân nào sẽ đến quả đó. Biết rõ như thế rồi chúng ta phải tinh tấn tu. Người biết tu Phật thì phải chuẩn bị, tìm hiểu con đường của mình đi cho rõ ràng. Bây giờ tu theo hạnh nào thì con đường tiếp nối của mình sẽ là như vậy. Hồi xưa tôi đi giảng cho Phật tử, đến bài Luân Hồi, có một nhà giáo đứng lên nói: - Thưa Thầy, về lý luân hồi chúng con biết rõ lắm! - Sao mà đạo hữu biết? - Dạ. Cùng một lớp học mà có đứa giỏi toán, đứa giỏi văn, đứa giỏi thủ công, mỗi đứa giỏi mỗi thứ. Con nghĩ trò này đời trước làm thợ mộc nên đời này giỏi thủ công. Trò kia đời trước học văn giỏi, đời này học môn văn tiếp thu rất nhanh. Như vậy đời trước có tích lũy thì đời này cũng còn nhớ. Phật đã nói đó là lẽ thật trên đường luân hồi mà chúng ta chưa có kinh nghiệm, không chịu nghiền ngẫm nên bán tín bán nghi. Hiểu kỹ rồi thì không còn ngờ vực nữa. Ví như người giữ ngũ giới, được năm quả báo rõ ràng: Không phạm tội giết người thì đời sau sanh ra tuổi thọ sống lâu. Không trộm cướp của người thì đời sau sanh ra có tài sản không mất. Không tà dâm thì đời sau sanh ra trinh bạch tốt đẹp. Không nói dối thì đời sau sanh ra ăn nói lưu loát, lời nói đáng tin cậy. Không uống rượu, không hút á-phiện ma túy thì đời sau sanh ra thông minh. Chúng ta muốn đời sau đủ năm điều đó thì ngay đời này phải chuẩn bị. Nếu không chịu chuẩn bị, muốn làm gì thì làm, có hối cũng không kịp. Trong đời này, có người sống lâu mà nghèo thiếu, người giàu có lại câm ngọng, đều do chưa thực hiện tròn năm giới Phật dạy. Vì vậy, ngũ giới là điều kiện tốt để chúng ta trở lại làm người tốt đẹp. Nếu đời này không giữ tốt, thì đời sau đừng mong được tròn đủ. Chỗ này cần phải hiểu cho tường tận. Khi nhàn hạ Sư thường ngâm hai bài kệ này: Âm: Thành thị du lai ngụ tự chiền, Tùy cơ ứng hóa mỗi thời nhiên. Song chiêu nguyệt đáo sàng thiền mật, Tùng tiếu phong xuy tĩnh khách miên. Sắc ánh lâu đài minh sắc diệu, Thanh truyền chung cổ diễn thanh huyền. Nguyên lai tam giáo đồng nhất thể, Nhậm vận hà tằng lý hữu thiên. Dịch: Dạo qua thành thị nghỉ chùa chiền, Tùy cơ ứng biến lẽ đương nhiên. Song vời trăng đến giường thiền mát, Gió thổi thông cười khách ngủ yên. Lầu đài rực rỡ, màu đẹp đẽ, Chuông trống vang rền, tiếng diệu huyền. Ba giáo nguyên lai cùng một thể, Xoay vần đâu có lẽ nào thiên. Âm: Thượng sĩ thường du Bát-nhã lâm, Trần cư bất nhiễm liễu thiền tâm. Liêm Khê, Trình thị minh cao thức, Tô Tử, Hàn Văn khế diệu âm. Vạn tượng sum la cao dị hiển, Nhất biều tạo hóa mật nan tầm. Nho nguyên đãng đãng đăng di khoát, Pháp hải trùng trùng nhập chuyển thâm. Dịch: Thượng sĩ thường chơi cảnh tùng lâm, Phong trần không vướng hội thiền tâm, Liêm Khê, Trình Hiệu người thông suốt, Tô Tử, Hàn Văn hiểu diệu âm. Muôn ngàn cảnh vật bày dễ thấy, Tạo hóa một bầu khó truy tầm. Nguồn Nho thăm thẳm lên càng rộng, Bể Thích trùng trùng xuống lại thâm. Sư thường thuật lại những diệu ngữ của các đấng cao tăng để dạy chúng: - Muốn cần thấy Phật cứ nhận nơi chúng sanh, chỉ vì chúng sanh mê không tự biết có Phật, chứ Phật đâu có làm mê chúng sanh. Ngộ được tự tánh của mình thì chúng sanh là Phật, mê tự tánh của mình thì Phật là chúng sanh. Giữ được tự tánh của mình bình đẳng thì chúng sanh là Phật, để tự tánh mình gian hiểm thì Phật là chúng sanh. Tâm ta sẵn có Phật, còn tìm Phật nơi nào? Nên kinh nói: “Tâm sanh thì các pháp sanh, tâm diệt thì các pháp diệt.” Phàm phu tức là Phật, phiền não tức là Bồ-đề. Niệm trước mê là phàm phu, niệm sau giác là Phật. Niệm trước chấp cảnh là phiền não, niệm sau ly cảnh là Bồ-đề. Chân tâm tự có thể, không phải do ta bịa đặt ra. Nó trong suốt như hư không, như tấm gương trong sạch tròn sáng. Không thể lấy cái có cái không, nơi này chốn nọ mà xét tột được chỗ u huyền của nó. Cũng không thể lấy trí khôn và ngôn ngữ mà bàn đến chỗ huyền diệu của nó. Chỉ có ai ngộ được chân tâm thì hiểu ngay ở nơi mình. Ví như muôn thứ hương thơm, chỉ đốt một lò là hiểu hết mùi thơm. Như vào bể cả tắm, chỉ cần hớp một hớp nước là biết hết toàn vị của bể cả. Chốn chân thật thâm sâu lặng lẽ, giác ngộ thì bụi trần lắng sạch tâm thể trong ngần; dứt hết mối manh danh tướng của ngoại cảnh, sạch hết những năng sở ở trong tâm. Bởi ban đầu bất giác, bỗng khởi ra vọng động, chiếu soi lại tự tâm, theo cái chiếu soi ấy mà sanh ra tâm trần. Như gương hiện hình tượng, thoắt có thân căn. Từ đó, chân tâm bị dời đổi, căn tánh bị sai lạc, chấp vào tướng đuổi theo danh, chứa mãi những vọng trần ứ đọng, kết mãi những sóng thức liên miên. Đem túm bọc chân giác vào giấc mê đêm, đắm chìm mê muội trong tam giới. Làm mù lòa con mắt trí ở trong ngõ tối, khúm núm cúi lòn trong chín loài. Ở trên cõi chẳng đổi dời, bỗng dưng luống chịu kiếp luân hồi. Trong pháp vô thoát, mà tự chuốc sự trói buộc nơi thân. Như con tằm mùa xuân làm kén tự giam mình, con thiêu thân mùa thu tự nhào vô đèn thiêu xác. Đem những sợi dây mê mờ buộc lấy nghiệp căn khổ sở, dùng đôi cánh của lòng tham mù quáng toan dập tắt vòng lửa tử sanh. Lại có những kẻ tà căn ngoại nhập, cùng những kẻ tiểu khí mưu mô. Chúng không hiểu rõ nguồn bệnh của sanh tử, không biết gốc chung của ngã nhân (ta người). Chỉ muốn tránh chỗ huyên náo, bỏ nơi hoạt động, cố phá từng cái tướng, tách từng mảnh bụi của mọi vật thể để tìm hiểu biết. Làm như thế, tuy chỗ tĩnh lặng cốt ngộ lý không, nhưng không biết đó cũng là cái lối làm chôn vùi chân tánh lấp mất chân giác. Thế chẳng khác nào kẻ thấy ngọn đèn có những tia sáng xanh đỏ, muốn không thấy những tia ấy bèn đi tắt ngọn đèn; kẻ trông thấy bóng theo dõi mình dưới bóng mặt trời, bèn chạy ra ngoài trời cho tránh khỏi bóng. Như thế, chỉ lao nhọc tinh thần, tốn hao sức lực. Chẳng khác gì gánh nước đổ vào đống băng, vác củi vất vào đám lửa đang cháy. Có biết đâu những tia sáng trong ngọn đèn kia là do mắt bệnh, bóng đuổi theo mình vốn ở thân mình. Nếu chữa khỏi bệnh lòa ở mắt thì những tia sáng tự mất, diệt thân huyễn chất này thì bóng nọ không còn. Nếu biết quay ánh sáng soi lại nơi mình bỏ ngoại cảnh mà xem ở tự tâm, thì Phật nhãn sáng suốt, bóng nghiệp tự tan, pháp thân hiện ra, những vết trần tự diệt. Ta phải lấy lưỡi dao khôn ngoan của tâm tự giác cắt đứt những mối dây triền phược trong lòng để biến nó thành tâm châu (ngọc). Phải dùng mũi giáo tuệ của chân như chặt tan những lớp bụi trần kết thành kiến võng. Ấy chính là cái tông chỉ Cùng tâm, cái chân truyền Đạt lý đó vậy. *** Sư lại nói: - Vọng thân tới gương soi bóng, bóng với vọng thân giống nhau. Chỉ muốn để thân bỏ bóng, thì thân có thật đâu nào! Thân vốn không khác gì bóng, một không một có được sao? Nếu muốn lấy một bỏ một, hằng cùng chân lý cách xa. Lại mến thánh ghét phàm, nổi chìm trong biển sanh tử. Phiền não nhân tâm nên có, tâm không phiền não ở đâu? Chẳng nhọc phân biệt lấy tướng, tự nhiên được đạo chóng mau. Ba đời chư Phật đều ở trong thân ta, chỉ vì tập khí làm mờ ám, ngoại cảnh làm ngăn trở, khiến ta tự mê đi. Nếu trong lòng ta được vô tâm là Phật quá khứ. Trong lặng lẽ mà khởi tác dụng là Phật vị lai. Tùy cơ ứng vật là Phật hiện tại. Ta thanh tịnh không nhiễm ô lục trần là Phật Ly Cấu. Ta ra vào không gì làm trở ngại là Phật Thần Thông. Đến đâu cũng an vui là Phật Tự Tại. Một tâm trong sáng là Phật Quang Minh. Tâm đạo bền chắc là Phật Bất Hoại. Ta biến hóa vô cùng chỉ do một chân tánh mà thôi. *** Chí đạo gốc ở tâm pháp, tâm pháp gốc ở vô trụ. Cái bản thể của tâm và chân tướng của tánh, vốn lặng lẽ chẳng phải có chẳng phải không, không có sanh cũng không có diệt. Ta tìm nó thì không thấy, bỏ nó vẫn chẳng rời. Nếu ta mê cái hiện lượng của nó thì khổ sở lầm lẫn lăng xăng, nếu ngộ được chân tánh của nó thì tinh thông sáng suốt. Tuy tâm tức là Phật, Phật tức là tâm, song chỉ có người chứng mới biết. Song còn chấp có chứng có biết thì mặt trời trí tuệ rơi vào đất Có. Nếu tâm mờ mịt không chiếu không sáng thì đám mây hôn trầm đã che lấp cửa Không. Chỉ có tâm không sanh một niệm thì không còn ngăn cách trước sau; chân tánh đứng riêng thì ta người nào khác. Nhưng mê đối với ngộ, ngộ trông vào mê, vọng đối với chân, chân nương nơi vọng. Nếu ta cầu chân mà bỏ vọng, như người chạy trốn bóng luống nhọc hình. Nếu ta nhận chân chính nơi vọng, như người vào chỗ mát thì bóng mất. Nếu tâm không vọng chiếu thì vọng lự tự hết. Từ cái tịch tri mà khởi dụng thì các thiện hạnh phấn khởi. Thế nên, cái ngộ tịch mà không tịch, cái chân tri dường như vô tri. Lấy tâm nhất trí không phân chia tịch và tri, hợp với lẽ huyền diệu dung thông nhau. Có và không đều không chấp không mắc, phải quấy đều quên, năng sở cũng dứt. Cái dứt ấy cũng bặt luôn thì hoa bát-nhã liền nở, mỗi tâm đều thành Phật, không tâm nào chẳng phải tâm Phật; chốn chốn đều là đạo thì không chỗ nào chẳng phải cõi Phật. Thế nên chân với vọng, vật với ngã đều do ở một tâm ta, Phật với chúng sanh cũng đều chung nhau một tâm ấy. Nếu mê thì người theo sự vật, sự vật thì vô vàn nên người chẳng giống nhau. Nếu ngộ thì sự vật theo người, người đem một trí mà dung hòa muôn cảnh. Đến đây thì hết chỗ nói năng bặt đường tư tưởng, còn gì mà nói nhân trước quả sau? Tâm thể rỗng lặng, còn gì là người này giống, kẻ kia khác? Chỉ còn một tâm trong sáng, tăng giảm chan hòa. Như tấm gương sáng, tuy không có hoa mà bóng hoa hiện, gương vẫn vô tâm, tuy thấy ảnh tượng chiếu trong gương, mà ảnh tượng vẫn hằng không vậy. *** Sư cũng thường đọc những bài kệ này dạy chúng: Âm: Cô viên khiếu lạc trung nham nguyệt, Dã khách ngâm tàn bán dạ đăng. Thử cảnh thử thời thùy hội đắc, Bạch vân thâm xứ tọa thiền tăng. Dịch: Vượn lẻ hú rơi trăng lưng núi, Khách quê ngâm lụn ngọn đèn khuya. Cảnh đấy người đây ai biết được, Thiền tăng ngồi lặng núi sâu kìa. Âm: Nam đài tĩnh tọa nhất lô hương, Chung nhật ngưng nhiên vạn lự vương. Bất thị tức tâm trừ vọng tưởng, Đô duyên vô sự khả tư lương. Dịch: Đài nam tĩnh tọa một lò hương, Lặng lẽ suốt ngày niệm lự không. Chẳng phải dứt tâm trừ vọng tưởng, Chỉ vì không việc đáng lo lường. Âm: Khô mộc nham tiền sai lộ đa, Hành nhân đáo thử tận tha đà. Lộ tư lập tuyết phi đồng sắc, Minh nguyệt lô hoa bất tự tha. Liễu liễu liễu thời vô sở liễu, Huyền huyền huyền xứ diệc tu ha, Ân cần vị xướng huyền trung khúc, Không lý thiềm quang yết đắc ma? Dịch: Cây khô trước núi dễ lạc đàng, Người đi đến đó thảy mơ màng. Tuyết trong cò trắng đâu cùng sắc, Trăng sáng hoa lau màu chẳng đồng. Liễu liễu, khi liễu không chỗ liễu, Huyền huyền, chỗ huyền cũng phải buông. Ân cần hát khúc trong huyền ấy, Ánh trăng giữa trời nắm được không? Âm: Nhất dược dược phiên tứ đại hải, Nhất quyền quyền đảo Tu-di sơn, Phật tổ vị trung lưu bất trụ, Hựu xuy ngư địch Mịch La loan. Dịch: Một nhảy, nhảy khỏi bốn bể cả, Một đấm, đấm nhào núi Tu-di. Trong ngôi Phật tổ mời chẳng ở, Lại thổi sáo chài bến Mịch La. Âm: Liễu vọng quy chân vạn lụy không, Hà sa phàm thánh bản lai đồng. Mê lai tận thị nga đầu diệm, Ngộ khứ phương tri hạc khứ lung. Phiến nguyệt ảnh phân thiên giản thủy, Cô tùng thanh nhậm tứ thời phong. Trực tu mật khế tâm tâm địa, Thủy ngộ sinh bình thụy mộng trung. Dịch: Bỏ vọng về chân muôn lụy không, Thánh phàm ức triệu xưa nay đồng. Mê đi cả thảy ngài vào lửa, Ngộ lại mới hay hạc sổ lồng. Một mảnh bóng trăng phân ngàn suối, Thông côi reo mãi bốn mùa rung. Cần phải thầm thông tâm địa ấn, Mới ngộ bình sinh một giấc nồng. Âm: Tâm pháp song vong du cách vọng, Sắc trần bất nhị thượng dư trần. Bách điểu bất lai xuân hựu quá, Bất tri thùy thị trụ am nhân. Dịch: Tâm, pháp đều quên còn cách vọng, Sắc, trần như một vẫn thừa trần. Trăm chim chẳng đến, xuân cứ tiến, Nào biết là ai người trụ am? *** Đến năm Ất Mùi niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ mười một (1715) đời Lê Dụ Tông, sáng ngày mười ba tháng năm, Sư tắm rửa xong, mặc áo ca-sa, ngồi kiết già an nhiên thị tịch, thọ 88 tuổi. Môn đệ xây ngôi tháp ba tầng thờ Sư. Tông phong của Sư còn thịnh mãi mấy đời về sau. Chùa Nguyệt Đường là một thiền lâm lớn nhất trong nước. Sư là người gây âm hưởng của dòng thiền Trúc Lâm được vang lên trong khoảng mấy trăm năm chìm lặng. Tác phẩm của Sư có: 1. Giải Pháp Hoa Kinh 2. Giải Kim Cương Kinh Lý Nghĩa 3. Giải Sa-di Giới Luật 4. Giải Phật Tổ Tam Kinh, ba quyển 5. Giải A-di-đà Kinh 6. Giải Vô Lượng Thọ Kinh 7. Giải Địa Tạng Kinh, ba quyển 8. Giải Tâm Kinh Đại Điên 9. Giải Tâm Kinh Ngũ Chỉ 10. Giải Chân Tâm Trực Thuyết 11. Giải Pháp Bảo Đàn Kinh, sáu quyển 12. Giải Phổ Khuyến Tu Hành, một quyển 13. Giải Bảng Điều, một thiên 14. Cơ Duyên Vấn Đáp Tinh Giải 15. Lý Sự Dung Thông 16. Quán Vô Lượng Thọ Kinh Quốc Ngữ … Sử thiền sư Hương Hải tôi đã giảng trong quyển Thiền sư Hương Hải, nên ở đây không giảng lại. Mục Lục
|
Thanh Từ Toàn Tập 36 - Hành Trạng Thiền Sư 7
|