Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 36 - Hành Trạng Thiền Sư 7
Tông Lâm Tế Truyền Sang Miền Bắc Việt Nam (Đàng Ngoài)

✵✵✵

THIỀN SƯ VIÊN VĂN CHUYẾT CHUYẾT

(HÒA THƯỢNG CHUYẾT CÔNG)

(1590 - 1644)

Đời thứ 34, tông Lâm Tế 

Thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết, tên Lý Thiên Tộ, pháp hiệu Hải Trừng, thường được gọi là hòa thượng Chuyết Công.

Sư quê ở Tiệm Sơn tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa. Mẹ Sư nằm mộng thấy từ rốn mọc lên một hoa sen, rồi có thai Sư. Sư ở trong thai mẹ đến ba năm mới sanh. Thuở bé Sư thông minh dĩnh ngộ, học thông cả ngũ kinh tứ thư. Kế đi xuất gia lão thông tam tạng giáo điển. 

Ban đầu Sư đến tham vấn với trưởng lão ở Tiệm Sơn. Trưởng lão hỏi: 

- Ngươi tạo sự nghiệp gì?

Sư thưa: 

- Giúp vua cứu dân.

Trưởng lão khen: 

- Lành thay! Đây là chí xung thiên, song chẳng qua còn tham danh lợi. Lão sẽ cố gắng xem. 

Sư do luận về công danh được tỉnh ngộ. 

Sau Sư đến yết kiến hòa thượng Đà Đà ở Nam Sơn. Hòa thượng thấy Sư thông minh mẫn tiệp bèn hứa nhận. Ngài bảo chúng rằng: “Ngày khác ta sẽ nhường chỗ cho kẻ này, y sẽ bước khỏi đầu sào trăm trượng.” Ngài bèn đem yếu chỉ tâm tông dạy cho Sư. 

Sau khi Sư đắc pháp, vân du khắp nước, giáo hóa mười phương. Học giả đương thời đều quý kính Sư. Danh tiếng của Sư vang khắp tùng lâm.

Sư sang Việt Nam đến kinh thành Thăng Long năm 1633, thầy trò ở lại chùa Khán Sơn và bắt đầu giảng Phật pháp. Người đến học gồm cả Hoa và Việt. Sau thời gian, Sư dời về chùa Phật Tích huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh, cách kinh thành khoảng ba mươi cây số. Trong thời gian giáo hóa ở đây, Sư được chúa Trịnh Tráng (1577-1657) rất quý mến, xem như bậc thầy. Vua Lê Thần Tông và các bậc công hầu cũng đều rất kính trọng. Thời gian sau, vì chúa Trịnh Tráng muốn có thêm kinh điển Phật giáo để lưu hành trong nước, cho nên Sư sai đệ tử là Minh Hành trở về Trung Hoa để thỉnh kinh. Những kinh điển thỉnh về được an trí tại chùa Phật Tích.

Sau khi hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc - Diệu Viên hiệu Pháp Tánh và công chúa Trịnh Thị Ngọc Duyên - Diệu Tuệ xuất gia tại chùa Phật Tích, chúa Trịnh Tráng bắt đầu cho trùng tu lại chùa Ninh Phúc cũng gọi là chùa Bút Tháp, huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh. Khi việc trùng tu hoàn tất, Sư được mời về trụ trì chùa Ninh Phúc cho đến khi viên tịch.

Hòa thượng Chuyết Công thuộc dòng Lâm Tế và truyền tông Lâm Tế sang Việt Nam. Phái Lân Giác ở Bạch Mai sau này cũng bắt nguồn từ ngài. Ngài gốc người Phúc Kiến, mẹ ngài chiêm bao thấy từ rốn mọc ra hoa sen rồi sanh ra ngài. Điềm lành này cho thấy ngài không phải chỉ mới tu một đời, mà đã có chủng duyên sâu. 

Khi đến tham vấn trưởng lão ở Tiệm Sơn, Trưởng lão hỏi: Ngươi tạo sự nghiệp gì? Ngài lúc này chưa đi tu, nên nói: Giúp vua, cứu dân. Trưởng lão khen: Lành thay! Đây là chí xung thiên. Song chẳng qua còn tham danh lợi, lão sẽ cố gắng dạy bảo xem. 

Do luận về chuyện công danh mà ngài tỉnh ngộ, sau mới đến yết kiến hòa thượng Đà Đà ở Nam Sơn. Ngài ngộ đạo như thế nào ở đây không thấy nói, chúng ta chỉ biết được qua lời khen ngợi của hòa thượng Đà Đà: Ngày khác ta sẽ nhường chỗ cho kẻ này, y sẽ bước khỏi đầu sào trăm trượng. Hòa thượng bèn đem yếu chỉ tâm tông truyền dạy cho ngài. 

Ngài ở Trung Hoa truyền pháp một thời gian, sau sang Việt Nam hoằng truyền tông Lâm Tế, rồi viên tịch luôn tại đây. 

Ở Việt Nam, Sư giáo hóa được những đệ tử cốt cán như thiền sư Minh Lương (người Việt), Minh Hành (người Hoa) v.v... xứng đáng hàng tiếp nối ngọn đèn chánh pháp. 

Khi sắp tịch, Sư gọi chúng lại nói kệ dạy:

Âm:

Sấu trúc trường tùng trích thúy hương

Lưu phong sơ nguyệt độ vi lương

Bất tri thùy trụ Nguyên Tây tự

Mỗi nhật chung thanh tống tịch dương.

Dịch:

Tre gầy thông vót nước rơi thơm

Gió thoảng trăng non mát rờn rờn

Nguyên Tây ai ở người nào biết?

Mỗi chiều chuông nổi đuổi hoàng hôn. 

Nói kệ xong, Sư bảo đại chúng: 

- Nếu ai động tâm khóc lóc không phải đệ tử của ta. 

Sư ngồi yên thị tịch, mùi hương lạ đầy chùa cả tháng mới tan. 

Sư tịch vào ngày rằm tháng bảy năm Giáp Thân (1644), thọ 55 tuổi. Vua Lê Chân Tông phong hiệu là Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư. Đệ tử là thiền sư Minh Hành lập tháp Báo Nghiêm để an trí nhục thân Sư. Trên đỉnh tháp có hình cây bút do Minh Hành dựng. 

Trước lúc tịch, ngài gọi chúng lại nói kệ, lời văn tả cảnh rất hay và rất đẹp:

Tre gầy thông vót nước rơi thơm

Gió thoảng trăng non mát rờn rờn

Nguyên Tây ai ở người nào biết?

Mỗi chiều chuông nổi đuổi hoàng hôn.

Bài kệ này thấy trong Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quý Đôn có ghi, nhưng đề là thiền sư Hương Hải dạy chúng. Nếu đem so với bài kệ này thì chỉ khác nhau ba chữ. Câu một ở đây ghi là “trích thúy”, bên kia là “trích thủy”; câu ba ở đây ghi là “Nguyên Tây tự”, bên kia để “Hư Thanh tự”. Do vậy chúng ta không thể biết được chính xác tác giả của bài kệ này là ai. 

✵✵✵

THIỀN SƯ MINH HÀNH

(1596 - 1659)

Đời thứ 35, tông Lâm Tế

Thiền sư Minh Hành pháp hiệu là Tại Tại, người phủ Kiến Xương tỉnh Giang Tây. Sư theo thầy là thiền sư Chuyết Chuyết sang Việt Nam, đến kinh thành Thăng Long năm 1633, là một cánh tay trợ giúp thầy giáo hóa.

Năm 1644, khi thiền sư Chuyết Chuyết tịch, Sư thay thế trụ trì chùa Ninh Phúc. Đến năm 1659 Sư tịch, thọ 64 tuổi. Môn đồ xây tháp thờ tại chùa Ninh Phúc, tháp hiệu Tôn Đức.

Sư có hai vị đệ tử là Chân Trú và Diệu Tuệ. Chân Trú trụ trì chùa Hoa Yên núi Yên Tử, còn Diệu Tuệ trụ trì chùa Phật Tích. Sư có đề bài kệ truyền pháp như sau:

Minh chân như tánh hải

Kim tường phổ chiếu thông

Chí đạo thành chánh quả

Giác ngộ chứng chân không.

✵✵✵

THIỀN SƯ MINH LƯƠNG

Đời thứ 35, tông Lâm Tế

Sư ở núi Phù Lãng, nghe hòa thượng Chuyết Công từ Trung Hoa sang, bác thông kinh sử thấu triệt tâm tông, nên Sư tìm đến tham vấn. Sư hỏi: 

- Khi sanh tử đến phải làm sao trốn tránh?

Chuyết Công đáp: 

- Chọn lấy nơi không sanh tử trốn tránh.

Sư hỏi: 

- Thế nào là nơi không sanh tử?

Chuyết Công đáp: 

- Ở trong sanh tử nhận lấy mới được.

Nghe nói thế, Sư vẫn chưa ngộ. 

Chuyết Công bảo: 

- Hãy lui đi, đợi chiều sẽ đến.

Sư giữ đúng hẹn, chiều lại vào phương trượng. 

Chuyết Công bảo: 

- Đợi sáng mai chúng sẽ vì ngươi minh chứng. 

Sư bỗng nhiên tỉnh ngộ, sụp xuống lạy. Chuyết Công hứa khả và truyền tâm ấn cho. 

Sau khi đắc pháp, Sư trở về trụ trì chùa Vĩnh Phúc núi Côn Cương ở Phù Lãng để truyền bá chánh pháp. 

Đến khi sắp tịch, Sư truyền pháp cho thiền sư Chân Nguyên, nói kệ rằng: 

Âm:

Mỹ ngọc tàng ngoan thạch

Liên hoa xuất ứ nê

Tu tri sanh tử xứ

Ngộ thị tức Bồ-đề.

Dịch:

Ngọc quý ẩn trong đá

Hoa sen mọc từ bùn

Nên biết chỗ sanh tử

Ngộ vốn thật Bồ-đề.

Trao kệ xong, Sư bảo đệ tử: “Nay ta trở về.” Nói dứt lời, Sư thị tịch. Đệ tử xây tháp ở núi Phù Lãng thờ Sư.

Thiền sư Minh Lương đời thứ 35 tông Lâm Tế. Lúc đầu ngài ở núi Phù Lãng, nghe hòa thượng Chuyết Công từ Trung Hoa sang, bác thông kinh sử, thấu triệt tâm tông, nên tìm đến tham vấn. 

Ngài hỏi: Khi sanh tử đến phải làm sao trốn tránh? Hòa thượng Chuyết Công đáp: Chọn lấy nơi không sanh tử. Hãy kiếm chỗ nào không có sanh tử mà trốn. Ngài hỏi tiếp: Thế nào là nơi không sanh tử? Hòa thượng Chuyết Công nói: Ở trong sanh tử mà nhận lấy mới được. Nói thế ngài cũng chưa ngộ, nên hòa thượng Chuyết Công bảo: Hãy lui đi, đợi chiều sẽ đến. Đúng hẹn, chiều ngài lại vào phương trượng, hòa thượng Chuyết Công bảo: Đợi sáng mai, chúng sẽ vì ngươi minh chứng. Ngang đây ngài tỉnh ngộ, liền sụp xuống lạy. 

Sau khi được truyền tâm pháp, ngài trở về trụ ở núi Phù Lãng. Sắp tịch, ngài nói kệ truyền pháp cho thiền sư Chân Nguyên: 

Ngọc quý ẩn trong đá

Hoa sen mọc từ bùn

Nên biết chỗ sanh tử

Ngộ vốn thật Bồ-đề.

Trong đá đã sẵn ngọc quý, ngay nơi bùn lầy có hoa sen thơm, khỏi phải tìm kiếm ở đâu. Đây cũng chính là chỗ ngộ của ngài, ngay trong sanh tử mà thấy được Bồ-đề, không phải tìm đâu xa. 

✵✵✵

THIỀN SƯ CHÂN NGUYÊN 

pháp danh TUỆ ĐĂNG

(1647 - 1726)

Đời thứ 36, tông Lâm Tế

Sư họ Nguyễn tên Nghiêm, tên chữ là Đình Lân, mẹ họ Phạm quê ở làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương. Một hôm mẹ Sư nằm mộng thấy cụ già cho một hoa sen, sực tỉnh dậy, từ đây biết có mang. Năm Đinh Hợi (1647), tháng chín ngày mười một giờ ngọ, mẹ sanh ra Sư. Lớn lên theo học với cậu là ông Giám sinh. Sư rất thông minh, hạ bút là thành văn. Năm mười sáu tuổi, Sư đọc quyển Tam Tổ Thực Lục đến tổ thứ ba là Huyền Quang liền tỉnh ngộ nói: “Cổ nhân ngày xưa dọc ngang lừng lẫy mà còn chán sự công danh, huống ta là một chú học trò.” Sư liền phát nguyện đi tu.

Năm mười chín tuổi, Sư lên chùa Hoa Yên vào yết kiến thiền sư Tuệ Nguyệt (Chân Trú).

Thiền sư Tuệ Nguyệt hỏi: 

- Ngươi ở đâu đến đây?

Sư thưa: 

- Vốn không đi lại.

Tuệ Nguyệt biết Sư là pháp khí sau này, bèn thế phát xuất gia cho pháp danh là Tuệ Đăng. Sau không bao lâu, Tuệ Nguyệt tịch. Sư cùng bạn đồng liêu là Như Niệm phát nguyện tu hạnh đầu-đà, đi du phương để tham vấn Phật pháp. Thời gian sau, Như Niệm đổi ý trở về chùa Cô Tiên. Sư đi lên chùa Vĩnh Phúc ở núi Côn Cương tham vấn thiền sư Minh Lương là đệ tử của Chuyết Chuyết.

Sư hỏi: 

- “Bao năm dồn chứa ngọc trong đãy, hôm nay tận mặt thấy thế nào” là sao?

Thiền sư Minh Lương đưa mắt nhìn thẳng vào Sư, Sư nhìn lại, liền cảm ngộ, sụp xuống lạy. Minh Lương bảo: 

- Dòng Lâm Tế trao cho ông kế thừa, làm thạnh ở đời. 

Minh Lương đặt cho Sư pháp hiệu là Chân Nguyên và bài kệ phó pháp:

Ngọc quý ẩn trong đá

Hoa sen mọc từ bùn

Nên biết chỗ sanh tử

Ngộ vốn thật Bồ-đề.

(Mỹ ngọc tàng ngoan thạch

Liên hoa xuất ứ nê

Tu tri sanh tử xứ

Ngộ thị tức Bồ-đề.)

Chính vì chỗ ngộ này, sau Sư soạn quyển Trần Triều Thiền Tông Chỉ Nam Truyền Tâm Quốc Ngữ Hành có cả thảy bảy lần nói về “Tứ mục tương cố” (bốn mắt nhìn nhau). Những đoạn như sau:

Đoạn 1:

Tứ mục tương cố nhãn đồng

Thầy tớ trao lòng đăng chúc giao huy.

Bổng đầu cử nhãn ấn tri

Cơ quan thấu được thật thì tri âm.

Đoạn 2:

Tam thế chư Phật tổ sư

Tứ mục tương cố thị cừ thiền cơ.

Đoạn 3:

Hiện ra nhãn nhĩ thanh âm

Tứ mục tương cố chẳng tâm thời gì?

Tâm nguyên không tịch vô vi

Ngộ được tức thì quả chứng Như Lai.

Đoạn 4:

Bát tự đả khai bằng nay

Tứ mục tương cố lộ bày viên dung

Ấy là mật ấn tâm tông

Tổ đã truyền lòng, chớ có hồ nghi.

Đoạn 5:

Tam thế chư Phật Như Lai

Tứ mục tương cố muôn đời chứng chân.

Đoạn 6:

Bảo thật cứu cánh cho hay

Tứ mục tương cố thật rày ấn tâm.

Đoạn 7:

Hóa Phật thọ ký vô biên

Tứ mục tương cố mật truyền tâm tông.

Trong bài Ngộ Đạo Nhân Duyên có đoạn Sư viết:

Một ngọn đèn tâm mắt Phật sinh,

Truyền nhau “bốn mắt ngó” phân minh.

Ngọn đèn mãi nối sáng vô tận,

Trao gửi thiền lâm dạy hữu tình.

(Nhất điểm tâm đăng Phật nhãn sinh,

Tương truyền tứ mục cố phân minh.

Liên phương tục diệm quang vô tận,

Phổ phó thiền lâm thọ hữu tình.)

Sau khi được tâm ấn rồi, Sư thọ giới Tỳ-kheo. Một năm sau, Sư lập đàn thỉnh ba đức Phật (Phật Thích-ca, Di-đà, Di-lặc) chứng đàn, thọ giới Bồ-tát và đốt hai ngón tay nguyện hành hạnh Bồ-tát. Về sau, Sư được truyền thừa y bát Trúc Lâm, làm trụ trì chùa Long Động và chùa Quỳnh Lâm, là hai ngôi chùa lớn của phái Trúc Lâm.

Thiền sư Chân Nguyên là người khôi phục thiền phái Trúc Lâm đời Trần. Năm mười sáu tuổi, nhân đọc quyển Tam Tổ Thực Lục đến tổ thứ ba là Huyền Quang, ngài liền tỉnh ngộ phát nguyện đi tu. 

Ngài xuất gia với thiền sư Tuệ Nguyệt, được cho pháp danh là Tuệ Đăng. Sau đến chỗ thiền sư Minh Lương, lúc này ngài đã am hiểu thiền nên hỏi: Bao năm cất chứa ngọc trong đãy, sao được ngày nay thấy rõ ràng? Ý là con đã có sẵn viên ngọc quý, bây giờ làm sao để thấy được. Thiền sư Minh Lương không nói câu nào mà đưa mắt nhìn qua, nhìn lại, nhìn trước, nhìn sau. Nhìn bốn phía để chỉ cho thấy viên ngọc, không chút giấu giếm, ngài liền lãnh ngộ lễ bái. Đó là tài khéo của những người truyền pháp. 

Thấy ngài căn cơ lanh lẹ, thiền sư Minh Lương ấn chứng qua lời nói “Tông Lâm Tế ta trao cho ngươi kế thừa, truyền bá thạnh hành ở đời”, và cho pháp hiệu là Chân Nguyên cùng bài kệ truyền pháp. 

Về sau ngài có soạn quyển Trần Triều Thiền Tông Chỉ Nam Truyền Tâm Quốc Ngữ Hành và bài kệ Ngộ Đạo Nhân Duyên, trong đó có những đoạn nói về “Tứ mục tương cố” tức là bốn mắt nhìn nhau, để nói lên sở ngộ của mình. 

Năm 1684, Sư dựng đài Cửu Phẩm Liên Hoa tại chùa Quỳnh Lâm theo kiểu mẫu đài Cửu Phẩm Liên Hoa mà thiền sư Huyền Quang đã dựng trước kia ở chùa Ninh Phúc.

Năm 1692, lúc bốn mươi sáu tuổi, Sư được vua Lê Hy Tông triệu vào cung để tham vấn Phật pháp. Vua khâm phục tài đức Sư, ban cho Sư hiệu Vô Thượng Công và cúng dàng áo ca-sa cùng những pháp khí để thừa tự.

Năm 1722, lúc bảy mươi sáu tuổi, Sư được vua Lê Dụ Tông phong chức Tăng thống và ban hiệu Chánh Giác hòa thượng.

Đến năm 1726, Sư triệu tập đệ tử dặn dò và nói kệ truyền pháp, kệ rằng:

Âm:

Hiển hách phân minh thập nhị thì,

Thử chi tự tánh nhậm thi vi.

Lục căn vận dụng chân thường kiến,

Vạn pháp tung hoành chánh biến tri.

Dịch:

Bày hiện rõ ràng được suốt ngày,

Đây là tự tánh mặc phô bày.

Chân thường ứng dụng sáu căn thấy,

Muôn pháp dọc ngang giác ngộ ngay.

Nói kệ xong Sư bảo chúng: 

- Ta đã tám mươi tuổi, sắp về cõi Phật. 

Đến tháng mười, Sư nhuốm bệnh, đến sáng ngày hai mươi tám viên tịch, thọ 80 tuổi. Môn đồ làm lễ hỏa táng thu xá-lợi chia thờ hai tháp ở chùa Quỳnh Lâm và chùa Long Động, tháp hiệu Tịch Quang. Sư là người khôi phục lại thiền phái Trúc Lâm.

Tác phẩm của Sư có:

1. Tôn Sư Pháp Sách Đăng Đàn Thọ Giới

2. Nghênh Sư Duyệt Định Khoa

3. Long Thư Tịnh Độ Văn

4. Long Thư Tịnh Độ Luận Bạt Hậu Tự

5. Tịnh Độ Yếu Nghĩa

6. Ngộ Đạo Nhân Duyên

7. Thiền Tông Bản Hạnh

8. Nam Hải Quan Âm Bản Hạnh

9. Thiền Tịch Phú

10. Đạt-na Thái Tử Hạnh

11. Hồng Mông Hạnh

12. Kiến Tánh Thành Phật.

Sau ngài về trụ trì chùa Long Động trên núi Yên Tử, học giả bốn phương kéo về tham học rất đông. Ngài tùy duyên chỉ dạy khiến cho thâm hiểu, như hoa ưu-đàm đua nở, rất nhiều người được ngộ đạo. 

Đến năm 1726, ngài triệu tập đệ tử lại dặn dò và nói kệ truyền pháp. Bài kệ này ngài diễn bày lại chỗ ngộ của mình thuở xưa: 

Bày hiện rõ ràng được suốt ngày,

Đây là tự tánh mặc phô bày.

Chân thường ứng dụng sáu căn thấy,

Muôn pháp dọc ngang giác ngộ ngay.

Viên ngọc quý hằng luôn bày hiện trong mười hai giờ, không lúc nào vắng thiếu. Mặc tình sự vật đổi dời, tự tánh vẫn như như không dời đổi. Tự tánh chân thường đó, ứng dụng qua sáu căn, biến tri tung hoành ở trong muôn pháp. Ngay nơi mình mà nhận ra, đừng tìm kiếm ở đâu khác. 

Như vậy, từ đưa mắt nhìn bốn phía của thiền sư Minh Lương, ngài đã thấy được viên ngọc hằng hữu luôn hiện bày nơi mình, nên làm kệ nói về “tứ mục tương cố”, đến khi truyền pháp ngài cũng nói lại chỗ ngộ ấy. 

Truyền pháp xong, ngài viên tịch, thọ 80 tuổi. 

***

Phụ bản:

THIỀN TỊCH PHÚ

Vui thay tu đạo Thích!

Vui thay tu đạo Thích!

Lọ phải thành đô,

Nào nề tuyền thạch.

Dù ngồi nơi cảnh trí danh lam,

Hoặc ở chốn chùa chiền cổ tích.

Đâu cũng dòng phước đức trang nghiêm,

Đây cũng vốn tu công thiền tịch.

Trước án tiền, đẳng kinh ba bức, 

tố khảm mã não xa cừ;

Trước thượng điện, thánh tượng mấy tòa, 

vẽ vàng san-hô hổ phách.

Thần Bát bộ Kim Cương đứng chấp, 

trấn phò vua ai thấy chẳng kinh;

Tượng Tam thân bảo tướng ngồi bày, 

ủng hộ chúa cõi nào dám địch.

Tả A-nan đại sĩ, vận sa hoa sặc sỡ vân vi;

Hữu thổ địa long thần, 

mặc áo gấm lổ lang xốc xếch.

Am thờ Tổ ngói rập gỗ dăm,

Nhà trú tăng vách vôi tường gạch.

Mấy bức kẻ chữ triện mặc rời,

Bốn bên nhiễu câu lan sóc sách.

Gác rộng thênh chuông đưa vài chập, 

niệm Nam-mô nhẹ tiếng boong boong;

Lầu cao tót trống dậy mấy hồi, 

đọc thần chú khua tang cách cách.

Phướn tràng phan nhuộm vàng khè, 

lúc gió đưa phấp phới nhởn nhơ;

Dù bóng boong dạng đen sì, 

khi trập mở nhập nhù thì thích.

Sư quân tử cấy trúc ngô đồng,

Đệ trượng phu trồng thông tùng bách.

Trăm thức hoa đua nở kề hiên,

Bảy giống báu chất đầy kẻ ngạch.

Ngào ngạt mùi xạ lan,

Thơm tho hương trầm bạch.

Sãi chưng nay

Mộ đạo tu hành,

Xả đường kinh lịch.

Chí dốc nên Phật tổ siêu thăng,

Lòng nguyện độ chúng sanh trầm nịch.

Đêm đông trường, khi mật niệm, 

gióng tiếng chuông thánh thót lênh kênh;

Ngày hạ tiết, lúc tụng kinh, 

nện dùi mõ khoan mau lịch kịch.

Chỉn chuộng một bề đạo đức,

miệng chẳng hiềm ăn đắng ăn cay;

Vốn yêu hai chữ từ bi, 

thân nào quản mặc lành mặc rách.

Khi dưa giấm chua lòm,

Bữa canh suông lạt thếch.

Mũ viền sô nhuộm mực đen sì,

Quần áo vải nâu sòng cũ rích.

Tham tài ái sắc, 

chẳng bao màng thói tục kiêu ngoa;

Cầu đạo xả thân, vốn giữ nếp nhà thiền cục kịch.

Túi để đựng kinh chứa sách, 

túi nào dùng vóc cải móng rồng; 

Dép đi đỡ bụi cách trần, 

dép chẳng chuộng da tàu hàm ếch.

Gậy nương chống đi giong dặm tuyết, 

gậy chẳng cầu khúc khuỷu cong queo;

Bầu để đựng chứa nước cam lồ, 

bầu lọ phải ngòng ngoèo ngốc nghếch.

Quảy bồ tre cầm quạt trúc, 

nào có hiềm nan cật to đề;

Ngồi chiếu lát tựa giường song, 

cũng chẳng quản dát ken thưa thếch.

Chơi rừng Nho len lỏi suối khe,

Dạo bể Thích luồn tuôn ngòi lạch.

Trà bát đức sẵn đà lưu loát, 

chẳng phải lo củi nấu kỳ cầm;

Bánh tam thừa vốn đã chứa chan, 

nào có nhọc bột đâm thì thịch.

Quả bồ-đề ăn ngọt sớt, muôn kiếp hằng no,

Hoa ưu-bát ngửi thơm tho, ngàn đời chẳng dịch.

Sang Tây phương bệ ngọc đứng chơi,

Về Đông độ tòa vàng ngồi trịch.

Bè từ bi thênh thênh rộng rãi, mặc sức chở người;

Thuyền Bát-nhã thăm thẳm bao la, 

dầu lòng độ khách.

Sãi chưng nay

Khuyên đấng đại thừa,

Bảo loài tiểu chích.

May gặp được minh sư đạo đức, một phen liền biết, 

nào hề chi chữ nghĩa tìm đòi;

Phúc lại thấy tri thức bạn lành, mấy chốc mà nên, 

lọ là phải văn chương ngóc ngách.

Thích-ca Phật tổ năng kiến tánh, 

ngồi Tuyết Sơn khô khẳng gầy gò;

Di-lạc Tiên Quang bởi vô tâm, 

đi vân thủy đẫy đà phục phịch.

Đức Huệ Năng bát nguyệt thung phường,

Tổ Đạt-ma cửu niên diện bích.

Thần Quang đoạn tý, 

lúc còn mê mặt ngó đăm đăm;

Ca-diếp nhãn đồng, 

thoắt chốc ngộ miệng cười hệch hệch.

Dầu người quyết lòng học đạo, 

hỏi cho hay sừng thỏ lông rùa;

Hoặc kẻ dốc chí chân tu, 

xem có biết đầu sò tai ếch.

Khuyên người ở đời đừng bắt chước sự đời, 

trước ra không, sau lại về không, 

nữa luống công nghĩ tiếc khuâng khuâng;

Bảo kẻ có chí phải theo đòi thánh chí, 

nhân đà tỏ, quả càng thêm tỏ, 

rồi đắc ý cười riêng khích khích. 

✵✵✵

THIỀN SƯ NHƯ HIỆN hiệu NGUYỆT QUANG

(? - 1765)

Đời thứ 37, tông Lâm Tế

Sư sanh ở làng Đường Hào, huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương. Sư xuất gia năm mười sáu tuổi tại chùa Long Động ở Yên Tử. Trước khi thiền sư Chân Nguyên tịch, Sư được truyền y bát Trúc Lâm, kế thế chăm sóc các chùa Long Động, Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang. 

Năm 1730, các chùa Quỳnh Lâm và Sùng Nghiêm dưới sự chăm sóc của Sư được chúa Trịnh Giang trùng tu. Chùa cùng dân ba huyện Đông Triều, Thủy Đường và Chí Linh góp sức vào việc xây dựng lại các chùa này. Gần mười ngàn người làm việc trong suốt một năm mới xây dựng xong hai ngôi chùa lớn này của phái Trúc Lâm. Dân chúng ở ba huyện trên được miễn sưu dịch một năm. Bảy năm sau, chúa Trịnh Giang lại cho đúc một pho tượng Phật rất lớn để thờ tại chùa Quỳnh Lâm.

Năm 1748, Sư được vua Lê Hiến Tông ban chức Tăng cang, đến năm 1757 được sắc phong là Tăng thống Thuần Giác hòa thượng. Đời sống của Sư rất là đạm bạc mà hàng đại thần đến hỏi pháp, Sư ăn mặc rất sơ sài mà các bậc cao tăng thường tới tham vấn. Đồ đệ của Sư hơn sáu mươi vị anh tài, trụ trì các nơi làm rường cột cho Phật pháp. Thiền sư Tính Tĩnh là vị đệ tử được Sư truyền y bát Trúc Lâm và kế thế chăm sóc các chùa Quỳnh Lâm, Long Động và Nguyệt Quang.

Đến ngày mùng sáu tháng chín năm Ất Dậu (1765), Sư nhóm chúng từ biệt thị tịch. Môn đồ xây tháp nơi chùa Nguyệt Quang phụng thờ. Hiện nay chùa Nguyệt Quang ở phường Đông Khê, quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng. 

Thiền sư Như Hiện, người có công trùng tu lại các ngôi chùa lớn của phái Trúc Lâm. Thế nhưng ở đây ghi đơn giản, chỉ nói ngài sống rất đạm bạc, ăn mặc thì sơ sài mà hàng quan dân đều kính phục, các bậc cao tăng thường đến tham vấn, đồ đệ có hơn sáu mươi vị anh tài. Qua bấy nhiêu đó, chúng ta cũng có thể thấy được công phu tu hành và sự giáo hóa của ngài rất lớn. Song vì thiếu tài liệu nên chúng ta không thể biết được những hành trạng của ngài đầy đủ. 

✵✵✵

THIỀN SƯ NHƯ TRỪNG LÂN GIÁC

(1696 - 1733)

Đời thứ 37, tông Lâm Tế

Sư tên Trịnh Thập, con của Phổ Quang Vương, sanh ngày mùng năm tháng năm năm Bính Tý, nhằm niên hiệu Chính Hòa thứ mười bảy (1696). Trên trán Sư có góc như hình chữ nhật (?). 

Lớn lên, vua Lê Hy Tông gả công chúa thứ tư cho Sư. Tuy thân sống trong lầu son gác tía mà tâm hằng gửi gắm trong cửa thiền. Sư có tư dinh tại huyện Thọ Xương ở phường Bạch Mai, Hà Nội. Khu đất vườn ao sáu mẫu, ở sau vườn có gò đất cao chừng bảy tám thước. 

Một hôm, Sư sai quân gia đào gò đất ấy xuống dưới sâu làm ao thả cá vàng, quân gia chợt thấy một cọng sen lớn, đến trình với Sư. Sư cho đó là điềm đi xuất gia. Nhân điềm cọng sen này, Sư liền cải gia vi tự, đặt tên là Liên Tông, viện tên Ly Cấu. Từ đây Sư quyết chí tham thiền. 

Một hôm Sư dâng sớ xin xả tục xuất gia, được nhà vua chấp thuận. Ngày ấy Sư đi thẳng đến huyện Đông Triều, lên chùa Long Động trên núi Yên Tử, đảnh lễ thiền sư Chân Nguyên Chánh Giác xuất gia. Thiền sư Chánh Giác lúc này đã tám mươi tuổi. Chánh Giác bảo: 

- Duyên xưa gặp gỡ, vì sao đến chậm vậy! 

Sư thưa: 

- Thầy trò hội hiệp thời tiết đến thì gặp.

Chánh Giác bảo: 

- Trùng hưng Phật tổ sau này là trông cậy ở ngươi. 

Từ đây, Sư ngày đêm nghiên cứu Tam tạng đều được thấu suốt. Một hôm, Sư đầy đủ oai nghi lên xin ngài Chánh Giác thọ giới Cụ túc, được chấp thuận. Thọ giới xong và được truyền tâm pháp rồi, Sư trở về trụ trì tại chùa Liên Tông. 

Nơi đây Sư hoằng hóa rất thạnh, đồ chúng đến tham học rất đông, do đó lập thành một phái lấy hiệu là Liên Tông. 

Năm ba mươi bảy tuổi, bỗng một hôm Sư bảo đại chúng rằng: 

- Giờ quy tịch ta sắp đến. Ta được pháp nơi hòa thượng Chân Nguyên, sẽ trao lại cho các ngươi. 

Hãy nghe kệ đây:

Âm:

Bản tùng vô bản

Tùng vô vi lai

Hoàn tùng vô vi khứ

Ngã bản vô lai khứ

Tử sanh hà tằng lụy.

Dịch:

Vốn từ không gốc,

Từ không mà đến,

Lại từ không mà đi.

Ta vốn không đến đi,

Tử sanh làm gì lụy.

Sư lại bảo: 

- Thân khổ tứ đại này đâu thể giữ lâu. 

Nói xong, Sư ngồi an nhiên thị tịch, thọ 37 tuổi. Năm ấy nhằm niên hiệu Long Đức thứ hai (1733). Đồ chúng xây tháp thờ Sư ở ba nơi. 

Bình nhật Sư lập chùa Hộ Quốc ở phường An Xá tại bản huyện, sau lại chọn được Giác Sơn ở Quế Dương tỉnh Bắc Ninh tạo ngôi đại già-lam, chùa hiệu Hàm Long. Sau này cho đệ tử Tính Dược trụ trì chùa Liên Tông, Tính Ngạn trụ trì chùa Hàm Long. 

Thượng sĩ Như Trừng Lân Giác khai tổ phái Liên Tông. Ngài là con của Phổ Quang Vương trong dòng họ chúa Trịnh. Gần giống như đức Phật ngày xưa, ngài cũng ở trong hoàn cảnh giàu có sang trọng, nhân thấy điềm tốt liền đi tu, cải gia vi tự. 

Ngài lên chùa Long Động trên ngọn Yên Tử, đảnh lễ thiền sư Chân Nguyên Chánh Giác xin xuất gia. Duyên thầy trò có lẽ đã lâu đời nên vừa gặp ngài, thiền sư Chân Nguyên liền nói: Duyên xưa gặp gỡ, vì sao đến chậm vậy! Ngài thưa: Thầy trò hội hiệp, thời tiết đến thì gặp. Đúng thời tiết mới được gặp, không thể nói chậm hay mau. Thiền sư Chân Nguyên bảo: Trùng hưng Phật tổ sau này, trông cậy ở ngươi. 

Từ đó về sau, ngài nghiên cứu Tam tạng thấu hiểu lý thiền. Điều đặc biệt là lúc mới ba mươi bảy tuổi, ngài đã biết trước giờ quy tịch. Ngài gọi đồ chúng báo tin sắp tịch và nói kệ chỉ dạy:

Vốn từ không gốc,

Từ không mà đến,

Lại từ không mà đi.

Lúc chúng ta mới có mặt trên đời, chỉ là do mê lầm thúc đẩy mà đến chứ không gốc gác, không có ngọn ngành. Một khi thân này tan hoại cũng trở về không, vì từ không mà đến, rồi từ không mà đi. 

Ta vốn không đến đi,

Tử sanh làm gì lụy.

Như vậy, nhìn qua tướng trạng thấy có thân này nghiệp kia, đến đi dường như thật, nhưng xét trên thể tánh thì rốt ráo là không. Đạt pháp thân bất sanh bất diệt, rõ vốn không đến đi rồi thì tử sanh làm sao hệ lụy được mình.

Ngài lại nói: Thân khổ tứ đại này đâu thể giữ lâu. Thân tứ đại này là khổ, giữ một ngày khổ một ngày, giữ lâu chừng nào khổ nhiều chừng nấy, nên tới đây là chấm dứt không còn khổ lụy nữa. Nói xong ngài an nhiên thị tịch, thọ ba mươi bảy tuổi. 

Qua hành trạng của ngài chúng ta thấy rất đáng kính phục, chỉ mới chừng ấy tuổi mà ngài đã rõ được sanh tử. Chúng ta ngày nay đừng ỷ lại còn trẻ, nghĩ rằng tuổi đời còn dài lúc nào tu cũng được, rồi đợi đến sáu bảy mươi tuổi mới lo tu, đó là sai lầm. Phải biết vô thường không hẹn trước mà thức tỉnh nỗ lực gắng tu. 

✵✵✵

THIỀN SƯ TÍNH TĨNH

(1692 - 1773)

Đời thứ 38, tông Lâm Tế

Sư họ Trần, sanh năm 1692, quê ở Đông Khê, thọ giáo với hòa thượng Như Hiện nơi chùa Nguyệt Quang. Sư thâm đạt yếu chỉ, ngộ được tâm tông. 

Sau, Sư kế thừa trụ trì ở chùa Nguyệt Quang, giáo hóa thịnh hành làm rạng rỡ cho tông môn Lâm Tế. Sư chỉ chuyên tịnh nhất tâm, mà đã xây dựng lại được các ngôi cổ tự, nào Long Động, Phước Quang, Quỳnh Lâm. Sư đã từng làm Hòa thượng cho tám, chín đàn truyền giới. Đệ tử lớn của Sư có đến hai mươi vị đại đức trụ trì. Sư hằng giữ luật để bỏ trần về giác, chuyên trì kinh Lăng-nghiêm để thấy tánh sáng tâm. 

Đến cuối mùa xuân năm Quý Tỵ (1773), Sư từ giã chúng thị tịch, thọ 82 tuổi. 

✵✵✵

THIỀN SƯ TÍNH TUYỀN

(1711 - 1780)

Đời thứ 39, tông Lâm Tế

Sư họ Huỳnh, quê ở Đa Nhất, Võ Tiên, tỉnh Nam Định. Năm mười hai tuổi, Sư đến chùa Liên Tông đảnh lễ Thượng sĩ xin thế phát xuất gia, thọ thập giới. Ở đây sáu năm, Sư chuyên cần học tập, siêng năng hầu hạ không lúc bê trễ.

Một hôm, Thượng sĩ than với Sư rằng: 

- Hiện nay nhằm thời mạt pháp, nhân tâm suy đồi, Phật pháp quạnh quẽ, giới luật đã không có người được học. Ngươi nên đi xa cầu chánh pháp để dẹp trừ những tệ đoan thì còn gì quý hơn!

Sư lễ tạ vâng lệnh, Thượng sĩ tiễn Sư kệ rằng:

Âm:

Thiền lâm cổ kính cửu mai trần

Vị pháp vong thân kỷ hứa nhân

Ngũ thập tam tham kim cổ tại

Bát tuần hành khước dã tân cần.

Dịch:

Thiền lâm gương cổ đã chôn vùi

Vì pháp quên mình có mấy người

Thiện Tài tham vấn nay còn đó

Bát tuần hành khước gắng chuyên cần.

Sư tư duy thâm nhập, phát thệ nguyện lớn, nghiên tầm kinh luật. Một hôm Sư đến trước Phật tổ thắp hương lễ bái xong, bạch hết chí nguyện mình lên Phật tổ cầu chứng giám. 

Thiền sư Tính Tuyền đời pháp 39 tông Lâm Tế, đời thứ hai phái Liên Tông, là một thiền sư Việt Nam sang Trung Hoa tham học. Vì lúc ấy ở nước ta giới luật còn sơ sài thiếu sót, thế nên Thượng sĩ khuyến khích ngài nên đi xa học chánh pháp, để dẹp trừ những tệ đoan. Thượng sĩ tiễn ngài đi với bài kệ:

Thiền lâm gương cổ đã chôn vùi

Vì pháp quên mình có mấy người

Thiện Tài tham vấn nay còn đó

Bát tuần hành khước gắng chuyên cần.

Nghe lời dạy bảo của Thượng sĩ, ngài phát đại nguyện trước Phật tổ, quyết chí nghiên tầm kinh luận.

Khoảng niên hiệu Vĩnh Hựu (1735-1740), Sư trèo non vượt biển chừng sáu tháng đến núi Đảnh Hồ ở Quảng Châu Trung Hoa, vào chùa Khánh Vân Đại Thiền, ngụ trọ ngoài tam quan ba tháng. Một hôm, thầy Duy-na đi ra cửa ngoài thấy Sư dung mạo buồn thảm, hỏi rằng: 

- Ngươi từ phương nào đến? Chí cầu việc gì?

Sư thưa: 

- Bần tăng ở nước An Nam, đi ba ngàn dặm muốn cầu đại pháp. Không có cơ duyên được mãn nguyện, dám nhờ nhân giả thưa hộ lên Hòa thượng, thật là vạn hạnh cho bần tăng.

Thầy Duy-na bẩm hết nguyên do lên Hòa thượng, Hòa thượng bảo: “Tốt lắm!”

Sư được mời vào phương trượng đảnh lễ hòa thượng Kim Quang Đoan, trình bày hết chí nguyện của mình. Hòa thượng bảo: “Vào tăng đường đi.”

Từ đây, Sư gắng chịu mọi khổ nhọc chẳng tiếc thân mạng, phục dịch như thế đến ba năm. Trong ba năm này, Sư vừa công tác vừa tư niệm và gắng sức học tập không lúc bê trễ. Khi ấy, Sư đã được hai mươi lăm tuổi, cầu xin thọ giới Tỳ-kheo, Bồ-tát, được Hòa thượng chấp thuận. Lễ truyền giới được tổ chức ngay chùa này, hòa thượng Kim Quang Đoan làm Hòa thượng trong đàn lễ truyền giới. 

Ở Trung Hoa mãn sáu năm, Sư xin phép trở về cố quốc. Khi về Sư thỉnh được ba trăm bộ kinh luật luận, cả thảy hơn một ngàn quyển. Khi ra về, Sư đến từ Hòa thượng, ngài phó chúc kệ rằng:

Âm:

Hoàn nhi bất ngộ

Ngộ nhi bất mê

Tâm vô mê ngộ

Chân tọa liên hoa.

Dịch:

Về mà chẳng ngộ

Ngộ mà chẳng mê

Tâm không mê ngộ

Thật ngồi tòa sen. 

Sư từ giã đại chúng trở về nước.

Ngài lên đường phát tâm đi cầu học đạo, chịu cực khổ trèo non lội suối trải qua sáu tháng mới tới Quảng Châu, đến chùa Khánh Vân ở trọ ngoài tam quan ba tháng. Một hôm thầy Duy-na ra ngoài cổng thấy ngài, mới hỏi thăm đầu đuôi gốc ngọn. Biết được chuyện, Duy-na bèn dẫn ngài đến gặp hòa thượng Kim Quang Đoan, từ đây mới được nhập chúng. 

Chúng ta thấy tinh thần cầu đạo của ngài cao tột, sáu tháng lội bộ, ba tháng ở ngoài tam quan. Khi được vào chúng rồi cũng phải gắng chịu mọi khổ nhọc chẳng tiếc thân mạng. Trải qua ba năm, vừa làm việc chùa vừa học vừa tu không lúc nào bê trễ. Mãn ba năm, ngài cầu xin thọ Tỳ-kheo Bồ-tát giới, lúc này ngài được hai mươi lăm tuổi. 

Tham học tại Trung Hoa sáu năm, được thọ giới và truyền trao tâm pháp rồi, ngài xin trở về Việt Nam. Hòa thượng Kim Quang Đoan phó chúc bài kệ: 

Về mà chẳng ngộ

Ngộ mà chẳng mê

Tâm không mê ngộ

Thật ngồi tòa sen. 

Mê ngộ chỉ là tên gọi, người đạt được tâm vượt ngoài hai bên, đến đây mới thật sự ngồi tòa sen giác ngộ. 

Về đến thôn Nhân Mục, ở cửa Tam Huyền, Sư hay tin Thượng sĩ đã tịch ba năm rồi. Sư chở ba tạng kinh để ở chùa Càn An. Tăng ni trong nước đua nhau thỉnh Sư truyền giới lại. Sư là người mở đầu hoằng dương luật Tứ Phần. Từ đây Phật giáo nước nhà được trùng hưng rạng rỡ. 

Năm bảy mươi tuổi, một hôm Sư bảo đánh chuông nhóm chúng và gọi đệ tử lớn là Hải Quýnh bảo: 

- Đạo của ta được thịnh hành là nhờ ngươi vậy. Hãy nghe kệ đây:

Âm:

Chí đạo vô ngôn

Nhập bất nhị môn

Pháp môn vô lượng

Thùy thị hậu côn.

Dịch:

Đạo cả không lời

Vào cửa chẳng hai

Pháp môn vô lượng

Kẻ sau là ai?

Nói xong, Sư ngồi kiết già thị tịch. Đệ tử làm lễ hỏa táng nhục thân Sư và xây tháp ở hai chùa Hàm Long và Sùng Phước để thờ. 

Ngài về tới Việt Nam mới biết tin thầy mình đã viên tịch, bèn đem ba tạng kinh để ở chùa Càn An, tăng chúng nghe danh ngài đua nhau tới thỉnh truyền dạy giới luật. Ngài là người hoằng dương luật Tứ Phần đầu tiên ở Việt Nam, khiến cho Phật giáo nước nhà được trùng hưng rạng rỡ. 

Qua đây chúng ta có thể thấy được, vào thời điểm này Thiền tông đã bắt đầu suy yếu, nhường bước cho Luật và Tịnh phát triển. 

Một hôm, ngài bảo đánh chuông nhóm chúng, phó chúc lại cho đệ tử lớn là Hải Quýnh và nói bài kệ:

Đạo cả không lời

Vào cửa chẳng hai

Pháp môn vô lượng

Kẻ sau là ai? 

Chí đạo là chỗ không có nói năng, muốn vào được cửa này phải vượt ngoài hai bên, không còn đối đãi. Pháp môn vô lượng đó, ai là kẻ kế thừa?

Nói kệ xong, ngài thị tịch, thọ bảy mươi tuổi. 

✵✵✵

THIỀN SƯ HẢI QUÝNH hiệu TỪ PHONG

(1728 - 1811)

Đời thứ 40, tông Lâm Tế

Sư họ Nguyễn, quê ở Thôn Nghiêm Xá huyện Quế Dương tỉnh Bắc Ninh. Năm mười sáu tuổi Sư xuất gia, đến chùa Liên Tông đảnh lễ ngài Bảo Sơn Tính Dược xin thế độ. Tính Dược bảo: 

- Ngươi thân như mọi rợ đâu kham lãnh đại pháp?

Sư thưa: 

- Thân tuy mọi rợ mà tâm đồng Phật tổ.

Tính Dược bảo: 

- Ta hỏi một câu ngươi đáp được thì thế độ cho, bằng đáp không được, cho một tiền đi tìm thiện tri thức khác. 

Sư thưa: - Thỉnh Hòa thượng hỏi.

Tính Dược hỏi: 

- Ngươi là người hay là Phật? Là thật hay là giả?

Sư thưa: 

- Người Phật vốn không, huống là có thật giả. 

Tính Dược khen: 

- Hay lắm! Ngươi liễu đạo vậy.

Thiền sư Hải Quýnh hiệu Từ Phong, đời 40 tông Lâm Tế, đời thứ ba phái Liên Tông. Trường hợp của ngài giống Lục tổ Huệ Năng đến gặp Ngũ Tổ. 

Khi thiền sư Tính Dược nói: Thân ngươi như mọi rợ, đâu kham lãnh đại pháp. Ngài thưa: Thân tuy mọi rợ mà tâm đồng Phật tổ. Ngài trả lời oai chưa? Trông bề ngoài nhỏ xấu, nhưng trong tâm thì đồng với Phật tổ. Tính Dược nói: Ta hỏi một câu ngươi đáp được thì thế độ cho, bằng đáp không được cho một tiền đi tìm thiện tri thức khác. Thiền sư Tính Dược thật gắt gao, hỏi mà đáp không được, tức không có duyên ở đây, tốt nhất cho chút tiền đi tìm thầy khác. Nếu gặp mình bây giờ thì chắc rớt rồi. 

Ngài thưa: Thỉnh Hòa thượng hỏi. Tính Dược nói: Ngươi là người hay là Phật, là thật hay là giả? Câu hỏi này quả là gay go, không phải tầm thường. Nói người là trật, Phật cũng không phải; là thật không trúng, là giả cũng sai. Trả lời thế nào cũng bị kẹt một bên, phải đáp làm sao? 

Ngài thưa: Người Phật vốn không, huống là có thật giả. Cái bẫy gài quá khít khao, vậy mà ngài thoát qua một cách dễ dàng. Cho nên Tính Dược khen: Hay lắm! Ngươi liễu đạo vậy. Trả lời như vậy thì biết là đã liễu đạo rồi, nếu không làm sao thốt ra được câu ấy. 

Từ đó Sư học vấn càng ngày càng tiến, đạo đức càng ngày càng cao. Sư xin thọ giới Cụ túc, về sau đi đứng nằm ngồi đều không rời tâm đạo. Trọn đời Sư không đến chỗ quyền quý, bốn chúng đệ tử hơn ba trăm người. 

Năm tám mươi bốn tuổi, một hôm Sư bảo chúng đánh chuông, gọi đệ tử là đại sư Tịch Truyền đến dạy: 

- Giờ quy tịch của ta đã đến, trao kệ cho ngươi đây:

Âm:

Chư pháp không tướng

Bất sanh bất diệt

Dĩ vô sở đắc

Thị chân Phật thuyết.

Dịch:

Các pháp không tướng

Chẳng sanh chẳng diệt

Bởi không chỗ được

Là thật Phật nói.

Nói xong, Sư ngồi yên lặng thị tịch. Đại chúng hỏa táng, lượm linh cốt xây tháp thờ ba chỗ là Hàm Long, Liên Tông và Nghiêm Xá. Khi ấy nhằm năm Tân Mùi niên hiệu Gia Long thứ mười (1811).

Sau khi liễu đạo việc học càng tiến, đạo đức càng cao, ngài được thọ giới Cụ túc. Ngài luôn chuyên tâm nơi đạo, dù trong đi đứng nằm ngồi hay làm bất cứ việc gì cũng không rời xa tâm đạo của mình, không bao giờ đến những nơi giàu sang quyền quý. Bốn chúng đệ tử có hơn ba trăm người. 

Ngài sắp tịch, bảo đánh chuông nhóm chúng, rồi gọi đệ tử là Tịch Truyền đến dặn dò và để lại một bài kệ: 

Các pháp không tướng

Chẳng sanh chẳng diệt

Bởi không chỗ được

Là thật Phật nói.

Ngài đã thông ngộ thật tướng các pháp, nên khi truyền kệ ngài cũng nói lại chỗ thấy ngày trước của mình. Phật không thật, người cũng không thật, huống là quả vị làm sao thật được. Tất cả các pháp đều không sở đắc, đây chính là lời Phật nói. 

✵✵✵

ĐẠI SƯ KIM LIÊN TỊCH TRUYỀN

(1745 - 1816)

Đời thứ 41, tông Lâm Tế

Sư quê ở thôn Trình Viên huyện Thượng Phúc, xuất gia từ thuở bé ở chùa Vân Trai. Một hôm Sư đến cầu hòa thượng Từ Phong ở chùa Liên Tông thế độ. Từ đây Sư thể hiện lòng từ bi, nuôi lớn đức hạnh và nghiêm trì giới luật. Sư tu hành thời khóa không khi nào bê trễ.

Đến năm Bính Tý niên hiệu Gia Long thứ mười lăm (1816), Sư gọi đệ tử lớn là Tường Quang đến phó chúc kệ rằng: 

Âm:

Tâm vi thiên địa tiên

Thân vi thiên địa hậu

Thân tâm thiên địa nội

Tuần hoàn vô cùng dĩ.

Dịch:

Tâm là trước đất trời

Thân là sau trời đất

Thân tâm trong đất trời

Tuần hoàn không cùng tận.

Nói xong Sư ngồi yên mà tịch, thọ 72 tuổi. Môn đệ hỏa táng, xây tháp tôn thờ. 

Đại sư Kim Liên Tịch Truyền, đời pháp thứ 41 tông Lâm Tế, đời thứ tư phái Liên Tông. Hành trạng của ngài được ghi lại đơn giản, chỉ lưu một bài kệ lúc sắp tịch:

Tâm là trước đất trời

Thân là sau trời đất

Thân tâm trong đất trời

Tuần hoàn không cùng tận.

Tâm bất sanh bất diệt trước cả trời đất, còn thân sanh diệt do tinh cha huyết mẹ kết hợp thời tiết nhân duyên mà thành thì có sau trời đất. Thân tâm ở trong trời đất, cứ thế mà tuần hoàn qua lại, xoay vần mãi không thôi. 

✵✵✵

ĐẠI SƯ TƯỜNG QUANG CHIẾU KHOAN

(1741 - 1830)

Đời thứ 42, tông Lâm Tế

Sư họ Nguyễn, quê ở bến đò Trình Viên, Hà Nội. Thuở bé Sư đến chùa Vân Trai đảnh lễ hòa thượng Kim Liên xin xuất gia. Sau khi được thu nhận làm môn đồ ở chùa Vân Trai, Sư rất cần mẫn tu tập. Đến lớn lên thọ giới Cụ túc xong, Sư thường tập tu theo hạnh đầu-đà (khổ hạnh). 

Trọn đời Sư rất khiêm hạ, cả ngày chỉ tụng kinh lễ Phật nhiễu tháp và luôn thúc liễm thân tâm. Nếu gặp vị tăng nào đến là Sư ra đảnh lễ, chẳng phân cao thấp. Sư ba năm tịch cốc, sáu năm mỗi ngày ăn một bữa. Phàm có ai cúng dường Sư món gì, Sư đem cúng dường lại chúng tăng hết, chẳng dám giữ riêng. Sư đi đâu chỉ có ba y tùy thân, tự mang theo không phiền người gìn giữ. Sư lấy Lục độ làm tiêu chuẩn trong đời tu hành. Đến đâu, Sư cũng khuyên người giảng kinh, phóng sanh, tu phước, bố thí, chép kinh. Phật tử xin quy y với Sư rất đông không thể tính hết. 

Ngài thuộc đời pháp thứ 42 tông Lâm Tế, đời thứ năm phái Liên Tông. Hành trạng của ngài có nhiều điểm đáng quý, rất khó làm, chúng ta cần phải lưu ý để học tập theo. 

Trước nhất là chuyên tinh tu hành. Cả ngày ngài chỉ tụng kinh, lễ Phật, nhiễu tháp, thúc liễm thân tâm, không bao giờ bê trễ.

Thứ hai là tâm khiêm hạ. Gặp bất cứ vị tăng nào đến, ngài cũng liền bước ra đảnh lễ, không phân tuổi hạ cao hay thấp. 

Thứ ba là hành hạnh đầu-đà. Ngài ba năm không ăn cơm, sáu năm mỗi ngày chỉ ăn một bữa. Mỗi khi được cúng dường món gì, đều đem cúng dường lại cho chúng tăng, chẳng dám giữ riêng. Đi đâu thì tự mang ba y tùy thân, không phiền người khác phải gìn giữ. 

Thứ tư là luôn lấy lục độ làm tiêu chuẩn trong đời tu hành. Khuyên người giảng kinh, phóng sanh, tu phước, bố thí, chép kinh v.v... 

Trên đây là những hạnh đặc biệt rất khó làm, vậy mà ngài đều giữ gìn và thực hành tròn đủ, thế nên Phật tử theo ngài tu học rất đông.

Đến năm Canh Dần niên hiệu Minh Mạng năm thứ mười một (1830), Sư gọi đệ tử lớn là Từ Tánh bảo: 

- Ta từ bé đến già chuyên tâm tiến đạo, nay giờ quy tịch đã đến. Hãy nghe ta nói kệ:

Âm:

Nhất đẳng nhân tu vô vi pháp

Nhị đẳng nhân phước tuệ song tu

Tam đẳng nhân hành thiện trở ác

Tứ đẳng nhân tam tạng tinh thông.

Dịch:

Người bậc nhất tu pháp vô vi

Người bậc nhì phước tuệ đầy đủ

Người bậc ba làm thiện chừa ác

Người bậc tư tam tạng tinh thông.

Nói xong, Sư ngồi yên viên tịch. 

Trước khi tịch ngài nói bài kệ, để phân rõ cho thấy có bốn hạng người:

Người bậc nhất, tu pháp vô vi. Bậc nhất là người ngộ được chân tánh, không còn mắc kẹt trong tạo tác đối đãi. 

Người bậc nhì, phước tuệ đầy đủ. Bậc nhì là người đồng tu cả phước và tuệ, tức vừa tu vừa làm phước. 

Người bậc ba, làm thiện chừa ác. Bậc ba là hạng người chỉ biết tu điều lành, chừa bỏ những điều ác. 

Người bậc tư, tam tạng tinh thông. Bậc tư là người thông hiểu hết tam tạng. 

Chúng ta bây giờ hiểu lầm, cho rằng học thông tam tạng là cao nhất. Theo cái nhìn của người ngộ đạo thì đó chỉ là hạng tư, tức là hạng cuối mà thôi. Trong bốn bậc này, người thứ nhất là đáng quý, mà các thiền sư thường gọi đây là hàng nhất đẳng. 

Tông Lâm Tế truyền ở miền Bắc qua đời vua Minh Mạng (1820-1840), tức gần giữa thế kỷ thứ XIX thì suy dần, bởi vì chỗ ngộ không sâu nên sự truyền bá cũng hơi kém. 

✵✵✵

THIỀN SƯ PHÚC ĐIỀN

(Thế kỷ XIX)

Thiền sư Phúc Điền là người có công lớn trong việc bảo tồn sử liệu Phật giáo. Sư biên soạn sách Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục (127). Sư trú trì chùa Liên Tông, làng Bạch Mai, Hà Đông, nhưng công việc san khắc này được thực hiện tại chùa Bồ Sơn, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh.

Công việc san khắc, Sư giao cho thiền sư Phương Viên giám tự chùa Bồ Sơn, đứng ra chủ trì. Một vị tăng chùa Bồ Sơn pháp danh là Thanh Hà phụ trách việc viết chữ khắc bản. Thiền sư Phúc Điền viết bài tựa cho sách đầu năm 1859, và có lẽ sách được ấn hành trong năm đó.

Phúc Điền cũng là người khai sơn chùa Thiên Quang, ở núi Đại Hưng tỉnh Hà Nội. Chùa này được thiền sư Phổ Tịnh, đệ tử của thiền sư Chiếu Khoan trú trì. Thiền sư Phổ Tịnh hồi còn nhỏ đã theo thiền sư Phúc Điền để tu học, sau này ông thọ giới Cụ túc với thiền sư Chiếu Khoan.

Sau đây là danh hiệu hai mươi ba vị Tổ truyền thừa chùa Yên Tử, từ tổ sư Hiện Quang đến đại sư Vô Phiền, thấy trong sách Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục quyển hai của hòa thượng Phúc Điền đính bản:

1. Tổ sư Hiện Quang 

2. Quốc sư Viên Chứng 

3. Quốc sư Đại Đăng 

4. Tổ sư Tiêu Dao 

5. Tổ sư Huệ Tuệ 

6. Tổ sư Nhân Tông 

7. Tổ sư Pháp Loa 

8. Tổ sư Huyền Quang 

9. Quốc sư An Tâm 

10. Quốc sư Phù Vân (hiệu Tĩnh Lự) 

11. Quốc sư Vô Trước 

12. Quốc sư Quốc Nhất 

13. Tổ sư Viên Minh 

14. Tổ sư Đạo Huệ 

15. Tổ sư Viên Ngộ 

16. Tổ sư Tổng Trì 

17. Quốc sư Khuê Thám 

18. Quốc sư Sơn Đằng 

19. Đại sư Hương Sơn 

20. Quốc sư Trí Dung 

21. Tổ sư Tuệ Quang 

22. Tổ sư Chân Trú 

23. Đại sư Vô Phiền.

✵✵✵

ĐẠI SƯ PHỔ TỊNH

Đời thứ 43, tông Lâm Tế

Sư quê ở Võ Lăng, Thượng Phúc. Thuở nhỏ đã theo hòa thượng Phúc Điền xuất gia tu học. Một hôm, Sư đến chùa Vân Trai đảnh lễ đại sư Tường Quang xin thọ giới Cụ túc. 

Sau khi thọ giới, Sư thành tâm trì giới hành đạo. Từ bé chí trưởng, Sư chuyên tâm nghiên cứu kinh luật, không dám một phút lơi lỏng, quá ngọ không để vật gì vào miệng. Sư về trụ trì tại chùa Tường Quang trên núi Đại Hùng ở Hà Nội, do hòa thượng Phúc Điền khuyến hóa xây cất. Nơi đây, Sư độ tăng tục khá đông, vì thế ngôi chùa càng trang nghiêm đẹp đẽ. 

Một hôm, Sư gọi chúng lại bảo: 

- Nay ta cáo biệt, phó chúc các ngươi kệ truyền pháp đây:

Âm:

Kinh niên tĩnh tọa Đại Hùng phong

Thật thị thân cùng đạo bất cùng

Lục tự chuyên trì thân thọ ký

Lưu truyền hậu thế hiển tông phong.

Dịch:

Nhiều năm ngồi tịnh núi Đại Hùng

Quả thật thân cùng đạo chẳng cùng

Sáu chữ chuyên trì thân thọ ký

Truyền mãi đời sau sáng Tổ tông.

Nói kệ xong, Sư ngồi yên mà tịch. Đồ đệ xây tháp tôn thờ.

Đại sư Phổ Tịnh chuyên tâm trì giới, lấy việc nghiên cứu kinh luận làm sự nghiệp tu hành. Lúc sắp tịch ngài nói bài kệ: 

Nhiều năm ngồi tịnh núi Đại Hùng

Quả thật thân cùng đạo chẳng cùng

Sáu chữ chuyên trì thân thọ ký

Truyền mãi đời sau sáng Tổ tông.

Nhiều năm ngồi tịnh trên núi Đại Hùng, quả thật thân này có nghèo nhưng đạo thì không nghèo. Hằng trì tụng sáu chữ Di-đà để được Phật thọ ký, lưu truyền mãi đến đời sau làm rạng ngời tông phong Phật tổ. 

Qua bài kệ này chúng ta có thể thấy, đến thời ngài thì tông Lâm Tế đã suy yếu, thiền tông lui dần chuyển sang Tịnh độ tông. 

✵✵✵

ĐẠI SƯ THÔNG VINH

Đời thứ 44, tông Lâm Tế

Sư quê ở Nhân Kiệt, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ, Sư đến Hàm Long xin cầu xuất gia, thế độ. Lớn lên, Sư đến hòa thượng Phúc Điền thọ giới Cụ túc. 

Sư tu hành chín chắn, đạo đức vang xa. Đệ tử rất đông, mỗi vị ở mỗi phương hoằng hóa. Khi sắp tịch, Sư nói kệ phó chúc:

Âm:

Tâm không cảnh tịch viêt thánh siêu phàm

Ý nhiễm tình sanh vạn đoan hệ phược

Thiên nhân chư pháp tận tại kỳ trung

Bỉ ngã nhất thể nguyên bản duy tâm.

Dịch:

Tâm không cảnh lặng vượt thánh siêu phàm

Ý nhiễm tình sanh muôn mối trói buộc

Trời người các pháp trọn tại trong đây

Ta người một thể gốc chỉ là tâm.

Không biết Sư tịch lúc nào và ở đâu. 

Bài kệ truyền pháp của đại sư Thông Vinh còn mang sắc thái thiền tông. Ngài nói: 

Tâm không cảnh lặng vượt thánh siêu phàm

Ý nhiễm tình sanh muôn mối trói buộc.

Khi tâm rỗng không, đối cảnh không chạy theo, tức lúc đó vượt thánh siêu phàm. Nếu ý nhiễm ô, vọng tình còn dấy khởi thì lập tức muôn mối ràng buộc tự trói lấy mình. 

Trời người các pháp trọn tại trong đây

Ta người một thể gốc chỉ là tâm.

Những pháp cõi người cõi trời thảy đều ở trong ấy. Trong ấy là chỗ nào? Ta người chỉ là một thể, nguyên gốc chính là tâm chứ không gì khác.

 

Mục Lục
Thanh Từ Toàn Tập 36 - Hành Trạng Thiền Sư 7