|
Thiền Sư Việt Nam
Đại sư Khuông Việt (933 - 1011) (Đời thứ 4, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư tục danh Ngô Chân Lưu, quê làng Cát Lợi quận Thường Lạc, dòng dõi của Ngô Thuận Đế. Sư dáng mạo khôi ngô, ý chí lỗi lạc và tánh tình bình thản. Thuở nhỏ theo nghiệp Nho, lớn lên trở về Phật. Sư thọ giáo với Thiền sư Vân Phong ở chùa Khai Quốc, thấu tột thiền yếu và đọc khắp các kinh điển. Năm bốn mươi tuổi, danh Sư vang khắp tùng lâm, vua Đinh Tiên Hoàng mời vào cung hỏi đạo. Sư ứng đối rành rẽ, Vua rất mến phục, phong chức Tăng thống. Năm sau, niên hiệu Thái Bình thứ hai (971), Vua lại phong Khuông Việt đại sư. Đến đời vua Lê Đại Hành, Sư càng được kính trọng. Bao nhiêu việc binh, việc nước, Vua đều mời Sư vào hỏi. Năm thứ bảy niên hiệu Thiên Phước (986), nhà Tống sai sứ là Lý Giác sang nước ta, vua Đại Hành sắc Sư ra đón tiếp sứ. Khi Lý Giác về có để lại một bài thơ: May gặp minh quân giúp việc làm (TT. Mật Thể) (Hạnh ngộ minh thời tán thạnh du Vua Đại Hành đưa bài thơ ấy cho Sư xem, và hỏi có ý gì không. Sư tâu: - Câu thứ bảy sứ Tống có ý tôn Bệ hạ ngang hàng với Vua của họ. Vua Đại Hành nhờ Sư làm một bài tiễn sứ. Sư vâng lệnh làm bài từ theo điệu “Tống vương lang qui”: Gió hòa phấp phới chiếc buồm hoa (TT. Mật Thể) (Tường quang phong hảo cẩm phàm trương Sau, Sư viện lẽ già yếu xin từ quan, về quê dựng một ngôi chùa hiệu Phật-đà trên núi Du Hí, làng Cát Lợi, quận Thường Lạc, rồi trụ trì ở đó. Học giả bốn phương tụ họp về học vấn rất đông. Một hôm, đệ tử nhập thất là Đa Bảo hỏi: - Thế nào là trước sau học đạo? Sư đáp: - Trước sau không vật tợ hư không, (Thủy chung vô vật diệu hư không, - Làm sao gìn giữ? - Không chỗ cho ngươi hạ thủ. - Hòa thượng nói rõ rồi. - Ngươi hội thế nào? Đa Bảo hét một tiếng. * Năm thứ hai niên hiệu Thuận Thiên triều Lý (1011) ngày rằm tháng hai, Sư gọi Đa Bảo lại nói kệ: Trong cây sẵn có lửa, (Mộc trung nguyên hữu hỏa, Dạy kệ xong, Sư ngồi kiết-già thị tịch, thọ bảy mươi chín tuổi. Mục Lục
|
Thiền Sư Việt Nam
|