|
Thiền Sư Việt Nam
Thiền sư Thanh Đàm hiệu Minh Chánh (Đời pháp thứ 42, tông Tào Động)
Thiền sư Thanh Đàm hiệu Minh Chánh là Trụ trì chùa Bích Động ở làng Đam Khê, phủ An Khánh, tỉnh Ninh Bình. Người khai sơn chùa Bích Động là hai vị sư Trí Kiên và Trí Thể đến đây năm 1700. Thiền sư Minh Chánh là vị Trụ trì sau này. Sư là đệ tử Thiền sư Đạo Nguyên lúc bấy giờ đang trụ trì Thiền viện Nguyệt Quang, một Tổ đình của môn phái Chân Nguyên. Sư xuất gia năm 1807, thọ giới Cụ túc năm 1810. Khoảng này có lẽ Sư hai mươi hoặc trên hai mươi tuổi. Sau khi xuất gia, một hôm Sư hỏi Thiền sư Đạo Nguyên: - Tâm không phải ở trong thân, cũng không phải ở ngoài thân, cũng không phải ở chặng giữa, vậy rốt cuộc tâm ở chỗ nào? Đạo Nguyên cười xoa đầu Sư và nói bài kệ: Theo thời ứng dụng, (Tùy thời ứng dụng, Ngày thọ giới Cụ túc, Sư cũng được Đạo Nguyên cho một bài kệ: Quang phóng giữa mày không phải Phật, (Quang phóng mi gian vô đạo Phật, Đến năm 1819, Sư sáng tác sách Pháp Hoa Đề Cương tại viện Liêm Khê. Trong đây, Sư có đặt ra một số câu hỏi để giải thích về Diệu tâm như: Hỏi: Tại sao không chỉ thẳng cái thứ nhất là Diệu tâm xưa nay, mà lại chỉ cái thứ hai là căn tánh để làm phương tiện tu hành? Đáp: Tâm vốn vô hình, làm sao mà chỉ? Trước kia tôi đã nói một lần rồi, ngôn thuyết và biểu thị, không nắm được tâm. Tuy vậy, dù tâm vô hình, nhưng sự ứng dụng của tâm lại có vết tích, vì có vết tích nên có thể chỉ bày khiến cho người tu học có thể nhìn vết tích của sự ứng dụng, do ánh sáng ấy mà về được tâm. Hỏi: Dấu vết ấy ở đâu? Đáp: Ở trên đối tượng lục trần. Do sắc mà có cái thấy, do thanh mà có cái nghe, lục trần là dấu vết ứng dụng của lục căn. Nay muốn nắm được dấu vết của căn thì phải quan sát cái thấy cái nghe nơi đối tượng sắc thanh. Nên biết rằng công dụng của căn là công dụng của tâm, căn nhận biết là tâm nhận biết; cái khác nhau là căn có tới sáu công dụng, mà tâm chỉ có một Bản thể tinh minh. Chư Phật truyền nhau là căn pháp này, các vị Tổ truyền nhau là Tâm tông ấy. Đó là bí quyết mà các kinh điển chỉ bày để được Căn bản trí. Pháp ấn truyền trao qua lại các thời đại cũng lấy cái ấy để phát giác sơ tâm. Chứng ngộ mau hay chậm là vì căn cơ rộng hay hẹp... Hỏi: Tâm ấn làm sao mà truyền? Đáp: Đức Thế Tôn đưa lên một cành hoa, Ca-diếp mỉm cười, sau đó các Tổ truyền lại, gìn giữ, trường hợp khác nhau, chỉ có người giác ngộ mới tự biết. Hỏi: Tu làm sao? Đáp: Thôi! Thôi! Đó là phương pháp, Thiền sư Đạo Xuyên nói: Tri âm, tự khắc tùng theo gió, Lại nói: Nắm được ở tâm, Hỏi: Mục đích tối hậu là gì? Đáp: Hòa thượng Phổ Hóa nói: “Tìm chỗ đi tới không được...” Thôi xin chào, xin chào! Có bài kệ về pháp như sau: Vạn pháp tuy nhiều không đếm xiết Năm 1843, Sư sáng tác sách Tâm Kinh Trực Giải. Sư có niêm tụng đề tài Thuần-đà như sau: Niêm: Hay lắm, Thuần-đà! Tụng: Không nói ngắn chẳng nói dài, Bài thơ ngộ nghĩnh nhất của Sư là bài thơ Tìm Tâm, có âm hưởng tiếng trống đánh: Ngang lưng đeo trống đối tri âm, Âm thanh hợp vận, âm trùng họa, Thôi nhé, tâm ta chẳng thể tầm, (Kiên kình yêu cổ đối tri âm, Cổ thanh hợp vận tùng thanh họa, Chỉ chỉ! ngộ tâm bất khả tầm, Sư cũng thuộc về phái Trúc Lâm. Không biết Sư tịch ở đâu và vào lúc nào. Mục Lục
|
Thiền Sư Việt Nam
|